Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Bàn tay nhỏ dưới mưa”

15/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Bàn tay nhỏ dưới mưa
Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, viết bằng tiếng Ý đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật hôm nọ, một câu chuyện cảm động về tình yêu của cặp vợ chồng già!
Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, sau khi anh chị quyết định rời bỏ Italia về sống với quê nhà. Dân và vợ, chị Elena gởi tặng tôi BTNDM ở một quán café góc phố xóm nhỏ Bàn cờ, với lời ghi trân trọng: “Quý tặng anh, bác sĩ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, người trị đau và chữa khổ – một tấm lòng tha thiết với đời- để cùng chia sẻ niềm đam mê văn học”. Còn chị Elena thì ghi bên cạnh nét chữ của chồng: « Un morceau de notre vie / comme un cadeau pour vous”.

Bàn tay nhỏ dưới mưa đúng là một mảnh đời của họ. Một mảnh đời với bao nỗi lo toan, buồn vui, hy vọng rồi tuyệt vọng, chạy đuổi miệt mài rồi dừng lại ngẩn ngơ… để rồi cuối cùng có vẻ như đã tìm ra một exit : Con đường quê hương. Con đường văn học. Con đường giải thoát. « Cuối cùng tôi nghĩ mình không cần phải tự xót thương. Chính cuộc hẹn với cái chết sẽ giúp tôi xóa bỏ những điều vô vị tạp nhạp, dừng ngay nhưng bận rộn, để đứng lại và hỏi xem thực sự mình muốn gì… Đi tìm ý nghĩa thực sự của đời sống! (tr 236)

Bàn tay nhỏ dưới mưa có vẻ như là một chuyện tình buồn, một cái chết, một nỗi chia lìa, nhưng với tôi, là một cuốn tiểu thuyết luận đề, là một tiếng kêu thống thiết, chới với của một bàn tay nhỏ không che nổi cơn mưa nặng hạt đời. Câu chuyện tình lãng mạn, cái sống cái chết, chỉ là một cái cớ để trên đó bày ra, vẽ lại những vấn đề lớn của xã hội hôm nay, những vấn đề có vẻ như bế tắc, không lối thoát, thể hiện rõ nét nhất trên quê hương anh. Vấn đề môi trường, vấn đề giao thông, vấn đề vệ sinh thực phẩm, vấn đề y tế, giáo dục…

« Đang thất thần và ngẩn ngơ thì có tiếng chuông chùa từ đâu vẳng đến. Cái sống, cái chết nối đuôi nhau trôi trong thinh không… bờ bên này bờ bên kia như không còn ranh giới ». (tr 410)

Và ở một đoạn kết khi gấp cuốn truyện lại: «Vì chúng tôi chẳng hoài chi đến cõi thiên đường. Có lẽ bởi chúng tôi đã từng là con người, đã từng hội đủ tâm hồn, si mê và trí tuệ, tham lam cùng sân hận… nên vẫn còn say mê trần gian, còn tha thiết làm người… »(tr 412)
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi là ai mà còn trần gian thế/ Tôi là ai, là ai… mà yêu quá đời này…
Và bỗng muốn nói với bạn : « Đừng tuyệt vọng, Dân ơi, đừng tuyệt vọng ! ».!

Đỗ Hồng Ngọc.
(12.2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“XỨ NẪU”

14/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

“XỨ NẪU”

Nhóm bạn "xunau.org" và Đỗ Hồng Ngọc ở Sông Trăng ngày 8.1.2012


Chủ nhật 8.1.2012 (rằm tháng Chạp) tuy đang có việc bận ở bệnh viện, tôi cũng ráng thu xếp chạy đến Sông Trăng nơi xunau.org hẹn hò để chào, để thăm và để chúc mừng các bạn trong buổi họp mặt Mừng Xuân sớm. Tôi đọc được thông báo trên mạng, tuy chưa quen ai biết ai trong nhóm mà lòng cũng thấy nôn nao…
Xunau.org ra mắt chưa lâu mà đã tỏ rõ là một trang web văn chương nghệ thuật chững chạc, dễ thương, đặc trưng của một vùng miền, vốn là một trong những cái nôi của văn học, ở đó mỗi con người, dòng sông, bãi cát, rặng dừa… đều mang hơi hướm văn chương thi phú của một vùng đất văn học, võ học, vùng đất thiêng- cố kinh của một thời xưa nhan sắc.

Tôi nói đặc trưng không phải chỉ vì bài vở được chắt chiu, chọn lọc, minh họa sắc sảo mà còn toát ra một nỗi nồng nàn tha thiết hiếm thấy qua những “còm” (comment) với một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. “Còm” này chồng lên “còm” kia, chuyện chung chuyện riêng nhiều khi chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, xunau.org bỗng trở thành một nơi cho người ta trải những hẹn hò, những hờn dỗi, yêu thương, trách móc, cợt đùa… Ở đâu tìm được một trang web văn chương mà ngộ nghĩnh đến vậy? Không đao to búa lớn, chỉ những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, và những yêu thương, da diết, giận hờn… Cái “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ” có vẻ được “chứng minh” rõ nhất ở đây, bởi nó từ tấm lòng đến với tấm lòng, một thứ “trực chỉ nhân tâm”…
Nó có cái giọng riêng, tiếng nói, ngôn ngữ không lẫn, mà trước đây có người đã nhận định rằng là bởi nó nằm giữa Hải Vân và Đèo Cả, tạo nên một vũng trũng cho những tâm tình, nên tiếng nói, ngôn ngữ có cái hồn riêng của nó.
Tôi lớ ngớ đến Sông Trăng, chưa quen biết ai trong nhóm xunau.org, mong gặp chủ nhân hay “chủ xị” gì đó của buổi họp mặt mừng xuân để chào một tiếng, chúc Tết rồi lui. Một người hãy còn trẻ, khá đẹp trai, dong dỏng cao, dáng gầy, thấy kiểu lớ ngớ của tôi nhã nhặn hỏi: Anh kiếm ai? Kiếm Ngô Quang Hiển. Em là Hiển đây. Còn anh là ai? Anh là… Đỗ Hồng Ngọc. Ôi anh Đỗ Hồng Ngọc hả? Anh Đỗ Nghê hả? Rồi Hiển ôm chầm lấy tôi, siết chặt muốn ngộp thở! Không ngờ anh đến. Mừng quá! Mừng quá! Vào đây. Vào đây. Hiển lôi tôi vào. Anh đến thăm chút đi ngay. Không được. Vào đây. Mấy bạn gặp anh mừng lắm đó.
Vẫn biết anh em trong làng xưa nay chưa lần gặp gỡ mà tình đã thâm, như “ từ muôn kiếp trước”, nhưng tôi vẫn bất ngờ và cảm động. Sông Trăng còn vắng. Chỉ có mấy bạn đến sớm, có lẽ trong ban tổ chức. Đây rồi, có Trần Dzạ Lữ, quen lâu! Rồi biết thêm Lương Viết Khiêm, Nguyễn Quy, Ngô Đình Hải, Ngô Thành Hùng, Mai Thanh, Lê Đức Vinh, Văn Công Mỹ và một người từ Đà Lạt xuống từ khuya: Hà Thúc Hùng! Khiêm, giọng Huế trân, nói tôi Huế gốc nhưng là thân hữu của xunau.org, đã đọc anh Đỗ Nghê từ thuở Thư cho bé sơ sinh, một bài thơ quá hay, nhớ mãi! Nguyễn Quy bảo: “Em là Tú gàn. Ba mươi năm trước, ẳm con lại anh chữa bệnh nên em gọi anh là “bác sĩ của con tôi” trong cái “còm” bài thơ Rùng mình của anh trên xunau”. Các bạn đều nói đọc Rùng mình thấy rùng mình thiệt! Lê Đức Vinh hóa ra là Vinh Rùa. Vinh rùa là “Vua rình” đó anh! Vinh tự giới thiệu. Rồi nói thêm: Trần Dzạ Lữ là… người ở trần… đi trong đêm. Dzạ Lữ là đi đêm, mà lại ở trần nữa! Tôi hỏi nhỏ Trần Dzạ Lữ: Lúc rầy sao rồi? Còn dang nắng giữ xe đạp nữa không? Không anh. Lúc này tôi toàn ngồi… phòng lạnh! Nhớ xưa Trần Dzạ Lữ ôm một chồng “Hát dạo bên trời” tìm đến bạn bè. Mai Thanh, người đẹp duy nhất đến sớm, là người đang viết luận văn về tạp chí Bách khoa… Văn Công Mỹ nói ai hỏi em làm gì, em nói em “bán nước” anh ạ. Văn Công Mỹ chính là chủ quán Sông Trăng mà! Mỹ nói thêm: Em mua một lúc 3 cuốn Nghĩ từ trái tim của anh, một cho mình, một cho bà xã còn một cho thằng con trai chưa đầy 30 tuổi. Nó còn nhỏ, đọc sao được? Tôi hỏi. Không, nó còn kêu tụi em sao không dẹp tiệm Sông Trăng này đi để mà lo tu tập đó anh ạ. Văn Công Mỹ gọi phu nhân ra giới thiệu: Đây là “cook” chính của Sông Trăng đó anh. Bà chủ nồng nhiệt bắt tay mừng rỡ vì cũng đã quen lâu qua Nghĩ từ trái tim! Nhờ đến sớm, tôi được Hiển tặng ngay cuốn Một thời để thương yêu của Mang Viên Long và tập thơ-nhạc của Bùi Chí Vinh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Lâm. Tuyệt vời!…
Tiếc phải về sớm không được gặp thêm các bạn bè khác đông vui của xunau.org trong ngày họp mặt này. Xin hẹn lại một dịp khác.
Phải nói thêm rằng cái duyên đến với xunau.org của tôi là nhờ bài thơ Rùng mình. Vừa xuất hiện trên xunau.org đã có ngay gần 60 cái “còm” của bè bạn, thật bất ngờ!
Bài thơ lại không do tôi gởi – vì trước đó tôi không biết có xunau.org – mà do Trương Văn Dân, tác giả “Bàn tay nhỏ dưới mưa” – một người xứ nẫu chính hiệu- chọn và gởi đi. Trương Văn Dân cùng với phu nhân là Elena còn nhiệt tình hứa sẽ “rùng mình” để dịch Rùng mình sang tiếng Ý và tiếng Pháp!
Rồi Trần Dzạ Lữ, rồi Mang Viên Long, Cao Quảng Văn, … những người bạn của “những ngày xưa thân ái” đã “còm” trên xunau.org nói Đỗ Hồng Ngọc… chính là Đỗ Nghê, tác giả của Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân… ,của tập “Tình Người”, của tuyển sinh viên “Tiếng hát những người đi tới”…gần nửa thế kỷ trước! Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn.
Cảm ơn các bạn. Cảm ơn xunau.org!
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú:
Bài viết này xuất hiện trên xunau.org đúng vào ngày Mùng Một Tết, và chỉ mấy hôm thôi đã thấy có gần 50 “comments” của bạn bè khắp nơi. Thật là cảm động. Xin phép được chọn một số đăng lại nơi đây để chia sẻ: “Nào ai hững hờ / Xuân vẫn ngóng chờ…”.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nam Thi
@Tôi xin mở hàng. anh Đỗ Hồng Ngọc nhé.
Tên tuổi và văn chương của BS Đỗ Hồng Ngọc tôi được biết lâu mấy mươi năm rồi. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Hôm phó hội Sông Trăng tôi được Sáu Nẫu báo trước anh cũng có mặt, tôi mừng.Thế mà mới đến cổng Sáu Nẫu đón tôi và báo ngay: ” anh ĐHN đến và đi rồi vì có việc bất khả kháng…”. Cái duyên nó thế, biết làm sao.
Tôi muốn gặp anh không phải vì con tôi được anh chăm sóc khi còn bé, mà cũng không vì say mê văn chương của anh – thú thật tôi đọc anh không nhiều -, mà vì một lẽ khác.
Số là, năm 2002, tôi đi làm ăn ở Phan Rang, tình cờ tôi thấy trong tủ sách của chủ nhà quyển sách của anh viết cho người già. Lúc ấy tôi cũng ngoài năm mươi, bề ngoài chưa chịu mình già nhưng trong thâm tâm biết mình không còn trẻ. Tôi đọc một lèo hết quyển sách. Thật đúng lúc tôi cần chuẩn bị cho tuổi già của mình và anh là người “khai tâm”.
Nhưng diều anh khai tâm cho tôi lớn nhất và thú vị nhất là phần anh viết về kinh Bát Nhã. Nghĩ cái duyên mới là kỳ, đọc thiên kinh vạn quyển như nước chảy lá môn bỗng bài tiểu luận nhỏ ấy lại khai tâm cho tôi như một sự đốn ngộ. Cũng xin thưa rằng tôi vốn là người duy vật và vô thần…có bằng cấp và chính danh (hic).
Đọc xong bài của anh, tôi đọc thêm một số tác giả khác về đề tài nầy. Nhưng càng đọc càng loạn thư, càng rối. Nay thì quên hết, kể cả tựa đề quyển sách của anh.
Tôi mô tả tình trạng “loạn thư” của mình như sau:
“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.
Đã mười năm trôi qua, tôi đã trở thành một ông già thực sự, sống khá ổn, vui vẻ, được anh em xunau gọi là “hậu trưởng” GIAMAHAVU ( Già Mà Ham Vui), đôi khi còn thêm cái đuôi “GIAMAHAVU-IU” ( IU= YÊU theo giọng BĐ).
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều. Và xin mừng tuổi anh.

Đỗ Hồng Ngọc

“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.

“Loạn thư” đến mức đó quả là đáng phục, đáng phục!
Nguyễn Du ngày xưa cũng kêu lên: “Chung tri vô tự thị chân kinh”.
Kinh không chữ mới đúng là chân kinh phải không Nam Thi ơi?
Vô Kỵ nhờ học đến đâu quên đến đó mà làm nhủn lòng Triệu cô nương!
“Hậu trưởng” YAMAHA (Giamahavu) đến lúc ngơ ngác hỏi “IU” là gì thì mới gọi là “đắc đạo” vậy!

Ngô Quang Hiển
Cảm ơn anh Đổ Hồng Ngọc đã dành những tình cảm ưu ái cho xunau.org .Thật ra trang web mới của tụi em vẫn còn nhiều khiếm khuyết ,rất cần sự góp ý và đóng góp của các anh lắm.. lắm.
Năm mới em kính chúc anh và gia đình sức khỏe,bình an.

Nguyễn Xuân Lệnh
Một bài viết cảm động và chân tình quá. Chúc anh vạn sự như ý

Trương Văn Dân
Chào anh Đỗ Hồng Ngọc,
“…Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn….”
Thôi, lộ tẩy hết rồi. Anh viết vậy là bà con xứ nẫu đã “tỏ đường đi lối về”… rồi, còn chi mà …”gìn giữ nữa”. Vậy thình thoảng hãy đến với với anh em để cùng ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng ” nhé.
Bảo đảm đây là độc chiêu của đất võ trời văn, không nơi nào có….
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
TVD

Do Hong Ngoc
Anh nhớ hồi nhỏ cũng đã từng nhiều lần được ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng” đó TVD ơi! Anh từng biết ăn “chè bánh tráng” nữa: bánh tráng mè dày cui, nướng giòn, bóp bể vụn, cho vào nước nóng, thêm đường tán, ta sẽ có ngay một ly chè bánh tráng tuyệt hảo! TVD biết ăn chưa? Bảo Elena làm cho ăn nhé! Tóm lại, “Bánh tráng muôn năm!” Hèn chi mà Quang Trung đánh đâu thắng đó! Chúc xunau.org “thừa thắng xông lên”!

TVD
ANh ĐHN quơi!
Tưởng đem “bánh tráng cuốn bánh tráng” ra doạ anh, ai ngờ bị anh đem “chè bánh tráng” ra đấu lại. Thế là thua to!
Anh đúng là kiến văn quảng bác, cao thủ võ lâm.
Bái phục.
Chúc anh sức khoẻ và yêu đời,
TVD

Văn Công Mỹ
Hôm đầu năm nói chuyện với mấy người về những món ăn “tuyệt chiêu” của xứ nẫu trong đó có món Chè Bánh Tráng đó anh(có mấy bạn chính gốc “củ mì” cũng chưa từng ăn).Thay vì bánh tráng nướng,hồi đó em bẻ bánh tráng sống cho vào nước nóng nấu với đường đen. Đợi bánh tráng nở mềm là thành chè bánh tráng. Ăn,mềm mềm ngọt ngọt cũng đậm đà hương quê lắm. Anh mà biết món này,em xin bái phục.

Tú Gàn:
Xin chào “Bác sĩ của con tui” (nay nó đã là cô giáo 32 tuổi rồi anh à !) năm mới !
Bài viết của anh thật là tình cảm tràn đầy với xunau.org ! Lại có nhắc đến tên em nữa … Em cảm ơn anh nhé ! Hy vọng : “Thà rằng không đến thì thôi …” mà đã đến – đã quen – đã biết – đã hiểu … xunau.org thì anh không có lý do gì … bỏ đi cho đành ! Đúng không anh ? Xin hãy xem mình như là một thành viên thân thiết của xunau.org kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2012 anh Đỗ nhé !

Võ Thanh Tùng
Rất bất ngờ khi biết anh là nhà thơ Đỗ Nghê. Trước năm 75 tôi vẫn thường đọc thơ anh,những bài thơ rất có cái riêng độc đáo thi vị.
Năm mới chúc anh hạnh phúc an khang thinh vượng!

Minh Huy
Chúc mừng năm mới nhà thơ ĐỔ NGHÊ !

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Minh Huy. Cảm ơn tất cả các bạn xunau.org đã chúc Tết cho Đỗ Nghê. Xin gởi tặng một bài thơ nhỏ (đã từ lâu):

Đi giữa Sài gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết

Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay Xuân về
Vỡ òa ngực biếc!

(Đỗ Nghê)

“Xunau” cũng đầy gió bấc phải không? Đó là một thứ gió rất lạ, dễ làm mình “rùng mình” nhất là khi gió ngược những tà áo dài… quê hương!

Văn Công Mỹ
Tôi biết anh là Đỗ Nghê, thi sĩ, khi đọc thơ anh trước đây. Rồi tôi đọc sách, và biết anh là bác sĩ, những cuốn Bỗng Nhiên Mà Họ Lớn, Gió Heo May Đã Về, Già Ơi Chào Bạn…cuốn tôi đến với Cũng Chẳng Khoái Ru, Những Người Trẻ Lạ Lùng… Bẵng đi một thời gian, bữa nọ lang thang trong nhà sách bắt gặp Nghĩ Từ Trái Tim, lật vài trang sách đồ rằng chắc cũng là một cuốn phân tích tâm lý của tác giả, đọc lướt nhanh những lời đầu tôi choáng váng và “rùng mình”… bởi bấy lâu tôi nghe những câu kinh Bát Nhã chỉ là mới nghe, qua những khi tụng niệm của những người thân trong gia đình. Và khi đọc bản văn tâm kinh, chịu chết chứ làm sao tôi hiểu nổi những câu kinh trong Bát Nhã Tâm Kinh. Thế nên tôi rùng mình, choáng váng vì từ lúc đọc Bát Nhã Tâm Kinh tôi đã khao khát tìm hiểu ý nghĩa cuốn kinh này thì nay biết được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, qua cuốn Nghĩ Từ Trái Tim đã luận giải cuốn kinh, từng chữ từng câu theo cái nhìn của một người làm khoa học. Mới biết trong chữ “duyên” khi mình đã “khởi” ắt có ngày mình sẽ “ngộ” phải không anh?
Riêng tôi, đọc những tác phẩm của anh, tôi thường hay liên tưởng đến nhà văn Võ Hồng (cái này “bất khả tư nghị”). Sáng 8/1 lần đầu gặp anh, thấy ánh mắt dịu dàng, nụ cười đôn hậu; những trao đổi nhẹ nhàng, chân tình, ấm áp với những người anh em đã cũ hoặc mới quen của anh, anh em Xứ Nẫu chúng tôi rất chi là cảm động.
Năm mới anh em Xứ Nẫu cầu chúc anh vui tươi,an lạc.

Do Hong Ngoc
Nghe Sông Trăng cũng đã lâu, chưa có dịp nhìn trăng trên sông ở đó cả. Vậy hẹn hôm nào, “trà đạo” dưới trăng một bữa nhé (Vì anh DHN không biết uống rượu mà! Một thiệt thòi rất lớn!).
VCM biết không, cuốn “Chẳng cũng khoái ru?” của anh Ngọc không ai nói đúng cái tựa cả. Người nói “Chẳng ru cũng khoái”, người nói “Chẳng khoái cũng ru”, người bảo “Ru cũng chẳng khoái” người kêu “Khoái cũng chẳng ru”… Chịu thua!

Thiên Bồng
Chào BS Đỗ Hồng Ngọc,
Gặp nhau chỉ khoảng vài chục phút, trao đổi với anh em mỗi người dăm ba câu, vẫn ngỡ là xã giao thông thường nào ngờ tấm lòng của anh với xunau.org thật sâu đậm, có lẽ đây là nét rất riêng của anh chăng?
Hôm 8/1 anh chào anh em và về sớm làm anh em có hơi thắc mắc, sau đó Sáu Nẫu có giải thích lý do về sớm của anh thì anh em lại càng trân trọng và thương quý anh nhiều.
Năm mới TB xin chúc anh được mạnh khỏe và nhận xét vẫn tinh tế như hôm gặp mặt mà TB đã cảm nhận được nha anh. Kính mến.

đinh tấn khương
Kính Anh Đỗ Hồng Ngọc
Nghe và biết anh khá lâu và khá nhiều, qua những tác phẩm của anh. nhưng chưa có lần nào được nói chuyện cùng anh (dù là trong thế giới ảo như bây giờ).
Hôm nay được găp anh ở đây, trước tiên xin gởi đến gia đình anh lời chúc tốt đẹp nhất trong năm mới, năm Nhâm Thìn 2012.
Cầu chúc anh còn nhiều sức khỏe để giúp đời qua chuyên môn và khối óc văn chương thi phú của anh.
Trong những tác phẩm và bài viết của anh (đọc từ sách và ở trang blog của anh), thích nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” mà em được một người bạn, nhân dịp về thăm VN mua tặng, vào năm 2004.
Vẫn biết anh là bậc đàn anh (về tuổi tác cũng như nghề nghiệp) nhưng cứ thắc mắc sao anh lại có nhiều thì giờ và sự hiểu biết, ngoài chuyên môn, để viết được nhiều và hay như vậy!?
Cám ơn anh rất nhiều, nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” đã giúp em hiểu thêm về Bát Nhã Tâm Kinh.
Một câu trong đó mà em luôn nhớ, đó là:
“Trong đời sống thường ngày, ta thấy khi khong còn nghi kỵ, ngờ vực, ghen tuông, tham lam, sân hận thì niềm vui sẽ tràn đến, ta thấy rộng lòng hơn, biết yêu thương hơn, biết tha thứ hơn, và ta cũng được đáp lại như vậy”
Và cám ơn anh đã đến với xunau.org, tạo duyên để được gặp anh.
Kính Anh
đtk

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Đinh Tấn Khương, bạn đồng nghiệp phương xa. Đọc ĐTK, anh Ngọc nghĩ trước sau gì ĐTK cũng sẽ quên mất cái ống nghe mà chỉ còn nhớ cây viết hay bàn phiếm! Có lúc sẽ trốn khỏi cả “cai tù” mà lên núi tu không chừng. Lúc đó sẽ có nhiều thì giờ thôi! ĐTK viết dễ thương. Chúc Năm Mới.

đinh tấn khương
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc đã cho lời khuyên và khích lệ đàn em.
Em chỉ mong, luôn được minh mẫn trí óc để viết cho vui với anh em vậy thôi, anh Ngọc ơi!
Nhưng mà tuổi già đâu dễ gì được mãi vậy, phải không thưa Anh!?
Cũng muốn đi tu lắm, sau khi đã đọc sách đạo của anh, nhưng vì chưa “buông” được nên cái dấu HUYỀN nó mãi còn đó, thành ra em vẫn còn mang cái kiếp “TÙ” đấy, anh Ngọc à!
Vui với Anh một chút, đừng trách nhen!
Chúc Anh còn nhiều sức khỏe để còn viết khỏe, cho thế hệ đằng sau được nhờ.
Kính Anh
đtk

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Lõm bõm: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”

09/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Lõm Bõm (5)
“Không nghĩ thiện
Không nghĩ ác”

“Không nghĩ thiện không nghĩ ác” không phải là không có thiện không có ác. Có thiện có ác quá đi chứ! Nếu không sao bảo “Chư ác mạc tác/ Chư thiện phụng hành” (Chớ làm điều ác/ Hãy làm điều thiện)?

Tưởng tượng đêm hôm đó, một đêm không trăng sao, thầy trò Huệ Năng lén lút ôm bọc y bát rời chùa, len lỏi giữa các rặng lau sậy, ra tận bờ sông… Khi đại chúng biết ông đã được truyền y bát trốn về phương Nam thì có đến vài trăm người rượt đuổi theo để đoạt lại, trong đó có thượng tọa Huệ Minh, vốn trước là một tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng đặt y bát lên tảng đá rồi núp vào đám sậy nói lớn: “Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? ” Huệ Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích, bèn kêu: “Hành giả! Hành giả! Tôi đến vì Pháp, chẳng phải vì Y!”
Huệ Năng nói: “Ông đã vì Pháp mà đến, thì nên dứt bặt trần duyên, chớ sanh một niệm. Tôi sẽ vì ông mà thuyết”. Rồi nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đang khi ấy cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa Minh?”.
Huệ Minh ngay đó đại ngộ.
Thiệt ra Huệ Minh có định lấy y bát chi đâu. Muốn lấy thì đâu có khó gì với một ông tướng như vậy! Ngày nay còn dễ hơn nữa. Đầy dẫy ra đó. Mua đâu chẳng có. Sư phụ Hoàng Nhẫn cũng đã căn dặn: Sau này dẹp cái vụ truyền y bát hình thức đó đi cho đỡ rầy rà, tranh đoạt, giữa chốn thiền môn. Tâm truyền tâm thôi.
Thương tọa Minh thực lòng khâm phục Huệ Năng từ lâu, đã muốn được học pháp, nghe pháp từ Huệ Năng giờ mới có dịp. Trong lúc rầm rập chân người, la ó vang trời, đèn đuốc sáng choang đó, giữa sự căng thẳng sống chết chỉ mành treo chuông đó, một câu nói “dứt bặt trần duyên/ chớ sanh một niệm” của Huệ Năng đủ sức lay chuyển tận gốc rể con người Huệ Minh. Đó chính là lúc bổn lai diện mục Huệ Minh có cơ hội để xuất hiện vằng vặc giữa trời quang! Huệ Minh chỉ cần nghe một câu là đủ. Cũng như xưa Huệ Năng nghe “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là đủ. Học kinh, kệ của Phật, một câu một chữ qúy biết bao. Thưc ra câu nói “Không nghĩ thiện/ không nghĩ ác” chẳng qua là một… minh họa, làm cho rõ nghĩa thêm mà thôi, và nhất là phù hợp với hoàn cảnh căng thẳng đầy sát khí lúc đó.
“Dứt bặt trần duyên/ Chớ sanh một niệm”. Ấy chính là “Vô niệm”. Con đường phát hiện và hành thâm của Lục tổ Huệ Năng. Từ đó mà thấy biết “gió không động/ phướng không động”. Con đường trực chỉ chân tâm đó vậy.
Tóm lại, “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” chỉ có nghĩa là không hai, là bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm… !
“Đại gia” Duy Ma Cật nhờ đã trang bị pháp môn Bất Nhị này đến tận răng mà thỏng tay vào bất cứ chốn nào dù là thanh lâu, quán nhậu, karaoke ôm hay động xì ke ma túy… Vào đến chốn nào thì chốn đó trở thành đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh.
Còn ta lơ mơ “ngẫu hứng lý qua cầu” dễ lọt… xuống sông!

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học

08/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học
Vương Trung Hiếu
Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.
Cách tự học
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm…Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”
Những cách tự học
Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).
Tự học (có người chỉ dẫn) là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.
+ Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ…”.
+ Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.
+ Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.
Tự học không có người chỉ dẫn là tập nhận xét và đọc sách…
+ Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối. Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.
Học từ dễ đến khó
Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.
Cách học ngoại ngữ
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.
Viết sách để tự học
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).
Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Quyển sách ấy có tựa đề là Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.
Vương Trung Hiếu

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!

02/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!
Đỗ Hồng Ngọc

BS Dương Cẩm Chương chuẩn bị cắt bánh sinh nhật (19/12/2011)


Năm 2012 này, bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương vừa lên… 102 tuổi! Nếu tính tuổi Tây thì ông cũng chỉ mới 101 thôi, còn tuổi Ta thì ông được 102. Tôi nghĩ với ông, nên tính tuổi ta bởi ông thường nói chín tháng mười ngày ở trong bụng mẹ mới là thời kỳ quan trọng nhất của con người. Thật khó tưởng tượng nổi một ông cụ 102 tuổi luôn sảng khoái, cười ha hả, đối đáp linh hoạt như một người tuổi trung niên! Thế mà chỉ trước đó ít lâu ông đã lên một cơn “rối loạn tri giác” nặng, hoàn toàn mất trí nhớ, rơi vào hôn mê sâu, bệnh viện phải cho xuất viện về lo hậu sự. Về đến nhà ông nằm mê man suốt hai tháng trời như thế rồi bỗng nhiên tỉnh lại, quát mọi người sao bày đặt tụng kinh om sòm bộ muốn cho ông chết sớm hả. Quả thật suốt hai tháng mê man đó ông đã phiêu diêu nơi miền … cực lạc, chỉ tiếc ông chẳng còn nhớ gì để kể lại cho chúng ta nghe.

Cách đây vài tuần, ông phone gọi tôi nhắc sắp sinh nhật ông, nhớ đến và phát biểu đôi câu đấy nhé! Tôi nhớ năm ngoái đến dự sinh nhật ông đã hỏi ông cảm thấy thế nào về ngày mừng đại thọ trăm tuổi này, ông cười “thấy già thêm chút nữa”! Năm nay tôi “tranh thủ” thăm ông sớm chớ đợi tới ngày sinh nhật thì đông đúc quá!
Vừa thấy tôi, ông đã từ trên giường lồm cồm ngồi dậy, hất tay người cháu đang định đỡ lưng mình, và “tấn công” ngay:
– Cuốn sách mới của anh có bài viết về tôi mà tôi chưa được đó nhé!
– Dạ, có phải chú muốn nói cuốn Nhớ đến một người không?
– Đúng rồi. Nhưng không sao! Tôi cũng đã có rồi. Một đứa cháu đã mua tặng cho. Anh viết về mọi người mà chẳng “kết luận” cái gì cả! Như ông Trần Văn Khê, anh viết về nhiều thời kỳ của ông mà cũng chẳng có kết luận nào cả? Vì thế mà trong giấy mời anh, tôi gởi theo mấy bức thư…
Thì ra vậy. Tôi đã hơi ngạc nhiên sao trong giấy mời của ông, tôi thấy có kèm thư của Ni sư Trí Hải, GS Trần Văn Khê và ông Cao Bá Ninh… . Thì ra ai nấy viết cho ông đều có “kết luận” rất rõ ràng.
Giáo sư Tần Văn Khê viết:
Thưa Dương Cẩm Chương đại huynh,
Kính nể đại huynh, một nghệ sĩ trong y khoa
Ngưỡng mộ đại huynh trong nghệ thuật hội họa
Khâm phục đại huynh, một nghệ sĩ trong nghệ thuật sống.
(02/01/2006)

Ni sư Trí Hải thì viết:
(…) các nhà báo nói Bác trông như một bá tước, họ nói cũng đúng, nhưng tôi thấy Bác như một nghệ sĩ và một thiền sư, ở tính bình dị hồn nhiên của Bác. Nhờ vậy mà Bác giữ mãi được sức khỏe và tâm hồn trẻ trung (Tuê uyển, 12.10.2000).

Còn ông Cao Bá Ninh viết trong một email gần đây:
Thư gởi một người thật quen
Mercredi 6 avril 2011 18h47
(…) Ông đã vẽ cho đời để đời đẹp hơn. Để có được đời sống vui và thoải mái, tôi rất thích lối sống, cách sống và thái độ thật rõ với ĐỜI của ông…(…).

– Thưa, ông Cao Bá Ninh này chắc cũng lớn tuổi rồi hả chú?
– Đâu! Hãy còn trẻ! Nhỏ hơn tôi đến 8, 9 tuổi! (nghĩa là cũng đã ngoài 90 rồi!). Ông đang ở Chicago.
Tôi tìm cách chuyển đề tài:
– Chú thấy… sống lâu có gì hay hông chú?
– Có chứ. Mình được thấy…
– Thấy cái gì?
Ông ngần ngừ: Thấy nhiều thế hệ…
– Còn cái chết?
– Chết là một giải thoát…
– Sau cái chết là gì?
– Không biết ! Chỉ nhớ một câu hình như của Lão Tử: sống sao cho khi sinh ra mình khóc thì mọi người cười, còn khi chết thì mọi người khóc mà mình cười…
– Mình biết gì đâu mà cười hở chú?
Ông làm thinh. Rồi thủng thẳng:
– Nghĩa là mình đã sống một đời sống trọn vẹn, hữu ích. Thời kỳ nằm trong bụng mẹ rất quan trọng…
– Còn trước hồi nằm trong bụng mẹ ?
– Không biết !
– Làm thế nào để có cuộc sống vui khỏe và… trường thọ như chú ?
– Cần 3 điều: Sức khỏe là một, việc làm là hai và tình yêu là ba.
Rồi ông nhìn tôi: Đây là thứ tình yêu rộng lớn… Nhưng mỗi ngày phải nhớ sám hối đó nhé! Cuộc đời nhiều vui khổ…
– Chú tập luyện, ăn ngủ thế nào ?
– Mỗi ngày tập thể dục đều 20 phút, ăn uống vừa đủ, ngủ nhiều.
– Chú còn vẽ không ?
– Hết vẽ được. Mấy ngón tay này…
Rồi ông đưa mấy ngón tay cho tôi coi…
…………………
Trong buổi họp mặt mừng Sinh nhật ông ở Chez Nous, tôi nói, khi tôi sinh ra thì ông đã là bác sĩ, khi tôi là bác sĩ thì ông đã về hưu… Sau này người ta có thể quên đi một Dương Cẩm Chương bác sĩ nhưng người ta sẽ còn nhớ Dương Cẩm Chương họa sĩ… Ông đã sống một đời sống tròn đầy, lao động và sáng tạo, đem lại niềm vui cho mình, cho đời. Ông sống hồn nhiên và hạnh phúc. Tôi vẫn luôn coi ông là « đại sư phụ » của mình…

……………………………..
Đọc thêm trên www.dohongngoc.com/web/
“Ke lu hanh khong met moi cua duong dai”

Nhà yêu nước Dương Bá Trạc là thân phụ của BS Dương Cẩm Chương

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang

01/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

“Thơm bàn tay nhỏ”…

Đỗ Hồng Ngọc
Không biết sao mỗi lần ra Hà Nội tôi đều muốn đi lang thang ngoài đường phố quanh Hồ Gươm và thực sự mừng rỡ khi nhìn thấy một gánh hàng rong có món cốm vòng xanh thơm ủ kín trên cánh lá sen với mấy quả chuối tiêu vàng rượm… Tất cả như gắn với một dĩ vãng mơ hồ nào đó trong ký ức của một người chỉ biết Hà Nội qua những trang sách cũ. Cái mùi hồ gươm, mùi trời thu, mùi cốm vòng… như quyện lấy nhau khiến cho người xa lạ là tôi bỗng quen thân đến sửng sờ.
Hình như cốm vòng chỉ thực sự là vòng khi nó nằm nhẹ tênh trên chiếc mẹt, trên quang gánh. Nó không còn là cốm vòng nữa khi nó được đóng gói, bao bì công nghiệp, ghi ngày sản xuất, hạn sử dụng đâu đó đàng hoàng… Chấm miếng chuối tiêu lên nắm cốm vòng có mùi sen tỏa nhẹ, rụng rơi lả tả những hạt ngọc xanh thơm cho bầy chím ríu rít… giữa Hồ Gươm chẳng khoái lắm ru?

Ăn hàng rong, thực ra, không phải ăn hàng mà là ăn rong. Cho nên tôi nghĩ dẫu thế nào đi nữa thì hàng rong vẫn sẽ cứ còn mãi, vẫn “cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua…” (TCS)!
Ở Saigon phồn hoa đô hội này cũng vậy. Sáng sáng, cứ đến một góc đường, mua một gói xôi đậu phọng, đậu xanh núp quen thuộc. Khi kêu không lấy dừa nạo, không lấy đường cát thì bà bán xôi lập tức xúc thêm một muỗng xôi đầy để bù ngay cho, với một nụ cười cảm thông… cùng người kiêng đường kiêng béo! Bà đã nuôi hai đứa con vào đại học chỉ nhờ cái thúng xôi núp bên hè phố đó hàng chục năm qua rồi!
Chắc không ai đếm xuể Saigon HàNội và các thành phố lớn nhỏ trong cả nước có bao nhiêu gánh hàng rong, bao nhiêu người sống nhờ hàng rong… Gần đây người nhập cư ngày càng đông, hàng rong không chỉ là thức ăn mà cả cây cảnh, hoa trái các loại… trở nên nhộn nhịp nhếch nhác hơn bao giờ hết, kém hẳn vẻ mỹ quan đô thị!
Tuy vậy, hàng rong vẫn tồn tại vì bao giờ cũng… rẻ, cũng ngon, giá nào cũng có, hợp với túi tiền của mọi người. Nó lại sà đến bên mình, lại đon đả mời mọc, cung cấp một dịch vụ thân thiện, gần gũi, giá rẻ, chiều khách hết lòng… Sợ rằng các nhà kinh doanh tầm cỡ khó mà nghĩ ra cách nào tiếp cận hay hơn! Với hàng rong, người ta được mời chào, được chọn lựa, được thương thảo… thỏa thích, luôn có sự tương tác người bán người mua. Khác xa với cảnh lạnh lùng đăm chiêu láo liêng cảnh giác lúc đẩy xe giữa các hành lang hun hút của siêu thị, để rồi khi sắp hàng trả tiền thì đối diện với vẻ lạnh nhạt, mệt mỏi, cau có của nhân viên đồng phục… không kể ánh mắt lườm lườm ngờ vực của những tay bảo vệ đằng đằng và những camera đặt khắp nơi quan sát từng cử chỉ…
Ngày xưa khi Saigon còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? Cũng có người nhờ nghe tiếng rao đó mà đi học kịp lúc! Bây giờ ít còn nghe tiếng rao nào như vậy mà thay vào đó là tiếng rè rè hết pin bánh mì saigon đặc biệt thơm ngon một ngàn một ổ hoặc keo dính chuột… Tiếng rao cũng đã công nghiệp hóa mất rồi!
Người ta đã bàn nhiều cách để dẹp hàng rong. Dẹp không được. Người ta đã bàn nhiều cách để gom hàng rong. Gom không được. Chẳng lẽ ở Bàn Cờ cần mua cục xôi mà phải chạy lên tận Văn Thánh? Cũng đã có người có sáng kiến hay, gom một số hàng rong vào trong một cái quán, bày biện trang hoàng bắt mắt, nhưng giá đắt, chờ lâu và lại xuất hiện cửa quyền… Hàng rong ở đó cũng chỉ là hàng mà hết rong!
Mục đích của việc muốn “quản lý” hàng rong là vấn đề mỹ quan đô thị và an toàn vệ sinh thực phẩm. Quả thật hàng rong ngày càng nhếch nhác trong một đô thị ngày càng chật chội. Hàng rong la liệt trước cổng trường, cơ quan, xí nghiệp… thường không đảm bảo vệ sinh. Làm cách nào đây? Cũng đã thử mở vài lớp tập huấn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Chẳng mấy người học. Cho kiểm tra tận nhà? Người đâu cho xuể? Kêu gọi tự giác? Còn lâu!
Vậy làm sao? Chỉ còn có cách chính người mua chủ động “đòi hỏi” ở người bán, buộc họ phải “thay đổi hành vi”. Khách hàng là “Thượng đế” mà! Một khi thượng đế đòi người bán phải mang găng tay, phải che khẩu trang, phải vệ sinh các vật dụng mới chịu mua thì… người bán đành chiều, nếu không muốn bị ế! Phụ huynh chỉ mua cho con em mình những món ăn hợp vệ sinh, người bán biết giữ vệ sinh. Chỉ cần “Ăn chín uống sôi” là đủ để phòng ngừa nhiều dịch bệnh, kể cả dịch tả. Dần dần các hàng rong nào không quan tâm “an toàn vệ sinh thực phẩm” sẽ bị ế dài dài và buộc phải thay đổi để tồn tại. Chỗ nào ngon, rẻ, tử tế và vệ sinh sẽ tự nhiên đông khách.
Ý thức an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay có vẻ đã dần khá lên. Bắt đầu thấy người bán hàng rong có đậy đệm, có mang găng, có muỗng vá múc riêng… khác với ngày xưa vừa bốc thức ăn vừa quẹt quẹt vào áo vừa thối tiền…
Lại nhớ “Mùa cốm xanh về/ thơm bàn tay nhỏ/ cốm sữa vỉa hè/ thơm bước chân qua…”.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

“NNN”

23/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Từ trái sang: DS Hồ thị Tường Vân, GS Trần Văn Khê, Lâm Duy Anh Kiệt, Đỗ Hồng Ngọc


Một hôm tôi nhận được một cú phone mời đi ăn trưa cùng với Chú Trần Văn Khê và Cô Tường Vân. Tưởng ai, hóa ra là Lâm Duy Anh Kiệt, con thầy Lâm Tô Bông và cô Hồ thị Tiểu Sính, cô giáo tiểu học của tôi hồi nhỏ ở Phan Thiết. Cô Tiểu Sính không chỉ là cô giáo , cô còn là một người ơn của tôi vì đã cho tôi học miễn phí ở ngôi trường Tiểu học của cô thời đó bên bờ sông Cà Ty (Mường Mán). Cô là con của Cụ Hồ Tá Bang, nhà ở kế bên trường Dục Thanh bây giờ. Khi tôi vào đệ thất Phan Bội Châu (1954) thì Anh Kiệt mới sinh nên tôi không được biết em. Thế nhưng, nghe em nhắc đến mẹ là Cô Tiểu Sính thì tôi đã vô cùng cảm động, nhớ buổi mai hôm đó, cậu Ngu Í của tôi đã dẫn tôi từ chùa HN đến gởi gấm cho cô- bạn thân của cậu- để tôi được đi học như bao trẻ em khác. Anh Kiệt đi Pháp từ nhỏ, rồi sang Canada, bây giờ ở Hồng Kông. Thỉnh thoảng em về thăm người dì ruột là Dì Sáu, dược sĩ Hồ thị Tường Vân và người bạn của mẹ là GS Trần Văn Khê.

Trong buổi ăn trưa bên bờ sông Saigon hôm đó, Kiệt kể một câu chuyện thú vị: em thường thấy mẹ đeo một tấm “lắc” có khắc 3 chữ “NNN” trên cổ tay mà không hiểu ý nghĩa. Người lạ thì tưởng là tên họ gì đó của mẹ. Sau này thì Kiệt đã hiểu rõ: Thì ra “dân” Phan Thiết không biết sao thường hay “ăn to nói lớn” nên khi cô Tiểu Sính sang sống ở Pháp, cái tật “nói lớn” đó không bỏ được. Thầy Lâm Tô Bông bèn làm cho cô một tấm “lắc” bằng vàng tây, khắc ba chữ NNN để nhắc nhở cô: “Nói Nho Nhỏ”! Khi cô mất, không biết các con cô có còn ai giữ để kỷ niệm không. Quả thật chỉ có thầy Lâm Tô Bông, vốn là trưởng hướng đạo mới nghĩ ra cách nhắc nhở vợ mình thú vị như thế, và chỉ có cô Tiểu Sính mới chịu mang cái tấm lắc với 3 chữ “NNN” như thế. Tôi nói với Kiệt, có lẽ dân Phan Thiết mình từ xưa sở dĩ thường nói lớn tiếng thành thói quen là do sống ở vùng biển, quen nói giữa “sóng to gió lớn” đó thôi. Thế nên nhiều khi nghe người ta nói chuyện tưởng như gây gổ mà thật ra là rất bình thường. Hôm nào về Phan Thiết để ý thử xem nhé.
Tôi cũng Phan Thiết nên có khi phải cần nhắc mình với 3 chữ “NNN” như vậy!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

“Đối thoại với Lê Hoàng”

06/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Trao đổi về vấn đề Giáo Dục Giới Tính
Ghi chú: Gởi bạn đường link này để có thể theo dõi buổi “Đối thoại với Lê Hoàng” về Giáo Dục Giới Tính của mình mà bạn đã không kịp xem trên VTV1 Chủ nhật 4/12 vừa qua.
Chương trình hoàn toàn không có kịch bản trước.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn

Với Ngô Nguyên Nghiễm

03/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Phút tâm giao với nhà thơ-
bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ngô Nguyên Nghiễm
Ghi chú: Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc, tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh đã có 12 tác phẩm văn học được xuất bản trước và sau 75, với hơn 40 tuyển tập thơ văn in chung, và đã từng là người chủ trương tạp chí Khai Phá. Một hôm anh phone tôi, nói muốn gặp gấp để làm một cuộc phòng vấn “bỏ túi” cho bộ sách mới của anh: Người Đồng Hành Quanh Tôi, Tác giả Tác phẩm. Tôi không có cách nào khác hơn là hẹn anh “bạn đồng nghiệp” quý mến của mình ra một quán cà phê góc phố… cùng với Trần Yên Thảo, giữa cái nắng Saigon…

Ngô Nguyên Nghiễm (NNN): Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 – 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt y học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm” tạm thời thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Thuốc “giả” vẫn chữa được nhiều thứ bệnh thật đó chứ! Còn thi ca? Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?

NNN: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?

ĐHN: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Tôi không hề nghĩ rằng lúc này ta đang làm thơ và lúc này ta đang viết về y học. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, ngũ uẩn vẫn “giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Khi viết một bài về y học, thì hình như tôi đang làm thơ và khi viết một bài thơ thì hình như tôi đang làm… y học! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ… Thôi thì, nó sao kệ nó. “Phân biệt trí” đã làm ta khổ lâu rồi!

NNN: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc, là Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?

ĐHN: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có những loạt thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. “Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”. Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). “Như không thôi đi được”, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó, “như không thôi đi được”. Vậy nên lại có tập “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác”…!

NNN: Thỉnh thoảng đọc các bài viết về Phật pháp của Đỗ Hồng Ngọc trên các tạp chí Phật giáo. Và tôi còn chiêm nghiệm về số vốn cao thâm của anh ở những ý kiến về Phật học. Tất cả tư tưởng trên có ảnh hưởng sâu sắc vào những sáng tác hơn 30 năm nay? Nếu phải, thì hé mở chút duyên ngộ mà nhà thơ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có được?

ĐHN: Hồi nhỏ tôi sống mấy năm trong một ngôi chùa ở Phan Thiết với người cô vì sớm mồ côi cha. Cô bị tai nạn xe lửa, không đi lại được nhưng rất mê sách. Tôi có nhiệm vụ đi mướn sách cho cô đọc. Mặc dù bị cấm con nít không được đọc, tôi đã ngốn hết… toàn bộ sách trong tiệm cho thuê sách đó. Lớn, đi học ở Saigon, dành tiền mua sách, mỗi sáng chỉ ăn một cục xôi. Sách đầy nhà. Tôi nhớ Tôn Hành Giả với 72 phép thần thông và cân đẩu vân tuyệt vời vậy mà cũng không nhảy qua khỏi bàn tay Phật, đành “tè” bậy dưới ngón tay. Thế nhưng, mãi đến năm 1997, sau cơn bệnh thập tử nhất sanh, tôi mới lại tìm đến với Tâm kinh, Kim cang… một cách khác. Học cách khác, hành cách khác. Cho nên như bạn thấy đó, những bài viết có chút hơi hướm, mà tôi nghĩ mình đang lõm bõm học từng chút, từng chút… rồi chia sẻ với bạn bè gần xa.

NNN: Tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc nghiêm túc, hình như anh có một phương pháp và lộ trình sắp đặt cho hướng khai phá trong văn chương, dù đó là Nghệ thuật hay Y học. Nếu có dự trù nào cho tương lai, đề nghị hé mở những đóng góp quý giá này?

ĐHN: Tại cái tạng nó vậy. Tôi nghĩ khó có ai sắp đặt một lộ trình, một phương pháp… trong cõi văn chương! Tại cái tạng thôi. Có người nói tôi nghiêm túc lại có người nói tôi hài hước, dí dỏm; có người bảo tôi sơ sài quá, có người lại bảo thâm thúy… Vậy thì không phải “lỗi” ở người viết mà tại người đọc. Người đọc cũng “đồng tác giả” mà! Bạn thấy không, “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ”!
Còn “dự trù” gì đó ư? Sau Tâm kinh, Kim cang, tôi đang “nghiền ngẫm” kinh Pháp Hoa, và giật mình thấy nó đã được gói gọn trong bốn câu ca dao mà người Việt mình ai cũng thuộc: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”…

NNN: Cảm ơn Đỗ Hồng Ngọc, chúc thân tâm an lạc.
ĐHN: Cảm ơn bạn, Ngô Nguyên Nghiễm.

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM thực hiện.
Mùa thu 2010.
……………………………………………
(*) Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm, tập II, NXB Thanh Niên, 12/2010

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Đọc sách

Thơ Đỗ Nghê

23/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi…

Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác…!
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thơ Đỗ Nghêxem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

13/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Cần có một chương trình toàn diện
Đỗ Hồng Ngọc
Ghi chú: Chương trình Mỗi tuần một chuyện (Đối thoại với Lê Hoàng) của VTV vừa qua có mời tôi trao đổi một vấn đề khá nóng bỏng: Giáo dục giới tính. Tôi thích những “talkshow” sống động – không có kịch bản – như vậy, nhất là với Lê Hoàng- đạo diễn, nhà văn, vốn nổi tiếng rất sắc sảo trong những cuộc đối thoại- và dưới sự đạo diễn của Nguyễn Quang Dũng. Vấn đề đặt ra của Lê Hoàng là tại sao ở Việt Nam ta tỷ lệ phá thai quá cao ở trẻ vị thành niên, phải chăng do ta làm Giáo dục giới tính không tốt?

Thực ra Giáo dục giới tính không phải nhằm để làm giảm tỷ lệ phá thai! Giáo dục giới tính không phải là dạy cách phòng tránh thai mà là một chương trình “học làm người” để có cuộc sống hạnh phúc. Nhưng thực tế thì cho đến nay ta làm GDGT chưa tốt vì chưa có hẳn một Chương trình GDGT toàn diện. Do thời lượng hạn chế của chương trình truyền hình, tôi nghĩ có lẽ nên chia sẻ với bạn bè bài viết dưới đây, đã đăng trên Saigon Tiếp Thị ngày 11.11.2011. (ĐHN).

Giáo dục giới tính là một tiến trình suốt cả đời người, là chuyện phải làm hằng ngày, trước hết là ở gia đình nhằm trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản sau này. Nó bao gồm những hỉêu biết về phát triển tính dục, các mối quan hệ, hình ảnh về thể chất và vai trò giới, tình bạn, tình yêu, tình dục.

Giáo dục giới tính đề cập đến các khía cạnh về sinh học, văn hóa xã hội, tâm lý và tâm linh của vấn đề giới tính, từ lĩnh vực nhận thức (thông tin) đến lĩnh vực tình cảm (cảm xúc, giá trị, thái độ) và lĩnh vực hành vi (kỹ năng truyền thông, giao tiếp và kỹ năng quyết định) của mỗi cá nhân.

Tính dục gắn với con người từ trong trứng nước. Khi thụ tinh thì đã sẵn các nhiễm sắc thể X,Y, phân định giới tính cho đứa trẻ, dù đến 3 tháng trong bụng mẹ, thai nhi mới có đầy đủ các bộ phận sinh dục nam hay nữ! Bên cạnh đó, thiên nhiên còn trang bị sẵn một hệ thống các tuyến sinh dục, để tới tuổi nào đó thì sẽ cho kích hoạt… tạo ra các kích thích tố cần thiết để phát triển giới tính! Chờ đến lúc đó mới “dạy” thì nhiều khi đã muộn!

Cha mẹ có bổn phận phải dạy con cái ngay từ trong gia đình, không thể “khoán” cho ai khác. Và phải dạy rất sớm vì đây là vấn đề liên quan đến nếp sống của mỗi gia đình, đến giá trị, lòng tin, thái độ và nhất là hành vi, hình thành nhân cách của mỗi con người để có một cuộc sống hạnh phúc về sau. Ngay từ lúc mới sinh, trẻ đã được học về tình yêu thương, trìu mến, vuốt ve, cưng nựng, học về những mối quan hệ anh chị em, cha mẹ, ông bà… Trẻ học về giới tính khi cha mẹ chăm sóc, chuyện trò hằng ngày, lúc vui chơi với chúng, lúc thay quần đổi áo cho chúng, dạy chúng biết các bộ phận của cơ thể từ mắt mũi, tai miệng, đến bộ phận sinh dục… Ngay từ lúc đó, trẻ đã học “không phân biệt đối xử” với các bộ phận trong cơ thể mình, và có trách nhiệm gìn giữ vệ sinh đâu đó đàng hoàng. Trẻ lớn dần lên thì hiểu biết sẽ mở rộng thêm về sinh lý học, về các hành vi, thái độ, giá trị liên quan giới tính của gia đình cũng như môi trường văn hóa xã hội chúng đang sống.

Thẳng thắn, chân tình, cởi mở và khoa học trong trao đổi là cách tốt nhất để truyền thông giữa cha mẹ và con cái suốt giai đoạn tuổi thơ cũng như ở tuổi tiền dậy thì và dậy thì, tuổi thanh niên, nhờ đó tạo nên một phương cách xử thế khi trẻ trưởng thành cho vấn đề sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản. Do vậy, cha mẹ cũng phải trang bị cho mình đủ kiến thức để tự tin và có phương pháp tiếp cận phù hợp với từng lứa tuổi theo sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Thế nhưng do từ trước người lớn chúng ta cũng chưa hề được “giáo dục giới tính” bao giờ nên không tránh khỏi lúng túng và lấn cấn trong tư tưởng. Do vậy, để có thể “vượt qua chính mình” cần xem xét lại một số nhận thức, quan điểm của bản thân mình về giới tính, về tình dục để có thái độ thích hợp. Trang bị kiến thức về cơ thể học, sinh lý học tuy vậy không khó bằng cách nhìn nhận vấn đề, tức “quan điểm” – cũng gọi là các “giá trị” – của chính bản thân. Cần thấy rằng khi nói đến tình dục, không thể chỉ nói đến chuyện giao hợp mà phải bao gồm toàn bộ các khía cạnh liên quan như thể chất, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý và cảm xúc. Như vậy, giáo dục giới tính là giáo dục toàn diện về các khía cạnh đó, chứ không phải chỉ dạy cách dùng bao cao su hay sử dụng thuốc ngừa thai.

Vì thế cần có một chương trình giáo dục giới tính toàn diện, không manh mún, lẻ tẻ, mà có hệ thống, được soạn thảo không bởi một vài cá nhân “có thẩm quyền” nào đó theo quan điểm riêng của họ rồi áp đặt cho mọi người mà phải do một nhóm chuyên viên về y học, giáo dục, tâm lý xã hội v.v… ngồi lại với nhau để thống nhất trước trên một số nguyên tắc cơ bản – các giá trị- để có tiếng nói chung. Chẳng hạn tính dục là một phần tự nhiên và lành mạnh của đời sống con người. Mọi người ai cũng có tính dục. Tính dục không đơn thuần là chuyện giao hợp. Với con người, tính dục bao hàm sinh học, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý, cảm xúc…

Mọi người ai cũng có nhân phẩm, mỗi người là một cá thể độc đáo trong bối cảnh văn hóa chung. Đừng vì thấy người ta khác mình mà cho là sai lạc, bệnh hoạn rồi đối xử kỳ thị, bất công. Mỗi cá nhân có kiểu hành xử tình dục riêng, miễn là không mang lại bệnh hoạn, tai họa cho mình hay cho người và không trái thuần phong mỹ tục, văn hóa chung của cộng đồng.

Mỗi người tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành vi tính dục của mình và về những hậu quả của nó nếu có. Do vậy, cần có đủ kiến thức và kỹ năng để tự bảo vệ. Cũng cần nhớ rằng trẻ con thích “khám phá” và luôn tò mò học hỏi về tính dục là một tiến trình tự nhiên để phát triển.

Chương trình này sẽ không chỉ dành riêng cho các nhà giáo dục, cho nhà trường – từ nhà trẻ đến sau đại học- mà còn cho truyền thông đại chúng, cho các tổ chức xã hội, tôn giáo, và cho các bậc phụ huynh- kể cả người giúp việc trong gia đình… để nói cùng thứ tiếng, tránh “ông nói gà bà nói vịt”.

Về nội dung ít nhất phải đề cập về sự phát triển của con người- từ trong bụng mẹ đến tuổi trưởng thành, mối tương quan giữa các yếu tố thể chất, tâm lý, các mối quan hệ, tương tác, các kỹ năng cá nhân – đối với bản thân mình cũng như giữa người với người- đến các hành vi tính dục- dựa trên nền tảng văn hoá của mỗi cộng đồng- rồi mới đến các vấn đề về sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản với các bệnh lây truyền qua đường tình dục v.v… Trong mỗi nội dung đó, phải dạy cả về kiến thức, thái độ, về các giá trị, về hành vi, lối sống, cách ứng xử phù hợp trong môi trường văn hoá của cộng đồng./.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn, Viết cho tuổi mới lớn

Lõm bõm: “Con đường độc nhất”

11/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Lõm bõm(4)

« Con đường độc nhất »
« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn »… Thật không, một con đường như vậy ? Phật nói như đinh đóng cột, chắc là phải có rồi. Nói từ hồi bắt đầu dạy những bài học đầu tiên cho đến lúc sắp nhập Niết bàn. Nói đi nói lại hoài. Sợ người ta quên. Sợ người ta coi nhẹ, mải mê chạy theo những hí luận nọ kia… Bởi con đường « độc nhất » đó lại quá ư đơn giản, đơn giản đến khó tin !

Con đường nào vậy ? Độc nhất. Thanh tịnh. Chánh trí. Niết bàn. Diệt trừ khổ ưu? Nếu có, quả là phương thuốc thần cho cuộc sống đầy bát nháo, điên đảo mộng tưởng… trên một thế giới phẳng, toàn cầu hóa hôm nay ?
Đó chính là Anapanasati – có khi gọi là « An ban thủ ý » hay « Nhập tức xuất tức niệm » – được dạy trong Tứ Niệm Xứ. Hình như ngay Tứ niệm xứ với « thân thọ tâm pháp » … vẫn còn có vẻ phức tạp quá, nên Phật giản hóa đi bằng cách chỉ dẫn một « kỹ thuật » giản đơn nhất mà cũng tuyệt vời nhất, như cánh cửa mở vào kho tàng của … Như Lai.
Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, là nghĩ. Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ vậy.
Thở vào thở ra thì ai mà chẳng thở? Vậy thì có cái gì hay ? Cái hay, cái « bí quyết » nằm ở chữ niệm. Niệm, ấy là nhớ, nghĩ. Nhớ cái thở. Và, nghĩ về cái thở. Xưa nay ta vẫn thở, còn sống thì còn thở nhưng mấy khi ta nhớ ta nghĩ về nó. Đôi khi khò khè cò cử ta cũng có nhớ, có nghĩ chút chút, nhưng nhớ và nghĩ theo… bệnh lý ! Còn Phật muốn ta nhớ nghĩ (niệm) về cái thở theo một cách khác. Hãy nhớ nghĩ thiệt sâu xem sao. Nói khác đi, không phải chỉ « niệm » mà « chánh niệm » xem sao. Hãy thử rình mò, dõi theo nó xem sao. Có gì lạ không? Có đó. Nhưng, đừng nói. Bất khả thuyết. Thử đi. Nếm đi. Hãy đến và nếm thử đi. Thì ra, một khi ta thực sự « nhớ » đến nó (chánh niệm), ta quên mọi thứ trên đời ! Cứ y như một cái công tắc. Bật qua bật lại. Hoặc nhớ chuyện nọ kia thì quên cái thở, nhớ cái thở thì quên chuyện nọ kia. Sinh lý nó vậy. Vỏ não nó vậy. Khi một vùng này của vỏ não được kích hoạt thì vùng kia bị ức chế. Thời đại của… options. Tùy chọn. Giận thì bầm gan tím ruột. Tức thì đỏ mặt tía tai. Mất bao nhiêu là năng lượng. Bãi hoãi tay chân, bao tử, tim mạch, huyết áp…
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ. Niệm không chỉ là nhớ mà còn là nghĩ nữa. Có gì hay để nghĩ về cái hơi thở đó? Có đó. Giật mình thấy đời người chẳng qua là một hơi thở. Lúc sinh hít vào một hơi. Lúc tử hắt ra một cái. Khoảng giữa là những lăn tăn. Lăn tăn mà cũng bày đặt tham lam, sân hận, khổ đau… Giật mình thấy hơi thở chẳng phải của mình, chẳng phải là mình… Ngàn xưa ngàn sau nó đến nó đi ung dung… tự tại ngoài ta, chẳng cần biết có ta trên cõi đời. Chẳng phân biệt, chẳng thêm bớt. Cái hơi thở vào thở ra của Phật, của Bồ tát, của Alahán… kia hình như cứ còn bay bay lởn vởn đâu đây cùng ta phì phò mọi lúc mọi nơi…
Nhưng hình như không dừng ở đó. Cho đến một lúc, chánh niệm trở thành vô niệm.
Ở đó, một thứ tâm bất sinh.

“Tam-ma-địa”

Nghe cứ rờn rợn như “đất của ba con ma” nào đó vậy. Hóa ra không phải. Tam-ma-địa là một từ, phiên âm từ tiếng Phạn: Samadhi. Là Chánh định trong Bát Chánh Đạo. Nhưng hiểu “đất-của-ba-con-ma” cũng hay chứ! Ma tham, ma sân và ma si. Trẻ con thường hát: “Một ông Phật hiện ra/ Ba con ma biến mất!”. Nơi nào có ông Phật hiện ra thì nơi đó ba con ma phải biến mất. Hay nói cách khác, nơi nào có ba con ma hiện ra thì lập tức có ông Phật xuất hiện. Nếu chẳng có ba con ma Tham, Sân, Si thì Phật hiện ra làm gì cho mất công! Cho nên muốn biết Phật ở đâu thì hãy tìm trong… tham sân si. Tham sân si càng lớn, Phật càng to.
Có thể nhập chánh định ngay ở hơi thở đầu tiên được không? Không biết. Nhưng các thiền sư khẳng định là có thể. Phật thường ở trong định. Đi đứng nằm ngồi trong định. Khi cần lắm thì “xuất định” để thuyết giảng chút gì đó, rồi nhập định trở lại ngay. Như như bất động. An nhiên. Tự tại. Nhiều lúc trước khi “thuyết” phải hỏi lại đôi ba lần người ta có tin không. Thuyết xong thấy người ta vẫn ú ớ chưa tin chưa hiểu bèn bảo “chỉ có Phật với Phật mới hiểu nhau thôi”. Bởi Phật nói ra cái điều thấy biết từ trong định, không phải cái thấy biết của ta. Cho nên có những buổi Phật thuyết mà người ta bỏ đi… gần hết. Phật mặc kệ.
Định dẫn đến Tuệ. Người bình thường như ta đôi khi cũng bừng ngộ, lóe sáng, thức tỉnh một chút, nhưng không lâu, lại đắm chìm, lại tắt ngấm.
Bởi thiếu “Tam ma địa”.

« Bố thí thân mạng »

“Buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…”.
Bố thí hơi nhiều đó nhé! Và, thân mạng đâu mà lắm thế? Trong khi ta chỉ có mỗi một tấm thân ngũ uẩn nhẹ hều!
Nhưng chuyện bố thí hằng hà sa số thân mạng sáng trưa chiều tối là có thật. Cứ nhìn vào cơ thể mình thì biết. Cơ thể ta hình thành từ khoảng một trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật”, một “chúng sinh” hẳn hòi, hoạt động có tổ chức, có đầy đủ các chức năng, sắc thọ tưởng hành thức… đàng hoàng chớ chẳng chơi. Và điều kỳ diệu, cứ mỗi giây đồng hồ lại có vô số tế bào được… “bố thí” hay nói khác đi được hủy bỏ để thay thế bằng những tế bào khác, mới hơn, khỏe hơn. Chẳng hạn chỉ riêng hồng cầu, mỗi giây đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu được hủy diệt và thay thế. Các chất liệu được đưa về “kho chứa” là lá lách để sẵn sàng sử dụng lại, chế tạo các hồng cầu mới. Hệ thống mao mạch – các mạch máu nhỏ li ti dẫn máu đến từng tế bào trong cơ thể, cung cấp Oxy và các dưỡng chất để sản xuất năng lượng – nếu nối lại đã có độ dài bằng một vòng quanh trái đất. Mỗi ngày, trái tim nhỏ bé của ta co bóp với một lực mạnh đủ để kéo một đầu máy xe lửa… Cơ thể ta quả một thế giới kỳ diệu, một vũ trụ chưa được khám phá hết. Đừng tìm kiếm đâu xa. Hãy “nương tựa chính mình” là vậy. Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Vô thường ở đó, vô ngã ở đó, niết bàn điạ ngục ở đó…
Bố thí thân mạng nhiều như cát sông Hằng, ngày ba buổi sáng trưa chiều chính là các thời… thiền định của một người tu tập. Trong sâu thẳm của chánh định, sẽ thấy biết… không còn có cái thân nào nữa – hay nói khác đi “bố thí” sạch trơn rồi, “buông xả” sạch trơn rồi. Ngã nhân chúng sanh thọ giả dứt sạch rồi. Chẳng phải trong trạng thái vô ngã đó, đã hoàn toàn “bố thí thân mạng” đó sao?
Như vậy phải chăng “buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…” không bằng biên chép đọc tụng câu kinh tiếng kệ nhằm nhắc ta rằng đừng có mà ngồi ỳ ra đó, đừng có mà lo ngày ba thời thiền định dưới gốc cây, quên ăn quên ngủ, bỏ mặc sự đời. Hãy gieo trồng dù chỉ là một hạt giống nhỏ, để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh…
Cho nên bố thí thân mạng chẳng phải là bố thí thân mạng nên mới gọi là bố thí thân mạng đó vậy.

“Giải thoát” và “Giải thoát”

Thì ra có hai thứ Giải thoát. Giải thoát và giải thoát tri kiến. Hay nói cách khác, một thứ là giải thoát thân và một thứ là giải thoát tâm.
Vô sanh. Đặt gánh nặng xuống. Phạm hạnh đã đầy. Không trở lại con đường cũ nữa. Vậy là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát sanh tử. “Vô sanh” thì “vô tử” mà. Có sanh đâu mà tử ? Có tử đâu mà sanh ? Nhưng “sanh tử” này là sanh tử của các pháp. Sanh, trụ, dị, diệt. Nó vậy đó, nó cứ vậy đó, không ngừng. Sanh tử là một. Vô sanh là cắt đứt đường sanh tử. Các bậc vô sanh đều tới cõi này, nhưng sao…?
Phật nói còn thiếu Từ bi. Bởi Phật rồi cũng chết, cũng “niết bàn” mà, dù chỉ là một cách “thị hiện” chơi thôi, nhằm để răn dạy người đời thôi.
Cho nên giải thoát sanh tử không phải là không còn chết nữa, mà là chết một cách khác, chết an nhiên, chết tự tại, vì đã sống an nhiên, tự tại.

Nhưng giải thoát sinh tử mới chỉ là giải thoát thân, còn cái tâm mù mịt kia vẫn quấn quít, vẫn dằn vặt khôn nguôi. “Lậu hoặc” vẫn đầy ra đó, phiền não vẫn đầy ra đó. Nên “giải thoát thân” mới chỉ là bước một. Độc cư và thiền định đã có thể đưa đến thứ giải thoát này. Bố thí thân mạng ngàn vạn lần sáng trưa chiều tối có thể đưa đến giải thoát này. Nhưng nó chỉ là một trạm dừng chân, nghỉ qua đêm ở hóa thành.
Do vậy, thiền định (Samatha) cần mà chưa đủ, phải thiền quán (Vipassana) để có “tri kiến” thật. Nhưng hai thứ đó quấn quít chằng chịt với nhau, bổ sung cho nhau. “Định” đến mịt mờ cũng chẳng đến đâu, “Quán” đến hí luận cũng chẳng đến đâu. Có người bảo chỉ cần định là đủ, có người bảo chỉ cần quán là đủ. Các triết gia xưa nay vẫn luôn “quán” mọi sự không ngừng đó chứ, nhưng cũng chẳng đến đâu. Còn ôm gốc cây mà mài gạch cho thành gương thì cũng khó! Giải thoát tri kiến thực sự có được phải là cái « tri kiến » Phật. Thứ tri kiến ở đó thức đã chuyển thành trí. Thấy biết Như Lai. “Ngộ” vẫn chưa đủ. Còn phải “nhập” nữa. Khi Lục tổ Huệ Năng “ngộ” rồi thì cũng phải “nhập” mười lăm năm hành tẩu giang hồ mới dám một phen xuống núi: “Gió không động, phướng không động…”.
Một đạo hào quang trí tuệ ở giữa chặng lông mày quét một cái cho thấy toàn cục. Nó vậy thì nó vậy. Tánh tướng nó vậy thì sanh vậy trụ vậy dị vậy diệt vậy… Nó Như Thị. Sáu đạo luân hồi đông vui, dìu dặt. Các vị Phật hằng hà sa số giảng pháp… mọi lúc mọi nơi. Như Lai lặng tiếng. Như như bất động. Nhưng vô vàn để vổ về nhắc nhở.
Ấy là lúc tri kiến Phật tỏ bày?

Bồ tát Di Lặc

Các vị Bồ tát hình như chẳng ai có một cái tên riêng. Ngoài các vị quá thân quen như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Dược Vương… (thực ra là những đức, hạnh), ta còn có vô số các vị mang những cái “tên” rất ngộ nghĩnh: Thường Bất Khinh, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Vô Tận Ý… nếu dịch ra sẽ là: Luôn Tôn Trọng, Luôn Siêng Năng, Không Ngừng Thở, Người Nhiều Chuyện…! Cho nên ta không lấy làm lạ khi có tới hai vạn vị Phật mang cùng một tên gọi duy nhất Nhật Nguyệt Đăng Minh… làm nhớ “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về…” (TCS).
Dễ thương nhất có lẽ là Bồ tát Di Lặc. Bồ tát có cái bụng bự, lúc nào cũng cười toe toét, làm biếng và… hám danh kinh khủng (nên còn có tên là Cầu Danh). Hôm đó giữa hội trường , ông ngơ ngác đứng gãi đầu hỏi hôm nay có gì lạ mà Phật Thích Ca phô trương thanh thế, “đánh trống múa lân” ầm ỉ quá vậy? Bồ tát Văn Thù mới tủm tỉm cười « dẫn chuyện gần xa »: Sẽ có chuyện lạ đó! Chờ xem. Nhớ xưa mỗi lần như vầy thì sẽ có thuyết giảng Diệu pháp Liên hoa đó. Chờ xem. Đừng nóng. Hồi đó tôi cùng tu học với ông, chẳng qua ông biếng nhác, học hoài không thông…
Bụng bự, biếng nhác, hám danh… phải chăng muốn “ám chỉ” chúng ta ngày nay? Ta ngày nay chẳng phải bụng bia, gan nhiễm mỡ, béo phì, bằng cấp giả… đầy đó sao?
Thật ra thì Phật có phô trương thanh thế, có thuyết giảng gì mới lạ đâu. Vô số các vị Phật xưa nay đời đời kiếp kiếp đều nói y một pháp như vậy, có giấu giếm gì đâu, chẳng qua vì không ai muốn nghe, không ai biết nghe thôi. Phật Thích Ca, suốt bốn mươi lăm năm trời phải nói đi nói lại hoài bằng nhiều cách cho nhiều đối tượng khác nhau, để rồi cuối cùng cũng đã khẳng định… “ai bảo Phật có thuyết pháp này nọ là phỉ báng Phật”! Chẳng qua vì “đối tượng” khác nhau nên “mục tiêu” và “phương pháp” cũng phải khác nhau vậy thôi. “Student-centered approach” mà! Lần này trong hội Pháp Hoa, có vẻ Phật Thích Ca hơi bực mình sao đó nên không chỉ nói mà còn bày biện ra, trình diễn, xếp đặt như một cuộc triển lãm, như một phim 3D cho thấy tận mắt. Hãy coi kỹ đây nè. Nó vậy đó. Nó Như Lai. Chẳng có thời gian, chẳng có không gian. Vô lượng thọ. Vô lượng quang. Thực tướng vô tướng… Chuyện khó tin nhưng có thiệt. Một số vị đã rời bỏ hội trường. Kệ, cho đi.
Ông bụng bự, làm biếng, cầu danh… ở lại. Tuyệt vời! Ông hỏi : “Con muốn mau thành Phật. Có cách nào cho mau thành Phật không?”. Chưa bao giờ, ở đâu, có một kẻ nôn nóng thành Phật, nôn nóng “Vô thượng chánh đẳng chánh giác” như thế. Nhưng Phật đã mỉm cười: Có đó. Dễ lắm. Con nít chơi đất chơi cát… cũng thành Phật được, trẻ con người già, đàn ông đàn bà gì cũng thành Phật được. Bởi ai ai cũng sẵn có hạt giống đó cả rồi. Miễn là phải tưới bón!
Con người hôm nay trên thế giới phẳng, toàn cầu hóa này dù… bụng to, làm biếng, cầu danh, muốn mau thành “chánh quả”… vẫn có thể thành được không khó, miễn là có đủ “tri kiến” Phật và hằng sống “ngộ nhập” với tri kiến đó.
Nhưng, còn thiếu chút gì chăng? Từ Bi. Bồ tát Di Lặc, Maitreya, Từ Thị… vốn dòng dõi Từ Bi. Ông “thị hiện” chút chơi để dạy ta rằng phải có Từ Bi cái đã. Bởi Từ Bi thì mới Hỷ Xả. Nếu không, sao bụng lại to, sao cười lại rộng?

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 11.11.11)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc

27/10/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

Ghi chú: Một hôm, tôi nhận email của một sinh viên đề nghị xin được phỏng vấn tôi để hoàn thành một “bài tập” của em. Thỉnh thoảng tôi cũng có trả lời phỏng vấn, giúp SV làm luận văn, nhưng chưa lần nào giúp làm “bài tập” như lần này. Em là Phạm Bảo Hồng, SV Quan hệ công chúng và Truyền thông của một Trường đại học. Tôi nghĩ có thể chia sẻ với bạn bè thân thiết “bài tập” này của em vậy.

Đỗ Hồng Ngọc.

PHỎNG VẤN BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

1. Đọc các bài viết của bác, lúc nào trong cháu cũng cảm thấy một nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác. Bác thường trích dẫn những lời nhạc của Trịnh Công Sơn, những lời thơ của bạn bè bác. Những người thân quen, những mối quan hệ xung quanh có phải là nguồn cảm hứng cho bác?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Cảm ơn đã đặt một câu hỏi rất “nhẹ nhàng, man mác” như vậy, khiến tôi cũng lúng túng không biết trả lời sao. Cái “nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác” đó -khi đọc những bài viết của tôi- hẳn là một lời khen, cho thấy bài viết đã chia sẻ được những cảm xúc, nghĩ suy cùng người đọc, ít ra trong một cuộc sống đầy bon chen, căng thẳng… hiện nay, không chỉ riêng ta mà cả một thế giới phẳng, toàn cầu hóa! Tôi thường trích dẫn những ca từ của Trịnh Công Sơn, những câu thơ của người này người khác… khi thì Bùi Giáng, khi thì Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… (không phải bạn bè tôi đâu!) chẳng qua vì nó phù hợp với tâm trạng tôi lúc đó, nó tự nhiên đến với tôi chứ không phải do tôi cố ý kiếm tìm. Và, thực ra, với người viết nào thì những mối quan hệ, những người thân quen… bao giờ chẳng là nguồn cảm hứng bất tận cho họ?

2.Từ khi nào bác nhận ra trong bác có cả hai con người: một vị thầy thuốc hết lòng yêu nghề, nghiêm túc và một người cầm bút, tâm hồn nghệ sĩ? Bác làm sao để dung hòa hai tính cách trong một con người mình? Có bao giờ hai tính cách này đấu tranh lẫn nhau, buộc bác phải suy nghĩ?

ĐHN: Không. Tôi chẳng bao giờ thấy “nó” đấu đá hay tranh giành gì cả. Trái lại, nó cứ quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Ai bảo người nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn vị thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bỗng… nhỉ? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Dĩ nhiên khi trả lời y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bỗng hơn…

3.Lượng độc giả yêu thương và dõi theo bác gồm mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên, trung niên và cao niên. Viết cho mỗi lứa tuổi là một cách hành văn khác nhau, phải luôn thay đổi, làm mới cho phù hợp với nội dung. Làm sao bác có thể “phân thân” mình được như vậy?

ĐHN: Thường tôi không viết theo sách vở mà theo trải nghiệm của riêng mình. Như khi viết cho tuổi mới lớn thì vì tôi cũng vừa trải qua tuổi mới lớn; khi viết cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi dạy con thì vì tôi đã có vài ba nhóc tì; viết cho tuổi gió heo may vì tôi đã hườm hườm, còn viết cho tuổi già vì tôi đã bắt đầu thấy mình gần… khú! Tóm lại, phải có kinh nghiệm bản thân rồi mới chia sẻ được chứ phải không? Do vậy, tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.

4.Có bao giờ bác cảm thấy mệt mỏi, như mình không muốn viết nữa, hay những gì viết ra chỉ để “cất cho riêng mình một chút thôi vấn vương gió mây hoài niệm”, không muốn sẻ chia, dù rằng bác đã viết “sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”? Trong trường hợp đó, động lực nào thúc đẩy bác vượt qua giai đoạn ấy?

ĐHN: Dĩ nhiên có lúc mệt mỏi chứ. Tôi phụ trách trang mục “Phòng mạch Mực Tím” báo Mực Tím của tuổi mới lớn hằng chục năm trời, mỗi tuần nhận cả đống thư các em gởi về (hồi đó toàn viết tay rất dễ thương). Sau tôi đầu hàng. Phải nhờ một đồng nghiệp trẻ thay thế. Vả lại, càng về sau, các em càng hỏi những điều “trời ơi” tôi không trả lời nổi. Sau đó tôi giữ mục “Thư gởi người bận rộn” trên báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cũng được vài ba năm, rồi mục “Gia đình vui khỏe” trên báo Phụ nữ Tp.HCM cũng được vài năm… Viết báo, với tôi là một cách giữ cho mình một “áp lực” thường xuyên, không để cho mình làm biếng. Nhưng viết hoài cũng oải chứ. Oải quá thì nghỉ. Vậy thôi. Động lực nào ư? Có người đọc là vui rồi. Vả lại, cái nghề thầy thuốc của tôi, mệt cũng phải… làm mà!

5.Dù biết trên đời này không có gì là hoàn hảo, nhìn lại quãng thời gian đã qua, có khi nào bác cảm thấy hối tiếc vì một việc nào đó mà mình chưa hoàn thành trọn vẹn, hoặc kết quả không như ý?

ĐHN: Tôi không đặt nhiều kỳ vọng, mục tiêu gì cao vời cho mình cả. Tôi thường lửng thửng, đôi khi lang thang và chấp nhận mình như mình. Vậy vậy thôi. Ngay từ hồi trẻ, tôi vừa thích “làm bác sĩ” lại thích làm nhà văn, nhà giáo… nên vừa học y khoa lại vừa học văn khoa, vừa học xã hội học ở… 3 trường đại học khác nhau. Tôi “học cho đã” và thấy vui trong việc học. Bây giờ tôi vẫn cứ còn mê học. Có cơ hội thì học. Tôi chủ trương dạy học, viết lách cũng chính là để học. Còn thế nào là “hoàn thành trọn vẹn, kết quả như ý” thì quả thật tôi… không biết.

6.Ngày càng có nhiều cây bút trẻ xuất hiện trên Văn đàn, với nội dung tác phẩm na ná nhau về các vấn đề hiện nay trong xã hội (như đồng tính, yêu người đã có gia đình, những bế tắc, sự thất vọng, buồn bã trong cuộc sống dù họ còn khá trẻ), bác nghĩ sao về vấn đề này?

ĐHN: Tôi chấp nhận và tôn trọng điều đó. Chính vì “họ còn khá trẻ” nên họ thấy những điều mà tôi không thấy. Thời nào cũng vậy. Có người trẻ và có người già. Họ nhìn, họ thấy, họ nghĩ, họ cảm khác nhau chớ sao. Văn hoá nền cũng khác nhau, môi trường xã hội và thiên nhiên cũng đã thay đổi. Điều đó càng làm phong phú thêm cuộc sống. Các nhà văn trẻ có những vấn đề thời đại của họ. Họ phản ánh nó qua văn chương là điều đáng quý. Quan trọng là cần có giọng điệu riêng, bản sắc riêng của mỗi người. Do vậy họ phải tự đào luyện không ngừng và có một không gian để thể hiện và chia sẻ. Họ cần tự do và cô đơn.

7.Là người hiểu nhiều, đọc nhiều, bác có yêu thích vị tác giả nào không? Vì sao? Nếu có, cách viết của bác có bị ảnh hưởng bởi họ không?

ĐHN: Tôi đặc biệt qúy mến Nguyễn Hiến Lê. Dù không học trực tiếp với ông ngày nào, tôi vẫn coi ông là thầy mình. Cách viết của ông trong sáng, giản dị. Viết từ trải nghiệm, không lý thuyết viễn vông. Còn dịch, ông nói phải dịch sao cho người đọc không thấy dấu vết dịch, nghĩa là phải thật thấu hiểu, thật nhuần nhuyễn cả hai nền văn hóa, ngôn ngữ. Ông làm việc nghiêm túc, khắc kỷ, đọc sách lúc nào cũng có cây viết chì trên tay. Ông nói: viết là để học và học là để viết. Muốn “học” một điều gì cho thấu đáo thì hãy “viết” về nó. Tôi cũng thấy vậy. Viết sách hay dạy học… với tôi đều là những cơ hội tốt để học tập, rèn luyện, thể nghiệm, chia sẻ. Tôi cũng đặc biệt thích André Maurois và Lâm Ngữ Đường… Tôi thấy hình như họ hạp với cái tạng của mình. Dĩ nhiên tôi viết theo cách của riêng tôi.

8.Bác có hài lòng với cuộc sống hiện tại? Hạnh phúc vẫn luôn hiện diện xung quanh bác chứ? Bác có thể bật mí những dự định sắp tới của mình?

ĐHN: Tôi cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, bởi “dĩ vãng đã qua rồi, tương lai thì chưa tới”. Hiện tại là món quà của cuộc sống. Trong tiếng Anh có một từ dễ thương, đó là “present”, cùng lúc có ba nghĩa: hiện tại, sự có mặt, và món quà. Sống trong hiện tại, ở đây và bây giờ, là sống trong hạnh phúc. “Hạnh phúc rất đơn sơ” như một nhà thơ đã nói. Đơn sơ nhưng không dễ thấy biết. Phải khám phá. Nó như một bí mật, chập chờn, khi ẩn khi hiện quanh ta, nên phải biết khám phá. Nhiều khi phải nhìn một cách khác, phải nghe một cách khác, phải nếm ngửi một cách khác… Quyết tâm tìm kiếm nó, lùng sục nó… thì nó biến mất. Nó thường gặp gỡ, vui đùa với trẻ thơ, nên “em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) là vậy.

Phạm Bảo Hồng (thực hiện)
Saigon, 25.10.2011

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi

Ghi chép lang thang 1.10

04/10/2011 By support2 17 Bình luận

“GIÀ KHÚ… ĐẾ!”

Ghi chú: 1 Tháng 10 là Ngày NGƯỜI CAO TUỔI. Có bạn trách sao thấy cứ viết đề tài trẻ con hoài! Vậy nên, có bài “Già khú… đế” này riêng tặng bạn bè tôi, những người đang hoặc sẽ… “khú đế”. Trên 70 tuổi mới nên đọc…
Đỗ Hồng Ngọc

1. “Già khú” là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú… đế”. Khú, Từ diển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. Khú đế là “vua” của khú, hơn hẳn các khú!

Thật là một sai lầm lớn khi ta nghĩ rằng già sẽ đến từ từ, cứ từ từ mà thích nghi, mà giải quyết mọi chuyện lần lượt. Không đâu. Già nó xồng xộc trên trời rơi xuống, dưới đất vọt lên. Không những xồng xộc nó còn gia tốc, tàn bạo như cơn sóng vỗ vào bờ đá, vội vã để mau chóng nhập vào dòng nước cuồn cuộn đuổi theo sau. Nó mạnh mẽ và tàn nhẫn, tung tóe, tan tác, lắng chìm, không một chút xót thương. Nó lãnh đạm bởi nhiệm vụ nó phải thế. Nó thú vị bởi nó không phân biệt. Giàu nghèo sang hèn, da trắng da đen… Còn ta, ta chần chờ, chểnh mãn, làm ngơ… Hãy đợi đấy. Đi đâu mà vội… Không đâu! Một hôm già bỗng chuyển hệ sang già…khú, rồi khú đế đột ngột làm đảo lộn mọi thứ tính toan. Quên tuốt những ký ức, lẫn lộn điều nọ với điều kia, thứ này với thứ khác, tai không nghe rõ, nói không trôi chảy, mắt không nhìn tinh… như làn sóng đã bắt đầu tung tóe!

Già đến đột ngột và tàn bạo. Như một cơn động đất, không cần phải hỏi han, không cần báo trước. Như một cơn bão dữ, thổi ào qua, cuốn tất cả không thương tiếc. Khi nó khú đế, nó sẵn sàng làm ta trở nên lố bịch, buồn cười, ngớ ngẩn, đáng thương. Khi nhìn quanh những người già khú đế mà… còn khỏe, ta nghĩ ta chắc cũng sẽ như họ. Còn lâu. Số người như vậy rất hiếm.

Nhưng, như vậy phải chăng làm ta sẽ nhìn đời bi quan ? Không đâu. Trái lại. Nó làm cho cuộc sống của ta có chất lượng hơn, có ý nghĩa hơn. Người ta không cảm nhận được thời gian vì thực ra chẳng có thời gian.

2. Thỉnh thoảng gặp người bạn thân lâu ngày chưa gặp lại, thấy bạn sao mà nhăn nheo, già khú, hỏi mới biết còn nhỏ hơn mình vài tuổi! Bạn kể cho nghe chuyện đôi khi gặp lại « người xưa » của bạn, tưởng tình ngỡ đã quên đi như lòng cố lạnh lùng, người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang… Ai dè không vậy. Đôi mắt huyền xưa, chiếc mũi dọc dừa… bây giờ khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang; vai gầy guộc nhỏ, từng ngón xuân nồng bây giờ chuối ngự…. Còn ta thì sao? Nguyên Sa bảo ta chỉ có thể đo đếm tuổi mình qua ánh mắt cố nhân. Thử nhìn vào gương. Có gì khác lạ đâu nào? Ấy là bởi mình quen nhau quá rồi nên chẳng kịp thấy đổi thay. Thế nhưng, đã không còn những dấu chân chim ở khóe mắt mà hằn sâu như vạn lý trường thành… Khóe miệng thì nặng nề trễ xuống như bị sức hút của quả đất. Ở một nơi không có trọng lực chắc không đến nỗi?

Bạn nhắc toàn chuyện nửa thế kỷ trước… Nào đi cắm trại Suối Lồ Ồ với Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Hồ Xích Tú, Nguyễn Công Thuần, Quách Giao…, nào lang thang chợ sách vỉa hè Saigon, “truy lùng” sách quý, nào cà phê chiều tím, chiều nhớ thương ai… Mấy đứa cháu nội mười bảy mười tám ra vòng tay chào bác, chào bác… Bạn quắc mắt: “Ông” chớ sao lại bác! Thấy chưa, tụi nó gọi ông bằng ông nội mà gọi tui bằng bác, thấy chưa?
Bạn có khoảng đất rộng chơi cây kiểng một thời. Cả một vườn mai vàng rực cho những ngày Tết nay đà xơ xác. Căn nhà rộng đã nhường cho các con, cất một mái nho nhỏ bên cạnh như một cái am cốc, một tủ sách, một cái TV, và nhất định không xài điện thoại di động, vi tính… Đủ rồi đó, nay mai, sẽ dọn dần về những căn nhà nhỏ hơn, nhỏ hơn nữa. Rồi cùng mà cười. Bạn nói đã làm xong di chúc. Và cũng đã căn dặn, rải xuống sông Soài Rạp, quê nhà.

Phone cho người bạn ở tận miền Trung xem bạn đã khú ra sao. Bạn đi vắng. Không biết đi đâu. Chị càu nhàu. Hỏi “tình hình” sao rồi? Chịu hổng nổi ổng. Chị nói. Tôi chỉ muốn “cắn” ổng mấy cái! Ấy, chớ, đừng. Đừng cắn. Chị mà cắn ổng người ta tưởng chị “mê” ổng lắm đó. Tục ngữ có câu: “Yêu nhau lắm cắn nhau đau” mà, nhớ không? Hồi xưa hai ông bà mê nhau như điếu đổ! Anh bạn làm thầy giáo, một nhà thơ rất dễ thương, lấy bút hiệu con gái để dễ đăng những bài thơ mượt mà trên các báo thời đó. Giờ anh đi lai rai chỗ bạn bè, em cháu, những chốn chùa chiền…

3. Nhân có bác sĩ Th ở Mỹ về , chúng tôi ơi ới gọi nhau rôm rả ở một quán hải sản thành phố.

Thiệt là tay bắt mặt mừng. Nhiều khi ngớ ra. Biết mặt mà quên tên. Biết tên mà quên mặt. Học chung với nhau dưới mái trường y khoa Saigon đằng đẵng bảy năm trời, không thể không quen, vậy mà đôi lúc cũng ngỡ ngàng, chưng hửng! Người thì hom hem… người thì béo ị… người bạc trắng, người cà khêu… Ôi cái thời sinh viên y khoa hào hoa phong nhã, tếu táo vung trời! Có lẽ do cái sự học y dài lâu và nghiệt ngã, tiếp cận bao nỗi con người… nên bọn y khoa nổi tiếng là “tiếu lâm” hạng nhứt, mặc dù học hành nghiêm túc chẳng ai bằng! Nhớ thời đó, ai vào y khoa cũng bị đặt cho một cái “biệt danh”, cái “hỗn danh”, cái “tục danh” chịu hổng nổi, rồi chết cứng với tên gọi đó suốt đời. Bạn bè gặp nhau chỉ cần kêu một tiếng thì cả một dĩ vãng ùa về…! Tên có thể quên chớ tục danh thì khó mà không nhớ. Cả đám bác sĩ vào trường y nửa thế kỷ trước bây giờ đều trên dưới bảy mươi không mấy ai là không bệnh tật! Đã bệnh thì toàn thứ dữ. Bác sĩ mà! Nhồi máu cơ tim, stent, by pass… tai biến mạch máu não, tiểu đường, thận, khớp,…

Nhưng thật lạ lùng, bạn bè cũ cứ ngồi với nhau một lúc nhắc những chuyện xưa bỗng dưng ai nấy đều trẻ lại không ngờ. Trẻ như không hề có thời gian.

(ĐHN)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

Viết nhân năm học mới: Thầy Đỗ Hồng Ngọc

29/09/2011 By support2 Để lại bình luận

ThS BS Trương Trọng Hoàng

Hôm nay dù chưa đến ngày 20/11 tôi vẫn muốn viết về BS Đỗ Hồng Ngọc – một người Thầy với phong cách giảng dạy đặc biệt đã để lại những ấn tượng và ảnh hưởng sâu sắc đối với công việc giảng dạy của tôi.

Lớp Y1A Đai học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (12.9.2011)

Còn nhớ cách đây đã lâu lắm rồi, ngày tôi học năm thứ 4 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được học một buổi với Thầy – chỉ một buổi thôi nhưng đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Ngày đó Thầy đến lớp, giảng bài Săn sóc sức khỏe ban đầu trong Nhi khoa, khác với tất cả các giảng viên khác đó là Thầy chỉ giảng bằng hình. Thời đó hình không phải dễ làm, phải chụp bằng phim dương bản (slide), vô khung và phải dùng máy chiếu slide để trình chiếu. Và chính là nhờ những hình ảnh ấy của Thầy mà tôi thấy được Săn sóc sức khỏe ban đầu là những hoạt động thực tế, thấy được cuộc sống thật, thấy được những cảm xúc của người dân thể hiện qua những nụ cười, những vẻ mặt hân hoan, những hoạt động tích cực của họ. Nhờ đó mà tôi có được những cảm nhận sâu sắc, điều mà những bài giảng khác không cho tôi được và đó chính là điều mà tôi nhớ nhất.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 57
  • Trang 58
  • Trang 59
  • Trang 60
  • Trang 61
  • Interim pages omitted …
  • Trang 63
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email