Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Hồ Đắc Đằng: VÔ KỴ HỌC BẮN CUNG

10/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có loạt bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” đã được post trên trang này và được rất nhiều bạn bè chia sẻ. Anh tiếp tục có bài Vô Kỵ Học Lái Xe cũng rất độc đáo. Và hôm nay là bài “Vô Kỵ học bắn cung” với Đứng, Nắm, Nhắm, Buông… rất tuyệt vời.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.

Đỗ Hồng Ngọc

PS Đa tạ Đèn Biển (Võ Quang), người đã chịu khó gõ Word từ bản viết tay “chữ bác sĩ” đọc không ra của Hồ Đắc Đằng.

……………………………………………………………….

Vô Kỵ học bắn cung

Hồ Đắc Đằng

Vô Kỵ đánh võ thì giỏi, tánh tình thì điềm đạm mà cái gì có dính dáng đến võ khí là nó sợ nhất. Nó không còn có một tâm thức nào làm người khác, vật khác đau nữa, nói chi là bắn với giết. Vì vậy khi hắn nghe thầy bảo thầy sẽ dạy nó bắn cung, hắn từ chối ngay tức khắc.

– Vô Kỵ nầy. Cái tư tưởng không bao giờ làm người khác đau của con quí báu vô cùng. Còn cái nghệ thuật bắn cung của thầy dạy đây chẳng những không bao giờ làm ai đau mà lại, nếu con thực hành đúng, nó sẽ làm cho mọi người vui.

Trước hết, con phải thấm nhuần vài nguyên tắc căn bản của cái nghệ thuật nầy. Hai nguyên tắc chánh:

1/ Thứ nhất: Bắn để đúng, không phải để được.

Người đời thường hiểu lầm cái nầy. Bắn cái gì là để được cái đó. Bắn con nai thì muốn con nai ngã xuống để lấy về ăn nhậu, khoe khoang. Bắn cho được là lấy vô. Bắn cho đúng là cho ra. Ai đi săn tìm hạnh phúc cho mình sẽ chỉ lấy vô được khoái lạc (excitement). Ai đi săn tìm hạnh phúc cho người sẽ tạo ra, cho ra hạnh phúc cả mình lẫn người.

– Thầy nói có lý, con có đọc đâu đó một tác giả Mỹ nói cái chi đó tương tự như vậy “In life, happiness is not a goal. Happiness is a by-product”, “The more you are looking for ít, the farther away it will evade you.”

– Con giỏi thật, đọc mà nhớ được mấy cái lặt vặt nầy. Thầy khen con đấy. Đó là phu nhân của một cựu tổng thống Mỹ, bà Eleanor Roosevelt.

2/ Thứ hai: Tâm thức khi bắn cung. Tâm thức của thân hữu, không bao giờ của thù nghịch.

Với 2 nguyên tắc nầy, thầy mới có thể dạy con cái nghệ thuật gần như thất truyền nầy. Người ta bây giờ cũng hay học bắn, bắn súng. Súng đạn không bao giờ ứng dụng được 2 nguyên tắc nầy của cung tiễn.

Vô Kỵ bắt đầu tò mò hơn. Từ khinh thường cung tiễn vì ý tưởng của bạo lực, vũ khí đến cái tò mò của tâm thức trong bắn cung.

Đứng

– Nầy Vô Kỵ. Đứng ở đây có 2 khía cạnh: Tư thế đứng cho vững của thân thể, con giỏi rồi, như lúc học võ, đứng lại như ngũ giới, có 5 cái không làm. Một khía cạnh khác là dừng lại. Tâm con chậm lại, dừng lại. Con còn nhớ một tâm nhanh là một tâm bệnh ; một tâm chậm là một tâm khỏe mạnh ; một tâm dừng lại là một tâm ngộ.

Hiện tại thầy đang dạy con ở cái chặng thứ hai nầy: chậm lại. Dừng hẳn lại là Ngộ đó con.

– Chừng nào mới Ngộ thưa thầy? – Vô Kỵ tò mò nhiều nên thiếu kiên nhẫn.

– Vô Kỵ con, đừng có nóng lòng, mong đợi một cái gì hết. Ngay cả mong đợi giác ngộ. Để yên cái giác ngộ đó. Chẳng có ai tranh đua đến trước, giữ chỗ sắp hàng như tụi Mỹ sắp hàng từ 3 giờ sáng để chờ bán hạ giá sau lễ Tạ ơn tháng nầy (After Thanksgiving sale).

Nắm

– Vô Kỵ. Cái nắm nầy là cái thứ 2 của 4 tác động của bắn cung: Đứng, Nắm, Ngắm và Buông.

Luôn luôn phải nắm cung bằng tay trái. Thầy biết con thuận tay trái. Sẽ dễ cho con tập. Sẽ dễ cho thầy dạy.

“Quái lạ, ai thuận tay nào, nắm tay ấy, sao lại phải nắm bằng tay trái nhỉ?” Vô Kỵ tự hỏi. Thầy nó biết ý, mới giải thích:

– Vô Kỵ nầy. Não bộ của người có 2 bán cầu não. Một phải, một trái. Hai cái làm việc hỗ trợ nhau nhưng luôn luôn có một bên mạnh hơn (dominant). Người thuận tay trái, bán cầu não bên phải mạnh hơn. Người nào thuận tay phải thì bán cầu não bên trái mạnh hơn.. Hơn nữa Vô Kỵ con phải biết, còn có vấn đề tâm lý nữa.

“Não trái, não phải mà dính đáng đến tâm lý mình?” Nó lại càng tò mò hơn nữa.

– Thần kinh học sau nầy khám phá ra cái nầy. Bán cầu trái thì thiên về phân tách, đo lường, lý luận và thắng với thua. Bán cầu phải thì lại khác, nó thiên về cảm nhận, tổng hợp, bao dung và từ bi! Đại khái như kiểu Nam tả, Nữ hữu của Á đông mình. Đừng có lộn với câu Tả trọng, Hữu khinh nhé, Vô Kỵ. Cái Tả trọng, Hữu kinh nầy là do người đặt ra, không phải thiên nhiên khoa học. Thầy chỉ dạy con cái thiên nhiên thôi. Chỉ cần nhớ bán cầu và tâm lý của mỗi bán cầu não.

– Làm sao họ khám phá ra mấy cái nầy, thưa thầy?

– Từ bệnh. Mấy thầy thuốc họ theo dõi tâm lý của mấy bệnh nhân trước và sau khi bị TBMMN (tai biến mạch máu não). Chính thầy đã nhận xét và thấy cái chuyện nầy có thật. Mấy ông bị bại xuội bên trái, tức là bị nhũn não bên bán cầu não phải. Trời đất ơi, mấy ổng trước bệnh khó một, sau khi bị TBMMN, khó gấp 3 lần. Cãi vã, kèn cựa, cãi chầy cãi cối. Mấy bà vợ chịu không nổi, Trái lại mấy người bị bại bên phải thì hiền lại hẳn. Hết cãi cọ, lý luận, trách móc như trước khi bệnh. Hiền hẳn lại, Người nhà ai cũng nhận thấy. Tại sao? Bán cầu não bên trái của mấy người nầy bị nhũn. Mà bên trái là tranh luận đó! Mấy bác sĩ hospitalist (chỉ làm việc trong bệnh viện thôi, không theo dõi bệnh nhân như PCP (Primacy Care Physician) nên họ không để ý mấy cái vụ tâm lý thay đổi nầy. Họ không biết bệnh nhân trước khi mấy bệnh nhân nầy nhập viện. Ra viện, họ cũng không theo dõi lâu dài. Giao lại cho PCP.

– À ra vậy – Vô Kỵ vỡ lẽ nhưng vẫn còn thắc mắc – Tại sao mấy cái khái niệm trái phải của bán cầu não lại liên hệ với nắm cung tay nào?

– Bao dung và từ bi. Đó là lý do để nắm cung tay nào. Cái tay hướng cung về đâu. Cái tay đó phải được điều khiển bởi cái tâm bao dung và từ bi. Cái tâm của bán cầu não phải.

Vô Kỵ ngẫm nghĩ, trầm tư. Nó đâu có ngờ tay nào cầm cung có tầm quan trọng như vậy. Chỉ nhắm. À ra vậy. Nhắm với lòng từ bi, bao dung, ôn hòa mới gọi là nhắm đúng. Không phải bắn trúng thôi là đủ.

Nhắm

– Cái nầy mới là cái chủ chốt đấy Vô Kỵ. Nhắm một cái đích. Một mục tiêu.

– Còn xa gần thì ra sao, thưa thầy?

– Giỏi, hỏi như vậy. Không phải gần mà dễ. Thiên hạ chỉ quan tâm đến mấy mục tiêu xa, khó thấy, mà quên mấy cái mục tiêu gần. Nhìn xa mà quên nhìn gần là lọt xuống ổ gà không hay đó con. Đời sống mỗi bước chân trước mặt là quan trọng hơn cái mục tiêu xa vời. Con vô trường học để ra trường kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ là đã được định rồi. Mỗi ngày đến lớp, đến bệnh viện để học là một công chuyện dài và lặn lội. Mục tiêu xa lâu lâu nhìn một cái là đủ. Mục tiêu gần phải nhìn hằng phút giây. Tỉnh thức trong mỗi bước đi: nhìn gần.

Mục tiêu di động

– Mục tiêu nó di động thì sao, thưa thầy?

– Mục tiêu nào cũng di động hết. Nghệ thuật bắn cung trong đời là mấy cái “di động” nầy. Cái ý muốn mục tiêu luôn đứng một chỗ là làm cho xạ thủ luôn luôn thất vọng. Mục tiêu trong đời sống là di động, là vô thường. Con phải biết hòa hợp cái nhắm của con vô cái di động nầy để hòa hợp với vũ trụ. Hòa hợp, harmony là một cái chung của một xạ thủ tài giỏi và một nhạc sĩ điêu luyện. Một lời nói, một tiếng nhạc mà hòa hợp nó sẽ làm lành lòng người. Súng đạn cũng bắn, tụi nó không được cái nầy. Súng đạn cũng cần nhắm nhưng không bao giờ hàn gắn cái gì cả. Chỉ tăng hận thù.

Nhắm cung và nhắm mắt.

– Trời đất, thưa thầy. Thầy giỡn sao chứ? Mở mắt, đèn sáng đây còn bắn không trúng, nói gì nhắm mắt – Vô Kỵ kinh ngạc.

– Vô Kỵ con. Cái nầy mới là cái tuyệt vời của cái nghệ thuật nầy. Mục tiêu ở bên ngoài mà người đời thường nhắm thì con không cần học thầy. Ai cũng dạy con được. Đó là nhắm vào sự được thua, thắng bại, là đời. Cái thầy dạy là nhắm vào bên trong. Mà khi cái nhắm nhìn nầy mà chánh rồi thì cái mục tiêu của con nó đã ở trên đầu mũi tên của con rồi, trước khi con giương cung.

Buông

– Thưa thầy, thầy chưa dạy giương cung – Vô Kỵ nhắc thầy nó.

– Cái nầy không cần dạy. Với sức lực dẻo dai mạnh mẽ của cánh tay mặt của con, con dư sức giương cung. Bây giờ con nhắm cung đã thuần thục, nhắm vào nội tâm; đứng đã điêu luyện, đứng trên tư thế của huynh đệ, từ bi, chỉ còn có cái cuối cùng là buông tên nầy.

– Thưa thầy, buông tên dễ ợt, kéo mới khó chứ – Vô Kỵ cãi lý với thầy nó.

– Vô Kỵ nầy. Cái nầy là cái khó nhất đấy con. Ai mà đứng đúng rồi, nhắm đúng rồi, mục tiêu đã ở rõ trong nhìn đúng thì đã đến trình độ thực hành cái tác phong cuối cùng nầy: buông tên. Buông tên là buông xả. Mũi tên đã đến đích trước khi rời tay con. Nhắm mắt, mục tiêu di động mà con đã bắn trúng hồng tâm là vì vậy.  Thân an tịnh, tâm từ bi, tự tại, nhắm mắt nhìn vào atrong thì tên tự nó bay đến hồng tâm, con thì buông xả. Có đích, có tên mà không có xạ thủ là vậy.

Vô Kỵ hân hoan đảnh lễ thầy.

HĐĐ

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống

Thơ Trần Vấn Lệ MÙA VÔNG PHAN THIẾT CŨ

09/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thơ Trần Vấn Lệ

MÙA VÔNG PHAN THIẾT CŨ

Hè rồi… Phan Thiết đỏ hoa vông, tôi ở xa xôi nhớ quá chừng! Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn, một thời thơ dại vượt con sông. Con sông đầy xác hoa vông rụng quấn quyện chân cầu không muốn trôi… Mà biết bao nhiêu người bỏ xứ, đi đâu? Có thể cuối chân trời! Phan Thiết của tôi và của bạn, sáng nay ai nói rất buồn hiu. Tôi ngồi với bạn bên hè phố, khuấy cốc cà phê tưởng thấy chiều! Chút khói chiều vương vương hoa vông. Phan Thiết khi không nhớ não nùng. Xe ngựa cọc cà đi cọc cạch, bạn buồn khuấy mãi muỗng coong coong… Đó, hồi Phan Thiết còn xe ngựa,

internet

con ngựa đôi khi hí giữa đường. Giờ, giữa đường đây, trời đất khách. Thuốc tàn mấy điếu khói vương vương…

Bạn tôi vừa ném quăng tàn thuốc. Tôi bật diêm mồi điếu của tôi. Thời tiết tàn Xuân nghe bức bức, vung tay tưởng chạm tấm lưng trời…
Hè rồi… Phan Thiết Hè không muộn, chỉ muộn màng tôi nếu trở về: mồ mả Tổ Tiên dời mấy bận, cháu con tản lạc nén nhang khuya! Bây giờ mà gục bên hè phố, ai đỡ giùm ai cái xác tù? Bạn đứng dậy đi, tôi cũng bước, từ nay Phan Thiết nhớ thiên thu! Từ nay hỡi nhánh hoa vông cũ, có nhớ gì ai Phan Thiết xưa? Một chặng thời gian không cắm mốc, tình Quê Hương lấy thước nào đo?
Tình Quê Hương hỡi Cha và Mẹ, con lỡ làng như hoa vông rơi…
Trần Vấn Lệ
………………………………………………………………..
Một bạn đọc từ Miền bắc xa xôi đã hỏi về Hoa vông?
Tôi nghĩ không gì tốt hơn post lại bài thơ này của Nguyễn Thị Kim Liên, một cựu học sinh của trường Phan Bội Châu Phan Thiết (bài đã đăng trên www.dohongngoc.com).

Nhớ hoa vông và chim sáo

 

Đâu chỉ đỏ thôi, còn nghễu nghện

Quyến chim, dụ trẻ nhất trên đời

Trẻ cúi nhặt hoa reo tở mở

Sáo hội trăm phương tấu ỏi trời!

 

Nghi có lõm rừng lòng phố thị

Tò mò lũ sáo kéo nhau về

Chao ôi sửng sốt màu vông lửa

Sà xuống vòm hoa sáo chết mê!

 

Ta, bạn đâu rồi năm tháng ấy?

Vườn vông đã cỗi sáo bay xa

Có ai cũng nhớ như ta nhỉ?

Bổi hổi trời xuân Phan Thiết xưa!

 

Nguyễn Thị Kim Liên

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Úc du”… một chuyến (kỳ 7)

01/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Úc du”… một chuyến

(kỳ 7, tiếp theo và… hết!)

 

Nói “Úc du”… một chuyến là vì khó mà có dịp trở lại nơi này vì tuổi đã cao, lần đi lần khó. Nhưng cũng vì “lòng muốn còn nhiều” (Đoàn Chuẩn) nên mình cứ còn ham biết đó biết đây. Do vậy, dù thời gian 3 tuần ngắn ngủi, vẫn “cưỡi ngựa xem hoa” cho thỏa thích. Đừng phiền nhe.

  1. Phải thăm Đại học Melbourne chớ phải không? Bác sĩ Trần Quốc Đông, người bạn cùng lớp cùng trường, đẹp trai và có nhiều uy tín với cộng đồng tại đây đã dành một buổi đưa mình đi thăm Đại học Melbourne, thăm Vườn hoa, nhà Thuyền trưởng Cook, và… tổ chức một buổi ăn tối thịnh soạn, buổi họp mặt “như thường lệ” khi có các bạn đồng nghiệp từ phương xa đến thăm Melbourne. Trong buổi họp mặt này mình đã gởi tặng Bs Trần Xuân Dũng, người đàn anh mình rất quý mến từ thời còn làm chung báo Tình Thương của Sinh viên y khoa Saigon (1963-1967) cuốn Thầy thuốc & Bệnh nhân của mình mới tái bản. Bs Dũng là Thư ký tòa soạn đầu tiên của báo Tình Thương và sau đó là Bs Ngô Thế Vinh. Anh nhắc lại ngày xưa thường hối thúc Đỗ Nghê gởi Thơ cho Tình Thương vì từ thời đó, Thơ Đỗ Nghê đã có nét riêng đáng mến…

Bs Trần Quốc Đông và Đỗ Hồng Ngọc ghé thăm trường Đai học Melbourne…

Cafe ở quán sinh viên bên hiên trường

 

 

và nắng sân trường làm nhớ quá những khung trời đại học…

 

Bs Trần Xuân Dũng và Đỗ Hồng Ngọc (Melbourne 16.10.2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Rồi cùng anh Tuấn ghé vào một thư viện:

thư viện Cộng đồng ở khu St Albans, không ngờ thấy có sách của Đỗ Hồng Ngọc… Người thủ thư nói sách hiện đã được mượn hết…

3. Rồi ghé thăm một Nursing home coi người ta làm ăn ra sao:

một Nursing Home, chủ yếu dành cho người Việt…

 

4. Cô Mỹ Lý, người phụ trách phiên dịch cho Đức Đạt Lai Lạt Ma mỗi khi Ngài đến chùa Quang Minh đã đưa mình đi thăm khu “Tây balo” ở Melbourne, với những con đường hẽm nhỏ hết sức thú vị… đầy quán cafe, quán ăn và đầy người bốn phương qua lại. Ở đây, những người vô gia cư, lỡ độ đường, túi không xu, có thể ghé vào một quán ăn… xin một phần ăn miễn phí. Thì ra, có những người có lòng, đã mua sẵn các phần ăn ở quán dành cho họ. Đúng là bố-thí “ba-la-mật” đây rồi còn gì.

Cô Mỹ Lý và ĐHN trong khu phố “Tây balo”…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rồi ghé đến thăm chiếc cầu xinh đẹp trên sông Yara, quán Sake, gần  Khu triển lãm và trình diễn Nghệ Thuật…

Vâng, “nghệ thuật” là một thứ thuốc…

Sông Yara, trung tâm City

 

 

5. Không thể không ghé Bảo Tàng phải không? Rất nhiều điều để học. Vé vào cửa 15d với người cao tuổi (người trẻ 26d). Mình nói mình ở Việt Nam qua, bao nhiêu?… Cô nhân viên gõ gõ… rồi đưa tờ giấy “miễn phí”. Miễn phí luôn cho cả anh Tuấn. Vui ghê! Người Úc nói chung hiền hòa, dễ thương, nhã nhặn và lúc nào cũng có nụ cười…

Và đây, những bộ xương khủng long… ai ngờ là con thằn lằn ngày nay!

ảnh ĐHN

Look deep into nature, anh then…

 

6. Dĩ nhiên mình không thể không ghé thăm vài bệnh viện ở Melbourne này, trong đó, bệnh viện gây ấn tượng nhất cho mình là Bệnh viện Ung bướu. Như một “con thuyền không bến” đang vượt trùng khơi! Điều đặc biệt ở đây là ta không thể phân biệt ai là bác sĩ, ai là điều dưỡng và ai là bệnh nhân… Hết sức nhân bản! Có thư viện, có nhà hàng, có quầy thông tin, có nơi cầu nguyện… Và, ung thư đại tràng có vẻ đang ngày càng phát triển ở Úc. Tại sao?

Bệnh viện Ung bướu ở Melbourne.

 

7. Mình vừa đi Great Ocean Road về, bác sĩ Mỹ Dung đã đề nghị tổ chức một buổi tọa đàm nhóm nhỏ với anh Đỗ Hồng Ngọc cho các đồng nghiệp y dược về Phật pháp. Đây là dịp được gặp bạn bè, tại sao không?

Buổi trò chuyện thân mật về Phật pháp với các đồng nghiệp và thân hữu tại nhà Bác sĩ Mỹ Dung (Melb 15.10.2019)

Mỹ Dung và Nhơn đã sưu tập một lô sách của Do Hong Ngoc, bây giờ… ký tặng tại chỗ!

trong lúc nhóm bạn khác đang chuẩn bị bữa ăn tối nhẹ cho mọi người

… rồi chụp chung tấm hình kỷ niệm sau buổi trao đổi khá sôi nổi

 

Trong buổi tọa đàm này, mình chủ yếu trao đổi kinh nghiệm cá nhân. Nhắc lại các “nguyên tắc” để học Phật: 1) Nắm vững thuật ngữ, 2) Hiểu các ẩn dụ, ẩn nghĩa, và 3) Thực hành Thiền định, ứng dụng vào đời sống với Từ Bi Hỷ Xả…

Đề cập S.A.D và các phương pháp tâm lý trị liệu CBT(Cognitive Behavioral Therapy) thường cho kết quả tạm thời, phải dùng tới Thiền Chánh Niệm MBCT, MBSR…(Mindfulness-Based Cogntive Therapy, Midfulness-Based Stress Reduction…) để có kết quả lâu bền hơn.

8. Biết nhà thơ Huy Tưởng đang ở Melbourne. Phải ghé thăm Huy Tưởng chớ, sao không? Sáng đó, hai em học trò (Bs Linh và phu quân) đưa mình đến thăm nhà thơ, ở khá xa thì phải, chắc hơn nửa giờ cao tốc.

Thật đằm ấm. Thật cảm động. Huy Tưởng nói ĐHN hẹn mai mới tới kia mà! Mọi người đã chuẩn bị mai làm Mì Quảng Faifo cho ông đây mà ông tới sớm quá! Hai em học trò rảnh đưa đi lúc nào… thì phải “tranh thủ” đi ngay thôi. Huy Tưởng trông khỏe và vui. Mở vi tính đọc cho nghe mấy bài tâm đắc. Nói đã viết xong 600 bài lục bát, sẽ chọn 200 bài in một tập…

Huy Tưởng và Đỗ Hồng Ngọc (Melbourne 18.10.2019)

thơ Huy Tưởng

 

 

 

 

 

 

 

9. Đã đến lúc khép lại chuyện kể dài dòng về “Úc du”… một chuyến của mình rồi đó. Ba tuần lễ trôi qua thật nhanh. Mùa xuân rồi mà Úc vẫn còn lạnh. Đêm có khi 6-7 độ, ngày 11-12 độ. Ai cũng nói năm nay thời tiết lạ hơn các năm.

Mình nhớ một bức tranh rất dễ thương mình chụp trong Bảo Tàng Melbourne, nghe nói của những thổ dân xứ Úc vẽ như một kết luận của bài viết khá dài này của mình. Mong bạn vui cho vậy.

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 1.11.2019)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“Úc du”… một chuyến (kỳ 5)

30/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Úc du”… một chuyến (kỳ 5)

 

Thầy Phước Tấn trụ trì chùa Quang Minh ở Melbourne “đặt hàng” cho mình 2 đề tài trong dịp này. Thường nhà chùa tổ chức các buổi “Talk” cho các khách mời vào buổi sáng, ngày cuối tuần thuận tiện hơn, nhưng do lần này mình kẹt lịch nên phải tổ chức vào 2 buổi tối, ngày thứ Năm trong tuần, trời lạnh, hy vọng sẽ “ế”.

Thế nhưng, bất ngờ, khá đông. Và vui. Đầy tiếng cười. Thân mật và Ấm cúng. Gặp nhiều bạn bè, thân hữu, ai ai cũng đều như đã quen biết từ lâu, phần lớn qua sách vở, qua băng từ… Có người cho biết con em họ là “thân chủ” của mình vài ba chục năm trước…

Chùa làm một cái Thông báo và Radio địa phương còn “phỏng vấn” trực tiếp khoảng 30 phút về 2 đề tài này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thầy Phước Tấn giới thiệu “diễn giả”

 

Từ trái: Thầy Phước Thiền, anh Nguyễn Văn Hiếu… và Bs Phạm Phúc Nhân (cuối hàng)

Các bạn đồng nghiệp Bs Lê Quang Khánh, Bs Ngô Xuân Lộc…

Bs Trần Quốc Đông, Bs Lộc, Bs Cúc

 

 

 

 

 

Tưởng “ế” nhưng cũng khá đông khán thính giả đến chia sẻ…

 

Sau buổi Trò chuyện, thầy Phước Thiền thay mặt chùa Quang Minh gởi tặng món quà đến “diễn giả”: hai hủ mật ong nhỏ do chùa sản xuất và một gói trà.

 

khán thính giả xin chụp pô hình làm kỷ niệm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

…………………………………………………

Mình đã “tào lao” gì trong 2 buổi “Talk” ở Chùa Quang Minh ư? Một ông bạn sáng nay đã thắc mắc hỏi vì thấy chỉ đưa toàn hình với hình?

Có gì đâu. Về sức khỏe thân và tâm, mình chỉ nhắc lại định nghĩa Sức khỏe của WHO (1946): “SK là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being) về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật”. Rất nhiều người chúng ta vẫn quen nghĩ  không có bệnh hay tật là có sức khỏe rồi. Chưa đủ.

Thân với tâm không tách rời nhau. Thân tâm nhất như. Cần chú ý về sức khỏe tâm thần. Đời sống ngày càng cạnh tranh, đầy lo âu, đầy căng thẳng, dẫn tới bất an… không thể gọi là có sức khỏe tốt. Bác sĩ  lo chữa cái Đau, ít quan tâm cái Khổ. Phật giáo góp phần chữa cái Khổ, nâng cao sức khỏe cho mỗi người để đạt đến sự An lạc thân tâm. Mình nói đến các thứ bệnh “tâm” phổ biến hiện nay: S.A.D (Stress, Anxiety, Depression) mà người ta đang tìm đến Thiền để chữa trị (MBSR, MBCT…) như một liệu pháp hiệu quả.

Để có thể học Phật cần chú ý 3 điều: 1) Học các thuật ngữ (terminology), thì dụ :Khổ là gì? Giải thoát sanh tử là gì? Chúng sanh là gì? Diệt độ chúng sanh là gì? Luân hồi sanh tử là gì? Niết bàn là gì?… Có nắm được các thuật ngữ, các từ chuyên môn này thì mới đọc hiểu và thực hành được. 2) Phải hiểu những ẩn dụ, ẩn nghĩa trong Kinh sách. Tại sao niệm Quan Thế Âm Bồ-tát thì vào lửa lửa tắt, vào nước nước cạn? Vì sao niệm Quan Thế Âm thì muốn con trai có con trai, muốn con gái có con gái? Vì sao Bồ tát Dược Vương “đốt” cháy hết thân mình trong 12 ngàn năm?… Lửa ở đây là sự sân hận, nước ở đây là lòng tham lam, con trai là Trí huệ, con gái là Từ bi, “đốt thân” là để đạt đến Vô ngã… Hiểu vậy sẽ không còn chỗ cho Dị đoan mê tín. 3) Phải thực hành. “Đến để mà thấy”. Không lý thuyết suông. Tu là hành. Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là cái đãy sách. Trong các chùa thường thấy có ghi câu này…

Phật dạy rất đơn giản, chỉ có 3 điều thôi: “Chư ác mạc tác/ Chúng thiện phụng hành/ Tự tịnh kỳ ý” (Việc ác không làm, dù rất nhỏ/ Việc thiện thì làm, dù rất nhỏ và quan trọng hơn cả là làm cho cái Ý của mình, tức cái Tâm của mình trở nên thanh tịnh). Chữ TỰ ở đây rất quan trọng. Phải dựa vào chính mình. Không thể dựa vào người khác.

Chỉ có vậy. Ở buổi thứ nhất, ngày 10.10.2019 tại chùa Quang Minh, Melbourne.

Buổi thứ hai, tối thứ Năm 17.10.2019, đề tài về Thiền quán, Hơi thở và Ăn chay. Dĩ nhiên mình chỉ dám chia sẻ kinh nghiệm cá nhân trong thực hành Thiền Anapanasati (An ban thủ ý, Quán niệm hơi thở, Nhập tức xuất tức niệm) theo kinh Tứ Niệm Xứ mà Phật đã dạy ” Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn”.

Câu hỏi đặt ra là Tại sao thở? Thở để làm gì? Thở cách nào? Tại sao chọn Hơi thở để “niệm” và “quán sát”? Trong hơi thở, ta thấy được đời người, thấy sự sinh diệt, thấy vô thường, vô ngã, duyên sinh… Tóm lại, sẽ học được nhiều đó. Từ thiền chỉ (samatha), thiền quán (vipassana), đến chánh định (samadhi) cũng đều có thể từ Anapanasati.

Trên thực hành, đi từng bước: 1) Thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing) 2) Chánh niệm hơi thở, 3) Quán niệm hơi thở.

Về Ăn chay, đã đặt những câu hỏi như Tại sao ăn? Ăn để làm gì? Ăn cách nào?… Chay là gì? Ngoài 4 nhóm thức ăn ta đã biết là Glucid, Protid, Lipid, Minerals, Vitamins… (Phật giáo gọi “đoàn thực” để nuôi thân), còn có “Xúc thực”, “Tư niệm thực” và Thức thực”… những món ăn của Tâm mà nếu không để ý trong thời đại fake news này, ta sẽ khổ đau dài dài…

Tóm lại, chỉ chừng ấy thôi bạn ơi,

 

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc

(30.10.2019)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Hồ Đắc Đằng: Vô Kỵ Học Lái Xe

25/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Vô Kỵ Học Lái Xe

Hồ Đắc Đằng

Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” đã được post trên trang này và được rất nhiều bạn bè chia sẻ. Hôm nay anh gởi thêm bài Vô Kỵ Học Lái Xe cũng rất độc đáo.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.

Đỗ Hồng Ngọc

PS Đa tạ Đèn Biển (Võ Quang), người đã chịu khó gõ Word từ bản viết tay “chữ bác sĩ” đọc không ra của Hồ Đắc Đằng.

………………………………………………………..

 

Vô Kỵ bây giờ đã trưởng thành, quyền cước điêu luyện, tâm thần sảng khoái, tánh tình khoan thai, điềm đạm. Hai thầy trò ngoài chuyện võ nghệ còn hay ngồi thiền với nhau. Vui nhiều. Một hôm thầy nó gọi nó vào.

– Vô Kỵ này. Ở đời không chỉ có đánh võ và tham thiền. Nếu đánh võ mà không có tham thiền thì cả 2 bên dễ bị gãy sườn, dập lách lắm. Ngoài đời dập lách nhiều lắm. Con phải xuống núi để dạy cho người ta vừa đánh võ vừa đỡ địch thủ kiểu múa Tango thì ai ai cũng vui, không còn ai thắng ai bại nữa. Ngoài đời thì rộng, chân con thì ngắn, đi bộ thì không biết bao giờ mới đến người ta được. Phật hồi xưa, ổng làm gì có xe. Ổng tà tà đi bộ, đôi khi đến chỗ người cần ổng giúp thì người đó đã chết mất rồi. Bây giờ mình có xe, mình đi được để đến giúp người khác. Con phải biết lái xe.

– Thưa thầy – Vô Kỵ nói – Con thấy lái xe dễ ợt. Con thấy mấy đứa con nít, mấy bữa trước còn mang tã, ngậm núm vú, mấy bữa sau tuyên bố với mẹ nó là nó 16 tuổi rồi nó muốn lái xe. Thế là bà mẹ phải bứt đầu, bứt tai đi mua cho nó một chiếc xe nhỏ cho nó lái, nó chạy phăng phăng, dễ ợt thưa thầy.

– Nầy Vô Kỵ. Chạy phăng phăng không hẳn là dễ. Chạy phăng phăng rồi vô phòng cấp cứu, đôi khi vô thẳng nhà xác là thường đó con. Chạy phăng phăng mà an toàn trên xa lộ mới là cái nghệ thuật của lái xe. An toàn cho mình và an toàn cho người mới là cái khó. Một kiểu Tango đó Vô Kỵ ạ. Lái nhường, lái nhịn là lái Tango. Con phải nhớ cái nầy.

Vô Kỵ: Thưa thầy, con thì thích cái gì nhanh. Đối với thầy, gió thổi nhè nhẹ trên mặt thầy là thầy đủ vui rồi. Con thì gió phải thổi bay tóc ra sau như khi con chạy xuống dốc núi thì con mới khoái. Lái xe mà cứ lái 5 dặm/giờ thì ai mà chịu được thưa thầy.

– Vô Kỵ này. Thầy không bảo là con phải chạy chậm luôn luôn. Đức Phật, ngồi yên một chỗ, chẳng nhúc nhích gì hết mà ổng cũng đủ vui rồi. Con còn ở đời. Con phải lái xe. Lái nhanh cũng được, lái chậm cũng được. Tùy lúc. Lái nhanh chẳng sao cả. Với một điều kiện.

– Điều kiện? Điều kiện gì thưa thầy? Đường phải không có ổ gà? Trời phải không có bão có tuyết? Phải không có sương mù khói phủ? Con sẽ rất cẩn thận.

– Vô Kỵ ơi. Con còn nông cạn quá. Mắt con sáng, phản xạ con nhanh, thời tiết tụi nó báo con biết trước từ 3–4 ngày trước thế mà tai nạn chết người vẫn xảy ra hằng ngày đó thôi. Tại sao con biết không?

– Xin thầy chỉ giáo.

– Tại vì không có cái thắng (phanh) tốt. Vậy đó con, người đời, xe của họ cái gì cũng tốt hết: máy mạnh, chạy nhanh ; đèn sáng, thấy rõ ; cảnh đẹp, mùi thơm 2 bên đường thì nhiều ; vui nhộn không thiếu ; chỉ thiếu có một cái thắng (phanh) tốt.

Con người ta có “3” cái xe: xe Thân, xe Khẩu (miệng) và xe Ý.

Cái thắng (phanh) của “xe Ý” là cái yếu nhất của người đời. Nếu con chưa thông thạo võ nghệ của thầy dạy thì con phải kiểm tra cái thắng nầy thật kỹ đấy. Một ý nghĩ bất thiện nảy ra là phải có đèn đỏ chớp lên trên dashboard của con.

Kế đến, là cái thắng của “xe Thân”. Cái nầy con đã thuần thục với kinh nghiệm học võ vừa qua. Con không còn có thể làm cho người khác, vật khác đau được nữa. Tụi Mỹ nó gọi “Do no harm to others and to yourself”. Con đã đạt đến cái thắng này qua học võ.

Kế đến là cái thắng của “xe Khẩu”. Cái thắng này ít người để ý lắm! Nó không có đèn đỏ trên dashboard. Thắng này nếu nó không ăn, không chạy thì cũng ít ai hay biết. Nó (Khẩu) xuất “ra” đều đều, làm ai cũng đau, ai cũng giận mà mình vẫn không hay. Con nhớ trong Bát chánh đạo có một cái gọi là Chánh ngữ. Cái miệng của người ta ngộ lắm Vô Kỵ ạ. Miệng người ta có 2 chức năng: một là để Ăn, hai là để Nói. Ăn thì ai cũng biết. Vô Kỵ, con có nhớ lúc thầy dạy võ cho con những năm đầu, thầy đã dạy con ăn không?

– Vâng thưa thầy. Con còn nhớ là con muốn ăn chay vì con thương tất cả thú vật. Con không muốn tụi nó phải chết để con được sống. Chính thầy đã dạy con phải biết ăn trong Chánh niệm,  và biết ăn trong một tâm thức biết ơn. Eating in mindfulness and gratitude.

– Vô Kỵ, con giỏi lắm. Đó chỉ mới có một chức năng của miệng thôi: Ăn. Còn cái chức năng kia là Nói. Con có biết là thầy trước khi học võ, thầy làm nghề gì không?

– Thưa thầy, con thấy thầy hay dạy con về tinh bột, đường, mỡ, chất đạm (protein), có vẻ thầy là một nhà khoa học sinh vật học?

– Thầy thuốc, Vô Kỵ ạ. Thầy là một thầy thuốc. Thầy chỉ dạy cho bệnh nhân về dinh dưỡng là mấy cái thức ăn này. Đức Phật là một thầy thuốc (y vương), dạy người đời về cái chức năng thứ hai  của cái miệng, là cái xuất “ra”: Lời Nói. Cái “vô” là đồ ăn, cái ra là “lời nói”. Mấy cái ra này mới là cái ngộ nhất đấy. Cái “vô” mà sai quấy, nó chỉ hại cho một người thôi, người ăn. Cái “ra” mà lạng quạng là nó hại người khác không kể xiết được. Nhiều khi đại chiến xảy ra cũng chỉ vì mấy cái xe không có thắng này.

– Làm sao có một cái thắng tốt thưa thầy?

– Thắng tốt cho Ý: tham thiền. Thiền định là con quán chiếu cái ý của con, từng giây phút. Bông hoa thơm con cũng hay mà như cứt bò con cũng biết. Tùy con, nếu con thấy cứt bò là thơm thì con cứ theo, chẳng ai cản con được cả. Làm sao con biết cái ý nào của con là cứt bò?

– Xin thầy chỉ dẫn. Nhiều khi con cũng khoái cứt bò. Ra chợ mua Cow manure về bón hoa, tốt đáo để.

– Cứt bò kiểu đó không sao cả. Cũng tốt thôi vì hoa của con nở, người khác cũng được thơm lây. Cái cứt bò “ý” là khi nào con thấy ai cũng là cứt bò hết thì chính con là cứt bò đấy. Con nhớ chuyện Tô Đông Pha và sư cụ tham thiền với nhau thầy kể con khi xưa?

– Làm sao thắng cái Khẩu (miệng) này, thưa thầy? Con đọc Chánh ngữ trong Bát chánh đạo dài dài mà sao lâu lâu con cũng còn nói mấy cái mà con không được hài lòng lắm…

– Chẳng hạn?

– Thưa thầy, nói láo thì con không còn nói láo được nữa rồi. Nhưng mà đôi khi trong một cuộc nói chuyện với nhiều bạn khác, khi có người nào đó nói về một vấn đề gì đó thì con cũng hào hứng chen vào với những mẩu chuyện tương tợ để kể cho cả nhóm nghe! Nghĩ lại mà mắc cỡ. Tại sao mình lại cũng “quơ đũa cả nắm” theo họ cho vui vậy nhỉ. Vui cái giống nhau. Vui mình cũng giống bạn mình, cùng nghề, cùng sở thích, cùng xã hội. Con cứ ngẫm nghĩ rồi mắc cỡ cho cái miệng hay nói theo của mình. Con thấy con không phải là con nữa. Một mình thì con là con mà vô một nhóm “phe ta” thì con lại mất con. Mất mình. Làm sao bỏ được tật nầy, thưa thầy?

– Giỏi, giỏi lắm, Vô Kỵ con. Con biết mắc cỡ sau khi con nói mấy cái đó là con giỏi lắm đó. Nhiều người khác không thấy, không biết mấy cái mắc cỡ đó và tiếp tục cái tật “nói theo” này suốt đời họ. Muốn còn đi lại với mấy người như vậy, con phải tập cái tâm con cho nó mạnh. Dĩ nhiên, con phải có một cái thắng thứ thiệt, đạp một cái là đứng lại, là dừng lại ngay. Dừng lời nói.

– Tập cái thắng? Cái thắng nầy tập được? – Vô Kỵ tò mò hỏi thầy.

– Dĩ nhiên, cái gì trên đời nầy cũng tập được hết. Không có ai sanh ra, 2 tuổi vừa mới biết đi đã biết cưỡi xe đạp 1 bánh, 2 tay cầm 8 cây dùi cui quăng lên trên trời mà không cây nào rơi xuống đất, miệng lại thổi kèn harmonica. Đó là tập thân. Tham thiền là tập ý. Tập nói là tập thắng.

– Xin thầy dạy con tập Nói.

– Có 3 người giữ cửa. Miệng của con có 3 anh chàng giữ cửa: 1) Có thật không? (Is that true?). 2) Có tử tế không? (Is that kind?) và 3) Có cần thiết không? (Is that necessary?)

Nếu sau khi duyệt xét 3 cửa đó mà thoát hết thì cái lưỡi của con nó nói được. Đó là Chánh ngữ.

Vô Kỵ con, có nhiều người cho rằng lời nói là một cái huyền diệu mà Thượng đế ban bố cho loài người. Con phải cẩn thận. Huyền diệu thì cũng có thật mà tai hại thì cũng không thiếu. Lời nói là một công cụ (tool). Nó có thể làm một vết thương lành lại mà nó cũng có thể làm cho người khác đau thêm. Mà con thì đã qua cái ngưỡng cửa không còn muốn làm cho bất cứ ai hay vật nào đau nữa. Do vậy cái Khẩu (miệng) xuất “ra” của con, con phải có một cái thắng thật tốt.

Khi mà thắng con tốt rồi, thì chạy nhanh, chạy chậm không thành vấn đề. Dĩ nhiên, chạy chậm dễ dừng, chạy nhanh phải thấy xa. Nghe thầy nói nãy giờ, con học được cái gì về lái xe?

– Thưa thầy, xe con có 3 cái thắng mà cái thắng con phải dùng nhiều nhất là cái thắng của Miệng (Khẩu): Đó là lời nói. Nói sao cho người vui, nói sao cho người thanh thoát.

– Đúng vậy Vô Kỵ. Để thầy kể cho con nghe chuyện Mẹ của thầy dạy thầy thế nào nhé. “Nầy con, hễ có nói thì nói Pháp. Còn không thì tốt nhất là đừng nói”.

HĐĐ.

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Phật học & Đời sống

Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi: bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong

23/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi

(bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)

Ghi chú:

Tôi vừa nhận được bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp hai bài thơ của tôi (Bông Hồng Cho Mẹ và Mới Hôm Qua Thôi) do TVD và Elena Pucillo Truong thực hiện lúc tôi đang còn ở Melbourne.

Nay xin trân trọng gởi đến bạn bè và chân thành cảm tạ TVD – Elena Pucillo Trương.

Đỗ Hồng Ngọc

(Đỗ Nghê).

…………………………………………………………………………………………………………

Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

( Bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)

 

Bông hồng cho Mẹ                    La rosa per la madre                       La rose pour la mère

 

“Con cài bông hoa trắng           Io mi attacco la rosa bianca                     “ Je m’attache la rose blanche

Dành cho mẹ đóa hồng             Lascio a te, mamma,  la rosa rossa,          À toi, maman, je laisse la rose rouge

Mẹ nhớ gài lên ngực                  Ricorda di attaccartela sul petto                Souviens-toi de l’attacher sur ta poitrine

Ngoại chờ                                  La nonna ti aspetta                                     La Grand-Mère t’attend

bên kia sông…”                        dall’altra parte del fiume                           de l’autre côté  du fleuve…”

Đỗ Hồng Ngọc  (Vu lan 2012)

 

Trong một nhà giữ lão ở Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

La poesia scritta al Nursing home a Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

Le poème écrit à la Maison de Retraite de Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

 

“Mới hôm qua thôi”.             Soltanto ieri                         Juste hier

Họ ngồi đó                                       Stanno lì, seduti                         Ils restent là, assis

Bên nhau                                          Insieme.                                     Ensemble.

Đàn ông                                            Uomini                                       Des hommes

Đàn bà                                              Donne                                        Des femmes

Không nhìn                                       Senza guardare                          Sans regarder

Không nói                                         Senza parlare                             Sans parler

 

Họ ngồi đó                                       Stanno li, seduti                         Ils restent là, assis

Gục đầu                                            Le teste abbassate                      Les têtes baissées

Nín lặng                                           In silenzio                                   En silence

Ngửa cổ                                          Alza la testa                                  La tête levée

Giật nhẹ tay chân                            Braccie e gambe tremano            Les bras et les jambes qui tremblent

Có người                                         C’è qualcuno                               Il y a quelqu’un

Trên chiếc xe lăn                            Sulle sedie a rotelle                      En fauteuil roulant

Chạy vòng vòng                               Gira qua e là                               Qui tourne ici et là

Có người                                           C’è qualcuno                             Il y a quelqu’un

Trên chiếc xe lăn                              Sulla sedia a rotelle                   En fauteuil roulant

Bất động                                           Immobile                                    Immobile

Họ ngồi đó                                        Stanno li, seduti                         Ils restent là, assis

Hói đầu                                              Le teste pelate                            Les têtes chauves

Bạc trắng                                           O i capelli d’argento                  Ou les cheveux blancs argentés

Móm sọm                                          Presto sdentati                           Tôt sans dents

Nhăn nheo                                        Rugosi                                        Ridés

 

Mới hôm qua thôi                          È solo da ieri                               Juste hier

Nào vương                                     Quali imperatori                        En tant qu’empereurs

Nào tướng                                      Quali generali                             En tant que généraux

Nào tài tử                                        Quali artisti                                En tant qu’artistes

Nào giai nhân                                 Quali miss universo                   En tant que Miss Univers

Ngựa xe                                          Carrozza trainata da cavalli       Calèche à chevaux

Võng lọng                                       Ombrelli parasole                       Ombrelles parasols¹

 

Mới hôm qua thôi                          Soltanto ieri                                Juste hier

Nào lọc lừa                                      Quali inganni                            Quelles duperies

Nào thủ đoạn                                  Quali colpi di mano                   Quelles astuces

Khoác lác                                        Bugie                                         Des  mensonges

Huênh hoang                                   E Vanità                                     Et de la Vanité

 

Mới hôm qua thôi                          Soltanto ieri                               Juste hier

Nào galant                                       Quali signori                              Quels messieurs

Nào quý phái                                  Quali nobili                                 Quels nobles

Nói nói                                             Parlare                                        Parler

Cười cười                                        Ridere                                         Rire

Ghen tuông                                     Gelosia                                       Jalousie

Hờn giận                                          Rabbia                                        Rage

 

Họ ngồi đó                                      Stanno lì, seduti                        Ils restent là, assis

Không nói năng                              Senza parlare                             Sans parler

Không nghe ngóng                         Senza ascoltare                         Sans écouter

Gục đầu                                            Teste piegate                           Les têtes pliées

Ngửa cổ                                            Teste alzate                             Les têtes levées

Móm sọm                                         Sdentati                                   Édentés

Nhăn nheo                                        Rugosi                                     Ridés

Ngoài kia                                           Mentre Fuori                          Alors que dehors

Tuyết bay                                          Cade la neve                          Tombe la neige

Trắng xóa                                          Candida                                   Blanche

Ngoài kia                                           Mentre fuori                           Alors que dehors

Dòng sông                                         Il fiume                                   La rivière

Mênh mông                                      Immenso                                  Immense

Mênh mông…                                   Immenso                                  Immense

 

Đỗ Hồng Ngọc (Montréal, 1993).

  • Voir Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sur les costumes et les insignes des mandarins chinois, qui employaient des parasols dont la largeur et la couleur indiquaient les différents rangs. (racinet_costume.doc ou racinet_costume.pdf).

(Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sui costumi e le insegne dei mandarini cinesi, che usavano degli ombrelli diversi per larghezza e colore, che indicavano I diversi ranghi.

(racinet_costume.doc  ou racinet_costume.pdf).

 

 

EPT  Saigon- 6-2019

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Rồi Cũng Về Thôi: viết cho Du Tử Lê

22/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

RỒI CŨNG VỀ THÔIi

(tặng Tuyền-Lê)

 

Rồi cũng về thôi du tử ơi

Bao năm lưu lạc cõi con người

Một hôm sực nhớ miền quê cũ

Tung cánh vàng xưa hạc vút bay…

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Melb, 14.10.2019)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim

Tựa CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC, Văn Công Tuấn

14/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

Văn Công Tuấn ở bên trời Tây, tôi ở bên Đông, cách nhau ngàn vạn dặm, chưa có dịp gặp nhau nhưng tình đã thân quen vì cùng có chung những người bạn quý: Thầy Phước An ở Nha Trang, Nguyễn Hiền Đức gốc Hội An và Nguyễn Minh Tiến ở Sông Xoài dạo trước…

Một hôm, Văn Công Tuấn gởi về tôi một bản thảo và đề nghị viết cho anh đôi dòng như một cái “Tựa” gì đó… cho cuốn sách “Chớ quên mình là nước”. Và tôi đã đọc, đã nghe, đã thấy… bèn có đôi lời cho bạn xa xôi…

ĐHN 

 

Tựa “CHỚ QUÊN MÌNH LÀ NƯỚC”

 

 

Như những lời tâm sự

Văn Công Tuấn viết trong “Chớ quên mình là nước” như sau: “Những bài viết trong tập sách này chỉ là việc đi chắt mót, ngồi xâu chuỗi lại những suy tư và nỗi niềm để tâm sự cùng bạn đọc. Nó không phải là công trình khảo cứu cũng chẳng là tác phẩm văn học. Nó chỉ là một cõi lòng…”

Một cõi lòng. Chút “thốn tâm”. Chắt mót. Xâu chuỗi. Nhưng với tôi vô cùng thú vị và đầy những bài học. Có khi nói ra, có khi không nói ra. Là một cõi lòng nên ta hãy đọc từ một cõi lòng. Một cõi lòng không phân biệt.

Có khi là một câu thơ. Có khi là một khúc hát. Khi lại là một công thức. Một bản vẽ. Mấy con số ngoằn ngoèo… Hãy đọc. Ngẫm ngợi. Đôi khi công thức cũng là thơ, bản vẽ cũng là nhạc… Hãy để cho cõi lòng tự trôi chảy.

Trôi chảy như dòng sông cát hôm nay mà ngày xưa chính nơi này là dòng nước chảy xiết, nơi Gotama đã đặt bình bát với lời đại nguyện:

“… một buổi trưa nóng cháy ở Bodh Gaya lắng tai nghe lời anh bạn Ấn Độ kể: ‘Chỗ này là ngay giữa sông Ni Liên Thuyền, ngày xưa Sa môn Gotama đã thả bình bát và phát lên một lời đại nguyện, chỗ này nước chảy xiết lắm nhưng bình bát đã trôi ngược.’

“(…) Khi anh Naresh với tất cả lòng cung kính đặt bình bát xuống cát, nơi được xem như là giữa dòng sông lúc bình bát trôi ngược.

Tôi thì đã nằm dài dưới cát nóng cầm sẵn máy ảnh để chụp hình. Tôi muốn chụp tấm hình phía trước là bình bát mà đàng sau có phông nền là hình ngôi Tháp Đại Giác Bồ Đề. Chăm chú nhìn vào ống kính, tôi giật mình tưởng mắt mình đang hoa. Hay do vì buổi trưa nắng Ấn Độ mà cát lại nóng quá nên tôi bị lóa mắt? Tôi đẩy máy ảnh qua bên và nhìn kỹ bình bát. Tôi đã nhìn thấy. Vâng, tôi thấy bình bát chuyển động trong vòng gần một phút. Có thể nào do cát lún nên bình bát “rục rịch” như vậy? Hay là một cái rùng mình của đất trời?

Nhưng sao kéo dài cả phút. Trong tôi dấy lên một niềm rung động kỳ lạ. Naresh cũng thấy như tôi và đứng ngẩn người trố mắt nhìn. Có phải có bàn tay chư Thiên hay có con rắn chuyển mình làm bình bát chuyển mình trên cát?

“Không, tôi nghe rất rõ: “hồn nước” đang nhẹ nhàng luân chuyển dưới nguồn sâu trong lòng cát nóng buổi chiều Ấn Độ.

“Hai chúng tôi đứng yên lặng tại địa điểm lịch sử này rất lâu, mỗi người đắm chìm trong suy nghĩ của mình. Sau đó mới cùng nhau chậm rãi ôm bình bát đi về hướng cây Ajapala ở Tháp Đại Giác.

Chúng tôi thỉnh bình bát về khu vực tháp và kết thúc một chuyến đi: Ôm bình bát dõi theo bước chân Sa môn Gotama ngày xưa”…

Rồi từ câu chuyện của dòng sông nay đã trở thành sa mạc cát mênh mông, Văn Công Tuấn nói về chuyện môi trường, chuyện nylon, mủ nhựa…

“Xin cùng nhau bắt tay ngay cứu hành tinh của chúng ta, trước khi nỗ lực đi chiếm hữu Sao Hỏa hay Cung Trăng. Với lòng tham và tâm bất thiện thì dù con người có sở hữu mười Sao Hỏa, trăm Cung Trăng cũng không thấy đủ. Rồi rác cũng sẽ tràn ngập ở bên đó.

Mà đúng vậy, không phải nói chơi, NASA đã xác nhận, ngay bây giờ cũng đã thấy plastic trên Sao Hỏa rồi đó. Thật hết ý!”

Rồi ngẫm ngợi chuyện xưa chuyện nay, Văn Công Tuấn… tự nhắc mình với những bài học:

Cũng tại bát nước mà Tôn giả A Nan đã gặp gỡ Ma Đăng Già hôm đó. “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có…” để rồi Phật phải vất vả một phen. “Tựu trung cũng từ một bát nước ấy mà sinh sự. Giả sử, hôm đó Tôn giả A Nan cũng đi khất thực như mọi ngày mà không khát nước thì đâu có chuyện gì xảy ra. Hoặc giả, nếu gặp người con gái không đa tình như Ma Đăng Già thì chỉ có vài mẩu đối thoại ngắn, rồi dâng nước, rồi uống nước là xong chuyện.”

Bài học là đừng có… khát nước!

Rồi chuyện của nhà bác học Alexander Fleming (1881-1955) ân nhân vĩ đại của nhân loại đã phát minh ra Peniciline đã tuyên bố tại Hàn Lâm Viện Y Khoa Anh Quốc: “Sao người ta cứ gán cho tôi cái công phát minh ra chất Peniciline. Không ai phát minh ra được chất Peniciline, vì tạo hóa đã sinh ra nó từ thuở nào đến giờ, nhờ một loại mốc… Tôi chỉ có công làm cho mọi người chú ý tới chất đó, và đặt cho nó cái tên, thế thôi.”

Phật cũng bảo Ta chẳng nói gì, Ta chẳng dạy ai điều chi, mọi thứ đã sẵn có đó thôi!

Rồi chuyện Nhà Nho và Phật giáo. Anh nhắc học giả Cao Huy Thuần kể chuyện nhà nho, nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn… ngày ngày đi chùa Trúc Lâm ở Paris vì rằng “Nho thì động mà Phật thì tịnh. Động rồi thì phải tịnh thôi.” Văn Công Tuấn kể chuyện cụ Phan Sào Nam, nhà Nho với “Khổng Học Đăng” sau này đã thường xuyên lui tới chùa và viết “Phật Học Đăng”. Cụ Sào Nam thường tìm đến chùa Tường Vân để hàn huyên, bàn chuyện văn thơ, chuyện thế sự và Phật pháp với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Hai con người uyên thâm Hán học ấy đã một thời là bạn tâm giao, chỉ khác: một người là Hòa Thượng, một người là Nho Sĩ.

Nước xuôi ra biển lại tuôn về nguồn.

***

“Chớ quên mình là nước”, Văn Công Tuấn ngậm ngùi sẽ đến lúc “dưới biển cá thôi bơi, trên trời chim hết lượn…” để rồi nhắc đến cái chết của dòng sông Cửu Long.

Anh nói, đọc cuốn ký sự Đi Dọc Dòng Sông Phật Giáo tự dưng thấy sao… nước mắt tự động chảy ra, không cầm được:

Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông

Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán

Hãy cất tiếng ca cho đời thêm buồn

Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo…

(Phạm Duy)

“Vậy một con rồng của Tiền Giang đã chết. Ở Hậu Giang thì hiện nay, cửa sông Ba Lai được thay thế bằng hệ thống cống đập ngăn mặn chặn vĩnh viễn dòng chảy…”

“Cửu Long bây giờ là 7 con rồng. Nói sao nghe khó lọt lỗ tai quá.

“Hèn chi chật chội. Hèn chi sinh sự!”

Rồi cảm thán:

“Có phải vì vậy mà người Khmer gọi Mê Kông là Dòng Sông Mẹ. Tiếng Miên chữ “Mê” là “mẹ” còn “Kông” là “sông”. Tại sao? Vì những chàng, những nàng có tên gọi “Buổi chiều Lục tỉnh” hay ham vui, hay dzô dzô ba xị đế, hay hò ơ dí dầu, hay đàn ca tài tử… Nhưng khi buồn quá thì những trò vui đó không khỏa lấp hết nỗi buồn, những chàng hay nàng “Chiều” mới tìm về với Cửu Long. Tâm sự với dòng sông. Yên lặng với dòng sông. Như chàng Tất Đạt của Hermann Hese đã về với dòng sông và lắng nghe dòng sông. Chỉ có dòng sông mới nghe, mới hiểu nổi buồn của Chiều”.

Để rồi kết:

“Nhớ da diết đám lục bình trôi trên sông Tiền, sông Hậu. Không biết giờ này chúng lưu lạc ở đâu?”

Phải. Như những phận người.

Chớ quên mình là nước.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Saigon, tháng 6.2019

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Nguyên Giác: KINH PHÁP CÚ TÂY TẠNG

01/09/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

LỜI GIỚI THIỆU

KINH PHÁP CÚ TÂY TẠNG

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali. Phổ biến nhiều thứ nhì là Kinh Pháp Cú Hán Tạng. Duy ít nghe tới là Kinh Pháp Cú Tây Tạng (Tibetan Dharmapada), còn tên khác là Udanavarga; hiện chưa có bản Việt dịch nào.

Kinh Pháp Cú Nam Truyền, từ Tạng Pali, gồm 26 phẩm, 423 bài kệ — đã nhiều bản Việt dịch, trong đó bản phổ biến nhất là của Hòa Thượng Thích Minh Châu.

Kinh Pháp Cú Bắc Truyền, còn gọi là Kinh Pháp Cú Hán Tạng, gồm 39 phẩm, 759 bài kệ. Bản do Thiền sư Nhất Hạnh dịch còn lấy tên là “Kết một tràng hoa.” Bản Việt dịch gần nhất được xuất bản năm 2019, của hai dịch giả Thích Nguyên Hùng và Thích Đồng Ngộ.

Kinh Pháp Cú Tây Tạng, thường gọi là Kinh Udanavarga, gồm 33 phẩm, 1,100 bài kệ. Bản gốc từ tiếng Sanskrit, được dịch sang tiếng Tây Tạng, và hiện nay có ba bản Anh dịch. Chưa có bản Việt dịch nào trước đây.

Bản Việt dịch này dựa vào ba bản Anh dịch sau.

– Udanavarga: A Collection of Verses from the Buddhist Canon (ấn bản 1883). Dịch giả là William Woodville Rockhill (1854-1914). Rockhill là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ, cũng là người Mỹ đầu tiên học tiếng Tây Tạng.

— The Tibetan Dhammapada (ấn bản 1983). Dịch giả là Gareth Sparham, có Lời Giới Thiệu của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14. Sparham sinh tại Anh quốc, xuất gia và tu học khoảng 20 năm theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng tại Dharamsala, Ấn Độ.

— The Dhammapada with the Udananvarga (ấn bản 1986). Dịch giả là Raghavan Iyer (1930-1995). Iyer sinh tại Ấn Độ, tốt nghiệp Tiến sĩ năm 1962, dạy tại University of California, Santa Barbara từ 1965 cho tới khi về hưu năm 1986. Iyer từ trần ở Santa Barbara năm 1995.

Theo ngài Long Thọ (https://en.wikipedia.org/wiki/Udanavarga) sách Udanavarga (tức là Pháp Cú Tây Tạng) do các tu sĩ kết tập ngay khi Đức Phật nhập Niết Bàn.

Như thế, các Kinh Pháp Cú thuộc các nhóm kinh kết tập xưa cổ nhất, tính kể từ khi Đức Phật nhập diệt, và khi các nhóm tu sĩ đi phân tán ra các hướng khác nhau, dần dà mới có dị biệt.

Theo truyền thuyết, Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Tôn giả Pháp Cứu (Dharmatrāta) tuyển soạn, kết tập; nhiều học giả ngờ vực rằng có thể có nhiều vị kết tập qua nhiều thời kỳ.

Bản Việt dịch này được thực hiện với nhiều đối chiếu. Khi thấy các bản Anh dịch có một số câu dị biệt, tất cả các dị biệt đó đều được dịch ra đầy đủ, không dám bỏ sót ý nào.

Nhìn chung, Pháp Cú Tây Tạng khuyến tấn nhận ra Tứ Diệu Đế, sống ly tham, trì giới, quán vô thường, biết đủ, giữ hạnh cô tịch, phòng hộ sáu căn, hành thiền, dạy tránh danh vọng, khuyên chớ coi thường những người học kém, vì vẫn có nhiều người học kém nhưng kiên tâm trì giới, sống theo chánh pháp đã đắc được Tam Minh. Và rất nhiều lời dạy quan trọng khác.

Đặc biệt, tư tưởng Thiền Tông, hay Thiền Đốn Ngộ (tại Việt Nam là Thiền Trúc Lâm) lặp đi lặp lại ở nhiều bài kệ. Nơi đó, tâm sẽ tức khắc không thấy tham, sân, si là khi:

— Tâm vô sở trụ, không dính mắc, không chấp thủ, dù là dính vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

— Tâm buông bỏ những gì ở quá khứ, chớ mơ tưởng gì nơi tương lai, và không tơ vương gì với hiện tại.

— Tâm để cái được thấy nghe hay biết chỉ là cái được thấy nghe hay biết, và sống với các pháp như thị.

— Tâm đón nhận vô thường trôi chảy, nơi đó là rỗng rang, không lời, không gì để thêm, không gì để bớt.

— Tâm xa lìa cả bờ này và bờ kia, xa lìa cả thiện và ác.

— Tâm lắng nghe cái tịch lặng, nơi ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt – nơi lời nói dứt bặt, tâm bất động như núi.

— Tâm thấy tất cả các pháp đều là như huyễn, đều là rỗng rang không tự tánh.

Nơi các lời đó, khi tâm ly tham sân si, là tức khắc Niết bàn.

Tất cả những dòng chữ nơi đây được trân trọng viết để cúng dường Tam Bảo và phụng sự chúng sinh. Tất cả các bất toàn, người biên dịch xin chân thành sám hối.

(PTH)

(2019)

Thuộc chủ đề:Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

LÕM BÕM HỌC PHẬT

31/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Lõm Bõm Học Phật

Đỗ Hồng Ngọc

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!
Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…
Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?
Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !

 

Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.
Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.
Huệ Năng trách :
– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).
Huệ Năng đáp :
Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.
Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.
Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!
Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.
Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.
Về chóng thế sao?
Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!
Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hoá không thân tức Pháp thân.
(…)

 

Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.
Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.
Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.
Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.
Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.
Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.
Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hí luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

Thuyền Bát Nhã

“Bát Nhã” lúc nào cũng phải có… “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!
Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.
Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !
Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

Trăng Lăng Già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí.
Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.

(ĐHN)
(6.2019)
………………………..

Ghi chú: các hình trong bài này từ Internet. 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Hồ Đắc Đằng: VÔ KỴ HỌC VÕ

21/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

VÔ KỴ HỌC VÕ

Ghi chú: Bác sĩ Hồ Đắc Đằng là người bạn cùng khóa với tôi tại Y khoa Đại học đường Saigon (1962-1969) vừa có bài viết rất thú vị về chuyện “Vô Kỵ Học Võ” mà anh có vài lời “phi lộ” như sau: “Tự nhiên, nổi hứng, viết cho tất cả các bạn cùng lớp của tụi mình. Tôi có một câu chuyện kể các bạn xem cho vui. Nửa bịa đặt, nửa thật. Tên thì bịa đặt, nơi chốn thì thật, phương cách dạy, quyền cước thì nửa thật, nửa tượng trưng (symbolic), kết quả thì thật…”.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

Cảm ơn Hồ Đắc Đằng.

ĐHN

……………………………………………………………………..

VÔ KỴ HỌC VÕ

 

Vô Kỵ

Vô Kỵ là một thằng bé 11 tuổi, ở Tích Lan (Srilanca), người thì không có gì mạnh mẽ, nhanh nhẹn. Nó thì hiền lành nhưng tự nhiên lại nổi hứng muốn học đánh võ. Nó tìm được một ông thầy dạy võ già, nổi tiếng là võ nghệ cao cường, kiến thức uyên bác, đạo hạnh nghiêm túc. Bố mẹ nó cũng không vui lắm vì muốn nó trở thành một người thường, làm ăn lương thiện, thành công và cưới vợ, đẻ con như tất cả mọi người. Bố nó giận nó, nói dỗi:

–          Mầy có muốn học võ thì mầy đi ở luôn với ông thầy dạy võ đó đi. Đừng có về nhà nữa.

Thế là nó làm thật. Nó ở luôn với ông thầy võ đó. Thế mới đổ nợ cho bố nó, bị vợ ổng (mẹ nó) mắng cho một trận:

–          Tại ông đó, nó mới bỏ nhà đi như vậy. Phải ông để tôi dùng lời nhỏ nhẹ, tôi đã có thể giữ nó lại nhà làm người tốt như ông tính.

Bài học: Muốn cái gì thì cứ thong thả, từ từ; thẳng thừng là nó làm thật đấy.

Dạy ăn

Nó đòi học võ, ông thầy chẳng chịu dạy gì cả:

–          Vô Kỵ, trước khi học võ, phải học ăn trước. Thân thể gầy ốm thế này thì đấm với đá cái gì. Phải nuôi cho nó lớn, mạnh lên. Con thích ăn cái gì?

–          Thưa sư phụ, con thích ăn balanced diet. Mấy người thầy thuốc dặn ăn balanced diet, tinh bột, thịt mỡ, con biết hết. Nhưng con nhất định ăn chay tại con thương thú vật. Con không muốn bất cứ một con gì phải  bi chết để con được sống và học võ.

–          Nầy Vô Kỵ, nếu con nhất định như vậy thì sư phụ sẽ không còn ai để dạy nữa.

–          Sao vậy sư phụ? Có biết bao protein thực vật mà mình đâu có cần giết con gì đâu?

–          Vô ích, Vô Kỵ ạ. Con có biết một bát cơm con ăn là do biết bao triệu sâu bọ đã bị giết để con còn có lúa trên đồng không? Nếu không có mấy cái xịt thuốc rầy, thì tụi nó đã ăn hết lúa, hết hoa quả của con. Con sống được là nhờ tụi nó chết. Con hãy mang ơn tụi nó khi con nhai cơm, ăn táo trong miệng con. Đó là đời sống đó con. Xác thân con sống được như vậy là do công ơn của muôn vạn sanh linh, từ người đến thú. Đó là chưa kể đến những vật vô tri giác như nước, không khí và ánh sáng. Kết luận? Thầy sẽ cho con ăn cái gì thầy có. Lòng từ bi, thầy cũng có như con. Thầy dạy con ăn, không phải cái gì con nên ăn, mà thầy dạy con ăn trong tâm thức nào: tâm thức mang ơn.

–          Con xin nhận lãnh những lời giáo hóa nầy. Vô Kỵ cúi đầu. Hắn hiểu.

Dạy đi

Dạy ăn rồi mà vẫn chưa xong với ông thầy dạy võ nầy. Vô Kỵ nóng nảy muốn học võ mà cả năm qua, chẳng thấy thầy dạy động tác nào trước, bước đá nào sau. Nội cái đi tới đi lui trong sân mà thầy hắn cứ phải nhắc đi chậm lại. Trời đất, đi học đánh võ mà cái gì cũng phải chậm. Hắn cứ muốn học sao cho nhảy cao, đá mạnh. Vô ích, ông thầy dạy:

–          Vô Kỵ, nghe cho kỹ, cái võ thuật thầy dạy không nằm trong cái vận tốc và lượng (mass) mà là nội công của cái tĩnh lặng tuyệt đối. Nhớ 3 điều nầy:

. Một cái tâm nhanh là tâm bệnh

. Một cái tâm chậm là tâm mạnh

. Một cái tâm yên lặng là tâm thánh thần

(A mind which is fast is sick

A mind which is slow is sane

A mind which is still is divine)

Dạy thở

Ba năm đã qua mà Vô Kỵ vẫn chưa được dạy một miếng võ nào. Hắn ăn cái gì thầy hắn cho. Thật ra mấy người trong làng hắn cho thầy hắn rồi thầy trò ăn với nhau. Khi ăn thì không nói. Chỉ biết ăn là ăn cái gì, nghe mùi vị trong mũi, trên lưỡi của nó và đầy lòng biết ơn.

–          Thở mà cần gì phải dạy, thưa thầy. Con biết thở từ lúc mới sanh.

–          Con nuốt thức ăn xuống dạ dày không có nghĩa là con biết ăn. Ăn trong im lặng, ăn trong lòng mang ơn mới gọi là biết ăn. Đi cũng vậy, đặt chân xuống đất và bước đi trong cả đường dài không có nghĩa là con biết đi. Con đi từng bước chậm rãi, chú ý, quan tâm tới cái mầu nhiệm của mỗi cái ngã mà con tránh được của mỗi bước. Đó mới là con biết đi đấy.

Còn thở cũng vậy. Mũi con thở mà tâm con nóng lòng học võ để con có võ nghệ cao cường là con chưa biết thở. Con hãy buông bỏ hết tất cả ý tưởng bay nhảy, suy luận và chỉ đắm mình trong một cái thở ra, một cái thở vô nhịp nhàng, không cố gắng, không ham muốn. Một cái thở bao dung, hòa đồng, không ranh giới, trao đổi dưỡng khí với trọn thế giới quanh con. Không còn hơi thở nào là của con hay là của bạn con xung quanh. Hơi thở dịu dàng, nhịp nhàng, không ranh giới, vô tận. Đó mới thật là biết thở. Dĩ nhiên Vô Kỵ con, con không thể nào biết thở kiểu này 24/7. Mỗi ngày 15 đến 45 phút là đủ rồi. Khi nào con cảm thấy mấy cái hơi thở vô, thở ra của con là “đẹp đẽ” thì con khá lắm đó. Nhớ: The beautiful Breath .

–          Thầy có thấy hơi thở đẹp không? Vô Kỵ hỏi.

Ông thầy chỉ cười, không trả lời. Vô Kỵ cũng không có hỏi gạn.

Dạy võ

8 năm qua. Vô Kỵ bây giờ 19 tuổi. Thân thể tráng kiện, mắt sáng, tai thính, bước đi nhẹ nhàng, mỗi một bước chân xuống vững chãi như một cái máy cầy John Deere , nhấc lên nhẹ nhàng như một tai hoa sen. Miệng hắn hiền hòa, điềm đạm, hay cười. Hắn vui lắm.

–          Nầy Vô Kỵ, bao nhiêu kiến thức về võ thuật, tấn thối, ngửa đầu, cúi đầu con đều đã nằm lòng. Bây giờ thầy chỉ nhắc lại con có hai động tác là con phải quán suốt tận tường. Một là xuống tấn; hai là Tango.

Xuống tấn

–          Như kiểu phòng thủ. Chân trái gập nửa gối, phía trước. Tay trái thẳng, hạ thấp một chút. Tay phải xòe, hướng ra trước phía đối thủ, mấy ngón tay khít lại, cả ngón cái. Khuỷu tay co lại một chút. Đấy đấy, được đấy. Sư phụ của hắn vừa dạy vừa ra bộ luôn.

–          Năm ngón tay là 5 giới (Sila). 10 ngón tay cũng được. Tư thế có khác một chút: 2 bàn tay xòe về phía đối thủ như để chặn đứng một cánh cửa đang ập xuống. Đó là 10 Commandments. Cả hai động tác có một ý nghĩa tương tự: Đừng làm mấy cái đó. Vô Kỵ, con hãy chuẩn bị chân con cho vững vì mấy cái lực tấn công con nó rất mạnh. Con đỡ nó mà không vững chân thì nó đánh con ngã đó: Lực mà 5 giới (precepts) và 10 điều răn (commandments) con phải đối phó: Đừng có làm.

Tất cả các đường quyền, đường cước đều phải dựa lên cái xuống tấn phòng thủ nầy để khỏi bị địch thủ đánh ngã.

Tango

–          Vô Kỵ, bên Âu Châu tụi nó có điệu múa, hình như của Tây Ban Nha thì phải, gọi là Tango. Trong khi múa, vũ kiểu nầy, có lúc người đàn bà như bị ngã ngửa ra đằng sau, gần như lưng đụng sàn. Thì tự nhiên một cánh tay của vũ công nam ,uyển chuyển, mềm mại nhưng mạnh khỏe vô cùng đã đợi sẵn ở đó và người phụ nữ không bao giờ bị ngã đau. Đó là Tango.

Con đánh võ cũng vậy. Đánh võ là có ngã. Thầy dạy con đường quyền, đường cước để chân tay khéo léo, mạnh mẽ, không phải để làm cho người ta đau hay ngã xuống.

–          Thưa thầy, nhưng nếu đối thủ không ngã, không đau thì làm sao con thắng được?

–          Thắng? Thắng là cái gì? Con sao tối dạ thế? Vô Kỵ. Con nói con muốn học võ, thầy dạy võ. Thầy có dạy cho con thắng ai đâu? Con đủ sức thắng được, đỡ được cánh cửa nặng của 5 giới, của 10 điều răn, con còn sức đâu để thắng ai nữa. Con chẳng còn mong muốn gì hết, huống là muốn thắng.

Quyền Tango là con đỡ cho địch thủ khỏi đau đó.

Cuộc đấu thực sự

Bây giờ, Vô Kỵ đã 25, thân thể vạm vỡ, bước đi uyển chuyển, dịu dàng, nhịp nhàng, quyền cước thuộc lòng, tâm tính bao dung, trong sáng nhưng vẫn còn một cái muốn: muốn thắng.

Đối thủ có vẻ già giặn, lịch thiệp, có vẻ hơi kiêu ngạo một chút vì hắn học trường rất nổi tiếng trong vùng. Nhiều tiền lắm mới vô học được trường nầy, toàn là người thành công trong đời tranh nhau đưa con đến học, đôi khi phải hối lộ mấy người xét đơn nhập học. Trường võ của Vô Kỵ thì nghèo. Từ bi, rộng lượng nhưng nghèo và không danh tiếng bằng.

Hiệp nhất

Vô Kỵ thua te tua, ngã mấy cái đau điếng. Địch thủ mạnh lắm, Vô Kỵ xin time out vô động đá vấn kế sư phụ. Sư phụ ngồi yên, theo dõi từng quyền, từng cước. Sư phụ dạy: Con đánh rất đúng quy luật thể thức nhưng còn nhớ bài nhiều quá, theo quy luật, giáo điều quá. Quên bớt đi.

Hiệp hai

Vô Kỵ ngồi nghỉ mệt một chút, xem xét mình còn nhớ bài được bao nhiêu. Quên được 75% bài học của thầy. Thầy cho ra đánh tiếp hiệp hai. “Quái lạ, thằng này đánh khá hẳn lên” đối thủ ngạc nhiên, vất vả hơn nhiều nhưng rốt cuộc cũng đánh ngã được Vô Kỵ. Lần nầy ngã nhưng không có đau bằng lần đầu. Xin time out, vô vấn kế sư phụ lại.

Hiệp ba

–          Con còn nhớ bài nhiều quá. Nhớ 25% là quá nhiều. Con phải biết là địch thủ nầy nó rất giỏi về đoán trước động tác của con. Nó thấy được con ở đâu, con là ai, nó tấn công con ở đó. Con phải quên hết bài bản, quên con là ai, con không còn là Vô Kỵ nữa thì con sẽ thấy. Quên hết đi. Buông bỏ hết đi. Con không còn tự nhận định (self-identify) với một đơn vị nào nữa. Không còn là Vô Kỵ nữa. Nghe chưa?

Vô Kỵ làm thinh, tư tưởng trống rỗng, tâm thức trong sáng, lắng đọng, hay biết tất cả.

–          Con xin lãnh giáo.

Hắn chậm rãi trở ra, nhìn thẳng vào địch thủ, nở một nụ cười hiền từ, bao dung, không sợ thua mà cũng không muốn thắng nữa. Hắn múa may không theo bài bản gì cả. Chân hắn như đi trên mây, tay hắn múa may như Tango. Hắn khi thì ở trước địch thủ, khi thì ở sau, ở trên, ở dưới. Địch thủ không thấy một Vô Kỵ mà vố số Vô Kỵ, ở khắp nơi, như gió thổi, như mây bay. Động mà không động, không động mà động. Rốt cuộc địch thủ chịu thua không phải vì Vô Kỵ thắng mà vì địch thủ của Vô Kỵ không còn ai để mà thắng nữa.

Sư phụ cười. Hai địch thủ chậm rãi đến trước vị võ sư già cùng cúi đầu đảnh lễ. Chấm dứt một cuộc đấu võ ngoạn mục và cả hai trở thành võ sĩ tài ba, lỗi lạc mà không có ai thua ai thắng hết.

Footnote: Vô Kỵ bây giờ 62 tuổi ở Woodstock, IL., dạy thiền định thay vì dạy võ. Tôi là một học trò. Học ăn, học đi và học thở rồi. Còn học múa võ thì còn học dài dài. Không, không có Tango. Các bạn nào giỏi Tango, dancing dạy mình múa đi, múa sao cho người vũ viên của mình ít bị ngã, mà có ngã thì cũng khỏi đau.

 

Hồ Đắc Đằng

8/15/2019

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Krishnamurti: CÁI  TRỐNG  RỖNG NỘI  TÂM

16/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

CÁI  TRỐNG  RỖNG (1) NỘI  TÂM

Krishnamurti

Dịch giả: Nguyễn Tường Bách

(Cám ơn dong phan đã gởi. Đang đợi cuốn sách dịch này của NTB).

Cô đội trên đầu một chiếc giỏ to, một tay giữ cho khỏi rơi; cái giỏ hẳn phải nặng lắm nhưng trọng lượng của nó không hề làm lệch bước cô đi. Cô giữ thăng bằng một cách tuyệt vời, cô bước đi nhẹ nhàng và có nhịp. Tay cô mang vòng phát nhẹ tiếng kêu leng keng, chân mang giày xăng – đan đã cũ. Chiếc váy sari của cô đã rách và bẩn vì đã mặc quá nhiều. Thường thì cô có nhiều bạn cùng đi, ai nấy đều đội giỏ cả, nhưng hôm nay cô chỉ một mình trên con đường gập ghềnh. Mặt trời chưa đến nỗi quá nóng và trên bầu trời xanh nhiều con chim kên kên lượn những vòng rộng, cánh không hề vỗ. Dòng sông chảy yên lặng dọc bên đường. Thật là một buổi sáng rất bình an, và cô gái cô đơn với chiếc giỏ trên đầu dường như là tâm điểm của cái đẹp và ân sủng; tất cả mọi sự dường như hướng về cô và nhận cô làm một phần sự tồn tại của chính mình. Cô không phải là một đơn vị tách rời, mà là một phần của bạn và tôi, và của cây me kia. Cô không đi trước mặt tôi mà lại là tôi đang đi với chiếc giỏ trên đầu. Đây không phải là ảo giác, là cái tự nghĩ, cái mong ước và sự tự đồng hóa được bày vẽ ra – nếu có thì thật là xấu hết chỗ nói – mà là một chứng nghiệm tự nhiên và tức thì. Vài bước chân cách ly giữa chúng tôi đã biến mất; thời gian, ký ức và khoảng cách không gian, những điều do tư tưởng sinh ra, đã hoàn toàn biến mất. Chỉ còn một cô gái này chứ không có tôi đang nhìn cô. Và cũng còn một đoạn dài nữa mới đến phố chợ, chỗ mà cô sẽ bán những đồ đựng trong giỏ. Buổi tối cô sẽ về lại dọc theo con đường này, qua cầu tre nhỏ về tới làng, và sáng mai mới ra lại với chiếc giỏ đầy.

Anh rất đứng đắn, độ tuổi trung niên nhưng anh có một nụ cười vui thích và cũng còn rất khỏe mạnh. Ngồi xếp bằng trên sàn, anh nói tiếng Anh một cách ngập ngừng. Anh hơi bẽn lẽn vì đã học đại học và đậu bằng thạc sĩ nhưng đã nhiều năm nay anh không nói tiếng Anh và do đó quên đi cũng nhiều. Anh đọc một số kinh sách bằng tiếng Sanskrit, những từ Sanskrit hay được thốt ra trên môi anh. Anh cho biết tới đây để đặt vài câu hỏi về sự trống rỗng nội tâm, sự trống không của tâm. Rồi anh bắt đầu ca bằng tiếng Sanskrit và căn phòng tức khắc tràn ngập bởi một sự cộng hưởng sâu lắng, thanh tịnh và thấm đượm. Anh tiếp tục hát một hồi và thật là hân hoan khi được nghe anh hát. Khuôn mặt anh ngời sáng lên với ý nghĩa của mỗi từ trong câu hát, anh dò tìm nội dung những từ đó với một tình thương yêu. Anh không có chút giả tạo nào, anh quá đứng đắn đến nỗi không biết làm bộ tịch.

“Tôi rất vui mừng được ca những bài sloka (2) này trước mặt ông. Đối với tôi những bài ca này có ý nghĩa sâu xa và chứa đầy vẻ đẹp; tôi đã thiền định từ nhiều năm nay và những bài ca này là suối nguồn của sự hướng dẫn và sức mạnh. Tôi đã tập mình đừng dễ bị xúc động thế nhưng những bài ca Sloka này làm tôi dâng trào nước mắt. Âm hưởng của từ ngữ với nội dung phong phú của nó tràn đầy tim tôi để tôi thấy cuộc đời không còn vất vả và thống khổ nữa. Cũng như mọi người khác, tôi đã biết khổ; biết đến sinh tử và niềm đau của cuộc sống. Vợ tôi đã chết và sau đó tôi từ bỏ cuộc sống êm ấm của gia đình, và bây giờ tôi hiểu ý nghĩa của thái độ tình nguyện chấp nhận nghèo khổ. Tôi kể để cho ông hiểu thôi. Tôi không bị thất vọng, không cô đơn, hay tương tự như thế. Tâm tôi thấy vui thích trong nhiều thứ, nhưng cha tôi thường kể về các cuộc nói chuyện của ông, và một người quen khuyên tôi nên tìm gặp ông, và vì thế mà tôi đến đây”.
“Tôi muốn nghe ông nói về sự trống rỗng vô lượng”, anh nói tiếp, “tôi có cảm nhận về sự trống rỗng đó, và tôi có cảm giác đã chạm đến biên giới của nó trong những lần đi hành cước và thiền định”. Sau đó anh trích đoạn một bài ca sloka để giải thích chứng nghiệm của mình.

Krishnamurti: Cần phải nói rằng, thẩm quyền của một ai khác, dù to lớn tới mấy, cũng không chứng minh kinh nghiệm của anh là đúng hay sai. Chân lý không cần phải được chứng minh bằng hành động, nó cũng không lệ thuộc vào bất cứ thẩm quyền nào; thế nên hãy dẹp qua một bên tất cả thẩm quyền và truyền thống và hãy tự mình tìm ra chân lý cho chính mình.

“Điều đó thật là khó cho tôi vì tôi bị ngâm trong truyền thống – không phải truyền thống của thế gian mà trong giáo pháp của Gita, của Upanishad (3), vân vân… Có đúng là tôi nên bỏ cả đi hay sao? Tôi sẽ là người vô ơn bạc nghĩa không?”.

K: Trong việc này không hề có vấn đề biết ơn hay vô ơn; chúng ta đang nói về việc khám phá cái đúng hay cái sai của sự trống rỗng mà anh nói đến. Nếu anh đi theo con đường của thẩm quyền và truyền thống, những thứ đó là tri thức, thì anh chỉ chứng nghiệm những gì anh muốn chứng nghiệm, được thẩm quyền và truyền thống hổ trợ. Nó không phải là một sự phát hiện mới mẻ; thứ đó đã được biết tới, như một vật cần được anh nhận biết và chứng nghiệm. Thẩm quyền và truyền thống có thể sai lầm, chúng có thể chỉ là những ảo giác đầy tiện nghi. Muốn khám phá sự trống rỗng nọ là đích thực hay hư vọng, hay liệu nó chỉ là sự bày vẽ của tâm, tâm phải thoát khỏi mạng lưới của thẩm quyền và truyền thống.
“Liệu có lúc nào tâm thoát được khỏi mạng lưới đó không?”

K: Tâm không thể nào tự giải phóng mình, vì mỗi cố gắng tự giải phóng của nó chỉ dệt nên một mạng lưới khác mà trong đó nó lại bị ràng buộc. Sự tự tại không phải là cái đối nghịch với bất cứ cái gì, tự do không phải là tự do thoát khỏi một cái gì đó, đó không phải là tình trạng được cởi trói. Chính bản thân niềm mong ước được tự tại nuôi dưỡng cái tù ngục. Tự tại là dạng của sự tồn tại mà dạng đó không phải được sinh ra từước mong được tự tại. Khi tâm thấu hiểu được điều này và thấy cái hư vọng trong thẩm quyền lẫn truyền thống, thì cái hư vọng sẽ tự tan rã.

“Có thể tôi bị xui khiến khi đọc sách, hay khi suy tư về những điều trong sách; ngoài ra thì từ hồi còn nhỏ, tôi đã cảm nhận mơ hồ, như mơ, về một cái trống rỗng. Trong tôi luôn luôn có một sự gợi biết về nó, một cảm nhận bâng khuâng; và khi lớn lên, khi đọc các sách tôn giáo tôi cảm thấy cảm giác này còn mạnh hơn, sinh động hơn, chắc chắn hơn. Tôi cũng bắt đầu thấy những gì ông nói. Hầu như tôi hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự miêu tả về những chứng nghiệm của người khác, như được ghi lại trong kinh sách. Tôi có thể từ bỏ sự lệ thuộc này vì thấy cần thiết phải làm, nhưng liệu tôi có thể sống lại được cái cảm nhận độc đáo, thanh tịnh nằm ngoài mọi ngôn từ được không?”.

K: Cái được làm sống lại không phải là cái sinh động, cái mới; đó chỉ là ký ức, một thứ đã chết, và anh không thể thổi sự sống vào trong cái đã chết. Sống lại và sống trong ký ức chỉ là sự nô lệ của sự tự kích thích, và một cái tâm mà lệ thuộc vào sự kích thích, dù ý thức hay không ý thức, thì chắc chắn sẽ cùn nhụt và trở thành vô cảm. Làm sống lại chỉ là kéo dài thêm sự thất vọng. Quay về quá khứ đã chết trong cơn khủng hoảng đang xảy ra là đi tìm một khuôn mẫu để sống, điều này chính là sự hủy hoại. Điều mà anh cảm nhận là tuổi thanh niên, hay chỉ mới ngày hôm qua thôi, điều đó đã qua, đã mất; nếu anh bám giữ vào quá khứ thì anh chỉ ngăn chận sự chứng nghiệm tươi tắn của cái mới mẻ.

“Như ông thấy, tôi thật sự nghiêm túc và đối với tôi có cái thôi thúc phải hiểu ngộ và hòa nhập được vào Tính Không (4) đó. Tôi cần phải làm gì?”.

K: Người ta phải xả bỏ tâm thức của những cái đã biết; tất cả tri thức mà ta đã tích lũy phải dứt bặt thì mới mong nhận được ảnh hưởng của tâm đang sống động. Tri thức luôn nói về quá khứ, nó là một quá trình của quá khứ và tâm phải thoát khỏi quá trình đó. Nhận thức là một giai đoạn của quá trình tri thức, đúng thế không?

“Thế là sao?”

K: Muốn nhận thức một vật, anh phải biết đến nó rồi hay phải kinh nghiệm về nó trước đó và những kinh nghiệm này được tích lũy thành tri thức, thành ký ức. Nhận thức xuất phát từ quá khứ. Có lẽ anh đã một lần chứng nghiệm cái trống không này; và khi đã có, anh khao khát có nữa. Cái chứng nghiệm độc đáo đó đã đến khi anh không truy tìm nó; bây giờ thì anh đang tìm và cái mà anh đang tìm không phải là Tính Không mà làsự tái diễn của một ký ức cũ. Nếu nó phải xảy ra lại lần nữa thì tất cả ký ức về nó, tất cả tri thức về nó, phải biến mất đã. Tất cả mọi sự tầm cầu phải ngưng bặt, vì sự tìm kiếm luôn luôn dựa vào mong ước được chứng nghiệm.

“Thật sự ông muốn nói là tôi không được phép tìm kiếm? Nghe thật là điều khó tin!”.

K: Động cơ của sự tìm kiếm thường đáng biết hơn bản thân sự tìm kiếm. Động cơ thâm nhập, dẫn dắt và hình thành sự tìm kiếm. Động cơ từ lòng sở cầu của anh là mong được chứng nghiệm cái chưa biết, được nhận thức ân sủng và tính chất vô hạn lượng của nó.Tâm sở cầu này sinh ra người chứng nghiệm, kẻ mong ước sự chứng nghiệm (5). Người chứng nghiệm đi tìm sự chứng nghiệm to lớn hơn, bao trùm hơn và quan trọng hơn. Khi tất cả mọi kinh nghiệm khác đã hết hấp dẫn, người chứng nghiệm nóng lòng tìm Tính Không; vì thế mà có người chứng nghiệm một bên và bên kia là vật được chứng nghiệm. Thế nên mối tranh chấp nhị nguyên đã hình thành giữa hai cái, người theo đuổi và vật bị theo đuổi.

“Tôi hiểu rất rõ điều này, vì nó chính là tình trạng hiện nay của tôi. Giờ thì tôi thấy mình đang bị ràng buộc trong một mạng lưới do mình tự tạo”.

K: Đó cũng là tình trạng của mọi kẻ tầm cầu khác thôi, không phải của riêng những ai đi tìm Thượng đế, Tính Không, vân vân… Mỗi ai có tham vọng và khao khát, kẻ đi tìm quyền lực, địa vị, tiếng tăm, mỗi ai yêu lý tưởng, mỗi ai sùng bái sự đạt đạo, mỗi ai xây dựng một vương quốc ảo tưởng – tất cả họ đều bị ràng buộc vào trong cùng một mạng lưới. Thế thì khi anh đã hiểu thấu toàn bộ ý nghĩa của sự tầm cầu, anh còn tiếp tục tìm kiếm Tính Không nữa không?

“Tôi hiểu nội dung sâu kín câu hỏi của ông và tôi cũng đã chấm dứt sự tìm kiếm”.

K: Nếu quả thật như thế thì tình trạng của tâm phi sở cầu như thế nào ?

“Tôi không biết, câu chuyện đối với tôi mới mẻ đến nỗi tôi phải cố tập trung hết sức mình và quan sát. Cho tôi vài phút trước khi tiếp tục”.

Sau khi nghỉ một lát, anh tiếp.

“Tôi nhận ra thật hết sức vi tế, thật khó khăn nếu không cho người chứng nghiệm, người quan sát hiện diện. Hầu như không thể cấm tư tưởng tạo tác ra người tư tưởng; thế nhưng hễ có người tư tưởng, có người chứng nghiệm thì rõ ràng phải có một sự chia cắt với cái được chứng nghiệm và như thế là có tranh chấp với nó. Và bây giờ ông lại hỏi, thế thì trạng thái của tâm vắng bóng tranh chấp nhị nguyên thì như thế nào?”.

K: Tranh chấp nhị nguyên hiện diện khi sự thèm muốn lấy dạng của người chứng nghiệm và theo đuổi cái phải được chứng nghiệm; vì cái phải được chứng nghiệm đó chẳng qua cũng do sự thèm muốn hình thành nên.

“Xin hãy kiên nhẫn với tôi, hãy từ từ để tôi hiểu những gì ông đang nói. Sự thèm muốn không những chỉ tạo nên người chứng nghiệm, người quan sát, mà còn sinh ra những cái phải được chứng nghiệm, vật bị quan sát. Thế nên ái dục là nguyên nhân của sự tách rời giữa người chứng nghiệm và cái được chứng nghiệm; và đó là sự phân biệt ngầm chứa tranh chấp nhị nguyên. Bây giờ ông hỏi trạng thái của tâm phi nhị nguyên, không bị ái dục lôi kéo thì sao? Nhưng làm sao trả lời câu hỏi này nếu bây giờ không có người quan sát chứng nghiệm cái vắng bóng ái dục này?”.

K: Khi anh ý thức về sự khiêm tốn của mình, không phải sự khiêm tốn chấm dứt ư? Có còn đạo đức nữa chăng khi anh cố tình thực hành đạo đức? Kiểu làm như thế chỉ tăng cường cho hoạt động vì tự ngã của mình, nó là kẻ chấm dứt đạo đức. Lúc mà anh ý thức mình đang hạnh phúc, lúc đó anh đã chấm dứt sự hạnh phúc. Tình trạng của tâm thế nào khi nó không bị ràng buộc bởi ái dục? Ý muốn tìm ra nó cũng là một phầncủa ái dục, nó sinh ra người chứng nghiệm và vật bị chứng nghiệm, không phải sao?

“Đúng vậy. Câu hỏi của ông là một cái bẫy cho tôi nhưng tôi cảm ơn ông đã nêu lên. Tôi thấy thêm tính chất vi tế của ái dục”.

K: Đó không phải là cái bẫy mà là câu hỏi tự nhiên và không thể tránh khỏi mà anh đã tự hỏi mình trong lúc nói chuyện. Nếu tâm không hết sức cảnh giác, tỉnh táo, thì nó sớm bị ràng buộc trong mạng lưới ái dục của chính nó.

“Câu hỏi cuối cùng: Tâm có khả năng thật sự thoát khỏi mọi ái dục tìm kiếm chứng nghiệm không, điều mà sẽ xóa bỏ ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm? (6 )”.

K: Anh hãy tự mình tìm ra. Nếu tâm hoàn toàn tự tại thoát khỏi mọi cấu trúc của ái dục thì tâm đâu có khác gì Tính Không?

Dịch giả : NGUYỄN TƯỜNG BÁCH

………………………………………………………………………………………………..

Ghi chú của người dịch

(1) Void. Từ này được dịch là “sự trống rỗng” hay “Tính Không” tùy theo nội dung câu chuyện.

(2) Thơ hay kệ bằng tiếng Sanskrit, thường gồm hai câu, mỗi câu 16 âm.

(3) Gita. Viết tắt của Bhagavad-Gita (Chí tôn ca) và Upanishad (Những bài thuyết giảng) là kinh sách then chốt của Ấn Độ giáo.

(4) Kể từ đây từ “Void”được dịch là Tính Không vì đã đi vào nội dung đích thực của triết học Tính Không.

( 5) “Tâm sở cầu sinh ra người chứng nghiệm” chứ không phải “người chứng nghiệm có tâm sở cầu”. Xin độc giả chú ý, đây là chỗ cần hiểu rõ: “Tâm sở cầu” tạo nên trong dòng tâm thức một chủ thể mà ta mệnh danh là “Người chứng nghiệm”. Không có tâm sở cầu thì cũng không có người chứng nghiệm.

(6) Khi ranh giới giữa người chứng nghiệm và vật được chứng nghiệm được xóa bỏ thì sẽ có tình trạng phi thường mà tác giả nói về cô bé đội giỏ trong phần đầu của bài này.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống

Còn đó của ngày xưa…  

14/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Còn đó của ngày xưa…  

tặng Minh Trân

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Đặc San Liễu Quán, Huế.
Vu Lan PL 2563 (2019)

Trong lúc cả “thế giới phẳng” đang đối đầu với dịch béo phì và những hệ quả của nó thì ở Nhật hình như không có hiện tượng béo phì, ít ra là ở vùng Hyogo, Kobe. Trong sân trường Đại học Sư phạm Hyogo, nơi tôi có dịp đến thăm, đầy tiếng cười đùa rộn rã  của các sinh viên nam nữ. Họ rất dễ thương. Không quen biết gì cũng cúi rạp chào mình rất lễ độ. Khi ra dấu xin chụp ảnh, họ cười rất tươi,  sửa lại cái dáng cho… nghiêm chỉnh một chút! Thỉnh thoảng tôi cũng “chộp” lén một vài tấm kỷ niệm những lúc họ đang ăn ngon lành ngoài nắng sân trường hoặc ríu rít đẩy nhau lên xe bus tay xách nách mang khi trở lại trường sau ngày nghỉ cuối tuần. Họ hồn nhiên. Họ tươi tắn. Nói chung rất dễ thương. Và đẹp. Cái đẹp của phương Đông. Kín đáo, thùy mị, dịu dàng, và… thon thả. Lạ, không thấy có hiện tượng béo phì ở đây, trong sân trường cũng như ngoài đường phố, siêu thị, sân ga. Có lẽ có một chính sánh y tế công cộng nào đó âm thầm quản lý toàn bộ chăng?  May mắn đều do…sắp đặt mà! Đúng vậy. Cái cách quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của họ khó mà có thể béo phì, khó mà có thể ngộ độc thức ăn! Món ăn nào cũng kiểm tra kỹ, bao bì, đóng gói, cân đong đo đếm cẩn thận, từ củ gừng, củ khoai, đến vài cọng hành, lá hẹ! Món ăn nào cũng có hạn, lúc nào cũng phải mới toanh. Một số sinh viên nước ngoài thường chỉ dẫn cho nhau … cách  mua thức ăn vào những ngày sắp hết hạn, giá rẻ đặc biệt. Đem về bỏ tủ lạnh có thể… tự  gia hạn khi cần! Bởi vì thức ăn ở Nhật quá đắt. Đắt gấp cả chục lần ở ta. Lại nhạt nhẽo. Thiếu  gia vị. Hình như họ không cần ăn…ngon, họ chỉ cần ăn tốt. Chất lượng thì tuyệt vời: nấm, đậu hủ, rong biển, cá… Và nhất là cá sống, trời ạ! Ăn phát sợ! Sợ là vì mình không quen ăn mà cũng vì mình vốn thường bị ăn cá ươn, cá ướp hàn the, ướp formol…  nên cũng giống như chim bị ná sợ cây cong. Nấm cũng vậy. Lần nào ăn nấm tôi cũng rờn rợn nhớ những vụ ngộ độc nấm xứ mình. Tôi có đến thăm Sở Y tế Hyogo. Ở đó người ta trình bày cho tôi xem cách quản lý chất lượng thực phẩm ra sao. Và tôi hiểu tại sao người Nhật khó mà có thể béo phì được. Ở đâu cũng thấy họ thon thả. Họ mặc kimono rất đẹp dù có vẻ hơi đơ cứng, lắc lư. Nay họ “nhập khẩu” áo dài của ta vào nữa thì lại càng thon thả, càng bay bỗng! Không bị béo phì, không thừa mỡ thừa đạm thừa bột thì người Nhật ít bị bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp các thứ như ở một số quốc gia khác. Nhưng chưa hết! Kiểm sóat thực phẩm, cân đong đo đếm calori thu nhập hằng ngày của con người chỉ là một phần của chuyện chống béo phì. Cái hệ thống  giao thông công cộng của họ mới là cái đóng góp đáng kể hơn!  Ở Âu Mỹ, ở Úc.. hệ thống tàu điện đơn giản và tiện lợi khiến người ta làm biếng, không phải đi lại, vận động nhiều . Ở  đây thì không! Người ta chạy hộc tốc, chạy có cờ. Rầm rập. Rầm rập. Ngược xuôi, phải trái, lộn qua lộn về khắp nơi. Hình như khách lạ ai cũng năm lần bảy lượt nhầm ga, nhầm giờ. Các nhà ga thì hành lang dài hun hút, thang cuộn rất ít, hoặc chỉ có một chiều lên, còn dành cho lội bộ! Lội rả giò!  Rõ ràng là có sự cố tình… sắp đặt để mọi người phải cuốc bộ năm ba cây số,  phải leo cầu thang hằng trăm bậc mỗi ngày. Tóm lại, người ta âm thầm buộc mọi người phải… vận động! Béo phì sao nổi? Ăn uống được kiểm sóat, vận động thể lực được kiểm soát. Kết quả là người Nhật muốn lười, muốn nhàn, muốn béo phì… đều không được. Họ chỉ còn có mỗi một việc phải làm: đó là cật lực làm việc, và… sống lâu. Sống lâu vì không… chết được. Bệnh đâu mà chết? Và rồi chỉ còn những người…già, ngày càng già, không biết để làm gì! Ở trường đại học Konan, bác sĩ Matsuura chỉ cho tôi xem phòng nghiên cứu đặc biệt những động tác của từng cơ bắp của con người. Nhờ đó tìm ra những khuyết điểm trong sự vận hành của từng cơ bắp để có thể phục hồi hoặc chế tác các dụng cụ hỗ trợ phù hợp cho người cao tuổi. Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!  Một xứ sở thần tiên? Một nơi không còn sinh lão bệnh tử? Không phải! Giáo sư Katsuno, chuyên gia Giáo dục sức khỏe nói với tôi, đây là một vấn đề lớn! Quả vậy, chừng mươi năm nay, tỷ lệ tự tử ở người Nhật ngày càng gia tăng, nhiều nơi ở Nhật ngày nay đã có… “thần” Mc Donald xuất hiện, với lọai MegaMac mà trẻ con người lớn đều ưa! Các nghiên cứu cho thấy gène “béo phì” ở người Nhật thấp hơn người Mỹ gấp 10 lần, nhưng nay tỷ lệ trẻ con Nhật béo phì ngày càng gia tăng. Một nghiên cứu cho thấy trong nhiều thập kỷ qua, tuổi thọ của người dân Okinawa  đứng vào hàng đầu thế giới, nhưng từ khi fast food kiểu Mỹ tràn vào thì tuổi thọ của dân Okinawa đã tụt xuống nhanh!

 

Buổi sáng, giáo sư Katsuno, hiệu phó trường Đại học sư phạm Hyogo đưa chúng tôi đến thăm Đại học phụ nữ Konan ở Kobe. Trường nằm trên lưng chừng một ngọn núi cao. Lồng lộng biển khơi trước mặt! Giữa sân trường đại học nữ là một… người đàn ông khỏa thân, ngồi suy tưởng! Đó là bức tượng nổi tiếng Le  Penseur của  Rodin!  Ông đang  ngẩm ngợi điều chi?   Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật? Vợ Nhật ư, tìm đâu ra bây giờ? Bây giờ các cô gái Nhật đâu có chịu lập gia đình, đâu có muốn sanh con đẻ cái. Tiếp chúng tôi là Bác sĩ Matsuura, một chuyên gia về sức khỏe cộng đồng, giáo sư của trường. Matsuura là một bác sĩ… đẹp trai, khoảng ngoài 60, nhiệt tình và cởi mở. Đúng chất người làm cộng đồng! Khi mới ra trường được 10 năm, ông  tình nguyện về một hòn đảo xa để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân- đa số là người già- kết hợp giữa y tế và  phát triển cộng đồng. Chương trình thành công. Người già không ai… tự tử, người trẻ chịu lập gia đình! Hiện nay chương trình này đã trở thành một mô hình tốt. Buổi trao đổi giữa chúng tôi càng trở nên tương đắc, hào hứng. Bởi riêng tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này từ năm 1984, khi thực hiện Chương trình săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em ở phường 13 Quận 6 và từ năm 1986, trong Chương trình Hiệp Phước, tại một xã cù lao nghèo thuộc huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh. Khác chăng là ở  mục tiêu. Ta thì hạn chế sinh đẻ còn Nhật thì khuyến khích sinh đẻ. Ta thì tập trung lo cho trẻ con suy dinh dưỡng, sốt rét, bệnh nhiễm trùng còn Nhật thì lo cho người già, tàn phế, tật nguyền, chán sống… Nhưng nói chung phương pháp vẫn là Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community-based approach) ,dựa trên những nguyên tắc như tham gia cộng đồng (community involvement), phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) và kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology). Chủ khách đã trở thành tri âm tri kỷ tự lúc nào! Bác sĩ Matsuura  mời chúng tôi tham quan các khoa phòng của trường, đặc biệt nơi nghiên cứu chi tiết các động tác của cơ thể con người để hỗ trợ người già khiếm khuyết. Rồi ông hào hứng mời chúng tôi về thăm nhà riêng!

Nhà bác sĩ Matsuura ở trên lưng núi, xuyên qua những con đường đầy ắp hoa đào quanh co khúc khuỷu. Một ngôi nhà tuyệt đẹp. Minh Châu, cô sinh viên cao học người Việt phiên dịch cho chúng tôi, từng sống ở Nhật nhiều năm, đã phải kêu lên: Nhà giàu lằm bác ơi! Đó có lẽ là chỗ khác nhau rõ rệt nhất giữa bác sĩ cộng đồng ở Nhật và ở ta! Nhà chỉ còn hai ông bà. Hai người con lớn đều đã đi làm xa. Tôi đùa, thế thì ông sẽ đựơc sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của bà! Ông cười đồng tình! Bà cười bẽn lẽn. Rồi tôi nói thêm: Chỉ có cách là xúi mấy đứa nhỏ lập gia đình để có cháu cho bà chăm sóc. Lúc đó may ra ông mới được thoát! Cả hai ông bà đều kêu lên nhưng tụi nó có chịu lập gia đình đâu! Đột nhiên bà hỏi chồng: Có mời khách uống trà không? Rồi thân mật đẩy chiếc cửa ngay bên vách phải mà tự nảy giờ tôi chẳng ngờ có một phòng trà ở đó.

Nhật mới có “trà đạo” thì phải. Một nếp sống tâm linh của cả một dân tộc. Trà đạo không phải là đạo…trà! Không dành cho những người ghiền trà. Trà đạo càng không phải là một cách uống trà,  một nghi thức uống trà, kiểu cách, xa hoa nào đó!

Một căn phòng vuông vắn và trống huếch, được trải những tấm tatami tinh tươm. Làn gân chiếu nhấp nhô như những đợt sóng ngầm. Có những đường viền đậm. Một góc lõm tokonoma sâu thăm thẳm. Một bức thư họa kakejiku … ngoằn ngoèo huyền bí. Lò lửa ngun ngút ở giữa phòng. Đốt bằng thứ than cội anh đào. Chiếc gáo. Hộp trà. Cối gỗ…    Mấy cái chén tống bậm trợn như giả vờ thô kệch mà ngạo nghễ, bay bỗng những hoa văn.  Tự dưng thấy lòng hẫng nhẹ. Bụi bặm đường xa gạt bỏ hết bên ngoài. Một không gian khác. Một thời gian khác.Lòng rỗng không. Phòng rỗng không.

Trà xanh Nhật lạ lùng. Cái màu xanh như của cốm làng Vòng. Xanh lá mạ. Xanh nếp con gái. Đòng đòng… Màu xanh không mất đi dù đựơc phơi nắng, giã nhuyễn bao lần. Có những nguyên tắc chung nào đó nhưng mỗi “trà nhân” đều có cách pha riêng của mình, phóng khoáng, tự do và đầy ngẫu hứng. Nếu không vậy, chắc họ đã chế ra các cỗ máy…cho “trà đạo” hàng lọat rồi!  Ở đây… là con người. Chính con người. Là bóng dáng người phụ nữ Nhật. Rón rén mà nghiêm trang. Thanh thoát mà miên mật. Chính xác. Thuần thục. Mỗi động tác đều mang một ý nghĩa nào đó. Một hồn Nhật lâng lâng của những kawabata, akutagawa… xa lắc xa lơ.

Khi nâng chén ngang mày, nghe thoáng mùi hương trà xanh tỏa ngát. Nếm. Không chát đắng. Tan loãng. Nghe ngóng. Ngập ngừng. Bàn tay nâng niu, bàn tay che chở. Bàn tay nào của Đức Phật mà Tôn Ngộ Không cân đẩu vân ngàn lần không thể vượt qua? Chậm rải, từ tốn, cẩn trọng. Để nghe cho hết từng tác động thân hành.  Nghi thức chỉ là tướng. Ly tướng thì thấy. Thấy gì? Thấp thoáng bóng Trương Chi dưới đáy ngọc hay Duy Ma Cật giữa trùng vây?

Hôm đi Nara, thành phố có những ngôi chùa cổ nổi tiếng, nhưng đọng lại trong tôi chính là vườn nai. Vườn mênh mông mà nai cũng mênh mông! Tự dưng tôi nghe gần gũi lạ. Như đang ở nơi Đức Phật thường cùng các đệ tử dạo chơi, đàm đạo, và… uống trà!  Những con nai bây giờ cũng hiền lành như hồi đó. Lang thang  trong khu vườn xanh mướt hoặc ngẩn ngơ bên bờ suối, rừng cây, hồ nước…  Chúng thân thiết sẻ chia những mẩu bánh cám cùng du khách, lửng thửng bước theo họ. Dịu dàng, thong dong và tĩnh lặng.  Và ơ kìa, một trà thất trên sườn đồi giữa vườn nai. Trà thất chênh vênh, bấp bênh, đơn sơ mấy cọc rào tre, chơ vơ vài bức phướng dưới ngàn hoa lá đủ sắc màu. Mùa Đông như chưa qua mà mùa Xuân chưa đến hết, vẫn còn ngập ngừng đâu đó. Gần cửa trà thất là một tảng đá lớn tạc thành cái chén đường kính cả thước. Nuớc chảy từ một máng tre, tuồn tuột, leo lẻo. Một cái gáo tre vắt ngang, mong manh. Chén trà của Trời đất mà mỗi trà thất đều phải có như một biểu tượng.  Đúng là một trà thất của ngày xưa sót lại. Trà thất lặng lẽ mà ấm cúng. Khiêm cung. Cả cái cửa vào cũng khiến ta phải gập mình xuống để nhẹ nhàng lướt qua. Trong nhà ơ hay đông đúc mà im ắng lạ! Thì ra, họ đang thuởng thức món… cháo trà! Trà đạo ở Nhật không chỉ uống mà còn… ăn. Cháo trà. Cơm trà. Và,  có thể lắm, nhai trà, xỉa trà nữa không chừng! Cái ăn, cái uống… chẳng là đạo ư?

Bỗng dưng tôi nhớ đến trà của mình! Thứ trà vua mà các cung nữ phải bơi thuyền lắng lấy những hạt sương còn đọng trên cánh lá sen mỗi sáng tinh mơ,  đến ly trà đá mát rượi đất phương Nam,  rồi chè vối của cây đa bến nước, con đò, và… cô hàng chè yếm thắm. Lại nhớ Lâm Đồng với những đồi trà tít tắp xanh rợn chân trời và những cô gái nhấp nhô gùi trên sóng, những “cô nàng về để suối tương tư” thuở  nào.  Tôi lại nhớ thừ trà nõn, trà búp, trà con nít, trà móc câu Đà Lạt nhọn hoắc, trắng xóa. Uống thấy thương! Nó có cái vị đậm đà. Càng uống càng ngây ngất. Uống trà, với tôi, là uống với ai, uống ở đâu, uống lúc nào, và uống cách nào. Uống trà mà không biết mình đang uống trà thì thật là đáng tiếc cho trà vậy!

Tôi nhớ mãi buổi đến thăm nhà bác sĩ Matsuura, thưởng thức thứ trà đạo chính thống của Nhật do bà Matsuura, một giáo sư trà đạo tự tay pha chế dành cho những người bạn phương xa của chồng. Hóa ra vẫn còn đó những người phụ nữ Nhật của ngày xưa./.

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thơ & Đời TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

11/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa tròn 84 tuổi, vừa ra mắt tập “Thơ & Đời Tôn Nữ Hỷ Khương“, gom góp những bài viết của thân hữu và báo chí viết về Nữ sĩ… lâu nay in thành một tập chia sẻ với mọi người cho vui.

Trong tập này có một bài của Đỗ Hồng Ngọc viết về bài thơ Còn gặp nhau… (2010).

Dịp này, xin post lại để tặng bạn bè.

Trân trọng,

ĐHN

 

“Còn gặp nhau…”

Giữa lúc nhiều nhà thơ đua nhau làm mới thơ, “lạ hóa” thơ thì mấy câu thơ rất đỗi đời thường như một sự buột miệng, một tiếng thở dài, một lời tự nhủ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương có vẻ như… lạc điệu mà bỗng xuất hiện hằng loạt trên lịch, trên thiếp xuân, trên Agenda  và cả thư pháp các loại với đủ mọi chất liệu đá, cát, giấy, lụa… không khỏi làm cho ta phải ngạc nhiên! Có chút gì đó trái ngoe trong thi phú buổi này chăng?

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời…

(Tôn Nữ Hỷ Khương)

Và cứ thế, “Còn gặp nhau…”, “Còn gặp nhau….” lặp đi lặp lại, những lời tuồn tuột tự đáy lòng, có vẻ gì đó như một giật mình, thảng thốt, bùi ngùi trong những buổi hàn huyên giữa những bạn bè gần xa. Thơ như nói,  như chẳng hề có chút đẽo gọt, dụng công…- tạm gọi là “thơ nói”- cũng đã có từ xưa xa:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao…

(Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Làm sao mà những câu “thơ nói” đó rung động lòng người, khiến người ta giật mình đánh thót, mà ngộ, ai cũng nhớ, cũng thuộc, và mỗi khi có dịp thì lẩm nhẩm: còn gặp nhau, còn gặp nhau…

Thì ra giữa thời buổi trái đất chỉ còn là một hòn bi xanh, một “thế giới phẳng” nhỏ xíu trong lòng bàn tay, mọi chuyện trên trời dưới biển gì cũng mồn một trước mắt,  truyền thông đa phương tiện tràn ngập đến không còn chút thong dong, người người vẫn thấy nhau, vẫn “thơn thớt nói cười” với nhau mà hình như chẳng bao giờ gặp nhau!

Rồi hình như  người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận được cái mong manh của đất trời, của thiên hà trong ngàn tỷ thiên hà trôi dạt, của kiếp người sương khói trong bối cảnh lạ lùng chiến tranh, dịch bệnh, bão lũ, sóng thần, động đất… triền miên!

Rồi hình như người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận sờ sờ trước mắt cơn đại hồng thủy sẽ ập tới vì trái đất nóng lên, con người đua nhau hủy diệt thiên nhiên, môi trường sống của mình, để rồi đâu đâu cũng thấy “những cảnh sửa sang tầm thuờng giả dối/ hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng” (Thế Lữ) với dừa giả, cau giả, hoa giả, đồi giả, núi giả… !.

Thú vị là những câu thơ dung dị đó của Hỷ Khương được nhiều người thuộc lòng, buộc miệng nói ra… đến nỗi người viết thiệp cũng viết, in lịch cũng in, đục đá cũng đục… mà chẳng cần biết tác giả là ai. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa nó sẽ trở thành những câu ca dao như “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…” bởi thế hệ nào mà chẳng có người trèo lên cây bưởi, thế hệ nào mà chẳng có người kêu lên “Còn gặp nhau…” ?

Có lẽ Tôn Nữ Kỷ Khương mang cái gien của phụ thân, cụ Ưng Bình Thúc Giạ. Những câu hò “Chiều chiều trứơc bến Văn lâu/  ai ngồi ai câu / ai sầu ai thảm/ ai thương ai cảm/ ai nhớ ai mong.. thuyền ai thấp thoáng bên sông/ đưa câu mái đẩy chạnh lòng nứơc non…”  nhiều người vẫn thuộc mà vẫn tưởng là một khúc hát dân gian, chẳng nhớ tác giả là ai!   Cụ Ưng Bình cũng đã viết nên những câu thơ tưởng như câu nói bình nhật:

Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!

để nói về một thuở làm quan của mình. Hay:

Biết đủ dầu không chi cũng đủ/
Nên lui đã có dịp thì lui…

lúc ung dung trở gót.

Do đâu mà những câu thơ của nhiều ngàn năm trước trong Kinh Thi vẫn còn làm cho lòng ta xao động? Ấy bởi vì nó nói từ nỗi lòng, “thốn tâm thiên cổ”, nên dù đựơc viết dưới bất cứ dạng ngôn ngữ nào, hình thức nào thì cái hồn của thơ vẫn là cái cảm xúc nhân tình. Hư Chu, ngàn năm trước, viết tựa cho tập truyện Kinh Thi đã hỏi: Thơ tại sao mà làm ra? ( Thi hà nhi chi tác dã?) Để rồi trả lời: vì nó là tiếng kêu của cõi lòng!

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui!…

Đỗ Hồng Ngọc

Comments trên trang www.dohongngoc.com

Giang says

30/04/2010 at 6:45 chiều
Thưa thầy, “thơ nói” nhưng cũng là “thơ hát” nữa, nó run rẩy theo từng nhịp điệu, cung bậc của cõi lòng, em rất thích nghe ngâm thơ với tiếng sáo họa theo, nhưng rất tiếc hình thức thơ biểu diễn thế này gần như đã không còn thấy nữa.

Huyền Trân says

02/05/2010 at 11:18 chiều
“Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui”

Hai câu thơ của cự Ưng Bình hay quá chú Ngọc ơi! Có lẽ đó là điểm chung của nhiều “cõi lòng” . Vậy nên những “cõi lòng” cứ mãi thổn thức:

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui” ,
vì
“Chỉ có tình thương để lại đời” …

Ngọc Đài says

04/05/2010 at 11:02 chiều
Chúc bác Ngọc luôn khỏe mạnh, mỗi lần buồn hay thất vọng về cuộc sống cháu luôn nhớ đến bác với một hình ảnh người thầy thuốc sống lạc quan. Cháu luôn mong bác khỏe mạnh để còn có thể viết nhiều hơn nữa, để làm cuộc sống này đẹp hơn!

Giang says

05/05/2010 at 6:26 chiều
Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!
Đọc lại bài viết này, 2 câu thơ “đời” quá.

Phương Bối says

06/05/2010 at 2:28 sáng
Xin cám ơn bác sĩ ĐHN.

Thật là vui quá khi bây giờ được “gặp” ANH thường xuyên hơn…

Đúng như anh đã …hứa “Có lẽ bây giờ mình mới có nhiều thì giờ hơn để… làm việc!” (16/04/2010 lúc 7:03 sáng ĐHN )

Bac Si Do Hong Ngoc says

06/05/2010 at 7:37 sáng
Giang thấy không, nhà thơ viết: “ra sân khấu” và “hạ vai tuồng”… chẳng phải rất “đời” đó sao? Nếu ai cũng hiểu “đời” như vậy, có lẽ sẽ bớt “cương” trên sân khấu. Em thấy không, nhà thơ viết “ít hổ ngươi” chứ chẳng phải không hổ ngươi! Đã đóng tuồng thế nào cũng có người chê kẻ khen, thế nào cũng có lúc sơ sót, nên ít hổ ngươi đã là tốt lắm rồi! Thầy cảm ơn em.

Tịnh Phan says

11/05/2010 at 3:05 chiều
Hai câu thơ đúng là rất “đời”.
“không làm rộn”, “ít hổ ngươi” thể hiện sự khiêm tốn, tự trọng, liêm khiết của “quan”, chứ đâu như:
“Thuở ra sân khấu tha hồ múa,
Hạ cánh an toàn sống khỏe re.”

Bac Si Do Hong Ngoc says

11/05/2010 at 4:00 chiều
Hay! Quan xưa khác quan nay co chút xíu đó thôi Tịnh Phan ơi!

Giang says

11/05/2010 at 4:46 chiều
Dường như càng hiện đại, càng đầy đủ về mặt vật chất thì con người lại càng thiếu thốn về mặt tinh thần… giữa người với người là sự lạnh nhạt vô cảm với “ánh mắt nhìn ráo hoảnh nhân danh áo cơm”. Trong cuộc đời xô bồ, trong cái sân khấu ấy, mỗi người vào vai một nhân vật, để rồi khi hạ vai xuống, còn lại gì 2 từ “hổ ngươi” !

hoang hoang says

13/07/2010 at 10:55 chiều
nỗi lòng cũng đang ngỗn ngang. đoc bai của BS thấy rưng rưng quá. Thanks

hoang hoang says

13/07/2010 at 10:58 chiều
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…..Chỉ có tình thương để lại đời…trong ”con đường đau khổ’ cung có câu rất hay : những cuộc chiến tranh rồi sẽ im ắng.. chỉ có tình yêu là còn lại

dong ha says

08/06/2011 at 6:39 chiều
“Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui”

Thơ hay nhưng làm được như thơ thật khó!

Bac Si Do Hong Ngoc says

09/06/2011 at 9:01 sáng
Bạn nói đúng đó dongha ơi! Chúc sức khỏe.

dong ha says

09/06/2011 at 11:16 chiều
Chào Bác sĩ ạ.ĐH không giỏi viết chỉ thích đọc và cảm một mình thôi.Gần đây đọc trang nhà của Bác sĩ nhiều cái hay nên cao hứng bày tỏ một chút Chúc Bác sĩ sức khoẻ viết nhiều bài hay để có lúc ĐH như thấy mình trong đó…!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

10/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Will Durant, tác giả Nguồn gốc văn minh (bản dịch Nguyễn Hiến Lê) cho rằng đỡ đẻ là nghề Y đầu tiên của loài người. Con người tự nhiên mà biết… đẻ và đỡ đẻ, rồi kinh nghiệm cứ tích lũy dần lên. Trong một thời gian dài của lịch sử, bà mẹ tự đẻ và tự đỡ cho mình, cũng chẳng cần ai giúp. Bây giờ vẫn còn thấy ở một số nơi bà mẹ đau đẻ chạy vào rừng, ôm lấy gốc cây, lòm còm, lom khom rặn đẻ, đẻ xong, tìm tre nứa cắt rún cho con rồi bế con còn đỏ hỏn nhúng vào nước suối lạnh ngắt cho khóc thét lên càng to càng tốt…

 

Ở ta ngày xưa, không lâu lắm, dưới thời Pháp thuộc thôi, theo Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, sản phụ sau sanh khi rốn rụng còn ướt thì lấy đất vách bôi vào; cuống rốn được cất kỹ để khi bé ốm đau đem đốt cho uống… Gặp trường hợp sinh khó, rặn lâu ra thì ông chồng phải leo lên mái nhà, cởi hết các nút lạt, hoặc nhổ hết các cọc rào, hy vọng nhờ vậy mà vợ dễ sinh! Có khi ông chồng phải lội qua sông, nhảy qua ao, quậy nước trong lu cho bé được trơn, dễ ra.

 

Hơn 50 năm về trước, thời tôi còn học Y khoa, phải học đến năm thứ ba, chúng tôi mới được thực tập đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 ca sanh thường, nghĩa là không có bệnh lý. Đêm nào chúng tôi cũng phải trực để “bắt ca”, nghĩa là chọn những ca tương đối dễ một chút theo chỉ dẫn của các cô nữ hộ sinh, rồi bám theo săn sóc, hỏi bệnh sử, làm hồ sơ bệnh án. Đưa sản phụ về phòng, thông nước tiểu, thông trực tràng, làm vệ sinh các thứ… theo dõi cơn co tử cung, tim thai, ghi vào hồ sơ thật chi tiết. Có bà lúc đau bụng sanh, chửi chồng tưng bừng, coi như ông là nguyên nhân gây ra nỗi đau khổ này! Ông chồng trốn mất, đến lúc sanh xong mới toe toét cười. Khi những cơn rặn cuối cùng đẩy được phần chỏm đầu em bé ló ra, phải làm sao khéo léo để không làm rách tầng sinh môn. Một tiếng khóc thét lên của bé. Bé khóc càng to thì chúng tôi càng cười rạng rỡ. Vì nếu bé không khóc thì nguy! Phải đét vào mông cho bé khóc, rưới alcool lạnh tạo kích thích hô hấp. Đâu đó xong xuôi, mới thở phào nhẹ nhõm. Dĩ nhiên không phải mọi lúc đều trơn tru tốt đẹp như vậy. Có khi, thai chuyển ngược, không thò đầu mà thò ra một cánh tay. Có khi cuống rốn quấn mấy vòng ở cổ làm bé nghẹt thở, có khi sót nhau, có khi đẻ xong một lúc lại xuất hiện thêm một bé nữa… (thời đó chưa có siêu âm).

 

Điều thú vị trong “khoa học” đỡ đẻ là đi lòng vòng một hồi rồi trở lại với “tự nhiên”. Trước kia tại Âu Mỹ, sanh đẻ một cách “khoa học” là được gây mê, mổ xẻ, cách ly mẹ con ngay sau sanh, nhưng từ vài chục năm nay đã trở lại phương pháp tự nhiên, cho sản phụ sanh đẻ trong khung cảnh gia đình, có mặt đức ông chồng bên cạnh, khi sanh xong thì cho bé nằm ngay với mẹ để được bú sớm và cho bà mẹ đi lại ngay. Gần đây có “ngân hàng máu cuống rốn” nhằm tồn trữ trong kho lạnh chừng 3cm cuống rốn để sử dụng sau này kh itrer mắc bệnh nặng như ung thư, suy tủy. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đã có ngân hàng máu cuống rốn dành để cấy chữa bệnh về máu. Lạ là không biết tại sao người xưa đã biết tồn trữ cuống rốn dành để chữa bệnh!

 

Ở Thụy Điển, một nước có tỷ lệ tử vong mẹ thấp nhất thế giới, thấp gần 4 lần của Mỹ, và 8 lần của Nhật, việc sinh đẻ hiện nay đã ngày càng gần gũi với tự nhiên. Thí dị, bà mẹ không cần phải nằm trên bàn sanh, dạng chân ra ở một tư thế khó chịu, có khi còn bị cột tay chân cho khỏi té, thì bây giờ người ta cho bà mẹ tự chọn tư thế sao cho thoải mái, bớt đau, như ngồi xổm, ôm lấy người thân, ôm ghế (như ôm gốc cây); các vụ thụt tháo trực tràng, cạo lông… đều không cần thiết vì không ích lợi gì mà còn làm sản phụ khó chịu. Lúc sanh có thể ở trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, quỳ xổm, ngồi ghế thấp, dạng chân, nằm nghiêng, bò… miễn sao được thoải mái. Tư thế tự nhiên này còn giúp cho cổ tử cung mau nở trọn. Cắt tầng sinh môn cũng rất hạn chế. Người thân, nhất là ông chồng, được tham gia trong quá trình sanh đẻ của sản phụ, sẽ rất tốt về mặt tâm lý cho bà mẹ, chẳng khác ngày xưa ta bắt ông chồng lội qua sông, quậy nước ao… Bé sinh ra được ủ ấm ngay (như nằm lửa). Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy chính nhờ nằm lửa đã cứu sống nhiều trẻ, do thường bị sanh non, thiếu ký, suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ, rất kém chịu lạnh. Chuyện đánh thuốc mê, sanh mổ… rất ít khi xảy ra. Tóm lại, họ gần như trở về với tự nhiên, chỉ khác một chút là hoàn toàn vô trùng và nhờ đó mà cuộc đẻ rất thoải mái và an toàn. Khoảng cách giữa khoa học và tự nhiên vừa xa xôi mà lại vừa gần gũi biết bao!

 

*

Nhưng “vậy mà không phải vậy”! Những tưởng cuộc sanh nở của người mẹ sẽ được hoàn toàn êm ái và nhẹ nhàng, vừa khoa học vừa gần gũi với tự nhiên, nhưng không. “Khoa học”… đã can thiệp một cách không nương tay: sanh mổ đang gia tăng một cách đáng ngại!

Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) khuyến cáo, các cuộc sanh mổ (mổ bắt con) phải có chỉ định y khoa rõ ràng và tỷ lệ phải nên nằm trong giới hạn 5-10% cho phép, không được vượt quá 15%, vì nếu vượt quá con số này sẽ mang đến những tai biến cho cả mẹ lẫn con. Theo TSBS Vũ Thị Nhung, Hội Y học Tp.HCM thì trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, số trường hợp sanh mổ tiếp tục tăng cao trên thế giới: Ở Mỹ tăng lên đến 32,8%, ở Anh tăng gấp 5 lần so với trước; ở Trung Quốc- nếu năm 1966 tỉ lệ này là 2,4% thì đến 2010 đã tăng đến 46%, trong đó 25% là các trường hợp không vì lý do y khoa- Ở Việt Nam, tại BV Phụ Sản Trung ương, tỷ lệ này vào những năm 60 là 9%, đến năm 2005 tăng lên gần 40% và hiện nay trên 50%.

Tại Hội nghị sản phụ khoa Việt – Pháp 2019, theo PGS.TS Trần Danh Cường – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương thì tỉ lệ “mổ đẻ” hiện nay tăng nhanh: Trung bình tại TP.HCM khoảng 30%, bệnh viện Phụ sản Trung ương 50%, nhưng có những bệnh viện con số này lên đến 60%. Theo ông, một trong những nguyên nhân là chi phí cho việc mổ đẻ với sanh thường rất khác nhau (Báo Lao Động).

*

Hy vọng tương lai không xa, có một bệnh viện sản khoa “cao cấp” nào đó quảng cáo “Nơi đây sanh đẻ tự nhiên một cách khoa học” và nhiều bà mẹ sẵn sàng trả chi phí cao để được sanh đẻ bình thường.

(Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 327, Vu lan, Phật lịch 2563 (2019)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 19
  • Trang 20
  • Trang 21
  • Trang 22
  • Trang 23
  • Interim pages omitted …
  • Trang 56
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email