Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Kể chuyện thăm Úc châu 10.2019

26/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đỗ Hồng Ngọc kể chuyện thăm Úc châu 10.2019

Theo thông lệ, mỗi Thứ bảy đầu tháng Ban Phật học Chùa Xá Lợi đều có một buổi sinh hoạt “Chuyên đề”. Kỳ này, nhân chuyến đi thăm Úc châu vừa rồi của tôi, các bạn có nhã ý mời tôi “kể chuyện” về chuyến đi này của mình, đặc biệt trong dịp này tôi đã có vài buổi chia sẻ về “Phật học và Đời sống” tại chùa Quang Minh, Melbourne, Australia.

Dù thời gian ở Úc chỉ có 3 tuần ngắn ngủi, nhưng tôi cũng đã “tranh thủ” đi cho biết đó biết đây và bây giờ lai rai kể chuyện cùng các bạn…

Rất cảm ơn nvquyen đã thực hiện video clip này và cảm ơn Nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, cùng các bạn hữu đã đóng góp nhiều ý kiến sôi nổi…

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Vài đoạn hồi ký

Hồ Đắc Đằng: Vô Kỵ học đi biển

21/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Tiếp tục loạt vài “Vô Kỵ…” rất đặc sắc của Bs Hồ Đắc Đằng. Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn.

Nhớ đọc từ bài thứ nhất: “Vô Kỵ Học Võ” trên trang www.dohongngoc.com này nhé.

Bạn Võ Quang (Đèn Biển) đã giúp chuyển bản viết tay của Hồ Đắc Đằng (chữ bác sĩ đọc không ra!) thành bản Word để có thể post lên như thế này! Đa tạ Đèn Biển!

Thân mến,

ĐHN.

…………………………………………….

Vô Kỵ học đi biển

Hồ Đắc Đằng

 

Vô Kỵ vốn sợ chết chìm nên cực chẳng đã nó mới xuống thuyền để qua đò. Thế nên khi thầy nó đề nghị dạy nó đi biển là nó từ chối liền.

– Vô Kỵ nầy. Đi biển là cả một nghệ thuật. Nhất là đi biển trong đêm.

Trời đất, Vô Kỵ ngẫm nghĩ trong đầu, nhưng không dám nói ra. Ban ngày đã là không bờ, không bến, chẳng biết đâu là đâu, bây giờ bắt đi ban đêm thì có chịu chết.

– Nầy Vô Kỵ – thầy nó đoán cái tâm của nó đúng phong phóc – con còn nhớ thầy dạy con bắn cung? Bắn cung mà nhắm mắt mà bắn đúng trăm lần như một? Đấy đi biển ban đêm mà không bao giờ lạc, mà không bao giờ đụng đá ngầm là như vậy.

Vô Kỵ nó có nhớ cái vụ bắn cung nhắm mắt nầy mà nó vẫn chưa tưởng tượng ra liên hệ thế nào đến đi biển ban đêm.

Hải đăng (Đèn biển): Đèn để tránh.

Nghe thầy nó nói đến hải đăng Vô Kỵ sáng mắt lên:

– Thưa thầy, để con kể chuyện tiếu lâm về hải đăng thầy nghe. Có một thủy quân đề đốc hạm trưởng. Một đêm tàu ổng thấy có một ánh đèn đằng xa. Ổng đánh diện “Hạm trưởng chiến hạm tuần dương, tránh ra chỗ khác”. Điện trả lời “Binh nhì hải quân, không tránh, ông phải đổi hướng”. Hạm trưởng “Bất phục tùng, sẽ cho ra tòa án quân sự”. Trả lời “Tòa không xử được. Đây là hải đăng”. Hạm trưởng vâng lời, bẻ lái.

Thầy nó biết cái chuyện nầy rồi nhưng vẫn cười thỏa thích với nó.

– Ban đêm – thầy nó dạy – hải đăng là để con biết chỗ nào để tránh. Hải đăng cố định, vững như núi, tám gió không động. Trong võ nghệ, xuống tấn, bàn tay năm ngón đưa về phía trước để thủ thế. Ngũ giới là 5 cái không làm. Hải đăng chỉ một cái: người đi thuyền ban đêm phải tránh.

Hải đăng: Ánh sáng phải nhắm.

– Phải nhắm? – Vô Kỵ kinh ngạc – Đi biển ban đêm mà thấy một ánh sáng từ xa mà phải nhắm vào nó?

– Đúng, phải nhắm vào nó, đến phút chót. Trong đời sống tâm linh, cái đèn con nhắm là cái ánh sáng từ bên trong, từ nội tâm, của Bát nhã. Bên ngoài có ngũ giới để tránh, bên trong có Bát nhã để hướng thì khỏi đi lạc.

– Liên hệ thế nào với đi biển ban đêm, thưa thầy?

– Có một nước ở Nam Mỹ, hồi xưa, cả ngàn năm trước, có nền văn minh rất cao. Dân tộc Maya, vùng Yucatan bây giờ của Mễ tây cơ. Lúc đó làm gì có GPS hay vệ tinh. Họ tìm ra một cách rất thần kỳ để hướng dẫn tàu bè của họ trở về đất liền, an toàn không đụng đá ngầm.

Vô Kỵ bắt đầu tò mò. Đá ngầm. Đúng thật, đụng đá là chết, ban ngày đã khó thấy rồi. Ban đêm, đèn sáng cách mấy cũng chẳng hơn được gì. Để một cái hải đăng nhỏ ở đó thì là tiện nhất, cần gì phải sáng chế cái gì khác.

– Dân Maya rất thông minh. Chỗ biển của họ có nhiều đá ngầm. Tàu bè của họ đụng mấy đá ngầm cả trăm năm rồi nên họ có kinh nghiệm. Họ đánh dấu đá ngầm. Họ khám phá ra có một hải đạo rất hẹp đi thẳng vô thành phố, không có đá ngầm. Khổ một nỗi, hải đạo nầy rất dài mà ban đêm thì mấy dấu hiệu không thấy được. Họ bèn xây một cái tháp bằng đá, cao bằng 10 tầng lầu, kiểu Kim tự tháp ở Ai Cập nhưng nhỏ hơn. Trên đỉnh tháp, họ xây một cái phòng, chỉ có một cái cửa sổ, hẹp và cao, hướng ra biển. Ở cuối phòng, xa cửa sổ, họ đốt lửa to. Ánh sáng thoát ra khỏi phòng chỉ có thể qua cửa sổ thôi. Cái chùm ánh sáng nầy rất hẹp vì nguồn sáng ở xa khe hở. Một người nào đó chỉ thấy được ánh sáng nầy khi nào họ đứng ngay trong chiều của chùm ánh sáng nầy.

Vô Kỵ vỗ đùi cười ha hả. Nó bắt đầu hiểu cái trí thông minh của người Maya.

– Thành ra, từ ngoài biển khơi – thầy nó giải thích tiếp – thuyền nào mà thấy được chùm sáng nầy là an toàn trong cái hải đạo không đá ngầm nầy. Lệch qua một chút, không còn thấy ánh sáng nữa, họ biết ngay là phải lái trở lại một chút. Cứ thế mà từ từ tiến về đất liền an toàn.

– Hay quá. Hay quá, dân Maya thông minh thật.

– Con học được bài học gì, Vô Kỵ?

– Bài học gì, thưa thầy? Dĩ nhiên là dân Maya muốn về an toàn thì về ban đêm là tốt nhất. Ban ngày, đá ngầm thì không thấy mà ánh sáng của lửa trên tháp làm sao thấy được.

Đôi khi, từ khổ đau mà tỉnh thức

Khổ đau có thể ví như đêm dài. Đêm dài có thể đưa đến trầm cảm, tuyệt vọng. Thế nhưng, có những lúc, có những hoàn cảnh mà đêm trở thành quá dầy, nó có thể đánh thức một cái ánh sáng giác ngộ mà đã có sẵn ở đó từ bao giờ mà ai đó không thấy được vì cái gì cũng trôi chảy, dễ dàng.

“Đôi khi một cái đau khổ cùng tột lại là một tiếng chuông làm cho người ta giật mình, tỉnh giấc ra khỏi mộng đời”

(Sometimes extreme suffering turns out to be a waking up call for somes) *

(HĐĐ)

………………………………………………………………………………………………

* Đọc được trong một buổi học CME (Continued Medical Education) ở Boston

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Sáng, Trưa, Chiều, Tối…

17/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI…
Đỗ Hồng Ngọc

(ĐHN)

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý !Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh củi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…

Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?

Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát-nhã”, “trăng Lăng-già”!

Chẳng đủ cho một ngày Sáng, Trưa, Chiều, Tối… cho mỗi chúng ta đó sao?

 

Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn.

Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi?”.

Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác!”.

Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật?”.

Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!”.

Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻ n đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh – Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy-ma-cật Sở thuyết mà tâm địa bừng ngộ.

Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên. Huệ Năng trách: Phàm làm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?

Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại – Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).

Huệ Năng đáp: Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.

Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.

Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy! Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.

Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi. Về chóng thế sao?

Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!

Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca: Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân. Vô minh thực tánh tức Phật tánh, Ảo hoá không thân tức Pháp thân. (…)

 

Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy-ma-cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại – là những Bồ-tát tại gia tương lai – tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.

Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết-bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ-tát này sẽ ăn thức gì đây?”.

Duy-ma-cật: “Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”. Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.

Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.

Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có Đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.

Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một  chút xíu thức ăn thừa  thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ “thức ăn chưa từng có” đó là một thứ “vô tận hương” đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng Hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hý luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

Thuyền Bát-nhã

“Bát-nhã” lúc nào cũng phải có … “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bả o các đệ tử: Qua sông rồi còn vác bè theo chi cho nặng!

Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát-nhã luôn là Bát-nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.

Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát-nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát-nhã, sống trong Bát-nhã thì… cái núi Tu-di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !

Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lỏng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát-nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

Trăng Lăng-già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử …” giữa đêm trăng Lăng-già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ -tát.

Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như Lai tạng, bằng “tự chứng tự nội”…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng-già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cấ t tiế ng cườ i to. Á nh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lại-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau… Bồ-tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không – Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí . Đại viên cảnh trí .

Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như Lai vậy.

Đỗ Hồng Ngọc | Văn Hóa Phật Giáo s333 ngày 15-11-2019

(thuvienhoasen.org)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Đỗ Hồng Ngọc: Đi & Học

13/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Đi & Học

Ghi chú:

Tháng 2-2015 khi đi café với một người bạn trẻ về đến nhà thì nhận được 3 cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày cả ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình, ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại và email, ký tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẫn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa!

Nguyễn Hiền Đức (5 Hiền), trước 75 là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư tưởng, và là thư ký riêng của HT Thích Minh Châu, phụ trách Tu thư ở đại học Vạn Hạnh. Anh tốt nghiệp Báo chí và Xã hội học, rồi cao học Sử, đại học Vạn Hạnh. Đó là một người nghiêm túc, cẩn mật, nhiệt tâm, và rất dễ thương…

Nguyễn Hiền Đức đã về ở Cali mấy năm nay. Giờ anh cũng vào tuổi  75- nghĩa là còn khá trẻ- đã cùng với Nguyễn Minh Tiến, Văn Công Tuấn… thành một nhóm “Tam Nguyên”…

Đọc loạt bài “Úc du”… một chuyến của mình trên trang này, anh bỗng có sáng kiến gom lại thành một file “trọn bộ” 7 bức thư để bạn xa xôi dễ đọc, thay vì tản mác khó tìm. Đây là một ý rất hay, bởi tìm đọc các bài rải rác, dù chung một chủ đề cũng không phải là dễ ngay trên www.dohongngoc.com của mình. “Được voi đòi tiên”, mình bèn nhờ anh 5 Hiền gom luôn cho bài Về thăm xứ Phật, Nepal và Về Huế thăm chùa, vào chung trong một tập lấy tên là Đi & Học.

Vậy là có ngay một “tệp”– chữ của 5 Hiền- để gởi đến các bạn tùy hỷ.

Đa tạ bạn… Hiền!

Đỗ Hồng Ngọc.

(13.11.2019)

Vui lòng xem Ebook tại đây:

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

“BIẾT ƠN MÌNH” giữa Mùa Thanksgiving!

11/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“BIẾT ƠN MÌNH” giữa Mùa Thanksgiving!

 

 

Bạn thân,

Khi lần giở quyển sách này, có thể bạn sẽ chép miệng: Tưởng gì! Mấy bài này mình đã đọc rải rác đâu đó của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc rồi thì phải. Có cái gì mới đâu?

Bạn hoàn toàn chính xác. Có cái gì mới đâu? Cũng ăn, cũng ngủ, cũng hít thở, cũng lo âu, cũng căng thẳng… Có cái gì mới đâu!

Cái mới, nếu có thể nói vậy, chính là sự chắt lọc, gom góp, sắp xếp… vào chung một chủ đề.  Ở đây là “Sức khỏe và Đời sống” của một người có tuổi, để mong có một nếp sống mạnh khỏe hơn, an lạc hơn… và chia sẻ với mọi người.

Được không? Được. Tùy mình. Có cụ già sống khỏe vui đến trên trăm tuổi, được nhà báo phỏng vấn hỏi “bí quyết”. Cụ cười, có gì đâu, sáng nào thức dậy tôi cũng tự hỏi mình hôm nay nên ở Thiên đàng hay nên ở Địa ngục đây? Rồi ngần ngừ một lúc, tôi quyết định nên ở Thiên đàng. Vậy là Thiên đàng tức khắc bày biện ra cho tôi. Tôi được sống một ngày an lạc, hạnh phúc.

Tôi nay ở tuổi 80. Mà nói như Trịnh Công Sơn: “Chút nắng vàng… giờ đây cũng vội”! Cho nên phải “Về thu xếp lại” thôi! 

Mà “Thu xếp lại” tức là nhặt nhạnh, là gom góp, là chắt lọc, là sắp xếp lại…  Chẳng có gì là trầm trọng ở đây cả đâu. Vui thôi mà! (Bùi Giáng).

Biết Ơn Mình là một giai đoạn cần  thiết. Không có “sắc” thì làm sao có “thọ, tưởng, hành, thức”  phải không? Cuộc hành trình “Về thu xếp lại” rồi sẽ có nào Lõm bõm học Phật, nào Thấp thoáng lời kinh, nào Ghi chép lang thang… Tóm lại, còn sẽ tiếp tục “thu xếp” nếu điều kiện cho phép. 

Như chút quà tặng. Như chút sẻ chia.

Trong tình bè bạn.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 11.2019)

……………………………………….

Viết thêm: Biết Ơn Mình là một bài viết của tôi đã lâu, hình như in trong một cuốn nào đó cho người cao tuổi, không ngờ gần đây bỗng nhiên thấy lan tràn trên mạng internet. Nhiều bài thấy còn thêm minh họa với nhiều hình ảnh ý nghĩa, thú vị…

Một số các bài khác như “Bệnh Vô Duyên”, “Lang Băm”… cũng được chia sẻ lan tràn trên mạng giữa bạn bè với nhau như một lời nhắc nhở. Có vẻ như ngày nay mọi người thấy cần phải “biết ơn mình” nhiều hơn, và tránh đi những thứ làm cho mình thêm khổ đau…

Riêng theo tôi, bài quan trọng chia sẻ trong tập sách nhỏ này là bài Vè Thiền Tập: “Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?” để ai cũng có thể tự giúp mình…

ĐHN (11.11.2019).

(Bìa bên do ĐHN phác thảo với bức tranh (trời ơi!) của mình, nhưng bị  chê xưa quá, không dùng!

Dĩ nhiên bìa mới do các họa sĩ trẻ trình bày mang  nhiều ý nghĩa hơn).

Thôi kệ.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Ở nơi xa thầy thuốc

Thơ Trần Vấn Lệ MÙA VÔNG PHAN THIẾT CŨ

09/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thơ Trần Vấn Lệ

MÙA VÔNG PHAN THIẾT CŨ

Hè rồi… Phan Thiết đỏ hoa vông, tôi ở xa xôi nhớ quá chừng! Nhớ chỗ mình sinh, mình được lớn, một thời thơ dại vượt con sông. Con sông đầy xác hoa vông rụng quấn quyện chân cầu không muốn trôi… Mà biết bao nhiêu người bỏ xứ, đi đâu? Có thể cuối chân trời! Phan Thiết của tôi và của bạn, sáng nay ai nói rất buồn hiu. Tôi ngồi với bạn bên hè phố, khuấy cốc cà phê tưởng thấy chiều! Chút khói chiều vương vương hoa vông. Phan Thiết khi không nhớ não nùng. Xe ngựa cọc cà đi cọc cạch, bạn buồn khuấy mãi muỗng coong coong… Đó, hồi Phan Thiết còn xe ngựa,

internet

con ngựa đôi khi hí giữa đường. Giờ, giữa đường đây, trời đất khách. Thuốc tàn mấy điếu khói vương vương…

Bạn tôi vừa ném quăng tàn thuốc. Tôi bật diêm mồi điếu của tôi. Thời tiết tàn Xuân nghe bức bức, vung tay tưởng chạm tấm lưng trời…
Hè rồi… Phan Thiết Hè không muộn, chỉ muộn màng tôi nếu trở về: mồ mả Tổ Tiên dời mấy bận, cháu con tản lạc nén nhang khuya! Bây giờ mà gục bên hè phố, ai đỡ giùm ai cái xác tù? Bạn đứng dậy đi, tôi cũng bước, từ nay Phan Thiết nhớ thiên thu! Từ nay hỡi nhánh hoa vông cũ, có nhớ gì ai Phan Thiết xưa? Một chặng thời gian không cắm mốc, tình Quê Hương lấy thước nào đo?
Tình Quê Hương hỡi Cha và Mẹ, con lỡ làng như hoa vông rơi…
Trần Vấn Lệ
………………………………………………………………..
Một bạn đọc từ Miền bắc xa xôi đã hỏi về Hoa vông?
Tôi nghĩ không gì tốt hơn post lại bài thơ này của Nguyễn Thị Kim Liên, một cựu học sinh của trường Phan Bội Châu Phan Thiết (bài đã đăng trên www.dohongngoc.com).

Nhớ hoa vông và chim sáo

 

Đâu chỉ đỏ thôi, còn nghễu nghện

Quyến chim, dụ trẻ nhất trên đời

Trẻ cúi nhặt hoa reo tở mở

Sáo hội trăm phương tấu ỏi trời!

 

Nghi có lõm rừng lòng phố thị

Tò mò lũ sáo kéo nhau về

Chao ôi sửng sốt màu vông lửa

Sà xuống vòm hoa sáo chết mê!

 

Ta, bạn đâu rồi năm tháng ấy?

Vườn vông đã cỗi sáo bay xa

Có ai cũng nhớ như ta nhỉ?

Bổi hổi trời xuân Phan Thiết xưa!

 

Nguyễn Thị Kim Liên

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Úc du”… một chuyến (kỳ 7)

01/11/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Úc du”… một chuyến

(kỳ 7, tiếp theo và… hết!)

 

Nói “Úc du”… một chuyến là vì khó mà có dịp trở lại nơi này vì tuổi đã cao, lần đi lần khó. Nhưng cũng vì “lòng muốn còn nhiều” (Đoàn Chuẩn) nên mình cứ còn ham biết đó biết đây. Do vậy, dù thời gian 3 tuần ngắn ngủi, vẫn “cưỡi ngựa xem hoa” cho thỏa thích. Đừng phiền nhe.

  1. Phải thăm Đại học Melbourne chớ phải không? Bác sĩ Trần Quốc Đông, người bạn cùng lớp cùng trường, đẹp trai và có nhiều uy tín với cộng đồng tại đây đã dành một buổi đưa mình đi thăm Đại học Melbourne, thăm Vườn hoa, nhà Thuyền trưởng Cook, và… tổ chức một buổi ăn tối thịnh soạn, buổi họp mặt “như thường lệ” khi có các bạn đồng nghiệp từ phương xa đến thăm Melbourne. Trong buổi họp mặt này mình đã gởi tặng Bs Trần Xuân Dũng, người đàn anh mình rất quý mến từ thời còn làm chung báo Tình Thương của Sinh viên y khoa Saigon (1963-1967) cuốn Thầy thuốc & Bệnh nhân của mình mới tái bản. Bs Dũng là Thư ký tòa soạn đầu tiên của báo Tình Thương và sau đó là Bs Ngô Thế Vinh. Anh nhắc lại ngày xưa thường hối thúc Đỗ Nghê gởi Thơ cho Tình Thương vì từ thời đó, Thơ Đỗ Nghê đã có nét riêng đáng mến…

Bs Trần Quốc Đông và Đỗ Hồng Ngọc ghé thăm trường Đai học Melbourne…

Cafe ở quán sinh viên bên hiên trường

 

 

và nắng sân trường làm nhớ quá những khung trời đại học…

 

Bs Trần Xuân Dũng và Đỗ Hồng Ngọc (Melbourne 16.10.2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Rồi cùng anh Tuấn ghé vào một thư viện:

thư viện Cộng đồng ở khu St Albans, không ngờ thấy có sách của Đỗ Hồng Ngọc… Người thủ thư nói sách hiện đã được mượn hết…

3. Rồi ghé thăm một Nursing home coi người ta làm ăn ra sao:

một Nursing Home, chủ yếu dành cho người Việt…

 

4. Cô Mỹ Lý, người phụ trách phiên dịch cho Đức Đạt Lai Lạt Ma mỗi khi Ngài đến chùa Quang Minh đã đưa mình đi thăm khu “Tây balo” ở Melbourne, với những con đường hẽm nhỏ hết sức thú vị… đầy quán cafe, quán ăn và đầy người bốn phương qua lại. Ở đây, những người vô gia cư, lỡ độ đường, túi không xu, có thể ghé vào một quán ăn… xin một phần ăn miễn phí. Thì ra, có những người có lòng, đã mua sẵn các phần ăn ở quán dành cho họ. Đúng là bố-thí “ba-la-mật” đây rồi còn gì.

Cô Mỹ Lý và ĐHN trong khu phố “Tây balo”…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Rồi ghé đến thăm chiếc cầu xinh đẹp trên sông Yara, quán Sake, gần  Khu triển lãm và trình diễn Nghệ Thuật…

Vâng, “nghệ thuật” là một thứ thuốc…

Sông Yara, trung tâm City

 

 

5. Không thể không ghé Bảo Tàng phải không? Rất nhiều điều để học. Vé vào cửa 15d với người cao tuổi (người trẻ 26d). Mình nói mình ở Việt Nam qua, bao nhiêu?… Cô nhân viên gõ gõ… rồi đưa tờ giấy “miễn phí”. Miễn phí luôn cho cả anh Tuấn. Vui ghê! Người Úc nói chung hiền hòa, dễ thương, nhã nhặn và lúc nào cũng có nụ cười…

Và đây, những bộ xương khủng long… ai ngờ là con thằn lằn ngày nay!

ảnh ĐHN

Look deep into nature, anh then…

 

6. Dĩ nhiên mình không thể không ghé thăm vài bệnh viện ở Melbourne này, trong đó, bệnh viện gây ấn tượng nhất cho mình là Bệnh viện Ung bướu. Như một “con thuyền không bến” đang vượt trùng khơi! Điều đặc biệt ở đây là ta không thể phân biệt ai là bác sĩ, ai là điều dưỡng và ai là bệnh nhân… Hết sức nhân bản! Có thư viện, có nhà hàng, có quầy thông tin, có nơi cầu nguyện… Và, ung thư đại tràng có vẻ đang ngày càng phát triển ở Úc. Tại sao?

Bệnh viện Ung bướu ở Melbourne.

 

7. Mình vừa đi Great Ocean Road về, bác sĩ Mỹ Dung đã đề nghị tổ chức một buổi tọa đàm nhóm nhỏ với anh Đỗ Hồng Ngọc cho các đồng nghiệp y dược về Phật pháp. Đây là dịp được gặp bạn bè, tại sao không?

Buổi trò chuyện thân mật về Phật pháp với các đồng nghiệp và thân hữu tại nhà Bác sĩ Mỹ Dung (Melb 15.10.2019)

Mỹ Dung và Nhơn đã sưu tập một lô sách của Do Hong Ngoc, bây giờ… ký tặng tại chỗ!

trong lúc nhóm bạn khác đang chuẩn bị bữa ăn tối nhẹ cho mọi người

… rồi chụp chung tấm hình kỷ niệm sau buổi trao đổi khá sôi nổi

 

Trong buổi tọa đàm này, mình chủ yếu trao đổi kinh nghiệm cá nhân. Nhắc lại các “nguyên tắc” để học Phật: 1) Nắm vững thuật ngữ, 2) Hiểu các ẩn dụ, ẩn nghĩa, và 3) Thực hành Thiền định, ứng dụng vào đời sống với Từ Bi Hỷ Xả…

Đề cập S.A.D và các phương pháp tâm lý trị liệu CBT(Cognitive Behavioral Therapy) thường cho kết quả tạm thời, phải dùng tới Thiền Chánh Niệm MBCT, MBSR…(Mindfulness-Based Cogntive Therapy, Midfulness-Based Stress Reduction…) để có kết quả lâu bền hơn.

8. Biết nhà thơ Huy Tưởng đang ở Melbourne. Phải ghé thăm Huy Tưởng chớ, sao không? Sáng đó, hai em học trò (Bs Linh và phu quân) đưa mình đến thăm nhà thơ, ở khá xa thì phải, chắc hơn nửa giờ cao tốc.

Thật đằm ấm. Thật cảm động. Huy Tưởng nói ĐHN hẹn mai mới tới kia mà! Mọi người đã chuẩn bị mai làm Mì Quảng Faifo cho ông đây mà ông tới sớm quá! Hai em học trò rảnh đưa đi lúc nào… thì phải “tranh thủ” đi ngay thôi. Huy Tưởng trông khỏe và vui. Mở vi tính đọc cho nghe mấy bài tâm đắc. Nói đã viết xong 600 bài lục bát, sẽ chọn 200 bài in một tập…

Huy Tưởng và Đỗ Hồng Ngọc (Melbourne 18.10.2019)

thơ Huy Tưởng

 

 

 

 

 

 

 

9. Đã đến lúc khép lại chuyện kể dài dòng về “Úc du”… một chuyến của mình rồi đó. Ba tuần lễ trôi qua thật nhanh. Mùa xuân rồi mà Úc vẫn còn lạnh. Đêm có khi 6-7 độ, ngày 11-12 độ. Ai cũng nói năm nay thời tiết lạ hơn các năm.

Mình nhớ một bức tranh rất dễ thương mình chụp trong Bảo Tàng Melbourne, nghe nói của những thổ dân xứ Úc vẽ như một kết luận của bài viết khá dài này của mình. Mong bạn vui cho vậy.

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 1.11.2019)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi: bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong

23/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bông hồng cho Mẹ và Mới hôm qua thôi

(bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)

Ghi chú:

Tôi vừa nhận được bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp hai bài thơ của tôi (Bông Hồng Cho Mẹ và Mới Hôm Qua Thôi) do TVD và Elena Pucillo Truong thực hiện lúc tôi đang còn ở Melbourne.

Nay xin trân trọng gởi đến bạn bè và chân thành cảm tạ TVD – Elena Pucillo Trương.

Đỗ Hồng Ngọc

(Đỗ Nghê).

…………………………………………………………………………………………………………

Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

( Bản dịch sang tiếng Ý và tiếng Pháp của TVD và Elena Pucillo Truong)

 

Bông hồng cho Mẹ                    La rosa per la madre                       La rose pour la mère

 

“Con cài bông hoa trắng           Io mi attacco la rosa bianca                     “ Je m’attache la rose blanche

Dành cho mẹ đóa hồng             Lascio a te, mamma,  la rosa rossa,          À toi, maman, je laisse la rose rouge

Mẹ nhớ gài lên ngực                  Ricorda di attaccartela sul petto                Souviens-toi de l’attacher sur ta poitrine

Ngoại chờ                                  La nonna ti aspetta                                     La Grand-Mère t’attend

bên kia sông…”                        dall’altra parte del fiume                           de l’autre côté  du fleuve…”

Đỗ Hồng Ngọc  (Vu lan 2012)

 

Trong một nhà giữ lão ở Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

La poesia scritta al Nursing home a Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

Le poème écrit à la Maison de Retraite de Montreal (Đỗ Hồng Ngọc)

 

“Mới hôm qua thôi”.             Soltanto ieri                         Juste hier

Họ ngồi đó                                       Stanno lì, seduti                         Ils restent là, assis

Bên nhau                                          Insieme.                                     Ensemble.

Đàn ông                                            Uomini                                       Des hommes

Đàn bà                                              Donne                                        Des femmes

Không nhìn                                       Senza guardare                          Sans regarder

Không nói                                         Senza parlare                             Sans parler

 

Họ ngồi đó                                       Stanno li, seduti                         Ils restent là, assis

Gục đầu                                            Le teste abbassate                      Les têtes baissées

Nín lặng                                           In silenzio                                   En silence

Ngửa cổ                                          Alza la testa                                  La tête levée

Giật nhẹ tay chân                            Braccie e gambe tremano            Les bras et les jambes qui tremblent

Có người                                         C’è qualcuno                               Il y a quelqu’un

Trên chiếc xe lăn                            Sulle sedie a rotelle                      En fauteuil roulant

Chạy vòng vòng                               Gira qua e là                               Qui tourne ici et là

Có người                                           C’è qualcuno                             Il y a quelqu’un

Trên chiếc xe lăn                              Sulla sedia a rotelle                   En fauteuil roulant

Bất động                                           Immobile                                    Immobile

Họ ngồi đó                                        Stanno li, seduti                         Ils restent là, assis

Hói đầu                                              Le teste pelate                            Les têtes chauves

Bạc trắng                                           O i capelli d’argento                  Ou les cheveux blancs argentés

Móm sọm                                          Presto sdentati                           Tôt sans dents

Nhăn nheo                                        Rugosi                                        Ridés

 

Mới hôm qua thôi                          È solo da ieri                               Juste hier

Nào vương                                     Quali imperatori                        En tant qu’empereurs

Nào tướng                                      Quali generali                             En tant que généraux

Nào tài tử                                        Quali artisti                                En tant qu’artistes

Nào giai nhân                                 Quali miss universo                   En tant que Miss Univers

Ngựa xe                                          Carrozza trainata da cavalli       Calèche à chevaux

Võng lọng                                       Ombrelli parasole                       Ombrelles parasols¹

 

Mới hôm qua thôi                          Soltanto ieri                                Juste hier

Nào lọc lừa                                      Quali inganni                            Quelles duperies

Nào thủ đoạn                                  Quali colpi di mano                   Quelles astuces

Khoác lác                                        Bugie                                         Des  mensonges

Huênh hoang                                   E Vanità                                     Et de la Vanité

 

Mới hôm qua thôi                          Soltanto ieri                               Juste hier

Nào galant                                       Quali signori                              Quels messieurs

Nào quý phái                                  Quali nobili                                 Quels nobles

Nói nói                                             Parlare                                        Parler

Cười cười                                        Ridere                                         Rire

Ghen tuông                                     Gelosia                                       Jalousie

Hờn giận                                          Rabbia                                        Rage

 

Họ ngồi đó                                      Stanno lì, seduti                        Ils restent là, assis

Không nói năng                              Senza parlare                             Sans parler

Không nghe ngóng                         Senza ascoltare                         Sans écouter

Gục đầu                                            Teste piegate                           Les têtes pliées

Ngửa cổ                                            Teste alzate                             Les têtes levées

Móm sọm                                         Sdentati                                   Édentés

Nhăn nheo                                        Rugosi                                     Ridés

Ngoài kia                                           Mentre Fuori                          Alors que dehors

Tuyết bay                                          Cade la neve                          Tombe la neige

Trắng xóa                                          Candida                                   Blanche

Ngoài kia                                           Mentre fuori                           Alors que dehors

Dòng sông                                         Il fiume                                   La rivière

Mênh mông                                      Immenso                                  Immense

Mênh mông…                                   Immenso                                  Immense

 

Đỗ Hồng Ngọc (Montréal, 1993).

  • Voir Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sur les costumes et les insignes des mandarins chinois, qui employaient des parasols dont la largeur et la couleur indiquaient les différents rangs. (racinet_costume.doc ou racinet_costume.pdf).

(Racinet, Le costume historique, Firmin-Didot, Paris, 1888 sui costumi e le insegne dei mandarini cinesi, che usavano degli ombrelli diversi per larghezza e colore, che indicavano I diversi ranghi.

(racinet_costume.doc  ou racinet_costume.pdf).

 

 

EPT  Saigon- 6-2019

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Rồi Cũng Về Thôi: viết cho Du Tử Lê

22/10/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

RỒI CŨNG VỀ THÔIi

(tặng Tuyền-Lê)

 

Rồi cũng về thôi du tử ơi

Bao năm lưu lạc cõi con người

Một hôm sực nhớ miền quê cũ

Tung cánh vàng xưa hạc vút bay…

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Melb, 14.10.2019)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim

Còn đó của ngày xưa…  

14/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Còn đó của ngày xưa…  

tặng Minh Trân

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Đặc San Liễu Quán, Huế.
Vu Lan PL 2563 (2019)

Trong lúc cả “thế giới phẳng” đang đối đầu với dịch béo phì và những hệ quả của nó thì ở Nhật hình như không có hiện tượng béo phì, ít ra là ở vùng Hyogo, Kobe. Trong sân trường Đại học Sư phạm Hyogo, nơi tôi có dịp đến thăm, đầy tiếng cười đùa rộn rã  của các sinh viên nam nữ. Họ rất dễ thương. Không quen biết gì cũng cúi rạp chào mình rất lễ độ. Khi ra dấu xin chụp ảnh, họ cười rất tươi,  sửa lại cái dáng cho… nghiêm chỉnh một chút! Thỉnh thoảng tôi cũng “chộp” lén một vài tấm kỷ niệm những lúc họ đang ăn ngon lành ngoài nắng sân trường hoặc ríu rít đẩy nhau lên xe bus tay xách nách mang khi trở lại trường sau ngày nghỉ cuối tuần. Họ hồn nhiên. Họ tươi tắn. Nói chung rất dễ thương. Và đẹp. Cái đẹp của phương Đông. Kín đáo, thùy mị, dịu dàng, và… thon thả. Lạ, không thấy có hiện tượng béo phì ở đây, trong sân trường cũng như ngoài đường phố, siêu thị, sân ga. Có lẽ có một chính sánh y tế công cộng nào đó âm thầm quản lý toàn bộ chăng?  May mắn đều do…sắp đặt mà! Đúng vậy. Cái cách quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của họ khó mà có thể béo phì, khó mà có thể ngộ độc thức ăn! Món ăn nào cũng kiểm tra kỹ, bao bì, đóng gói, cân đong đo đếm cẩn thận, từ củ gừng, củ khoai, đến vài cọng hành, lá hẹ! Món ăn nào cũng có hạn, lúc nào cũng phải mới toanh. Một số sinh viên nước ngoài thường chỉ dẫn cho nhau … cách  mua thức ăn vào những ngày sắp hết hạn, giá rẻ đặc biệt. Đem về bỏ tủ lạnh có thể… tự  gia hạn khi cần! Bởi vì thức ăn ở Nhật quá đắt. Đắt gấp cả chục lần ở ta. Lại nhạt nhẽo. Thiếu  gia vị. Hình như họ không cần ăn…ngon, họ chỉ cần ăn tốt. Chất lượng thì tuyệt vời: nấm, đậu hủ, rong biển, cá… Và nhất là cá sống, trời ạ! Ăn phát sợ! Sợ là vì mình không quen ăn mà cũng vì mình vốn thường bị ăn cá ươn, cá ướp hàn the, ướp formol…  nên cũng giống như chim bị ná sợ cây cong. Nấm cũng vậy. Lần nào ăn nấm tôi cũng rờn rợn nhớ những vụ ngộ độc nấm xứ mình. Tôi có đến thăm Sở Y tế Hyogo. Ở đó người ta trình bày cho tôi xem cách quản lý chất lượng thực phẩm ra sao. Và tôi hiểu tại sao người Nhật khó mà có thể béo phì được. Ở đâu cũng thấy họ thon thả. Họ mặc kimono rất đẹp dù có vẻ hơi đơ cứng, lắc lư. Nay họ “nhập khẩu” áo dài của ta vào nữa thì lại càng thon thả, càng bay bỗng! Không bị béo phì, không thừa mỡ thừa đạm thừa bột thì người Nhật ít bị bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp các thứ như ở một số quốc gia khác. Nhưng chưa hết! Kiểm sóat thực phẩm, cân đong đo đếm calori thu nhập hằng ngày của con người chỉ là một phần của chuyện chống béo phì. Cái hệ thống  giao thông công cộng của họ mới là cái đóng góp đáng kể hơn!  Ở Âu Mỹ, ở Úc.. hệ thống tàu điện đơn giản và tiện lợi khiến người ta làm biếng, không phải đi lại, vận động nhiều . Ở  đây thì không! Người ta chạy hộc tốc, chạy có cờ. Rầm rập. Rầm rập. Ngược xuôi, phải trái, lộn qua lộn về khắp nơi. Hình như khách lạ ai cũng năm lần bảy lượt nhầm ga, nhầm giờ. Các nhà ga thì hành lang dài hun hút, thang cuộn rất ít, hoặc chỉ có một chiều lên, còn dành cho lội bộ! Lội rả giò!  Rõ ràng là có sự cố tình… sắp đặt để mọi người phải cuốc bộ năm ba cây số,  phải leo cầu thang hằng trăm bậc mỗi ngày. Tóm lại, người ta âm thầm buộc mọi người phải… vận động! Béo phì sao nổi? Ăn uống được kiểm sóat, vận động thể lực được kiểm soát. Kết quả là người Nhật muốn lười, muốn nhàn, muốn béo phì… đều không được. Họ chỉ còn có mỗi một việc phải làm: đó là cật lực làm việc, và… sống lâu. Sống lâu vì không… chết được. Bệnh đâu mà chết? Và rồi chỉ còn những người…già, ngày càng già, không biết để làm gì! Ở trường đại học Konan, bác sĩ Matsuura chỉ cho tôi xem phòng nghiên cứu đặc biệt những động tác của từng cơ bắp của con người. Nhờ đó tìm ra những khuyết điểm trong sự vận hành của từng cơ bắp để có thể phục hồi hoặc chế tác các dụng cụ hỗ trợ phù hợp cho người cao tuổi. Tóm lại, ở Nhật lười không được, nhàn không được, bệnh không được, và chết sớm…cũng không được!  Một xứ sở thần tiên? Một nơi không còn sinh lão bệnh tử? Không phải! Giáo sư Katsuno, chuyên gia Giáo dục sức khỏe nói với tôi, đây là một vấn đề lớn! Quả vậy, chừng mươi năm nay, tỷ lệ tự tử ở người Nhật ngày càng gia tăng, nhiều nơi ở Nhật ngày nay đã có… “thần” Mc Donald xuất hiện, với lọai MegaMac mà trẻ con người lớn đều ưa! Các nghiên cứu cho thấy gène “béo phì” ở người Nhật thấp hơn người Mỹ gấp 10 lần, nhưng nay tỷ lệ trẻ con Nhật béo phì ngày càng gia tăng. Một nghiên cứu cho thấy trong nhiều thập kỷ qua, tuổi thọ của người dân Okinawa  đứng vào hàng đầu thế giới, nhưng từ khi fast food kiểu Mỹ tràn vào thì tuổi thọ của dân Okinawa đã tụt xuống nhanh!

 

Buổi sáng, giáo sư Katsuno, hiệu phó trường Đại học sư phạm Hyogo đưa chúng tôi đến thăm Đại học phụ nữ Konan ở Kobe. Trường nằm trên lưng chừng một ngọn núi cao. Lồng lộng biển khơi trước mặt! Giữa sân trường đại học nữ là một… người đàn ông khỏa thân, ngồi suy tưởng! Đó là bức tượng nổi tiếng Le  Penseur của  Rodin!  Ông đang  ngẩm ngợi điều chi?   Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật? Vợ Nhật ư, tìm đâu ra bây giờ? Bây giờ các cô gái Nhật đâu có chịu lập gia đình, đâu có muốn sanh con đẻ cái. Tiếp chúng tôi là Bác sĩ Matsuura, một chuyên gia về sức khỏe cộng đồng, giáo sư của trường. Matsuura là một bác sĩ… đẹp trai, khoảng ngoài 60, nhiệt tình và cởi mở. Đúng chất người làm cộng đồng! Khi mới ra trường được 10 năm, ông  tình nguyện về một hòn đảo xa để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho người dân- đa số là người già- kết hợp giữa y tế và  phát triển cộng đồng. Chương trình thành công. Người già không ai… tự tử, người trẻ chịu lập gia đình! Hiện nay chương trình này đã trở thành một mô hình tốt. Buổi trao đổi giữa chúng tôi càng trở nên tương đắc, hào hứng. Bởi riêng tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này từ năm 1984, khi thực hiện Chương trình săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em ở phường 13 Quận 6 và từ năm 1986, trong Chương trình Hiệp Phước, tại một xã cù lao nghèo thuộc huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh. Khác chăng là ở  mục tiêu. Ta thì hạn chế sinh đẻ còn Nhật thì khuyến khích sinh đẻ. Ta thì tập trung lo cho trẻ con suy dinh dưỡng, sốt rét, bệnh nhiễm trùng còn Nhật thì lo cho người già, tàn phế, tật nguyền, chán sống… Nhưng nói chung phương pháp vẫn là Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community-based approach) ,dựa trên những nguyên tắc như tham gia cộng đồng (community involvement), phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) và kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology). Chủ khách đã trở thành tri âm tri kỷ tự lúc nào! Bác sĩ Matsuura  mời chúng tôi tham quan các khoa phòng của trường, đặc biệt nơi nghiên cứu chi tiết các động tác của cơ thể con người để hỗ trợ người già khiếm khuyết. Rồi ông hào hứng mời chúng tôi về thăm nhà riêng!

Nhà bác sĩ Matsuura ở trên lưng núi, xuyên qua những con đường đầy ắp hoa đào quanh co khúc khuỷu. Một ngôi nhà tuyệt đẹp. Minh Châu, cô sinh viên cao học người Việt phiên dịch cho chúng tôi, từng sống ở Nhật nhiều năm, đã phải kêu lên: Nhà giàu lằm bác ơi! Đó có lẽ là chỗ khác nhau rõ rệt nhất giữa bác sĩ cộng đồng ở Nhật và ở ta! Nhà chỉ còn hai ông bà. Hai người con lớn đều đã đi làm xa. Tôi đùa, thế thì ông sẽ đựơc sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của bà! Ông cười đồng tình! Bà cười bẽn lẽn. Rồi tôi nói thêm: Chỉ có cách là xúi mấy đứa nhỏ lập gia đình để có cháu cho bà chăm sóc. Lúc đó may ra ông mới được thoát! Cả hai ông bà đều kêu lên nhưng tụi nó có chịu lập gia đình đâu! Đột nhiên bà hỏi chồng: Có mời khách uống trà không? Rồi thân mật đẩy chiếc cửa ngay bên vách phải mà tự nảy giờ tôi chẳng ngờ có một phòng trà ở đó.

Nhật mới có “trà đạo” thì phải. Một nếp sống tâm linh của cả một dân tộc. Trà đạo không phải là đạo…trà! Không dành cho những người ghiền trà. Trà đạo càng không phải là một cách uống trà,  một nghi thức uống trà, kiểu cách, xa hoa nào đó!

Một căn phòng vuông vắn và trống huếch, được trải những tấm tatami tinh tươm. Làn gân chiếu nhấp nhô như những đợt sóng ngầm. Có những đường viền đậm. Một góc lõm tokonoma sâu thăm thẳm. Một bức thư họa kakejiku … ngoằn ngoèo huyền bí. Lò lửa ngun ngút ở giữa phòng. Đốt bằng thứ than cội anh đào. Chiếc gáo. Hộp trà. Cối gỗ…    Mấy cái chén tống bậm trợn như giả vờ thô kệch mà ngạo nghễ, bay bỗng những hoa văn.  Tự dưng thấy lòng hẫng nhẹ. Bụi bặm đường xa gạt bỏ hết bên ngoài. Một không gian khác. Một thời gian khác.Lòng rỗng không. Phòng rỗng không.

Trà xanh Nhật lạ lùng. Cái màu xanh như của cốm làng Vòng. Xanh lá mạ. Xanh nếp con gái. Đòng đòng… Màu xanh không mất đi dù đựơc phơi nắng, giã nhuyễn bao lần. Có những nguyên tắc chung nào đó nhưng mỗi “trà nhân” đều có cách pha riêng của mình, phóng khoáng, tự do và đầy ngẫu hứng. Nếu không vậy, chắc họ đã chế ra các cỗ máy…cho “trà đạo” hàng lọat rồi!  Ở đây… là con người. Chính con người. Là bóng dáng người phụ nữ Nhật. Rón rén mà nghiêm trang. Thanh thoát mà miên mật. Chính xác. Thuần thục. Mỗi động tác đều mang một ý nghĩa nào đó. Một hồn Nhật lâng lâng của những kawabata, akutagawa… xa lắc xa lơ.

Khi nâng chén ngang mày, nghe thoáng mùi hương trà xanh tỏa ngát. Nếm. Không chát đắng. Tan loãng. Nghe ngóng. Ngập ngừng. Bàn tay nâng niu, bàn tay che chở. Bàn tay nào của Đức Phật mà Tôn Ngộ Không cân đẩu vân ngàn lần không thể vượt qua? Chậm rải, từ tốn, cẩn trọng. Để nghe cho hết từng tác động thân hành.  Nghi thức chỉ là tướng. Ly tướng thì thấy. Thấy gì? Thấp thoáng bóng Trương Chi dưới đáy ngọc hay Duy Ma Cật giữa trùng vây?

Hôm đi Nara, thành phố có những ngôi chùa cổ nổi tiếng, nhưng đọng lại trong tôi chính là vườn nai. Vườn mênh mông mà nai cũng mênh mông! Tự dưng tôi nghe gần gũi lạ. Như đang ở nơi Đức Phật thường cùng các đệ tử dạo chơi, đàm đạo, và… uống trà!  Những con nai bây giờ cũng hiền lành như hồi đó. Lang thang  trong khu vườn xanh mướt hoặc ngẩn ngơ bên bờ suối, rừng cây, hồ nước…  Chúng thân thiết sẻ chia những mẩu bánh cám cùng du khách, lửng thửng bước theo họ. Dịu dàng, thong dong và tĩnh lặng.  Và ơ kìa, một trà thất trên sườn đồi giữa vườn nai. Trà thất chênh vênh, bấp bênh, đơn sơ mấy cọc rào tre, chơ vơ vài bức phướng dưới ngàn hoa lá đủ sắc màu. Mùa Đông như chưa qua mà mùa Xuân chưa đến hết, vẫn còn ngập ngừng đâu đó. Gần cửa trà thất là một tảng đá lớn tạc thành cái chén đường kính cả thước. Nuớc chảy từ một máng tre, tuồn tuột, leo lẻo. Một cái gáo tre vắt ngang, mong manh. Chén trà của Trời đất mà mỗi trà thất đều phải có như một biểu tượng.  Đúng là một trà thất của ngày xưa sót lại. Trà thất lặng lẽ mà ấm cúng. Khiêm cung. Cả cái cửa vào cũng khiến ta phải gập mình xuống để nhẹ nhàng lướt qua. Trong nhà ơ hay đông đúc mà im ắng lạ! Thì ra, họ đang thuởng thức món… cháo trà! Trà đạo ở Nhật không chỉ uống mà còn… ăn. Cháo trà. Cơm trà. Và,  có thể lắm, nhai trà, xỉa trà nữa không chừng! Cái ăn, cái uống… chẳng là đạo ư?

Bỗng dưng tôi nhớ đến trà của mình! Thứ trà vua mà các cung nữ phải bơi thuyền lắng lấy những hạt sương còn đọng trên cánh lá sen mỗi sáng tinh mơ,  đến ly trà đá mát rượi đất phương Nam,  rồi chè vối của cây đa bến nước, con đò, và… cô hàng chè yếm thắm. Lại nhớ Lâm Đồng với những đồi trà tít tắp xanh rợn chân trời và những cô gái nhấp nhô gùi trên sóng, những “cô nàng về để suối tương tư” thuở  nào.  Tôi lại nhớ thừ trà nõn, trà búp, trà con nít, trà móc câu Đà Lạt nhọn hoắc, trắng xóa. Uống thấy thương! Nó có cái vị đậm đà. Càng uống càng ngây ngất. Uống trà, với tôi, là uống với ai, uống ở đâu, uống lúc nào, và uống cách nào. Uống trà mà không biết mình đang uống trà thì thật là đáng tiếc cho trà vậy!

Tôi nhớ mãi buổi đến thăm nhà bác sĩ Matsuura, thưởng thức thứ trà đạo chính thống của Nhật do bà Matsuura, một giáo sư trà đạo tự tay pha chế dành cho những người bạn phương xa của chồng. Hóa ra vẫn còn đó những người phụ nữ Nhật của ngày xưa./.

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thơ & Đời TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

11/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa tròn 84 tuổi, vừa ra mắt tập “Thơ & Đời Tôn Nữ Hỷ Khương“, gom góp những bài viết của thân hữu và báo chí viết về Nữ sĩ… lâu nay in thành một tập chia sẻ với mọi người cho vui.

Trong tập này có một bài của Đỗ Hồng Ngọc viết về bài thơ Còn gặp nhau… (2010).

Dịp này, xin post lại để tặng bạn bè.

Trân trọng,

ĐHN

 

“Còn gặp nhau…”

Giữa lúc nhiều nhà thơ đua nhau làm mới thơ, “lạ hóa” thơ thì mấy câu thơ rất đỗi đời thường như một sự buột miệng, một tiếng thở dài, một lời tự nhủ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương có vẻ như… lạc điệu mà bỗng xuất hiện hằng loạt trên lịch, trên thiếp xuân, trên Agenda  và cả thư pháp các loại với đủ mọi chất liệu đá, cát, giấy, lụa… không khỏi làm cho ta phải ngạc nhiên! Có chút gì đó trái ngoe trong thi phú buổi này chăng?

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời…

(Tôn Nữ Hỷ Khương)

Và cứ thế, “Còn gặp nhau…”, “Còn gặp nhau….” lặp đi lặp lại, những lời tuồn tuột tự đáy lòng, có vẻ gì đó như một giật mình, thảng thốt, bùi ngùi trong những buổi hàn huyên giữa những bạn bè gần xa. Thơ như nói,  như chẳng hề có chút đẽo gọt, dụng công…- tạm gọi là “thơ nói”- cũng đã có từ xưa xa:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao…

(Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Làm sao mà những câu “thơ nói” đó rung động lòng người, khiến người ta giật mình đánh thót, mà ngộ, ai cũng nhớ, cũng thuộc, và mỗi khi có dịp thì lẩm nhẩm: còn gặp nhau, còn gặp nhau…

Thì ra giữa thời buổi trái đất chỉ còn là một hòn bi xanh, một “thế giới phẳng” nhỏ xíu trong lòng bàn tay, mọi chuyện trên trời dưới biển gì cũng mồn một trước mắt,  truyền thông đa phương tiện tràn ngập đến không còn chút thong dong, người người vẫn thấy nhau, vẫn “thơn thớt nói cười” với nhau mà hình như chẳng bao giờ gặp nhau!

Rồi hình như  người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận được cái mong manh của đất trời, của thiên hà trong ngàn tỷ thiên hà trôi dạt, của kiếp người sương khói trong bối cảnh lạ lùng chiến tranh, dịch bệnh, bão lũ, sóng thần, động đất… triền miên!

Rồi hình như người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận sờ sờ trước mắt cơn đại hồng thủy sẽ ập tới vì trái đất nóng lên, con người đua nhau hủy diệt thiên nhiên, môi trường sống của mình, để rồi đâu đâu cũng thấy “những cảnh sửa sang tầm thuờng giả dối/ hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng” (Thế Lữ) với dừa giả, cau giả, hoa giả, đồi giả, núi giả… !.

Thú vị là những câu thơ dung dị đó của Hỷ Khương được nhiều người thuộc lòng, buộc miệng nói ra… đến nỗi người viết thiệp cũng viết, in lịch cũng in, đục đá cũng đục… mà chẳng cần biết tác giả là ai. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa nó sẽ trở thành những câu ca dao như “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…” bởi thế hệ nào mà chẳng có người trèo lên cây bưởi, thế hệ nào mà chẳng có người kêu lên “Còn gặp nhau…” ?

Có lẽ Tôn Nữ Kỷ Khương mang cái gien của phụ thân, cụ Ưng Bình Thúc Giạ. Những câu hò “Chiều chiều trứơc bến Văn lâu/  ai ngồi ai câu / ai sầu ai thảm/ ai thương ai cảm/ ai nhớ ai mong.. thuyền ai thấp thoáng bên sông/ đưa câu mái đẩy chạnh lòng nứơc non…”  nhiều người vẫn thuộc mà vẫn tưởng là một khúc hát dân gian, chẳng nhớ tác giả là ai!   Cụ Ưng Bình cũng đã viết nên những câu thơ tưởng như câu nói bình nhật:

Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!

để nói về một thuở làm quan của mình. Hay:

Biết đủ dầu không chi cũng đủ/
Nên lui đã có dịp thì lui…

lúc ung dung trở gót.

Do đâu mà những câu thơ của nhiều ngàn năm trước trong Kinh Thi vẫn còn làm cho lòng ta xao động? Ấy bởi vì nó nói từ nỗi lòng, “thốn tâm thiên cổ”, nên dù đựơc viết dưới bất cứ dạng ngôn ngữ nào, hình thức nào thì cái hồn của thơ vẫn là cái cảm xúc nhân tình. Hư Chu, ngàn năm trước, viết tựa cho tập truyện Kinh Thi đã hỏi: Thơ tại sao mà làm ra? ( Thi hà nhi chi tác dã?) Để rồi trả lời: vì nó là tiếng kêu của cõi lòng!

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui!…

Đỗ Hồng Ngọc

Comments trên trang www.dohongngoc.com

Giang says

30/04/2010 at 6:45 chiều
Thưa thầy, “thơ nói” nhưng cũng là “thơ hát” nữa, nó run rẩy theo từng nhịp điệu, cung bậc của cõi lòng, em rất thích nghe ngâm thơ với tiếng sáo họa theo, nhưng rất tiếc hình thức thơ biểu diễn thế này gần như đã không còn thấy nữa.

Huyền Trân says

02/05/2010 at 11:18 chiều
“Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui”

Hai câu thơ của cự Ưng Bình hay quá chú Ngọc ơi! Có lẽ đó là điểm chung của nhiều “cõi lòng” . Vậy nên những “cõi lòng” cứ mãi thổn thức:

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui” ,
vì
“Chỉ có tình thương để lại đời” …

Ngọc Đài says

04/05/2010 at 11:02 chiều
Chúc bác Ngọc luôn khỏe mạnh, mỗi lần buồn hay thất vọng về cuộc sống cháu luôn nhớ đến bác với một hình ảnh người thầy thuốc sống lạc quan. Cháu luôn mong bác khỏe mạnh để còn có thể viết nhiều hơn nữa, để làm cuộc sống này đẹp hơn!

Giang says

05/05/2010 at 6:26 chiều
Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!
Đọc lại bài viết này, 2 câu thơ “đời” quá.

Phương Bối says

06/05/2010 at 2:28 sáng
Xin cám ơn bác sĩ ĐHN.

Thật là vui quá khi bây giờ được “gặp” ANH thường xuyên hơn…

Đúng như anh đã …hứa “Có lẽ bây giờ mình mới có nhiều thì giờ hơn để… làm việc!” (16/04/2010 lúc 7:03 sáng ĐHN )

Bac Si Do Hong Ngoc says

06/05/2010 at 7:37 sáng
Giang thấy không, nhà thơ viết: “ra sân khấu” và “hạ vai tuồng”… chẳng phải rất “đời” đó sao? Nếu ai cũng hiểu “đời” như vậy, có lẽ sẽ bớt “cương” trên sân khấu. Em thấy không, nhà thơ viết “ít hổ ngươi” chứ chẳng phải không hổ ngươi! Đã đóng tuồng thế nào cũng có người chê kẻ khen, thế nào cũng có lúc sơ sót, nên ít hổ ngươi đã là tốt lắm rồi! Thầy cảm ơn em.

Tịnh Phan says

11/05/2010 at 3:05 chiều
Hai câu thơ đúng là rất “đời”.
“không làm rộn”, “ít hổ ngươi” thể hiện sự khiêm tốn, tự trọng, liêm khiết của “quan”, chứ đâu như:
“Thuở ra sân khấu tha hồ múa,
Hạ cánh an toàn sống khỏe re.”

Bac Si Do Hong Ngoc says

11/05/2010 at 4:00 chiều
Hay! Quan xưa khác quan nay co chút xíu đó thôi Tịnh Phan ơi!

Giang says

11/05/2010 at 4:46 chiều
Dường như càng hiện đại, càng đầy đủ về mặt vật chất thì con người lại càng thiếu thốn về mặt tinh thần… giữa người với người là sự lạnh nhạt vô cảm với “ánh mắt nhìn ráo hoảnh nhân danh áo cơm”. Trong cuộc đời xô bồ, trong cái sân khấu ấy, mỗi người vào vai một nhân vật, để rồi khi hạ vai xuống, còn lại gì 2 từ “hổ ngươi” !

hoang hoang says

13/07/2010 at 10:55 chiều
nỗi lòng cũng đang ngỗn ngang. đoc bai của BS thấy rưng rưng quá. Thanks

hoang hoang says

13/07/2010 at 10:58 chiều
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…..Chỉ có tình thương để lại đời…trong ”con đường đau khổ’ cung có câu rất hay : những cuộc chiến tranh rồi sẽ im ắng.. chỉ có tình yêu là còn lại

dong ha says

08/06/2011 at 6:39 chiều
“Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui”

Thơ hay nhưng làm được như thơ thật khó!

Bac Si Do Hong Ngoc says

09/06/2011 at 9:01 sáng
Bạn nói đúng đó dongha ơi! Chúc sức khỏe.

dong ha says

09/06/2011 at 11:16 chiều
Chào Bác sĩ ạ.ĐH không giỏi viết chỉ thích đọc và cảm một mình thôi.Gần đây đọc trang nhà của Bác sĩ nhiều cái hay nên cao hứng bày tỏ một chút Chúc Bác sĩ sức khoẻ viết nhiều bài hay để có lúc ĐH như thấy mình trong đó…!

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

10/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

XA XÔI MÀ GẦN GŨI

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Will Durant, tác giả Nguồn gốc văn minh (bản dịch Nguyễn Hiến Lê) cho rằng đỡ đẻ là nghề Y đầu tiên của loài người. Con người tự nhiên mà biết… đẻ và đỡ đẻ, rồi kinh nghiệm cứ tích lũy dần lên. Trong một thời gian dài của lịch sử, bà mẹ tự đẻ và tự đỡ cho mình, cũng chẳng cần ai giúp. Bây giờ vẫn còn thấy ở một số nơi bà mẹ đau đẻ chạy vào rừng, ôm lấy gốc cây, lòm còm, lom khom rặn đẻ, đẻ xong, tìm tre nứa cắt rún cho con rồi bế con còn đỏ hỏn nhúng vào nước suối lạnh ngắt cho khóc thét lên càng to càng tốt…

 

Ở ta ngày xưa, không lâu lắm, dưới thời Pháp thuộc thôi, theo Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, sản phụ sau sanh khi rốn rụng còn ướt thì lấy đất vách bôi vào; cuống rốn được cất kỹ để khi bé ốm đau đem đốt cho uống… Gặp trường hợp sinh khó, rặn lâu ra thì ông chồng phải leo lên mái nhà, cởi hết các nút lạt, hoặc nhổ hết các cọc rào, hy vọng nhờ vậy mà vợ dễ sinh! Có khi ông chồng phải lội qua sông, nhảy qua ao, quậy nước trong lu cho bé được trơn, dễ ra.

 

Hơn 50 năm về trước, thời tôi còn học Y khoa, phải học đến năm thứ ba, chúng tôi mới được thực tập đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 ca sanh thường, nghĩa là không có bệnh lý. Đêm nào chúng tôi cũng phải trực để “bắt ca”, nghĩa là chọn những ca tương đối dễ một chút theo chỉ dẫn của các cô nữ hộ sinh, rồi bám theo săn sóc, hỏi bệnh sử, làm hồ sơ bệnh án. Đưa sản phụ về phòng, thông nước tiểu, thông trực tràng, làm vệ sinh các thứ… theo dõi cơn co tử cung, tim thai, ghi vào hồ sơ thật chi tiết. Có bà lúc đau bụng sanh, chửi chồng tưng bừng, coi như ông là nguyên nhân gây ra nỗi đau khổ này! Ông chồng trốn mất, đến lúc sanh xong mới toe toét cười. Khi những cơn rặn cuối cùng đẩy được phần chỏm đầu em bé ló ra, phải làm sao khéo léo để không làm rách tầng sinh môn. Một tiếng khóc thét lên của bé. Bé khóc càng to thì chúng tôi càng cười rạng rỡ. Vì nếu bé không khóc thì nguy! Phải đét vào mông cho bé khóc, rưới alcool lạnh tạo kích thích hô hấp. Đâu đó xong xuôi, mới thở phào nhẹ nhõm. Dĩ nhiên không phải mọi lúc đều trơn tru tốt đẹp như vậy. Có khi, thai chuyển ngược, không thò đầu mà thò ra một cánh tay. Có khi cuống rốn quấn mấy vòng ở cổ làm bé nghẹt thở, có khi sót nhau, có khi đẻ xong một lúc lại xuất hiện thêm một bé nữa… (thời đó chưa có siêu âm).

 

Điều thú vị trong “khoa học” đỡ đẻ là đi lòng vòng một hồi rồi trở lại với “tự nhiên”. Trước kia tại Âu Mỹ, sanh đẻ một cách “khoa học” là được gây mê, mổ xẻ, cách ly mẹ con ngay sau sanh, nhưng từ vài chục năm nay đã trở lại phương pháp tự nhiên, cho sản phụ sanh đẻ trong khung cảnh gia đình, có mặt đức ông chồng bên cạnh, khi sanh xong thì cho bé nằm ngay với mẹ để được bú sớm và cho bà mẹ đi lại ngay. Gần đây có “ngân hàng máu cuống rốn” nhằm tồn trữ trong kho lạnh chừng 3cm cuống rốn để sử dụng sau này kh itrer mắc bệnh nặng như ung thư, suy tủy. Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đã có ngân hàng máu cuống rốn dành để cấy chữa bệnh về máu. Lạ là không biết tại sao người xưa đã biết tồn trữ cuống rốn dành để chữa bệnh!

 

Ở Thụy Điển, một nước có tỷ lệ tử vong mẹ thấp nhất thế giới, thấp gần 4 lần của Mỹ, và 8 lần của Nhật, việc sinh đẻ hiện nay đã ngày càng gần gũi với tự nhiên. Thí dị, bà mẹ không cần phải nằm trên bàn sanh, dạng chân ra ở một tư thế khó chịu, có khi còn bị cột tay chân cho khỏi té, thì bây giờ người ta cho bà mẹ tự chọn tư thế sao cho thoải mái, bớt đau, như ngồi xổm, ôm lấy người thân, ôm ghế (như ôm gốc cây); các vụ thụt tháo trực tràng, cạo lông… đều không cần thiết vì không ích lợi gì mà còn làm sản phụ khó chịu. Lúc sanh có thể ở trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, quỳ xổm, ngồi ghế thấp, dạng chân, nằm nghiêng, bò… miễn sao được thoải mái. Tư thế tự nhiên này còn giúp cho cổ tử cung mau nở trọn. Cắt tầng sinh môn cũng rất hạn chế. Người thân, nhất là ông chồng, được tham gia trong quá trình sanh đẻ của sản phụ, sẽ rất tốt về mặt tâm lý cho bà mẹ, chẳng khác ngày xưa ta bắt ông chồng lội qua sông, quậy nước ao… Bé sinh ra được ủ ấm ngay (như nằm lửa). Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy chính nhờ nằm lửa đã cứu sống nhiều trẻ, do thường bị sanh non, thiếu ký, suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ, rất kém chịu lạnh. Chuyện đánh thuốc mê, sanh mổ… rất ít khi xảy ra. Tóm lại, họ gần như trở về với tự nhiên, chỉ khác một chút là hoàn toàn vô trùng và nhờ đó mà cuộc đẻ rất thoải mái và an toàn. Khoảng cách giữa khoa học và tự nhiên vừa xa xôi mà lại vừa gần gũi biết bao!

 

*

Nhưng “vậy mà không phải vậy”! Những tưởng cuộc sanh nở của người mẹ sẽ được hoàn toàn êm ái và nhẹ nhàng, vừa khoa học vừa gần gũi với tự nhiên, nhưng không. “Khoa học”… đã can thiệp một cách không nương tay: sanh mổ đang gia tăng một cách đáng ngại!

Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) khuyến cáo, các cuộc sanh mổ (mổ bắt con) phải có chỉ định y khoa rõ ràng và tỷ lệ phải nên nằm trong giới hạn 5-10% cho phép, không được vượt quá 15%, vì nếu vượt quá con số này sẽ mang đến những tai biến cho cả mẹ lẫn con. Theo TSBS Vũ Thị Nhung, Hội Y học Tp.HCM thì trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, số trường hợp sanh mổ tiếp tục tăng cao trên thế giới: Ở Mỹ tăng lên đến 32,8%, ở Anh tăng gấp 5 lần so với trước; ở Trung Quốc- nếu năm 1966 tỉ lệ này là 2,4% thì đến 2010 đã tăng đến 46%, trong đó 25% là các trường hợp không vì lý do y khoa- Ở Việt Nam, tại BV Phụ Sản Trung ương, tỷ lệ này vào những năm 60 là 9%, đến năm 2005 tăng lên gần 40% và hiện nay trên 50%.

Tại Hội nghị sản phụ khoa Việt – Pháp 2019, theo PGS.TS Trần Danh Cường – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương thì tỉ lệ “mổ đẻ” hiện nay tăng nhanh: Trung bình tại TP.HCM khoảng 30%, bệnh viện Phụ sản Trung ương 50%, nhưng có những bệnh viện con số này lên đến 60%. Theo ông, một trong những nguyên nhân là chi phí cho việc mổ đẻ với sanh thường rất khác nhau (Báo Lao Động).

*

Hy vọng tương lai không xa, có một bệnh viện sản khoa “cao cấp” nào đó quảng cáo “Nơi đây sanh đẻ tự nhiên một cách khoa học” và nhiều bà mẹ sẵn sàng trả chi phí cao để được sanh đẻ bình thường.

(Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 327, Vu lan, Phật lịch 2563 (2019)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

VU LAN: Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”

10/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

 

Về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”
Đỗ Hồng Ngọc

(https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2019/08/10/ve-bai-tho-bong-hong-cho-me/)

Mùa Vu Lan.  Thật may mắn cho những ai được cài đóa hồng trên ngực áo. Bởi họ còn Mẹ. Tôi thì cài bông trắng. Nhưng điều tôi tin chắc là mẹ tôi đã gặp… bà Ngoại, và vì thế, mẹ đã có thể gài lên ngực một đóa hồng thật tươi từ đó…

Bông hồng cho Mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Đỗ Hồng Ngọc
(Vu Lan 2012)

Võ Tá Hân, người nhạc sĩ đã có đến hơn 30 CD nhạc Phật giáo và hằng trăm khúc tình ca nổi tiếng, một hôm tình cờ đọc được bài thơ ngắn ngủn này đã cảm xúc viết nên khúc hát Vu Lan thật thiết tha dành cho những người con… không còn Mẹ.
Và tiếng hát da diết của ca sĩ Thu Vàng thấy trên youtube:

 

 

Rồi Bội Hoàng, từ Cần Thơ đã cảm tác :

Tình yêu còn mãi

Đọc bài thơ mà mắt lệ đoanh tròng
Ai thấu hiểu một tình yêu đã mất
Ai tự hào cài hoa hồng lên ngực
Dù đã qua cái tuổi cổ lai hy!

Con chỉ muốn luôn được cài hoa đỏ
Dù tuổi đời Má đã rất mong manh,
Dù con Má đã con cháu vây quanh,
Vẫn muốn được mỗi ngày chăm sóc Má.

Được bón cơm, được đút cháo, châm trà
Được tắm rửa, được thay quần áo mới
Được ngồi bên nghe những lời Má nói
Mà dậy lên niềm thương cảm riêng tư

Má bỏ con năm Má chín mươi tư
Rời cõi tạm, Má lên đường thanh thản
Con cài hoa cho màu áo Má đỏ
Để Má về gặp Ngoại vui đoàn viên

(Bội Hoàng, 2014)

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana, mùa Vu Lan 2016 viết trong bài “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”:

“Lại đến mùa Vu Lan. Những đóa hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đóa hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)

Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.

Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.

Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.

Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!

Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,

… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)

Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,

… tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ
là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại

(thơ NTKM)

Thưa có phải cũng có chút gặp gỡ giữa “sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại” và “Ngoại Chờ Bên Kia Sông”?

NTKM
Santa Ana, Mùa Vu Lan

 

mà nhà phê bình Tô Thẩm Huy cảm thán:

“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.

Phải chép lại ra đây.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông

Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.

Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.

Lê Uyển Văn từ Trà Vinh viết: Bài viết tuyệt vời được khơi nguồn từ bài thơ đẹp. May mắn cho chúng ta được thưởng thức những tuyệt phẩm này. Xin đa tạ!

Còn Trieu Minh (Úc) ghi cảm nhận khi nghe bài hát từ giọng ca Thu Vàng: “ Doc va nghe Nhac, nghe Nghen o nguc, nuoc tu lan tren Ma”.

ton  t  comment: “Nghe nhức xương, thấm tới tủy”;

chrslam thì ghi: Đã nghe đi nghe lại cả chục lần bài hát này. “…Mẹ nhớ gài lên ngực. Ngoại chờ bên kia sông…” Một cảm giác khó tả. Cám ơn thi sĩ và nhạc sĩ.

Và E-Temple ghi nhận: “ Chỉ có 4 câu ngắn ngủn thôi mà thành lời ca, và hát mãi không muốn dừng.  Con dập đầu lạy Phật, xin Mẹ được vãng sinh ‘ Nam mô Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà Phật….’”

Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế viết trong “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:

“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

(…)

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ.  Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”

(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).

Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình! “Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng… Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ).

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI

07/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

CHỌN NHỮNG NỤ CƯỜI 
Đỗ Hồng Ngọc

(Văn Hóa Phật Giáo số 322 ngày 01-06-2019

Thư Viện Hoa Sen)

Có câu đúc kết “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở một tuổi quá cao nào đó, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có tiểu tiện và đại tiện khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.

Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.

Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông minh hiện đạilàm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!

Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.

Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng “tử” dễ nghe hơn “chết”. Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là “băng hà”. Sư chết gọi là “viên tịch”. Phật chết gọi là nhập Niết-bàn. Lính chết gọi là “hy sinh”… Dân chết có khi gọi là “mất” là “qua đời” là “lìa trần”, v.v…

Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.

Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù giằng co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vã ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt… Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.

Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde…

Đỗ Hồng Ngọc

……………………………………………………………

Ghi chú: Chắc ít ai không biết câu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui/ Chọn những bông hoa và những nụ cười…” của Trịnh Công Sơn. Trong cuốn “Về Thu Xếp Lại…” tôi có hẳn một chương với câu hát này. Hôm rồi, bạn tôi, anh Trần Tuấn Mẫn, phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Phật giáo hối thúc gởi bài gấp, tôi đang cảm cúm, đành phải “biên tập” một đoạn trong chương sách của Về Thu Xếp Lại… gởi cho báo với cái tựa là “Chọn Những Nụ Cười”…

Nghĩ lại, làm vậy cũng là không nên. Có lỗi với các bạn đã có trong tay quyển sách. Không ngờ bài “viết lại” này được nhiều bạn đọc ưa thích, có lẽ do nó ngắn gọn, khúc chiết hơn. Thư Viện Hoa Sen cũng đưa ngay lên online và đã có vài ngàn người vào đọc. Thì ra, sách thì ế, bán lai rai, trong khi lên mạng thì dễ đến với độc giả hơn. Sáng nay, một người bạn lại chuyển tôi hình ảnh của một Facebook đăng lại bài này để chia sẻ cùng bè bạn và thấy có cả những “bình luận” rất dễ thương.

Có bạn còn làm mấy câu thơ nữa, thật thú vị. Tôi không có Fb, lâu lâu có bạn gởi cho một “thông tin” thì cảm động lắm, bèn “hào hứng” đưa lên trang nhà này vừa chia sẻ vừa để lưu trữ. Rất mong được thông cảm.

Cảm ơn T.A nhiều nhé.

(ĐHN).

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tuệ Sỹ: PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH (viết từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của ĐHN)

03/08/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư Đỗ Hồng Ngọc kính gởi Thầy Tuệ Sỹ

Vườn Chuối, 21.7.2019

Mới thôi mà đã hơn 2 năm, từ ngày Thầy gởi tôi bài  PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH “viêt từ cảm hứng Cõi Phật Đâu Xa của Đỗ Hồng Ngọc” và bảo để in vào sách khi tái bản.

Vừa rồi, máy vi tính của tôi bị hỏng toàn bộ ổ cứng, mất hết các dữ liệu. May sao người cháu “cứu” được một ít trong đó giữ lại được bản này. Tôi đọc lại mà rưng rứt, nhớ Tết nào cùng Thân Trọng Minh đến thăm thầy ở Thư quán Hương Tích, trò chuyện thật vui, đặc biệt về vở “nhạc kịch Duy-ma-cật”  vốn đầy kịch tính, từ những nhân vật “phản diện” cho đến bối cảnh, với những cao trào có thể mang tính nghệ thuật cao, với vai “Người dẫn truyện” của Văn Thù, vai Thiên nữ tán hoa cùng tiếng đàn hát dìu dặt, thanh thoát…

Tôi hiểu từ lâu thầy đã ấp ủ “kịch bản” này đâu đó sẵn rồi. Thân Trọng Minh và tôi chỉ đóng góp thêm vài ba ý cho thêm phần “hấp dẫn”. Thầy biết đó, Thân Trọng Minh vốn là người viết kịch! Cao Huy Thuần bên trời Tây nghe được cũng hết lòng ủng hộ và nói sẵn sàng sắm một vai…

Tôi nay đã 80 tuổi, già nhanh rồi, mà vừa trải qua những ngày không vui vì mất hết dữ liệu trong ổ cứng máy tính. Nhờ người cháu tậu cho cái ổ cứng mới nên nay vội viết thư này xin phép thầy hoan hỉ cho phép tôi đưa bài “Phương nào cõi tịnh” lên dohongngoc.com. Đây là trang web của riêng tôi, chỉ nhằm lưu trữ bài vở, và cũng in ra giấy để giữ.

Vừa rồi tôi nóng ruột, đã thử phone thầy và nhắn tin xin phép, mới hay Thầy và cả thầy Hạnh Viên đều đang nhập thất mùa An Cư Kiết Hạ.

Tôi hoàn toàn đồng ý với thầy:

“trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn”…

Mong Thầy hoan hỷ nhấp một chung trà lão Triệu, với nụ cười rất tuệ sỹ vậy nhe.

Thân kính,

Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh và Thầy Tuệ Sỹ (Thư quán Hương Tích).

………………………………………………………………………………..

 

 

PHƯƠNG NÀO CÕI TỊNH

Tuệ Sỹ

(viêt từ cảm hứng “Cõi Phật Đâu Xa” của Đỗ Hồng Ngọc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,

Ngoài hư không có dấu chim bay?

Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ,

Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.

 

Lần đầu tiên tôi tình cờ gặp bản dịch Duy-ma-cật sở thuyết của ngài Huệ Hưng; hành tung ly kỳ và chuổi lý luận của Duy-ma-cật khiến đọc say mê, nhiều đoạn học thuộc lòng. Có thể không “choáng ngợp” như anh Cao Huy Thuần vì trình dộ nhận thức của tôi bấy giờ chỉ là của một cậu bé 14 tuổi, không thể sâu sắc như  vị giáo sư trẻ tốt nghiệp Đại học Luật khoa Huế. Một chú tiểu tu chùa Việt nhưng học kinh điển theo hệ Theravāda với các Sư người Lào, do đó cực kỳ kính trọng các A-la-hán, và vì vậy không có cảm giác Duy-ma-cật đã có thể triệt hạ địa vị các Đại Thanh văn. Lớn lên chút nữa, qua nhiều năm học thêm nhiều kinh luận Đại thừa, đọc thêm các nhà luận giải Trung hoa chê bai tư tưởng các vị Thanh văn thấp kêm, tâm tư nhỏ hẹp, và kêt án khá nặng là “hạng tiêu nha bại chủng”, hủy diệt mọi thứ mầm non và hạt giống tốt của giác ngộ.

Cùng với sự phát triển của loại “khẩu đầu Thiền”, thuyết lý Thiền tông trên đầu môi chót lưỡi, phát sinh một lớp sư tăng “cuồng thiền”: thỏng tay vào chợ, thanh lâu, hý viện, đâu chẳng là thanh tịnh đạo tràng. Nhưng với sự huân tập từ hồi còn là tiểu nhóc, tôi chưa hề cảm thấy, mặc dầu với lý luận biện tài vô ngại, Duy-ma-cật đã lấn lướt vượt qua các vị Thanh văn như thế nào. Tuy nhiều vị luận giải Trung hoa quả có chế diễu ngài Xá-lợi-phất, và nhiều vị Đại Thanh văn khác nữa, như khi ngài hỏi Duy-ma-cật các Thánh giả sẽ ăn cơm ở đâu, sẽ ngồi chỗ nào; dù vậy, tôi vẫn cảm thấy trong đó có ẩn ngữ mình chưa hiểu.

Cho tới một lúc, lớn thêm chút nữa, giữa xã hội xô bồ đảo điên, tăng đồ như một cộng đồng ô hợp, riêng Phật riêng thầy, riêng tông môn pháp phái, bấy giờ bỗng xuất hiện những cư sỹ lão thành cự phách, mà trình độ thâm hiểu giáo lý không nhường các bậc trưởng lão trong sơn môn. Bên trong, hiểu và hành sâu xa nội điển; bên ngoài nhạy bén trước các biến cố đảo điên của xã hội; hiểu đạo sâu mà hiểu đời rộng, tài và trí ấy, hiểu và hành ấy, đã góp phần rất lớn trong những đoạn đường khơi lạc nguồn mạch tư duy.

Không chỉ một Duy-ma-cật, mà có rất nhiều Duy-ma-cật, khoác nhiều hành trạng khác nhau trong nhiều địa vị xã hội khác nhau, đã từng xuất hiện ở đây, sống giữa chúng ta. Họ lăn lóc trong bụi đời, nếm đủ thứ “mùi tục lụy” nhưng vẫn không ngừng vươn lên theo chiều cao của Đạo Pháp. Trong một thời đại mà không còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Duy-ma-cật, Phật pháp đạo lý có thể chỉ như món hàng trong siêu thị; có lúc chỉ như gánh hàng rong trên hè phố.

Duy-ma-cật là ai mà được ví von như thế? Một nhân vật nửa lịch sử, nửa huyền thoại. Nhân cách ấy là tập hợp tất cả phẩm tính để được gọi là “đích tử”, con chân thật, của các đấng Giác Ngộ. Mỗi nhân cách nổi lên trong một thời đại lịch sử riêng biệt, trong mỗi thời đại ấy là những nhân cách từ phẩm chất và phẩm trật trong từng xã hội cá biệt. Nhân cách ấy ẩn mình đơn độc trong rừng sâu, hoặc hiện diện giữa chợ đời huyên náo, mà không gian bao trùm bởi trực tâm và thâm tâm. Trực tâm, mà Huyền Trang gọi là “thuần ý lạc (āśaya)”, đó chính là ý chí hướng thượng, nhìn đời bằng con mắt yêu thương, định hướng cho cuộc đời của mình và cùng với tất cả cùng đi lên bằng tình yêu và trí tuệ. Từ trực tâm ấy, với ý chí quyết định, kiên trì mục đích, đó gọi là thâm tâm, cũng nói là tăng thượng ý lạc (adhy-āśaya). Đó là nhân vật mà ta có thể gặp đâu đó.

Bằng thuần ý lạc địa, từ cơ sở đó mà bảy bước phát khởi tâm bồ đề, khởi từ tình yêu thâm thiết đối với Mẹ thân sinh, vì sự an lạc của Mẹ mà phát nguyện hành bồ-đề. Rồi với tình Mẹ bao la mà tâm nguyện bồ-đề cũng theo đó mà rộng lớn lên, theo một đường thẳng như tấm lòng ngay thẳng. Từ tâm tư thuần ý lạc địa ấy mà kiên định chí hướng, in sâu trong tận cũng tâm khảm, trong thâm tâm.

Thế nhưng có thể chúng ta dễ bị choáng ngợp bởi những từ ngữ mang tính triết học, do đó mà thấy Duy-ma-cật là một nhân vật cao diệu, xa vời. Vậy, chúng ta bắt đầu từ diễn tả bằng ngôn ngữ đời thường, như Đỗ Hồng Ngọc viết trong Cõi Phật Đâu Xa: anh viêt Kinh dễ dàng và cũng rất thận trọng cân nhắc, y như bác sỹ viết toa thuốc:

“Lòng ngay thẳng – trực tâm – chính là sự bình đẳng, không phân biệt, không kỳ thị … Không kỳ thị, không phân biệt đối xử mới có lòng tôn trọng như Thường Bất Khinh, mới có lòng Từ bi, Thấu cảm như Quán Thế Âm, mới có lòng Chân thành để “ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng” như Dược Vương. Tôn trọng, chân thành, thấu cảm phải dựa trên điều kiện tiên quyết không phân biệt, là Bình đẳng. Đó chính là Bất nhị.”

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa cũng sợ; chúng ta lại gặp một từ ngữ triết học rắc rối hơn nữa: “bất nhị.” Đó là nguyên lý chỉ đạo cho tư duy và hành động của Duy-ma-cật, khi ông nói với ngài Xá-lợi-phất: “Hiện các oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) mà vẫn không xuất tưởng thọ diệt định, đó mới chính là tĩnh tọa.” Hoặc khi ông chào đón Bồ-tát Văn-thù đến thăm bệnh, và ở đó, trong “Cõi Phật Đâu Xa”,  ta cũng nghe rõ như lời bệnh nhân chào đón y sỹ: “Lành thay, Văn-thù mới đến! Tướng chẳng đến mà đến. Tướng chẳng thấy mà thấy.” Bệnh chứng, bệnh nguyên, tất cả các tướng ấy, chẳng đến mà đến, chẳng thấy mà thấy; bệnh nhân không tìm đến y sỹ, và y sỹ không đi đến bệnh nhân.

Trong đối thoại này, Duy-ma-cật cũng chào đón Văn-thù bằng ngôn ngữ thông thường: svāgatam: nghĩa đen được hiểu đã đến một cách khéo léo, tốt đẹp; đây là một từ chào hỏi tương đương chính xác với lời chào tiếng Anh: “Welcom!” Từ chào hỏi này liên hệ đến từ Tathāgata: Như Lai, mà Kinh Kim cang định nghĩa: “Như Lai, vị khéo đến, vì không từ đâu đến, cũng không đi đến đâu.”  Nó cũng liên hệ các từ  Phạn gata, āgata, anāgata: đã đi, đã đến, không đến, chưa đến, đó là những từ mà chúng ta đọc hằng ngày trong Tâm Kinh: gate gate paragate parasaṃgate bodhi svāha. Đến mà không đến, đi mà không đi, là thể tính Như Lai: Tathāgata: tathā gata/āgata. Các vị Thánh giả chào nhau bằng ngôn ngữ đời thường mà trong đó vẫn bao hàm thế giới siêu việt.

Nhưng, tư tưởng bất nhị là căn nguyên tư tưởng của một nhánh trong triết học Vedānta, tiếng Phạn nói là advaita-vāda, dịch theo ngôn ngữ triết học quen dùng ngày nay, đó là chủ thuyết lý “Nhất nguyên Tuyệt đối”. Đạt đến nhất nguyên tuyệt đối, là đạt đến giải thoát, bấy giờ Phạm-Ngã đồng nhất, Tiểu ngã và Đại Ngã hiệp thành nhất thể tuyệt đối. Nói cách khác, Linh hồn và Thượng đế là Nhất thể Tuyệt đối. Kinh Phật không nhận có Thật Ngã tồn tại, dó đó không thừa nhận thuyết Nhất nguyên tuyệt đối này.

Để khỏi phái bối rối, choáng ngợp trước những từ ngữ và lý luận biện chứng siêu nghiệm, từ nhất nguyên tuyệt đối của Phạm-Ngã nhất thể, cho đến “Như Lai đến mà không đến, đi mà không đi”, chúng ta cũng có thể bắt đầu với nhận thức đơn giản hơn từ dẫn giải bởi Đỗ Hồng Ngọc, hiểu theo cách y sỹ chẩn đoán bệnh:

“Ở tại nơi sanh tử mà chẳng làm việc ô trược, trụ nơi Niết-bàn mà chẳng diệt độ mãi; hành tánh không mà vẫn trồng các cội công đức; hành vô tướng mà vẫn độ chúng sanh; hành vô khởi mà khởi tất cả thiện hạnh…”

Đây là đoạn dẫn tóm tắt khi Duy-ma-cật nói với Văn-thù về sở hành cảnh giới của Bồ-tát, môi trường hành đạo và đối tượng quán sát của Bồ-tát; trong đó nói hành tánh không (śūnyatā-gocara), hành vô tướng (animitta-gocara), là hai trong ba giải thoát môn mà một vị Thanh văn lập làm đối tượng quán sát để chứng nghiệm Niết-bàn. Ba giải thoát này là Không, Vô tướng, Vô nguyện (apraṇihita), hay nói là  Vô tác theo La-thập.  Chưa thấy và chưa biết Niết-bàn là gì thì chớ vội nói sinh tử và Niết-bàn là một, không hai. Thế nhưng, đây là những lời người bệnh nói với người thăm bệnh. Bệnh hay vô bệnh, sinh tử hay Niết-bàn, đây và đó qua lại trong ba ngõ: người bệnh vốn không, hiện tượng bệnh cũng không, cho nên không có gì để nói hy vọng hay tuyết vọng.

Những điều như vậy cũng không phải dễ hiểu; do đó chúng ta nên nghe lời dẫn từ Cõi Phật Đâu xa:

“Bồ-tát luôn đứng giữa hai bờ…” và tại đây ông giới thiệu lời trong ca khúc của Trịnh Công Sơn: trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyêt/ Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. Nếu đưa thẳng vào tư duy triết học thì lời nhạc của Trịnh Công Sơn không liên hệ gì đến pháp môn bất nhị. Nhưng nó cũng khiến chúng ta nhớ đến câu chuyện một nhạc công của Thiên đế Indra thất tình với một thiên nữ, bèn tìm đến đức Phât, hát lên “bản tình ca dâng Phật”, với đoạn tả tình thắm thiết: “Tôi yêu nàng như A-la-hán yêu Chánh Pháp”. Có lẽ chẳng có ca từ mô tả tình yêu chung thủy nào chân tình hơn thế. Lời nhạc đã lạ lùng với đôi tai người đọc kinh Phật nghiêm túc, mà câu trả lời của Phât cũng thất lạ lùng khó hiểu: “Hay lắm, nhạc hòa hợp với lời, lời hòa hợp với nhạc; trong đó có ái dục mà cũng có Niết-bàn,” Ái dục là tình yêu hệ lụy sắc dục, và Niết-bàn là cảnh giới ly dục. Há lại có nghĩa, từ trong ái dục mà thấy Niết-bàn, từ Niết-bàn mà thấy rõ thể tính của ái dục? Đơn giản hơn, từ bùn lầy hôi thối mà tìm thấy hoa sen?

Rốt cục, cửa dẫn vào pháp bất nhị này là đâu, là cái gì?

Chuyện tình nhạc công của Thiên đế diễn thành kịch bản để nói những điều không thể nói, vì tính chẩt phản diện được cấu trúc trong đó. Cũng thế đó, người đọc Duy-ma-cật sở thuyết có thể dễ dàng nhận ra bản văn này được cấu trúc theo thể loại kịch. Trong kịch bản, tính phản diện của các nhân vật được sử dụng để diễn tả nội dung theo ý nghĩa muốn nói.

Trong đoạn dẫn của Đỗ Hống Ngọc nêu trên, chúng ta thấy Bồ-tát tu tâm như một Thánh giả Thanh văn xuất thế, nhưng hành đạo như một phàm phu trong sinh tử: trong bùn mà chằng hôi tanh mùi bùn. Đó là căn bản của tư duy bất nhị. Thánh nhân xuất thế, và phàm phu sinh tử, hai mặt phàn diện mà lại đồng nhất thể tính. Người đọc nếu không nhìn ra những cặp phản diện trong Sở thuyết này tất sẽ thấy Duy-cật-đã đã “lấn lướt” các Thánh giả Thanh văn, đã “dồn ví” các ngài vào ngõ bí.

Trong kịch bản Duy-ma-cật sở thuyết, người ta nghe được những đối đáp tương xứng giữa Văn-thù và Duy-ma-cật, nhưng đây không phải là cặp nhân vật phản diện; mà trong đây Văn-thù chính là vai người dẫn kịch. Không có người dẫn kịch thì khó có thể hiểu nội dung của kịch bản. Đây là cấu trúc cổ điển của kịch. Như trong khi Văn-thù nói và hỏi, Duy-ma-cật im lặng; nếu không có Văn-thù như là vị dẫn kịch, thì sự im lăng của Duy-ma-cật chẳng có ý nghĩa gì; do đó đây không phải là cặp đối đáp phản diện.

Thực ra, Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều lớp áo khác nhau, nên đồng thời thủ vai phản diện cho nhiều vị Thánh giả, từ các A-la-hán cho đến các Bồ-tát. Khi ngài Xá-lợi-phất tĩnh tọa trong rừng vắng, Duy-ma-cật xuất hiện với lý luận sắc bén khiến cho vị Đại Thanh văn này không còn lời đối đáp. Dễ chừng người ta chỉ thấy một Tôn giả Xá-lợi-phất trong rừng vắng nhập tưởng thọ diệt tận định, thân tâm bất động, có thể lưu thọ hành để giữ cho thân thể tồn tại không mục rã qua một đại kiếp, hằng triệu năm của mặt trời; ấy thế nhưng lại không thấy ngài ôm bát lang thang trong hang cùng ngõ hẻm với cái bụng đói. Nếu để thọ hưởng an lạc tịch tĩnh chính mình qua hằng nghìn năm cho đến khi thân ấy mục rã nếu muôn, thế thì cần gì phải ăn để mà sống. Vậy ôm bát đi khất thực vì lẽ gì?  Vì cơn đói sẽ hành hạ bản thân, hay vì để thức tỉnh thế gian đang trầm luân trong khổ lụy? Thế thì Duy-ma-cật đi vào đời để xây dựng cho đời an vui có cao quý hơn ngài Xá-lợi-phất ngồi trong tịch nhiên bất động? Phải chăng tượng Phật ngồi bất động trên bàn chẳng ích lợi gì cho ai, chẳng bằng sư trụ trì tụng kinh cầu siêu, cầu an cho bá tánh? Đấy là cặp phản diện làm hiện rõ bản chất của tồn tại.

Mặt khác, trong phong thái Thánh giả xuất trần Xá-lợi-phất lại xuất hiện trước một phản diện là cô thiên nữ cực kỳ diễm lệ. Với sắc đẹp vượt lên cả hàng thiên hương quốc sắc ây, với vũ điệu thiên nữ tán hoa kỳ ảo hơn cả vũ khúc nghê thường ấy, cũng rất dễ khiến cho Đường Mimh Hoàng mất ngôi mất nước. Nhưng sao nàng sống chung trong một căn phòng trống trải với lão cư sỹ Duy-ma-cật; rồi lại xuất hiện múa hát trước các Thánh nhân xuất thế, những vị mà tâm tư lắng đọng không hề gợn sóng dục tình; hiện diện với ý nghĩa gì? Đối đáp giữa thiên nữ và Xá-lợi-phất đã dẫn cặp phản diện ô nhiễm và thanh tịnh lên đến kịch tính gay cấn, khiến cho Xá-lợi-phất biến hình thành thiên nữ kiều diễm, và thiên nữ biến hình thành Thánh giả Xá-lợi-phất nghiêm trang.

Nhận diện được những cặp nhân vật phản diện trong Kinh thì cũng có thể bằng hình ảnh ấy mà chiêm nghiệm thế nào là ý nghĩa bất nhị, bằng cánh cửa nào để đi vào cảnh giới bất nhị ấy.

Thêm nữa, ngoài những nhân vật phản diện, cũng nên đi sâu vào những bối cảnh phản diện. Khu vườn xoài, sở hữu của kỹ nữ Am-la-bà-lị, nơi các vương tôn công tử buông mình thả trôi trong dục vọng, lại trở thành nơi tịnh tu của các Thanh văn xuất thế, trong ô nhiễm mà không ô nhiễm. Tư gia của Duy-ma-cật, nơi ông tiếp những chính khách đang lao mình trong đấu trường quyền lực, những thương gia đang cạnh tranh ráo riết trên thương trường, mhưng chỗ ấy lại cũng là nơi lai vãng của các Thánh giả xuất trần, Thanh văn và Bồ tát. Tư gia của trưởng giả Duy-ma-cật, khu vườn xoài của kỹ nữ Am-la-bà-lị: cặp phản diện của náo nhiệt và tịch tĩnh, của ô nhiễm và thanh tịnh.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tự duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Trong khi chúng tôi cùng tìm hiểu ý nghĩa phản diện và kịch tính trong Duy-ma-cật sở thuyết, hai ông bạn cư sỹ Đỗ Hồng Ngọc và Thân Trong Minh tỏ ra tâm đắc và cao hứng, cố ý muốn viết lại một kịch bản và dàn dựng sân khấu như thế nào đó để có thể hiểu rõ hơn điều mà Kinh muốn chỉ điểm; vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn.

Hy vọng các bạn cư sỹ thành tựu như ý. Riêng tôi, trở về thảo am thơ thẩn, gởi lại hai bạn cư sỹ hai câu thơ:

Nhà tranh mái cũ quen chừng,

Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn.

 

Thị ngạn am, tiết Lập xuân, Đinh dậu

Tuệ Sỹ

(3.2017)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 14
  • Trang 15
  • Trang 16
  • Trang 17
  • Trang 18
  • Interim pages omitted …
  • Trang 43
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết
  • SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc & Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace & Joy”
  • Bv Đại học Y Dược Tp HCM: Bs Đỗ Hồng Ngọc – Thiền và Sức Khỏe.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email