Sống và lớn lên ở Sài Gòn, ta ít có dịp “nhớ về”, “hướng về” Sài Gòn, trái lại ta thường dễ “bực bội” với Sài gòn về đủ thứ chuyện trên đời, cho đến một hôm…
Lần đó tôi có dịp đi công tác ở Chiang Mai, Thái Lan cùng với một anh bác sĩ bạn. Chúng tôi trọ trong một khách sạn trung bình, sạch sẽ và yên tĩnh. Buổi tối rảnh rỗi, không biết làm gì, chúng tôi xuống tầng trệt, vào cái bar trần ở đó, gọi hai ly cam vắt và nghe hát. Khách lưa thưa, chủ yếu là người Âu, Mỹ. Một chiếc dương cầm. Một cô ca sĩ. Cô ca sĩ gầy nhom, khoác chiếc áo veste đen cũ kỹ. Người đệm đàn cho cô hát râu ria xồm xoàm, cũng ăn mặc rất giản dị, dáng vẻ nghệ sĩ. Cô hát, hết bài này đến bài khác từ bài Thái, đến Nam Mỹ, Bắc Mỹ, châu Âu, các bài hát nổi tiếng…Đột nhiên nhạc trỗi lên một điệu quen thuộc và cô ca sĩ cất tiếng hát bằng tiếng Việt, nghe rất rõ ràng dù phát âm còn chưa chuẩn: “Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai… Đường xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay… Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này… Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!…”. Tôi giật mình, nghe như có cái gì đó xao xuyến trong lòng, một cảm giác rưng rưng khó tả. Tôi bỗng “nhớ” Sài Gòn, một nỗi nhớ da diết lạ lùng như đã xa Sài Gòn từ lâu lắm! Bạn tôi cũng vậy, gõ nhịp hoan hỉ trên ly cam vắt và khe khẽ hát theo. Cô ca sĩ bổng nhiên đẹp hẳn lên, rực rỡ dưới ánh đèn, chiếc áo veste như có gió bay lên và người nghệ sĩ đệm piano lắc lư say đắm trên các phím đàn. Bài hát dứt lúc nào không hay. Tôi lên cám ơn cô, nói tôi vừa ở Sài Gòn đến. Tôi như muốn nói thêm rằng nhờ cô mà tôi phát hiện được một Sài Gòn rất thực của mình. Cô nói cô không ngờ chúng tôi ở Sài Gòn đến và sẳn sàng hát lại bài hát lần nữa tặng chúng tôi… Chúng tôi cũng không quên giúp cô phát âm chuẩn vài từ trong bài hát để đêm đêm cô hát “Sài Gòn đẹp lắm…” cho du khách thập phương nghe.
Đỗ Hồng Ngọc
Tôi đi giữa Boston. Cả một mùa thu. Trọn một mùa thu. Nhớ tới Xuân Diệu với “Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về, mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ…”. Thực ra, lá như ráng níu lại chút xanh, và vì níu lại nên có vẻ chặt hơn, xanh hơn lên mà thôi. Bởi vì rất nhanh, lá bỗng vàng rượm, vàng rực, vàng tía, vàng buốt… và bầu trời rộng ra, thênh thang, yểu điệu kỳ cục. Mới mấy ngày thôi mà cây cứ tô dần tô dần cái màu vàng buốt, óng ả, rực rỡ chen lẫn với xanh đậm, xanh lợt mong manh đó… và sáng hôm sau, rơi từng lá từng lá tràn ngập các lối đi.
Nếu có ai hỏi tôi tuổi nào là tuổi đẹp nhất của người phụ nữ thì tôi bảo đó là tuổi bốn mươi. Tại sao ư? Bởi nó như một thứ trái cây chín tới mà chưa đủ muồi. Nó hườm hườm, chưa gọi là chín được mà cũng chẳng còn xanh nữa! Cho nên nó vẫn còn căng cứng, còn mơn mỡn, mướt rượt chớ không xanh xao, ẻo lả, và dĩ nhiên nó cũng chưa mềm èo, mềm rục. Nó chuyển như mùa, như trời đất vào thu. Nó vàng mơ. Vàng ươm. Nó rạo rực.Nó thổn thức. Và nó tươm mật. Nghề nghiệp đã vững chãi. Kinh nghiệm đã no nê. Khó mà lường gạt nó trừ phi nó cố tình để cho …lường gạt. Nghề nghiệp chín rộ, chín tới nên nó tự tin, tự tin ở chính mình, và từ đó, dẫn đến tự tại. Cái inner freedom đó làm cho nó vừa đủ kiêu hãnh mà cũng vừa đủ nhún nhường, vừa đủ khoan dung mà cũng vừa đủ cứng rắn, với mình, với người. Cho nên nó hấp dẫn. Về tình yêu nó là tuổi của dâng hiến. Cũng là tuổi của nề nếp. Hết mình cho tình yêu. Chung và riêng. Nó bớt đắn đo, nó không toan tính. Như đã vượt ra, vượt qua, vượt lên một đời lận đận đo rồi đếm/ mỏi gối người đi đứng lại ngồi (Bùi Giáng). Bây giờ nó đứng nó ngồi đã thong dong. Tình yêu không như tình đầu mà như tình cuối, lúc nào cũng tình cuối!
Thực ra thì cách đây mấy ngàn năm, thế giới đã phẳng rồi. Trời tròn đất vuông. Bánh chưng bánh dày. Trung Quốc là nước nằm ở… chính giữa thế giới phẳng đó, là thiên triều, xung quanh là man di, mọi rợ, phải triều cống và phải được khai hóa… Cho nên hết Tiết Nhơn Quý chinh Đông lại đến Tiết Đinh San chinh Tây rồi La Thông tảo Bắc.. Cũng có những lúc Mông Cổ, Mãn Châu… đánh chiếm trung nguyên, lập ra nhà Nguyên nhà Thanh nhưng rồi chẳng bao lâu sau họ đều tự biến thành người Trung quốc. May thay, nước ta dù bị Bắc thụôc cả ngàn năm vẫn không bị đồng hóa có lẽ nhờ có một nền văn hóa có sức đề kháng lạ lùng!
BS.Đỗ Hồng Ngọc là cây bút quen thuộc trong ngành y. Nhiều cuốn sách phổ cập y học của ông thuộc hàng best seller, liên tục tái bản cả chục lần. Nhiều cuốn sách của ông không còn đơn thuần là sách phổ biến kiến thức y học, mà trở thành tác phẩm văn học với các thể tài tùy bút, tản văn. Văn ông vừa giản dị, trong sáng, chuyển tải được tri thức khoa học của một người làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, vừa giàu chất suy tưởng chiêm nghiệm, thấm đẫm tinh thần đạo học phương Đông, nhất là Phật giáo.
Theo các chuyên gia thì khuynh hướng tính dục ở mỗi người chúng ta thường hơi nghiêng về bên này hay bên kia một chút, không ai trăm phần trăm cả! Nam giới cũng có ít nhiều kích thích tố nữ và nữ giới cũng ít nhiều kích thích tố nam! Trong âm có dương trong dương có âm là vậy! Ở tuổi teen, mọi thứ đều chưa định hình một cách rõ rệt nên sự nghiêng lệch càng đậm nét. Ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội chung quanh. Thấy người ta “đồng tính” hay hay cũng bắt chước cho vui. Một người đồng tính thứ thiệt thì không vậy. Họ bình thường như tất cả mọi người, học hành giỏi giang như mọi người, công danh sự nghiệp tốt đẹp như mọi người. Trong một quần thể dân số nói chung, số lượng đồng tính luyến ái (ĐTLA) thật chỉ chiếm khỏang một hai phần trăm mà thôi.
– Mấy bài viết gần đây trên các báo thấy hình như bác sĩ đang ra sức bênh vực cho… áo dài nữ sinh thì phải?
Lần nào đọc Cao Huy Thuần tôi cũng có một cảm giác sảng khoái. Có lúc giật mình. Có lúc tủm tỉm cười. Anh có kiểu viết vừa bác học lại vừa bình dân, vừa giáo sư đại học vừa thầy giáo làng, vừa là nhà luật học vừa là một người “hành thâm Bát nhã”. Cái gì tôi cảm thấy lờ mờ thì hình như được anh “zoom” lại cho, giải thích có ngành có ngọn. Văn anh thâm trầm, kín đáo, mà không thiếu dí dỏm, hài hước. “Nói chung” là nhẹ nhàng, dễ đọc, dù đề cập một vấn đề không dễ như cuốn Tôn Giáo & Xã Hội Hiện Đại, một cuốn sách mới của anh luận về sự biến chuyển lòng tin ở phương Tây trong bối cảnh “cực hiện đại”, “siêu hiện đại”, do Thuận Hoá vừa mới xuất bản.
Tháng 12 năm nay là lần giỗ thứ tư ngày ông mất (1912- 1984), ông Nguyễn Hiến Lê sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, học trường Yên Phụ rồi trường Bưởi, tốt nghiệp Công chánh, khăn gói vào Nam ở lứa tuổi 22-23, và được bổ vào làm việc ở Sở thuỷ lợi Nam Việt, rồi sống tại miềm Nam cho tới ngày mất để lại một sự nghiệp trước tác, biên khảo, dịch thuật đồ sộ với khoảng 120 tác phẩm có giá trị cho hậu thế.
Buì Giáng có những câu thơ thật dễ thương:
Ở vào cái thời mà lãng mạn thứ thiệt trở nên qúy hiếm, chỉ còn thứ lãng mạn fastfood, lãng mạn “catalogue”, với những hình vẽ chỉ cách chống cằm, nghiêng người… nói lên một điều gì đó thật nghèo nàn thảm hại thì tìm thấy một nơi còn có chút lãng mạn thứ thiệt hẳn là rất thú vị.
Hình như chưa bao giờ người ta nói nhiều về hạnh phúc như bây giờ! Sáng nay, mở tờ báo, mọi người chưng hửng, rồi tủm tỉm cười: Việt Nam mình hạnh phúc nhất châu Á, đứng hàng thứ 12 trên thế giới, trong khi đó, Singapore- “thần tượng” – lại đứng hạng bét châu Á, vào hàng thứ 131 của thế giới! Mỹ còn tệ hơn, hạng 150, rồi Anh 109, Pháp 129, Nhật 95 và Đức 85 v.v… Chẳng lẽ rồi đây mình sẽ phấn đấu… giảm dần hạnh phúc xuống cho bằng với Singapore, rồi với các nước Âu Mỹ? Ai đó lên tiếng bên tách café sáng vỉa hè Saigon, những ngày bão rớt, với dồn dập những tin động đất, lũ lụt, sóng thần, núi lửa, dịch bệnh, chiến tranh….
Đọc báo thấy giới thiệu “