
Nhà văn Võ Hồng,1997(Ảnh DHN)
Tôi quen biết anh từ 30 năm trước ở Nha Trang. Tính về vai vế tôi phải gọi anh bằng… “ông”, vì dì tôi là bạn của con gái lớn anh. Nhưng anh vốn xuề xoà, dễ tính, bảo gọi bằng anh thôi. Còn anh luôn toa, moa với tôi một cách thân mật.
Năm nay có dịp về Nha Trang, tôi ghé thăm anh. Tìm nhà hơi khó vì đường sá đã mở rộng, nhà cửa thay đổi nhiều. Tôi đang loay hoay tìm cây khế, cây trứng cá “làm dấu” trước nhà thì một bà già đi ngang qua thấy, hỏi tìm ai, “Dạ tìm ông nhà văn Võ Hồng”, bà đáp: “Văn võ nào đâu tôi chả biết, chỉ biết có ông già sống một mình ở ngôi nhà kia thôi!”. Tôi kể lại anh nghe, anh cười ha hả, có vẻ… chịu bà già lắm vì nhà văn Võ Hồng thì không biết mà lại biết anh sống một mình!
Tôi thường tự hỏi không hiểu vì sao ngày xưa trẻ con thuờng bị đòn roi mà nên người còn bây giờ cha mẹ … sợ con, lúc nào cũng ngọt ngào, tử tế với con mà con dễ bị hư? Dĩ nhiên là không vơ đũa cả nắm!
Chuyện Trang Chu một hôm nằm mộng thấy mình hóa bướm, giật mình tỉnh dậy bàng hoàng không biết mình là bướm hay bướm là mình thì ai cũng biết, nhưng không ai ngờ rằng rồi đây Trang Chu hóa bướm hay bướm hóa Trang Chu sẽ là chuyện… thường ngày! Chỉ tội nghiệp Trương Trào, một triết gia đời Thanh, hơn ba trăm năm trước, đã chua chát bào Trang Chu thấy mình hoá bướm đó là cái may của Trang Chu, còn bướm nếu nằm mộng thấy mình hóa Trang Chu thì đó là cái bất hạnh của bướm! ( U mộng ảnh, Bóng trăng gió núi, bản dịch Huỳnh Ngọc Chiến). Bởi chẳng ai ngờ ngày nay các nhà khoa học đã có thể ghép gen của… Trang Chu vào bướm rồi ghép gen của bướm vào Trang Chu để “biến hóa” qua lại như chơi!
Chưa bao giờ chuột và người lại gần gũi với nhau như bây giờ! Nhiều người đi đâu cũng kè kè con chuột. Có khi còn bỏ chuột vào túi quần. Ra quán café ngồi nhâm nhi cũng rê dắt chuột; đến công ty, xí nghiệp, cơ quan thì khỏi nói, mân mê chuột suốt ngày; về đến nhà cũng ôm cứng lấy chuột. Chuột khắp mọi nơi. Chuột trên máy bay, ô tô, tàu hỏa… Chuột có đuôi và chuột không đuôi. Chuột phát sáng và chuột không phát sáng… Chuột trắng chuột đen chuột xanh chuột đỏ…. đủ thứ! Chuột to như nắm tay hoặc chuột nhỏ như hạt đậu đều có. Nhưng, chuột nào cũng là chuột! Nó nối thế giới lại với nhau trong tich tắc, nó làm cho người ta hả hê sung sướng hay đau khổ tận cùng. Khi vổ gối khi chau mày, đêm quên ngủ ngày quên ăn cũng vì chuột! Đó là con chuột của… máy vi tính trong thế giới phẳng ngày nay vậy!
Từ năm 1946, Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) đã định nghĩa: Sức khoẻ là một tình trạng hoàn toàn sảng khóai (well-being; bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật. Một định nghĩa như thế cho thấy đánh giá sức khỏe của một con người không thể chỉ dựa vào chuyện có hay không có bệnh tật; và cũng vậy, không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ bệnh tật, tỷ lệ tử vong, số giường bệnh, số bác sĩ… Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được “tình trạng sảng khóai” về cả ba mặt, thể chất, tâm thần và xã hội như định nghĩa đã nêu? Đánh giá sự sảng khóai, sự hài lòng cũng chính là đánh giá hạnh phúc. Mà đánh giá hạnh phúc là chuyện không đơn giản chút nào vì nó nặng tính chủ quan, dễ lệch lạc. Chính vì thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra đựơc một bảng “Đánh giá chất lượng cuộc sống” (Quality of Life Assessement) liên quan đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe để cụ thể hóa định nghĩa đã nêu trên. Theo đó, người thầy thuốc chỉ quan tâm chữa trị bệnh tật là chưa đủ, mà phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nói khác đi, người bệnh sống không phải chỉ là sống sót, tồn tại, mà phải là sống có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ tốt nhất có thể được..WHO đề ra một bảng chỉ số gọi là WHOQOL-100 (WHO quality of life,100 đề mục) cò thể triển khai thực hiện trên nhiều nước khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau, bao gồm 6 lãnh vực: 1.Sức khỏe thể chất; 2.Tâm lý; 3.Mức độ độc lập; 4.Các mối quan hệ xã hội; 5.Môi trường và 6.Niềm tin, tôn giáo, vấn đề tâm linh. Các chỉ số đo đạc này sẽ rất hữu ích cho việc cải thiện chất lượng phục vụ của ngành y trong việc chăm sóc sức khỏe người dân nói chung cũng như trong nghiên cứu khoa học, trong giám sát và cả trong họach định chính sách.
Đúng rồi đó, “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng?”. Chuyện gì vậy? Thi cử sao lại dính tới chuyện “động phòng” ở đây? Ngày xưa, thi cử rất khó khăn, cứ mỗi 3 năm nhà vua mới mở khoa thi một lần để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước. Người thi đỗ được vinh quy bái tổ, “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”, vinh dự không chỉ cho gia đình, dòng tộc mà còn cho cả xóm làng. Sĩ tử ngày xưa thường đã lớn tuổi, nhiều người thi hết đợt này tới đợt khác! Nguyễn Công Trứ chẳng hạn, đến 42 tuổi mới đỗ tiến sĩ, ra làm quan. Do vậy chuyện…có vợ trước khi đi thi là chuyện thường (Đừng bắt chước nha!). Không những có vợ mà có người còn con cái đùm đề nữa. Như Tú Xương trước ngày thi đã căn dặn vơ con: Phen này tớ hỏng tớ đi ngay/ Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày… Dĩ nhiên Tú Xương…hỏng. Nhờ vậy mà sau này ta có…nhà thơ Tú Xương đi vào văn học sử! Nói cách khác, thi rớt cũng chả làm sao! Thua keo này, bày keo khác! Học không phải một ngày, một tháng, mà phải học suốt đời. Có người không thành công trong trường ốc mà lại thành công trong trường đời. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh! Trở lại chuyện ngày xưa. Có những sĩ tử may mắn có được người vợ đảm đang, tảo tần, nuôi cho ăn học, nên dành hết thì giờ cho chuyện “dùi mài kinh sử”, không chễnh mãng, rượu chè, bài bạc, đắm mê nhan sắc để phải làm lỡ sự nghiệp công danh. Vì vậy mà có câu vợ khuyên chồng: “Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng”! Nghĩa là trong lúc học thi, ôn thi, không đươc gần gũi, ăn nằm với nhau, nói theo bây giờ là phải kiêng nhịn tình dục, lo tập trung cho chuyện học hành. Thi đỗ xong…rồi tính! Người xưa gọi thi đỗ là “đại đăng khoa” còn lập gia đình là “tiểu đăng khoa”. Phải lo “đại” trước rồi mới tới “tiểu” sau. Kẻ đắm mê nhan sắc sớm thì dễ… hư đời, công danh sự nghiệp lỡ dỡ!
Cái nguy lớn nhất của AIDS chính là sự “giấu mặt”- nghĩa là lan truyền một cách âm thầm, không thấy không biết- khác với dịch tả, dịch hạch, SARS, cúm gia cầm H5N1…- khiến người ta dễ chủ quan, mất cảnh giác! Người ta ví AIDS như những con mối ăn luồn trong căn nhà gỗ, bên ngoài không trông thấy gì, đến khi căn nhà sụp đổ ập xuống mới hay!
Cứ mỗi lần thấy một bức ảnh trúng giải thưởng quốc tế của các nghệ sĩ nhiếp ảnh nước ta có liên quan đến cây cầu khỉ – khi thì một cô giáo dẫn học sinh qua cầu, khi thì một đôi thanh niên nam nữ âu yếm dắt tay nhau, khi thì một đám cưới miệt vườn… tôi lại lo ngay ngáy đến một ngày nào đó không còn tìm thấy bóng dáng chiếc cầu khỉ thơ mộng bắc qua những con kênh rạch chằng chịt khắp các nẻo đường đồng bằng Nam bộ, khi mà chương trình “xoá cầu khỉ” hoàn tất trong thời gian tới! Lúc đó có lẽ chúng ta chỉ còn có dịp đi trên những chiếc cầu bê-tông to bè, cứng nhắc hoặc cầu nhựa tổng hợp láng o, láng coóng… Dĩ nhiên là giao thông sẽ thuận tiện hơn, xe cộ chạy ào ào, tấp nập, người đi lại trùm đầu kín mít với chiếc nón bảo hiểm, che mũi miệng với khẩu trang hai lớp, chỉ lộ hai con mắt lom lom nhìn qua mica như người ngoài hành tinh, trang bị điện thoại di động đa chức năng và máy thăm dò tình cảm, sẳn sàng kêu bíp bíp báo tin khi có người đi ngược chiều cùng tần số để làm quen.
Thiền có lẽ đã có từ rất lâu đời. Có lẽ ngày xa xưa con người tự dưng phát hiện ra những giây phút rơi vào trạng thái sảng khóai, một trạng thái “hỷ lạc” nào đó, nói không được, mà chỉ có thể cảm nhận, trực nhận bởi chính bản thân mình, rồi tích lũy kinh nghiệm, truyền đạt lại cho nhau bằng nhiều cách. Không phải vô cớ mà ngày nay các trung tâm y khoa lớn trên thế giới đưa thiền vào nghiên cứu và ứng dụng như một liệu pháp hữu hiệu chữa trị nhiều thứ bệnh thời đại.
Gần mười năm tôi mới có dịp đi lại máy bay đường dài. Sau đợt bệnh nặng năm đó, bác sĩ điều trị khuyên tôi nên tránh những căng thẳng không cần thiết. Năm kia, đi môt chuyến trong nước có vài giờ mà tôi đã thấy rất mệt mỏi. Lúc nào tôi cũng thao láo, nín thở, căng thẳng. Cất cánh. Hạ cánh. Vào vùng trũng. Thắt dây an tòan… Tôi còn dõi theo cao độ, vận tốc, nhiệt độ bên ngoài bên trong … các thứ. Làm như tôi chỉ cần sơ sẩy chút xíu, lơ đễnh chút xíu là có chuyện không hay! Tôi đã từng coi nhiều bộ phim mô tả chuyện máy bay rớt giữa vùng tuyết giá, giữa biển khơi . Cho nên phải nghe kỹ người ta hướng dẫn cách thở oxy qua mặt nạ, cách mặc áo phao, thổi còi… Người bạn ngồi bên còn hỏi nếu lỡ máy bay rớt ngoài biển thì phải làm sao hả anh, càng làm cho tôi yên chí máy bay sắp rớt. Ấy vậy mà trong chuyến bay đi Nhật tháng tư lần này tôi hoàn toàn sống trong một trạng thái “vô sở trụ”. Tôi thấy ra hinh như chuyện máy bay có rơi hay không không phải là nhờ tôi… lo lắng cho nó, căng thẳng vì nó. Tự dưng tôi thấy nhẹ nhõm, thanh thản. Tôi nhìn qua cửa sổ. Ánh trăng thượng tuần nửa vành lơ lửng, sáng hơn thường lệ vì không bị che khuất bởi những đám mây.
Sống và lớn lên ở Sài Gòn, ta ít có dịp “nhớ về”, “hướng về” Sài Gòn, trái lại ta thường dễ “bực bội” với Sài gòn về đủ thứ chuyện trên đời, cho đến một hôm…
Tôi đi giữa Boston. Cả một mùa thu. Trọn một mùa thu. Nhớ tới Xuân Diệu với “Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh, ấy là mùa thu đã về, mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ…”. Thực ra, lá như ráng níu lại chút xanh, và vì níu lại nên có vẻ chặt hơn, xanh hơn lên mà thôi. Bởi vì rất nhanh, lá bỗng vàng rượm, vàng rực, vàng tía, vàng buốt… và bầu trời rộng ra, thênh thang, yểu điệu kỳ cục. Mới mấy ngày thôi mà cây cứ tô dần tô dần cái màu vàng buốt, óng ả, rực rỡ chen lẫn với xanh đậm, xanh lợt mong manh đó… và sáng hôm sau, rơi từng lá từng lá tràn ngập các lối đi.