Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi các bác sĩ trẻ

15/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011,

Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.

Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới mái trường này. Thầy rất tiếc đã bận việc không đến dự được như mọi năm để cùng chia sẻ với các em. Thầy cũng cảm ơn các em về buổi họp mặt thân mật giữa các thầy trò buổi tối đó tại Đông Hồ. Vậy là kể từ hôm nay, các em đã trở thành bác sĩ, người thầy thuốc, đồng nghiệp của các thầy cô, là người mà gia đình và xã hội đang kỳ vọng góp tay góp sức cứu giúp bệnh nhân, nâng cao sức khỏe cộng đồng.


Ra trường, ấy là lúc lòng lâng lâng bao cảm xúc, niềm hãnh diện, mối lo toan, nỗi ngại ngần… Từ nay rời xa mái trường thân yêu, xa thầy xa bạn, dấn bước vào đời với bao nhiêu nhọc nhằn khổ vui thách thức đợi chờ, ở một thời buổi mà ngành y có thể nói đầy sóng gió, “dầu sôi lửa bỏng”, khác xa với thời của thầy, hơn 40 năm về trước. Thầy thấy thương và qúy các em biết bao!

Cho nên dịp này, thầy muốn gởi đến các em một món quà nho nhỏ. Đó là bài nói chuyện của BS Nguyễn Hữu Phiếm, một người đàn anh, một bậc thầy của thầy đã trò chuyện cùng sinh viên y khoa Saigon ngày 29/6/1968. Bài nói chuyện sau đó được in thành sách do Trung tâm Học liệu BGD xuất bản năm 1972. BS Nguyễn Hữu Phiếm sinh năm 1910, là một bác sĩ nổi tiếng ở Saigon trước đây, bạn của nhà văn Nhất Linh (Tự lực văn đoàn), của học giả Nguyễn Hiến Lê… Ông nguyên là giảng viên môn Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale) tại Đại học Y khoa Huế. Ông mất năm 1977 tại Paris. Thầy muốn gởi nguyên văn bài nói chuyện này đến các em dù giọng văn và từ ngữ, nội dung đôi chỗ xưa cũ, nhưng tình người, tính nhân bản của y khoa vẫn dạt dào.

Xin chân thành cảm ơn bác sĩ Lê Ngọc Dũng người đã sưu tầm và phổ biến bài này trên Ykhoanet.com gần đây.

Hy vọng món quà nhỏ này làm các em vui, và học được đôi điều từ người đi trước. Vậy cũng đủ rồi cho truyền thống y khoa chúng ta phải không?

Thân mến,

Thầy Đỗ Hồng Ngọc.
xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Đọc sách

“Đối thoại với Lê Hoàng”

06/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Trao đổi về vấn đề Giáo Dục Giới Tính
Ghi chú: Gởi bạn đường link này để có thể theo dõi buổi “Đối thoại với Lê Hoàng” về Giáo Dục Giới Tính của mình mà bạn đã không kịp xem trên VTV1 Chủ nhật 4/12 vừa qua.
Chương trình hoàn toàn không có kịch bản trước.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn

Với Ngô Nguyên Nghiễm

03/12/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Phút tâm giao với nhà thơ-
bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ngô Nguyên Nghiễm
Ghi chú: Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc, tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh đã có 12 tác phẩm văn học được xuất bản trước và sau 75, với hơn 40 tuyển tập thơ văn in chung, và đã từng là người chủ trương tạp chí Khai Phá. Một hôm anh phone tôi, nói muốn gặp gấp để làm một cuộc phòng vấn “bỏ túi” cho bộ sách mới của anh: Người Đồng Hành Quanh Tôi, Tác giả Tác phẩm. Tôi không có cách nào khác hơn là hẹn anh “bạn đồng nghiệp” quý mến của mình ra một quán cà phê góc phố… cùng với Trần Yên Thảo, giữa cái nắng Saigon…

Ngô Nguyên Nghiễm (NNN): Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 – 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt y học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm” tạm thời thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Thuốc “giả” vẫn chữa được nhiều thứ bệnh thật đó chứ! Còn thi ca? Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?

NNN: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?

ĐHN: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Tôi không hề nghĩ rằng lúc này ta đang làm thơ và lúc này ta đang viết về y học. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, ngũ uẩn vẫn “giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Khi viết một bài về y học, thì hình như tôi đang làm thơ và khi viết một bài thơ thì hình như tôi đang làm… y học! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ… Thôi thì, nó sao kệ nó. “Phân biệt trí” đã làm ta khổ lâu rồi!

NNN: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc, là Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?

ĐHN: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có những loạt thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. “Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”. Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). “Như không thôi đi được”, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó, “như không thôi đi được”. Vậy nên lại có tập “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác”…!

NNN: Thỉnh thoảng đọc các bài viết về Phật pháp của Đỗ Hồng Ngọc trên các tạp chí Phật giáo. Và tôi còn chiêm nghiệm về số vốn cao thâm của anh ở những ý kiến về Phật học. Tất cả tư tưởng trên có ảnh hưởng sâu sắc vào những sáng tác hơn 30 năm nay? Nếu phải, thì hé mở chút duyên ngộ mà nhà thơ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có được?

ĐHN: Hồi nhỏ tôi sống mấy năm trong một ngôi chùa ở Phan Thiết với người cô vì sớm mồ côi cha. Cô bị tai nạn xe lửa, không đi lại được nhưng rất mê sách. Tôi có nhiệm vụ đi mướn sách cho cô đọc. Mặc dù bị cấm con nít không được đọc, tôi đã ngốn hết… toàn bộ sách trong tiệm cho thuê sách đó. Lớn, đi học ở Saigon, dành tiền mua sách, mỗi sáng chỉ ăn một cục xôi. Sách đầy nhà. Tôi nhớ Tôn Hành Giả với 72 phép thần thông và cân đẩu vân tuyệt vời vậy mà cũng không nhảy qua khỏi bàn tay Phật, đành “tè” bậy dưới ngón tay. Thế nhưng, mãi đến năm 1997, sau cơn bệnh thập tử nhất sanh, tôi mới lại tìm đến với Tâm kinh, Kim cang… một cách khác. Học cách khác, hành cách khác. Cho nên như bạn thấy đó, những bài viết có chút hơi hướm, mà tôi nghĩ mình đang lõm bõm học từng chút, từng chút… rồi chia sẻ với bạn bè gần xa.

NNN: Tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc nghiêm túc, hình như anh có một phương pháp và lộ trình sắp đặt cho hướng khai phá trong văn chương, dù đó là Nghệ thuật hay Y học. Nếu có dự trù nào cho tương lai, đề nghị hé mở những đóng góp quý giá này?

ĐHN: Tại cái tạng nó vậy. Tôi nghĩ khó có ai sắp đặt một lộ trình, một phương pháp… trong cõi văn chương! Tại cái tạng thôi. Có người nói tôi nghiêm túc lại có người nói tôi hài hước, dí dỏm; có người bảo tôi sơ sài quá, có người lại bảo thâm thúy… Vậy thì không phải “lỗi” ở người viết mà tại người đọc. Người đọc cũng “đồng tác giả” mà! Bạn thấy không, “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ”!
Còn “dự trù” gì đó ư? Sau Tâm kinh, Kim cang, tôi đang “nghiền ngẫm” kinh Pháp Hoa, và giật mình thấy nó đã được gói gọn trong bốn câu ca dao mà người Việt mình ai cũng thuộc: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”…

NNN: Cảm ơn Đỗ Hồng Ngọc, chúc thân tâm an lạc.
ĐHN: Cảm ơn bạn, Ngô Nguyên Nghiễm.

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM thực hiện.
Mùa thu 2010.
……………………………………………
(*) Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm, tập II, NXB Thanh Niên, 12/2010

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Đọc sách

Thơ Đỗ Nghê

23/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi…

Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác…!
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thơ Đỗ Nghêxem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Nhân viên sức khỏe cộng đồng

16/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Thư đi… Tin lại

Nhân viên sức khỏe cộng đồng (Community Health Worker)
dungttytthanhthuy@gmail.com
Wed, Oct 26, 2011 at 11:31 AM
Kính gửi thầy Đỗ Hồng Ngọc.
Thưa thầy em là Nguyễn Kim Ddung, bác sĩ đa khoa hiện đang làm việc tại Trung tâm y tế huyện Thanh Thuỷ tỉnh Phú Thọ, em đã được xem nhiều bài viết cũng như các bài báo cáo của thầy trên trang Web, nhưng có một nội dung mà em rất quan tâm đó là các thông tin về đôi ngũ nhân viên Y tế thôn bản ở trên thế giới và trong nước mà em chưa tìm thấy có ở trong tài liệu nào.
Thưa thầy, hôm nay em mạo muội gửi thư này tới thầy, trước hết em kính mong thầy thông cảm và thứ lỗi, sau là em xin thầy nếu có thể được, thầy giúp em cho em xin các thông tin ấy có được không ạ? Em cảm ơn thầy và kính chúc thầy luôn mạnh khoẻ.
Bs dung nguyen kim

Ghi chú: Nhân bức thư của một bạn đồng nghiệp trẻ không quen biết từ một tỉnh miền Bắc xa xôi đặt vấn đề Nhân viên Y tế Thôn bản, tôi nghĩ rằng vấn đề em nêu cũng có ích phần nào cho một số các bạn trẻ khác, nên xin có mấy lời “phi lộ“:
Từ các năm 1984-1986, tôi đã triển khai Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em (Primary Child Care) tại Phường 13, Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh (nay là Phường 10), lúc đó còn là một vùng ven, nông thôn, rất nhiều khó khăn sau chiến tranh. Chương trình được sự hỗ trợ của Bệnh viện Nhi Đồng (nay là BV Nhi đồng 1 Tp.HCM) đã mang lại nhiều kết quả rất đáng khích lệ, được coi như một mô hình Săn sóc sức khỏe ban đầu “ bài bản“, gắn sức khỏe với phát triển, tạo được sự Tham gia cộng đồng (community involvement) và Phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation) tốt.

Hiệp Phước (1986)

Hạt nhân chính của sự thành công này là lớp huấn luyện Nhân viên sức khỏe cộng đồng (community health workers), thực hiện ngay tại cơ sở, trong một ngôi chùa gần Trạm y tế, gồm 24 học viên được tuyển chọn kỹ và huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động. Họ đã hoạt động rất tích cực và vẫn tiếp tục gắn bó dài lâu sau khi chương trình kết thúc. Các dì Khiếm, chị Sương… và các NVSKCĐ vẫn còn tiếp tục hoạt động nhiều năm sau. Trong nhóm, vế sau có người trở thành Nhân viên Chữ thập đỏ, có người trở thành bác sĩ.. Trưởng trạm Y tế lúc đó là Y sĩ Trần Văn Thình, phụ trách mạng lưới và các thầy cô, học sinh trường cấp 2 Phú Định đã tham gia nhiệt tình. Phường 13 Quận 6 đã trở thành nơi huấn luyện cho sinh viên y khoa. Chính tại đây, tôi đã hướng dẫn 4 luận văn tốt nghiệp Sơ bộ chuyên khoa Nhi của trường Đại học Y dược Tp.HCM cho các bác sĩ Nguyễn Thị Xuyến, Lê Đình Sang, Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Quốc Việt.

Hiệp Phước (1986)

Từ năm 1986, tôi tiếp tục tham gia Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu toàn diện (chứ không chỉ cho trẻ em) tại xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè Tp.HCM. Đây là một chương trình rộng lớn, có tính thí điểm để rút kinh nghiệm mở rộng cho toàn thành phố, do BS Dương Quang Trung, lúc đó là Giám đốc Sở Y tế chủ trì. Ban thư ký 5 người gồm Đỗ Hồng Ngọc (trưởng ban), Lê Trường Giang (thường trực), Nguyễn Thanh Nguyên, Dương Đình Công, Nguyễn Ngọc Chiếu. Tại đây, nguyên lý sức khỏe gắn với phát triển được thực hiện rõ ràng hơn cả. Chương trình không chỉ chăm sóc sức khỏe, chống dịch bệnh (sốt rét/ suy dinh dưỡng/ dân số kế hoạch…), nâng cao dân trí, giáo dục sức khỏe, mà còn xây dựng cầu liên ấp, đường sá, cung cấp nước sạch và điện nông thôn…

Chương trình Hiệp Phước (1986-1988) đã trở thành mô hình, không chỉ cho TP HCM mà còn cho một số tỉnh bạn phía Nam. Sau đó mở rộng qua xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh và dần dần lan ra các điểm khác, nội ngoại thành Tp. HCM. Tại Hiệp Phước, Tân Nhật… cũng tổ chức tốt hệ thống NVSKCĐ, chính nhờ họ, là một “cầu nối“ gắn kết Y tế với cộng đồng và gắn kết “sức khỏe“ với “phát triển“.

Huấn luyện Nhân viên Sức Khỏe Cộng đồng tại Tân Nhựt (1987)

Nhân viên Y tế Thôn bản nếu được thực hiện trên tinh thần như NVSKCĐ sẽ rất có hiệu quả cho các vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Hai nguyên tắc chủ chốt: Họ phải thực sự là “cầu nối“ giữa y tế và cộng đồng, đồng thời “sức khỏe“ phải gắn với “phát triển“ của địa phương thì mới thành công. Cách chọn người, cách huấn luyện và đãi ngộ sẽ rất quan trọng.

Chúc các bạn thành công,
Đỗ Hồng Ngọc.
(16/11/2011)

NHÂN VIÊN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
BS. Đỗ Hồng Ngọc
1. Sự cần thiết
Bằng cách nào có thể mở rộng được mạng lưới săn sóc sức khỏe đến tận nơi người dân sống và lao động, tiếp cận đến từng cá nhân, gia đình, từng cộng đồng để đạt mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người” trong Chương trình Săn sóc sức khỏe ban đầu? Bằng cách nào tạo được sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng để họ tự trách nhiệm, tự giải quyết những vấn đề sức khỏe và phát triển của chính họ?
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra là mở rộng độ bao quát, tạo nên sự tham gia cộng đồng, sự phối hợp liên ngành, cần có một “cầu nối” có vai trò xúc tác, môi giới, trung gian đó là Nhân viên Sức khỏe Cộng đồng (NVSKCĐ).

2. Nhân viên sức khỏe cộng đồng
“Để triển khai SSSKBĐ, cần có NVSKCĐ. Đó là những người sống tại cộng đồng, được huấn luyện và làm việc cùng với các nhân viên y tế khác và các nhân viên thuộc chương trình phát triển của địa phương trong một ê kíp. NVSKCĐ là nơi tiếp xúc đầu tiên giữa cá nhân và hệ thống y tế. Tùy theo nhu cầu và phương tiện của từng nơi, mỗi cộng đồng có thể có các loại NVSKCĐ khác nhau. Thường đó là những người sống tại cộng đồng, được cộng đồng chọn lựa, và làm việc ngay tại cộng đồng đó. Ở một số nước, NVSKCĐ là những người tình nguyện, làm việc toàn thời gian hay bán thời gian, được cộng đồng hay cơ quan y tế trả công bằng tiền mặt hay hiện vật” (Glossary of Terms, WHO, 1981)

NVSKCĐ là chìa khóa để thực hiện thành công SSSKBĐ. Tại nhiều nước, có những cách tổ chức mạng lưới này khác nhau tùy yêu cầu của mỗi chương trình sức khỏe, không có nơi nào hoàn toàn giống nơi nào, nhưng có một số kinh nghiệm bước đầu quý báu và một số nguyên tắc chung cần nắm chắc.

NVSKCĐ không phải là nhân viên y tế mà là “cầu nối” giữa cộng đồng với y tế, có vai trò trung gian, môi giới, xúc tác nhằm tạo chuyển biến, thay đổi có lợi cho sức khỏe và sự phát triển chung của cộng đồng.

Là cầu nối, NVSKCĐ:
– Giúp cộng đồng xác định các nhu cầu, những vấn đề sức khỏe ưu tiên, đối tượng nguy cơ; đồng thời tác động tạo tham gia, đưa cộng đồng tiếp cận với dịch vụ y tế;
– Giúp y tế lập kế hoạch quản lý có hiệu quả và đưa các dịch vụ săn sóc sức khỏe (phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức khỏe, phục hồi) đến tận nơi người dân sống và lao động.

NVSKCĐ phải cắm rễ vào cả hai phía, Y tế và Cộng đồng. Thiếu gắn bó với cộng đồng không tạo được sự tham gia; thiếu hỗ trợ của y tế hoạt động sẽ không có hiệu quả.

Kinh nghiệm cho thấy thất bại thường là do mối quan hệ này chứ không phải do hoạt động của NVSKCĐ.

3. Chức năng nhiệm vụ
Là người của cộng đồng, NVSKCĐ biết rõ hơn ai hết những vấn đề và đặc điểm của cộng đồng, những tài nguyên đang có, những nhu cầu bức thiết cũng như cơ cấu quyền lực địa phương, cấu trúc gia đình và xã hội, các phong tục tập quán v.v… Do đó, nếu được hướng dẫn tốt cách làm họ sẽ tham gia với y tế xây dựng chương trình sức khỏe trong suốt quá trình từ chẩn đoán cộng đồng đến tổ chức thực hiện và lượng giá.
Chức năng và nhiệm vụ cụ thể tùy y tế và cộng đồng đề ra cho họ. Nói chung, dựa trên các yếu tố của SSSKBĐ bao gồm các mặt phòng bệnh, điều trị và giáo dục sức khỏe, đồng thời tham gia vào các hoạt động phát triển khác của địa phương. Họ cần thiết phải biết sơ cấp cứu, điều trị bệnh và chấn thương thông thường trong phạm vi cho phép. Đừng quên điều trị tốt có thể nâng uy tín, nhưng nếu chỉ chú trọng điều trị sẽ thất bại vì họ tự biến mình thành một “y tá dở”.

Phòng bệnh và GDSK sẽ là nhiệm vụ chính của NVSKCĐ: Vệ sinh môi trường, Vệ sinh lao động, Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Kế hoạch hóa gia đình, Dinh dưỡng, Tiêm chủng v.v… NVSKCĐ chịu trách nhiệm vãng gia, thu thập thông tin, lưu giữ hồ sơ, tham gia các công tác phát triển khác do cộng đồng đề ra.

Họ cần được làm trong một ê-kíp có thể kết hợp với Chữ thập đỏ, vệ sinh viên, cô mụ vườn được tái huấn luyện, thầy lang v.v…

Về tỷ lệ, tùy nơi, tùy chương trình, trung bình 1 NVSKCĐ cho 50 hộ gia đình.

4. Tuyển chọn
“NVSKCĐ là người từ cộng đồng và do cộng đồng tuyển chọn”. Tuy nhiên, như đã nêu trên, NVSKCĐ cũng có thể là người từ bên ngoài, tình nguyện làm việc toàn phần hoặc bán thời gian cho cộng đồng.

4.1. Chọn ai?
Ngưòi từ cộng đồng hay ngưòi ngoài cộng đồng, ai tốt hơn? Người ngoài cộng đồng dễ chiếm được lòng tin hơn vì thường “Bụt nhà không thiêng”; nhưng mặt khác, về lâu về dài, thì người ngoài cộng đồng sẽ tạo ra sự lệ thuộc, làm mất tính tự lực tự quyết của cộng đồng, do vậy, tốt nhất vẫn là người tại chỗ.

4.2. Ai chọn?
Cộng đồng chọn thì cộng đồng sẽ chấp nhận và trong quá trình chọn lựa này, cộng đồng đã trực tiếp tham gia. Ngoài ra NVSKCĐ được chính cộng đồng chọn sẽ cảm thấy có trách nhiệm với cộng đồng và gắn bó mật thiết hơn với cộng đồng.

4.3. Tiêu chuẩn
Chọn người tử tế, có tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn, chín chắn, cởi mở, ham học hỏi, quan tâm đến các vấn đề sức khỏe của cộng đồng, có nếp sống lành mạnh (không rượu chè, thuốc lá…) được cộng đồng quí mến….

4.4. Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa không cần cao, dễ hòa đồng bà con, và không bỏ cộng đồng để đi nơi khác. Họ cũng là người có khả năng thuyết phục, kể chuyện hay, hoạt bát, giỏi vận động, giỏi tổ chức và thông hiểu phong tục tập quán địa phương…Những người có uy tín ở địa phương như hội viên chữ thập đỏ, thầy lang, cô mụ vườn, thầy giáo, người về hưu… dễ dàng được chọn.

4.5. Nam nữ
Có nơi cần nữ vì tính dịu dàng, nhẫn nại, thận trọng, lại tiện cho việc chăm sóc phụ nữ và trẻ em (chiếm tỷ lệ 3/4 dân số ở địa phương), gần gũi gắn bó với xóm giềng, dễ gặp gỡ. Có nơi chọn nam vì nam giới đi lại dễ dàng hơn, xốc vác, lanh lẹ, có thể làm việc nặng v.v…

Nếu là chương trình Sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch gia đình… thì nên chọn nữ, còn về Môi trường, Chống dịch thì có thể chọn nam. Cả hai thì tốt.

4.6. Tuổi
Tuổi tốt nhất khoảng 25-40. Trẻ quá không có được uy tín, tinh thần trách nhiệm chưa cao. Lớn quá cũng bất tiện vì bận bịu, trừ trường hợp về hưu có nhiều thời gian và sẵn sàng tham gia công tác xã hội.

5. Huấn luyện
NVSKCĐ học là để làm, chứ không phải học để biết. Do đó, thầy phải được chọn lựa kỹ, xác định rõ là dạy cái gì, dạy cách nào. Nội dung cần là:
– Một số kỹ năng thực hành;
– Những kiến thức cơ bản cần thiết;
– Các kỹ năng truyền thông, giao tiếp, vận động;
– Kỹ năng tổ chức.
Kỹ năng truyền thông và tổ chức rất quan trọng, thường hay bị bỏ qua trong lúc xây dựng chương trình huấn luyện NVSKCĐ.

5.1. Thời gian
Tuỳ mục tiêu
– Thường khoảng 3 tuần.
– Cũng có thể học 1 tuần rồi bồi dưỡng dần sau.

5.2. Nội dung
Cần có sự “Tham gia cộng đồng” ngay trong giai đoạn lập chương trình. Chương trình phải dựa trên phân tích nhu cầu sức khỏe của cộng đồng, các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội, nhiệm vụ cụ thể của NVSKCĐ, các điều kiện làm việc, từ đó liệt kê các kỹ năng, thái độ, hành động mà người NVSKCĐ cần có để lập chương trình; phải xác định rõ phương pháp, thời khóa biểu và lượng giá trước, sau lớp và về lâu dài.

5.3. Phương pháp
Phải được coi trọng như nội dung. Học cách nào sẽ ứng dụng cách đó khi công tác. Phương pháp giáo dục chủ động với thảo luận nhóm, tham quan, sắm vai, giải quyết một vấn đề cụ thể… thường có kết quả tốt. Nên đi từ một vấn đề thực tế cụ thể của địa phương để dẫn dắt vào nội dung, gần gũi và sinh động.

5.4. Học cụ
Tài liệu huấn luyện (nên tự soạn cho phù hợp, ngôn ngữ, hình ảnh, thí dụ… lấy từ thực tế ở địa phương), các phương tiện nghe nhìn… không cần kỹ thuật cao (laptop, projector…). Nên chế tạo các học cụ với phương tiện sẵn có tại chỗ để tránh tính ỷ lại của học viên sau này và giúp họ tự tin hơn khi về công tác.

5.5. Nơi học
Học ngay tại cộng đồng là tốt nhất. Dạy NVSKCĐ tại bệnh viện sẽ thất bại, vì sẽ biến họ thành y tá “dở”. Nhưng có thể tham quan bệnh viện quận huyện để có dịp tiếp xúc các bệnh thường gặp ở cộng đồng.

5.6. Người dạy
Thường không đạt yêu cầu vì người dạy không biết cách dạy, coi NVSKCĐ là NV Y tế! Nếu bác sĩ hay y tá dạy thì cần phải được tập huấn kỹ trước. Một chương trình đào tạo ngắn ngày, nhiều đợt, nâng cao dần, có lợi hơn là học tập trung nhiều ngày. Vừa học vừa hành để rút kinh nghiệm. Đào tạo theo phương pháp giáo dục chủ động sẽ phát huy được tính tự chủ cao của học viên.

Nên có nhiều thầy, có thể là những NVSKCĐ khóa trước, có kinh nghiệm thực tế, nhân viên phát triển cộng đồng, cán bộ y tế và các ngành liên quan khác (tâm lý, xã hội…)

6. Thù lao
Đây là một vấn đề rất quan trọng để có thể duy trì hoạt động của mạng lưới NVSKCĐ. Nguyên tắc chung là tùy hoàn cảnh kinh tế xã hội của cộng đồng. Chính họ sẽ là người trả công cho NVSKCĐ bằng tiền, bằng hiện vật hay cách nào khác một cách xứng đáng mới có thể duy trì được hoạt động bền lâu. Điều không kém quan trọng là họ phải được tôn vinh đúng mực, được địa phương đánh giá trong các buổi sinh hoạt để động viên khuyến khích. (Một miếng giữa làng bằng một sàng trong bếp!)

7. Tương lai nghề nghiệp
Cần quan tâm đến tương lai nghề nghiệp của người NVSKCĐ. Ở Tây Ấn, 62% NVSKCĐ muốn thăng tiến trong ngành y. Tuy nhiên, nghiêng hẳn về y là làm lệch mối quan hệ và không còn hiệu quả nữa vì họ sẽ trở thành một nhân viên y tế mất rồi!

Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ bỏ cuộc khoảng 20% sau 1-2 năm. Có nơi, như chương trình dinh dưỡng ở Ấn (Kasa Palghar) bỏ cuộc 60% sau 2 năm. Nam giới bỏ cuộc nhiều hơn nữ giới. Lý do: trả công thấp, làm việc nặng, kiếm được việc khác hoặc lập gia đình.

8. Hỗ trợ
Thiếu sự hỗ trợ của hệ thống y tế, NVSKCĐ sẽ không thể hoạt động có hiệu quả.

8.1. Hỗ trợ thuốc men – trang bị
Phát triển mạng lưới, mở rộng độ bao quát để có thể tiếp cận đến từng người dân thì không thể không tăng cường thuốc men và trang bị, đặc biệt ở nông thôn, bà con rất hy vọng ở mạng lưới NVSKCĐ. Cần cấp đủ thuốc thông thường – theo danh mục cho phép NVSKCĐ sử dụng – và phải là thuốc tốt về chất lượng, bổ sung kịp thời. Điều này giúp tăng uy tín của mạng lưới. NVSKCĐ cần biết sử dụng thông thạo thuốc nam và các biện pháp chữa trị không cần thuốc. Ngoài thuốc, cần trang bị ống nhiệt kế, cân trẻ con, biểu đồ tăng trưởng, ORS, và các phương tiện Giáo dục sức khỏe (tranh ảnh, sổ tay, sách lật, bướm…).

8.2. Giám sát
Sinh hoạt hàng tháng với Trạm y tế là cách giám sát tốt nhất, đồng thời nâng cao trình độ, bồi dưỡng ”nghiệp vụ”. Cần chú ý một lần nữa “nghiệp vụ” đây không phải là ”chữa bệnh”. Ở nơi xa xôi cần bố trí một “điểm” hướng trợ, giúp đỡ cho NVSKCĐ khi cần tham khảo, có thể là một NVSKCĐ khóa đàn anh, một nhân viên y tế, một người trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Có sự hỗ trợ này, người NVSKCĐ vững tâm hơn.

Giám sát tốt dễ thành công hơn. Giám sát là nhằm hỗ trợ và giúp đỡ hơn là kiểm tra, thanh tra. Nên có Check-list để đánh giá chính xác NVSKCĐ nên có đại diện trong Ban chỉ đạo chương trình sức khỏe. Tiếng nói của họ phải có trọng lượng như các thành viên khác.

9. Kết luận
Để thực hiện SSSKBĐ, cần thiết phải có mạng lưới NVSKCĐ. Đó là những người được tuyển chọn từ cộng đồng, được huấn luyện để thực hiện một hay nhiều chương trình sức khỏe, có mối quan hệ mật thiết với cộng đồng, và được sự hỗ trợ tích cực của y tế. Cần xác định rõ vai trò “cầu nối”, ”người trung gian”, “người xúc tác” của NVSKCĐ – mà nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Đừng biến NVSKCĐ thành một người y tá “dở” của Trạm y tế hay người “sai vặt” cho y tế. Cần nuôi dưỡng mạng lưới tương xứng với công lao đóng góp của họ. Để có thể duy trì hoạt động, cần có nội dung cụ thể, có hệ thống hỗ trợ và lượng giá. NVSKCĐ là nơi thực hiện lồng ghép tốt nhất cho các Chương trình sức khỏe có mục tiêu. Không nên đào tạo quá nhiều NVSKCĐ mà nên tổ chức làm việc có ê-kíp, có lồng ghép ngay từ đầu. Nhờ vậy đỡ tốn kém hơn.

Nhiệm vụ Trưởng Trạm y tế là nắm rõ chức năng nhiệm vụ của mạng lưới NVSKCĐ để tham gia trong tuyển chọn, huấn luyện, hỗ trợ và giám sát; tổ chức sinh hoạt định kỳ, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng để duy trì hoạt động tốt cho mạng lưới NVSKCĐ.

(Chỉnh sửa: 11/2011)
Tài liệu tham khảo (lược)
………………………………………………………………………………………………………………………
Nguồn: BS Đỗ Hông Ngọc
Tài liệu huấn luyện Giáo dục sức khỏe & Nâng cao sức khỏe
Trung tâm Truyền thông-Giáo dục sức khỏe TP. HCM ấn hành, 1999,tái bản 2003.
Website: www.dohongngoc.com/web/
Email: dohongngocbs@gmail.com

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Ở nơi xa thầy thuốc

GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

13/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Cần có một chương trình toàn diện
Đỗ Hồng Ngọc
Ghi chú: Chương trình Mỗi tuần một chuyện (Đối thoại với Lê Hoàng) của VTV vừa qua có mời tôi trao đổi một vấn đề khá nóng bỏng: Giáo dục giới tính. Tôi thích những “talkshow” sống động – không có kịch bản – như vậy, nhất là với Lê Hoàng- đạo diễn, nhà văn, vốn nổi tiếng rất sắc sảo trong những cuộc đối thoại- và dưới sự đạo diễn của Nguyễn Quang Dũng. Vấn đề đặt ra của Lê Hoàng là tại sao ở Việt Nam ta tỷ lệ phá thai quá cao ở trẻ vị thành niên, phải chăng do ta làm Giáo dục giới tính không tốt?

Thực ra Giáo dục giới tính không phải nhằm để làm giảm tỷ lệ phá thai! Giáo dục giới tính không phải là dạy cách phòng tránh thai mà là một chương trình “học làm người” để có cuộc sống hạnh phúc. Nhưng thực tế thì cho đến nay ta làm GDGT chưa tốt vì chưa có hẳn một Chương trình GDGT toàn diện. Do thời lượng hạn chế của chương trình truyền hình, tôi nghĩ có lẽ nên chia sẻ với bạn bè bài viết dưới đây, đã đăng trên Saigon Tiếp Thị ngày 11.11.2011. (ĐHN).

Giáo dục giới tính là một tiến trình suốt cả đời người, là chuyện phải làm hằng ngày, trước hết là ở gia đình nhằm trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản sau này. Nó bao gồm những hỉêu biết về phát triển tính dục, các mối quan hệ, hình ảnh về thể chất và vai trò giới, tình bạn, tình yêu, tình dục.

Giáo dục giới tính đề cập đến các khía cạnh về sinh học, văn hóa xã hội, tâm lý và tâm linh của vấn đề giới tính, từ lĩnh vực nhận thức (thông tin) đến lĩnh vực tình cảm (cảm xúc, giá trị, thái độ) và lĩnh vực hành vi (kỹ năng truyền thông, giao tiếp và kỹ năng quyết định) của mỗi cá nhân.

Tính dục gắn với con người từ trong trứng nước. Khi thụ tinh thì đã sẵn các nhiễm sắc thể X,Y, phân định giới tính cho đứa trẻ, dù đến 3 tháng trong bụng mẹ, thai nhi mới có đầy đủ các bộ phận sinh dục nam hay nữ! Bên cạnh đó, thiên nhiên còn trang bị sẵn một hệ thống các tuyến sinh dục, để tới tuổi nào đó thì sẽ cho kích hoạt… tạo ra các kích thích tố cần thiết để phát triển giới tính! Chờ đến lúc đó mới “dạy” thì nhiều khi đã muộn!

Cha mẹ có bổn phận phải dạy con cái ngay từ trong gia đình, không thể “khoán” cho ai khác. Và phải dạy rất sớm vì đây là vấn đề liên quan đến nếp sống của mỗi gia đình, đến giá trị, lòng tin, thái độ và nhất là hành vi, hình thành nhân cách của mỗi con người để có một cuộc sống hạnh phúc về sau. Ngay từ lúc mới sinh, trẻ đã được học về tình yêu thương, trìu mến, vuốt ve, cưng nựng, học về những mối quan hệ anh chị em, cha mẹ, ông bà… Trẻ học về giới tính khi cha mẹ chăm sóc, chuyện trò hằng ngày, lúc vui chơi với chúng, lúc thay quần đổi áo cho chúng, dạy chúng biết các bộ phận của cơ thể từ mắt mũi, tai miệng, đến bộ phận sinh dục… Ngay từ lúc đó, trẻ đã học “không phân biệt đối xử” với các bộ phận trong cơ thể mình, và có trách nhiệm gìn giữ vệ sinh đâu đó đàng hoàng. Trẻ lớn dần lên thì hiểu biết sẽ mở rộng thêm về sinh lý học, về các hành vi, thái độ, giá trị liên quan giới tính của gia đình cũng như môi trường văn hóa xã hội chúng đang sống.

Thẳng thắn, chân tình, cởi mở và khoa học trong trao đổi là cách tốt nhất để truyền thông giữa cha mẹ và con cái suốt giai đoạn tuổi thơ cũng như ở tuổi tiền dậy thì và dậy thì, tuổi thanh niên, nhờ đó tạo nên một phương cách xử thế khi trẻ trưởng thành cho vấn đề sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản. Do vậy, cha mẹ cũng phải trang bị cho mình đủ kiến thức để tự tin và có phương pháp tiếp cận phù hợp với từng lứa tuổi theo sự tăng trưởng và phát triển của trẻ.

Thế nhưng do từ trước người lớn chúng ta cũng chưa hề được “giáo dục giới tính” bao giờ nên không tránh khỏi lúng túng và lấn cấn trong tư tưởng. Do vậy, để có thể “vượt qua chính mình” cần xem xét lại một số nhận thức, quan điểm của bản thân mình về giới tính, về tình dục để có thái độ thích hợp. Trang bị kiến thức về cơ thể học, sinh lý học tuy vậy không khó bằng cách nhìn nhận vấn đề, tức “quan điểm” – cũng gọi là các “giá trị” – của chính bản thân. Cần thấy rằng khi nói đến tình dục, không thể chỉ nói đến chuyện giao hợp mà phải bao gồm toàn bộ các khía cạnh liên quan như thể chất, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý và cảm xúc. Như vậy, giáo dục giới tính là giáo dục toàn diện về các khía cạnh đó, chứ không phải chỉ dạy cách dùng bao cao su hay sử dụng thuốc ngừa thai.

Vì thế cần có một chương trình giáo dục giới tính toàn diện, không manh mún, lẻ tẻ, mà có hệ thống, được soạn thảo không bởi một vài cá nhân “có thẩm quyền” nào đó theo quan điểm riêng của họ rồi áp đặt cho mọi người mà phải do một nhóm chuyên viên về y học, giáo dục, tâm lý xã hội v.v… ngồi lại với nhau để thống nhất trước trên một số nguyên tắc cơ bản – các giá trị- để có tiếng nói chung. Chẳng hạn tính dục là một phần tự nhiên và lành mạnh của đời sống con người. Mọi người ai cũng có tính dục. Tính dục không đơn thuần là chuyện giao hợp. Với con người, tính dục bao hàm sinh học, đạo đức, xã hội, tâm linh, tâm lý, cảm xúc…

Mọi người ai cũng có nhân phẩm, mỗi người là một cá thể độc đáo trong bối cảnh văn hóa chung. Đừng vì thấy người ta khác mình mà cho là sai lạc, bệnh hoạn rồi đối xử kỳ thị, bất công. Mỗi cá nhân có kiểu hành xử tình dục riêng, miễn là không mang lại bệnh hoạn, tai họa cho mình hay cho người và không trái thuần phong mỹ tục, văn hóa chung của cộng đồng.

Mỗi người tự quyết định và chịu trách nhiệm về hành vi tính dục của mình và về những hậu quả của nó nếu có. Do vậy, cần có đủ kiến thức và kỹ năng để tự bảo vệ. Cũng cần nhớ rằng trẻ con thích “khám phá” và luôn tò mò học hỏi về tính dục là một tiến trình tự nhiên để phát triển.

Chương trình này sẽ không chỉ dành riêng cho các nhà giáo dục, cho nhà trường – từ nhà trẻ đến sau đại học- mà còn cho truyền thông đại chúng, cho các tổ chức xã hội, tôn giáo, và cho các bậc phụ huynh- kể cả người giúp việc trong gia đình… để nói cùng thứ tiếng, tránh “ông nói gà bà nói vịt”.

Về nội dung ít nhất phải đề cập về sự phát triển của con người- từ trong bụng mẹ đến tuổi trưởng thành, mối tương quan giữa các yếu tố thể chất, tâm lý, các mối quan hệ, tương tác, các kỹ năng cá nhân – đối với bản thân mình cũng như giữa người với người- đến các hành vi tính dục- dựa trên nền tảng văn hoá của mỗi cộng đồng- rồi mới đến các vấn đề về sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản với các bệnh lây truyền qua đường tình dục v.v… Trong mỗi nội dung đó, phải dạy cả về kiến thức, thái độ, về các giá trị, về hành vi, lối sống, cách ứng xử phù hợp trong môi trường văn hoá của cộng đồng./.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Tuổi mới lớn, Viết cho tuổi mới lớn

Lõm bõm: “Con đường độc nhất”

11/11/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

Lõm bõm(4)

« Con đường độc nhất »
« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn »… Thật không, một con đường như vậy ? Phật nói như đinh đóng cột, chắc là phải có rồi. Nói từ hồi bắt đầu dạy những bài học đầu tiên cho đến lúc sắp nhập Niết bàn. Nói đi nói lại hoài. Sợ người ta quên. Sợ người ta coi nhẹ, mải mê chạy theo những hí luận nọ kia… Bởi con đường « độc nhất » đó lại quá ư đơn giản, đơn giản đến khó tin !

Con đường nào vậy ? Độc nhất. Thanh tịnh. Chánh trí. Niết bàn. Diệt trừ khổ ưu? Nếu có, quả là phương thuốc thần cho cuộc sống đầy bát nháo, điên đảo mộng tưởng… trên một thế giới phẳng, toàn cầu hóa hôm nay ?
Đó chính là Anapanasati – có khi gọi là « An ban thủ ý » hay « Nhập tức xuất tức niệm » – được dạy trong Tứ Niệm Xứ. Hình như ngay Tứ niệm xứ với « thân thọ tâm pháp » … vẫn còn có vẻ phức tạp quá, nên Phật giản hóa đi bằng cách chỉ dẫn một « kỹ thuật » giản đơn nhất mà cũng tuyệt vời nhất, như cánh cửa mở vào kho tàng của … Như Lai.
Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, là nghĩ. Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ vậy.
Thở vào thở ra thì ai mà chẳng thở? Vậy thì có cái gì hay ? Cái hay, cái « bí quyết » nằm ở chữ niệm. Niệm, ấy là nhớ, nghĩ. Nhớ cái thở. Và, nghĩ về cái thở. Xưa nay ta vẫn thở, còn sống thì còn thở nhưng mấy khi ta nhớ ta nghĩ về nó. Đôi khi khò khè cò cử ta cũng có nhớ, có nghĩ chút chút, nhưng nhớ và nghĩ theo… bệnh lý ! Còn Phật muốn ta nhớ nghĩ (niệm) về cái thở theo một cách khác. Hãy nhớ nghĩ thiệt sâu xem sao. Nói khác đi, không phải chỉ « niệm » mà « chánh niệm » xem sao. Hãy thử rình mò, dõi theo nó xem sao. Có gì lạ không? Có đó. Nhưng, đừng nói. Bất khả thuyết. Thử đi. Nếm đi. Hãy đến và nếm thử đi. Thì ra, một khi ta thực sự « nhớ » đến nó (chánh niệm), ta quên mọi thứ trên đời ! Cứ y như một cái công tắc. Bật qua bật lại. Hoặc nhớ chuyện nọ kia thì quên cái thở, nhớ cái thở thì quên chuyện nọ kia. Sinh lý nó vậy. Vỏ não nó vậy. Khi một vùng này của vỏ não được kích hoạt thì vùng kia bị ức chế. Thời đại của… options. Tùy chọn. Giận thì bầm gan tím ruột. Tức thì đỏ mặt tía tai. Mất bao nhiêu là năng lượng. Bãi hoãi tay chân, bao tử, tim mạch, huyết áp…
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ. Niệm không chỉ là nhớ mà còn là nghĩ nữa. Có gì hay để nghĩ về cái hơi thở đó? Có đó. Giật mình thấy đời người chẳng qua là một hơi thở. Lúc sinh hít vào một hơi. Lúc tử hắt ra một cái. Khoảng giữa là những lăn tăn. Lăn tăn mà cũng bày đặt tham lam, sân hận, khổ đau… Giật mình thấy hơi thở chẳng phải của mình, chẳng phải là mình… Ngàn xưa ngàn sau nó đến nó đi ung dung… tự tại ngoài ta, chẳng cần biết có ta trên cõi đời. Chẳng phân biệt, chẳng thêm bớt. Cái hơi thở vào thở ra của Phật, của Bồ tát, của Alahán… kia hình như cứ còn bay bay lởn vởn đâu đây cùng ta phì phò mọi lúc mọi nơi…
Nhưng hình như không dừng ở đó. Cho đến một lúc, chánh niệm trở thành vô niệm.
Ở đó, một thứ tâm bất sinh.

“Tam-ma-địa”

Nghe cứ rờn rợn như “đất của ba con ma” nào đó vậy. Hóa ra không phải. Tam-ma-địa là một từ, phiên âm từ tiếng Phạn: Samadhi. Là Chánh định trong Bát Chánh Đạo. Nhưng hiểu “đất-của-ba-con-ma” cũng hay chứ! Ma tham, ma sân và ma si. Trẻ con thường hát: “Một ông Phật hiện ra/ Ba con ma biến mất!”. Nơi nào có ông Phật hiện ra thì nơi đó ba con ma phải biến mất. Hay nói cách khác, nơi nào có ba con ma hiện ra thì lập tức có ông Phật xuất hiện. Nếu chẳng có ba con ma Tham, Sân, Si thì Phật hiện ra làm gì cho mất công! Cho nên muốn biết Phật ở đâu thì hãy tìm trong… tham sân si. Tham sân si càng lớn, Phật càng to.
Có thể nhập chánh định ngay ở hơi thở đầu tiên được không? Không biết. Nhưng các thiền sư khẳng định là có thể. Phật thường ở trong định. Đi đứng nằm ngồi trong định. Khi cần lắm thì “xuất định” để thuyết giảng chút gì đó, rồi nhập định trở lại ngay. Như như bất động. An nhiên. Tự tại. Nhiều lúc trước khi “thuyết” phải hỏi lại đôi ba lần người ta có tin không. Thuyết xong thấy người ta vẫn ú ớ chưa tin chưa hiểu bèn bảo “chỉ có Phật với Phật mới hiểu nhau thôi”. Bởi Phật nói ra cái điều thấy biết từ trong định, không phải cái thấy biết của ta. Cho nên có những buổi Phật thuyết mà người ta bỏ đi… gần hết. Phật mặc kệ.
Định dẫn đến Tuệ. Người bình thường như ta đôi khi cũng bừng ngộ, lóe sáng, thức tỉnh một chút, nhưng không lâu, lại đắm chìm, lại tắt ngấm.
Bởi thiếu “Tam ma địa”.

« Bố thí thân mạng »

“Buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…”.
Bố thí hơi nhiều đó nhé! Và, thân mạng đâu mà lắm thế? Trong khi ta chỉ có mỗi một tấm thân ngũ uẩn nhẹ hều!
Nhưng chuyện bố thí hằng hà sa số thân mạng sáng trưa chiều tối là có thật. Cứ nhìn vào cơ thể mình thì biết. Cơ thể ta hình thành từ khoảng một trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật”, một “chúng sinh” hẳn hòi, hoạt động có tổ chức, có đầy đủ các chức năng, sắc thọ tưởng hành thức… đàng hoàng chớ chẳng chơi. Và điều kỳ diệu, cứ mỗi giây đồng hồ lại có vô số tế bào được… “bố thí” hay nói khác đi được hủy bỏ để thay thế bằng những tế bào khác, mới hơn, khỏe hơn. Chẳng hạn chỉ riêng hồng cầu, mỗi giây đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu được hủy diệt và thay thế. Các chất liệu được đưa về “kho chứa” là lá lách để sẵn sàng sử dụng lại, chế tạo các hồng cầu mới. Hệ thống mao mạch – các mạch máu nhỏ li ti dẫn máu đến từng tế bào trong cơ thể, cung cấp Oxy và các dưỡng chất để sản xuất năng lượng – nếu nối lại đã có độ dài bằng một vòng quanh trái đất. Mỗi ngày, trái tim nhỏ bé của ta co bóp với một lực mạnh đủ để kéo một đầu máy xe lửa… Cơ thể ta quả một thế giới kỳ diệu, một vũ trụ chưa được khám phá hết. Đừng tìm kiếm đâu xa. Hãy “nương tựa chính mình” là vậy. Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Vô thường ở đó, vô ngã ở đó, niết bàn điạ ngục ở đó…
Bố thí thân mạng nhiều như cát sông Hằng, ngày ba buổi sáng trưa chiều chính là các thời… thiền định của một người tu tập. Trong sâu thẳm của chánh định, sẽ thấy biết… không còn có cái thân nào nữa – hay nói khác đi “bố thí” sạch trơn rồi, “buông xả” sạch trơn rồi. Ngã nhân chúng sanh thọ giả dứt sạch rồi. Chẳng phải trong trạng thái vô ngã đó, đã hoàn toàn “bố thí thân mạng” đó sao?
Như vậy phải chăng “buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…” không bằng biên chép đọc tụng câu kinh tiếng kệ nhằm nhắc ta rằng đừng có mà ngồi ỳ ra đó, đừng có mà lo ngày ba thời thiền định dưới gốc cây, quên ăn quên ngủ, bỏ mặc sự đời. Hãy gieo trồng dù chỉ là một hạt giống nhỏ, để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh…
Cho nên bố thí thân mạng chẳng phải là bố thí thân mạng nên mới gọi là bố thí thân mạng đó vậy.

“Giải thoát” và “Giải thoát”

Thì ra có hai thứ Giải thoát. Giải thoát và giải thoát tri kiến. Hay nói cách khác, một thứ là giải thoát thân và một thứ là giải thoát tâm.
Vô sanh. Đặt gánh nặng xuống. Phạm hạnh đã đầy. Không trở lại con đường cũ nữa. Vậy là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát sanh tử. “Vô sanh” thì “vô tử” mà. Có sanh đâu mà tử ? Có tử đâu mà sanh ? Nhưng “sanh tử” này là sanh tử của các pháp. Sanh, trụ, dị, diệt. Nó vậy đó, nó cứ vậy đó, không ngừng. Sanh tử là một. Vô sanh là cắt đứt đường sanh tử. Các bậc vô sanh đều tới cõi này, nhưng sao…?
Phật nói còn thiếu Từ bi. Bởi Phật rồi cũng chết, cũng “niết bàn” mà, dù chỉ là một cách “thị hiện” chơi thôi, nhằm để răn dạy người đời thôi.
Cho nên giải thoát sanh tử không phải là không còn chết nữa, mà là chết một cách khác, chết an nhiên, chết tự tại, vì đã sống an nhiên, tự tại.

Nhưng giải thoát sinh tử mới chỉ là giải thoát thân, còn cái tâm mù mịt kia vẫn quấn quít, vẫn dằn vặt khôn nguôi. “Lậu hoặc” vẫn đầy ra đó, phiền não vẫn đầy ra đó. Nên “giải thoát thân” mới chỉ là bước một. Độc cư và thiền định đã có thể đưa đến thứ giải thoát này. Bố thí thân mạng ngàn vạn lần sáng trưa chiều tối có thể đưa đến giải thoát này. Nhưng nó chỉ là một trạm dừng chân, nghỉ qua đêm ở hóa thành.
Do vậy, thiền định (Samatha) cần mà chưa đủ, phải thiền quán (Vipassana) để có “tri kiến” thật. Nhưng hai thứ đó quấn quít chằng chịt với nhau, bổ sung cho nhau. “Định” đến mịt mờ cũng chẳng đến đâu, “Quán” đến hí luận cũng chẳng đến đâu. Có người bảo chỉ cần định là đủ, có người bảo chỉ cần quán là đủ. Các triết gia xưa nay vẫn luôn “quán” mọi sự không ngừng đó chứ, nhưng cũng chẳng đến đâu. Còn ôm gốc cây mà mài gạch cho thành gương thì cũng khó! Giải thoát tri kiến thực sự có được phải là cái « tri kiến » Phật. Thứ tri kiến ở đó thức đã chuyển thành trí. Thấy biết Như Lai. “Ngộ” vẫn chưa đủ. Còn phải “nhập” nữa. Khi Lục tổ Huệ Năng “ngộ” rồi thì cũng phải “nhập” mười lăm năm hành tẩu giang hồ mới dám một phen xuống núi: “Gió không động, phướng không động…”.
Một đạo hào quang trí tuệ ở giữa chặng lông mày quét một cái cho thấy toàn cục. Nó vậy thì nó vậy. Tánh tướng nó vậy thì sanh vậy trụ vậy dị vậy diệt vậy… Nó Như Thị. Sáu đạo luân hồi đông vui, dìu dặt. Các vị Phật hằng hà sa số giảng pháp… mọi lúc mọi nơi. Như Lai lặng tiếng. Như như bất động. Nhưng vô vàn để vổ về nhắc nhở.
Ấy là lúc tri kiến Phật tỏ bày?

Bồ tát Di Lặc

Các vị Bồ tát hình như chẳng ai có một cái tên riêng. Ngoài các vị quá thân quen như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Dược Vương… (thực ra là những đức, hạnh), ta còn có vô số các vị mang những cái “tên” rất ngộ nghĩnh: Thường Bất Khinh, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Vô Tận Ý… nếu dịch ra sẽ là: Luôn Tôn Trọng, Luôn Siêng Năng, Không Ngừng Thở, Người Nhiều Chuyện…! Cho nên ta không lấy làm lạ khi có tới hai vạn vị Phật mang cùng một tên gọi duy nhất Nhật Nguyệt Đăng Minh… làm nhớ “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về…” (TCS).
Dễ thương nhất có lẽ là Bồ tát Di Lặc. Bồ tát có cái bụng bự, lúc nào cũng cười toe toét, làm biếng và… hám danh kinh khủng (nên còn có tên là Cầu Danh). Hôm đó giữa hội trường , ông ngơ ngác đứng gãi đầu hỏi hôm nay có gì lạ mà Phật Thích Ca phô trương thanh thế, “đánh trống múa lân” ầm ỉ quá vậy? Bồ tát Văn Thù mới tủm tỉm cười « dẫn chuyện gần xa »: Sẽ có chuyện lạ đó! Chờ xem. Nhớ xưa mỗi lần như vầy thì sẽ có thuyết giảng Diệu pháp Liên hoa đó. Chờ xem. Đừng nóng. Hồi đó tôi cùng tu học với ông, chẳng qua ông biếng nhác, học hoài không thông…
Bụng bự, biếng nhác, hám danh… phải chăng muốn “ám chỉ” chúng ta ngày nay? Ta ngày nay chẳng phải bụng bia, gan nhiễm mỡ, béo phì, bằng cấp giả… đầy đó sao?
Thật ra thì Phật có phô trương thanh thế, có thuyết giảng gì mới lạ đâu. Vô số các vị Phật xưa nay đời đời kiếp kiếp đều nói y một pháp như vậy, có giấu giếm gì đâu, chẳng qua vì không ai muốn nghe, không ai biết nghe thôi. Phật Thích Ca, suốt bốn mươi lăm năm trời phải nói đi nói lại hoài bằng nhiều cách cho nhiều đối tượng khác nhau, để rồi cuối cùng cũng đã khẳng định… “ai bảo Phật có thuyết pháp này nọ là phỉ báng Phật”! Chẳng qua vì “đối tượng” khác nhau nên “mục tiêu” và “phương pháp” cũng phải khác nhau vậy thôi. “Student-centered approach” mà! Lần này trong hội Pháp Hoa, có vẻ Phật Thích Ca hơi bực mình sao đó nên không chỉ nói mà còn bày biện ra, trình diễn, xếp đặt như một cuộc triển lãm, như một phim 3D cho thấy tận mắt. Hãy coi kỹ đây nè. Nó vậy đó. Nó Như Lai. Chẳng có thời gian, chẳng có không gian. Vô lượng thọ. Vô lượng quang. Thực tướng vô tướng… Chuyện khó tin nhưng có thiệt. Một số vị đã rời bỏ hội trường. Kệ, cho đi.
Ông bụng bự, làm biếng, cầu danh… ở lại. Tuyệt vời! Ông hỏi : “Con muốn mau thành Phật. Có cách nào cho mau thành Phật không?”. Chưa bao giờ, ở đâu, có một kẻ nôn nóng thành Phật, nôn nóng “Vô thượng chánh đẳng chánh giác” như thế. Nhưng Phật đã mỉm cười: Có đó. Dễ lắm. Con nít chơi đất chơi cát… cũng thành Phật được, trẻ con người già, đàn ông đàn bà gì cũng thành Phật được. Bởi ai ai cũng sẵn có hạt giống đó cả rồi. Miễn là phải tưới bón!
Con người hôm nay trên thế giới phẳng, toàn cầu hóa này dù… bụng to, làm biếng, cầu danh, muốn mau thành “chánh quả”… vẫn có thể thành được không khó, miễn là có đủ “tri kiến” Phật và hằng sống “ngộ nhập” với tri kiến đó.
Nhưng, còn thiếu chút gì chăng? Từ Bi. Bồ tát Di Lặc, Maitreya, Từ Thị… vốn dòng dõi Từ Bi. Ông “thị hiện” chút chơi để dạy ta rằng phải có Từ Bi cái đã. Bởi Từ Bi thì mới Hỷ Xả. Nếu không, sao bụng lại to, sao cười lại rộng?

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 11.11.11)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc

27/10/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

Ghi chú: Một hôm, tôi nhận email của một sinh viên đề nghị xin được phỏng vấn tôi để hoàn thành một “bài tập” của em. Thỉnh thoảng tôi cũng có trả lời phỏng vấn, giúp SV làm luận văn, nhưng chưa lần nào giúp làm “bài tập” như lần này. Em là Phạm Bảo Hồng, SV Quan hệ công chúng và Truyền thông của một Trường đại học. Tôi nghĩ có thể chia sẻ với bạn bè thân thiết “bài tập” này của em vậy.

Đỗ Hồng Ngọc.

PHỎNG VẤN BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

1. Đọc các bài viết của bác, lúc nào trong cháu cũng cảm thấy một nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác. Bác thường trích dẫn những lời nhạc của Trịnh Công Sơn, những lời thơ của bạn bè bác. Những người thân quen, những mối quan hệ xung quanh có phải là nguồn cảm hứng cho bác?

Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN): Cảm ơn đã đặt một câu hỏi rất “nhẹ nhàng, man mác” như vậy, khiến tôi cũng lúng túng không biết trả lời sao. Cái “nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác” đó -khi đọc những bài viết của tôi- hẳn là một lời khen, cho thấy bài viết đã chia sẻ được những cảm xúc, nghĩ suy cùng người đọc, ít ra trong một cuộc sống đầy bon chen, căng thẳng… hiện nay, không chỉ riêng ta mà cả một thế giới phẳng, toàn cầu hóa! Tôi thường trích dẫn những ca từ của Trịnh Công Sơn, những câu thơ của người này người khác… khi thì Bùi Giáng, khi thì Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… (không phải bạn bè tôi đâu!) chẳng qua vì nó phù hợp với tâm trạng tôi lúc đó, nó tự nhiên đến với tôi chứ không phải do tôi cố ý kiếm tìm. Và, thực ra, với người viết nào thì những mối quan hệ, những người thân quen… bao giờ chẳng là nguồn cảm hứng bất tận cho họ?

2.Từ khi nào bác nhận ra trong bác có cả hai con người: một vị thầy thuốc hết lòng yêu nghề, nghiêm túc và một người cầm bút, tâm hồn nghệ sĩ? Bác làm sao để dung hòa hai tính cách trong một con người mình? Có bao giờ hai tính cách này đấu tranh lẫn nhau, buộc bác phải suy nghĩ?

ĐHN: Không. Tôi chẳng bao giờ thấy “nó” đấu đá hay tranh giành gì cả. Trái lại, nó cứ quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Ai bảo người nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn vị thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bỗng… nhỉ? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Dĩ nhiên khi trả lời y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bỗng hơn…

3.Lượng độc giả yêu thương và dõi theo bác gồm mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên, trung niên và cao niên. Viết cho mỗi lứa tuổi là một cách hành văn khác nhau, phải luôn thay đổi, làm mới cho phù hợp với nội dung. Làm sao bác có thể “phân thân” mình được như vậy?

ĐHN: Thường tôi không viết theo sách vở mà theo trải nghiệm của riêng mình. Như khi viết cho tuổi mới lớn thì vì tôi cũng vừa trải qua tuổi mới lớn; khi viết cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi dạy con thì vì tôi đã có vài ba nhóc tì; viết cho tuổi gió heo may vì tôi đã hườm hườm, còn viết cho tuổi già vì tôi đã bắt đầu thấy mình gần… khú! Tóm lại, phải có kinh nghiệm bản thân rồi mới chia sẻ được chứ phải không? Do vậy, tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.

4.Có bao giờ bác cảm thấy mệt mỏi, như mình không muốn viết nữa, hay những gì viết ra chỉ để “cất cho riêng mình một chút thôi vấn vương gió mây hoài niệm”, không muốn sẻ chia, dù rằng bác đã viết “sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”? Trong trường hợp đó, động lực nào thúc đẩy bác vượt qua giai đoạn ấy?

ĐHN: Dĩ nhiên có lúc mệt mỏi chứ. Tôi phụ trách trang mục “Phòng mạch Mực Tím” báo Mực Tím của tuổi mới lớn hằng chục năm trời, mỗi tuần nhận cả đống thư các em gởi về (hồi đó toàn viết tay rất dễ thương). Sau tôi đầu hàng. Phải nhờ một đồng nghiệp trẻ thay thế. Vả lại, càng về sau, các em càng hỏi những điều “trời ơi” tôi không trả lời nổi. Sau đó tôi giữ mục “Thư gởi người bận rộn” trên báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cũng được vài ba năm, rồi mục “Gia đình vui khỏe” trên báo Phụ nữ Tp.HCM cũng được vài năm… Viết báo, với tôi là một cách giữ cho mình một “áp lực” thường xuyên, không để cho mình làm biếng. Nhưng viết hoài cũng oải chứ. Oải quá thì nghỉ. Vậy thôi. Động lực nào ư? Có người đọc là vui rồi. Vả lại, cái nghề thầy thuốc của tôi, mệt cũng phải… làm mà!

5.Dù biết trên đời này không có gì là hoàn hảo, nhìn lại quãng thời gian đã qua, có khi nào bác cảm thấy hối tiếc vì một việc nào đó mà mình chưa hoàn thành trọn vẹn, hoặc kết quả không như ý?

ĐHN: Tôi không đặt nhiều kỳ vọng, mục tiêu gì cao vời cho mình cả. Tôi thường lửng thửng, đôi khi lang thang và chấp nhận mình như mình. Vậy vậy thôi. Ngay từ hồi trẻ, tôi vừa thích “làm bác sĩ” lại thích làm nhà văn, nhà giáo… nên vừa học y khoa lại vừa học văn khoa, vừa học xã hội học ở… 3 trường đại học khác nhau. Tôi “học cho đã” và thấy vui trong việc học. Bây giờ tôi vẫn cứ còn mê học. Có cơ hội thì học. Tôi chủ trương dạy học, viết lách cũng chính là để học. Còn thế nào là “hoàn thành trọn vẹn, kết quả như ý” thì quả thật tôi… không biết.

6.Ngày càng có nhiều cây bút trẻ xuất hiện trên Văn đàn, với nội dung tác phẩm na ná nhau về các vấn đề hiện nay trong xã hội (như đồng tính, yêu người đã có gia đình, những bế tắc, sự thất vọng, buồn bã trong cuộc sống dù họ còn khá trẻ), bác nghĩ sao về vấn đề này?

ĐHN: Tôi chấp nhận và tôn trọng điều đó. Chính vì “họ còn khá trẻ” nên họ thấy những điều mà tôi không thấy. Thời nào cũng vậy. Có người trẻ và có người già. Họ nhìn, họ thấy, họ nghĩ, họ cảm khác nhau chớ sao. Văn hoá nền cũng khác nhau, môi trường xã hội và thiên nhiên cũng đã thay đổi. Điều đó càng làm phong phú thêm cuộc sống. Các nhà văn trẻ có những vấn đề thời đại của họ. Họ phản ánh nó qua văn chương là điều đáng quý. Quan trọng là cần có giọng điệu riêng, bản sắc riêng của mỗi người. Do vậy họ phải tự đào luyện không ngừng và có một không gian để thể hiện và chia sẻ. Họ cần tự do và cô đơn.

7.Là người hiểu nhiều, đọc nhiều, bác có yêu thích vị tác giả nào không? Vì sao? Nếu có, cách viết của bác có bị ảnh hưởng bởi họ không?

ĐHN: Tôi đặc biệt qúy mến Nguyễn Hiến Lê. Dù không học trực tiếp với ông ngày nào, tôi vẫn coi ông là thầy mình. Cách viết của ông trong sáng, giản dị. Viết từ trải nghiệm, không lý thuyết viễn vông. Còn dịch, ông nói phải dịch sao cho người đọc không thấy dấu vết dịch, nghĩa là phải thật thấu hiểu, thật nhuần nhuyễn cả hai nền văn hóa, ngôn ngữ. Ông làm việc nghiêm túc, khắc kỷ, đọc sách lúc nào cũng có cây viết chì trên tay. Ông nói: viết là để học và học là để viết. Muốn “học” một điều gì cho thấu đáo thì hãy “viết” về nó. Tôi cũng thấy vậy. Viết sách hay dạy học… với tôi đều là những cơ hội tốt để học tập, rèn luyện, thể nghiệm, chia sẻ. Tôi cũng đặc biệt thích André Maurois và Lâm Ngữ Đường… Tôi thấy hình như họ hạp với cái tạng của mình. Dĩ nhiên tôi viết theo cách của riêng tôi.

8.Bác có hài lòng với cuộc sống hiện tại? Hạnh phúc vẫn luôn hiện diện xung quanh bác chứ? Bác có thể bật mí những dự định sắp tới của mình?

ĐHN: Tôi cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, bởi “dĩ vãng đã qua rồi, tương lai thì chưa tới”. Hiện tại là món quà của cuộc sống. Trong tiếng Anh có một từ dễ thương, đó là “present”, cùng lúc có ba nghĩa: hiện tại, sự có mặt, và món quà. Sống trong hiện tại, ở đây và bây giờ, là sống trong hạnh phúc. “Hạnh phúc rất đơn sơ” như một nhà thơ đã nói. Đơn sơ nhưng không dễ thấy biết. Phải khám phá. Nó như một bí mật, chập chờn, khi ẩn khi hiện quanh ta, nên phải biết khám phá. Nhiều khi phải nhìn một cách khác, phải nghe một cách khác, phải nếm ngửi một cách khác… Quyết tâm tìm kiếm nó, lùng sục nó… thì nó biến mất. Nó thường gặp gỡ, vui đùa với trẻ thơ, nên “em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) là vậy.

Phạm Bảo Hồng (thực hiện)
Saigon, 25.10.2011

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi

VTV1 “Câu chuyện cuộc sống”

21/10/2011 By support2 4 Bình luận

Trò chuyện với BS Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc

Thư từ Minnesota

11/10/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 17 Bình luận

Thư đi… Tin lại
Ghi chú: Nhat Duong 18 tuổi. Qua Mỹ lúc 16. Đang chuẩn bị học thi vào Y khoa. Hai năm sống ở Mỹ, em có những cảm nhận thật sâu sắc. Riêng với tôi còn là một bất ngờ, đáng quý. Vì thế, trên mục “Thư đi…Tin lại” kỳ này tôi muốn chia sẻ cùng các bạn trẻ và các vị phụ huynh một cái nhìn từ một người trẻ xa nhà. Tôi cũng đã mạn phép em chuyển thư này đến nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Nhat Duong nhatduong@yahoo.com

Minnesota, ngay 3 thang 10 nam 2011,

Kính gửi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Kính thưa Bác sĩ,
Con tên là Nhat Duong, hiện nay đang học ở Mỹ. Con chỉ vừa mới qua đây được 2 năm, nay con đã 18 tuổi rồi; cái tuổi thiệt đẹp phải không Bác sĩ?
Trong khi viết những dòng này cho Bác sĩ, con có một cảm giác thật hồi hộp mà con nghĩ Bác sĩ- hơn 60 năm về trước- cũng đã trải qua khi “đánh bạo” viết thư cho cố học giả Nguyễn Hiến Lê. Hồi hộp vì không biết có được trả lời thư hay không, hoặc Bác sĩ sẽ đánh giá sức học, trình độ văn hóa qua cách viết của mình như thế nào…

Con, đặt chân lên nước Mỹ năm 16 tuổi, thấy mình thật may mắn vì đã được “hít thở” không khí Á Đông, cụ thể là Viet Nam, thấy được vẻ đẹp của thành phố Sai Gon thân yêu mỗi sáng, nét duyên dáng của tà áo dài nữ sinh sau mỗi giờ tan học mà nói như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh trong truyện Mắt Biếc là “một kỳ quan.” Nếu được chọn lại, con vẫn sẽ chọn mình được sinh ra và lớn lên ở Sai Gon, Viet Nam, dù cho sau này con có phải vất vả học tiếng Anh như thế nào đi chăng nữa. Đối với con, tiếng Việt đẹp một cách lạ kỳ, đặc biệt kể từ hồi con qua Mỹ đến giờ. Đẹp đên mức trong những lần thắp nhang khấn Phật, con đã xin Phật cho con mãi là người Viet Nam, kiếp này và cả những kiếp sau nữa…

Cơ duyên đã cho con được “gặp” Bác sĩ qua những tác phẩm như “Như ngàn thang thuốc bổ”, “Thầy thuốc và bệnh nhân”, “Gió heo may đã về”, “Thư gởi người bạn rộn”… từ rất sớm, năm đó con chỉ đang học lớp 8 mà thôi. Mà lại lén giấu ba mẹ để đọc, sợ ba mẹ phát hiện được lại nói mình “ông cụ non”! Mà đọc lén cũng có cái thú của nó, Bác sĩ đồng ý với con chứ? Cảm giác lúc đầu của con khi đọc lời tựa “Như ngàn thang thuốc bổ” là sự kính trọng xen lẫn sợ sệt khi nghe Bác sĩ làm việc “như điên trong nhiều năm trời,” để rồi bị “tai biến mạch máu não, phải mổ gấp.” Lúc đó con đã từ bỏ ý định trở thành Bác sĩ. Nhưng rồi những tác phẩm tiếp theo của Bác sĩ đã làm con phải suy nghĩ lại, thậm chí suy nghĩ rất nhiều. Tất cả những tác phẩm của Bác sĩ, ngọai trừ “Gươm báu trao tay” và “Nghĩ từ trái tim,” con không nhớ đã đọc bao nhiêu lần từ năm lớp 8 đến nay, nhưng đủ nhiều để con thấm thía những bài học trong đó. Nhờ Bác sĩ mà con không se sua quần áo, không đua đòi ba me này nọ; rằng chỉ có học giỏi mới được mọi người “mua chuộc”.
Cơ duyên cũng cho con “gặp” nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và học gỉa Nguyễn Hiến Lê qua những tác phẩm tuyệt hay của hai ông. Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh nuôi dưỡng hạt giống tuổi thơ trong con, giup con yêu Viet Nam hơn. Từ hồi đọc truyện Nguyễn Nhật Ánh, con tự thay đổi mình rất nhiều. Không hiểu sao truyện Nguyễn Nhật Ánh vừa có tính chất giải trí vừa có tính giáo dục rất cao. Còn về học gỉa Nguyễn Hiến Lê, thật sự con chỉ biết thưởng thức những tác phẩm của ông mà không có bất cứ 1 lời phàn nàn nào, vì những tác phẩm được viết quá khéo và quá hay!
Thưa Bác sĩ, nãy giờ con trải lòng với Bác sĩ như vậy để Bác sĩ hiểu con hơn, ngoài ra để Bác sĩ có đủ “tư liệu, thông tin” để tư vấn cho con vấn đề sau đây:

Con đang theo học để thi vào Y khoa ở Mỹ. Mục tiêu của con là trở thành Bác sĩ, cứu chữa được thiệt nhiều người, đặc biệt là người nghèo. Mặc dù con biết Y khoa là ngành khó nhất ở Mỹ, phải có bằng cử nhân (bachelor degree) và điểm thi MCAT, cộng với những sinh hoạt ngoại khóa khác. Thế nên, con rất muốn nghe lời khuyên của Bác sĩ về việc làm thế nào để trở thành 1 vị bác sĩ tốt. Được vậy con cảm ơn Bác sĩ nhiều lắm…
Một chuyện nữa là Bác sĩ cho con lời khuyên chọn vợ như thế nào sau này. Con biết Bác sĩ sẽ nghĩ con lo chuyện “nữ nhi tình trường” mà không chú tâm vô học. Nhưng Bác sĩ ơi, con sợ rằng khi con cần hỏi thì Bác sĩ đã trăm tuổi rồi…

Chuyện cuối cùng là việc nên nuôi dạy con của con ở Việt Nam hay Mỹ. Con biết vấn đề này hơi nhạy cảm một tí, nhưng thực tình con rất muốn nuôi dạy con của con ở Việt Nam. Bác sĩ cũng đã biết nuôi dạy con cái khó như thế nào, đặc biệt ở Mỹ, nơi mà nếu muốn, đứa trẻ có thể gọi 911 bất cứ lúc nào để “bỏ bót” cha mẹ nó, cùng hằng trăm khác biệt văn hóa khác. Sẽ thật tuyệt vời nếu Bác sĩ có thể cho con một lời giải cho “bài toán” này.

Con thực tình xin lỗi Bác sĩ vì đã viết 1 bức thư dài như vậy (con biết Bác sĩ mới mổ cườm mắt gần đây), nhưng xin Bác sĩ hãy cho con 1 lời khuyên để con vững tin hơn trên bước đường con đã, đang, và sẽ chọn sau này…
Nhat Duong

Saigon 7.10.2011

Tg Nhat Duong,

1. Bác thật sự ngac nhiên thấy con mới 18 tuổi, đã qua Mỹ 2 năm rồi mà con viết tiếng Việt rất tốt, nhất là những suy nghĩ của con rất Việt Nam, có lẽ nhờ con đã sống trong một nền nếp văn hóa gia đình.
2. Không đến 60 năm đâu, mới 54 năm thôi. Đó là năm 1957 khi bác “đánh bạo” viết thư cho ông Nguyễn Hiến Lê hỏi ý kiến về chuyện học hành. Hồi đó viết thư tay chứ không như bây giờ có máy vi tính, có internet. Viết tay còn có thể bị đánh giá qua chữ viết nữa đó chứ (Đời người qua nét bút)!
3. Con có thể nói rõ hơn, tại sao con thấy may mắn vì được « hit thở » không khí Á Đông ? Cho vài ví dụ? Bởi nhiều bạn trẻ như con qua được đến Mỹ thì coi như mình được “giải thoát” và hội nhập vào văn hóa Mỹ rất nhanh! Có phải con sanh ra ở Saigon? Gia cảnh ra sao? Bố mẹ làm nghề gì? Như vậy Bác mới hiểu con nhiều hơn. À, đặc biệt con thấy tiếng Việt “đẹp một cách lạ kỳ” ở chỗ nào?
3. Đọc lén, thú lắm chứ! Nhưng lén đọc “bậy bạ” thì lại không nên. Có lẽ gia đình con, Ba mẹ con đã có sẵn một số sách của Bác nên con mới có cơ hội đọc lén? Con sợ ba mẹ phát hiện nói con là ông cụ non thì Bác thấy con trở thành ông cụ non thiệt rồi đó qua thư này! Con cho Bác biết, vì sao con đọc sách của Bác mà lại thích? Bác đâu có viết “tiểu thuyết” như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh?
4. Không se sua chưng diện, tốt. Có lẽ Ba mẹ con chắc cũng ngạc nhiên thấy có thằng con không se sua chưng diện, chỉ lo học hành, lo hoạch định tương lai từ nhỏ? Tại sao ngoại trừ Gươm báo trao tay và Nghĩ từ trái tim không đọc? Có phải vì nó khó hiểu hay vì nó viết về Phật giáo?
5. Con nhận xét về 2 tác giả Nguyễn Hiến Lê và Nguyễn Nhật Ánh rất đúng.( Bác mạn phép chuyển thư này đến nhà văn NNA, để ông thấy ông được giới trẻ đánh giá ra sao). Bác hy vọng NNA sẽ ngày càng nâng cao tính giáo dục của tác phẩm mình, sẽ có ích nhiều cho tuổi trẻ.
5. Con phải đặt Mục tiêu từng bước. Đừng đặt Mục tiêu quá xa. Phải xong Bachelor, phải chuẩn bị thi MCAT cho thật tốt… Sau đó mới tính chuyên trở thành một bác sĩ “tốt” là như thế nào được. Ở đời nhiều khi mình tính đường này nó ra đường khác. Bác chúc con “thuận buồm xuôi gió”, nhưng đừng đặt kỳ vọng quá xa, vì nếu không thành công sẽ dễ nản chí, ngã lòng. Đọc thư con, Bác biết con là người có ý chí, nghị lực, có “văn hóa” rộng. Như vậy, dù con không thành Bác sĩ đi nữa thì vẫn sẽ thành công trên đường đời, vẫn sẽ là một người tốt, giúp ich được cho gia đình và xã hội.
6. Chọn vợ? Đây là chỗ mà Bác nói con trở thành “ông cụ non”. Lo xa quá! Chọn vợ như thế nào ư? Nhiều khi phải có « duyên » và « nợ » con ạ ! Có duyên mà không nợ, có nợ mà không duyên, cũng không thành. Trong mọi tình huống, đều phải biết uyển chuyển, trung dung. Đặt nhiều điều kiện quá dễ thất bại lắm! Con có thể tìm đọc cuốn “Tương lai trong tay ta” của Nguyễn Hiến Lê. Ông có chỉ cách “chọn vợ” trong đó.
Con 18 tuổi chắc cũng đã bắt đầu quan tâm đến chuyện nam nữ, mới thấy “áo dài” nữ sinh đẹp như thế nào phải không? Vậy là tốt. Tốt vì con là “con trai” thực sự. Hãy để thời gian tập trung lo học. “Tình duyên” sẽ đến sau. Bác còn gần 30 năm nữa mới được… trăm tuổi. Lúc đó con cũng lớn bộn rồi! Đừng lo.
7. Chuyện “dạy con” để tới đó hẳn hay. Lúc đó, con sẽ có nhiều vấn đề để giải quyết lắm. Học xong con về Việt Nam hay ở Mỹ luôn? Vợ con là ai? Ý kiến vợ con thế nào? Con phải tôn trọng, bàn bạc. Ý kiến Ba mẹ con thế nào? Còn “Ba mẹ vợ” nữa chứ! Lỡ con cưới một cô gái Mỹ hay Tàu… thì sao? Ai biết được? Que sera sera. Dù sao, con cũng nên để dành cuốn Khi Người Ta Lớn và Tuổi Mới Lớn… cho con của con! Dù sao, con của con cũng nên được trui rèn trong nền văn hóa Việt phải không?
Trước mắt tập trung lo học, đạt Muc tiêu từng bước. Rèn nghị lực, nhân cách. Giữ gìn sức khỏe.
Chúc con mọi sự tốt lành.
BS Do Hong Ngoc.

Minnesota, ngay 7 thang 10 nam 2011

Kính thưa Bác sĩ,
Con thiệt không biết nói gì hơn là cảm ơn Bác sĩ đã trả lời thư của con. Từ hồi nhỏ đến giờ đây là lần đầu tiên có người trả lời thư cho con, mà lại là Bác sĩ nữa! Con thích lắm, cảm giác vừa hồi hộp, vừa vui mừng.

Lý do con nói rằng con “may mắn được hít thở không khí Á Đông” vì con thấy cuộc sống ở Mỹ sao mà cực quá! Người Mỹ có lẽ không biết khái niệm “sống nhàn nhã” như người phương Đông, lúc nào vẻ mặt cũng căng thẳng, âu lo, vì phải lo trả tiền nhà, tiền xe, tiền điện, nước,…Ngay cả trong cách ăn uống con cũng thấy người Mỹ đang tự hủy hoại bản thân mình. Bác sĩ biết không, bên này ở các cửa hàng người ta bán các “thanh dinh dưỡng” (nutrition bar), nhìn bề ngoài gióng như mấy thanh kẹo socola; ví dụ đến bữa trưa, nếu Bác sĩ không cảm thấy muốn ăn trưa thì Bác sĩ có thể ăn 1 “thanh dinh dưỡng” đó, bảo đảm no đến chiều (theo như lời 1 thầy giáo người Mỹ của con và nhiều người khác)! Con mặc dù chưa được học Y khoa đến nơi đến chốn, nhưng mới nghe qua cũng đã thấy khó tin rồi. Một chuyện nữa là chuyện con cái đối xử với cha mẹ. Sống bên Mỹ, chuyện con cái lớn tiếng với cha mẹ dường như đã thành…cơm bữa, hình như thiếu nó không được, thiếu thì không còn là Mỹ nữa. Nếu được giáo dục theo người Việt Nam, hẳn những bạn đó không bao giờ làm như vậy. Thêm nữa, chuyện con cái bỏ mặc cha mẹ một mình khi tuổi già sức yếu, thậm chí cho vào viện dưỡng lão, là con không chịu được. Nếu Bác sĩ biết rằng ở nơi con ở, đối diện với 1 viện dưỡng lão là …nhà quàn, thì Bác sĩ cũng sẽ bức xúc vô cùng. Một ví dụ nữa là chuyện ăn mặc của học sinh Mỹ. Nhiều người mặc quần xẻ….tới đầu gối, vào trường chỉ lo chưng diện, tai đeo iPod, bông tai (tại sao con trai lại đeo bông tai? Con không tài nào hiểu được), học hành thì lẹt đẹt, hoạ hoằn lắm mới có 1 người học kha khá. Con gái thì…càng làm con thấy tiếc những tà áo dài “2 phần gió thổi, 1 phần mây.” Trang điểm, đánh phấn, gắn lông mi giả,… Chưa đến 20 tuổi mà nhìn cứ như…ngoài 30! Trong lớp con có 1 cô bạn Mỹ, một lần ngồi nói chuyện xã giao mới biết rằng bạn đó không sống chung nhà với ba mẹ mà dọn ra ngoài sống với bạn trai 25 tuổi. Mà Bác sĩ biết bạn đó bao nhiêu tuổi không? Chỉ mới 19 mà thôi! Chuyện đáng nói ở đây là ba mẹ của bạn đó cũng đồng ý luôn! Trên đây chỉ là một vài ví dụ về những chuyện con thấy trước mắt, tất nhiên con không “vơ đũa cả nắm,” bởi vì vẫn còn những người Mỹ sống rất đàng hoàng, đúng mực, học hành giỏi giang. Bản thân con tiếp thu văn hóa Mỹ cũng rất nhanh; nhưng con chỉ “Mỹ” ở trường học thôi, về nhà con lại là người Việt Nam.

Con được sanh ra và lớn lên ở Sai Gon (nhà con gần chợ Vườn Chuối ở quận 3 đó Bác sĩ), nhưng quê của bên nội con là ở Hà Đông. Bố con là nhân viên ngân hàng, mẹ con là nhân viên văn phòng. Bố mẹ con sống rất đơn giản, tiết kiệm, chi tiêu có ghi sổ sách đàng hoàng, và đặc biệt là đề cao việc học. Lúc còn nhỏ, nếu đòi mẹ con mua đồ chơi thì nhất quyết mẹ con không mua, nhưng nếu mua sách đọc thì thoải mái. Mà tính con hay xúc động, đọc truyện thấy có con mèo đi lạc, đi hoài không tìm đường về nhà được là con …khóc ngon lành. Về việc con thấy tiếng Việt “đẹp một cách lạ kỳ” ít nhiều bị ảnh hưởng bởi nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và… Bác sĩ. Ngôn từ trong truyện Nguyễn Nhật Ánh vừa phong phú, đa dạng, vừa dễ gây xúc động, làm tâm hồn mềm mại hơn; đặc biệt cốt truyện nửa thật nửa hư ảo, nhưng điều làm con thích là những câu chuyện ấy rất gần với cuộc sống hằng ngày của con. Duy chỉ có 1 điều làm con thấy hơi ghét nhà văn là hầu như truyện nào cũng có cái kết buồn ơi là buồn, lần nào đọc xong con buồn mất 2,3 ngày. Vậy mà vẫn thích đọc hoài. Con thấy cảm giác buồn này thiệt dễ chịu, cứ như là nếu không buồn thì không phải Nguyễn Nhật Ánh vậy!

Mặc dù Bác sĩ không viết “tiểu thuyết” như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, nhưng con thấy những câu chuyện của Bác sĩ có một cái gì đó vừa như những lời răn đe, dạy dỗ, vừa châm biếm những thói hư tật xấu trong xã hội phương Tây và Đông. Như con đã trình bày trong thư trước, cứ nhớ đến lời Bác sĩ dặn “ráng học tập Trần Minh khố chuối đậu trạng nguyên, lấy công chúa” là con như được tiếp thêm sức mạnh. Con hoàn toàn hiểu những gì Bác sĩ muốn gửi gấm đến người đọc trong chương đó. Một điều quan trọng nữa là tuổi thơ của Bác sĩ cũng khá… giống con, cũng bị đánh đòn, cũng đọc truyện lén. Cùng “cảnh ngộ” nên con thích đọc truyện Bác sĩ, chỉ đơn giản vậy thôi.

Về việc con không đọc “Nghĩ từ trái tim” và “Gươm báu trao tay” đúng như Bác sĩ đã “chẩn đoán”: nó hơi khó hiểu đối với con, mặc dù nhà con theo đạo Phat. Con cảm thấy hai tác phẩm này hơi… lạc lỏng giữa rừng tác phẩm Bác sĩ viết cho người đọc phổ thông. Con thích coi mấy dĩa CD mà trong đó Thầy giảng bài cho Phật tử nghe, lồng ghép ví dụ thực tế, như vậy con thích hơn.

Điều cuối cùng là về vấn đề “vợ, con.” Con rất cảm ơn lời khuyên của Bác sĩ và con hứa sẽ nghe theo. Nếu điều kiện cho phép, con vẫn thích về Việt Nam sống và làm việc hơn ở Mỹ.

Con xin phép Bác sĩ cho con dừng ở đây. Chúc Bác sĩ và gia đình luôn được nhiều sức khỏe, hạnh phúc và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Nhat Duong

Saigon 11.10,2011
Tg Nhat Duong,
Bác hiểu con đang bị một cú “sốc văn hóa”. Cần có thời gian. Điều quan trọng, hãy giữ gìn “bản sắc” văn hoá riêng của mình nhé. Khi con lớn thêm chút nữa, con sẽ đọc được “Nghĩ từ trái tim”…
Giữ sức khỏe và ráng học cho giỏi.
Bác Ngọc.

Thuộc chủ đề:Bỗng nhiên mà họ lớn, Góc nhìn - nhận định, Hỏi đáp

“Cân Bằng Cuộc Sống”, hạnh phúc trong tầm tay mỗi người

26/09/2011 By support2 4 Bình luận

Trong cuộc sống hiện đại, ngay trong lòng xã hội Việt Nam, ngày nay người ta phải nỗ lực nhiều hơn, bươn chãi nhiều hơn để có thể đáp ứng nhu cầu của cuộc sống cá nhân và gia đình. Người ta lao vào công việc như một cái máy được lập trình sẵn, mà quên đi những nhu cầu khác về thể chất, tinh thần và tâm linh, cũng như lơ là trong các mối quan hệ với bằng hữu, gia đình và xã hội. Điều đó làm cho cuộc sống con người trở nên mất cân bằng, dễ rơi vào trạng thái căng thẳng (stress) và dẫn đến nhiều căn bệnh cũng như những hệ lụy khác. Liệu có cách nào dung hòa giữa công việc và phần còn lại của của cuộc sống mỗi người?

Sau ba tháng nghỉ hè, kể từ chương trình Mừng Ngày Của Cha 12/06, chiều thứ Bảy ngày 10/09/2011, Chương Trình Chuyên Đề thuộc Ban Mục Vụ Gia Đình Sài Gòn đã hoạt động trở lại, với loạt đề tài về kỹ năng làm chủ bản thân. “CÂN BẰNG TRONG CUỘC SỐNG” là đề tài được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch chia sẻ, nhằm trả lời câu hỏi trên trong bầu khí giao lưu, vui tươi, thoải mái với gần 300 người tham dự. Với vẻ bề ngoài còn rất trẻ trung, thật khó có thể hình dung đó là một diễn giả 71 tuổi, bác sĩ đã trình bày đề tài bằng phong cách đĩnh đạc của người có trải nghiệm về mặt xã hội cũng như uyên thâm về y khoa, nhưng không kém phần dí dỏm, gây cười, thu hút giới trẻ như bác sĩ đã từng gây ấn tượng với bao học sinh, sinh viên khi phụ trách “Phòng mạch Mực Tím” nổi tiếng trong một thời gian dài.

Dưới tác động của thế giới hiện đại, với thông tin bùng nổ, mọi thứ tiện lợi, bác sĩ đã đặt ra vấn đề với hàng loạt câu hỏi: Tại sao người xưa thảnh thơi, có cuộc sống cân bằng hơn chúng ta bây giờ? Tại sao người xưa nghèo khó mà vẫn “nuôi con giỏi dạy con ngoan”? Tại sao…??

Ngày xưa, người đàn ông là trụ cột trong nhà, đi làm kiếm tiền nuôi sống cả gia đình; Người phụ nữ chủ yếu được giao trọng trách nuôi con, dù trình độ học vấn không cao, nhưng có thể nói đã nuôi dạy con rất tốt. Nhưng giờ đây cả đàn ông và phụ nữ đều phải làm việc “đầu tắt mặt tối”, 12-16 giờ /ngày (kể cả ăn trưa, đi lại…). Luôn căng thẳng với nạn kẹt xe, khói bụi, lô cốt, tai nạn giao thông…. Về nhà chỉ còn ít giờ cho cơm nước, ngủ, nghỉ, giải trí, lo cho con cái… hành trang mang về nhà là bao nỗi bực dọc, bao việc chưa giải quyết xong… bơ phờ, hốc hác.

Thời buổi hiện đại ngày nay với những phương tiện tối tân, dường như cả thế giới được gói gọn trong lòng bàn tay, nhưng những lời than thở về đời sống lại thường xuyên được bắt gặp trong các buổi tham vấn vì cuộc sống cứ thế lặp đi lặp lại: “Sáng vác ô đi, tối vác về”, gia đình chán nản, bản thân chán nản.

Sức khỏe là yếu tố quan trọng trong cuộc sống mỗi người, nhưng ít ai quan tâm thực sự sức khỏe là gì? Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) vào năm 1946, sức khỏe là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well being; bien-être) về thể chất (physical), tâm thần (mental), xã hội (social). Rõ ràng, sức khỏe không chỉ được đo lường bằng tình trạng có bệnh hay không có bệnh như nhiều người lầm tưởng. Chính vì thế, nhìn vẻ bề ngoài không thể biết chính xác sức khỏe của một người, nhất là về sức khỏe tâm thần và tâm linh.

Ngày nay, sức khỏe xã hội là điều cũng đáng được quan tâm khi người ta thường xuyên gặp phải những bức xúc, bực bội trong cuộc sống: ra đường gặp lô cốt, đến cơ quan công quyền gặp điều khó chịu, đến bệnh viện thì chật chội, bất an.

Bác sĩ đã dí dỏm khi nói đến cái thâm sâu trong tiếng Việt: Đau khổ là đau thể chất, khổ nỗi niềm; Bệnh hoạn: có bệnh là có hoạn nạn. Ngành y tế chỉ chăm lo mở bệnh viện cho nhiều, đó là điều nguy cơ vì chỉ quan tâm đến bệnh hoạn mà không quan tâm đến sức khỏe thực sự có cả về tâm thần và xã hội.

Một trong những vấn đề có liên quan đến sức khỏe tâm thần và xã hội chính là stress (căng thẳng tinh thần). Stress là nguyên nhân tiềm ẩn của 60-90% bệnh nhân đến khám bác sĩ. Nó gây nhiều bệnh chứng dẫn đến trầm cảm, tự tử, giảm chất lượng cuộc sống. Nhưng có một điều may mắn là đối với stress thì phòng bệnh dễ hơn trị bệnh, và một đời sống cân bằng là cách phòng stress tốt nhất.

Những bức hình vui đã nói lên những hoạt động có thể xảy ra trong đời sống hiện đại, khi có người nói rằng “Có 2 lần trong ngày tôi cảm thấy stress là ngày và đêm”. Đó là hình ảnh người người phụ nữ xoay lưng vừa bế đứa con với đôi mắt như diễn tả đôi mắt người mẹ, vừa phải làm việc trên máy vi tính xách tay; vừa phải lo cho công việc bếp núc; Hình ảnh người phụ nữ mở to miệng hét vào điện thoại; Hình ảnh người đàn ông vừa chạy như bay, tay xách vali, tay cầm điện thoại nghe với vẻ mặt căng thẳng.

Để nhận diện được stress cần biết những dấu hiệu của stress, bao gồm:
– Những dấu hiệu về nhận thức: Giảm sút trí nhớ; Do dự, khó tập trung; Suy nghĩ không logic; Phán đoán sai ; Chỉ thấy mặt tiêu cực; Mất định hướng; Hoang mang, sợ hãi.
– Những dấu hiệu về cảm xúc: Buồn rầu; Dao động, bứt rứt; Tâm tính bất thường; Kích động/Thiếu kiên nhẫn; Không thể thư giãn; Dễ cáu gắt, căng thẳng; Cảm giác bị tràn ngập, cô đơn; Trầm cảm…
– Những dấu hiệu về thể chất: Nhức đầu, đau lưng, đau cột sống cổ; Rối loạn tiêu hóa, bón…; Răng miệng hôi; Mất ngủ/ Tức ngực; Thị giác kém; Mụn, chàm ngoài da; Yếu sinh lý…; Dễ cảm cúm, nhiễm trùng…
– Những dấu hiệu về hành vi: Rối loạn dinh dưỡng (Béo phì,Gầy); Xa lánh mọi người; Tìm đến rượu, thuốc lá, ma túy…; Căng thẳng (Cắn móng tay, đi lui đi tới)…; Nghiến răng, nhai nhóp nhép… ; Hoạt động quá đáng (mua sắm, thể dục…); Phản ứng quá độ/ Dễ gây sự…

Cân bằng cuộc sống, cách nào? Vấn đề này đặt ra cho xã hội hiện đại là giải quyết làm sao để cân bằng cuộc sống. Cuộc sống như một bánh xe đang lăn, khi bánh xe mà phình chỗ này, xẹp chỗ kia thì nó chạy không đều được. Người ta đưa ra những thứ ảnh hưởng đến bánh xe cuộc sống như tài chính, gia đình, tâm thần, công ăn việc làm, xã hội, thể chất, tâm linh… tất cả những thứ đó cần phải đều nhau để bánh xe lăn tròn.

Cuộc sống người ta được ví như một người làm xiếc với những trái banh. Trái banh công việc được ví như trái banh cao su, thả nó xuống thì nó dội lên, công việc có mất đi thì cũng sẽ có lại, còn những trái banh khác là trái banh bằng thủy tinh, nó rớt xuống thì sứt mẻ, vỡ vụn, thế nên gia đình nếu gãy đổ thì khó hàn gắn lại, sức khỏe mà tiêu đi thì khó phục hồi lại…

Các biện pháp giúp cân bằng cuộc sống:
– “Từ bi với mình”: đừng làm cho mình đau khổ, bệnh tật mà cần quan tâm đến bản thân một chút. Cần bớt tham sân si, nếu tham nhiều, cứ muốn điều này đến điều khác sẽ dễ dẫn đến giận dữ, phải biết cách sống trong hiện tại. Trong tiếng Anh có chữ present có 3 nghĩa thật hay vừa là có mặt, là hiện tại, và là món quà: có mặt trong giây phút hiện tại đó là món quà của cuộc sống.
– Xác định mục tiêu vừa tầm: muốn nhiều quá, ôm đồm quá sẽ không đạt tới được, gây ra đau khổ.
– Chọn ưu tiên: chọn điều gì trước thì tập trung vào điều đó như phải chọn giữa gia đình, tình yêu hay tiền bạc…
– Phân bố thời gian: có thời khóa biểu và phải biết ủy quyền, nếu không biết ủy quyền thì tự làm khổ mình vì quá ôm đồm. Chronophage: nuốt thời gian, có những điều làm cho người ta mất thời giờ vô ích nên cần phải tránh bớt điều không cần thiết cho cuộc sống.
– Cần phải có kế hoạch, nhưng kế hoạch đừng quá máy móc, dễ gây đổ vỡ.
– Cần chú ý đến môi trường làm việc kể cả môi trường xã hội, các phương tiện phục vụ công việc. Con người căng thẳng thì dễ dẫn đến các nguy cơ. Trước đây, trong các công ty lớn ở Nhật người ta tạo ra những phòng có bao cát dán hình nộm giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng để nhân viên đấm vào đó như là một hình thức xả stress.
– Cần có những kỹ năng cần thiết trong giao tiếp: tôn trọng, chân thành tạo sự tin tưởng của người khác, thấu cảm để đặt mình vào vị của người khác, để hiểu rõ sự việc, hiểu được hết họ, người nào có khả năng thấu cảm người khác người đó sẽ dễ thành công.
– Sử dụng công nghệ: đừng để bị lệ thuộc vì nhiều khi mất thời giờ hơn là hiệu quả, nhiều khi nó làm phá vỡ khung cảnh tự nhiên và làm cho con người bị lệ thuộc.
– Đừng ôm công việc cơ quan đem về nhà; Gần gũi với thiên nhiên; Đừng quên chăm sóc sức khỏe. “Self care”: cần tự chăm sóc mình, tốt nhất là có một “bác sĩ riêng” là những người quen biết để khỏi hoang mang trong vấn đề y tế; Dành thời gian cho bản thân;
– Giảm “Stress” bằng cách thở bụng, tập thiền, Yoga, du ngoạn, giải trí…
– Dinh dưỡng hợp lý: Theo tháp dinh dưỡng, theo bốn nhóm thức ăn và cách ăn.
– Cần tìm niềm vui trong hoạt động giải trí, sáng tạo: Viết, vẽ, ca, hát, nhảy múa… chụp hình, quay phim, cắm hoa, nấu ăn…“Cầm kỳ thi họa”, tận dụng mặt có lợi trong thời đại Internet.
– Với gia đình, đó là mối quan tâm lớn cần để ý. Nếu không, gia đình không còn là tế bào của xã hội nữa, mà là nơi đào tạo ra những người xấu, những thế hệ tương lai không tốt nữa. Vì thế cần dành thời gian cho gia đình;
– “Từ bi hỷ xả”, quan tâm đến người chung quanh… Sống trong hiện tại, đừng so sánh, đừng bắt mình phải giống người khác, đừng chạy theo thành tích, sống dối trá, khoe khoang, hình thức (xe cộ, quần áo, hàng hiệu…).

Cách thực hành để tìm ra sự không cân bằng trong đời sống của mình là vẽ ra sơ đồ những vòng tròn đồng tâm, sau đó chia thành 6 hoặc 8 phần bằng nhau và ghi vào đó những mục tiêu muốn theo đuổi tùy theo mỗi người. Chẳng hạn: công việc, sức khỏe, tài chính, sở thích, vui cười – những thử thách, học hỏi, bạn bè, gia đình. Sau đó tô màu đánh dấu đo lường mức độ quan tâm của mình trong từng lĩnh vực. Vùng tô màu nào càng gần tâm thì mức độ quan tâm càng ít. Các vùng tô màu càng không đều nhau thì sự mất cân bằng trong đời sống càng lớn.


Mục đích của việc vẽ ra sơ đồ này là làm cho người ta nhận ra mình đang thiếu sót hoặc quan tâm quá mức lĩnh vực nào, cần để ý hoặc giảm thiểu sự quan tâm để cân bằng các lĩnh vực trong cuộc sống. Đôi khi người ta cũng phải biết bỏ đi, tự giải phóng mình, phải có thời gian cách ly với những nguyên nhân gây stress trong đời sống của mình.

Nếu muốn giữ sức khỏe cần phải thực hiện theo nguyên tắc SAFER: Không thuốc lá (Smoking), Giảm rượu (Alcohol), Dinh dưỡng đúng (Food), Vận động (Exercise), Thở (Respiration). Cần tự nhắc nhở mình cắt bớt những nguy cơ dẫn đến bệnh tật hoặc sự căng thẳng không cần thiết trong cuộc sống. Nếu có điều kiện vận động tốt thì đó là điều quá quý báu hay có chế độ dinh dưỡng đúng cách cũng làm người ta không bị cuốn hút vào những thực phẩm mà hiện nay có nhiều vấn đề cần lưu tâm.
Muốn cân bằng cuộc sống cần phải quan tâm đến nhiều điều và cần nhớ rằng tự mình mới có thể điều chỉnh được, chứ bác sĩ không thể làm thay việc đó. Điều này không quá khó mà tất cả nều nằm trong tầm tay của mỗi người để công việc và đời sống cân bằng với nhau.

Sau khi kết thúc đề tài, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã dành thời gian để tận tình trả lời các câu hỏi mà khán giả đặt ra: về thiền theo quan điểm y học để giảm stress; về tinh thần cầu tiến; sự khác biệt giữa phấn đấu và tham vọng trong cuộc sống; giữa công việc và cuộc sống. Bác sĩ đã chân thành chia sẻ về những biến cố trong cuộc đời mình, để từ đó thay đổi cách sống, cách làm việc, nhằm nhận ra sự đơn sơ của hạnh phúc để có cuộc sống cân bằng.

Tạ Ân Phúc.
(tường thuật)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Uncategorized Tag với:BS Đỗ Hồng Ngọc, Đỗ Hồng Ngọc

“Già thêm chút nữa…”

05/08/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 16 Bình luận

Đỗ Hồng Ngọc

Nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang là một người đặc biệt hóm hỉnh. Cách đây mươi năm, vào tuổi 80, ông kể tôi nghe chuyện người ta tổ chức buổi lễ mừng thọ tuổi bảy mươi của ông rất trang trọng, ai cũng nhắc câu “thất thập cổ lai hy”… Khi đứng lên đáp từ, ông làm bộ đưa tay sờ vào cổ mình và kêu lên đúng là thất thập “cổ” lai hy, rồi ông lần tay xuống ngực: lục thập “ngực” lai hy, ngũ thập… “bụng” lai hy, và … tứ thập… Mọi người phát hoảng rồi cười ầm lên sảng khoái!
Tưởng đùa mà thật! Tuổi 60 dễ có những vấn đề tim mạch, tuổi 50 thì gặp những vấn đề tiêu hóa, còn tuổi 40, rõ ràng đã nghe những trục trặc, lôi thôi của gió heo may, “trên bảo dưới không nghe” … như bây giờ người ta thường nói.

Khi tôi gởi ông bản thảo “Già ơi… Chào bạn!”, ông cười bảo sau già ơi chào bạn anh sẽ viết tiếp cái gì đây? Có vẻ ông đang tủm tỉm “Chết ơi… chào em!” chăng?
Nhưng ông lầm. Sau cái già ơi, người ta chỉ già thêm chút nữa! Sau già thêm chút nữa người ta lại già thêm chút nữa… nữa, rồi lại già thêm chút nữa nữa nữa… Cứ thế. Như bác sĩ Dương Cẩm Chương trả lời tôi năm ngoái: “Chú cảm thấy thế nào trong buổi mừng đại thọ 100 tuổi của chú hôm nay?”. Ông đáp gọn lỏn “Thấy già thêm chút nữa.” Rồi tủm tỉm cười, hơi móm mém một chút so với mấy năm trước. Hổm giờ tôi bận, chưa có dịp đến thăm ông. Nay ông đã 101 tuổi rồi. Già thêm chút nữa rồi! Bác sĩ Thân Trọng Minh, cháu ông, phone tôi báo ông đã hôn mê, bệnh viện ghi “agonisant” (hấp hối) cho về. Hôm kia, hỏi thăm Minh, anh bảo ông Cụ giờ lại khỏe lại. Khi đưa ông về, người nhà mời thầy đến tụng kinh. Ông bỗng ngồi dậy quát hỏi đứa nào bày đặt tụng kinh, muốn cho tao chết sớm hả? Mọi người một phen hoảng vía. Nay thì ông đã tỉnh hẳn, chỉ già thêm chút nữa thôi, vẫn ngồi tiếp Phạm Văn Hạng đến nói chuyện về hội họa…
Ủa, còn cái “Chết ơi… chào em!” thì sao? Làm gì có cái chết! Cái chết là của người khác. Làm gì có cái chết riêng mình. Cái chết của ta nếu có thì cũng người khác biết chứ ta đâu có biết? Nói khác đi, ta chẳng chết bao giờ. Không có chuyện chết với ta! Thực ra, ta đã và đang chết từ lúc sinh ra, chết mỗi phút giây, rồi phục sinh, rồi chết, để cuối cùng là đi vào “Như Lai thọ lượng”, nghĩa là vô lượng thọ, “tathagata”, không mất đi đâu cả!
Thử xem: cứ mỗi giây, có hằng trăm triệu hồng cầu tự hủy diệt đi để tạo ra hằng trăm triệu hồng cầu mới; cứ mỗi năm ngày, hằng tỷ tế bào nhung mao ở ruột được thay thế bởi hằng tỷ tế bào nhung mao mới… Không có lúc nào ngừng nghỉ cái sự thay đổi đó cả, ngay trong cơ thể ta, trong mỗi sát-na. Còn cái không khí ta hít thở chẳng qua là tự động chạy vào chạy ra trong cơ thể mình, vẫn cứ y nguyên như thế hằng triệu triệu năm qua, chẳng cần biết có ta, chẳng là ta, chẳng của ta. Nó cứ lạnh lùng vào ra như thế hết đời này đến đời khác. Nó chẳng quan tâm ta đang đau khổ hay hạnh phúc, ta đang được yêu thương hay đang… thất tình. Còn cái khối “tứ đại” 60 nguyên tố đồng chì sắt kẽm mangan, ma-nhê, phospho, vôi vữa… kia cứ mãi còn đó, nhào nặn triền miên. Lá cứ rụng rồi lá cứ xanh. Hoa cứ nở rồi hoa cứ tàn. Trăng cứ tròn rồi trăng cứ khuyết…
Cho nên, chỉ già thêm chút nữa, rồi già thêm chút nữa… nữa với mỗi người, thế thôi.

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định Tag với:Già, Nhu Lai tho luong, tuoi gia

Lõm bõm: Phật

01/08/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Lõm Bõm (3)

Phật

Có vô số Phật. Hằng hà sa số chư Phật. Không nơi nào không có Phật. Không thời nào không có Phật. Chỉ cần « ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật » (Kim Cang).
Phật là người giác ngộ. Chúng sanh là Phật « chưa giác ngộ ». Nhưng không giác rồi cũng phải giác. Sẽ phải giác. Cũng phải ngộ, sẽ phải ngộ. Vì Phật và chúng sanh đồng nhất thể. Sớm hay muộn mà thôi. Cùng một hạt giống cả! Nhưng Phật (Thích Ca) giác ngộ sớm nên giải thoát sớm, tìm ra đường đi (Đạo) để giúp người với lòng từ bi vô lượng.

Giác ngộ thành Phật chỉ cần « ly tướng » thôi ư ? Phải. Ly tướng. Ly tất cả (nhất thiết) tướng. Bởi muốn thấy biết (tri kiến) được Tánh, Chân như, Bản lai diện mục, Thực tướng vô tướng… gì gì đó thì phải ly tướng. «Tướng » chỉ là cái « trình hiện » bên ngoài, cái « thị hiện », cái giả danh… chơi vậy thôi. Cái « thực » nằm ở đằng sau, bên kia cái tướng, bên ngoài cái tướng kìa. Thực ra, vẫn có tướng đó, nhưng mà là cái tướng không. Duyên sinh. Chân không mà diệu hữu.
Ly tướng không phải trốn chạy mà là thấy tướng không phải tướng, « kiến tướng phi tướng ». Nói khác đi, thấy biết Như lai.
Tướng và tánh quấn quít nhau. Tướng đó thì tánh đó, tánh đó thì tướng đó. Ly tướng mà vẫn ở trong tướng. Ở trong tướng mà vẫn ly tướng. Sống như lai, ăn như lai, ngủ như lai, ở nhà như lai, mặc áo như lai…
Cho nên Phật cười. Cười tủm tỉm. Vui mà từ bi, mà an lạc.

Như Lai

Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Không từ đâu đến, chẳng đi về đâu. « Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ ». Có khi Phật và Như Lai nhập làm một, có khi tách làm hai, ngồi vào hai ghế chơi. Nhưng, hai mà một, một mà hai. Tùy lúc.
Đừng mong dùng âm thanh ánh sáng… mà thấy Như Lai. Như Lai thấy qua cách khác. Thấy bằng tướng thì không sao tìm được Như Lai vậy. Phải « kiến tướng phi tướng » mới được (kiến tướng phi tướng tức kiến Như Lai). Nên không thể dùng tri thức mà thấy. Phải ở trong định, trong vô ngã. Có một thứ định, đi đứng nằm ngồi đều cùng Như Lai, với Như Lai. Phật hằng hà sa số trong khi Như Lai chỉ có một. Có một mà muôn vàn. Thị hiện vô vàn trong sắc, dìu dặt trong tiếng, ngan ngát trong hương…
Khi chàng thi sĩ hỏi người đẹp xưa của tôi đâu rồi, chỉ còn cánh hoa đào năm ngoái đây thôi thì gió Đông đã cười vào mũi chàng : Hoa đào năm ngoái ư ? Hoa đào năm ngoái nào ? Chỉ có hoa đào đời đời kiếp kiếp đó thôi ! Người đẹp cũng vậy. Vẫn là người đẹp đời đời kiếp kiếp đây thôi. (Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu Đông phong. Thôi Hộ)
Bởi đó là Như Lai. Không đi không đến. Phải thoát cái ngã. Phải vượt cái tướng. Mới thấy « Như Lai thọ lượng » vậy.

Phương tiện

Tuyệt vời thay cho phương tiện ! Nhìn Phật mà không thấy phương tiện, nghe Phật mà không thấy phương tiện, chẳng tiếc lắm ru ?
Với năm đệ tử đầu tiên, cũng là bạn đồng hành ngày xưa, Phật chỉ cần nói Tứ diệu đế. Bởi họ đã có đủ chất liệu, đang tu khổ hạnh. Chỉ cần « chỉ trăng » họ thấy ngay. Khổ Tập Diệt Đạo là đã đủ. Triệu chứng: Khổ. Nguyên nhân: Tại sao khổ. Trị liệu cách nào ? Con đường (Đạo) phải thấy đúng (chánh kiến) trước rồi mới nghĩ đúng (chành tư duy), nghĩ đúng rồi mới làm đúng…. Chỉ cần giới định tuệ đủ dứt bệnh tham sân si. Một thứ điều trị đặc hiệu. Nhưng khi cần tới Bát Nhã thì có Bát Nhã. Nhân vô ngã mà pháp cũng vô ngã. Qua sông bỏ bè. Rồi cần tổng hợp, cần nâng cao đã có Thường Lạc Ngã Tịnh. Cần cho thấy Như Lai thì trợn mắt chiếu hào quang, giữa chặn lông mày… Khi nói chuyện với đám thanh niên thì có “thần tượng” Duy Ma Cật, đại gia, không cần xuống tóc, xuất hiện…
Ngũ uẩn cũng là một phương tiện. Thị hiện vậy thôi.

Tùng địa dũng xuất

Từ đất vọt ra. Đất nào ? Cái gì vọt ra ? Đất tâm. Tâm địa. Vọt ra cái sự gọi là “phát tâm” muốn làm Phật, muốn thành Phật, “ vô thượng chánh đẳng chánh giác” chứ không bằng lòng với A-la-hán, Bích chi, Duyên giác, Bồ tát… Có phát tâm thì mới nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ… và dĩ nhiên sẽ có “ tri kiến” Phật sau khi đã được “khai thị” mà “ngộ nhập”.
Nhưng hình như không chỉ vậy. Nhìn kỹ lại mới thấy thân xác con người cũng “tùng địa dũng xuất” (từ đất vọt ra) đó thôi. Ít nhất cái thân tứ đại đất nước gió lửa (C,H,O,N) cũng từ đất, tạng đất. Bởi trong cơ thể con người đã có 60-70% thể trọng là nước, có 60 nguyên tố, khoáng chất đều từ đất mà ra gồm đồng, chì, sắt, kẽm, mangan…, các loại muối K, Na… Một người nặng 70kg đã có 10kg là Calci (vôi), 7 kg Phospho, 1kg muối (Natri)…
Không “tùng điạ cũng xuất” ư?

Đỗ Hồng Ngọc
(Tháng 7.2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật Tag với:ghi chép, học Phật, Lõm bõm

Lõm bõm: “Chúng sanh”

31/07/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Lõm bõm (2)

Chúng sanh

« Chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh » (Kim Cang). Chúng sanh tức chẳng phải chúng sanh nên mới gọi là… chúng sanh. « Tức phi / thị danh » thật tuyệt vời ! Để thấy cái không phải, thấy cái giả danh, tạm gọi. Một thứ ngôn ngữ giúp ly niệm, bỏ khái niệm để đến cái không phân biệt, ly tướng. Và từ đó thấy thực tướng vô tướng.
Cho nên nói chúng sanh là… chúng sanh thì sai. Nói chúng sanh không phải là chúng sanh cũng sai. Hiểu chúng sanh là con người, là mọi sinh vật – đúng và sai. Vì có rất nhiều loại chúng sanh. « Vô số vô lượng vô biên » chúng sanh kia mà! Để ý hai chữ « vô biên » mà coi. Nó lạ chứ. Bởi không chỉ là số và lượng để có thể cân đong đo đếm, dù không thể cân đong đo đếm xuể !

Cho nên « tùy chúng duyên nhi sanh » thì nghe được. Tùy « chúng » duyên với nhau mà « sanh » ra nên gọi là « chúng sanh » thế thôi. Nếu không duyên, hết duyên, thì hết « chúng sanh» tức khắc. «Diệt độ» vô số vô lượng vô biên chúng sanh mà chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả là vậy. Không sanh lấy gì diệt ?
Nhưng, cách nào? Phải sống trong Vô ngã, vô tướng. Khi không còn ngã tướng, ngã kiến: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả… gì nữa ! Ở một nơi không có ta, không có người, chúng sanh, thọ giả thì không còn một chúng sanh nào « sinh sự » được nữa.
Ở đâu, nơi đó? Thiền. Định (samatha) và Quán (vipassana).

« Thức tự tâm Chúng sanh
Kiến tự tâm Phật tánh »

Chúng sanh không có ở ngoài. Nó ở trong tâm. Trong tự tâm. Nó bày ra, dựng lên, vẽ vời trong tự tâm ta.
Thức là cái biết do biện biệt, phân tách, đối chiếu, so sánh. Thức tràn ngập, hỗn mang. Thế giới phẳng, toàn cầu hóa, thức càng điên đảo. Thức nhiều khi từ tưởng mà ra, nhưng cần. Chẳng hạn cần thức để thấy chúng sanh ngọ ngoạy tràn ngập trong tự tâm ra sao. Nó ngọ ngoạy vì nó muốn quậy phá, muốn luân hồi, bay nhảy từ tầng này sang tầng khác, sáu nẻo thênh thang, chút vầy chút khác ra sao.
“Thức” nó, nghĩa là thấy rõ, hiểu rõ về nó, phân tách nó ra một cách thấu đáo, hóa ra nó do ta tự tạo ra, không ai khác, là một thứ puzzle, lắp ghép, tương tác. Tự tâm ta mà chúng sanh ra. Khi rõ vậy rồi thì thôi. Dẹp đi.
Khi dẹp nó đi thì không còn cần “thức” nữa. Mây tan rồi thì trời trong trăng sáng.
Lúc đó vằng vặc gương soi.
Và lúc đó là “Kiến”. Thấy. Thấy rõ. Chiếu Kiến.
Và Kiến gì ? Kiến “Phật tánh”.
Phật tánh cũng lại ở ngay trong tự tâm ta. Không ở ngoài đến.
Ai cũng có. Cho nên ai cũng sẽ là Phật, một khi « thức tự tâm chúng sanh thì sẽ kiến tự tâm Phật tánh ». Vậy thôi.

Trí và Thức

Thức dễ dẫn đến tranh chấp, được thua, hơn kém, thị phi. Thức từ lục căn với lục trần mà sinh sự. “Nhãn nhỉ tỷ thiệt thân ý” ve vãn với “Sắc thanh hương vị xúc pháp” mà sinh đủ thứ thức. Nhãn thức đã đủ mệt. Mỗi người một nhãn thức khác nhau, nên mới sinh sự, đấu đá. Còn Ý thức thì vô tận và mới thật ghê gớm vì ý dẫn đầu các pháp. Cho nên nếu không có cách kềm chế, chúng tung hoành gieo rắc… đủ thứ!
Một khi lục căn mà thanh tịnh, thức sẽ trở thành Diệu quan sát trí. Diệu quan sát trí sẽ cung cấp những chất liệu chọn lọc an hòa cho Bình đẳng chánh trí (Mạt na thức đã được chuyển hóa) và cuối cùng là Đại viên cảnh trí hay Nhất thiết chủng trí, từ Alaiya thức chuyển sang. Con đường khó, nhưng được, nếu rèn luyện.

Nhẫn nhục

Nhục mà cũng nhẫn được thì khó, khó quá. Khó quá làm được thì các nhẫn khác cũng sẽ được. Trong lục độ thì bốn thứ Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn thuộc Giới. Hai thứ còn lại là Định và Tuệ. Vì thế, Giới quan trọng biết bao. Nhưng giới định tuệ là một tam giác cân, hai chiều, tác động qua lại. Định dẫn đến Tuệ, rồi Tuệ lại dẫn đến Định, Giới. Lòng tham mới là gốc. Tham dẫn đến sân, si. Tham dẫn đến chấp, thủ. Tham tạo ra ngạ quỷ, địa ngục…
Nhẫn nhục là một đức, một hạnh, cớ sao cho vào lục độ, ngang với thiền định, trí tuệ?
Bởi vì không có nhẫn nhục thì các thứ khác khó mà hình thành. Người ta không thể tu hành gì nếu thiếu nhẫn nhục vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

(Tháng 7/2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật Tag với:ghi chép, học Phật, Lõm bõm

Lõm bõm: Prajna và Prana

29/07/2011 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Lõm Bõm
Đỗ Hồng Ngọc

Prajna và Prana

Prajna và Prana là một. Như E=mc². Là một. Prajna là Trí tuệ Bát nhã, còn Prana là Nguồn sống. Có Prana mới có Prajna và có Prajna thì có Prana.
Prana nguồn sống, từ cõi lặng, quãng lặng, trước hơi thở vào. Và nếu nối liền quãng lặng đó với nhau, liên tục, miên mật, ta có quãng dừng. Ở đó, cái gọi là chết. Hóa ra Chết là Nguồn sống, cái gốc của sự sống.
Pra là trước, Ana là hơi thở vào, là thở. Trước cái thở là cái gì? Là cái chưa cần… thở! Là cái bào thai. Cái « Như lai tạng ».

Và chỉ khi ta hiểu rõ Prana, vui đùa tung hứng với Prana, ta có Prajna, Bát nhã. Bát nhã là phiên âm của Prajna từ Phạn ngữ. Một thứ trí tuệ đặc biệt. Đặc biệt vì nó chẳng phải là trí tuệ. Nó tự có, không qua tìm kiếm, biện biệt, so sánh, tính toan, học hỏi. Nó là cái biết của trẻ thơ, hồn nhiên, trong sáng và từ đó, thanh tịnh.
Pra là trước, Jna là sự hiểu biết. Trước cả sự hiểu biết. Ấy là tuệ giác. Trực nhận. Hiện tiền: cái hiện ra trước sự biết. Ấy là Trí, là Tuệ, là Bát nhã.
Prana dẫn tới Prajna. Khi Prajnã mà Paramita thì lại gặp Prana.

Paramita

Nói vật chất là năng lượng và năng lượng là vật chất chưa đủ, cũng như « E=m » thì còn thiếu ‘c²’. Phải qua bờ bên kia (Paramita) thì vật chất mới thành năng lượng và ngược lại được. Cũng là một thôi. Là một nhưng trong điều kiện này thì là năng lượng, điều kiện kia thì là vật chất. Duyên sinh cả thôi. Thực tướng Vô tướng ở đó. Vô lượng nghĩa ở đó. Và « như như bất động » ở đó. Paramita, cái cầu để qua bờ bên kia. Prajna paramita, phiên Bát nhã Balamậtđa từ Phạn. Prajna paramita thì cũng Prana paramita. Có khi ở hẳn, có khi lại về. Cho nên Gate, Gate, Yết đế yết đế… mới là câu thần chú, minh chú: Qua đi, qua đi… cũng là Về đi, về đi… đó vậy!

Sắc thọ tưởng hành thức

Sắc thân và Sắc tâm.
Sắc trong ngũ uẩn là sắc của tâm. Sắc có trước. Không sắc chẳng tâm. Không tâm chẳng sắc. Sắc dẫn tới thọ. Thọ dẫn tới tưởng, rồi hành, rồi thức… Vô minh, hành, thức… Cứ thế chằng chịt. Cứ thế quấn quít. Sắc là vô minh. Thọ là vô minh. Tưởng là vô minh. Thọ tưởng mới sinh sự. Ái, Thủ, Hữu… này khác. Sinh sự thì sự sinh.
« Diệt thọ tưởng định » là định quan trọng. Một kỹ thuật. Thọ không khởi, Tưởng sẽ không khởi (vô sinh). Sắc thọ tưởng hành thức được xếp theo một quy trình, một tiến trình đó vậy. Thật ra Tứ đại mới là Sắc-thân, còn Ngũ uẩn chính là Sắc-tâm. Nói khác đi, ngũ uẩn là Tâm. Cho nên « ngũ uẩn giai không » là tâm Không. Còn Tứ đại kệ nó. Cứ cho nó lắc lư bay nhảy theo kiểu chơi của nó, sanh bệnh lão tử của nó. Tha hồ.

Thường Lạc Ngã Tịnh

Từ Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh… lăn lóc, lang thang, trôi nổi – luân hồi – bỗng gặp Thường, Lạc, Ngã, Tịnh! Vô thường trở thành Thường, Khổ trở thành Lạc, Vô ngã trở thành Ngã và Bất tịnh trở thành Tịnh. Không khó. Nó chỉ là mặt bên kia, bờ kia, phía kia. Lý thú : nó bất nhị bởi nó vô tướng, vô ngã!
Hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết, sanh bệnh lão tử. Vô thường quá đi chứ, nhưng cứ đời đời kiếp kiếp đều đặn, lặp đi lặp lại như vậy hoài chẳng hóa ra là thường ư ? Lạc làm sao có nếu không thấy biết Khổ chính là “nguồn lực”? Cho nên luân hồi sinh tử chính là Niết bàn đó vậy. Sóng ngàn đời về đâu ? Nước ngàn đời về đâu ? Thân tứ đại ngũ uẩn tưởng là bất tịnh mà tịnh quá đi chứ, đàng sau kia là bao nhiêu nguyên tố chẳng đổi dời?
Khi Phật không cần “phương tiện” nữa- thì nói trắng ra “Thường, lạc, ngã, tịnh” đó thôi. Đều “Như lai tạng” cả mà !

(tháng 7/2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật Tag với:Lõm Bõm học Phật. Ghi chép lang thang

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 49
  • Trang 50
  • Trang 51
  • Trang 52
  • Trang 53
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email