Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

21/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

Tôi biết Tâm từ những lớp tập huấn về HIV/AIDS do Trung tâm Truyền thông –giáo dục sức khỏe Tp. HCM tổ chức. Tâm xanh xao, ốm yếu, gầy nhom, nhưng mạnh mẽ, quyết liệt, thẳng thắn và trung thực. Tôi đánh giá cao sự đóng góp tích cực của Tâm trong chương trình Phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt trong các hoạt động giáo dục đồng đẳng. Sau này tôi quý mến Tâm hơn khi biết em đang nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc cho các bé nhiễm HIV.

Khi có những ưu tư, thất vọng, nản lòng, lại thấy Tâm… gõ cửa. Có khi Tâm hớt hải xin một cái giấy giới thiệu, một lá thư tay để kịp đưa một bé vào bệnh viện; có khi Tâm kêu cho ít tiền để mua vé xe đò cho một bé gái vừa thoát khỏi ổ mại dâm… Những lúc như thế, bao giờ trong tôi cũng có cái cảm giác mến phục cô gái nhỏ bé mà rắn rỏi này.

Tôi mừng vì nay Tâm đã có được một tập Hồi Ký. Điều rất đáng quý, Tâm viết Hồi ký như là một cơ hội để kiếm chút đỉnh tiền nuôi các “con” nheo nhóc của mình.
Từ chuyện đời thực của mình- qua lời kể chân thành của Tâm- nhiều khi làm cho chúng ta phải lặng người, phải giật mình, sửng sốt…

Như một nhắn gửi, một cảnh báo.

Đọc, thấy rưng rưng…

Tôi nghĩ như có cái gì đó – một cái “nghiệp“ – đã thúc đẩy Tâm tự đem thân mình trải nghiệm nỗi gian truân của cuộc đời để rồi từ đó mà có tấm lòng vị tha, có bàn tay nhân ái, cưu mang bao cảnh đời tối tăm, nghiệt ngã.
Nhà xuất bản muốn tôi viết đôi dòng để giới thiệu tập Hồi ký này, tôi thấy chỉ cần nói một câu: Cảm ơn em,“ Tâm si-đa”.
BS Đỗ Hồng Ngọc.

NGƯỜI MẸ ĐẦY NGHỊ LỰC

Trương Thị Hồng Tâm hay “Tâm si-đa” không phải là một cái tên xa lạ với những ai quan tâm đến công tác truyền thông phòng chống AIDS. Có rất nhiều bài báo viết về chị, đặc biệt là khoảng thời gian đen tối của quá khứ khi chị còn là một người nghiện ma túy nặng, một cô gái bán dâm luôn phập phồng lo lắng những đợt truy quét, một người với “thành tích” nhiều lần trốn trường trại…mà xuất phát điểm của cô gái ấy còn là một quá khứ đau lòng, một thân phận. Nay, bài viết này chỉ xin đề cập đến một khía cạnh khác, một phần đời khác của chị – là một người mẹ của nhiều đứa trẻ mắc bệnh AIDS.

Đoàn Kim Ngọc
(Thế giới Mới, 19.3.2012)

Ấn tượng lần gặp đầu

Tôi gặp chị Tâm vào một ngày nắng nóng. Chị chở hai đứa con đi nhận thuốc ở bệnh viện về rồi,ghé ngang chỗ hẹn luôn. Chị bảo vừa cho hai bé tự về bằng xe ôm. Tôi ngạc nhiên vì sự tự lập của những đứa trẻ, lớn nhất chỉ vừa 15 tuổi, bé nhỏ nhất cũng chỉ mới vào lớp 1. Chị nói: phải tập cho các con tự lập, chị đâu thể lúc nào cũng kè kè bên.

Gặp được chị, chị liền nói ngay lý do chị đến trễ. Vốn là chở hai đứa đi bệnh viện, khi đến đấy, chị có việc nên để hai bé tự chờ nhận thuốc, lát chị quay lại thấy ngay bé Lý (bé lớn nhất) đang khóc rưng rức. Hỏi gì cũng cứ ậm ừ không nói, sau một lúc tìm hiểu chị mới biết bé Lý “bị” tư vấn tâm lý. Dùng chữ “bị” là vì theo chị, tư vấn mà đề cập kiểu “Em có biết em bị Siđa không?” hoặc “Em có biết Siđa là gì không?” sẽ khiến những đứa con chị mất tinh thần hẳn vì sự tự ti và mặc cảm mình mắc phải một căn bệnh mà đến bây giờ xã hội vẫn còn không ít thành kiến.

Dỗ mãi cô bé mới nín khóc. Nhìn cách dỗ con của chị, cách rầy la của chị sẽ không ai biết được hai bé đều là con nuôi của chị. Chị hay nói đùa là “con ngang hông” nhưng chị coi những đứa trẻ kém may mắn ấy như con ruột. Mà chị cũng đâu có con ruột để so sánh như hay không, chỉ biết dùng hết sức mình yêu thương, lo lắng và che chở cho những số phận này.

Một số phận thăng trầm

Chị là Trương Thị Hồng Tâm nhưng cái tên Tâm si-đa được nhiều người biết đến hơn sau nhiều năm gắn bó với công tác tuyên truyền và phòng chống căn bệnh thế kỷ này. Chị không giấu quá khứ từng là làm gái, nghiện ma túy và với “chiến tích” trốn trường trại mà ngay cả chị cũng không thể đếm xuể. Thế nhưng, điều chị muốn nói không phải là quá khứ “lẫy lừng” ấy hay vì đâu mà chị có thế cay nghiện sau nhiều năm hút, chích. Điều mà chị nói nhiều nhất bây giờ là các con của chị, những đứa trẻ mà số phận đã rung rủi để chị gặp chúng rồi yêu thương chúng . Cho dù khó khăn đến mấy, chị cũng không thể nào bỏ mặc được. Chị không có điều gì khác những người mẹ tảo tần, vất vả nuôi con trong điều kiện kinh tế khó khăn. Nếu có khác, có lẽ chị có nhiều nghị lực hơn để những đứa con của chị có nơi nương tựa, có chút an ủi trong cuộc đời đầy bất hạnh.

Chị hiện tại đang nuôi bốn trẻ, nếu tính thêm một bé chiều đi học về ghé nhà chị ăn cơm nữa là năm. Với mức lương hiện tại của chị đang công tác ở nhóm Nụ Cười thì chị không đủ nuôi chị, đừng nói đến nuôi bốn đứa con mắc bệnh hiểm nghèo. May nhờ có sự giúp đỡ của một linh mục đang sống tại Nhật và thỉnh thoảng có sự góp sức của các mạnh thường quân mà các con của chị có được một chế độ dinh dưỡng tương đối để có đủ sức chống chọi với bệnh tật.

Mỗi đứa trẻ là một khoảng đời, một số phận nhưng chung hết là ba mẹ chết vì nhiễm AIDS, có đứa mẹ vẫn còn sống nhưng không mảy may quan tâm đến con mình. Cũng vì thiếu tình thương từ thuở nhỏ nên chị đã yêu thương chúng, quan tâm chúng rất nhiều để những đứa trẻ ấy không có cảm giác bị bỏ rơi như chị ngày xưa. Chị kể có những lúc khó khăn tưởng như có thể buông xuôi hết tất cả nhưng rồi nghĩ đến chặng đời không lối thóat như ngày xưa đến sự giúp đỡ chân thành của những người bạn luôn muốn mình sống tốt, rồi sau này là những đứa con chị đang cưu mang mà cứ tiếp tục cố gắng. Và phần thưởng lớn nhất của chị không gì ngoài tình thương của các con dành cho chị.

Cám ơn Đời và sống
Trong những người thường xuyên giúp đỡ chị, người đầu tiên chị nhắc đến là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chị nói : Bác sĩ Ngọc là người đầu tiên cho chị biết trên đời này vẫn còn người tốt, vẫn còn có người nói chuyện với chị như những người bạn với nhau, không hề xem chị là “dưới đáy xã hội”. Cũng chính bác sĩ Ngọc đã không ít lần giúp chị, mà đúng hơn là giúp đỡ các con chị, khi thì một giấy giới thiệu, khi thì vài trăm ngàn…

Với chị bây giờ có lẽ không gì hơn ngoài các con chị. Điều chị lo lắng bây giờ không gì ngoài các con chị. Nhất là khi sức khỏe chị không được tốt như trước nữa. Chị chia sẽ rằng chị đã chuẩn bị một ít tiền dành cho các con, mỗi đứa một tài khoản, tuy không nhiều nhưng đó là tất cả tài sản của chị. Chị không dành cho mình điều gì ngoài niềm vui sống và tình thương của các con.

Tôi hỏi chị: nhìn lại chị thấy lúc nào là lúc đau khổ nhất trong cuộc đời chị? Chị nói rằng chị không biết vì cũng có những lúc chị rất sướng, nhưng cũng có lúc không có bộ đồ mà mặc, phải đi thuê. Dường như quá khứ ấy, như ánh nắng buổi trưa nay bay vèo đâu mất chỉ còn lại những áng mây trong buổi chiều. Cuộc sống chị bây giờ, có lẽ đã có những áng mây rất xanh như nụ cười hồn nhiên của các con chị và vời vợi bầu trời tương lai mà chị cố gắng đem lại cho các con.

Đoàn Kim Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Đọc sách

Để giảm tải bệnh viện

14/03/2012 By support2 Để lại bình luận

Ghi chú: Bài này đã được trích một phần đăng trên báo Phụ Nữ Tp.HCM nhân ngày Thầy thuốc VN 27.2 vừa qua. Nay đăng lại toàn văn để chia sẻ cùng các bạn về một vấn đề “nóng” hiện nay của ngành Y.
ĐHN.

Quá tải bệnh viện đang là một vấn nạn lớn của ngành y tế nhiều năm qua chưa giải quyết được. Thực ra, giảm tải bệnh viện không khó ! Câu hỏi cần đặt ra là : Tại sao quá tải ? Quá tải ở đâu ? Làm cách nào để giảm tải ?…

Và câu trả lời đơn giản: Quá tải là bởi vì bệnh nhân quá đông, bệnh viện không đủ giường nằm, nhân viên thiếu… ; y tế tuyến dưới không đủ điều kiện cơ sở vật chất, không tạo được niềm tin, bệnh nhân dồn về tuyến trên v.v…

Vậy nếu có cách nào đó làm cho dân ít bệnh đi, giường dôi ra, tăng niềm tin vào y tế ở tuyến dưới ( gọi là y tế cơ sở), sẽ giải quyết được vấn đề.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định Tag với:BS Đỗ Hồng Ngọc, Do Hong Ngoc

Giảm tải bệnh viện? Không khó !

27/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Nghĩ trong Ngày Thầy Thuốc
Giảm tải bệnh viện? Không khó !
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Quá tải bệnh viện đang là một vấn nạn lớn của ngành y tế nhiều năm qua chưa giải quyết được. Thực ra, giảm tải bệnh viện không khó ! Câu hỏi cần đặt ra là : Tại sao quá tải ? Quá tải ở đâu ? Làm cách nào để giảm tải ?…
Câu trả lời đơn giản: Quá tải là bởi vì bệnh nhân quá đông, bệnh viện không đủ giường nằm, nhân viên thiếu… ; y tế cơ sở không đủ điều kiện, không tạo được niềm tin v.v…
Vậy nếu có cách nào đó làm cho dân bớt bệnh, giường dôi ra, tăng niềm tin vào y tế cơ sở, ta sẽ giải quyết được vấn đề.

Tại sao bệnh nhân đông ?

Vì dân số gia tăng. Vì giao thông thuận tiện. Vì môi trường sống ngày càng xấu đi. Vì đời sống căng thẳng, đầy lo lắng, bất an. Vì kỹ thuật y học… tiến bộ. Bệnh diễn biến thường bất ngờ, thà đi xa mà gặp thầy hay thuốc giỏi vẫn hơn đến trễ bị la sao đến trễ vậy! Kỹ thuật y học tiến bộ không ngừng. Siêu âm, CT Scan, MRI, Nội soi, Xạ hình… đầy bí hiểm. Thử máu cho kết quả mấy chục thứ một lúc, kèm những chỉ số bình thường để mặc sức so sánh, suy đoán, băn khoăn. Lên mạng tìm thông tin càng hoang mang, sợ hãi. Tốt nhất đến bệnh viện.
Bệnh nhiều cũng vì người ta sống lâu hơn xưa. Từ năm 1000 đến 1900, suốt gần một ngàn năm, tuổi thọ bình quân của con người chỉ tăng từ 24 lên 30. Trong khi từ 1900 đến 2000, một trăm năm thôi, tuổi thọ từ 30 lên 65. Ngày nay, tỷ lệ sống trên 80 tuổi ngày càng đông. Tuổi thọ tăng cao, sinh nhiều bệnh mạn tính, trầm trọng, kéo dài, khó chữa, đòi hỏi có sự chăm sóc đặc biệt.
Mặt khác, dân « bệnh » nhiều cũng do bị… hù dọa. Thông tin « y tế » tràn ngập, không kiểm soát nổi, quảng cáo đủ mánh khóe, gây tâm lý sợ hãi hoang mang. Mở TV coi sẽ thấy đầy quảng cáo thuốc, quảng cáo cơ sở khám chữa bệnh này nọ với những danh từ đao to búa lớn, hình ảnh rùng rợn, người dân muốn không bệnh cũng không được!
Có người kể chuyện cả làng đang sống yên ổn thì một hôm có đoàn « từ thiện » ở trên xuống, vác theo máy móc thuốc men, khám bệnh siêu âm các thứ phát hiện lu bù bệnh tật, cho vài ngày thuốc rồi rút êm. Từ đó cả làng nháo nhào, đi đâu cũng nghe bàn toàn chuyện bệnh hoạn, ăn không ngon ngủ không yên. Dĩ nhiên khám bệnh « từ thiện » là việc làm rất đáng khuyến khích nhưng vấn đề là nên quan tâm thế nào để giúp cho tới nơi tới chốn.
Nhiều khi chỉ cần thay đổi vài… chỉ số tham khảo thì bệnh tăng ào ạt. Thí dụ xưa bảo huyết áp trên 14/9 mới có vấn đề, nay bảo chỉ cần 13/8 là có vấn đề rồi. Xê dịch chút xíu vậy thôi đủ nhiều trăm triệu người rơi vào… bệnh lý ! Dĩ nhiên những kết luận đó đều có cơ sở khoa học cả. Thế nhưng những lời khuyên về phương pháp phòng bệnh và điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc chẳng ai thèm nghe. Nào ăn ít muối, ít đường, nào uống ít rượu, không hút thuốc lá, nào tập thể dục…. vất vả quá. Một thứ thuốc mới được tung hô ít lâu liền bị cấm… lưu hành vì gây tai biến! Có lần thậm chí người ta còn nghi ngờ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cố tình hù dọa đại dịch cúm để… giúp một công ty sản xuất thuốc chủng ngừa!

Giảm tải cách nào ?

Ai cũng biết bệnh trẻ em phần lớn tự khỏi nhờ sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Nhờ có nhiều bệnh « lặt vặt » thường xuyên như vậy mà sức đề kháng được phát triển, tạo « miễn dịch » suốt đời. Vấn đề là làm sao biết lúc nào bệnh nặng, lúc nào nhẹ để xứ trí cho đúng. Cái đó là nghề của bác sĩ. Bác sĩ « mát tay » hay không, giỏi hay dở là ở chỗ biết « phân biệt » này. Chính vì nhiều bệnh ở trẻ em tự khỏi nên không ngạc nhiên thấy nhiều khi chỉ cần nước lã, lang băm… cũng chữa được bệnh.
Trước tình hình quá tải ở các bệnh viện Nhi thành phố, trên báo Tuổi Trẻ trước đây tôi có đề xuất giải pháp nên có bệnh viện Nhi đồng 3. Chữ « Bệnh viện Nhi Đồng 3 » nằm trong ngoặc kép. Đó chính là nên phục hồi lại hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh sẵn có trước đó ở khắp các quận huyện đã bị « phế bỏ ». Có lẽ nhiều người cho rằng chăm sóc trẻ đang « lành mạnh » là một điều… vô lý, tốn kém ! Thực ra hệ thống chăm sóc trẻ em lành mạnh là biện pháp phòng bệnh tích cực nhất dành cho trẻ dưới 6 tuổi, do các chuyên viên nhi khoa, các chuyên viên tâm lý, nhân viên công tác xã hội… ở cơ sở, gần gũi với nơi người dân sống. Ở đó trẻ được theo dõi sức khỏe định kỳ hằng tháng, cân đo, chủng ngừa, hướng dẫn dinh dưỡng, giải đáp thắc mắc cho các bà mẹ từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ ; khi đau ốm thì có bác sĩ nhi tại chỗ khám chữa trị sớm, khi cần thì chuyển đi đúng nơi đúng lúc. Các bác sĩ nhi này được đào tạo và huấn luyện ở các bệnh viện Nhi đồng, được « quản lý » chất lượng để có đủ kiến thức và kinh nghiệm. Các bà mẹ nhờ đó sẽ rất yên tâm, tin cậy, gắn bó. Việc gì cứ mỗi mỗi phải chen chúc vào bệnh viện tuyến trên cho khổ, cho mất thì giờ, bực bội, tốn kém ? Để duy trì một hệ thống như thế phải đầu tư đúng mức. Một đồng bỏ ra cho phòng bệnh sẽ giảm tám đồng cho điều trị. Nó vừa giúp giảm tải cho tuyến trên và quan trọng hơn, mang lại hạnh phúc cho người dân.
Ta thấy thực tế quá tải không chỉ do bệnh nhiều mà còn do mất lòng tin ở y tế cơ sở. Không phải chỉ có bệnh viện tuyến trung ương, thành phố, chuyên khoa sâu… mới quá tải mà chùa Pháp Hoa ở Đồng Nai trước kia, ngôi vườn kỳ lạ ở Long An, thần y Nam Hải ngoài Bắc, thầy Bình Phước, Nước cá thần một dạo… đều bị quá tải! Đấy là vì lòng tin, niềm tin. Lòng tin tự nó chữa được 50% bệnh, ít nhất về mặt tâm lý. Còn với những bệnh tự khỏi thì nó chữa được… 100% ! Ngày nay rất nhiều bệnh do hành vi lối sống gây ra. Nghiên cứu cho thấy 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là có vấn đề stress đằng sau các bệnh chứng. Chữa bằng thuốc men đơn thuần không hết.
Gần đây người ta nói nhiều đến thương hiệu bệnh viện. Bệnh viện nào có « thương hiệu » thì người ta tìm đến đông. Ngành y không làm kinh doanh nên có lẽ nên gọi là « nhà thương… hiệu » thì đúng hơn. Để giải tỏa áp lực quá tải ở các bệnh viện có « nhà thương hiệu » này, sao không nhanh chóng cho mở các « đại lý », các « chi nhánh » ? Nghĩa là các cơ sở II, III… của bệnh viện đó, cùng tên, cùng chất lượng, đảm bảo quy trình quản lý, có sự liên thông giữa « mẹ-con ». Cơ sở « mẹ » chịu hoàn toàn trách nhiệm huấn luyện nhân viên, kiểm tra giám sát, hỗ trợ kỹ thuật. Với công nghệ thông tin hiện đại, việc nối kết hệ thống không khó trong chẩn đoán, điều trị, phục hồi. Các giáo sư, bác sĩ giỏi thay vì luân chuyển đi cơ sở, nay đây mai đó, không bằng ngồi tại cơ sở « mẹ » mà chỉ đạo, hướng dẫn các « đại lý » để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm thì hiệu năng, hiệu quả sẽ cao hơn.
Các bệnh viện Ung Bướu còn có một đặc thù riêng. Bác sĩ Lê Hoàng Minh, giám đốc bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM có lần cho tôi biết hiện có đến 20% bệnh nhân đang nằm viện là ở vào giai đoạn cuối. Ta biết, ở giai đoạn này vấn đề điều trị không quan trọng bằng Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative Care), nhằm nâng cao chất lượng cuốc sống, giải quyết các vấn đề xã hội, tâm linh. Đây là một « chuyên khoa » mới của ngành y ngày càng phát triển ở các nước tiên tiến. Việc chăm sóc không chỉ đơn thuần y khoa mà bao gồm cả tâm lý xã hội… Nếu bệnh viện có một địa điểm thuận lợi, một « chi nhánh » dành riêng cho bệnh nhân giai đoạn cuối này sẽ giảm tải đáng kể. Bệnh nhân sẽ được hướng dẫn về thiền, yoga, dinh dưỡng, được chăm sóc về tâm linh, tình cảm, được hỗ trợ về xã hội bởi các chuyên gia, bác sĩ, nhà tâm lý, nhân viên công tác xã hội, các sơ, ni cô…
Tóm lại, nếu Nhi Đồng có hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh, nếu Ung Bướu có hệ thống Chăm sóc giảm nhẹ, Chấn thương chỉnh hình, Phụ sản… có những hệ thống « chi nhánh », « đại lý » phù hợp, đảm bảo chất lượng thì giảm tải bênh viện sẽ không còn khó lắm./.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

Hà Nội Mới: “Đối thoại chủ nhật”

26/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Báo HÀ NỘI MỚI (CN 26.2.2012)
Đối Thoại Chủ Nhật với BS Đỗ Hồng Ngọc
http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Doi-thoai/539874/%C4%91au-dau-chua-do-se-khong-bao-gio-dut-benh!.htm
“Đau đâu chữa đó” sẽ không bao giờ chữa dứt bệnh!
Ở ông, tài năng y học và văn chương, con người khoa học và con người nghệ sĩ được lồng ghép và bổ trợ lẫn nhau một cách nhuần nhuyễn, dí dỏm mà uyên bác, gần gụi đến bình dị, thú vị đến mức học giả Nguyễn Hiến Lê từng nhận xét: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị!”.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc -con người kỳ lạ đó- giờ đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”. Chắt lọc được từ chính những trải nghiệm cuộc sống, ông bảo, bác sĩ chỉ biết “đau đâu chữa đó” thì không bao giờ chữa dứt được bệnh, vì cái “khổ” vẫn ẩn tàng bên trong!

Ngô Sơn

PV: Thú thực, bác sĩ nổi tiếng trong y học với nhiều cuốn sách viết cho bà mẹ trẻ em nhưng tôi suýt nữa gọi bác sĩ là… cô?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (BS ĐHN): Nhiều người cũng lầm như thế. Lúc tôi còn cộng tác ở báo Mực Tím, nhiều em viết thư: ”Thưa cô, em có điều này rất bí mật không dám nói với ai…”. Bây giờ nhiều ông sồn sồn vẫn tưởng tôi là một nữ bác sĩ… trẻ đẹp, đến lúc gặp mặt mới bật ngữa!
Nếu tự phác họa về mình, tôi thấy đó là một ông già mà tóc chưa bạc nhiều và thích viết lách lăng nhăng làm người ta cười… Là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ vì toàn hướng dẫn người dân tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của mình để ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…

PV: Tôi rất tâm đắc khi bác sĩ nói: “ Kẻ làm thầy thuốc có thể chữa được cái “đau” mà không chữa được cái “khổ”. Có thể chữa được cái “bệnh” mà không chữa được cái “hoạn”.

BS ĐHN: Tiếng Việt mình rất hay bạn ạ! Đau khổ. Bệnh hoạn. Cái đau sinh cái khổ, cái khổ đẻ cái đau… Bác sĩ được học để chữa cái đau. Mấy ai quan tâm đến cái khổ của người bệnh đằng sau cái đau đó? Nghiên cứu gần đây cho thấy 60-80% bệnh nhân đến bác sĩ là có nguyên nhân từ “stress” trong đời sống. Bác sĩ chỉ biết “đau đâu chữa đó” thì không bao giờ chữa dứt được bệnh, hết bệnh này sinh bệnh khác, vì cái “khổ” vẫn ẩn tàng bên trong! Mà cái khổ, không dễ chữa chút nào!

PV: Phải chăng bởi điều này nên bác sĩ bỏ ra 20 năm theo đuổi Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe (trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch) – bộ môn hầu như không có ở các Đại học Y khoa?

BS ĐHN: Khi mắc bệnh người ta cứ đổ cho vi trùng, vi-rút, nhưng nhiều bệnh tật lại do hành vi lối sống gây ra. Bây giờ người ta bệnh nhiều hơn xưa vì sao? Bởi hành vi lối sống của con người đã thay đổi. Đặc biệt do môi trường thiên nhiên, không khí, nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng. Đời sống căng thẳng gây bệnh tâm thần; ăn uống bất cẩn gây bệnh béo phì, tim mạch; môi trường bê bối gây bệnh ung thư; và các thứ tai nạn, thương tích. Sức khỏe phải là sự “sảng khoái” ở cả ba mặt: thể chất, tâm thần và xã hội.
Khi ở bệnh viện Nhi Đồng, tôi làm ở khoa cấp cứu 16 năm, hàng ngày thấy trẻ con chết nhiều quá nên nghĩ cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao dân trí để người dân tự biết bảo vệ, chăm sóc sức khỏe mình, gia đình mình. Rời bệnh viện Nhi đồng, tôi về phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe suốt hơn 20 năm và đã hình thành Bộ môn Khoa học hành vi- Giáo dục sức khỏe này tại trường Y khoa Phạm Ngọc Thạch.

PV: Bộ môn “không cần thuốc” này có chữa được bệnh?

BS ĐHN: Không hiệu quả trước mắt như mổ xẻ, thuốc men, nhưng hiệu quả bền chặt sâu. “Truyền thông trị liệu”,”Truyền thông thay đổi hành vi” không dễ tí nào! Nó là một khoa học, bao gồm cả tâm lý- xã hội- nhân chủng (văn hóa) ứng dụng vào ngành y, giúp cải thiện mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và nâng cao y đức. Người bệnh không chỉ “đau” mà còn “khổ”. Làm sao người bác sĩ thấy được nỗi khổ sau nỗi đau, để thấu cảm với người bệnh. Một lời nói, một cử chỉ của thầy thuốc có thể làm cho bệnh nặng hơn hay nhẹ đi, vơi đi bạn ạ. Những kỹ năng ứng dụng này phải bằng tâm của người thầy thuốc.

PV: Bác sĩ nhìn thấy gì ở 2 chữ “y đức” hiện nay?

BS ĐHN: Nói y đức suông mà không có tay nghề thì… hại người ta nhiều hơn, làm người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn.
Thực tế, bên cạnh những chuyện không hay, đáng tiếc về y đức, đa số các bác sĩ, nhân viên ngành y nói chung âm thầm chịu đựng gian khổ, khó khăn trong đời sống để phục vụ bệnh nhân, phục vụ cộng đồng theo lý tưởng nhân bản mà nghề nghiệp đã truyền trao từ khi khoác lên mình chiếc áo blouse trắng.
Nhưng cũng phải thẳng thắn, tại sao thầy thuốc thường bị đem ra “mổ xẻ”, “răn đe”…? Tại sao mối “quan hệ” đầm ấm ngày nào nay trở thành “cơm không lành canh không ngọt”?
Thời tôi học Y khoa ở Saigon phải học 7 năm, trình luận án với lời thề Hippocrate, được cấp bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia. Ngay năm thứ nhất đã học môn Tâm lý- Xã hội ứng dụng. Mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân rất được chú trọng có lẽ vì thời đó chưa có nhiều máy móc kỹ thuật cao như bây giờ nên “lâm sàng” được học rất kỹ. Đến năm thứ 5, chúng tôi phải học Nghĩa vụ luận Y khoa để khi ra trường biết cách hành xử với bệnh nhân, với cộng đồng và với đồng nghiệp sao cho tốt, cho đúng. Ra trường thì vào Y sĩ đoàn- một nghiệp đoàn nghề nghiệp- để được giám sát và bảo vệ trong quá trình hành nghề. Đại khái có nhiều điều xưa cũ, nhưng cần thiết ngay cả trong thời đại hiện nay.

PV: Bác sĩ đi theo nghề y, lại bắt duyên nghiệp văn chương thì quả là…

BS ĐHN: Tôi mê làm báo từ hồi học Đệ thất, Đệ lục (lớp 6, lớp 7 bây giờ). Lúc đầu làm báo tường, sau làm báo tập, in ronéo, mỗi năm ra… hai số. Nửa thế kỷ trước, năm 1962, đậu xong Tú Tài II, tôi phân vân trước ngã ba đường: vừa muốn học Y, lại muốn học Sư phạm, học Văn khoa. Sau cùng tôi chọn y, rồi học thêm Văn, rồi viết lách, giảng dạy… lai rai mấy chục năm nay. Tôi nghĩ, y là cái nghề như kỹ sư, thầy giáo… còn “văn” thì phải có cái “máu”, cái “gien” mới được.

PV: Khi viết báo, làm thơ liệu bác sĩ có bị cản trở bởi “cây kim tiêm, con dao mổ”?

BS ĐHN: Trái lại, nó còn “hỗ trợ” quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Ai bảo người nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn vị thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bỗng… nhỉ? Dĩ nhiên khi viết về y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bỗng hơn… Cronin, Lỗ Tấn, Sommerset Maugham… đều là thầy thuốc cả đó chứ!

PV: Viết sách y học, bác sĩ tả việc khám, chữa bệnh với ngôn từ rất “sống” rất hình ảnh như “ nếu phân cứng, lục cục lòn hòn như cứt dê và mỗi lần đi bé phải rặn ì ạch đỏ mặt tía tai” hay “Khám chữa bệnh cho trẻ con có cái thú là chúng không… biết nói, thỉnh thoảng còn giật kiếng cận và ống nghe của mình, lúc cao hứng còn… “tè” vào mặt mình..” hoặc “ Một bà mẹ có con bị bón bao giờ cũng khổ sở bứt rứt, thấy con ì ạch mãi không ra cũng bặm môi bặm miệng rặn giùm con..” Tại sao bác sĩ không dùng thuật ngữ y khoa để “ an toàn” hơn? Phải chăng đó là sự kết hợp giữa nghệ thuật và y học?

BS ĐHN : “An toàn” hơn là sao? Tôi phải chọn thứ ngôn ngữ nào mà người đọc dễ hiểu nhất thế thôi. Tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.
PV : Rất nhiều người bất ngờ khi trang web www.dohongngoc.com/web/ có lượng độc giả lớn (đã có 186.198 lượt người truy cập với 400.709 trang được đọc) lại của một “ông lão” đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” với những ngôn từ dí dỏm mà uyên thâm. Bác sĩ nghĩ gì về thế giới phẳng?

BS ĐHN: Không lẽ thế giới phẳng chỉ dành riêng cho giới trẻ thôi sao? Nhưng dựa vào đâu để phân định già hay trẻ? Nói như André Maurois, có người mới 20 đã quá già trong khi người 80 hãy còn rất trẻ!
Thực ra tôi mù tịt công nghệ thông tin. Tôi cũng không ưa cuộc sống ảo. Nhưng rồi do nhu cầu nghiên cứu, học hỏi, tôi cũng phải mò mẫm lên mạng lai rai. Bỗng thấy ngày càng nhiều những bài viết, những sách… của mình xuất hiện. Có nhiều chỗ sai sót, nhiều chỗ khuyết danh, tam sao thất bổn! Từ đó, mơ ước có cách nào gom góp lại, phân lọai ra, bổ sung thêm… để chính thức thành một tập tư liệu “động”, có thể chia sẻ với mọi người, làm chỗ giao lưu với bạn bè, tương tác với bạn đọc gần xa. Vả lại, thêm tuổi tác, có khi cũng cần thêm chút bận rộn nào chăng?…Năm 2009, có một bạn trẻ không quen biết “meo” tôi nói em đọc tôi từ hồi còn nhỏ trên Mực Tím, sẵn sàng giúp tôi làm một trang web. Và rồi chỉ vài hôm sau, đã thấy xuất hiện www.dohongngoc.com/web/ coi cũng ngồ ngộ.

PV: 3 năm với “.com” rồi! Thế giới phẳng trong mắt của bác sĩ thế nào?

BS ĐHN: Ban ngày thấy bạn bè trong nước, ban đêm thì bè bạn khắp năm châu! Thế giới phẳng giúp mọi người gần gũi nhau một cách kỳ lạ và giúp ta có cơ hội học hỏi không ngừng, nó làm cho mình thấy có… trách nhiệm hơn với những bày tỏ, viết lách của mình. Trái đất vẫn tròn, nhưng ngày càng nhỏ lại.

Các bạn trẻ SGC (Nhà cung cấp tên miền Việt Nam và quốc tế) bảo trang web đã được cái gì đó xếp vào hạng khá, 4/7 thì phải. Tôi hoàn toàn không hiểu ý nghĩa chuyện xếp hạng này. Không cần thiết và cũng không nên xếp hạng. Có một người bạn sẻ chia, ấy đã là hạnh phúc. Đo đếm mà chi!

Có người đề nghị nên thay đổi diện mạo cho nó hấp dẫn hơn. Thay đổi chi? Nhìn vào biết ngay là “nhà” của một ông già lười. Lúc cao hứng ba bốn bài một lúc, lâu chẳng có bài nào. Có bài đăng rồi quên đăng lại! Có người khuyên nên tổ chức trang cho có bài bản, xếp đặt cho nó đàng hoàng, dễ tìm kiếm v.v… Ối trời, bừa bãi là một sự sảng khoái khó có được trong thời buổi này, ở lứa tuổi này!

PV: Xin cảm ơn bác sĩ

Ngô Sơn

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Hỏi đáp

Ngày Thầy thuốc Việt Nam

22/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Người thì hưu chớ nghề không hưu…”
Không chỉ là một thầy thuốc giỏi, BS Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà văn- nhà thơ được độc giả cả nước hâm mộ. Giáo Dục TP.HCM đã có buổi trò chuyện thân mật với ông về chuyện học, mối quan hệ thầy thuốc- bệnh nhân, hiến kế và giải pháp giảm tải bệnh viện…
Trần Trọng Tri
(Báo Giáo Dục TP.HCM, 22.2.2012)

1. Bác sĩ có thể kể lại thời cắp sách, cơ duyên vào trường y?
– Nửa thế kỷ trước, năm 1962, tôi đậu xong Tú tài II thì băn khoăn trước ngã ba đường: vừa muốn học y, lại muốn học sư phạm, vừa muốn học văn khoa. Thời đó y khoa, sư phạm thì phải thi, còn văn khoa chỉ cần ghi danh học. Tôi đem băn khoăn này đến hỏi ông Nguyễn Hiến Lê, ông khuyên nên học y để giúp đỡ cụ thể cho gia đình, nếu học giỏi sau này có thể làm “thầy giáo” được và nếu có năng khiếu văn chương, cũng có thể viết lách được…. Thế là tôi thi vào y, và ghi danh học thêm ở văn khoa…!

2. Bác sĩ có thể kể thêm vài kỷ niệm về thời học y thuở đó?
– Hồi đó học y khoa phải 7 năm, tốt nghiệp bằng một buổi trình luận án trang trọng cùng với lời thề Hippocrates (ông tổ nghề y), và được cấp bằng tiến sĩ y khoa quốc gia. Tôi còn nhớ khi thi vào y, ngoài các môn sinh, lý hóa, sinh ngữ… còn có 20 câu hỏi kiến thức tổng quát như: Ông tổ nghề y thế giới tên gì? Ông tổ nghề y Việt Nam tên gì? Ai là người thầy thuốc nổi tiếng thời Tam Quốc? Ai là người thầy thuốc nổi tiếng thời Đông Châu liệt quốc? Thủ đô Brazil là gì? Giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký?…

3. Ủa, sao hỏi giá gạo giá than ở đây?
– Có lẽ người ta muốn biết người bác sĩ tương lai có quan tâm gì đến đời sống xã hội không? Người bác sĩ có thông cảm với nỗi khó khăn của người dân không? Tỷ lệ đậu khoảng 10%. Nhờ sống trong xóm lao động Bàn Cờ, ăn cơm tháng, đọc truyện nhiều nên tôi… thi đậu không khó. Ngay năm thứ 1, chúng tôi đã được học môn tâm lý- xã hội. Học “lâm sàng” trên bệnh nhân rất kỹ – có lẽ vì thời đó chưa có nhiều máy móc kỹ thuật như bây giờ- đến năm thứ 5, được học Nghĩa vụ luận Y khoa (Déontologie médicale) để chuẩn bị khi ra trường biết cách hành nghề sao cho tốt, ứng xử với bệnh nhân, với cộng đồng và với đồng nghiệp như thế nào. Lúc ra trường thì ghi danh vào Y sĩ đoàn– một nghiệp đoàn nghề nghiệp- để được giám sát và bảo vệ trong quá trình hành nghề của người thầy thuốc.

4. Bác sĩ nói thêm về học Văn khoa?
– Tôi ghi danh học thêm Việt Hán ở Đai học Văn khoa Saigon. Sinh viên tự học là chính, muốn tới lớp giờ nào tùy nghi. Hôm nào có các Thầy dạy giỏi, sinh viên ngồi tràn ra hành lang, sân cỏ, đu trên các cửa sổ để nghe giảng… Ngược lại, có hôm vắng hoe. Tôi chỉ theo học Văn khoa một thời gian ngắn, vì học y nặng quá! Sau này, tôi có học thêm xã hội học ở Đại học Vạn Hạnh khi sắp ra trường bên y. Tôi mê học, một cái “tật” bây giờ cũng chưa bỏ được. Rồi tôi đi “dạy học”…

5. Đi dạy học ư?
– Phải. Sinh viên nghèo, phải dạy học kiếm sống chứ. Từ năm thứ hai, tôi đi dạy thêm ở một trường tư. Dạy vạn vật học cho lớp đệ thất, đệ lục (lớp 6, lớp 7 bây giờ). Dễ thôi mà. Vẽ đẹp, kể chuyện hay là… thành công rồi. Nhưng thú vị là ở năm thứ ba y khoa, tôi lại đi dạy môn… văn nữa! Toàn những thứ tôi mê, nên cũng không khó!

6.Hiện nay không còn công tác trong ngành y nhưng có những kỷ niệm vui, buồn trong nghề bác sĩ có thể kể lại cho bạn đọc Giáo Dục TP.HCM?
– Tôi công tác ở bệnh viện Nhi đồng Saigon (nay là Nhi Đồng 1) được 16 năm trước khi về phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe 20 năm. Sau đó về hưu, vẫn tiếp tục làm “cố vấn” thêm mấy năm nữa. Tóm lại, người thì hưu chớ nghề không hưu. Ở Nhi đồng, tôi làm ở khoa Cấp cứu, thấy trẻ con chết nhiều quá nên nghĩ cần phải đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao dân trí cho người dân biết để tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe mình, phát hiện sớm bệnh tật, chữa trị hiệu quả. Đây là một lãnh vực rất quan trọng hiện nay, khi nhiều thứ bệnh hoạn là do hành vi lối sống gây ra chứ không chỉ cứ “đổ thừa” cho vi trùng là xong! Kỷ niệm vui buồn nhiều lắm, kể sao hết. Điều đáng lo là ngày nay nghề y chuyển hướng “thị trường” hóa rồi, lại không còn được học Nghĩa vụ luận như xưa, không có Y sĩ đoàn để giám sát, bảo vệ nghề nghiệp như xưa. Ngày nay mối quan hệ thầy thuốc-bệnh nhân trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết, thậm chí đã xảy ra những vụ việc đáng tiếc như ta đã biết.

7. Sự quá tải, thiếu thầy, thiếu thuốc ở bệnh viện được xem là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực trong ngành. Bác sĩ có hiến kế, giải pháp gì để “gỡ” thực trạng này?
– Người bệnh đến với thầy thuốc trước hết là vì lòng tin, hy vọng được chữa hết nỗi đau và nỗi khổ của mình. Do vậy, dù xa xôi, khó khăn, đắt đỏ… đến mấy họ cũng lặn lội tìm đến. Thực tế không chỉ bệnh viện quá tải mà nhiều nơi chữa bệnh “linh tinh” cũng… quá tải! Một số bệnh viện luôn quá tải không chỉ vì chuyên môn mà cả vì “tiếng tăm”. Muốn giảm quá tải bệnh viện chỉ có cách làm cho mọi người… ít mắc bệnh, tự biết cách phòng tránh, biết cách chữa trị sớm. Nghĩa là phải đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh và nâng cao dân trí.
Mặt khác, do cái “tiếng tăm”, cái “thương hiệu” của một bệnh viện mà người ta đến thì nên bắt chước “phở” và “cà-phê”, mở “đại lý” của bệnh viện đó khắp nơi, miễn là phải đảm bảo chất lượng, đảm bảo quy trình. Với công nghệ thông tin hiện nay, việc “giao lưu” giữa bệnh viện chính và các “đại lý” không phải là vấn đề khó nữa, và chất lượng nhờ đó vẫn đảm bảo thông suốt.

8. Người ta biết Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, nhà thơ, nhà báo, nhà tham vấn tâm lý… Trong các “nhà”, bác sĩ thích người ta gọi mình là “nhà” nào nhất?
– “Nhà” giáo bạn ạ.

9. Bác sĩ đã viết nhiều quyển sách bổ ích. Trong năm mới, bác sĩ có dự định gì mới?
– Tôi chưa có dự định gì cả. Vừa mới hết tháng Giêng mà!

Xin cảm ơn bác sĩ.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định

Đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG

21/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Nguyễn Duy Chính là tác giả của nhiều bài nghiên cứu lịch sử có giá trị, anh cũng là một dịch giả nổi tiếng về Kim Dung, hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Bài viết này anh nhờ Lê Anh Dũng chuyển tới tôi từ năm 2002, những cảm nghĩ của anh khi đọc Những Người Trẻ Lạ Lùng.
Mười năm chứ ít chi?
DHN.

Cảm nghĩ khi đọc: NHỮNG NGƯỜI TRẺ LẠ LÙNG của Đỗ Hồng Ngọc.
1. Ở Pasadena, cách chỗ tôi ở chừng 40 dặm, có một khu vườn bách thảo với mấy thư viện tàng trữ sách cổ ( để ngắm), những bức danh họa, những pho tượng bằng cẩm thạch và bằng đồng của thời Trung Cổ… Mỗi lần ghé đến, tôi không bao giờ quên khu vườn Nhật, với những cây tre thẳng tắp, nhẵn nhụi trên có khắc tên những cặp tình nhân – mặc dù có những bảng nhắc cho du khách biết rằng đừng vì tình cảm riêng tư của mình mà làm mất vẻ thiên nhiên và mỹ quan của khu rừng. Bên cạnh đó là một dòng suối róc rách, một cái cầu gỗ cong, bên dưới hồ sen là những con cá koi lượn qua lượn lại.

Xế lên chút nữa là một vườn trưng cây bonsai, những cây cổ thụ được trồng trong bồn sứ nhỏ, một nét đặc thù của dân tộc Phù Tang mà nay đã là thú thưởng ngoạn của nhiều dân tộc khác. Nhìn những cây xanh tươi đã mấy trăm năm, dưới gốc sần sùi là rêu xanh mướt, nhưng hoa quả vẫn xuất hiện mùa nào ra mùa nấy, đúng như Trời đã định riêng cho mỗi loại cây tôi vẫn tự hỏi rằng, liệu con người có được như cây cỏ chăng, khi đến cuối cuộc đời vẫn còn đơm bông kết trái?
Nỗi lo lắng của tôi – và cũng là ước mơ – là làm thế nào mình có thể tiếp tục sáng tạo và đóng góp cho đến khi buông xuôi hai tay chứ đừng để phải sống như những bóng ma vật vờ mà tôi đã thấy những người già nơi trại dưỡng lão, bởi vì sống mà không sản xuất là một cuộc sống thừa, cũng như cây không đâm chồi nẩy lộc thì là một cây chết.
Chiều hôm 28 tháng 12 năm 2002 tôi nhận được cuốn sách của một văn hữu chưa từng gặp mặt từ Việt Nam gửi tặng, cuốn Những Người Trẻ Lạ Lùng của BS.Đỗ Hồng Ngọc ( NXB TPHCM, 2001). Đọc qua một mạch 23 đoản văn của anh, tôi mới thấy rằng những điều tôi thầm mơ là có thật. Nó không phải là suy nghĩ của một người bất bình thường, cũng không phải có cái gì trái khoáy. Những cây già vẫn có thể cho ta bông trái như cây non, và nó vẫn đượm mùi, vẫn đầy hương sắc – và không hề giả tạo chút nào. Chỉ có điều nó hiếm hoi hơn, khó khăn hơn, cũng như những cây bonsai kia, không phải là thứ cây kỹ nghệ để có thể thu hoạch hàng rổ mỗi năm. Nó lưa thưa vài chỗ, và nghệ nhân phải biết tỉa bỏ những bông trái èo uột để những hoa trái sau cùng này tô điểm thêm cho niên kỷ, xứng đáng với những thu hoạch cuối cùng chứ không thì là… “già dịch” rồi còn gì.
2. Có một cái lạ là đọc những đoản văn của Đỗ Hồng Ngọc, thỉnh thoảng dường như ta thấy cái bóng mình trong đó, có khi là một giấc mơ ám ảnh từ thuở nào, nhưng cũng có khi chập chờn như thật, mặc dầu tác giả viết về một người khác có thật mà anh là chứng nhân.
Mỗi một nhân vật, cũng như những bức chân dung anh phác thảo, đều chỉ là những nét thật đơn giản, đơn giản hơn cả lối tranh thủy mặc của Trung Hoa, nhưng Đỗ Hồng Ngọc để cho người đọc tự vẽ lấy những chỗ anh không vẽ, để hình dung ra cái đối tượng mà anh đang miêu tả. Cái may của tôi là tất cả những người anh đề cập đến tôi không quen một người nào, mặc dù đều là những bậc tiền bối thành danh. Chính vì thế, tôi có thể tưởng tượng rất nhiều, cũng như tôi chưa từng xem một bộ phim kiếm hiệp nào cả, chỉ vì muốn giữ mãi hình ảnh mà mình có trong đầu chứ không muốn mượn cái hình ảnh mà người khác đã tạo nên, dẫu biết rằng có những phim mà tài tử còn đẹp hơn những gì mình có thể hình dung ra được.
3. Có hai phát minh (?) mới độ mươi năm nay mà ngẫm nghĩ có cái gì tương đồng – tương đồng mà lại tương phản với lối viết của Đỗ quân.
Một là ngày nay người ta đã in hình những bức tranh chẳng có gì đặc biệt, ngoài những patterns được lặp đi lặp lại. Thế nhưng nếu chúng ta nhìn xuyên qua nó để tập trung vào phía sau bức tranh, ta sẽ thấy một hình ba chiều linh động, lắm khi chẳng liên quan gì đến những hình mẫu. Tôi cũng chẳng biết lối đó gọi tên là gì cả tiếng Mỹ lẫn tiếng Việt nhưng tôi tin rằng nói ra nhiều người sẽ biết ngay. Bản chất của bức tranh chỉ là sắp xếp làm sao để từ những cái thường kia hiện ra một cái bất thường như một bông cúc đen giữa những bông hoa trắng.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy. Trong những cái hết sức tầm thường anh lại sắp xếp hết sức khéo léo nhưng rất nhạt để rồi đọc qua, đọc trở lại người ta sẽ… bắt được một cái gì mà tác giả cố tình đánh rơi.
Thứ hai là người ta dùng hàng ngàn bức tranh hay ảnh khác nhau thu nhỏ lại để cho computer lựa chọn rồi kết lại thành một bức tranh, hay chân dung một danh nhân. Nhìn xa chúng ta chỉ tưởng đó là một bức ảnh mà hột hơi to nhưng khi nhìn kỹ thì đó là những bức ảnh được ghép lại. Người ta đã ghép thành Tổng Thống Lincoln với hàng ngàn bức ảnh thời Nội Chiến (Cicil War), Bill Gates với hàng ngàn bức ảnh đủ mọi loại tiền trên thế giới, hay cô đào Marilyn Monroe với hàng ngàn bức ảnh của chính cô ta. Mấy năm trước, có kẻ cắc cớ đã thực hiện một bức ảnh Tổng Thống Mỹ Bill Clinton với hàng nghìn centerfolds và ảnh của tạp chí Playboy khiến những chàng trai ái mộ ông đổ xô đi mua như tôm tươi.
Lối viết của Đỗ Hồng Ngọc thì ngược lại. Anh đi từ ngoài vào trong, và người tinh ý đọc mỗi đoản văn lại nhón ra được một viên sỏi đẹp cho riêng mình. Có thể bạn và tôi cùng nhìn ra một điểm tương đồng nào đó nhưng cũng có thể hoàn toàn khác nhau như một bài thơ cắt rời rồi xếp lại một cách bâng quơ. Tôi tin rằng cái mà mình thấy chưa hẳn đã là chủ đích của người viết. Thoạt nhìn người ta tưởng anh viết hồi ký về một số người anh quen, nhưng thực ra anh đã vẽ họ bằng những góc ít người để ý nhất. Cái ông già nổi tiếng kia không đáng kể bằng tập album ông cất riêng cho ông để một lúc nào đó chia sẻ với một người hiểu ông, cũng như một ông lão khác phải giấu cây gai bàn chải trên sân thượng, chắc hẳn cũng để… lâu lâu lại dòm.
Thế nhưng đọc hết những đoản văn của anh, dường như ta thấy có một cái gì xuyên suốt và nhất quán, cái nọ lồng vào cái kia, xen kẽ và bổ túc cho nhau.
4. Một trong những cái tôi muốn tìm nhưng không thấy – mà tôi chắc là tác giả còn giấu ở đâu đó mà mình chưa có duyên được đọc. Cũng rất có thể tôi hiểu sai, sai vì đã suy bụng ta ra bụng người.
Tôi vẫn nghĩ rằng những người đa tài thì thường hay đa tình. Ba cái vẽ, thơ và văn không thể tách rời với cái yêu vẻ đẹp, mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu người, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Mà đã yêu vẻ đẹp thì phải yêu rất sớm, rất nhiều,… và rất lâu.
Một trong những cái mất vui của nơi tôi đang sống là người ta thực tế quá. Thành ra tuổi trẻ không còn những cái thú như chúng tôi khi còn học tiểu học hay trung học. Không biết người khác thì sao nhưng khi tôi đi học, bọn trẻ con hay chơi trò gán ghép, gán đứa con trai này với đứa con gái nọ một cách tinh quái, lắm khi nhảm nhí. Tôi rất thông cảm với những nạn nhân bởi vì chính tôi là một nạn nhân của những đứa bạn rắn mắt.
Năm lớp Nhất (lớp 5 ngày nay) tôi học ở một trường làng, nam nữ học chung. Tôi ngồi ngay sau lưng một cô gái có mái tóc dài xõa xuống vai, thỉnh thoảng cô lại lúc lắc đầu khiến tóc cô lại chạm vào cuốn vở tôi đang viết. Tên cô ta là Duyên.
Những đứa trẻ tinh nghịch lắm khi hay kéo tóc con gái, và cô Duyên – của tôi – cũng hay bị chọc ghẹo. Tôi nói “của tôi” vì bọn kia hay chơi trò gán ghép nên lắm khi phải nổi cộc và ảnh hưởng không ít đến thái độ của mình, khi muốn mượn một cục gôm mà không dám.
Cô bé đó cũng bằng cỡ tôi, con một bà giáo (bố cô ta là thầy giảo, đã mất chứ không phải bà ta dạy học) nên thỉnh thoảng ba tôi cũng đến thăm gia đình người bạn cũ. Một hôm ông cho tôi đi theo và ngạc nhiên xiết bao khi thấy cô bé thập thò sau cửa, nhìn tôi cười nháy mắt. Ôi, bao nhiêu e thẹn ở trong lớp đều tan biến khi hai đứa trẻ đưa nhau ra sau nhà thăm cái vườn hoa nho nhỏ của nàng. Hóa ra không phải nàng lạnh lùng với tôi như tôi tưởng, và chắc cũng thích thầm cái trò nghịch ngợm của đám “du côn” kia.
Những chuyện như thế tôi chưa tìm ra trong các đoản văn của BS Đỗ Hồng Ngọc. Dĩ nhiên không phải trong đề tài “Những Người Trẻ Lạ Lùng”. Tôi đi tìm bởi vì những chuyện như thế thì anh sẽ không thể “vẽ” từ người khác mà chỉ có thể “self-portrait” được thôi.
Nguyễn Duy Chính
(2002)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc

14/02/2012 By support2 2 Bình luận

Ghi chú: Ánh Ngọc, BTV đài PTTH Bình Dương phỏng vấn BS Đỗ Hồng Ngọc một số vấn đề nhân buổi Xuân về Tết đến.

Xin chia sẻ cùng các bạn.

xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Hỏi đáp Tag với:BS Do Hong Ngoc

Cái “MẶC”

09/02/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

Cái “MẶC”
Đỗ Hồng Ngọc
Một cách nôm na, văn là đẹp, hóa là làm ra. Cái gì không được đẹp thì làm cho nó đẹp ra, cái đó là “văn hóa”. Không chỉ đẹp mà còn tiện lợi, phù hợp với đời sống thường ngày của mọi người, cái đó cũng là văn hóa!

Con người thời ăn lông ở lỗ, trần truồng như nhộng, cảm thấy thoải mái, nhưng sau đó phát hiện ra vài điều bất tiện, diễu qua diễu lại không hay lắm bèn tìm cách che đi cái chỗ cần che. “Xấu che tốt khoe”, nhưng ở đây cái gì tốt, cái gì quý, thì che trước. Bởi nó thường kèm theo những rắc rối không lường được, nhiều khi không cản nổi! Do vậy mà phải giấu nó đi cho đỡ nguy hiểm. Nhưng hình như lá nho hơi nhỏ, chẳng những che không đủ kín mà đôi khi còn bị rách, nhất là khi lá đã khô. Do vậy mà có miếng che khác làm bằng…vỏ cây đập dập, an tòan hơn, rộng rãi hơn, vừa cứng, vừa dày. Hiện nay còn thấy các bộ quần áo bằng vỏ cây đặt ở các viện bảo tàng. Gần đây nghe nói có nơi làm du lích, tái tạo lại các “mode” quần áo bằng vỏ cây cho du khách mặc rất thú vị. Khi có thể kéo sợi, se chỉ, thì người ta có quần áo vải, rồi tơ lụa, rồi chất liệu tổng hợp (nylông)… thậm chí có quần áo làm bằng sô-cô-la, bằng đậu tương (đậu nành), trái cây… trong các buổi trình diễn thời trang hấp dẫn, ai thấy cũng muốn nhai, muốn nuốt. Nhìêu bãi biển ở Âu Châu quy định ai vào đó phải trần truồng. Ở một chỗ ai cũng trần truồng thì một người có mặc quần áo trở nên… lôi cuốn, mọi người sẽ xúm lại coi và…bắt chước. Cũng như gần đây, khi có một vụ cố ý trần truồng hoặc vô tình lộ y gì đó thì lại gây xôn xao.
Văn hóa cũng phải thay đổi, thích nghi sao cho phù hợp. Hoàng hậu, công nương, qúy phi, công chúa… hẳn phải tha thướt lượt là, gấm vóc đoan trang; công nhân thợ dệt dĩ nhiên phải quần áo gọn gàng, tóc ngắn, tránh gây tai nạn. Tazan đóng khố để dễ đu từ cây này sang cây khác kịp cứu mỹ nhân. Thầy thuốc khoác blouse trắng… Một cô y tá xứ Brazil chỉ đội mủ, đeo khẩu trang còn thì trần truồng như nhộng trong lúc chăm sóc bệnh nhân ở phòng cấp cứu đã lập tức bị Nghiệp đoàn điều dưỡng đưa ra tòa!
Hồi xưa, phụ nữ mặc váy chùng, áo buộc dây, cho nên khi cô gái nông thôn lên thành thị về thì Nguyễn Bính la trời: “Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!”. Cũng may, ông không có dịp nhìn các cô mini jupe cũn cỡn, hở rún hớ hênh bây giờ. Nữ sinh hạnh phúc trong chiếc áo dài trắng đơn sơ mà thanh lịch, tự hào tuổi…học trò, thơ ngây, trong trắng. “Nắng Saigòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông/ Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng/ Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (Nguyên Sa). Chỉ cần đổi cái màu trắng đó sang màu tím thôi đã đủ làm người ta khổ! Hoàng Nguyên kêu lên: “Rồi áo tím qua cầu/ tà áo tím phai màu/ để dòng Hương giang hờ hững cuốn trôi mau”…
Con người dễ mất văn hóa khi để cho bản năng hoành hành. Ăn mặc “mát mẻ” một cách… nghệ thuật thì còn coi được, mát mẻ quá thì nhàm chán. Ở xứ đầy hình ảnh “playboy” thì người ta phải nhờ tới Viagra, Cialis… dù tuổi hãy còn rất trẻ. Tình trạng rối loạn, vô sinh ngày càng toàn cầu hóa, trầm trọng thêm. Cái đó có sự góp phần của văn hóa mặc. Việc truyền giống là cần thiết nên thiên nhiên phải có cách… khen thưởng chút gì đó. Con người thông mình, tận dụng khai thác, lại không cần mùa màng thời tiết chi, lúc nào cũng động được, nên tạo nhiều mối nguy. Kinh tế phát triển, cơm no, cật ấm, thì dễ sinh sự. Làm đẹp nhân tạo ngày càng phát triển, lừa gạt nhau, sử dụng cả những thứ có hại cho sức khỏe, lâu lâu kêu trời vẫn không chừa! Hình thể có thể đẹp ra- dù giả tạo- nhưng cảm xúc thì ngày càng lụi tàn. Hết rồi những huyền nhiệm, những linh thiêng, vốn đã làm nên “văn hoá” cho con người. Khi bình đẳng được hiểu lầm là xóa mọi ranh giới, nữ thành nam, nam thành nữ thì nguy tai! Đàn ông yểu điệu thục nữ, quần là áo lượt…; con gái tay kiếm tay cung… Lúc đó đàn ông sẽ thấy đàn ông hấp dẫn hơn, con gái sẽ thấy con gái hấp dẫn hơn!
Có sự đan xen nhiều thứ văn hóa: văn hóa thống trị, văn hóa nô dịch, văn hóa lai căng, văn hóa cưỡng bức… Khi trái đất trở thành một hòn bi xanh- thế giới nhỏ lại trong lòng bàn tay thì ảnh hưởng văn hoá không thể tránh được.
Nhưng, hãy tôn trọng sự khác biệt. Bảo vệ văn hóa mình. Trước hết, là cái “mặc”.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Lõm bõm: “Vô tâm”

22/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Vô tâm

Vô tâm không phải là không có tâm. Vô tâm cũng không phải là vô cảm. Mackeno. Có một chữ tượng hình rất hay trong chữ Hán : 木 là mộc. 目 là mục. 心 là tâm.
Khi mộc ghép với mục thì thành tướng 相. Tướng vô tội. Không sanh sự. Nói khác đi, khi trần (mộc= cây) gặp căn (mục = mắt) thì chẳng có chuyện gì xảy ra! “Sắc thanh hương…” đụng “nhãn nhĩ tỷ…” chả sao cả. Cận thấy kiểu cận, loạn thấy kiểu loạn, lão thấy kiểu lão. Con người tội nghiệp. Nhãn thua loài cú. Nhĩ thua loài dơi, Tỷ thua loài chó… Con ong cái kiến cũng có căn có trần riêng của nó! Vậy mà con người cứ tưởng mình ngon nhất thế gian. Làm được cái kính thiên văn đường kính rộng, nhìn lên bầu trời đã la hoảng khi thấy có hàng trăm ngàn tỷ thiên hà, trong khi xưa kia tưởng chỉ có mỗi một mặt trời vĩ đại của riêng ta thôi! Nay mai có kính thiên văn đường kính rộng hơn nữa không biết chuyện gì sẽ xảy ra!
Trở lại chuyện Tâm. Căn với trần mới là tướng. Ghép thêm chữ tâm ( ) vào thì mới thành tưởng 想. Có tưởng là bắt đầu sinh sự. Tưởng vô vàn. Tưởng vô tận. Muốn thiên đàng có thiên đàng. Muốn điạ ngục có địa ngục. Cho nên tu là tu Tâm. “Nhất thiết duy tâm tạo”. Tất cả là do tâm bày vẽ ra. Phật từ thời Hoa Nghiêm đã nói rõ như thế. Hạnh phúc khổ đau từ đó. So sánh hơn thua, chém giết nhau từ đó. Tiếng Việt ta còn hay hơn: Tướng và Tưởng, chỉ khác nhau có mỗi cái dấu sắc, dấu hỏi… Mà đã ngàn trùng cách xa!
Vô tâm thì vô sự. Vô sự thì bình an. Bình an vô sự. Người ta chúc nhau như vậy. Người ta lại chúc nhau « Vạn sự như ý »! Ý dẫn các pháp. Muốn « vạn sự » được « như ý » đâu có khó gì. Một đám du khách hỏi anh nông dân: Hôm nay thời tiết ở đây thế nào anh? Hôm nay có thứ thời tiết mà tôi thích! Làm sao anh biết là có thứ thời tiết mà anh thích ? Phải học, thưa ông. Không phải lúc nào tôi cũng có cái tôi muốn nên tôi phải biết muốn cái tôi có.
“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (Trần Nhân Tông).
Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

“Bàn tay nhỏ dưới mưa”

15/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

Bàn tay nhỏ dưới mưa
Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, viết bằng tiếng Ý đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật hôm nọ, một câu chuyện cảm động về tình yêu của cặp vợ chồng già!
Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, sau khi anh chị quyết định rời bỏ Italia về sống với quê nhà. Dân và vợ, chị Elena gởi tặng tôi BTNDM ở một quán café góc phố xóm nhỏ Bàn cờ, với lời ghi trân trọng: “Quý tặng anh, bác sĩ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, người trị đau và chữa khổ – một tấm lòng tha thiết với đời- để cùng chia sẻ niềm đam mê văn học”. Còn chị Elena thì ghi bên cạnh nét chữ của chồng: « Un morceau de notre vie / comme un cadeau pour vous”.

Bàn tay nhỏ dưới mưa đúng là một mảnh đời của họ. Một mảnh đời với bao nỗi lo toan, buồn vui, hy vọng rồi tuyệt vọng, chạy đuổi miệt mài rồi dừng lại ngẩn ngơ… để rồi cuối cùng có vẻ như đã tìm ra một exit : Con đường quê hương. Con đường văn học. Con đường giải thoát. « Cuối cùng tôi nghĩ mình không cần phải tự xót thương. Chính cuộc hẹn với cái chết sẽ giúp tôi xóa bỏ những điều vô vị tạp nhạp, dừng ngay nhưng bận rộn, để đứng lại và hỏi xem thực sự mình muốn gì… Đi tìm ý nghĩa thực sự của đời sống! (tr 236)

Bàn tay nhỏ dưới mưa có vẻ như là một chuyện tình buồn, một cái chết, một nỗi chia lìa, nhưng với tôi, là một cuốn tiểu thuyết luận đề, là một tiếng kêu thống thiết, chới với của một bàn tay nhỏ không che nổi cơn mưa nặng hạt đời. Câu chuyện tình lãng mạn, cái sống cái chết, chỉ là một cái cớ để trên đó bày ra, vẽ lại những vấn đề lớn của xã hội hôm nay, những vấn đề có vẻ như bế tắc, không lối thoát, thể hiện rõ nét nhất trên quê hương anh. Vấn đề môi trường, vấn đề giao thông, vấn đề vệ sinh thực phẩm, vấn đề y tế, giáo dục…

« Đang thất thần và ngẩn ngơ thì có tiếng chuông chùa từ đâu vẳng đến. Cái sống, cái chết nối đuôi nhau trôi trong thinh không… bờ bên này bờ bên kia như không còn ranh giới ». (tr 410)

Và ở một đoạn kết khi gấp cuốn truyện lại: «Vì chúng tôi chẳng hoài chi đến cõi thiên đường. Có lẽ bởi chúng tôi đã từng là con người, đã từng hội đủ tâm hồn, si mê và trí tuệ, tham lam cùng sân hận… nên vẫn còn say mê trần gian, còn tha thiết làm người… »(tr 412)
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi là ai mà còn trần gian thế/ Tôi là ai, là ai… mà yêu quá đời này…
Và bỗng muốn nói với bạn : « Đừng tuyệt vọng, Dân ơi, đừng tuyệt vọng ! ».!

Đỗ Hồng Ngọc.
(12.2011)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

“XỨ NẪU”

14/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

“XỨ NẪU”

Nhóm bạn "xunau.org" và Đỗ Hồng Ngọc ở Sông Trăng ngày 8.1.2012


Chủ nhật 8.1.2012 (rằm tháng Chạp) tuy đang có việc bận ở bệnh viện, tôi cũng ráng thu xếp chạy đến Sông Trăng nơi xunau.org hẹn hò để chào, để thăm và để chúc mừng các bạn trong buổi họp mặt Mừng Xuân sớm. Tôi đọc được thông báo trên mạng, tuy chưa quen ai biết ai trong nhóm mà lòng cũng thấy nôn nao…
Xunau.org ra mắt chưa lâu mà đã tỏ rõ là một trang web văn chương nghệ thuật chững chạc, dễ thương, đặc trưng của một vùng miền, vốn là một trong những cái nôi của văn học, ở đó mỗi con người, dòng sông, bãi cát, rặng dừa… đều mang hơi hướm văn chương thi phú của một vùng đất văn học, võ học, vùng đất thiêng- cố kinh của một thời xưa nhan sắc.

Tôi nói đặc trưng không phải chỉ vì bài vở được chắt chiu, chọn lọc, minh họa sắc sảo mà còn toát ra một nỗi nồng nàn tha thiết hiếm thấy qua những “còm” (comment) với một sắc thái riêng không lẫn vào đâu được. “Còm” này chồng lên “còm” kia, chuyện chung chuyện riêng nhiều khi chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, xunau.org bỗng trở thành một nơi cho người ta trải những hẹn hò, những hờn dỗi, yêu thương, trách móc, cợt đùa… Ở đâu tìm được một trang web văn chương mà ngộ nghĩnh đến vậy? Không đao to búa lớn, chỉ những ngọt ngào, chua chát, đắng cay, và những yêu thương, da diết, giận hờn… Cái “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ” có vẻ được “chứng minh” rõ nhất ở đây, bởi nó từ tấm lòng đến với tấm lòng, một thứ “trực chỉ nhân tâm”…
Nó có cái giọng riêng, tiếng nói, ngôn ngữ không lẫn, mà trước đây có người đã nhận định rằng là bởi nó nằm giữa Hải Vân và Đèo Cả, tạo nên một vũng trũng cho những tâm tình, nên tiếng nói, ngôn ngữ có cái hồn riêng của nó.
Tôi lớ ngớ đến Sông Trăng, chưa quen biết ai trong nhóm xunau.org, mong gặp chủ nhân hay “chủ xị” gì đó của buổi họp mặt mừng xuân để chào một tiếng, chúc Tết rồi lui. Một người hãy còn trẻ, khá đẹp trai, dong dỏng cao, dáng gầy, thấy kiểu lớ ngớ của tôi nhã nhặn hỏi: Anh kiếm ai? Kiếm Ngô Quang Hiển. Em là Hiển đây. Còn anh là ai? Anh là… Đỗ Hồng Ngọc. Ôi anh Đỗ Hồng Ngọc hả? Anh Đỗ Nghê hả? Rồi Hiển ôm chầm lấy tôi, siết chặt muốn ngộp thở! Không ngờ anh đến. Mừng quá! Mừng quá! Vào đây. Vào đây. Hiển lôi tôi vào. Anh đến thăm chút đi ngay. Không được. Vào đây. Mấy bạn gặp anh mừng lắm đó.
Vẫn biết anh em trong làng xưa nay chưa lần gặp gỡ mà tình đã thâm, như “ từ muôn kiếp trước”, nhưng tôi vẫn bất ngờ và cảm động. Sông Trăng còn vắng. Chỉ có mấy bạn đến sớm, có lẽ trong ban tổ chức. Đây rồi, có Trần Dzạ Lữ, quen lâu! Rồi biết thêm Lương Viết Khiêm, Nguyễn Quy, Ngô Đình Hải, Ngô Thành Hùng, Mai Thanh, Lê Đức Vinh, Văn Công Mỹ và một người từ Đà Lạt xuống từ khuya: Hà Thúc Hùng! Khiêm, giọng Huế trân, nói tôi Huế gốc nhưng là thân hữu của xunau.org, đã đọc anh Đỗ Nghê từ thuở Thư cho bé sơ sinh, một bài thơ quá hay, nhớ mãi! Nguyễn Quy bảo: “Em là Tú gàn. Ba mươi năm trước, ẳm con lại anh chữa bệnh nên em gọi anh là “bác sĩ của con tôi” trong cái “còm” bài thơ Rùng mình của anh trên xunau”. Các bạn đều nói đọc Rùng mình thấy rùng mình thiệt! Lê Đức Vinh hóa ra là Vinh Rùa. Vinh rùa là “Vua rình” đó anh! Vinh tự giới thiệu. Rồi nói thêm: Trần Dzạ Lữ là… người ở trần… đi trong đêm. Dzạ Lữ là đi đêm, mà lại ở trần nữa! Tôi hỏi nhỏ Trần Dzạ Lữ: Lúc rầy sao rồi? Còn dang nắng giữ xe đạp nữa không? Không anh. Lúc này tôi toàn ngồi… phòng lạnh! Nhớ xưa Trần Dzạ Lữ ôm một chồng “Hát dạo bên trời” tìm đến bạn bè. Mai Thanh, người đẹp duy nhất đến sớm, là người đang viết luận văn về tạp chí Bách khoa… Văn Công Mỹ nói ai hỏi em làm gì, em nói em “bán nước” anh ạ. Văn Công Mỹ chính là chủ quán Sông Trăng mà! Mỹ nói thêm: Em mua một lúc 3 cuốn Nghĩ từ trái tim của anh, một cho mình, một cho bà xã còn một cho thằng con trai chưa đầy 30 tuổi. Nó còn nhỏ, đọc sao được? Tôi hỏi. Không, nó còn kêu tụi em sao không dẹp tiệm Sông Trăng này đi để mà lo tu tập đó anh ạ. Văn Công Mỹ gọi phu nhân ra giới thiệu: Đây là “cook” chính của Sông Trăng đó anh. Bà chủ nồng nhiệt bắt tay mừng rỡ vì cũng đã quen lâu qua Nghĩ từ trái tim! Nhờ đến sớm, tôi được Hiển tặng ngay cuốn Một thời để thương yêu của Mang Viên Long và tập thơ-nhạc của Bùi Chí Vinh, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Lâm. Tuyệt vời!…
Tiếc phải về sớm không được gặp thêm các bạn bè khác đông vui của xunau.org trong ngày họp mặt này. Xin hẹn lại một dịp khác.
Phải nói thêm rằng cái duyên đến với xunau.org của tôi là nhờ bài thơ Rùng mình. Vừa xuất hiện trên xunau.org đã có ngay gần 60 cái “còm” của bè bạn, thật bất ngờ!
Bài thơ lại không do tôi gởi – vì trước đó tôi không biết có xunau.org – mà do Trương Văn Dân, tác giả “Bàn tay nhỏ dưới mưa” – một người xứ nẫu chính hiệu- chọn và gởi đi. Trương Văn Dân cùng với phu nhân là Elena còn nhiệt tình hứa sẽ “rùng mình” để dịch Rùng mình sang tiếng Ý và tiếng Pháp!
Rồi Trần Dzạ Lữ, rồi Mang Viên Long, Cao Quảng Văn, … những người bạn của “những ngày xưa thân ái” đã “còm” trên xunau.org nói Đỗ Hồng Ngọc… chính là Đỗ Nghê, tác giả của Thư cho bé sơ sinh, Lời Ru, Tâm sự Lạc Long Quân… ,của tập “Tình Người”, của tuyển sinh viên “Tiếng hát những người đi tới”…gần nửa thế kỷ trước! Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn.
Cảm ơn các bạn. Cảm ơn xunau.org!
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú:
Bài viết này xuất hiện trên xunau.org đúng vào ngày Mùng Một Tết, và chỉ mấy hôm thôi đã thấy có gần 50 “comments” của bạn bè khắp nơi. Thật là cảm động. Xin phép được chọn một số đăng lại nơi đây để chia sẻ: “Nào ai hững hờ / Xuân vẫn ngóng chờ…”.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nam Thi
@Tôi xin mở hàng. anh Đỗ Hồng Ngọc nhé.
Tên tuổi và văn chương của BS Đỗ Hồng Ngọc tôi được biết lâu mấy mươi năm rồi. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Hôm phó hội Sông Trăng tôi được Sáu Nẫu báo trước anh cũng có mặt, tôi mừng.Thế mà mới đến cổng Sáu Nẫu đón tôi và báo ngay: ” anh ĐHN đến và đi rồi vì có việc bất khả kháng…”. Cái duyên nó thế, biết làm sao.
Tôi muốn gặp anh không phải vì con tôi được anh chăm sóc khi còn bé, mà cũng không vì say mê văn chương của anh – thú thật tôi đọc anh không nhiều -, mà vì một lẽ khác.
Số là, năm 2002, tôi đi làm ăn ở Phan Rang, tình cờ tôi thấy trong tủ sách của chủ nhà quyển sách của anh viết cho người già. Lúc ấy tôi cũng ngoài năm mươi, bề ngoài chưa chịu mình già nhưng trong thâm tâm biết mình không còn trẻ. Tôi đọc một lèo hết quyển sách. Thật đúng lúc tôi cần chuẩn bị cho tuổi già của mình và anh là người “khai tâm”.
Nhưng diều anh khai tâm cho tôi lớn nhất và thú vị nhất là phần anh viết về kinh Bát Nhã. Nghĩ cái duyên mới là kỳ, đọc thiên kinh vạn quyển như nước chảy lá môn bỗng bài tiểu luận nhỏ ấy lại khai tâm cho tôi như một sự đốn ngộ. Cũng xin thưa rằng tôi vốn là người duy vật và vô thần…có bằng cấp và chính danh (hic).
Đọc xong bài của anh, tôi đọc thêm một số tác giả khác về đề tài nầy. Nhưng càng đọc càng loạn thư, càng rối. Nay thì quên hết, kể cả tựa đề quyển sách của anh.
Tôi mô tả tình trạng “loạn thư” của mình như sau:
“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.
Đã mười năm trôi qua, tôi đã trở thành một ông già thực sự, sống khá ổn, vui vẻ, được anh em xunau gọi là “hậu trưởng” GIAMAHAVU ( Già Mà Ham Vui), đôi khi còn thêm cái đuôi “GIAMAHAVU-IU” ( IU= YÊU theo giọng BĐ).
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều. Và xin mừng tuổi anh.

Đỗ Hồng Ngọc

“Tâm kinh nét chữ nhạt nhòa
Tiếng chuông Bát Nhã bóng tà dương phai
Thế âm là tiếng thở dài
Dấu chân Hành giả lạc loài nẻo xa”.

“Loạn thư” đến mức đó quả là đáng phục, đáng phục!
Nguyễn Du ngày xưa cũng kêu lên: “Chung tri vô tự thị chân kinh”.
Kinh không chữ mới đúng là chân kinh phải không Nam Thi ơi?
Vô Kỵ nhờ học đến đâu quên đến đó mà làm nhủn lòng Triệu cô nương!
“Hậu trưởng” YAMAHA (Giamahavu) đến lúc ngơ ngác hỏi “IU” là gì thì mới gọi là “đắc đạo” vậy!

Ngô Quang Hiển
Cảm ơn anh Đổ Hồng Ngọc đã dành những tình cảm ưu ái cho xunau.org .Thật ra trang web mới của tụi em vẫn còn nhiều khiếm khuyết ,rất cần sự góp ý và đóng góp của các anh lắm.. lắm.
Năm mới em kính chúc anh và gia đình sức khỏe,bình an.

Nguyễn Xuân Lệnh
Một bài viết cảm động và chân tình quá. Chúc anh vạn sự như ý

Trương Văn Dân
Chào anh Đỗ Hồng Ngọc,
“…Lâu nay nhiều người đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, tưởng bác sĩ … mà bày đặt đi làm thơ, nhưng khi biết đó là Đỗ Nghê thì hóa ra “nhà thơ” mà bày đặt đi làm… bác sĩ! Lộ tẩy hết trơn….”
Thôi, lộ tẩy hết rồi. Anh viết vậy là bà con xứ nẫu đã “tỏ đường đi lối về”… rồi, còn chi mà …”gìn giữ nữa”. Vậy thình thoảng hãy đến với với anh em để cùng ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng ” nhé.
Bảo đảm đây là độc chiêu của đất võ trời văn, không nơi nào có….
Chúc Năm Mới thân tâm an lạc.
TVD

Do Hong Ngoc
Anh nhớ hồi nhỏ cũng đã từng nhiều lần được ăn “bánh tráng cuốn bánh tráng” đó TVD ơi! Anh từng biết ăn “chè bánh tráng” nữa: bánh tráng mè dày cui, nướng giòn, bóp bể vụn, cho vào nước nóng, thêm đường tán, ta sẽ có ngay một ly chè bánh tráng tuyệt hảo! TVD biết ăn chưa? Bảo Elena làm cho ăn nhé! Tóm lại, “Bánh tráng muôn năm!” Hèn chi mà Quang Trung đánh đâu thắng đó! Chúc xunau.org “thừa thắng xông lên”!

TVD
ANh ĐHN quơi!
Tưởng đem “bánh tráng cuốn bánh tráng” ra doạ anh, ai ngờ bị anh đem “chè bánh tráng” ra đấu lại. Thế là thua to!
Anh đúng là kiến văn quảng bác, cao thủ võ lâm.
Bái phục.
Chúc anh sức khoẻ và yêu đời,
TVD

Văn Công Mỹ
Hôm đầu năm nói chuyện với mấy người về những món ăn “tuyệt chiêu” của xứ nẫu trong đó có món Chè Bánh Tráng đó anh(có mấy bạn chính gốc “củ mì” cũng chưa từng ăn).Thay vì bánh tráng nướng,hồi đó em bẻ bánh tráng sống cho vào nước nóng nấu với đường đen. Đợi bánh tráng nở mềm là thành chè bánh tráng. Ăn,mềm mềm ngọt ngọt cũng đậm đà hương quê lắm. Anh mà biết món này,em xin bái phục.

Tú Gàn:
Xin chào “Bác sĩ của con tui” (nay nó đã là cô giáo 32 tuổi rồi anh à !) năm mới !
Bài viết của anh thật là tình cảm tràn đầy với xunau.org ! Lại có nhắc đến tên em nữa … Em cảm ơn anh nhé ! Hy vọng : “Thà rằng không đến thì thôi …” mà đã đến – đã quen – đã biết – đã hiểu … xunau.org thì anh không có lý do gì … bỏ đi cho đành ! Đúng không anh ? Xin hãy xem mình như là một thành viên thân thiết của xunau.org kể từ ngày 08 tháng 01 năm 2012 anh Đỗ nhé !

Võ Thanh Tùng
Rất bất ngờ khi biết anh là nhà thơ Đỗ Nghê. Trước năm 75 tôi vẫn thường đọc thơ anh,những bài thơ rất có cái riêng độc đáo thi vị.
Năm mới chúc anh hạnh phúc an khang thinh vượng!

Minh Huy
Chúc mừng năm mới nhà thơ ĐỔ NGHÊ !

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Minh Huy. Cảm ơn tất cả các bạn xunau.org đã chúc Tết cho Đỗ Nghê. Xin gởi tặng một bài thơ nhỏ (đã từ lâu):

Đi giữa Sài gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết

Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay Xuân về
Vỡ òa ngực biếc!

(Đỗ Nghê)

“Xunau” cũng đầy gió bấc phải không? Đó là một thứ gió rất lạ, dễ làm mình “rùng mình” nhất là khi gió ngược những tà áo dài… quê hương!

Văn Công Mỹ
Tôi biết anh là Đỗ Nghê, thi sĩ, khi đọc thơ anh trước đây. Rồi tôi đọc sách, và biết anh là bác sĩ, những cuốn Bỗng Nhiên Mà Họ Lớn, Gió Heo May Đã Về, Già Ơi Chào Bạn…cuốn tôi đến với Cũng Chẳng Khoái Ru, Những Người Trẻ Lạ Lùng… Bẵng đi một thời gian, bữa nọ lang thang trong nhà sách bắt gặp Nghĩ Từ Trái Tim, lật vài trang sách đồ rằng chắc cũng là một cuốn phân tích tâm lý của tác giả, đọc lướt nhanh những lời đầu tôi choáng váng và “rùng mình”… bởi bấy lâu tôi nghe những câu kinh Bát Nhã chỉ là mới nghe, qua những khi tụng niệm của những người thân trong gia đình. Và khi đọc bản văn tâm kinh, chịu chết chứ làm sao tôi hiểu nổi những câu kinh trong Bát Nhã Tâm Kinh. Thế nên tôi rùng mình, choáng váng vì từ lúc đọc Bát Nhã Tâm Kinh tôi đã khao khát tìm hiểu ý nghĩa cuốn kinh này thì nay biết được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, qua cuốn Nghĩ Từ Trái Tim đã luận giải cuốn kinh, từng chữ từng câu theo cái nhìn của một người làm khoa học. Mới biết trong chữ “duyên” khi mình đã “khởi” ắt có ngày mình sẽ “ngộ” phải không anh?
Riêng tôi, đọc những tác phẩm của anh, tôi thường hay liên tưởng đến nhà văn Võ Hồng (cái này “bất khả tư nghị”). Sáng 8/1 lần đầu gặp anh, thấy ánh mắt dịu dàng, nụ cười đôn hậu; những trao đổi nhẹ nhàng, chân tình, ấm áp với những người anh em đã cũ hoặc mới quen của anh, anh em Xứ Nẫu chúng tôi rất chi là cảm động.
Năm mới anh em Xứ Nẫu cầu chúc anh vui tươi,an lạc.

Do Hong Ngoc
Nghe Sông Trăng cũng đã lâu, chưa có dịp nhìn trăng trên sông ở đó cả. Vậy hẹn hôm nào, “trà đạo” dưới trăng một bữa nhé (Vì anh DHN không biết uống rượu mà! Một thiệt thòi rất lớn!).
VCM biết không, cuốn “Chẳng cũng khoái ru?” của anh Ngọc không ai nói đúng cái tựa cả. Người nói “Chẳng ru cũng khoái”, người nói “Chẳng khoái cũng ru”, người bảo “Ru cũng chẳng khoái” người kêu “Khoái cũng chẳng ru”… Chịu thua!

Thiên Bồng
Chào BS Đỗ Hồng Ngọc,
Gặp nhau chỉ khoảng vài chục phút, trao đổi với anh em mỗi người dăm ba câu, vẫn ngỡ là xã giao thông thường nào ngờ tấm lòng của anh với xunau.org thật sâu đậm, có lẽ đây là nét rất riêng của anh chăng?
Hôm 8/1 anh chào anh em và về sớm làm anh em có hơi thắc mắc, sau đó Sáu Nẫu có giải thích lý do về sớm của anh thì anh em lại càng trân trọng và thương quý anh nhiều.
Năm mới TB xin chúc anh được mạnh khỏe và nhận xét vẫn tinh tế như hôm gặp mặt mà TB đã cảm nhận được nha anh. Kính mến.

đinh tấn khương
Kính Anh Đỗ Hồng Ngọc
Nghe và biết anh khá lâu và khá nhiều, qua những tác phẩm của anh. nhưng chưa có lần nào được nói chuyện cùng anh (dù là trong thế giới ảo như bây giờ).
Hôm nay được găp anh ở đây, trước tiên xin gởi đến gia đình anh lời chúc tốt đẹp nhất trong năm mới, năm Nhâm Thìn 2012.
Cầu chúc anh còn nhiều sức khỏe để giúp đời qua chuyên môn và khối óc văn chương thi phú của anh.
Trong những tác phẩm và bài viết của anh (đọc từ sách và ở trang blog của anh), thích nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” mà em được một người bạn, nhân dịp về thăm VN mua tặng, vào năm 2004.
Vẫn biết anh là bậc đàn anh (về tuổi tác cũng như nghề nghiệp) nhưng cứ thắc mắc sao anh lại có nhiều thì giờ và sự hiểu biết, ngoài chuyên môn, để viết được nhiều và hay như vậy!?
Cám ơn anh rất nhiều, nhất là tác phẩm “Nghĩ Từ Trái Tim” đã giúp em hiểu thêm về Bát Nhã Tâm Kinh.
Một câu trong đó mà em luôn nhớ, đó là:
“Trong đời sống thường ngày, ta thấy khi khong còn nghi kỵ, ngờ vực, ghen tuông, tham lam, sân hận thì niềm vui sẽ tràn đến, ta thấy rộng lòng hơn, biết yêu thương hơn, biết tha thứ hơn, và ta cũng được đáp lại như vậy”
Và cám ơn anh đã đến với xunau.org, tạo duyên để được gặp anh.
Kính Anh
đtk

Do Hong Ngoc
Cảm ơn Đinh Tấn Khương, bạn đồng nghiệp phương xa. Đọc ĐTK, anh Ngọc nghĩ trước sau gì ĐTK cũng sẽ quên mất cái ống nghe mà chỉ còn nhớ cây viết hay bàn phiếm! Có lúc sẽ trốn khỏi cả “cai tù” mà lên núi tu không chừng. Lúc đó sẽ có nhiều thì giờ thôi! ĐTK viết dễ thương. Chúc Năm Mới.

đinh tấn khương
Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc đã cho lời khuyên và khích lệ đàn em.
Em chỉ mong, luôn được minh mẫn trí óc để viết cho vui với anh em vậy thôi, anh Ngọc ơi!
Nhưng mà tuổi già đâu dễ gì được mãi vậy, phải không thưa Anh!?
Cũng muốn đi tu lắm, sau khi đã đọc sách đạo của anh, nhưng vì chưa “buông” được nên cái dấu HUYỀN nó mãi còn đó, thành ra em vẫn còn mang cái kiếp “TÙ” đấy, anh Ngọc à!
Vui với Anh một chút, đừng trách nhen!
Chúc Anh còn nhiều sức khỏe để còn viết khỏe, cho thế hệ đằng sau được nhờ.
Kính Anh
đtk

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học

08/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học
Vương Trung Hiếu
Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.
Đỗ Hồng Ngọc.

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.
Cách tự học
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm…Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”
Những cách tự học
Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).
Tự học (có người chỉ dẫn) là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.
+ Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ…”.
+ Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.
+ Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.
Tự học không có người chỉ dẫn là tập nhận xét và đọc sách…
+ Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối. Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.
Học từ dễ đến khó
Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.
Cách học ngoại ngữ
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.
Viết sách để tự học
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).
Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.
Quyển sách ấy có tựa đề là Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.
Vương Trung Hiếu

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại

07/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Ghi chú:
Những ngày đầu năm 2012 này, bác sĩ Lê Ngọc Dũng lại chịu khó đánh máy và gởi thêm một bài viết nữa của BS Nguyễn Hưu Phiếm do anh lưu giữ được, trong cuốn Mấy Lời Khuyên Sinh Viên Y Khoa (Trung tâm học liệu BGD, 1972) như “một món quà Tết”, đến với chúng ta.
Tài liệu này đã được viết từ 40 năm trước nhưng vẫn còn rất có giá trị. Mong các bạn dành chút thì giờ để đọc và rút ra cho mình những bài học từ đó.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn Bs Lê Ngọc Dũng.
Đỗ Hồng Ngọc.

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÁC SĨ TRONG THỜI BUỔI HIỆN TẠI
BS Nguyễn Hữu Phiếm
(1910-1977)

Y học cao thượng ở chỗ trách nhiệm
Duhamel

Trách nhiệm của người bác sĩ , nói cho đúng ra, không phải là một vấn đề mới mẻ, bằng cớ là từ trên bốn ngàn năm nay, tại Babylone, vua Hammourabi đã ban hành một đạo luật mang tên ông để thưởng phạt những y sĩ trong khi hành nghề, thưởng tiền bạc nếu khỏi bệnh và chặt tay chân nếu bệnh nhân mang tật hoặc phải thiệt mạng.
Ảnh hưởng của đạo luật Hammourabi đã lan rộng ra khỏi Babylone và trong Cựu Ước kinh ,các triết gia Do Thái đã nói : “Có vay có trả, răng đền răng, mắt trả mắt”.
Tuy nhiên ta phải công nhận là cho mãi cuối thế kỷ thứ 19, quan niệm về trách nhiệm của người bác sĩ vẫn không hề thay đổi . Điều đó xét cho cùng cũng không có gì lạ, bởi y học trên hai ngàn năm , hoàn toàn gần như chỉ chuyên về miêu tả, người bác sỉ ở thế kỷ trước, tuy biết rõ cơ thể học, nhân thể sinh lý học và cách phân chia bệnh ra từng loại, nhưng đến khi chữa bệnh , thì đành phải bó tay, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân mắc bệnh sốt rét cơn (paludisme) thì mới cho uống Quinine (tìm ra năm 1820)
Đừng nói đâu xa , cách đây mới khoảng 30 năm, những tiến bộ của phép trị liệu vẫn tương đối không đáng kể, người bác sĩ có thể định bệnh được một cách chắc chắn, nhưng đến khi chữa thì không chữa nổi.
Nhưng tình thế ngày nay khác hẳn.

Ngày nay, y học đã tiến một bước rất xa, ngoài sức tưởng tượng của con người và hầu như cướp cả quyền tạo hóa, nào mổ tim, thay tim, mổ óc, cắt phổi, ghép thận, ghép mắt….vv
Nào chỉ có thế thôi !Ngày nay y học đã phát minh ra những thứ thuốc có thể thay đổi hoàn toàn tâm tính của con người ta. Ngày nay ai cũng biết nhờ y học mà phụ nữ có thể hạn chế được sinh đẻ.
Tóm lại, thật đúng như lời nhà bác học Jean Rostand đã nói:”Ngày nay khoa học đã khiến chúng ta trở nên những bậc thánh thần trước khi chúng ta xứng đáng làm người”.
Và cũng chính bởi có những tiến bộ quá mau, tới mức phi thường, huyền ảo của khoa học nên vai trò của người thày thuốc xứng với danh từ đó, ở thời đại này, cần được xét lại, nhất là những trách nhiệm của họ, càng ngày càng nhiều, càng ngày càng phức tạp và nặng nề gấp bội trước, vì thuốc càng hiệu lực bao nhiêu lại càng nguy hiểm bấy nhiêu.
********
Trước khi đề cập tới vấn đề trách nhiệm của người bác sĩ , thiết tưởng cũng nên định nghĩa trách nhiệm là gì ?
Thường thường vấn đề trách nhiệm chỉ được nêu ra khi có một biến cố nào đó xảy ra, gây thiệt hại tới tài sản hoặc tính mạng của một hay nhiều người. Khi ấy pháp luật sẽ can thiệp để phân xử và phán quyết có lỗi lầm hay không, có lỗi sẽ bị trừng phạt. Tuy nhiên đối với người thày thuốc ngoài trách nhiệm trước pháp luật ra, còn có trách nhiệm tinh thần, trách nhiệm trước tòa án lương tâm nữa. Loại trách nhiệm này, hàng ngày người thày thuốc phải lãnh trong khi hành nghề, khác hẳn trách nhiệm trước pháp luật.
Như trên vừa nói, ngày nay y học đã có một quyền lực ghê gớm, ngoài sức tưởng tượng của con người. Ngày nay hầu hết các bệnh nhiễm trùng có thể trị được, nhiều bệnh mà ngày xưa kia người bác sĩ phải bó tay, bây giờ khỏi là thường, như bệnh thương hàn, bệnh lao, bệnh phong….
Nhiều chứng suyễn nặng có thể chữa được. Nhờ tiếp máu mà hàng ngày trên chiến trường các thương binh và những người bị ngộ độc, hoặc mắc nhiều bệnh khác được thoát chết. Tuy nhiên ,ta cũng nên biết rằng thuốc càng nhiều, càng công hiệu , nhất là những loại thuốc hóa học , lại càng độc, càng nguy hiểm.
Ngày nay trong khi hành nghề , người thày thuốc bắt buộc phải có những quyết định hoặc hành động mà hậu quả cực kỳ quan trọng. Bất cứ một trụ sinh nào, dù chích, dù uống, cũng có thể gây phản ứng được, nhiều khi thật bất ngờ.Thuốc kháng đông (anticoagulant) có thể làm xuất huyết được. Ấy là chỉ nói tới một vài thứ thuốc mà bệnh nhân thường dùng hàng ngày mà không cần có toa bác sĩ.
Ngay đến những thuốc rất thông thường như Aspirine , nếu dùng quá liều hoặc dùng lâu, cũng có thể làm xuất huyết. Những thuốc để trị chứng đau nhức mà công chúng thường dùng không cần hỏi ý kiến bác sĩ như phenacetine , đã từng làm nhiều người chết vì làm cho thận đau , thuốc pyramidon có thể làm cho máu biến chất.
Nhiều tai nạn lưu thông xảy ra chỉ vì người lái xe đã lạm dụng thuốc an thần. Nhiều lực sĩ đã bỏ mạng vì dùng quá nhiều loại thuốc kích thích, chúng ta hẳn chưa quên vụ sản phụ sanh ra quái thai vì trong khi thai nghén đã dùng thalidomide.
Nhiều bệnh mới đã xuất hiện chỉ tại dùng thuốc bừa bãi, tỉ dụ cortisone đã làm cho loét bao tử, xương cốt tự nhiên gẫy, hoặc làm cho phát điên. Một vài loại sulfamide đã gây ra bệnh ngoài da chết người.
Không riêng gì thuốc trụ sinh mới gây những phản ứng bất ngờ như trên vừa nói mà bất cứ thuốc nào tuy không thuộc loại thuốc độc, dù uống hay chích (chích mạch hay chích thịt ) cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng dược. Có người đã chết vì chích sinh tố B1 (Bevitine)
Ấy chính vì hàng ngày người bác sĩ phải hành nghề trong những hoàn cảnh bất trắc như thế, chính vì lúc nào cũng phập phồng lo sợ mỗi khi cho bệnh nhân dùng thuốc và biết rằng thuốc càng có hiệu lực thì lại càng nguy hiểm, chính vì lúc nào cũng cảm thấy trách nhiệm của mình nặng nề nên người bác sĩ phải luôn luôn học hỏi. theo dõi những tiến triển của y khoa, phải có óc phê bình chớ đừng ham mới , chuộng lạ, nhất là phải có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, và sau hết, phải thận trọng, đầu óc lúc nào cũng phải nhớ tới câu châm ngôn cổ trong y học: primum non nocere (trước hết đừng làm hại)
********
Người bác sĩ có trách nhiệm từ khi khám bệnh, định bệnh, cho đến lúc kê toa hoặc bắt tay hành động.
Khám bệnh qua loa, khám tắc trách, quên hỏi một chi tiết để định bệnh cho chính xác là phạm lỗi.
Trách nhiệm khi sử dụng thời giờ: cần phân biệt bệnh năng nhẹ, để đi thăm trước hay thăm sau;nếu là bệnh cấp cứu thì tức tốc đi ngay, bất kể thời tiết hoặc đêm hôm, hi sinh cả giấc ngủ, bữa ăn, dù chính mình trong người không được khỏe.
Trách nhiệm khi giải thích cho bệnh nhân , sao cho cặn kẻ, rành mạch, để họ đừng hiểu lầm.
Trách nhiệm khi biên toa, biên cho rõ ràng để người dược sĩ có thể đọc được, nhất là để cho bệnh nhân đừng uống quá liều. Tôi nhớ có lần kê cho một bệnh nhân mỗi ngày uống 6 viên thuốc, và ghi rõ trong toa cách 4 giờ uống một viên. Thế mà thân chủ của tôi đã uống ngay một lúc 6 viên, nhưng may không việc gì. Căn dặn cẩn thận trên giấy tờ mà còn thế, huống hồ là không căn dặn, hoặc viết thoắng không ai đọc nổi.
Người ta thường than phiền về chữ bác sĩ khó đọc, tôi xác nhận điều đó , và cho rằng người thày thuốc nào, khi cho toa mà không biên rõ ràng, không dặn kỹ cách thức dùng thuốc- nhất là loại thuốc độc- nếu lỡ xảy ra tai nạn, thì người thày thuốc đó có lỗi.
Trách nhiệm khi khuyên bệnh nhân nghỉ ngơi, giải trí,hoặc đổi gió , đổi nghề.
Trách nhiệm khi cấp y chứng thư: phải cân nhắc từng chữ , từng câu. Một vài bác sĩ thiếu lương tâm chức nghiệp, đã bị hội đồng quốc gia Y sĩ đoàn khiển trách vì đã cấp y chứng thư mà không hề khám đương sự (như y chứng thư để lấy bằng lái xe tự động-giấy khám sức khỏe) hoặc bị truy tố trước pháp luật vì không thận trọng (cấp giấy cho phép dùng độc dược, ma túy…)
Lại còn trách nhiệm khi hành động nữa. Ngày xưa muốn định bệnh, người bác sĩ chỉ cần hai bàn tay và khối óc, nhưng ngày nay ,bởi có những tiến bộ của khoa học nên có nhiều phương pháp khám nghiệm rất chính xác, nhiều kỹ thuật cực kỳ tinh xảo, với biết bao máy móc phức tạp mà người bác sĩ không thể nào không biết được, và nếu quên không áp dụng kịp thời một phương pháp cần thiết để định bệnh rồi chữa cho thật sớm, tức là phạm lỗi vậy.
Nhưng cũng như thuốc men, không một phương pháp nào là không nguy hiểm đến tính mạng như: nhiếp ảnh động mạch, thông tim, thông ống dẫn tiểu…vv.Ngay đến chích thuốc gì vào tĩnh mạch, cũng có thể làm cho tim ngừng đập.
Ở trong bệnh viện người bác sĩ cũng có bổn phận dạy y tá không những về mặt kỹ thuật mà cón huấn luyện họ trên phương diện luân lý và đạo đức nữa.
Ngần ấy thí dụ cũng đủ cho ta thấy trách nhiệm của người thày thuốc sống ở vào thời đại này nặng nề là dường nào.
Có người sẽ bảo: nếu biết có thể nguy hiểm đến tính mạng, tốt hơn hết là đừng làm gì cả, nhưng “Nếu ai ai cũng nghĩ như vậy thì y học sẽ thụt lùi 50 năm, và hàng trăm thứ bệnh, ngày nay đáng lẽ có thể chữa khỏi, sẽ trở thành những bệnh nan y” (Hamburger)
Thành thử người bác sĩ không những phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm mà còn phải chịu trách nhiệm về những gì mình không làm nữa.
Vẫn hay rằng người bác sĩ không thể chữa được mọi bệnh, hoặc tự mình làm lấy được tất cả các công việc, nhũng họ phải làm những gì cần thiết để tìm cho ra bệnh và đẻ chữa.Và muốn tránh được phần nào những tai nạn bất ngờ, người bác sĩ, như trên vừa nói cần phải cân nhắc, đắn đo mỗi khi cho toa, và nhất là vì có những tiến bộ quá mau của y học nên người bác sĩ phải theo dõi những tiến triển của y học, phải có đủ khả năng chuyên môn để chữa bệnh, và sau hết phải chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình. Đây là một khía cạnh mới mẻ về trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi hiện tại.
Thật vậy! Cách đây mới khoảng 30 năm , những phương pháp thám chẩn và trị liệu rất thô sơ và ít ỏi, có thể đếm trên đầu ngón tay được và người thày thuốc chỉ cần chịu khó một chút là có thể hiểu biết hết.
Tôi nhớ hồi còn là sinh viên , được đọc cuốn sách của Ch.Fiessinger nhan đề: Trị bệnh bằng 20 thứ thuốc (La therapeutique en 20 medicaments) nhưng từ một phần tư thế kỷ nay, không có năm nào , tháng nào, có khi tuần lễ nào là không thấy xuất hiện một phương pháp định bệnh mới, hoặc một thứ thuốc mới để chữa bệnh. Ngày nay không một người bác sĩ nào có thể nhớ xuể tên các dược phẩm mà hàng ngày các cô trình dược viên đem chào tại phòng mạch, hoặc có thì giờ đọc những quảng cáo thuốc mới sản xuất. Còn nói về những bài báo mỗi tuần đăng trên các tạp chí y học đứng đắn, và những bản trần tình có giá trị do các danh sư viết rồi gửi tới các hội y học, nhiều đến nỗi giá để cả một ngày ngồi đọc nhan đề không thôi, cũng tài nào đọc hết.
Nói về sách y khoa, thời xưa , nghĩa là các đây mới vài chục năm, một cuốn sách có thể dùng được trong một thời gian tương đối khá lâu (năm mười năm là ít) nhưng ngày nay, sách đã đắt thì chớ, nhiều khi chưa đọc hết mà chỉ trong vòng 6 tháng, sách đó đã thành cổ rồi.
Bởi thế người bác sĩ suốt đời phải là một sinh viên hăng say học hỏi, và chính để bổ khuyết những thiếu sót của người bác sĩ nên ngày nay, tại các quốc gia tân tiến, y giới đã tổ chức cho bác sĩ học những lớp gọi là hậu đại học (enseignement post-universitaire) để họ biết những tiến triển của y khoa , dồng thời để đào tạo một số bác sỉ chuyên khoa , không ngoài mục đích phục vụ quần chúng, đem lại cho người ốm một bảo đảm.
Ngày nay , làm thuốc mà chỉ có lương tâm thôi chưa đủ. Có lương tâm mà không có học cũng vô ích. Có lòng nhân đạo, vị tha , bác ái, mà không có đủ khả năng chữa bệnh, cái đó rất nguy hiểm, nhất là khi gặp bệnh nặng. bởi vậy “ Bổn phận đầu tiên của người bác sĩ trong thời buổi này là phải có học thức vững chắc, phải luôn luôn đổi mới” (Jean Bernard). “Giá trị luân lý và đạo đức, theo lời giáo sư jean Gosset phải đi đôi với giá trị chức nghiệp, dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả. Bổn phận của người bác sĩ là phải biết đến nơi đến chốn và phải khéo léo về mặt kỹ thuật.”
Vẫn hay rằng bể học mênh mông , không một ai dám tự hào là biết hết, nhưng không biết mà không nhận thấy là mình không biết, đó là điều không thể tha thứ được. Rât tiếc là từ thời Hippocrate tới nay, không có một quy luật nào ghép sự dốt nát của người thày thuốc vào một trong những tội lỗi nặng.
Ngoài những trách nhiệm nói trên ra, người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm khi xét đoán nữa.
Đã là thày thuốc, không ai là không mong cho bệnh nhân của mình chóng khỏi, không ai là không muốn dùng những thứ thuốc mới nhất, để được tiếng là thày thuốc giỏi, nhưng nếu những thứ thuốc kia mới chỉ được báo chí ca tụng (dù là báo y học) mà chưa được các danh sư đứng đắn thí nghiệm và công nhận là không nguy hiểm, lại hiệu nghiệm, thì người bác sĩ phải thận trọng, đắn đo, cân nhắc, không được nhắm mắt cho bệnh nhân dùng, hoặc chiều theo thị hiếu của gia đình họ, để khỏi tiền mất tật mang, và có khi làm cho bệnh nặng thêm lên.
Chúng ta hiện đang sống trong một kỹ nguyên mà kỹ thuật và tốc lực là 2 thiên thần mới nên người thày thuốc khi chữa bệnh thường gặp trở ngại này: dùng thuốc men quá hấp tấp, bừa bãi, có khi táo bạo, những thuốc đó phần lớn chưa được nghiên cứu kỹ càng trên căn bản khoa học, có khi chưa đem ra thí nghiệm (cho súc vật) và vì vậy rất nguy hiểm, dễ gây ra tai nạn .
Vậy bổn phận của người bác sĩ là phãi điều tra kỹ lưỡng để hiểu rõ dược tính của những thứ thuốc mà mình kê cho thân chủ mình, nhất là phải có óc phê bình, phải chọn lọc ,xét đoán.
********
Trên đây là những trách nhiệm cá nhân mà hàng ngày người y sĩ phải lảnh trong khi hành nghề. Tuy nhiên, không phải chỉ có trách nhiệm cá nhân mà thôi. Ở thời đại này , không riêng gì trên lãnh vực y khoa mà trong mọi hoạt động , muốn đạt được kết quả mỹ mãn, cần phải có sự tham gia , đóng góp của nhiều người, tức là phải có một ê kíp để làm việc.
Nói cho đúng ra, đây không phải là vấn đề mới mẻ. Hãy lấy thì dụ một bác sĩ làm việc trong bệnh viện: tuy rằng dưới quyền chỉ huy cũa ông có một số giảng sư, phụ tá, sinh viên nội và ngoại trú, có sự phân công rất rõ rệt, nhưng lỡ khi có tai nạn ( do một sinh viên nội trú gây ra chẳng hạn) thì người bác sĩ trưởng phòng phải chịu trách nhiệm, không những trước lương tâm của mình mà còn trước pháp luật nữa.
Nhưng hồi xưa, người ta nhận thấy trong ê kíp làm việc đó có tôn ti trật tự, và người cầm đầu ê kíp có đủ khả năng chuyên môn, có thể kiểm soát được tất cả công việc của cộng sự viên của mình, vì trước khi lên tới bậc thày người bác sĩ đó đã tốn biết bao công phu học tập rồi. Nhưng ngày nay công việc của một ê kíp trong một phòng giải phẫu chằng hạn thật vô cùng phức tạp. Chung quanh vị bác sĩ trưởng có một số rất đông chuyên viên, nào người chuyên đánh thuốc mê, nào người chuyên về hồi sinh, về sinh vật học, hóa học, bệnh lý cơ thể, tim, quang tuyến..vv Không một người nào kể trên là không cần thiết. Người cầm đầu ê kíp đó không thể nào làm lấy một mình được, không tài nào kiểm soát được công việc của từng người một, mà chỉ biết những nguyên tắc đại cương của mỗi ngành thôi. Thành thử trách nhiệm của người chỉ huy đó phức tạp vô cùng. Vẫn hay rằng trước khi quyết định đã có sự thảo luận kỹ càng giữa ông ta và các cộng sự viên rồi, nhưng dù sao, quyết định tối hậu bao giờ cũng là công việc của một người thôi. Như vậy đủ rõ trách nhiệm của người thày thuốc cầm đầu một ê kíp nặng nề là dường nào.

TRÁCH NHIỆM TẬP THỂ

Khi nói tới trách nhiệm của người bác sĩ trong thời buổi này, không thể không đề cập đến vai trò quan trọng của y học xã hội, đã có từ 30 năm nay, nhất là ảnh hưởng của ngành đó tới nền kinh tế quốc dân.
Người bác sĩ thường phân vân khi phải dung hòa quyền lợi cá nhân của thân chủ mình và quyền lơi chung của xã hội. Tỉ dụ: một người vừa khỏi bệnh và cần nghỉ ngơi trong một thời gian để dưỡng sức, nếu người bác sĩ điều trị quá dễ dãi, cho họ nghỉ nhiều tất sẽ thiệt hại cho năng suất cũng như tài chánh của quốc gia. Tại một vài nước, cơ quan An ninh xã hội đã ngiên cứu biện pháp trừng phạt những bác sĩ thuộc vào loại vô trách nhiệm trên.

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Ngoài trách nhiệm tinh thần, cá nhân và tập thể ra , người bác sĩ còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nữa.
Có trách nhiệm trước lương tâm thôi chưa đủ, pháp luật cần phải bệnh vực quyền lợi của người bệnh , cần đem lại một phần nào cho họ một đảm bảo, ngăn ngừa những hành động cẩu thả, sơ xuất của người bác sĩ nữa. Tuy nhiên hai loại trách nhiệm: tinh thần và pháp lý không giống nhau hẳn.
Trách nhiệm tinh thần như vừa kể trên, hàng ngày , trong khi hành nghề, người thày thuốc luôn phải gánh vác. Trái lại pháp luật chỉ can thiệp khi nào, đối với đệ tam nhân, người bác sĩ phạm lỗi thôi. Nói cho đúng ra , nhiều khi chính vì sợ bị truy tố trước pháp luật mà người bác sĩ phải thận trọng, không được dùng thuốc quá liều, không được bó bột quá chặt, đừng để quên chiếc gạc hoặc kìm, cặp, khi giải phẫu một bệnh nhân v.v… Nhưng nếu lúc nào người thày thuốc, trong khi chữa bệnh, nhất là bệnh nặng, mà tâm trí cứ mãi nghĩ đi nơi khác, lo sợ bị tù tội, phải bồi thường, họ sẽ không dám có sáng kiến nữa, họ không dám thử một phương pháp trị liệu mới trong khi thâm tâm họ, họ biết có thể làm hơn được để cho bệnh nhân mau khỏi. Trái lại nếu họ làm liều, họ có thể bị phạt vạ, vì đối với pháp luật “rủi ro bi coi như khinh tội” (Jean Guitton)
Có một số luật gia đã thông cảm những nỗi khó khăn trên của người thày thuốc và cho phép họ săn sóc bệnh nhân theo những dữ kiện đã thâu lượm được của khoa học (données acquies de la science). Những thế nào là dữ kiện đã thâu lượm được ?
Không nói ai cũng rõ ngày nay y học đã tiến rất xa , và sở dĩ tiến được là nhờ có những bác sĩ đã không theo lề lối cũ , đã dám tiên phong, áp dụng những phương pháp táo bạo mới , nghĩa là không dựa vào những dữ kiện cổ điển. Tỉ dụ: người bác sĩ đầu tiên, khi đóng chiếc đinh đầu tiên lên một chiếc xương gãy, hoặc mổ tim, ghép thận…. họ đâu có dựa vào dữ kiện đã thâu lượm nào ?
Bởi vậy, nhà làm luật đã thay thế câu: dữ kiện đã thâu lượm được bằng câu: dữ kiện hiện hữu của khoa học (donnees actuelles de la science) mập mờ hơn. Tuy nhiên công thức này cũng không làm cho y giới thỏa mản, nên một đề nghị khác –mềm dẻo hơn- đã được đưa ra: người bác sĩ tùy theo từng trường hợp, phải cố gắng hết sức mình săn sóc bệnh nhân.
Ngoài ra để trút bớt trách nhiệm của người bác sĩ , luật pháp khuyên họ nên hỏi ý kiến bệnh nhân (hay gia đình) có khi bắt họ làm cam kết sẽ không khiếu nại hoặc đòi tiền bồi thường nếu lỡ ra, sau khi giải phẫu hoặc dùng một thứ thuốc mới, bệnh nhân có mệnh hệ nào. Nhưng thử hỏi một người không hề có một kiến thức nào về y học, làm sao có thể ví với một người đã từng học thuốc lâu năm lại có nhiều kinh nghiệm , và trút trách nhiệm kiểu đó cho họ là giả dối.
Thành thử người bác sĩ không thể rũ trách nhiệm cho những người không phải là thày thuốc mà phải có can đảm, có khi khổ tâm nhận lãnh TRÁCH NHIỆM về phần mình, phải cố gắng chữa như khi chữa người thân yêu của mình.
Tóm lại; PHẢI COI TRÁCH NHIỆM TINH THẦN NĂNG HƠN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ.

TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

Bởi có những trách nhiệm quá nặng nề như vậy nên người bác sĩ, xứng với danh từ đó, cần được chuẩn bị để lãnh lấy. Không những không sợ, không những không trốn tránh mà còn vui lòng nhận lảnh trách nhiệm của mình, dù biết trước mình sẽ lo âu, phải hi sinh bữa ăn giấc ngủ , và có khi bị tù tội nữa.
Nhưng chính những giờ phút nguy hiểm lại là những giờ phút sung sướng nhất trong đời người thày thuốc (như khi đẻ khó mà cứu được mẹ tròn con vuông).
“Chính nhờ có trách nhiệm mà y học được coi như một nghề cao quý nhất “ (Duhamel). Nhưng tinh thần trách nhiệm không phải người nào cũng sẵn có dễ dàng. Đối với người bác sĩ, tinh thần đó được rèn rèn luyện, hun đúc từ lâu, khi còn là sinh viên y khoa, nhờ được thực tập trong 6, 7 năm liền trong bệnh viện, nhờ sống trong một bầu không khí không sao quên được, vì hàng ngày tiếp xúc với cái đau , cái buồn và …cái chết.
Chính trong thời gian làm nội trú, hoăc trong những đêm trục, gặp khó khăn, hoặc đứng trước một tai nạn bất thình lình xảy ra, mình không trông cậy được vào ai hết, phải tự mình xoay sở lấy, phải có một quyết định gấp, một hành động kịp thời, chính trong những giờ phút đó, người sinh viên mới ý thức được rõ rệt những trách nhiệm của một nghề đầy nguy hiểm, nhiều lụy hơn vinh. Bởi sau mỗi quyết định, mỗi cử chỉ kia, có một tính mạng- tính mạng của một con người- đang bị đe dọa.
Thật không gì vất vả bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có sự huấn luyện nào cao đẹp bằng, cao đẹp ở chỗ người bác sĩ luôn luôn tôn trọng và bảo vệ sự sống còn của con người, không phân biệt giai cấp tôn giáo, chủng tộc,v.v… và đối với họ , chỉ có trách nhiệm trước lương tâm mới đáng kể thôi.
Vẫn hay rằng ở vào thời buổi này, ở trong nhiều giới, có những người trốn trách nhiệm, hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm, từ việc làm đến lời nói, có khi không hiểu trách nhiệm là gì cả, nhưng riêng đối với người bác sĩ , việc lảnh trách nhiệm là một lẽ sống của họ, và nếu không có gian nguy, nếu không có trách nhiệm tinh thần cá nhân thì không thể nào có y học được.

KẾT LUẬN

Ngày nay người bác sĩ phải là người có học thức căn bản vững chắc, hiểu rộng, biết nhiều. Khoa học càng tiến bộ, người bác sĩ càng phải được huấn luyện kỹ càng chu đáo.
Không những phải có kiến thức về khoa học, có nhiều kinh nghiệm mà phải là người có văn hóa để biết xét đoán, phê bình , bởi trong y học, không có bệnh mà chỉ có con bệnh, không bệnh nhân nào giống bệnh nhân nào cả.
Ngoài ra, người bác sĩ cũng phải là người có nhân phẩm, đạo đức, có thế mới làm trọn nhiệm vụ cao cả của mình là phục vụ đồng bào, bảo vệ sức khỏe và sinh mạng của quần chúng.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!

02/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Năm này, Dương Cẩm Chương 102 tuổi!
Đỗ Hồng Ngọc

BS Dương Cẩm Chương chuẩn bị cắt bánh sinh nhật (19/12/2011)


Năm 2012 này, bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương vừa lên… 102 tuổi! Nếu tính tuổi Tây thì ông cũng chỉ mới 101 thôi, còn tuổi Ta thì ông được 102. Tôi nghĩ với ông, nên tính tuổi ta bởi ông thường nói chín tháng mười ngày ở trong bụng mẹ mới là thời kỳ quan trọng nhất của con người. Thật khó tưởng tượng nổi một ông cụ 102 tuổi luôn sảng khoái, cười ha hả, đối đáp linh hoạt như một người tuổi trung niên! Thế mà chỉ trước đó ít lâu ông đã lên một cơn “rối loạn tri giác” nặng, hoàn toàn mất trí nhớ, rơi vào hôn mê sâu, bệnh viện phải cho xuất viện về lo hậu sự. Về đến nhà ông nằm mê man suốt hai tháng trời như thế rồi bỗng nhiên tỉnh lại, quát mọi người sao bày đặt tụng kinh om sòm bộ muốn cho ông chết sớm hả. Quả thật suốt hai tháng mê man đó ông đã phiêu diêu nơi miền … cực lạc, chỉ tiếc ông chẳng còn nhớ gì để kể lại cho chúng ta nghe.

Cách đây vài tuần, ông phone gọi tôi nhắc sắp sinh nhật ông, nhớ đến và phát biểu đôi câu đấy nhé! Tôi nhớ năm ngoái đến dự sinh nhật ông đã hỏi ông cảm thấy thế nào về ngày mừng đại thọ trăm tuổi này, ông cười “thấy già thêm chút nữa”! Năm nay tôi “tranh thủ” thăm ông sớm chớ đợi tới ngày sinh nhật thì đông đúc quá!
Vừa thấy tôi, ông đã từ trên giường lồm cồm ngồi dậy, hất tay người cháu đang định đỡ lưng mình, và “tấn công” ngay:
– Cuốn sách mới của anh có bài viết về tôi mà tôi chưa được đó nhé!
– Dạ, có phải chú muốn nói cuốn Nhớ đến một người không?
– Đúng rồi. Nhưng không sao! Tôi cũng đã có rồi. Một đứa cháu đã mua tặng cho. Anh viết về mọi người mà chẳng “kết luận” cái gì cả! Như ông Trần Văn Khê, anh viết về nhiều thời kỳ của ông mà cũng chẳng có kết luận nào cả? Vì thế mà trong giấy mời anh, tôi gởi theo mấy bức thư…
Thì ra vậy. Tôi đã hơi ngạc nhiên sao trong giấy mời của ông, tôi thấy có kèm thư của Ni sư Trí Hải, GS Trần Văn Khê và ông Cao Bá Ninh… . Thì ra ai nấy viết cho ông đều có “kết luận” rất rõ ràng.
Giáo sư Tần Văn Khê viết:
Thưa Dương Cẩm Chương đại huynh,
Kính nể đại huynh, một nghệ sĩ trong y khoa
Ngưỡng mộ đại huynh trong nghệ thuật hội họa
Khâm phục đại huynh, một nghệ sĩ trong nghệ thuật sống.
(02/01/2006)

Ni sư Trí Hải thì viết:
(…) các nhà báo nói Bác trông như một bá tước, họ nói cũng đúng, nhưng tôi thấy Bác như một nghệ sĩ và một thiền sư, ở tính bình dị hồn nhiên của Bác. Nhờ vậy mà Bác giữ mãi được sức khỏe và tâm hồn trẻ trung (Tuê uyển, 12.10.2000).

Còn ông Cao Bá Ninh viết trong một email gần đây:
Thư gởi một người thật quen
Mercredi 6 avril 2011 18h47
(…) Ông đã vẽ cho đời để đời đẹp hơn. Để có được đời sống vui và thoải mái, tôi rất thích lối sống, cách sống và thái độ thật rõ với ĐỜI của ông…(…).

– Thưa, ông Cao Bá Ninh này chắc cũng lớn tuổi rồi hả chú?
– Đâu! Hãy còn trẻ! Nhỏ hơn tôi đến 8, 9 tuổi! (nghĩa là cũng đã ngoài 90 rồi!). Ông đang ở Chicago.
Tôi tìm cách chuyển đề tài:
– Chú thấy… sống lâu có gì hay hông chú?
– Có chứ. Mình được thấy…
– Thấy cái gì?
Ông ngần ngừ: Thấy nhiều thế hệ…
– Còn cái chết?
– Chết là một giải thoát…
– Sau cái chết là gì?
– Không biết ! Chỉ nhớ một câu hình như của Lão Tử: sống sao cho khi sinh ra mình khóc thì mọi người cười, còn khi chết thì mọi người khóc mà mình cười…
– Mình biết gì đâu mà cười hở chú?
Ông làm thinh. Rồi thủng thẳng:
– Nghĩa là mình đã sống một đời sống trọn vẹn, hữu ích. Thời kỳ nằm trong bụng mẹ rất quan trọng…
– Còn trước hồi nằm trong bụng mẹ ?
– Không biết !
– Làm thế nào để có cuộc sống vui khỏe và… trường thọ như chú ?
– Cần 3 điều: Sức khỏe là một, việc làm là hai và tình yêu là ba.
Rồi ông nhìn tôi: Đây là thứ tình yêu rộng lớn… Nhưng mỗi ngày phải nhớ sám hối đó nhé! Cuộc đời nhiều vui khổ…
– Chú tập luyện, ăn ngủ thế nào ?
– Mỗi ngày tập thể dục đều 20 phút, ăn uống vừa đủ, ngủ nhiều.
– Chú còn vẽ không ?
– Hết vẽ được. Mấy ngón tay này…
Rồi ông đưa mấy ngón tay cho tôi coi…
…………………
Trong buổi họp mặt mừng Sinh nhật ông ở Chez Nous, tôi nói, khi tôi sinh ra thì ông đã là bác sĩ, khi tôi là bác sĩ thì ông đã về hưu… Sau này người ta có thể quên đi một Dương Cẩm Chương bác sĩ nhưng người ta sẽ còn nhớ Dương Cẩm Chương họa sĩ… Ông đã sống một đời sống tròn đầy, lao động và sáng tạo, đem lại niềm vui cho mình, cho đời. Ông sống hồn nhiên và hạnh phúc. Tôi vẫn luôn coi ông là « đại sư phụ » của mình…

……………………………..
Đọc thêm trên www.dohongngoc.com/web/
“Ke lu hanh khong met moi cua duong dai”

Nhà yêu nước Dương Bá Trạc là thân phụ của BS Dương Cẩm Chương

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang

01/01/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

“Thơm bàn tay nhỏ”…

Đỗ Hồng Ngọc
Không biết sao mỗi lần ra Hà Nội tôi đều muốn đi lang thang ngoài đường phố quanh Hồ Gươm và thực sự mừng rỡ khi nhìn thấy một gánh hàng rong có món cốm vòng xanh thơm ủ kín trên cánh lá sen với mấy quả chuối tiêu vàng rượm… Tất cả như gắn với một dĩ vãng mơ hồ nào đó trong ký ức của một người chỉ biết Hà Nội qua những trang sách cũ. Cái mùi hồ gươm, mùi trời thu, mùi cốm vòng… như quyện lấy nhau khiến cho người xa lạ là tôi bỗng quen thân đến sửng sờ.
Hình như cốm vòng chỉ thực sự là vòng khi nó nằm nhẹ tênh trên chiếc mẹt, trên quang gánh. Nó không còn là cốm vòng nữa khi nó được đóng gói, bao bì công nghiệp, ghi ngày sản xuất, hạn sử dụng đâu đó đàng hoàng… Chấm miếng chuối tiêu lên nắm cốm vòng có mùi sen tỏa nhẹ, rụng rơi lả tả những hạt ngọc xanh thơm cho bầy chím ríu rít… giữa Hồ Gươm chẳng khoái lắm ru?

Ăn hàng rong, thực ra, không phải ăn hàng mà là ăn rong. Cho nên tôi nghĩ dẫu thế nào đi nữa thì hàng rong vẫn sẽ cứ còn mãi, vẫn “cốm sữa vỉa hè thơm bước chân qua…” (TCS)!
Ở Saigon phồn hoa đô hội này cũng vậy. Sáng sáng, cứ đến một góc đường, mua một gói xôi đậu phọng, đậu xanh núp quen thuộc. Khi kêu không lấy dừa nạo, không lấy đường cát thì bà bán xôi lập tức xúc thêm một muỗng xôi đầy để bù ngay cho, với một nụ cười cảm thông… cùng người kiêng đường kiêng béo! Bà đã nuôi hai đứa con vào đại học chỉ nhờ cái thúng xôi núp bên hè phố đó hàng chục năm qua rồi!
Chắc không ai đếm xuể Saigon HàNội và các thành phố lớn nhỏ trong cả nước có bao nhiêu gánh hàng rong, bao nhiêu người sống nhờ hàng rong… Gần đây người nhập cư ngày càng đông, hàng rong không chỉ là thức ăn mà cả cây cảnh, hoa trái các loại… trở nên nhộn nhịp nhếch nhác hơn bao giờ hết, kém hẳn vẻ mỹ quan đô thị!
Tuy vậy, hàng rong vẫn tồn tại vì bao giờ cũng… rẻ, cũng ngon, giá nào cũng có, hợp với túi tiền của mọi người. Nó lại sà đến bên mình, lại đon đả mời mọc, cung cấp một dịch vụ thân thiện, gần gũi, giá rẻ, chiều khách hết lòng… Sợ rằng các nhà kinh doanh tầm cỡ khó mà nghĩ ra cách nào tiếp cận hay hơn! Với hàng rong, người ta được mời chào, được chọn lựa, được thương thảo… thỏa thích, luôn có sự tương tác người bán người mua. Khác xa với cảnh lạnh lùng đăm chiêu láo liêng cảnh giác lúc đẩy xe giữa các hành lang hun hút của siêu thị, để rồi khi sắp hàng trả tiền thì đối diện với vẻ lạnh nhạt, mệt mỏi, cau có của nhân viên đồng phục… không kể ánh mắt lườm lườm ngờ vực của những tay bảo vệ đằng đằng và những camera đặt khắp nơi quan sát từng cử chỉ…
Ngày xưa khi Saigon còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? Cũng có người nhờ nghe tiếng rao đó mà đi học kịp lúc! Bây giờ ít còn nghe tiếng rao nào như vậy mà thay vào đó là tiếng rè rè hết pin bánh mì saigon đặc biệt thơm ngon một ngàn một ổ hoặc keo dính chuột… Tiếng rao cũng đã công nghiệp hóa mất rồi!
Người ta đã bàn nhiều cách để dẹp hàng rong. Dẹp không được. Người ta đã bàn nhiều cách để gom hàng rong. Gom không được. Chẳng lẽ ở Bàn Cờ cần mua cục xôi mà phải chạy lên tận Văn Thánh? Cũng đã có người có sáng kiến hay, gom một số hàng rong vào trong một cái quán, bày biện trang hoàng bắt mắt, nhưng giá đắt, chờ lâu và lại xuất hiện cửa quyền… Hàng rong ở đó cũng chỉ là hàng mà hết rong!
Mục đích của việc muốn “quản lý” hàng rong là vấn đề mỹ quan đô thị và an toàn vệ sinh thực phẩm. Quả thật hàng rong ngày càng nhếch nhác trong một đô thị ngày càng chật chội. Hàng rong la liệt trước cổng trường, cơ quan, xí nghiệp… thường không đảm bảo vệ sinh. Làm cách nào đây? Cũng đã thử mở vài lớp tập huấn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Chẳng mấy người học. Cho kiểm tra tận nhà? Người đâu cho xuể? Kêu gọi tự giác? Còn lâu!
Vậy làm sao? Chỉ còn có cách chính người mua chủ động “đòi hỏi” ở người bán, buộc họ phải “thay đổi hành vi”. Khách hàng là “Thượng đế” mà! Một khi thượng đế đòi người bán phải mang găng tay, phải che khẩu trang, phải vệ sinh các vật dụng mới chịu mua thì… người bán đành chiều, nếu không muốn bị ế! Phụ huynh chỉ mua cho con em mình những món ăn hợp vệ sinh, người bán biết giữ vệ sinh. Chỉ cần “Ăn chín uống sôi” là đủ để phòng ngừa nhiều dịch bệnh, kể cả dịch tả. Dần dần các hàng rong nào không quan tâm “an toàn vệ sinh thực phẩm” sẽ bị ế dài dài và buộc phải thay đổi để tồn tại. Chỗ nào ngon, rẻ, tử tế và vệ sinh sẽ tự nhiên đông khách.
Ý thức an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay có vẻ đã dần khá lên. Bắt đầu thấy người bán hàng rong có đậy đệm, có mang găng, có muỗng vá múc riêng… khác với ngày xưa vừa bốc thức ăn vừa quẹt quẹt vào áo vừa thối tiền…
Lại nhớ “Mùa cốm xanh về/ thơm bàn tay nhỏ/ cốm sữa vỉa hè/ thơm bước chân qua…”.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 48
  • Trang 49
  • Trang 50
  • Trang 51
  • Trang 52
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email