Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Linh Thoại với THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

04/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Linh Thoại (Tuổi Trẻ) có một status trên facebook, viết mấy dòng cảm nghĩ về Thơ Ngắn Đỗ Nghê vừa gởi tôi để chia sẻ cùng ”Chú Ngọc”. Cô khoe viết linh tinh vậy mà đã có hơn 100 bạn ”like”… rồi đó chú!

Dưới đây là status của Linh Thoại về Thơ Ngắn Đỗ Nghê:

 

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho mẹ, Đỗ Hồng Ngọc, 2012)

Bài thơ này nhỏ mình biết đến lần đầu khi phỏng vấn tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong một quán café ở Quận 3, Sài Gòn. Chú và mình trò chuyện quanh quyển Thấp thoáng lời kinh, loanh quanh thế nào mà nói sang thơ ca, mình không còn nhớ rõ. Chú đọc cho mình nghe 4 câu đó, mình ấn tượng ngay. Những câu thơ nằm ngoài chủ đề câu chuyện nhưng mình vẫn tìm cách đưa vào bài viết. Trí nhớ mình đúng là thiên vị thơ, nhớ mãi 4 câu thơ từ hôm đó…

Với mình, ẩn sau “Bông hồng cho mẹ” là một ngày lễ dễ thương của văn hóa Phật giáo, văn hóa Việt: Lễ Vu Lan. Ẩn sau bài thơ giản dị đó là cả cái nhìn của phương Đông về hai cõi âm – dương. Mà thật ra, chẳng âm dương cách biệt gì cả, “ngoại”, “mẹ” và “con” đều ở đây, trong bài thơ nhỏ này, trong tâm tưởng của “con” – “con” nay đã nhìn về Còn – Mất trong cõi Ta-bà một cách nhẹ nhàng, an nhiên, dù đã bao mùa Vu Lan “con” cài hoa trắng, đóa hồng kia “con” “nhường” cho mẹ, mẹ ơi…

20 chữ thôi, mà khiến người đọc thấy cả ba “nhân vật” đều gần gũi, thấy yêu văn hóa Việt, yêu cuộc sống quá nhiều yêu thương và quá đỗi vô thường này…

Bẵng qua 5, 6 mùa Vu Lan, mình gặp lại bài thơ, lần này được in trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê (Đỗ Nghê là một bút danh khác của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc), không khỏi thấy vui, không khỏi muốn nghe chính lời tác giả vang lên, như buổi chiều năm nao…

Mình mang tập thơ về, để ở đầu giường, một hôm thức dậy, trí não còn ngái ngủ, quơ tay lên mở sách, đọc đúng một bài rồi gấp sách lại vì nước mắt chảy:

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con

Nỗi mất!
(La Ngà 5, 1990)

Mình may mắn chưa có trải nghiệm đau đớn như vậy về nỗi mất, vậy mà 19 chữ kia cứ như một vết cắt bất thần vào con tim nhỏ…Lại một câu chuyện của sống chết vô thường, của có – không – còn – mất, của cõi đời mong manh cõi lòng mong manh…

Đâu cần dông dài, đâu cần khoác áo gấm áo lụa cho ngôn từ, đâu cần chiều kích suy tưởng, thơ, đôi khi chỉ cần là tiếng nói chân thật giản dị của khoảnh – khắc – trái – tim – cất – lời – như – không – khác – đi – được, vậy mà cứa đau, vậy mà xoa dịu…Mối tương giao và tri âm giữa người thơ với người đọc, đôi khi cũng lạ lùng như thơ vậy.

Nãy giờ mình nhắc hai lần chữ “vô thường”, với cả tập thơ, đúng là lẽ vô thường, “bài học” có – không bàng bạc khắp trong cái nhìn về đất, nước, sóng, hơi thở, tình yêu, tuổi già, về buổi ngày, buổi đêm, về sợi tóc bạc, về tấm thân tứ đại này….

Tình thương ư? Có một nỗi nhớ rất “y học” thế này:

Thôi hết cồn cào
Thôi không quặn thắt

Chỉ còn âm ỉ
Chỉ còn triền miên

Thì thôi cấp tính
Thì đành kinh niên
(Nỗi nhớ, 1995)

Vô thường ư? Cái thấy của y học đi cùng với cái thấy của thiền học:

Ta bay vù vù trong không gian
Mà cứ tưởng nằm im
Trên gối

Mỗi ngày ta rơi rụng
Mỗi ngày ta phục sinh
Mà cứ tưởng không hề thay đổi…
(Vô thường)

Có một bài mang tên “Về Thiền tập” tác giả để cuối tập thơ, mình không chép lại ở đây, thay vì vậy, mình chép “bài thơ 2 chữ” tác giả nhắn cho mình, sau khi nhìn thấy cái tựa “giựt gân” không đúng tinh thần bài điểm sách trên 1 tờ báo mạng:

Thôi kệ!

(“Thôi kệ!”, hai chữ đó, với con là “thơ ngắn Đỗ Nghê”, là “thơ Trịnh Công Sơn”, là “thơ thiền’ đó chú Ngọc ơi!  🙂 )

Trong lời đề tựa cho tập “Kinh thi” từ ngàn năm trước (mà Đỗ Hồng Ngọc có dẫn lại), Chu Hy viết rằng thơ là giọng điệu cung bực “như không thôi đi được” của “những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than”. Nghĩ về thơ như thế, cảm thơ ai, cảm thế nào ắt phải tùy tạng người, tùy khoảnh khắc, tùy không gian, tâm thế…, thật không dễ luận bàn, có phải?. Như dễ gì lại có một sớm mai, 1 bài thơ nhỏ đánh thức một đứa người lớn đang ham ngủ vùi.

(Linh Thoại)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 17: ”Phật học & Đời sống” Chùa Xá Lợi

30/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 17: “Phật học & Đời sống”

Ngày 24.3.2018 tại Chùa Xá Lợi Tp.HCM (Saigon)

Chủ đề: Tứ vô lượng Tâm: TỪ, BI, HỶ, XẢ (1)

 

Cảm ơn nvquyen,

………………………………………………………………………………

Thư Mời

”Phật học & Đời sống” kỳ 18:

Thân mời các bạn

Thứ bảy 31.3.2018 lúc 15-16.30h tại Chùa Xá Lợi,

89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM.

tiếp tục chủ đề ”Từ Bi Hỷ Xả” (Ứng dụng thực tế).

Mời các bạn ”Tùy hỷ” tham dự,

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 16: Phật học & Đời sống

21/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 16: Phật học & Đời sống,

Chùa Xá Lợi Saigon, ngày Thứ bảy 17.3.2018

Do tôi bận đi Kontum, Gia Lai, Buôn Ma Thuột mấy hôm nên thầy Minh Ngọc đã ”chủ xị” hướng dẫn buổi thảo luận về ”Duyên Khởi”, tập trung chi đầu tiên cũng là chi quan trọng nhất trong ”12 nhân duyên”: Vô minh: Tại sao ”Vô minh”? Làm sao hết ”vô minh”?…

Dĩ nhiên, còn lâu… mới hết vô minh! Bởi Tâm Kinh Bát Nhã cũng đã nói: ”Vô vô minh diệc vô vô minh tận…”

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

PS: 1) Thứ bảy 24/3/2018 LLL vẫn tiếp tục như thường lệ, từ 15-16.30h tại chùa xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3 Tp.HCM

2) Có một blog mới của Phan Tấn Hải (Nguyên Giác), song ngữ, về Phật học rất hay:

http://vietrahula.blogspot.com/

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Kỳ 15: ”Phật học & Đời sống” chùa Xá Lợi, Saigon

12/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 15: ”Phật học & Đời sống”

chùa Xá Lợi, Saigon, Ngày thứ bảy 3.10.2018

Theo yêu cầu của một số bạn trong ”Lớp Lỏng Lẻo”, tôi post lên đây bản tóm tắt (plan) tôi soạn để triển khai thành bài Trò chuyện của mình tại lớp giúp các bạn tham khảo trước. Nay mai sẽ có bản video clip do  nvquyen gởi đến sau đầy đủ hơn. Dĩ nhiên, đây chỉ là vài nét tóm lược tôi ”vẽ” ra để giúp trí nhớ trong lúc trình bày và thường thì ít khi nào phải ”dòm” đến. Vậy, tùy nghi nhé.

Thân mến,

ĐHN

 

Kỳ 15: Duyên Khởi (tiếp theo). Chùa Xá Lợi, Saigon 10.3.2018 (photo: nvquyen)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Phan Chính: đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê

06/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bên bờ mây lãng đãng…

Phan Chính

(đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê– Nxb.Văn hóa-Văn nghệ 2018)

***

 Tập “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” là tập thơ thứ 6 của Đỗ Hồng Ngọc vừa phát hành, có thể đem đến cho người yêu thơ nhiều dự cảm ngọt ngào. Không những ngạc nhiên ở sự cố tình của anh khi chọn tựa tập thơ là “Thơ Ngắn” gắn với bút danh “Đỗ Nghê” từng đứng tên ở tập thơ đầu tay “Tình Người” xuất bản vào năm 1967, khi đó anh còn là một sinh viên Y khoa Đại học đường Sài Gòn. Trước khi có tập thơ này, Đỗ Nghê đã có những bài thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa, Mai, Tình Thương… từ những năm 1960. Nhưng sau đó bút hiệu Đỗ Nghê lại thay bằng tên thật Đỗ Hồng Ngọc trên các tập thơ và trên ba mươi đầu sách văn học, nghiên cứu về y học, thiền học mang tên Đỗ Hồng Ngọc. Sự trở lại trên tập thơ ngắn này được anh có lần giải thích, Nghê là họ mẹ, quê Tân Thuận và Đỗ là họ cha quê La Gi (Bình Thuận).

 

 

Nói như nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương: “Có phải vì cái tên Đỗ Hồng Ngọc quá nổi tiếng với tư cách một tiến sĩ y khoa đã phần nào che mờ tác giả như một nhà thơ?”. Còn với nhà thơ Đỗ Trung Quân lại phác họa chân dung Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc khá hình tượng, “Có một chàng thi sĩ một hôm vì lẽ gì đó bỏ đi làm thầy thuốc …”, để thấy phẩm chất thi ca thấm đẫm trong tâm hồn Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc có căn duyên với cái nghiệp thầy thuốc luôn đòi hỏi một tấm lòng.

 

Phan Chính – Đỗ Hồng Ngọc, Đường Sách Saigon 2.2018

Trong một ngày giáp Tết, cà phê với Đỗ Hồng Ngọc trên đường sách Sài Gòn, tôi mới hiểu ra tựa tập “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” là cách định hình có chủ ý, không phải theo ý nghĩ thông thường về hình thức là ngắn, dài, âm tiết hay tương tự trường phái Haiku (Nhật), Sloka (Ấn)… và lại gắn liền với bút danh Đỗ Nghê đã có cách đây từ hơn 50 năm. Khác hơn các tập thơ trước đó Giữa hoàng hôn xưa, Vòng quanh, Thư cho bé sơ sinh… xoay quanh cho một chủ đề, một chặng đời trải nghiệm, thì nay Đỗ Nghê chắt chiu lại giọt mật trong veo từ cảm xúc tận cùng, từ lãng đãng an nhiên của đất trời để có những câu thơ rất nhân văn, rất tình người.

Anh viết “Nhẹ như không có/ Có mà như không…”, hay là “Thực chẳng dễ dàng/ Sống trong cái chết/ Và chết trong cái sống…”. Chỉ có ở người ngộ được cái giá trị cuộc sống nhân sinh theo triết lý Phật giáo trong cõi vô vi tự tại. Những tập sách Nghĩ từ trái tim, Như thị, Cành mai sân trước, Gió heo mây đã về… lại liên tiếp tái bản nhiều lần mà vẫn được đón nhận, là sao? Bởi trong đó không những mang cái tư tưởng Phật học,Thiền học mà sự biểu cảm chân thực của một tâm hồn thơ nên đã dễ dàng chạm đến trái tim của con người. Cũng không thể thoát ly khỏi phiền não trong cuộc sống rộn ràng, Đỗ Nghê bất chợt nhận ra mình “Lá chín vàng/ lá rụng/ về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh”. Và cũng không khỏi những vướng bận theo vòng hệ lụy: “Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng/ Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…”. Khái niệm về thời gian không như là nỗi ám ảnh của con người, lại còn là sắc mà không với anh sao mà nhẹ nhàng và thanh thản “Giữa đêm/ Thức giấc/ Giữa ngày…” ở trong bài “Trái đất” chỉ có 6 âm tiết mà gợi cho người đọc đủ hình dung tâm thế của nhau, cách xa nửa vòng trái đất. Hay như bài Sóng: “Sóng/ quằn quại/ thét gào/ Không nhớ/ mình/ là nước…”. Với tên tuổi Đỗ Hồng Ngọc khó mà tách rời anh giữa cái thực của người thầy thuốc với một tâm hồn thi ca của Đỗ Nghê. Như anh từng khẳng định: “Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một- ngũ uẩn giai Không”.

PHAN CHÍNH

( Báo Bình Thuận ngày 27.2.2018 trg 9)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 14: “Phật học & Đời sống”: DUYÊN KHỞI

05/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

 

Kỳ 14: “Phật học & Đời sống”: DUYÊN KHỞI

“Ăn Tết” cả tháng nên phải chịu khó nhắc lại một chút trong Buổi sinh hoạt “Phật học và Đời sống” kỳ 14 này để bước vào Chủ đề mới: Duyên Khởi (Thập nhị Nhân Duyên), một chủ đề hứa hẹn ‘hấp dẫn’!

Đúng là Duyên Khởi! Chùa Xá Lợi đang sửa chữa nên lớp cũ ồn không chịu nổi phải dời đến một điểm khác. May quá, hội trường còn trống, mọi người xúm vào sắp xếp lại ghế bàn đâu đó đàng hoàng.

Mình nhắc lại cái tên “Lớp Lỏng Lẻo” để mọi người an tâm: không có ghi danh, không có học phí, chẳng ai là thầy là trò chi cả, chỉ cùng nhau trao đổi, học hỏi trên tinh thần khoa học và chia sẻ kinh nghiệm, ứng dụng vào cuộc sống những lời Phật dạy sao cho an lạc, hạnh phúc, cho mình, cho người, cho thiên nhiên… Dĩ nhiên, người nào rỗi rảnh hôm nào cứ đến LLL, và bận thì cứ vắng… chả sao cả!

Nhắc lại buổi Tất Niên không chuẩn bị trước đã trở thành buổi trao đổi chân thành để “đánh giá” lại thời gian sinh hoạt vừa qua và rút kinh nghiệm. Quyền, người phụ trách quay clip đưa lên mạng thông báo đến nay đã có 700 người đăng ký theo dõi thường xuyên.

Trong phần “ôn tập”, mình nhắc lại các buổi học trước một cách tóm lược và giới thiệu chủ đề mới. Buổi thảo luận khá sôi nổi. Cư sĩ Tô Văn Thiện trình bày các nét lớn về “12 nhân duyên” và Cư sĩ Minh Ngọc phân tích chi tiết (sơ bộ) về Duyên Khởi, Duyên Sinh…

Nay mai sẽ đưa video clip do Quyền ghi để các bạn theo dõi.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GHI CHÚ:  nvquyen vừa gởi video clip buổi sinh hoạt Kỳ 14 “Phật học & Đời sống”. Xin gởi đến các bạn tham khảo.

Chiều nay Thứ bảy 10/3/2018 buổi Sinh hoạt Kỳ 15. Thân mời các bạn tham dự như thường lệ từ 15-16h30.

Rất cảm ơn nvquyen.

ĐHN

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Thư gởi bạn xa xôi: Lang thang mấy ngày Tết

01/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi:

Lang thang mấy ngày Tết

Hình như già quá rồi nên lúc này mình không có cảm giác Tết là gì cả bạn ơi. Cũng may, Mùng hai Tết (17.2.2018) đi theo gia đình làm một chuyến giang hồ vặt, từ Saigon lên Đà lạt, rồi vượt đèo… Khánh Vĩnh về Nha Trang, rồi từ Nha Trang về Phan Rang, PhanThiết, trở về Saigon tối ngày Mùng 7. Cũng có thể gọi là có du… xuân! Để kể bạn nghe vậy nhé.

Khởi hành sớm. Gần đến chân đèo Bảo Lộc thì ghé một quán ven đường quen thuộc bên bờ suối uống café và ăn… sầu riêng. Sầu riêng vườn, ngon, không phải thứ sầu riêng đáng ngại ngâm thuốc gì đó. Đường đi Đalat bây giờ tốt rồi, chỉ có cái cứ phải đóng tiền BOT hoài vậy thôi. Đalat ngày Tết đông ken, không có chỗ ở, phải vào tận nơi hẻo lánh, xa xôi, cuối hồ Tuyền Lâm, cách Thành phố hơn 10km, gần như bị ”cách ly”. Tuy là cái resort hoành tráng giữa rừng thông nhưng mình thấy không hạp cái tạng lắm. Hoành tráng quá, hùng vĩ quá, giữa rừng thông bạt ngàn và dòng nước hồ phẳng lặng. Mình mong có chút gì đó lãng mạn như căn nhà gỗ, ngọn lửa hồng, vườn hoa dại bên bờ suối…

Đà Lạt, Mùng 2 Mậu Tuất 2018

 

Ngày hôm sau thì mình… trốn ra ngoài một chút, ghé thăm nhóm bạn Thiền ca Hoa Sen, uống một tách trà thơm và ký tặng Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho các bạn qua Thảo Nhiên. Rồi ghé nhà Thuần Nhiên Nguyễn

Nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh và Đỗ Hồng Ngọc.
Đa Lạt, Mùng 3 tết Mậu Tuất 2018

Đức Vinh, người nhạc sĩ của Gia đình Hoa Sen hôm Noel đã phổ nhạc bài thơ “Giỗ Một Dòng Sông”, nay đã có tên chính thức của bài nhạc là ”Sông ơi cứ chảy…”. Ngôi nhà thiệt xinh xắn, thơ mộng. Thời gian không nhiều nên chỉ trò chuyện ba điều bốn chuyện với Vinh và Sen, bà xã Vinh, người đêm Noel rồi đã ngồi nghe suốt cả giờ bài hát vừa được Vinh phổ nhạc. Mong có dịp nào lại đến căn nhà đầy âm nhạc này cùng các bạn thiền ca Hoa Sen. Gởi tập thơ cho Mậu Pháp (Ngũ Hành Sơn) và Nguyễn Phu. Mậu Pháp đang áo dài khăn đóng ngồi ngoài chợ Đalạt viết thư pháp cho mọi người… qua đường như một ông đồ chưa già, bày mực tàu giấy đỏ giữa chợ hoa.

Từ nhà nhạc sĩ Thuần Nhiên, mình ghé qua thăm nhà thơ Nguyễn Dương Quang. Đã lâu không gặp. Ai cũng già đi rõ. Tặng Quang tập thơ rồi anh em chụp cái hình kỷ niệm. Nghe Phan Chính nói hình đó đã được Quang đưa lên fb liền nên thời buổi bây giờ muốn giấu ai cũng không dễ nữa!

Đã đến giờ hẹn cùng gia đình đi thăm Cầu Đất, đồi trà Tea Hill Farm gì đó. Ôi bạn ơi, con đường Dalat đi Dran bây giờ cũng tốt lắm rồi, không phải như xưa bọn mình đi vất vả hồi hộp. Mùa này không còn hoa quỳ vàng.

 

Tea Hill Farm Cầu Đất Dran
Mùng 3 tết Mậu Tuất 2018

Trà xanh Cầu Đất.

Cầu Đất đây rồi. Mưa. Mưa xuân Đalat. Thoáng cái lại nắng lên. Rồi mưa nữa. Gió vù vù. Mặc, những tà áo trắng áo xanh vẫn len lỏi giữa đồi trà. Lạnh ngắt. Thiệt hạnh phúc khi vào được quán cafe bên trong. Làm một bình trà xanh đặc sản. Công nhận quá ngon. Mấy nhỏ ăn chút gì đó vì đã quá trưa. Ở đây chỉ còn cách Dran chừng vài chục km nữa thôi. Đến Dran sẽ có nem ngon nhưng ngày Tết chắc nghỉ bán.

Sáng mùng 4 tết, từ Dalat về Nha Trang. Xe cộ các nơi đổ về Đalat nườm nượp. Một cái xe khách bị cháy trên đèo Prenn làm kẹt đường thêm. Mình đến Dacasa, định ghé làm ly cafe mà đông nghẹt. Không gặp Thế Hùng, Thanh Tâm gì cả. Ai nấy chắc mệt bơ phờ vì khách quá đông. Xe đổ về Nha Trang cũng nhiều. Con đường quốc lộ 27B này rất đẹp, nhưng đèo Khánh Vĩnh thì quá ư nguy hiểm, thường có những vụ sạt lở núi. Mấy tuần trước đã có tai nạn xảy ra. Năm xưa mình đã từng đi đèo này một lần. Sương mù giăng kín không thấy đường. Tài xế chỉ nhìn vệt trắng giữa đường mà mò đi, giữa một bên là núi dựng đứng và một bên là vực sâu hun hút. Hôm nay nắng đẹp nhìn rõ mới hết hồn! Cũng còn nhiều chỗ sạt lở đang sửa. Vậy mà xe cộ cũng khá đông, nhất là xe gắn máy 2 bánh từ Nha Trang lên Đàlat ào ào…

 

Đèo Khánh Vĩnh (Internet).
Cung đèo dài nhất Việt Nam (35km, có nhiều chỗ bị sạt lở, và sương mù giăng giăng…)

Rồi cũng đến Nha Trang. Ôi ồn ào, xô bồ, nhộn nhịp, nhễ nhại… Lại phải ở một nơi xa thành phố, cách Nha Trang cũng vài chục cây số. Cũng lại là một resort đẹp, hùng vĩ, cheo leo giữa các gộp đá trên đường từ Cam Ranh về Nha Trang. Người Hoa là người Hoa! Đến nỗi một bữa nghe một nhóm người nói tiếng Việt, mình mừng rỡ: Ôi gặp đồng hương đây rồi!

Sáng mùng 5 tết, mình lại lẻn ra Nha Trang. Ôi Nha Trang ngày về! Không có bãi khuya, không có con ốc bơ vơ nằm trên cát… chỉ có người là người tấp nập ngược xuôi xí xô xí xào… Đến một góc đường, tìm cái quán cafe gia đình thấy vắng ngắt. Nghỉ Tết, chưa bán.

Phone cho một nhà báo. May quá. Quán cafe nào cũng đông nghẹt. Cảm ơn điện thoại di động nghe. Gặp Ngân Hà và mấy nhóc, Thu Trà, bác sĩ Bình… rồi Ngân Hà đưa đi thăm Thầy Phước An ở chùa Hải Đức.

Trò chuyện với Thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang, M5 Tết Mậu Tuất 2018

Hôm sau, Mùng 6 Tết đi Ninh Hòa, thăm cặp uyên ương Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, kéo nhau đến quán cafe Deja Vu, nơi Thân Trọng Minh và cả Thu Vàng cũng đã đến làm show nhạc sống hôm nào. Vợ chồng chủ quán đi vắng, có bà mẹ và cô em giúp. Không biết Huyền Chiêu giới thiệu lúc nào mà cô Ngọc Anh em chủ quán xin được chụp một tấm hình với mình vì đã từng đọc sách, nhất là về Phật học… Rồi cô còn ”vấn đạo” nhờ giải đáp thắc mắc các thứ! Ông bố cho biết mới hôm qua, Ngọc Anh nói mong sao được gặp bác sĩ ĐHN, vậy mà sáng hôm nay lại gặp đây, thiệt là chuyện lạ!

Cafe DEJA VU Ninh Hòa với Khuất Đẩu/ Huyền Chiêu
(Mùng 6 tết Mậu Tuất, 2018)

Rồi vợ chồng mình cùng KĐ/HC ghé về thăm Dục Mỹ, nơi ngày xưa,  năm 1970, mình đã từng ở mấy tháng, làm việc ở Bệnh viện LTC. Lúc đó LaNgà chưa đến hai tuổi, hằng ngày mình vẫn đưa xuống suối tắm và chiều chiều chở đi lòng vòng bằng xe Lambretta quanh cái phi trường nhỏ… Mới thôi mà đã gần nửa thế kỷ. Chỗ mình ở ngày xưa hình như chỉ còn bóng dáng cây dừa vút cao. Ngôi chùa nay quá to. Nhà thờ vẫn còn đó.  Bệnh viện, phi trường nay đều đã san phẳng trồng mía… Nhớ bác sĩ Nguyễn Xuân Quang, người bạn cùng khóa, cùng về công tác nơi này một lượt…

Mùng 7 về Phan Rang. Định ghé thăm Võ Tấn Khanh mà lạc đường nên thôi. Về thẳng Phan Thiết ghé thăm nhà thơ Liên Tâm, gởi mấy tập thơ cho Nguyễn Như Mây, Lê Nguyên Ngữ, Phan Anh Dũng…

Trao đổi đầu năm ở Đường Sách với Lê Hoàng

 

 

 

 

 

 

 

 

Về lại Saigon đã thấy nhớ Đường Sách. Mùng 8 ra thăm sớm, gặp Lê Hoàng bàn chuyện tương lai, gặp lại những con người, những gương mặt lạ mà quen như tự thuở nào xa.

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Ngày Thầy Thuốc 27-2: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

27/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc

 

Báo THẾ GIỚI TIẾP THỊ ONLINE
Thứ hai, 26/02/2018
20:10 GMT + 7

thegioitiepthi.vn Y khoa là một môn khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chia sẻ với Thế Giới Tiếp Thị Online như vậy nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2).

Thế Giới Tiếp Thị Online: Là một người làm chuyên môn về khoa học có vẻ hơi khô khan, nhưng những tác phẩm của ông lại cho thấy ông là một nghệ sĩ khoáng đạt, trẻ trung và rất nhạy cảm. Vậy thực ra ông “ưa” con người nào của mình?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: Tôi “làm thơ” trước khi “làm bác sĩ”… Bác sĩ là một cái “nghề”, còn thơ là một cái “nghiệp”. Thời trung học, tôi đã có những bài thơ đăng báo. Nó tự nhiên mà đến. Nó gần như không học, gần như không “làm”. Khi đậu Tú tài II xong (năm 1962) thì tôi thi vào trường Y để học “làm bác sĩ’’. Vùng quê tôi nghèo, thiếu thầy thiếu thuốc, tôi nghĩ làm bác sĩ thì có thể giúp ích được cho mình và cho nhiều người hơn. Nhưng vì đam mê văn chương, tôi ghi danh học thêm bên Văn khoa, và sau đó còn học thêm bên Xã hội học. Thời đó, chỉ có y khoa, sư phạm và kỹ thuật Phú Thọ mới phải thi đầu vào, còn các ngành khác chỉ cần ghi danh học. Nên học thiệt là “sướng’’!

Chính học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã khuyên tôi nên học bác sĩ. Ông nói, làm bác sĩ giúp ích được cụ thể cho người, rồi chừng mươi năm hành nghề, có dịp tiếp xúc với bao cảnh đời, bao con người, nếu có tâm hồn nghệ thuật thì sẽ có thể viết văn. Nhiều nhà văn xuất thân bác sĩ như Sommerset Maugham, Tchekov, Cronin…

Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật. Nó gắn liền với thân và tâm của con người. Mà cái gì đã liên quan đến con người thì luôn là một “nghệ thuật’’ chứ, phải không? Cho nên ngày nào y khoa trở thành hoàn toàn máy móc thì nguy cho con người lắm! Khi máy móc hóa hay thương mại hóa mối quan hệ “thầy thuốc – bệnh nhân’’ thì có nhiều vấn đề đặt ra.

Khi thực tập ca “đỡ đẻ” đầu tiên ở Bênh viện Từ Dũ (1965) tôi đã viết bài thơ “Thư cho bé sơ sinh’’. Tập thơ đầu tay của tôi, năm 1967, có tên là Tình Người, khi đang học năm thứ 5 tại Y khoa Đại học đường Saigon.

Tóm lại, y khoa không xa lạ với “một nghệ sĩ khoáng đạt, trẻ trung và nhạy cảm”.

Vậy  “Ưa con người nào của mình hơn” đâu cần phải trả lời nữa phải không?

Theo ông, nghề bác sĩ ở Việt Nam có thể coi là thiệt thòi không khi thu nhập và áp lực công việc chưa tương xứng?

– Tôi là một thầy thuốc già, cho phép hay nhắc chuyện xưa để “ôn cố tri tân” nhé. Thời tôi học Y phải 7 năm. Thi đầu vào không dễ, đậu chừng hơn 10%. Tôi còn nhớ ngoài những môn lý, hóa, sinh, sinh ngữ… thường lệ, còn có thêm 20 câu hỏi tổng quát về văn hóa… như âm nhạc, hội họa, sử, địa, về Biển Thước, Hoa Đà, Hải Thượng Lãn Ông, Hippocrate và những câu về đời sống xã hội như “giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký?”, “giá than trên thị trường bao nhiêu một ký?”… Rõ ràng là một cách thăm dò không chỉ kiến thức tổng quát của người thầy thuốc tương lai mà thăm dò cả sự hiểu biết về tình hình đời sống thực tế xung quanh.

Ra trường phải trình luận án để được cấp bằng Tiến sĩ Y khoa quốc gia (Doctorat en Medecine, Diplôme d’’Etat) và phải ghi danh vào Y sĩ đoàn (Chữ Y sĩ ở đây để chỉ người làm nghề y chớ không phải một cấp bực trung cấp trong ngành y như sau năm 1975). Y sĩ đoàn (nghiệp đoàn nghề nghiệp của bác sĩ) sẽ quản lý, giám sát nghề nghiệp cho bác sĩ, đảm bảo hành nghề đúng nghĩa vụ và lời thề Hippocrate khi tốt nghiệp, xử phạt khi có sai phạm, bênh vực khi bị oan khuất, hành hung… Nhờ hệ thống này, nghề y được tôn trọng vì họ luôn xử lý công bằng, tránh những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài, đỡ gánh nặng cho quản lý nhà nước, hành chánh. Tiếc thay, sau này không còn nữa nên nhiều vụ kiện tụng xảy ra, nhiều vụ bạo lực hành hung bác sĩ đáng tiếc!

Về đời sống bác sĩ, thì lương hướng khi ra trường với chỉ số 720 (học 7 năm) được khoảng 12 ngàn đồng (giá vàng thị trường là 9 ngàn) nên họ chỉ phải lo tập trung cho nghề nghiệp, sao cho giỏi, cho có đạo đức tốt, thăng tiến trong nghề nghiệp. Dĩ nhiên cũng có những vụ không hay… nhưng đều được Y sĩ đoàn xử lý thỏa đáng.

Ngày nay, bác sĩ học 6 năm, cũng “trầy vi tróc vẩy” nhưng ra trường được coi như ngang cấp cử nhân 4 năm, hệ số lương 2.34… gì đó nên nơi nào, người nào cũng phải lo “cải thiện đời sống”…  Dĩ nhiên bác sĩ thời nay nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học y học nên tài năng hơn chúng tôi ngày xưa nhiều. Sự vô lý ở chỗ một cử nhân 4 năm, học thêm 2 năm thì đã là “thạc sĩ” còn bác sĩ 6 năm thì coi như cử nhân!

Rõ ràng với nghề y ở Việt Nam ngày nay “thu nhập và áp lực công việc chưa tương xứng”, nhưng đáng ngại hơn là ngày càng nhiều vụ vi phạm đạo đức, càng nhiều vụ hành hung thầy thuốc không được giải quyết rốt ráo. Có cái gì đó bất thường ở đây trong mối tương quan thầy thuốc – bệnh nhân vốn đầm ấm từ ngày xa xưa.

Mối tương quan thầy thuốc – bệnh nhân đã có nhiều thay đổi, thưa bác sĩ? 

– Thời xa xưa, thầy thuốc là “phù thủy”, mối quan hệ là bất bình đẳng, cha chú, gọi dạ bảo vâng. Rồi khi ngành y bị thương mại hóa, bệnh nhân trở thành khách hàng, người tiêu thụ (consumer) còn thầy thuốc thành người cung cấp dịch vụ (health care provider) thì “khách hàng là Thượng đế”, nên phải chiều chuộng bệnh nhân, cung cấp càng nhiều dịch vụ càng tốt để làm… kinh tế!

Mới đây, ở Mỹ đã có một phim báo động: Một nền y học vì đồng tiền (Money-driven Medicine). Cả hai mối tương quan đó đều không tốt, không phải. Ngày nay khuynh hướng là cần có sự hợp tác, đồng thuận hai chiều và cần tôn trọng tính tự chủ của hai bên (autonomy). Vì thế vai trò truyền thông giữa thầy thuốc bệnh nhân trở nên rất quyết định, nên đã có khái niệm “truyền thông trị liệu” (therapeutic communication).

Người thầy thuốc hôm nay cần có nền tảng văn hóa rộng. Học về truyền thông, về khoa học hành vi (tâm lý, xã hội, nhân chủng…), về giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe, quan tâm tới chất lượng cuộc sống chứ không chỉ biết chữa bệnh tật. Mô hình bệnh tật nay cũng đã thay đổi. Bệnh nhân ngày càng trở thành “thầy thuốc” cho chính mình, không bị lệ thuộc vào thầy vào thuốc như xưa. Thế nhưng cũng có những nguy cơ như dựa vào thông tin trên Internet bệnh nhân tự chẩn đoán, tự điều trị dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khác.

Một cuộc sống hạnh phúc, một cá nhân hạnh phúc, theo quan điểm của ông là gì?

– Có thứ hạnh phúc bền bỉ, lâu dài và có thứ hạnh phúc mong manh, chốc lát. Một người trúng số độc đắc sẽ rất hạnh phúc, một người đoạt vương miện hoa hậu sẽ rất hạnh phúc… Nhưng đó thường là hạnh phúc trong chốc lát, vì chẳng bao lâu nó bay biến… Hạnh phúc lâu dài thì đó chính là sự an lạc trong thân tâm. Có thể tóm trong mấy chữ là từ bi hỷ xả. Có tâm Từ ái thì tâm hồn luôn rộng mở, biết yêu mình, yêu người, yêu thiên nhiên, biết bảo về môi trường sống, môi trường văn hóa tốt đẹp; có tâm Bi mẫn thì biết sẻ chia, đùm bọc, giúp đỡ… Có tâm Hỷ thì xóa bỏ được lòng ghen ghét, ganh tỵ, hận thù và có tâm Xả thì biết đủ, kham nhẫn tri túc…Thứ hạnh phúc đó có thể sẻ chia, lan tỏa.

 

Hiện nay trong thời đại đầy bất trắc, lo âu, một số quốc gia đã đi tìm một thứ hạnh phúc bền bỉ lâu dài cho quốc dân qua khái niệm GNH (Gross National Happiness = Tổng hạnh phúc quốc gia) thay vì GNP (Gross National Product = Tổng sản phẩm quốc nội) là chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Người ta nhận ra nhiều quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao mà người dân không có được hạnh phúc. GNH dựa trên 4 yếu tố chính: bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa, sức khỏe và tuổi thọ, chánh quyền vì dân…

Tóm lại, hạnh phúc cá nhân quyện trong hạnh phúc tổng thể.

Trân trọng cảm ơn bác sĩ đã chia sẻ với bạn đọc Thế Giới Tiếp Thị Online.

HOA ĐINH

…………………………………………………………………………………..

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nguyên Giám đốc Trung tâm Truyền thông – giáo dục sức khỏe, được biết đến với nhiều tư cách: bác sĩ, nhà văn; nhà thơ, nhà tư vấn tâm lý…

Ông đã xuất bản 40 tác phẩm với nhiều chủ đề, cho nhiều đối tượng, lứa tuổi khác nhau. Một số tác phẩm của ông được tái bản nhiều lần và được công chúng yêu thích: Già ơi chào bạn, Gió heo may đã về, Thư gửi người bận rộn, Nghĩ từ trái tim, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Những người trẻ lạ lùng, Viết cho tuổi mới lớn…

……………………………………………………………………………………

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Dông dài cùng thơ ngắn Đỗ Nghê

25/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Dông dài cùng thơ ngắn Đỗ Nghê

(Tuổi Trẻ 22.02.2018)

Lam Điền

 Thật ra, cái duyên của thơ Đỗ Nghê (một bút danh bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) chính là ở chỗ ngắn. Sau 5 tập thơ trình làng trong hơn nửa thế kỷ qua, đến nay, ông tự gọi tên tập thơ mới nhất của mình là “thơ ngắn”, dù hai chữ ấy kỳ thực không gây chú ý bằng cái tên “Đỗ Nghê” một lần nữa xuất hiện trong cộng đồng yêu thơ với nhan đề Thơ Ngắn Đỗ Nghê. Bởi từ những tác phẩm đầu tiên trình làng hồi thập niên 1960-1970, Đỗ Nghê đã có một kiểu duyên ngầm trong những bài thơ tượng thành từ sự bùng phát của cảm xúc hay ông tự chưng cất những suy tư đến cái độ mà Chu Hy xưa kia từng gọi rằng: như không thôi đi được.

Và nay, bạn yêu thơ dần dần nhận ra ý vị trong thơ ông cũng chính ở chỗ ngắn gọn của câu từ đã đẩy người đọc đến những hành trình dông dài của tâm sự và cảm nhận. Giở tập thơ mới in, thấy dấu vết “thơ ngắn” từng gắn bó trong hành trình thơ Đỗ Nghê từ mấy chục năm trước. Có những bài thật ngắn, trước sau chỉ có 6 từ: Giữa đêm/ thức giấc/ giữa ngày. Nhưng rồi cái “ý tại ngôn ngoại” của thơ ông lại nằm ở thông tin thuộc về… lạc khoản: Bài thơ ông làm trong chuyến đi Boston, cái không gian nửa vòng trái đất được đo bằng một giấc ngủ rồi vo lại trong 6 chữ kia, cũng là một “ca” thú vị về chuyện thơ được sinh ra như thế nào.

Ấy nhưng chỗ thú vị của thơ Đỗ Nghê lại nằm ở những dông dài. Làm sao dông dài cho được trong khi ngôn từ ngắn gọn vắn tắt thế kia? Thì như vậy mới là thơ, mới là thơ đáng đọc. Đỗ Nghê có thủ pháp kéo dài thơ bằng âm thanh chứ không phải bằng số chữ, hãy nghe ông tả cơn mưa trên Đông Hồ – Hà Tiên: Mưa trên Đông Hồ mưa mênh mông/ Tô Châu nghiêng mình nghe mưa giăng… Thủ pháp dùng đơn thanh cho thơ từ dạo “Ô hay buồn vương cây ngô đồng” của Bích Khê đến nay không còn mới nữa, nhưng dùng thủ pháp ấy để kéo dài câu thơ cho một cơn mưa dai, thì nghệ thuật đơn âm của thơ Đỗ Nghê lạ hẳn. Và rồi khách yêu thơ sẽ thấy mình bị cuốn vào những dông dài dễ thương trong thơ Đỗ Nghê tự bao giờ. Gạt qua những thủ pháp câu chữ, mới thấy tứ thơ và cảm xúc của Đỗ Nghê thật miên man bất tận. Ông viết về Hội An sớm, rồi lại viết Hội An đêm, ý tứ nào cũng đặc biệt: “mái chùa ôm vầng trăng” thuộc về Hội An sớm, mà “những linh hồn thức dậy” lại thuộc Hội An đêm. Rồi miên man nối những suy nghiệm cuộc đời: Đi giữa Sài Gòn/ phố nhà cao ngất/ hoa nở rực vàng/ mà không thấy tết…, nối những ý đạo bất ngờ như hoát ngộ: Tham chẳng còn/ sân cũng hết/ si đã tuyệt/ Niết Bàn/ tịch diệt/ để làm chi… Nhưng dông dài đáng kể của thơ chính ở chỗ thơ tình. Cái tình trong thơ Đỗ Nghê làm cách đây bốn mươi tám năm (1970) vẫn tươi nguyên bốc khói như không khoảng cách với thời nay: Và trong mắt nàng thời gian bốc khói/ Ta giật mình nghe ta đã ba mươi/ Ba mươi năm khà khà ba mươi tuổi/ Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi…

Có lẽ Đỗ Nghê và khách đồng điệu thơ ông cũng vậy: làm sao mà nguôi được!

(Lam Điền)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gío heo may đã về ...., Góc nhìn - nhận định

”Ở một nơi ai cũng quen nhau”

05/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

”Ở một nơi ai cũng quen nhau”

Đó là tựa một tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Hình như là tình yêu, Cô bé treo mùng, Học Trò… hồi đó nhớ không? Nhưng ở đây mình chỉ ”mượn” để nói về buổi họp mặt, ra mắt Quán Văn số 52, Xuân Mậu Tuất 2018 của Nguyên Minh và nhóm bạn.

Ngộ lắm! Hình như từ ngày có Internet mọi người cứ xa dần nhau, dù ngồi đối diện mà cứ như xa cách muôn trùng, mỗi người trú vào cái ”pháp giới” riêng mình và sống ảo trong đó. Cho nên, bỗng dưng có một buổi họp mặt ”offline” tay bắt mặt mừng như vầy thì mọi người đều có vẻ hạnh phúc như chưa bao giờ có. Họ như ngắm nghía nhau, hít thở nhau và… chuyện cứ nổ như bắp rang như đã hẹn nhau ”từ muôn kiếp trước”.

Mà thực vậy, Quán Văn giống như một tập san… hoài cổ, với những bài viết không mới, không có hậu hiện đại, không có tân hình thức… gì ở đây cả. Chỉ là những tâm tình, sẻ chia, thẳng thắn, ngọt ngào, cay đắng…

Nhiều người chưa từng gặp nhau, chưa từng biết nhau mà như đã quen đã từ lâu, dù người từ Canada, từ Mỹ, từ Ý, từ Hà Nội, từ Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Vũng Tàu, Phan Thiết… chỉ nghe cái tên thôi mà đã vô cùng thân thiết. Phải rồi, chỉ cần gặp gỡ, chỉ cần nói năng, chuyện chung chuyện riêng gì cũng được… Ca hát nhảy múa chỉ là một cái cớ, một sự ồn ào cần thiết, bởi nhiều khi chỉ cần một sự im lặng, một ánh mắt nhìn.

Mình chia sẻ với bạn mấy tấm hình ở đây, và dành cho bạn sự…tưởng tượng. Bởi bạn biết đó, mình già rồi, làm biếng tổ rồi!

Nguyên Minh ”chủ xị” phát biểu mấy câu chào mừng.

Nguyên Minh vẫn tấm thân gầy gò nhỏ xíu đó mà sức làm việc dẻo dai rất đáng nể phục. Mỗi ngày 4 giờ sáng đã thức dậy hì hục… làm báo… Anh kêu mệt quá mệt quá, chỉ đến khi báo ra gặp gỡ anh em mới vui. Anh mới sắm cái mũ lưỡi trai, lúc nào cũng đội che mái đầu còn loe hoe mấy sợi. Lâu nay mình đã đặt cho NM một cái tên, bây giờ đâm ra ai cũng biết và ai cũng gọi anh là Cập Thời Vũ Tống Công Minh… Nhờ sống rất chân thành nên anh em ai cũng quý cũng thương. Có lần bệnh nặng, nằm bệnh viện suýt chết, mình biết tin đến thăm, nói với người bác sĩ đàn em đây là nhà văn Nguyên Minh, bạn thầy đó em. Cứ như Tống Giang sắp bị mổ thịt làm bánh bao…

Địa điểm có vẻ đã quá chật chội rồi đó. Lần sau nên tìm cái sân rộng rãi hơn thì tốt.

Cô áo tím là Ban Mai đã cùng ông xã từ Quy Nhơn đi xe lửa suốt đêm qua mới kịp đến.

Nguyên Cẩn, Nhật Chiêu…

 

Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào, Phạm Văn Hạng từ Đà Lạt xuống.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào. Trông anh hiền như bụt. Hỏi sao lạ vậy? Anh cười: ai cũng hỏi vậy! Rồi mình hỏi thăm Phùng Hoàng Anh, cháu ông Nguyễn Hiến Lê cũng ở Sơn Tây cùng NXD.

 

 

 

Hiếu Tân ở Vũng Tàu gặp Tịnh Thy từ Huế…

 

Và “Nhóm Ý Thức” cũng luôn có mặt bên cạnh Quán Văn. Từ trái; Đỗ Nghê, Nguyễn Ước, Lữ Kiều, Nguyên Minh, Lê Ký Thương… nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư và các bạn thời xa xưa đó…

 

 

 

Tịnh Thy, cô giáo Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế giới thiệu vài nét về bài ”đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê: ”Sao lòng ta chưa nguôi” của cô và giữ bí mật để mời mọi người đọc trực tiếp trong Quán Văn 52.

Cô dành thời gian kể về chuyến đi Hà Nội của Quán Văn vừa rồi với nhiều hấp dẫn…

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

SAO LÒNG TA CHƯA NGUÔI (Đọc THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ)

01/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

SAO LÒNG TA CHƯA NGUÔI

(ĐỌC THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ)

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy – Đại học Sư phạm Huế

 

Xưa, Vĩ Sinh yêu một người con gái. Hai người hẹn gặp nhau ở dưới chân cầu. Cô gái không đến. Vĩ Sinh vẫn cứ đứng dưới chân cầu đợi người yêu. Chiều tối, thủy triều dâng lên ngập chết Vĩ Sinh.

Câu chuyện trên là một trong những tiểu thuyết đầu tiên của văn học Trung Quốc. Tiểu thuyết – thể loại có dung lượng đồ sộ nhất – ban đầu chỉ nhỏ bé như lòng bàn tay. Vì vậy, nó được đặt tên là tiểu thuyết (tiểu là nhỏ, thuyết là lời nói, lời dạy; tiểu thuyết nghĩa là lời nói, lời dạy nhỏ không đáng coi trọng). Tên gọi đó cho thấy đây vốn là thể loại nhỏ nhất, ngắn nhất, kém giá trị nhất của văn học Trung Quốc. Vậy mà, qua trường kỳ lịch sử, tiểu thuyết dần lớn lên, vượt qua các thể loại khác, trở thành người khổng lồ của văn học.

 

 Cầm trên tay tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê, tôi chợt nghĩ đến tên gọi của tiểu thuyết. Bởi vì tác giả Đỗ Hồng Ngọc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Thơ ngắn. Thế nào là ngắn? Thế nào là dài? Ngắn nhất là tiểu thuyết, dài nhất cũng là tiểu thuyết. Ngôn hữu tận, ý vô cùng. Làm sao so ngắn dài khi Lý Bạch đã từng khẳng định: “Thi thành thảo thụ giai thiên cổ” (Bài thơ làm xong, cỏ cây đều đã trở thành thiên cổ). “Thiên cổ” là nghìn xưa, là quá khứ. Đối với người phương Đông, quá khứ bao giờ cũng gắn với giá trị. Con dấu thời gian mỗi khi đã chạm khắc vào một sự vật hiện tượng gì thì bản thể đó mặc nhiên có giá trị. Bài thơ làm xong, tất cả thoắt trở thành thiên cổ. Câu thơ hay thường được khen là “thiên cổ lệ cú” (câu thơ đẹp ngàn năm). Giá trị của thơ ca, của văn học không thể đo bằng sự ngắn dài của câu chữ, mà chỉ có thể đo bằng sự ngắn dài của ý nghĩa nhân sinh, của thành tựu nghệ thuật và sức sống của nó trong lòng người đọc. Tuy nhiên, khi thơ càng ngắn, độ hàm súc càng cao, ý nghĩa càng bung tỏa thì lại càng thú vị. Có lẽ đây là quan niệm về thơ mà tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm đắc, nên đã lấy thể thơ ngắn làm đại diện cho cả những bài thơ dài trong toàn tập.

Đề tài của Thơ Ngắn Đỗ Nghê khá rộng: vũ trụ, quê hương, tình yêu, nỗi nhớ, thiền tập… Hầu như tác giả đã “chắt mót” tất cả các cảm xúc với thiên nhiên, tôn giáo và con người để dồn vào tập thơ này. Nếu gọi tập thơ là Tạp thi thì đúng hơn. Tạp thi nghĩa là thơ lặt vặt. Lặt vặt ở đây không có nghĩa là vặt vãnh, mà là gần gũi, giản dị, quen thuộc, thô mộc… Đó có thể là một thoáng suy tư, một chút bâng khuâng, một niềm nhung nhớ, nỗi luyến tiếc hoặc một trò tinh nghịch… Tất cả đều nhẹ nhàng, hồn nhiên và rất đỗi thẳm sâu. Có những bài thơ, câu thơ ngắn như một hơi thở, một cái trở mình nhưng ý nghĩa lại cứ dài ra theo dòng suy ngẫm của người đọc:

“Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…” (Trái đất)

Đêm của nơi này là ngày của nơi kia. Một cái tỉnh giấc nơi đất khách, nhớ đến quê nhà, chợt nhận ra sự mênh mông của Trái đất và sự luân chuyển khôn cùng của thời gian. Bài thơ còn mang ý nghĩa triết lý về tính tương đối: đêm ngày, khái niệm, nhận thức, chân lý… tất cả chỉ là tương đối. Sự tương đối đó chính là cái hữu hạn của con người trước cái vô hạn của thế giới đầy bí ẩn, bao la.

Bài thơ Sóng lại nhắc nhở người đọc về quan niệm duyên khởi của Phật giáo: “Sóng/ Quằn quại/ Thét gào/ Không nhớ/ Mình/ Là nước”. Bài Nước lại mang triết lý về sự trôi chảy của thời gian, sự miên viễn của vũ trụ, sự huyền nhiệm của tính thiền:

“Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu

…

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến

Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu…”

Không đi chẳng đến, vô thủy vô chung, mềm mại như sông và quằn quại thét gào như sóng, nước vẫn an nhiên trôi chảy từ ngàn năm trước đến ngàn năm sau. Khi ta cảm nhận được sự mênh mông ấy của nước, gió, trăng, sao thì tâm hồn và thể xác ta đã hòa cùng vũ trụ: “Vũ trụ chừng nhỏ lại/ Còn chút xíu trong ta!” (Vũ trụ). Ta không còn “là Một, là Riêng, là Thứ nhất” như ông hoàng Xuân Diệu nữa, ta đang “bay vù vù trong không gian” trong từng sát-na. “Mỗi ngày ta rơi rụng/ Mỗi ngày ta phục sinh/ Mà cứ tưởng không hề thay đổi…”. Đó chính là Vô thường, là sự đổi thay qua từng chớp mắt. Vô thường mà không mất mát, vô thường để thấy ta trong vạn vật và vạn vật trong ta. Sự hòa điệu giữa con người – tiểu vũ trụ và vạn vật – đại vũ trụ trong thơ Đỗ Hồng Ngọc theo quan niệm vô thường và duyên khởi mang lại cho người đọc cảm nghiệm mới về thời gian, về sự sống trong guồng quay của tạo hóa. Nó thôi thúc con người ý thức về mối quan hệ của cá nhân và vũ trụ, để kết nối, để sống hết mình trong sự sống chứ không phải để thở than nhân sinh như mộng.

Vô thường trong thơ Đỗ Hồng Ngọc nhiều khi là sự hiện hữu chứ không phải hư vô, ở cái còn chứ không phải là cái mất. Trong những bài thơ về Mẹ, về La Ngà, ta học được cách quên nỗi đau, chấp nhận lẽ tử sinh từ những hình ảnh, chi tiết bình dị nhất. Ánh mắt người mẹ luôn dõi theo con, nụ cười mẹ như thấu hiểu mọi hỷ nộ ái ố, lúng túng, lần khân, láu lỉnh… của con. Nụ cười của mẹ trên bàn thờ trở thành tấm gương soi của con. Đó là nụ cười sống động, nụ cười bất tử mang tâm trạng và tình cảm yêu thương trìu mến của người ngắm nhìn qua mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm. Đối diện với nụ cười của mẹ, hẳn rằng người con luôn phải tự sửa mình. Cũng trong mạch cảm nhận đó, đọc những bài thơ viết cho La Ngà, ta hiểu được cách vượt qua nỗi mất mát của nhà thơ khi “có một dòng sông đã qua đời”:

“Không bài học nào

Như ba đã học

Từ con

 

Nỗi mất!”

Con “mãi mãi tuổi đôi mươi” dẫu tất cả cứ già đi theo năm tháng. Mà bài học về nỗi mất thì cứ tươi nguyên, khoảng trống của nỗi mất dường như thêm sâu rộng. Có thể thanh thản được không khi xem nghiệt ngã là bài học? Có nỗi đau nào lớn hơn không, khi bài học không muốn nhớ, không muốn thuộc nhưng vẫn cứ ghim vào tâm trí? Con “mãi mãi tuổi đôi mươi”, cha vẫn day dứt nỗi đau khổ của kiếp người! Hóa ra, vô thường còn là chấp nhận, là “đành lòng vậy, dầu lòng vậy”, là gào thét trong lặng câm, là bão tố trong bình yên, là chôn chặt trong đào xới, là cồn cào trong thanh thản… Những vô thường như thế này cần phải được đọc từ phía sau câu chữ, bởi câu chữ chỉ là cái bình phong, nó che đậy cảm xúc, nó không cho người khác nhìn thấy nước mắt tuôn rơi. Trang Tử từng nói: “Ngôn giả sở tại ý, đắc ý nhi vong ngôn” (Lời là để diễn đạt ý, được ý hãy quên lời). Những bài thơ này, tôi đọc “ý”, không đọc “lời”; đọc để hiểu, cảm thông và chia sẻ…

 

 

Có một nỗi nhớ quê hương đong đầy trong tập Thơ ngắn. “Đi giữa Sài Gòn/ Phố nhà cao ngất/ Hoa nở rực vàng/ Mà không thấy Tết. Một sáng về quê/ Chợt nghe gió bấc/ Ơ hay xuân về/ Vỡ òa ngực biếc!” (Gió bấc). Xuân không đến từ hoa vàng rực rỡ, xuân chỉ đến khi người yêu quê được đi giữa trời quê.

 

 

 

Ở bài thơ Thu, Đỗ Hồng Ngọc không dùng hình ảnh, mà khuấy động lòng ta bởi một âm thanh:

“Chiều thu

Nghe tiếng quạ

 

Giật mình

Nỗi xa nhà

 

Nhớ sao

Mà nhớ

 

Quá!”

Mùa thu gắn với nỗi buồn. Bởi vậy nên người Hán đã ghép chữ thu với chữ tâm để biểu ý thành chữ sầu (mùa thu đọng lại trong tim thành một nỗi sầu). Chiều thu là thời khắc của ngày tàn, của những nỗi buồn không tên, nỗi sầu thiên cổ bàng bạc như sương khói. Nó khiến lòng người chơi vơi, mang mang; khiến cho “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì” (Xuân Diệu). Giữa chiều thu ấy, thơ thẩn nơi đất khách, bỗng nghe tiếng quạ, giật mình nỗi xa nhà… chợt thấy nhớ sao mà nhớ quá. Bài thơ độc đáo ở cấu tứ. Đó là cấu tứ sắc sắc không không. Không có hình ảnh nào cụ thể: chiều thu, tiếng quạ, nỗi xa nhà, nỗi nhớ đều không hiện hữu. Tất cả đều trừu tượng, lơ lửng trong không trung, vương vấn trong hồn người. Chủ thể trữ tình cũng chỉ xuất hiện trong động thái “nghe” và “giật mình”: nghe tiếng quạ và giật mình nỗi xa nhà. Nghĩa là người đọc chỉ nhận ra thi nhân qua âm thanh trên không trung và nỗi lòng kẻ tha hương. Niềm cô tịch bao trùm toàn bài thơ. Thi pháp chân không được sử dụng rất đắc địa. Và cuối cùng, tiếng quạ kêu bất ngờ kết thúc bài thơ, nhập vào làm một với đỉnh điểm của nỗi nhớ nhà: “Quá!”. Âm thanh đó vút cao, thảng thốt, xuýt xoa, khắc khoải, tê tái, quặn thắt… Từ tượng thanh trùng âm với phó từ chỉ mức độ cao trong tiếng Việt thể hiện sự hòa điệu tuyệt vời của cảnh và tình, của tiếng quạ và tiếng lòng. Nó khiến cái vô hình trở thành hữu hình, cái khó nắm bắt trở nên dễ nắm bắt. Tiếng quạ kêu lan tỏa trong thinh không, mang nỗi nhớ thả vào vũ trụ, để rồi len vào hồn người tâm thức “tư cố hương”. Cảnh nhạt mà tình nồng, bài thơ vừa có cái diệu của thi pháp chân không, của bút pháp lấy động tả tĩnh, huyền ngoại chi âm, và cả bút pháp tá thanh truyền ảnh rất hiếm ở trong thơ. Bởi, từ âm thanh xao động ở câu hai đến se thắt ở câu cuối, ta có thể hình dung được vẻ ngơ ngác ngước nhìn, kiếm tìm, trầm tư mặc tưởng của người thơ.

Thơ tình chiếm tỷ lệ khá lớn trong toàn tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê và đa số là những bài thơ không ngắn, thậm chí là khá dài. Mảng đề tài này thể hiện rõ tâm hồn thuộc “cái nòi đa tình” và tính cách dí dỏm của nhà thơ.

“Em tin có Chúa

Ngự ở trên cao

Còn anh tin Chúa

Ngự ở trong nhau” (Đi Lễ)

Với niềm tin ấy, “mỗi ngày anh chánh niệm về em chánh niệm sáng chánh niệm chiều chánh niệm đêm… em ngồi đó vô biên vô số với phép màu không có thời gian cho anh trở về tuổi hai mươi em mười tám…” (Chánh niệm).

Tình yêu như tôn giáo, tình yêu là tôn giáo của riêng anh. Và nhịp tim, hơi thở luôn thao thiết vì em:

“Ai bảo áo em vàng hoàng hậu

Cho tôi phải thở nhịp quân vương” (Đồng hương)

Và nếu thiếu em, quân vương ấy chẳng màng đến ngai vàng nữa:

“Ta về lối cũ

Nghe lòng lạnh băng

Thiếu em hoàng hậu

Ngai vàng như không…” (Giữa hoàng hôn xưa)

 

 

Anh viết tên em lên cát, cho sóng cuốn đi, cho gió cuốn đi. Để “tên em mênh mông đại dương…”, mang tình anh đi muôn phương, cho thỏa dạ kẻ si tình (Viết tên lên cát). Nỗi nhớ em trở thành căn bệnh – bệnh nhớ, khi cấp tính thì cồn cào, quặn thắt; trở thành kinh niên thì âm ỉ, triền miên (Nỗi nhớ). Mà thật lạ, hình như anh chẳng muốn chữa lành căn bệnh tương tư này. Bởi nghe trong tiếng thở than có niềm hạnh phúc, nghe trong nỗi buồn vẫn có thú đau thương.

Rồi “tình xa” sẽ biến thành “tình sầu”, “tình nhớ”, để ngày gặp lại, luyến tiếc gọi nhau bằng hai chữ Cố nhân:

“Mới đó mà em đã cố nhân

Lòng đau như cắt hiểu gì không

Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng

Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…”

Tình “ngùi phai theo tháng năm” nhưng lòng không ngùi phai. “Lòng đau như cắt hiểu gì không” – Câu thơ như một nhát cắt cứa vào tim nhau. Trách móc? Giận hờn? Tiếc nhớ?… Không! Chỉ thấy vẫn yêu. Và đau! Yêu ngay cả khi dùng từ ngữ có tính chất ngăn chặn, chấm dứt, thuộc về quá khứ: “cố nhân”. Vậy đó, sự trớ trêu của tình cảm thật khó mà cắt nghĩa, “cố nhân” nhiều lúc không phải là người cũ, người xưa, mà là người thân thiết, tha thiết một thời… và mãi mãi. Để rồi ta lại đêm ngày chánh niệm về em, và không ngừng cật vấn mình: “Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi!” (Khi gặp lại).

Giả sử là bài thơ tình rất hay ở nhiều phương diện. Nhà thơ nói với người yêu về một tình huống hủy diệt của thiên tai. “Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang/ Ập vào Mũi Né/ Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng/ Vút qua những ngọn dừa/ Những đồi cát trắng/ Em nhớ mang theo đôi quả trứng/ Vài nắm cơm/ Vài hạt giống/ Đừng quên mấy trái ớt xanh…/ Biết đâu mai này/ Ta làm An Tiêm/ Trở về làng cũ/ Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang/ Nơi kia gọi là Mũi Né…/ Cho nên/ Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…”. Bài thơ mở đầu bằng sự bất an và kết thúc bằng sự bình an. Tất cả hãi hùng hoang lạnh đó sẽ qua đi nếu ta biết thương nhau, và hãy thương nhau khi còn có thể, vì mấy ai lường trước được chuyện bãi bể nương dâu. Sử dụng những motif thường thấy trong văn chương: yêu trong hoạn nạn, sống sót qua hoạn nạn, cơn đại hồng thủy, tái lập Trái đất và sự sống…; tuy nhiên, trong hoảng hốt hoang hoải đi tìm sự sống, Đỗ Hồng Ngọc vẫn không quên chiếc thuyền thúng, mấy trái ớt xanh, đôi quả trứng, vài hạt giống của An Tiêm, để trở về làng cũ… Cổ tích Việt Nam, văn hóa Việt Nam thấm trong từng hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng không phải vì nỗi sợ thiên tai, mà vì vẫn tìm thấy những gì quen thuộc trong sự mất mát. Dĩ nhiên, tất cả chỉ là giả sử, thể hiện những dự cảm bất an về môi trường và quan niệm vô thường của cuộc sống, nhưng mục đích là kết luận: “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” Hỏi cũng chính là trả lời, câu thơ khiến người với người xích lại gần nhau hơn như câu hát của Trịnh Công Sơn: “Hãy yêu nhau đi/ Khi rừng thay lá/ Hãy yêu nhau đi dòng nước có trôi xa… Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi/ Dù mai nơi này người có xa người…”

Tình yêu trong thơ Đỗ Hồng Ngọc vừa nồng nàn mãnh liệt “như đổ dầu vào lửa”, sắc bén như “ánh mắt dao cau”, dại khờ luyến tiếc khi phải “nhận bừa là đồng hương”, day dứt “khi nhìn nhau xa lạ” “nói năng vô nghĩa” mà nghe “thác reo trong hồn”, ranh mãnh mong người ta nhớ đến anh trong “ngày sinh nhật” khi mọi ngày của anh đều là sinh nhật. Và cuối cùng, vẫn chờ đợi một bến đỗ bình yên, chở che, đón nhận, ấp iu và chung thủy đến muôn đời:

“Lá chín vàng

Lá rụng

Về cội

 

Em chín vàng

Chắc rụng

Về anh” (Lá)

“Chắc” là một hư từ (vị từ tình thái) mang tính dân dã của khẩu ngữ được đặt vào trong sự biến tấu của thành ngữ “lá rụng về cội” khiến câu thơ cuối lập tức trở nên giàu ý thơ, chất thơ hơn. Nhìn từ phương diện ngôn ngữ học, “chắc” thuộc loại từ có “lực ngôn trung” gắn với “tình thái phát ngôn”. “Chắc là”, “có thể”, “có lẽ”, “hãy”, “sẽ”, “nên”…; vừa ướm hỏi vừa mời gọi; vừa mang tính khẳng định, vừa mang tính dự định. Chủ thể của lời nói vừa có thể là anh, vừa có thể là em. Tâm trạng của các chủ thể sẽ thay đổi tùy vào cách người đọc mặc định vị trí của họ và nghĩa của từ “chắc” ở trong lời nói. Cả hai chủ thể sẽ có tâm thế hoặc tự tin, yên lòng; hoặc e dè, hoài nghi, phấp phỏng. Tất cả tùy thuộc vào việc người đọc đứng ở bên nào trong tính nước đôi của từ ngữ. Vậy là người đọc có quyền quyết định nghĩa, làm tăng nghĩa, tăng tầng bậc khám phá cho văn học. Theo lý thuyết tiếp nhận, đồng sáng tạo giữa tác giả và độc giả là một trong những tiêu chí thành công của tác phẩm. Một từ thôi nhưng có thể thay chủ đổi ngôi, làm khuynh đảo những gì vững chắc nhất. Tiếng Việt là vậy đó! Hay, đẹp, đa nghĩa và đáo để đến vô cùng nếu được vào tay người nghệ sĩ ngôn từ biết cách giũa mài cho ngọc quý. Giống như Bông hồng cho Mẹ, bài thơ này toàn dùng từ thuần Việt. Mới hay, trong lĩnh vực ngôn ngữ, cái dân dã bình dị có khả năng chuyển tải văn hóa cao nhất chứ không phải cái cao sang. Một nửa của bài thơ là có sẵn, là kết tinh từ triết lý, trí tuệ dân gian, quy luật và ao ước muôn đời của muôn người. Nửa còn lại là sáng tạo của tình yêu, của thi ca; mời gọi, ướm hỏi, đợi chờ, hồi hộp, đón nhận, giao hòa… và hạnh phúc với chân lý của tình yêu.

Đề tài phong cảnh thể hiện nét bút tài hoa của nhà thơ. Đó là bút pháp thi trung hữu họa, lấy động tả tĩnh trong cảnh Hội An sớm:

“Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương”

Trăng treo nghiêng trên mái chùa, sương vàng theo ánh trăng. Chỉ cần chấm phá hai hình ảnh, một sắc màu là tạo nên bức cổ họa. Và tiếng chổi, tiếng của nhịp đời xao xác nhẹ nhàng đủ để đánh thức đàn gà ngái ngủ cất lên tiếng gáy. Sau tiếng gà gáy, cả thế giới im lìm sẽ tỉnh giấc. Tất cả mọi đường nét, mọi âm thanh đều vừa vặn, không thừa không thiếu cho việc diễn tả một Hội An trầm mặc cổ kính. Bài thơ gợi nhớ cái giật mình của loài chim núi khi nhìn thấy ánh trăng khuya trong Điểu minh giản của nhà thơ Vương Duy đời Đường. Nhưng ở đây, tiếng chổi tương hợp với ngôi chùa, tiếng gà gần gũi với đời sống. Tiếng chổi quét sân chùa sau buổi công phu sáng sẽ sớm hơn tiếng gà trong vườn nhà. Nếu ngoài đời thường, tiếng gà gáy sáng bắt đầu chuỗi hoạt động của con người, tiếng gà đánh thức tiếng chổi thì ở đây tiếng chổi đánh thức tiếng gà, bởi nhà chùa thường dậy sớm hơn. Bài thơ thể hiện sự quan sát tỉ mỉ, cách cảm nhận tinh tế của tác giả. Chất thiền không chỉ bàng bạc trong hình ảnh mà còn vang vọng trong âm thanh của bài thơ.

Tuyền Lâm mang vẻ đẹp trong trẻo của mùa xuân qua thủ pháp gương soi và tiếng gọi mùa xuân tha thiết, đắm say:

“Nước xanh như ngọc

Sâu đến tận trời

Vốc lên một vốc

Ơi mùa xuân ơi!”

Trời soi bóng nước, nước sâu tận trời, “sâu chót vót” như Tràng giang của Huy Cận, nhưng không cô liêu, tịch liêu mà đong đầy cảm xúc yêu cảnh, yêu mùa, yêu đời của nhà thơ.

Ta sẽ còn có thể nghe hơi thở người xưa, “Nghe thì thầm, Đẽo gọt/ Nét Đường thi” trong bài thơ Văn Miếu; ngắm làn mưa giăng mờ trong Hà Tiên mưa, cảm nhận “sóng lăn tăn gợn vỗ quanh ghế ngồi” Ở Montmartre… Mỗi bước chân trải nghiệm của tác giả đều được ghi dấu bằng hồn thơ.

Tư tưởng Phật giáo thấm đượm trong toàn tập Thơ ngắn. Đỗ Hồng Ngọc đã chuyển tải tư tưởng một cách nhẹ nhàng, giản dị như chính triết lý nhà Phật qua những bài thơ như Thiền, Vè thiền tập… Và đặc biệt, bài thơ Mới hôm qua thôi còn mang nỗi buồn của bi kịch nhân sinh: “Họ ngồi đó/ Hói đầu/ Bạc trắng/ Móm sọm/ Nhăn nheo/ Mới hôm qua thôi/ Nào vương/ Nào tướng/ Nào tài tử/ Nào giai nhân/ Ngựa xe/ Võng lọng/ Mới hôm qua thôi/ Nào lọc lừa/ Nào thủ đoạn/ Khoác lác/ Huênh hoang/… Nói nói/ Cười cười/ Ghen tuông/ Hờn giận/… Ngoài kia/ Tuyết bay/ Trắng xóa/ Ngoài kia/ Dòng sông/ Mênh mông/ Mênh mông…”. Đúng! Mới hôm qua thôi… mà bây giờ đã… Tham hận sân si sẽ tan đi hoặc vơi bớt khi ngẫm lại sự phù du của kiếp người, và sẽ “Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất” (Đất), mai này ta cũng là đất. Ta cần ngộ ra điều đó, để có thể chứng nghiệm Niết Bàn trong cõi ta bà này, ngay ở đây, lúc này, hiện sinh chứ không phải là huyễn tưởng:

“Tham chẳng còn

Sân cũng hết

Si đã tuyệt

 

Niết Bàn

Tịch diệt

Để làm chi?” (Ngộ)

 Rũ bỏ tất cả, an nhiên tự tại, Niết Bàn trong ta, tùy vào ta. Niết Bàn là lúc ta thõng tay vào chợ, trở về với tâm tướng con người như nó vốn sinh ra…

Thơ Ngắn Đỗ Nghê có 59 bài, đa phần là thơ ngắn như tên gọi của toàn tập. Nhan đề của mỗi bài thơ cũng ngắn: Sóng, Nước, Đất, Thiền, Thở, Lá, Ngộ, Trái đất, Chân Không… Có bài chỉ 6 âm tiết, 10 âm tiết. Xem ra, so với Haiku của người Nhật (17 âm tiết), Sloka của người Ấn Độ (32 âm tiết), Lục bát của người Việt (14 âm tiết), Tứ tuyệt của người Trung Quốc (20 – 28 âm tiết) thì quả là Đỗ Nghê đã có những bài thơ ngắn độc đáo. Tuy nhiên, sức cuốn hút của tập thơ không phải ở độ dài ngắn, mà ở sự sôi nổi của lòng yêu cuộc sống, sự chiêm nghiệm về cõi nhân sinh, sự cảm ngộ triết lý nhà Phật đầy mới mẻ, nỗi niềm đau đáu với lẽ được mất và thi pháp thơ đầy sáng tạo. Tất cả như thể hiện nỗi vướng bận của nhà thơ với cuộc đời: “Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi”. Nguôi sao được khi trái tim và tâm hồn thi nhân vốn dĩ đã bị cầm tù trong bể đời ngọt ngào pha lẫn với chua cay mặn đắng. Lòng chưa nguôi, và sẽ mãi mãi không nguôi, sẽ dễ dàng rung lên như những sợi dây đàn mẫn cảm, để cho đời thêm những tiếng thơ hay.

Nếu cần góp ý cho tập thơ, tôi chỉ mong tác giả gạt bớt những bài chưa chín tới về cảm xúc cũng như bút pháp, hoặc không phù hợp với toàn tập như To Edith (vì là thơ dịch), Về quê (vì trùng với danh tác Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương), Đông Boston (vì không điệp vần), Theo già, Tuyết (vì thiếu thi ý), Món quà, Quấn quýt (vì cấu tứ non tay)… Vẫn biết, cắt bài sửa chữ là đề nghị lạnh lùng làm đau lòng người sáng tác. Bởi vì mỗi câu, mỗi bài đều gắn với kỷ niệm, vết xước, nỗi đau và những rung cảm chân thành. Tuy nhiên, nếu không làm điều đó, tác phẩm sẽ thiếu chắt lọc, sa vào ôm đồm và nhạt mất khí cốt. Trong nghệ thuật, có sự trưởng thành nào mà không trả giá bằng nỗi đau, có sự vẹn nguyên nào mà không khởi đầu bằng mất mát? Thiển ý này của người viết cũng thể hiện nỗi niềm “sao lòng ta chưa nguôi”, mong mỏi mỗi bài thơ đều hướng đến cảnh giới “Bút lạc kinh phong vũ. Thi thành khấp quỷ thần” (Hạ bút làm kinh hoàng cả mưa gió. Thơ làm xong khiến quỷ thần phải khóc – Đỗ Phủ).

 

Xứ Huế, Mùa Đông năm 2017

……………………………………………………………………………………………

[Bài đã đăng ở Tập san Quán Văn số 52 – Xuân Mậu Tuất (01/2018)]

* Đã có chỉnh sửa bởi Tịnh Thy (31.01.2018)

** Minh họa của Đỗ Hồng Ngọc (trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê).

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Buổi trò chuyện về Thiền “Quán Niệm Hơi Thở”

29/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Em nvquyen vừa gởi video clip buổi ”Gặp gỡ & Đối thoại” về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati) dưới góc độ khoa học tại Cà phê Thứ 7, ngày 20.1.2018.

Xin gởi đến các bạn để Tùy nghi và Tùy hỷ,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Càphê Thứ 7: Trao đổi về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”

25/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Càphê Thứ7: Trao đổi về Thiền “Quán Niệm Hơi Thở” dưới góc độ khoa học

Thứ bảy 20.1.2018, Cà phê Thứ7 của nhạc sĩ Dương Thụ có một buổi sinh hoạt “Gặp Gỡ & Đối Thoại” đầu năm khá thú vị về Thiền Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati), do Bs Đỗ Hồng Ngọc phụ trách và Gs Nguyễn Văn Trọng ”chủ trì”!

Thú vị vì trước đó một tuần, Gs Trọng đã có buổi trình bày về cuốn sách mới dịch của ông: Một hướng dẫn cho người bối rối của E.F.Schumacher.  Có vẻ như buổi nói chuyện chủ đề Thiền ”Quán niệm hơi thở” của mình cũng là để giới thiệu một cách cụ thể hơn giúp cho người ta “bớt bối rối, bớt hoang mang” trong một xã hội ngày càng có vẻ phức tạp chăng nên có khá đông bạn bè tham dự.

Trong Lời dẫn, mình đã viết:

Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, một nhà minh triết phương Đông – Đức Phật – bảo đừng vội tin, hãy đến nếm thử đi rồi biết! Đến là thực hành. Nếm thử là cảm nhận. Phải tự mình thực hành và tự mình cảm nhận. Không thể nhờ ai khác. Rồi Ngài vạch ra một con đường “thoát khổ” cho chúng sanh:

« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết-bàn »…(Satipathana, Thích Minh Châu dịch).

Đó là Thiền Anapanasati còn được gọi là An-Ban Thủ Ý, “Nhập tức xuất tức niệm” hay Quán Niệm Hơi Thở. Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, nghĩ.  

Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ có vậy. Mà vô vàn.

Gần đây các nhà y sinh học, tâm lý học, hợp tác cùng các nhà sư, dùng các kỹ thuật mới như EEG, PET, fMRI…  nhằm khám phá những “bí nhiệm” của Thiền để ứng dụng vào đời sống. Hiệu quả đã có thể chứng minh. Nhưng Thiền Phật giáo không dừng ở đó, mà còn nhằm đến sự giải thoát, giác ngộ.

Thời nay dù vật chất ngày càng đầy đủ, khoa học kỹ thuật tiến bộ như vũ bão mà đời sống con người thì ngày càng căng thẳng, lo âu, luôn sống trong đe dọa của chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… Gần đây, một thứ bệnh mới, trầm trọng, khó chữa là S.A.D, chữ viết tắt của Stress (căng thẳng), Anxiety (lo âu, sợ hãi) Depression (trầm cảm). Các nhà Tâm lý trị liệu, các nhà y học, phải tìm đến Thiền định đã có từ ngàn xưa để chữa trị như MBSR, MBCT… Ngành Giáo dục Mỹ gần đây cũng đưa ra một chương trình giảng dạy về sự Tử tế, gọi là Kindness Curriculum, cũng lại dựa trên Thiền định.

Buổi trao đổi hôm nay chỉ nhằm cung cấp thêm một cái nhìn từ góc độ y sinh học của một người thầy thuốc về Thiền Quán Niệm Hơi Thở.

BTC cho biết gần trăm người hiện diện, vì phòng ốc quá hẹp, một số không ít phải ra về. Tuy nhiên, vì có thực hiện live stream nên đã có trên 800 người theo dõi qua facebook.

Hôm đó có nvquyen quay một video clip, nay mai sẽ post lên đây để nếu muốn bạn có thể theo dõi chi tiết. Hôm nay bạn xem trước vài hình ảnh thôi nhé.

Hôm nay cũng sẽ trả lời vài câu hỏi của các bạn đồng nghiệp trẻ (chừng mươi bác sĩ, dược sĩ tham dự) muốn mình chia sẻ một chút kinh nghiệm riêng về ”tào lao” sao cho thành công. Thực tế, mình chẳng bao giờ có sự chuẩn bị nghiêm túc ”giáo trình giáo án” chi cả, chỉ là trao đổi, đối thoại thôi mà, những điều từ trong bụng, từ kinh nghiệm bản thân, với tất cả sự chân thành thế thôi.

Dĩ nhiên trước mỗi buổi ”tào lao” như vậy, mình cũng tự hỏi: Nói với ai đây? Nói cái gì đây?… như thường lệ, và ghi chú vòng vèo một ”sơ đồ” để giúp trí nhớ. Thực tế, tùy đối tượng mà sơ đồ này hoàn toàn có thể ”sụp đổ”, không được ngó tới! Vậy đó, cho nên buổi giao lưu thường rất nhẹ nhàng, vui vẻ. “Vui thôi mà”.

Thứ hai, mình không thích trình chiếu slides. Nó có vẻ ”bó buộc” quá, cứng ngắc quá, trang trọng quá… Chỉ ở một số trường hợp mới phải dùng đến. Lạm dụng không nên. Thực tế khi không có máy chiếu, bị cúp điện… thì có thể bị gãy đổ. Trao đổi, giao lưu, trò chuyện trực tiếp bao giờ cũng sinh động hơn, ”tâm truyền tâm” hơn, không bị máy móc, kỹ thuật che lấp. Nhớ Socrates cũng thường đứng ngoài đường mà trò chuyện, Phật cũng ngồi dưới gốc cây mà ”thuyết” đó thôi…

Dĩ nhiên đây chỉ là những câu trả lời cho buổi ”phỏng vấn bỏ túi” của mấy bạn đồng nghiệp trẻ về ”kinh nghiệm tào lao” đó thôi (!).

 

”Lá bùa” để giúp trí nhớ cho buổi giao lưu!

 

 

 

 

Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Văn Trọng thoải mái trong một buổi cà phê sáng thứ bảy!

 

 

Sử dụng Flipchart để viết vẽ rất tiện, linh hoạt hơn dùng máy chiếu slides.

Thở bụng: Cơ hoành là cơ hô hấp chính, chịu trách nhiệm 80% hoạt động hô hấp.

Trung khu hô hấp nằm bên ngoài vỏ não. ”Quán niệm hơi thở” giúp ”giải phóng” vỏ não, nơi tiêu thụ quá nhiều năng lượng cho những chuyện vô bổ!

Buổi trò chuyện khá sôi nổi, hào hứng. Nhiều câu hỏi-đáp thực tế, trao đổi kinh nghiệm bản thân…

 

Hẹn thư sau,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Thiền và Sức khỏe

Kỳ 12: Phật học & Đời sống, ngày 13.1.2018

21/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Kỳ 12: Phật Học & Đời Sống, 

Bát Chánh Đạo

8. Chánh Định (tiếp theo)

Thiền Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati/ Nhập tức xuất tức niệm)

 

Ghi chú:

Do nvquyen bận đi Từ thiện ở Tây nguyên nên lần này có sự chậm trễ. Mong các bạn thông cảm.

Cảm ơn Nga và Trung đã thu hình cho buổi sinh hoạt PH & ĐS kỳ 12, ngày 13.1.2018 tại Chùa Xá Lợi. Ngày 20.1.2018 đã tiếp tục có buổi sinh hoạt Kỳ 13. Sẽ post nay mai.

Sau buổi này, “Lớp lỏng lẻo” sẽ nghỉ Tết đến Thứ bảy 3.3.2018 mới sinh hoạt trở lại theo lịch của Ban Phật học Chùa Xá Lợi. Xin thông báo để các bạn được biết.

Nhớ, Thứ bảy, ngày 3/3/2018 sẽ ”học” tiếp. Các buổi sinh hoạt Phật học & Đời sống luôn rộng mở, ai cũng có thể tham dự.

Chúc các bạn Tết Mậu Tuất 2018 vui khỏe nhé.

Thân mến,

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Nguyễn Thị Khánh Minh, Người Nối Đường Tơ…

21/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nguyễn Thị Khánh Minh, Người Nối Đường Tơ…

Trần Thị Nguyệt Mai

 

Ở cuối mỗi điện thư, chị thường ký tắt km, chữ nhỏ, không hoa. Là “khánh minh”. Ai cũng hiểu như vậy. Nhưng bỗng một hôm anh Đỗ Hồng Ngọc khám phá ra: km là kí-lô mét.

khánh minh viết tên mình
km khiêm tốn 
thư từ bè bạn
nhiều lúc đọc nhầm 
thành kilomet
nhiều lúc hỏi thầm 
từ đây đến đó
bao nhiêu khánh minh?

(km – đỗ hồng ngọc)

Khám phá này thật hay và cũng thật đúng với “tên” của chị nữa. Vì, bằng trái tim mẫn cảm và ngòi bút thơ mộng, chị đã như một gạch nối đưa thơ văn vào trong tim người đọc với những bài giới thiệu thật đặc sắc. Và, hẳn nhiên, tác giả rất cảm động vì được chia sẻ. Như là: “Nguyễn Lương Vỵ, người thơ hát âm”, “Bất chợt thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Và gió…”, “Du Tử Lê, dòng sông hẹn hò biển cả”, “Lữ Quỳnh, Thơ. Và con mắt của giấc mơ”, “Lữ Kiều, chàng lãng tử của thời gian”, “Khuất Đẩu. Và cõi đẹp”, “Phan Tấn Hải. Người Tới Như Mộng”, “Lê Giang Trần. Chiếc vòng kim cô nhớ”, “Vũ Hoàng Thư. Hạt Nắng Phiêu Du”, “Hoàng Xuân Sơn. Quỳnh ơi, hồn nhiên một đóa…”, “Ngoại chờ bên kia sông”, “Trịnh Y Thư, lắng nghe hài cỏ”, “Nguyên Minh, chân kiến dặm trường”, … [1]

Nhớ có lần anh Khuất Đẩu nhờ giới thiệu sách của anh trên blog TTNM theo mẫu do Tương Tri thực hiện, nhưng tôi đi bằng một bài viết của chị như sau:

Sau khi đọc bài điểm sách “Khuất Đẩu. Và Cõi Đẹp” của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, một số bạn muốn tìm đọc nên viết thư hỏi địa chỉ mua sách… [2]

E nhà văn không hài lòng, tôi hỏi lại cho chắc: “Nếu cần sửa đổi gì xin anh cho em hay…”
Tôi đã thật vui khi nhận thư trả lời:
Nguyệt Mai ơi,
Như vầy là quá chu đáo rồi. Bài viết của KM có bút lực rất lôi cuốn, không cần thêm lời giới thiệu của TT.
(trích điện thư ngày 12/2/2016)

Anh Tô Thẩm Huy (người giữ mục “Đùa Với Đường Thi” trên tạp chí Văn Học trước đây, ký tên là Đàn Bách Kiếm) đã nhận xét về bài viết “Ngoại chờ bên kia sông”của chị, cảm nhận từ bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” của Đỗ Hồng Ngọc, như sau:

Tôi không biết Nguyễn Thị Khánh Minh thân, sơ với anh thế nào, nhưng rõ ràng là chị đã cảm bài thơ của anh đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Anh thật là người may mắn có được người đồng điệu như thế.
(trích điện thư của anh Tô Thẩm Huy gửi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) [3]

Vì chị cũng là thi sĩ, nên văn chị đẹp tựa thơ. Tôi yêu từ những trang đầu tiên của “Bóng bay gió ơi”, tập tản văn gần đây nhất của chị,

Nhắm mắt lại, phút này đây.
… nghe được hương trâm trâm bên vệ đường rầy xe lửa về quê nội, ai biết được mầu lấm tấm ngũ sắc kia đã cấy trong tôi mùi quyến luyến quê nhà đến vậy. Hễ chìm vào là nghe tiếng xe lửa xập xình, ánh nhìn cô gái nhỏ chạy lùi theo những hình ảnh vụt qua, bụi cây, ngọn núi, chiếc cầu nhỏ, những ô lúa xanh và con mương ốm chạy ngoằn ngoèo theo bờ ruộng…

Tôi đã theo chị “Bồng bềnh quê nhà” để cảm nhận được:

… mùi đất bùn khô dưới nắng, phải là nắng buổi trưa oi nồng, mùi lá tre, mùi cỏ bên vệ đường, mùi đống rơm trong sân gạch nhà và đặc biệt mùi phân trâu bò trên đường đất, quyện vào trong gió tre, bạn ơi tôi mong là bạn cũng đã từng ngửi thấy để có thể chia sẻ cùng tôi vì tôi không biết diễn tả thế nào, tôi gọi đó là mùi nhà quê, với tất cả thương yêu gắn bó mà tôi có được với nó…

Rồi đi vào “Mái ấm”:

Chỉ cần cúi xuống bên cái võng thong thả theo nắng buổi sáng là có thể hái trong tay chiếc lá nham nhám, hương ngái của lá và hoa như chiếc thuyền thả tôi trôi về quê nội, hai bên đường hoa chùm bao phủ trắng xen lẫn sắc trâm trâm…

Đến “Mưa nắng thềm nhà”:

Buổi sớm, trong yên lặng trầm, mọi thứ chuyển động nhẹ nhàng theo từng nhịp ánh sáng, lòng tôi cũng vậy, nhẹ bẫng, và như bay cao, không phải cái vụt lên ngẩn ngơ của một trái bóng tuột khỏi tay cầm, mà là cái lồng lộng của con diều còn có một sợi dây nối với một bàn tay. Có phải đó là cảm giác của lâng lâng trong khí trời chưa rối bởi muôn thứ âm thanh?

Qua “Đáy đĩa mùa đi”, từ Hạ:

… Lộng ngát trời hè xứ lạ những đám mây ngày cũ êm đềm trôi về, làm tôi thấy yên lòng, lẫn một chút nôn nao của những gắn bó vừa nhú sợi rễ non…

tới Thu:

Trời ạ, gió và lá vàng, nó góp thêm vào ký ức hai mùa nắng mưa ngày xưa của tôi tiếng lăn giòn của lá khô, màu lá ruộm vàng nắng thu. Cái se lạnh chiều Calif. lăn tăn da thịt làm tôi tơ tưởng tiếng gió heo may Hà Nội và vốc cốm xanh rức trên tấm lá sen, chênh vênh những con đường phố cổ đang chờ tôi gõ bước chân hẹn hò, dường như mình đã có một ước hẹn với mùa thu nơi ấy?

rồi Đông:

Mùa Đông là một dấu chấm lửng lơ quyến rũ, từng bước đi đến điểm khép lại, cùng lúc mở ra lung linh nhịp hội hè cuối năm. Và cứ rơi vào điểm kết sổ này là ký ức lại đẩy đưa… Và, có phải người, trong bất ngờ một nhịp lẫy của thời gian, gửi tới mùa đông này vạt gió tơ lụa, ẩn mật một lời hẹn?

và vào Xuân:

Có một niềm vui mà tôi phải chia để thấm hết nỗi đầy, cuối năm của tôi đã được khép lại trong tiếng khóc đầu tiên của bé cháu gái, cái chớp mắt chào đời của bé như thể tôi vừa được mở ra một tấm thiệp đẹp đẽ nhất của đất trời với những lời chúc phúc, một trang mới tinh khôi, tràn trề nhịp chảy sinh động của dòng sống, rồi tôi sẽ có những chữ lần theo cái lật cái bò cái lẫm chẫm bước đi non tơ ấy… Tiếng oa oa như nắng trên cao đang vỡ ra trong ban mai tín hiệu của ấm áp, có phải cả hải hà đang tao nôi hạnh phúc ta không, bé bỏng ơi…

Hãy đọc đi bạn ơi, đọc cho hết cuốn tản văn này, theo cùng tác giả lần về những kỷ niệm, những ngày tháng cũ quá đỗi dấu yêu, có khúc vui, khúc buồn, khúc cô quạnh, khúc sâu lắng… Nhưng, dù như thế nào, đến cuối đất cùng trời ta cũng chẳng thể quên:

Đã hẹn đã hò, cũng ước cũng thề, thì dẫu con đường có dài, thời gian có mịt mù thế nào đi nữa thì cũng có lúc chúng mình sẽ gặp lại, nói cho sâu lắng đá vàng hơn, thì chúng mình sẽ tái ngộ, nối lại một đường tơ lơ lửng…

Cám ơn người thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã nối giùm một đường tơ mong manh hư ảo đẹp tuyệt vời để cho tôi có những phút giây tao ngộ hạnh phúc với kỷ niệm, với đất trời biển cả mưa nắng thuở nào ở quê nhà…

(TTNM)
December 5, 2016

………………………………………………………………………………

Ghi chú:
[1] Những bài này đã đi hoặc trong tản văn “Bóng bay gió ơi” hoặc trên các trang mạng văn chương.
Những chữ in nghiêng trong bài, nếu không dẫn nguồn, đều trích từ tập tản văn “Bóng bay gió ơi” của Nguyễn Thị Khánh Minh, nhà xuất bản Sống phát hành năm 2015 tại Hoa Kỳ.
[2] Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2016/02/12/sach-truyen-cua-nha-van-khuat-dau/#more-17118
[3] Nguồn: http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ngoai-cho-ben-kia-song/

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 28
  • Trang 29
  • Trang 30
  • Trang 31
  • Trang 32
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email