Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Hỏi–Đáp về Thở và Thiền

21/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Hỏi–Đáp về Thở và Thiền

 

Hỏi (HNTài)

Dạ kính thưa Bác sĩ, con có duyên nghe được buổi hướng dẫn về ứng dụng hơi thở bụng vào thiền của Bác sĩ. Con vô cùng cảm ơn Bác sĩ đã mở một hướng thực hành thiền cho con ạ. Con đang thực hành theo phương pháp thở bụng và có một vài câu hỏi mong được Bác sĩ tư vấn giúp con:
1. Khi ngồi thiền, mình thót bụng vào và phình bụng ra ở chừng mực nào là hợp lí? Vì con để ý khi thót bụng dường như mình đang dùng lực để đẩy cơ hoành lên. Mà nếu dùng lực vậy có đúng với quy tắc buông thư cơ bắp khi ngồi thiền không? Theo kinh nghiệm của Bác sĩ thì mình dùng lực thế nào cho hợp lí hay chỉ để tâm cho bụng thót và phình nhẹ nhàng?
2. Tầng suất thót và phình bụng như thế nào là hợp lí? Nên duy trì đều đều hay nhanh chậm khác nhau?
Con kính cảm ơn Bác sĩ và kính chúc Bác sĩ thân tâm an lạc. Con rất mong phản hồi của Bác sĩ để con tiếp tục thực hiện cho đúng.

 

Trả lời 

Cảm ơn HNTài đã đặt câu hỏi quan trọng.
1. Khi ngồi thiền, mình thót bụng vào và phình bụng ra ở chừng mực nào là hợp lí? Vì con để ý khi thót bụng dường như mình đang dùng lực để đẩy cơ hoành lên. Mà nếu dùng lực vậy có đúng với quy tắc buông thư cơ bắp khi ngồi thiền không?

Trả lời: Thở bụng là cách thở sinh lý bình thường, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu cũng thở bụng cả, chớ không phải lúc Thiền mới thở bụng. Do đó, trong Thiền vẫn thở bình thường, không ráng sức gì cả. Ráng sức “phinh xep” là sai. Có dịp nào gặp sẽ trình bày cụ thể hơn.
2. Tầng suất thót và phình bụng như thế nào là hợp lí? Nên duy trì đều đều hay nhanh chậm khác nhau?

Trả lời: Mỗi người có “tần suất” thở khác nhau tùy tuổi tác, tùy công việc, tùy sinh học… Cũng như nhịp tim, mỗi người mỗi khác nhau ít nhiều. Ta cứ theo sinh lý bình thường của cơ thể mình là tốt. Đừng có ráng. Khi “thiền quán niệm hơi thở” thuần thục hơn sẽ có hơi thở nhẹ và đều… thậm chí không biết mình đang thở!
Thân mến,
Bs Đỗ Hồng Ngọc

 

HNTài

Dạ con rất cảm ơn Bác sĩ đã nhắc về điểm đa dạng của đặc điểm sinh lí từng cá nhân. Điều này đã giúp ích con rất nhiều trong việc ‘thoát’ ra các phương pháp hít thở với các ‘patterns’ khác nhau của mỗi vị thiền sư khác nhau. Những ‘kiểu’ hay patterns này thường làm con bị rối tung lên và ‘hoang mang’ vì không biết phải theo vị nào cho đúng nhất. Cuối cùng con lạy Phật cầu Phật gia hộ cho con thực hành được phương pháp đúng nhất. Và chắc nhờ Phật nên con quyết định quay về phương pháp thở trong lời kinh Phật dạy. Khi thực hành thì theo cách Phật dạy thì con thấy an ổn lại ngay. Con ‘ngộ’ có nhiều cách thở khác nhau mà các thiền sư dạy nhưng duy chỉ có cách Phật dạy là ‘universial’, có thể áp dụng cho tất cả chúng sinh. Có lẽ vì vậy mà Phật không đưa ra một cách thở dài ngắn hay theo nhịp này nhịp kia vì mỗi người có một đặc điểm sinh lí khác nhau. Con cám ơn Bác sĩ rất nhiều vì nhờ quan điểm của Bác con đã ‘quay về nương tựa Phật’ ạ.
Con kính chúc Bác sĩ thân tâm thường an lạc.

 

Fususu:

Con chào bác Ngọc và cả nhà,

Cảm ơn bác Ngọc đã thêm một bài rất chi tiết về Tập thở và Cơ hoành. Con chỉ xin góp ý nhỏ về cách ngắt đoạn để tiện cho theo dõi và in ấn như ở dưới. Trân trọng cảm ơn cả nhà.

====
Hỏi:

Phương pháp thở bụng để chữa bệnh phải chăng là “đưa hơi xuống huyệt đan điền” như người xưa thường nói, thấy trong luyện nội công, trong kiếm hiệp?
tt.huynh@ yahoo.com.

Trả lời:

Giống mà không giống. Một đằng là luyện nội công để trở thành thiên hạ vô địch, còn một đằng chỉ là tập thở ra thở vào để chữa bệnh cho mình, cốt sao vui khỏe, ít ốm đau bệnh họan, đỡ tốn tiền tốn bạc, tốn thì giờ chạy chữa khắp nơi, từ bác sĩ đến… lang băm!

Đọc kiếm hiệp ta thường thấy cụm từ “đua hơi xuống huyết đan điền” trong lúc luyên công hoặc chữa thương, dưỡng thương. Đan là thuốc quý, linh đan diệu dựơc, điền là rụông. Đan điền là ruộng thuốc quý. Huyệt đan điền nằm ở dưới rún chừng 3cm, còn đựơc gọi là huyệt khí hải, “biển khí”. Kiếm hiệp không bày đặt ra chuyện đó mà chỉ “phóng đại” thêm thôi.

Đưa hơi xuống huyệt đan điền là phương pháp khí công, thiền tập, đã có tự ngàn xưa, trong hệ thống huyệt đạo, kinh mạch của y lý Đông phương. Vấn đề là làm sao đưa đựơc hơi (khí) đến tận huyệt đan điền, dưới rún đến 3cm đựơc?

Ta biết cơ hoành chính là cơ chủ lực của bộ máy hô hấp, đó là một cơ lớn và mạnh, nằm vắt ngang giữa ngực và bụng. Cơ hoành như một cái pit-tông (piston) đẩy lên đẩy xuống để đua hơi vào ra 2 lá phổi.

Vì cơ hoành có khả năng di chuyển rộng đến 7-8 cm, nên có thể hạ xuống thấp đến tận rún. Do vậy, để đưa hơi xuống huyệt đan điền ta chỉ cần tập thở bụng, nghĩa là luyện tập cơ hoành, bằng cách phình bụng lên xẹp bụng xuống thế thôi. Mỗi lần cơ hoành di chuyển 1 cm, đã hút hoặc đẩy đựơc 250ml không khí, vậy nếu di chuyển 7-8 cm, thì đã hút hoặc đẩy được 1,5 lít không khí! Cơ sở sinh lý học và cơ thể học ở đó.

Ngoài ra về mặt tâm lý, những lúc căng thẳng, tức giận, lo âu, sợ hãi… cũng như những khi tập trung cao độ làm một việc gì đó, ta thường nín thở mà không hay nên dễ thấy đuối sức, hụt hơi!

Học sinh nín thở học bài, nín thở làm bài thi, nín thở chơi games… Người lớn nín thở để vẽ, để viết, để tranh luận, để… đấu đá! Một lúc đã thấy bãi hoãi cả người, bắp cơ căng cứng, đau gân, nhức mỏi, đau cột sống cổ, đau thắt lưng… và vô số các thứ bệnh khác mà y học cũng đành bó tay tìm không ra bệnh đành gán cho những cái tên mơ hồ như “mệt mỏi kinh niên”, “ rối lọan thần kinh thực vật”… càng gây thêm hoang mang. Đại học Harvard công bố có hơn 60% các bệnh nhân ở Mỹ đến bác sĩ là do stress.

Họ đau đủ thứ, chữa hoài không khỏi, chữa bệnh này sinh bệnh kia vì cái gốc stress đã không đựơc quan tâm. Stress nặng, gây mất ngủ, trầm cảm, thậm chí dẫn đến tự tử… thì đành vào bệnh viện tâm thần thôi! Những người hay “thở dài não nuột” rất có thể là những người hay…nín thở đó. Họ chìm đắm trong suy tư, quên ăn, quên ngủ… nên phải thở bù.

Các loại bệnh kiểu này bác sĩ đâu có chữa nổi nên bệnh nhân dễ đến lang băm, dễ tin tưởng vào những quảng cáo nhảm nhí. Người quen “ đưa hơi xuống huyệt đan điền”, thì có cả một “biển khí” ở đó, đủ xài trong một quãng thời gian. Ngoài ra, nếu biết tập trung chú ý vào hơi thở nữa thì sẽ quên giận, quên lo, bớt căng thẳng, giảm stress vậy.

BS Đỗ Hồng Ngọc.

 

Nói rõ thêm:

Hai ngàn sáu trăm năm trước, một nhà minh triết phương Đông – Đức Phật – bảo đừng vội tin, cứ đến nếm thử đi rồi biết! Đến là thực hành. Nếm thử là cảm nhận. Phải tự mình thực hành và tự mình cảm nhận. Không thể nhờ ai khác. Rồi Ngài vạch ra một con đường “thoát khổ” cho chúng sanh.

« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết-bàn »…

Con đường độc nhất? Đó là thiền Tứ niệm xứ (Satipathana), thân-thọ-tâm-pháp, 4 lãnh vực để quán niệm. Rồi hình như thấy Tứ niệm xứ hãy còn có vẻ phức tạp quá, Ngài giản lược vào Thân hành niệm, rồi lại giản lược lần nữa cho phổ cập đến tất cả mọi người: Anapanasati (còn gọi là An-ban thủ ý, Nhập tức xuất tức niệm) để ai ai cũng có thể tiếp cận mà thực hành con đường “giải thoát”, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào .

Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, nghĩ. Nhớ nghĩ về sự thở vào và thở ra. Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà “bất khả tư nghì”.
Thiền Anapanasati có cơ sở sinh y học vững chắc, dựa vào hơi thở của mỗi cá nhân, không sợ đi lạc đường dẫn đến những hậu quả không hay. Chỉ cần nắm những nguyên tắc chung rồi tự mình áp dụng riêng cho bản thân mình. Không nôn nóng. Không ráng sức. Theo tôi, thiền tập Anapanasati cần 3 giai đoạn:

1) Thở bụng.

Thở bụng đúng cách đã có thể giúp cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống; Chánh niệm hơi thở có thể đưa đến “diệt trừ khổ ưu” và Quán niệm hơi thở thì dẫn đến “thành tựu chánh trí”!

Nói đến thở, ta nghĩ ngay đến ngực. Thiệt ra, thở ở bụng chớ không phải ở ngực. Thở bụng (abdominal breathing) hay còn gọi là thở cơ hoành (diaphragmatic breathing) là cách thở sinh lý nhất. Nhìn một em bé ngủ say thì biết. Chỉ có bụng phình lên xẹp xuống. Nhìn con ếch, con thằn lằn thì biết.

Thiền tập Anapanasati nên bắt đầu bằng thở bụng. Dĩ nhiên ở giai đoạn thiền sâu hơn thì  không còn thấy “phình xẹp” gì nữa cả!

 2.“Chánh niệm hơi thở”.

Niệm là nhớ, là nghĩ. Chánh niệm hơi thở là tâm ý chỉ “nhớ, nghĩ » đến hơi thở đang vào, đang ra chớ không để tâm ý đi lăng xăng nơi này nơi khác. Chỉ có vậy. Tưởng dễ mà không dễ. Tâm ý vốn lăng xăng trăm nghìn thứ, bay nhảy như khỉ như ngựa (tâm viên ý mã) không ngưng nghỉ. Lúc thì lòng tham nổi lên, tính tính toan toan. Lúc thì sân giận ào ào đến, rồi dằn vặt, rồi lo âu, nghi kỵ, ngờ vực, hoang mang… Tiêu tốn biết bao nhiêu năng lượng cho những chuyện vô bổ đó! Bộ não chỉ chiếm có 2% thể trọng mà tiêu hao Oxygen đến 25-30%, phần lớn cho những chuyện “nhảm nhí” vô bổ này. Nếu chánh niệm được vào hơi thở thì những thứ tham, sân, nghi, lăng xăng, bực dọc kia… sẽ âm thầm lặn đi rồi… biến mất!

Đây chính là “thiền chỉ” (samatha). “Chỉ” là ngưng. Ngưng sự lăng xăng của tâm ý. Ngưng sự bứt rứt của cơ thể.

Chánh niệm vào hơi thở cách nào? “Thở vô dài, biết thở vô dài. Thở ra dài, biết thở ra dài. Thở vô ngắn biết thở vô ngắn, thở ra ngắn biết thở ra ngắn”(Kinh Tứ niệm xứ).  Chỉ có vậy. Chữ “biết” ở đây có thể gây hiểu lầm. “Biết” ở đây không phải là “biết” mà là nhận thức được (recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận được (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra, lúc dài lúc ngắn lúc sâu lúc cạn kia kìa. Nhận thức, ý thức, cảm nhận, ấy chính là niệm (nhớ) về sự thở, về hơi thở. Vỏ não ta có cái hay: vùng này được kích hoạt thì vùng khác tắt ngấm. Đã nghĩ tới điều này thì không thể cùng lúc nghĩ tới điều khác. Nhờ đó mà ta giải thoát tâm ta khỏi những vướng mắc lăng xăng, tiêu tốn năng lượng vô ích! Điều này dẫn tới  “diệt trừ khổ ưu”, giải thoát tâm vậy.

 3.“Quán niệm hơi thở”.

Quán niệm hơi thở chính là “thiền quán” (vipassana). “Quán” không còn là “dõi theo” hơi thở đơn thuần nữa mà đã có sự phân tích, soi sáng (quán chiếu) dưới nhiều góc cạnh khác nhau để nhìn cho ra những điều mà bình thường không “thấy biết”. Cái thấy biết bấy giờ đã vượt khỏi cái trình hiện, cái giả tướng bên ngoài để nhìn được cái thực tướng bên trong, bên bờ kia.

Vi, tiếp đầu ngữ có nghĩa là “một cách khác”, “một cách đặc biệt”, còn passana là “thấy”, là “biết”. Vipassana là thấy biết một cách khác, một cách đặc biệt! Một chiếc lá vàng rơi, người thi sĩ có thể thấy cả mùa thu, thấy con nai vàng ngơ ngác, nhưng người có quán chiếu lại thấy sự vô thường, vô ngã, sự bất sinh bất diệt…

Khi vào sâu trong định, hành giả sẽ không cảm nhận mình thở nữa. Hơi thở nhẹ gần như ngưng bặt. An tịnh. Hòa tan. Tan biến.  Lúc đó sẽ không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người…

(đọc thêm: Thở để chữa bệnh, Ai có thể thờ giùm ai? Thả lỏng toàn thân… trên www.dohongngoc.com/web/).

Bs Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

“Quán” NHƯ LAI như thế nào?

15/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Quán” NHƯ LAI như thế nào?

 

Lúc ấy, Thế Tôn hỏi Duy-ma-cật: “Như ông muốn thấy Như Lai thì quán Như Lai như thế nào?”

Duy-ma-cật thưa: “Như tự quán cái ‘thật tướng’ của thân, quán Phật cũng như vậy”(*)

 

 Phật đã không hỏi “Như ông muốn thấy Phật thì quán Phật như thế nào?” mà hỏi “quán Như Lai như thế nào?”.

Bởi thấy Phật thì dễ quá! Phật đang đứng trước mặt đó thôi. Phật vẫn đi đứng nằm ngồi, thuyết giảng cho các đệ tử hàng ngày đó thôi.

Cho nên Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai!

Phật là Như Lai bởi vì Phật luôn sống trong Như Lai, sống với Như Lai, nói khác đi, Phật luôn sống trong pháp thân mình, trong thật tướng mình. Khi cần thì Phật mới hóa hiện, ứng hiện cho phù hợp với mỗi tình huống. Vì thế, Phật và Như Lai tuy “không một’’ mà cũng “không khác” là vậy.

Khi ‘’quán’’ thấy được cái pháp thân của Phật, cái thực tướng của Phật thì ta thấy… Như Lai. Còn nếu chỉ nhìn vào 80 vẻ đẹp hay 32 tướng tốt của Phật thì còn lâu mới thấy Như Lai. Hay dùng âm thanh chũm chọe, ánh sáng chớp lòe… thì chẳng những còn lâu mới thấy được Như Lai mà còn bị Phật chê là “hành tà đạo”.  Như Lai không có cái gì để thấy cả!

Khi Phật “thấy biết” Như Lai rồi thì Phật chỉ cười tủm tỉm, thôi nhé, đừng làm phiền ta nữa nhé. Và từ đó, với lòng từ bi, Phật “khai thị” cho chúng sanh được “ngộ nhập” như Phật, bởi  chúng sanh đều có Phật tánh.

Phật có nhiều danh hiệu: Thế Tôn, Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Điều ngự trượng phu, Vô thương sĩ, Thiên nhân sư v.v… Đó là tại chúng sanh ‘’thương kính’’ Phật nên xưng tụng vậy. Phật chỉ luôn tự xưng mình là Như Lai “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ’’ (chẳng đền từ đâu, chẳng đi về đâu): Như Lai nói thế này, Như Lai dạy thế kia…

Phổ Hiền Bồ-tát bảo gặp Phật thì kính lễ (Lễ kính chư Phật), còn khi gặp Như Lai thì chỉ còn có cách xưng tán (Xưng tán Như Lai!), tức khen ngợi, trầm trồ, thán phục, gật gù, ú ớ, bởi vì ‘’nói không được’’! Kinh Pháp Hoa bảo muốn làm Pháp sư chân chính thì phải “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai” chớ không nói vào nhà Phật, mặc áo Phật… cũng như nói về Như Lai thọ lượng chớ không Phật thọ lượng… Kim Cang cũng bảo muốn ‘’thấy Như Lai’’ thì phải nhìn xuyên qua bên kia cái tướng’’ (kiến tướng phi tướng tức kiến Như Lai).

Duy-ma-cật giải thích thêm cách ‘’quán’’ Như Lai. Như Lai thì “ vô danh, vô tướng; không sạch, không nhơ; không phải hữu vi cũng không phải vô vi…; không định, không loạn; không trí cũng không ngu; không thành thật cũng không lừa dối;

không đến không đi, không vào không ra; không xứng đáng cúng dường cũng không phải không xứng đáng cúng dường;

không vẩn đục, không phiền não, không tác, không khởi, không sanh, không diệt, không sợ, không lo, không mừng, không chán;

Như Lai thì “lìa mọi kết buộc, không thể định danh, không thể đo lường,  không phải lớn, không phải nhỏ; không phải cái được thấy, không phải cái được nghe, không phải cái được tri giác, không phải cái được nhận biết;đồng đẳng với trí, đồng với chúng sinh; không phân biệt với các pháp;

Như Lai thì ”không thể lấy trí để biết; không thể lấy thức để nhận thức;  dứt tuyệt tất cả con đường ngôn thuyết ; không thể bằng tất cả ngôn thuyết để hiển thị hay phân biệt.(*)

***

Thế Tôn hỏi Duy-ma-cật: “Như ông muốn thấy Như Lai thì quán Như Lai như thế nào?”

Duy-ma-cật thưa: “Như tự quán cái ‘thật tướng’ của thân, quán Phật cũng như vậy”(*)

***

Muốn thấy Như Lai thì phải quán, mà trước hết là quán cái thực tướng của chính thân mình và… ‘’quán Phật cũng như vậy’’.

Cho nên Phật day: “Hãy nương tựa chính mình!”.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(9-2017)

………………………………………………………………………………..

(*) Duy-ma-cật sở thuyết kinh, Tuệ Sỹ dịch Việt, 2008.

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Rùng mình…

15/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Rùng mình…

Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
vì sao núi lửa cứ phun trào?
vì sao băng tan vì sao bão táp…?
vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
vì sao và vì sao?…

 

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

 

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?

 

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

 

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

 

 

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân e Elena Pucillo Truong)

 

FRISSONS !

Frissonant, l’Homme demande:
Pourquoi les tremblements de terre et les tsunamis
Continuent à arriver un jour après l’autre?

Pourquoi les volcans continuent à éclater ?
Comment arrive-t-il que les glaciers fondent, les typhons détruisent?
Pourquoi les enfants et les personnes âgées
Sont entraînés et sont reduits en cendres ?

Les maisons s’effondrent et les ville sont détruites
Comme si elles étaient des jouets d’un enfant en colère.
Et pourquoi, pourquoi ?

Et maintenant écoute
Seulement un instant…..

Frissonant la Terre demande également:
Comment arrive-t-il que les montagne continuent à s’effriter ?
Pourquoi les rivières viennent bloquées?
Comment arrive-t-il qu’on continue à percer le fond de la terre?
Pourquoi les oiseaux de forêts, les poissons de la mer
n’ont plus un endroit où vivre?
Pourquoi les arbres sont déracinés?
Pourquoi le  riz , le maïs sont génétiquement modifiés?

Et pourquoi, pourquoi?
Une fois on s’appuyait l’un à l’autre
Il semble que maintenant nous n’avons plus besoin les uns des autres.
La Terre frissonne
L’Homme frissonne
Chacun pour son propre compte.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Pháp của Elena Pucillo Truong)

………………………………………………………………………………………………………………………………..

 

Ghi chú: Bão Harvey ập vào Houston,  bão Irma ập vào Florida, rồi bão số 10 Doksuri ập vào miền Trung…Việt Nam.

Đất vẫn run từng cơn của Đất, nước run từng cơn của Nước, và Gió và Lửa…

Cảm ơn Trương Văn Dân, tác giả của Bàn tay nhỏ dưới mưa, cảm ơn Elena Pucillo Trương đã… rùng mình dịch Rùng mình… 

Đỗ Hồng Ngọc

(9-2017)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Ăn chay và Sức khỏe”

07/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Về buổi Nói chuyện tại Tu Viện Tường Vân, Bình Chánh, 

Vu Lan 2017

 

Nói Tu viện Tường Vân Bình Chánh chắc bạn khó hình dung, nhưng nói chùa của Thầy Thích Phước Tiến thì bạn sẽ nhớ ra ngay phải không? Đi qua khỏi cầu Bình Điền, quẹo phải vào Chợ Đệm, dọc theo ”con kênh xanh xanh” đó. Hồi xưa (1987) bọn mình vẫn phải đi thuyền về xã Tân Nhựt để thực hiện Chương trình Săn sóc Sức khỏe Ban đầu (Primary Health Care) nhớ không? Xưa đây là vùng ngoại thành hẻo lánh, nay đô-thị-hóa nhìn không ra nữa!

Đề tài cũ quá phải không? Ai chẳng biết ăn chay có lợi cho sức khỏe, bảo vệ môi trường, tránh sát sanh, thực hiện ngũ giới… Nhưng nhà chùa đã ”đặt hàng” như vậy mà! Ở đây đông đảo bà con ăn chay nhưng một số bệnh tật lại nhiều, khi đi khám bác sĩ, bác sĩ bảo tại ăn chay, buộc phải “ăn mặn” trở lại mới hết bệnh! Bác sĩ nói đúng một phần. Thiệt ra không phải tại ăn chay chi đâu! Chẳng qua ăn không đúng cách. Ăn chay mà mặn quá, béo quá, nhiều đường bột quá, nhiều đạm quá… thì bệnh là phải rồi! Ăn chay mà không đúng cách thì béo phì, tim mạch, huyết áp, tiểu đường, stroke… là phải rồi. Ngược lại có người ăn chay lại thiếu chất, thiếu lượng, suy dinh dưỡng, gầy ốm tong teo, hạ đường huyết, chóng mặt, ngất xỉu… Một số các vị tu sĩ ngày nay bệnh nhiều, cũng do Phật tử…thương quá, quý trọng quá, bao nhiêu món ngon món bổ, sữa béo, sâm cao ly, nước yến… cung dưỡng cho thầy, hại thầy mà không hay!

Vì thế mà với đề tài này, mình đã đề cập ở 3 góc độ 1) Trước hết nói về sức khỏe là gì cái đã;  2) sau đó nói về tại sao ăn? ăn để làm gì? ăn cái gì? ăn bao nhiêu? ăn cách nào?... và sau cùng mới là 3) ăn chay. Chay là gì? Tại sao “chay”? Ăn chay ích lợi gì cho sức khỏe, cho tâm linh v.v…

Đại khái buổi nói chuyện kiểu ”tào lao” của mình khá… sôi nổi. Rất nhiều câu hỏi đáp. Nghe nói nhà chùa sẽ thực hiện một DVD. Hôm nào có đĩa thì mình sẽ đưa lên bạn ”xem” nhé. Hình như hôm đó còn có livestream gì đó nữa thì phải! Ái chà, kỹ thuật truyền thông bây giờ hiện đại mình… bí rồi!

Dưới đây là vài hình ảnh.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thầy Thích Phước Tiến và Bs Đỗ Hồng Ngọc (Tu viện Tường Vân 14.7, Vu Lan 2017)

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân, Uncategorized

Thư anh Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc

06/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư anh Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 05 tháng 9 năm 2017

 

Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Xin cảm ơn Bác sĩ gởi cho đọc bài:”Yếu tố bất ngờ trong bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” của tác giả Tịnh Thy. Một bài viết được phân tích khá chặt chẽ, kinh điển.

Trong lần lên Sài Gòn hôm đầu tháng 6-2017, vợ chồng tôi ghé thăm Bác sĩ , dịp này tôi có ghi lại trong bài ký sự:”Lên Sài Gòn, Ghé Thăm Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc”, nhơn đây, xin trích phần nhắc về hai bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” và “Mũi Né” của thi sĩ Đỗ Nghê ( bác sĩ ĐHN) mà tôi rất thích để chia sẻ cùng Bác sĩ :

“Buổi chiều hôm ấy Sài Gòn trời mưa lớn. Khi chúng tôi đứng chờ dưới bóng cây trong công viên nơi của ra vào thì Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng vừa tới trong chiếc xe Uber. Dù tôi và Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chưa ai gặp ai bao giờ nhưng cả hai bên cùng nhận ra nhau liền. Nhứt là tôi không thể quên tấm lòng của anh dành cho Hai Trầu với bài viết “Còn Thương Rau Đắng” nhằm giới thiệu cuốn “Mùa Màng Ngày Cũ” của tôi dịp in lại lần thứ nhứt vào năm 2015. Thế là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mời tui tôi đến ngồi nơi cái bàn ở chỗ góc hồ sen mà anh hay ngồi với bằng hữu của anh. Xa xa bên kia bờ hồ có cây phượng vĩ già đang mùa trổ bông đỏ rực. Có cái vui trong lần gặp đầu tiên này là cả hai chúng tôi rất thân nhau như bạn lâu ngày, trò chuyện rất tự nhiên, cởi mở, và thân ái. Dịp này tôi được Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhắc qua một chút về nếp sống an lạc. Tôi thì nhắc về thơ Đỗ Nghê với hai bài thơ mà tôi rất thích: “Bông Hồng Cho Mẹ” cùng bài “Mũi Né” của anh. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ký tặng vợ chồng tôi cuốn “Trò chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Nếp Sống An Lạc”, để đáp lại tôi thân tặng anh cuốn “Nhớ Về Những Bến Sông” của tôi trong đó có những bài như “Đám cưới trên đồi”, “Lời tự sự của rừng già, nhân ngày trái đất”, “Nỗi niềm của loài cá sặt”, “Lời tự sự của loài cá rằm”… mà tôi rất thích.

Đỗ Hồng Ngọc và Hai Trầu
(Saigon, tháng 6-2017)

Nói về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”, tôi có nói với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bài thơ hay là do chữ dùng cùng vần điệu đã đành, nhưng cái hay ở bài thơ này chính là cái thần trong bốn câu thơ ngắn ngủi đó:

 

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông”

(Bông Hồng Cho Mẹ)

Đỗ Hồng Ngọc

 

Ở đó người đọc thử để lòng mình lắng xuống rồi nghĩ về Mẹ, về Ngoại rồi đọc thầm từng chữ từng câu, người đọc sẽ nhận ra trong bài thơ này không có sự chết, không có nỗi buồn, mà là tình thương yêu, là lòng hiếu thảo, là mạch sống mãi mãi nối tiếp dạt dào từ đời này sang đời khác. Con nhận cho mình bông hoa trắng, và dành cho me bông hồng và căn dặn mẹ nhớ gài lên ngực, vì Ngoại cũng đang chờ Mẹ bên kia sông… Chỉ có vỏn vẹn chừng ấy, giản dị, đơn sơ thế đó và ở đó không có thứ triết lý gì bí hiểm mà chỉ có tình yêu thương ruột thịt và một đạo lý mà thời nào cũng cần. Đó chính là đạo hiếu. Đạo làm con. Con hiếu với Mẹ. Mẹ hiếu với Ngoại… Nói rộng ra là đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ, đối với ông bà!

Sở dĩ thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc làm cho người đọc thích bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” cũng như bài thơ “Mũi Né”, và nhiều bài thơ khác của anh , theo tôi vì tác giả không dùng chữ nào mới, cao siêu, và cũng không muốn làm cho thơ khó hiểu mà chỉ muốn viết ra những vần thơ từ những rung động thật nó dâng lên tự  chính trong lòng mình!

 

Chẳng hạn như bài thơ “Mũi Né” dưới đây, buổi chiều ngồi bên hồ sen Kỳ Hòa êm đềm sau cơn mưa nặng hạt ấy, tôi có nói với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, chỉ cần anh mở đầu bài thơ bằng một câu hỏi mà chừng như không phải là câu hỏi để được chờ đợi một câu trả lời của một người mình muốn hỏi, mà nhiều lúc để tự hỏi lòng mình, thì cũng đã làm tâm hồn mỗi chúng ta, những người đọc thơ anh, đã thấy nao nao xao xuyến rồi: “Em có về thăm Mũi Né không”.

Rồi bài thơ cứ thế liên tiếp hết câu hỏi nay bắt qua câu hỏi khác:

 

“Em có về thăm Mũi Né không

Hình như trời đã sắp vào xuân

Hình như gió bấc lùa trong Tết

Những chuyến xe đò giục bước chân

 

Em có về thăm Mũi Né không

Mùa xuân thương nhớ má em hồng

Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng

Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong

 

Em có về thăm Mũi Né xưa

Con đường sỏi đá vẫn quanh co

Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc

Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ

 

Em có về thăm Mũi Né yêu

Mười năm như một thoáng mây chiều

Mười năm vườn cũ chim bay mỏi

Áo trắng chân mềm em hắt hiu

 

Mũi Né ơi người xưa đã xa

Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ

Năm nay người có về ăn Tết

Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ …

 

(Mũi Né)

Đỗ Nghê

(Trích trong thi phẩm “Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác”)

 

Những câu hỏi trong bài “Mũi Né”, mà thi sĩ Đỗ Nghê cố ý lập đi lập lại đó làm tôi nhớ những câu hỏi trong thơ xưa có một thời làm xao xuyến lòng người, mà tôi là người đọc nhà quê già nay vẫn còn mê mẫn dù tôi không còn nhớ tên tác giả là ai. Chẳng hạn:

“Mai chị về em gửi gì không

Mai chị về nhớ má em hồng…”

Hoặc:

“Sao anh không về thăm thôn Vỹ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…”

 

Đó là chưa kể những chữ dùng  trong bài thơ “Mũi Né” rất quen, rất gần mà âm điệu lúc nào cũng êm đềm, tha thiết, có những chữ như  “gió bấc lùa”, “giục bước chân”, “mười năm vườn cũ”, “mùa ơi…”, theo thiển ý của tôi tác giả đã làm cho nỗi niềm nhớ nhung thêm tha thiết, dạt dào…

 

Chiều hôm ấy, trời Sài Gòn tiếp tục mưa lớn, chúng tôi chia tay sau buổi gặp dù ngắn ngủi nhưng mãi đến nay tôi vẫn nhớ trong lòng mình với niềm an lạc hiếm hoi giữa Sài Gòn đô hội. Tụi tôi không quên gởi lời cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, dù bận rôn nhiều, thời giờ của anh rất eo hẹp, nhưng ảnh vẫn nhín chút thời giờ hẹn gặp vợ chồng người nhà quê già tụi tôi từ dưới ruộng mới lên Sài Gòn ghé thăm anh trong thân tình và lưu luyến biết bao!”

 

Hai Trầu, Lương Thư Trung

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Tịnh Thy: Yếu tố bất ngờ trong bài thơ “Bông hồng cho mẹ”

02/09/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

NGUYỄN THỊ TỊNH THY (*)

Yếu tố bất ngờ

trong bài thơ bông hồng cho mẹ

 

 

Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người. Hay đến mức phải gọi đó là tuyệt tác. Và tuyệt tác này xứng đáng được hiện diện trong tang lễ của những bà mẹ. Bởi vì Bông hồng cho Mẹ là một cách viếng mẹ, khóc mẹ vô cùng đặc biệt – đầy uyên áo nhưng rất đỗi giản đơn. Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.

 

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đoá hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…”

 

Toàn bài thơ, kể cả nhan đề, đề tài, hình ảnh đều rất đỗi thân quen đối với người dân Việt, đặc biệt là các Phật tử. Có thể nói, Mẹ, lễ Vu Lan, hoa hồng màu trắng, hoa hồng màu hồng và cả nghi thức cài hoa hồng lên ngực dường như đã trở thành những biểu tượng mang tính liên văn bản trong văn chương nghệ thuật, trở thành tập quán trong đời sống và tâm thức bao người. Vậy mà, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc vẫn tìm ra được một tứ thơ lạ làm ta sững sờ, khiến ta bất ngờ. Đúng! Bất ngờ chính là yếu tố làm nên hồn cốt của bài thơ.

 

Bất ngờ đầu tiên là nghịch lý của hai câu thơ đầu:

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho mẹ đóa hồng”

 

Lạ chưa! Con cài hoa trắng, nghĩa là con không còn mẹ. Theo lẽ thường, mẹ càng phải cài hoa trắng, vì mẹ của mẹ (bà ngoại) cũng không còn. Vậy mà, con cài bông hoa trắng – bông hoa của tang tóc, mất mát; nhường cho mẹ đóa hoa màu hồng – màu của diễm phúc, viên mãn. Hẳn bạn đọc sẽ không khỏi thắc mắc về nghịch lý này. Trong thưởng thức nghệ thuật, thắc mắc, hoài nghi, cảm thấy mâu thuẫn… là khởi đầu của mỹ học tiếp nhận. Bạn đọc chờ đón lời giải thích ở câu tiếp theo. Nhưng không. Câu thứ ba lại càng khẳng định sự vững chắc của hai câu đầu: “Mẹ nhớ gài lên ngực”. Lại thêm một tầng thắc mắc nữa: Mẹ đã mất, vậy mà có thể thực hiện động tác “gài” hoa lên ngực. Mà chắc là mẹ có thể làm được việc đó, nên con mới dặn mẹ là “nhớ gài”. Quả là nghịch lý chồng nghịch lý! Cho đến câu cuối cùng: “Ngoại chờ bên kia sông…”, tất cả mọi thắc mắc, nghịch lý đều được cởi bỏ. Cởi bỏ bằng một sự bất ngờ – bất ngờ đến mức khiến ta ngỡ ngàng, sững sờ, xúc động, rưng rưng…

 

Cấu tứ bất ngờ là nét độc đáo chuyển tải chủ đề của bài thơ. Kiểu cấu tứ này khiến cho bài thơ đảm bảo được nguyên tắc “mạch kỵ lộ” của thi pháp thơ Đường. Người làm thơ phải biết rằng, mạch thơ tối kỵ là bị để lộ, nhà thơ phải làm sao đó để đến câu cuối cùng, điều mình muốn ký thác, bộc bạch mới lộ ra, gây bất ngờ cho người đọc, thậm chí bẻ gãy được những đoán định của họ. Bất ngờ càng lớn, ý thơ càng sâu sắc, sức lay động càng mãnh liệt. Vì thế, câu cuối cùng thường là câu gánh vác nhiệm vụ thể hiện chủ đề của bài thơ. Cũng vì thế, nhiều người cho rằng, trong thơ Đường luật, những câu đầu dù nói nhiều điều, tả nhiều thứ, có thể bao quát cả không gian mênh mông vô tận và thời gian vô thủy vô chung thì vẫn chỉ là sự chuẩn bị cho sự xuất hiện của câu cuối. Làm thơ Đường, trong tâm tưởng của nhà thơ, câu cuối chính là câu khởi đầu.

“Ngoại chờ bên kia sông…”

 

Vậy là không còn nghịch lý nữa. Mẹ về với ngoại. Ngoại đã đi trước, và đón chờ mẹ ở bên kia sông. Ngoại đón con gái của ngoại, mẹ về trong vòng tay của mẹ mình. Tất cả mọi việc đều thuận chiều. Và vì thuận chiều như thế nên nỗi mất mát, chia xa bỗng trở nên nhẹ nhàng hơn.

 

Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ. Tất cả hai mươi chữ trong bài thơ tứ tuyệt này đều là từ thuần Việt, cả danh từ, động từ, đại từ…; cả hình ảnh, biểu tượng… cũng đều rất đời thường và dân dã đến mức người đọc, người nghe ở trình độ nào cũng có thể hiểu, có thể cảm, có thể xúc động. Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật, như vậy là bài thơ đã đạt đến cảnh giới cao siêu của nghệ thuật: “áo của thợ trời không nhìn thấy đường may” (thiên y vô phùng). Chỉ trong hai mươi chữ, từ một tấm lòng, nhà thơ đã nói hộ muôn tấm lòng. Ước mong của tác giả là ước mong của mọi người, tiếng thơ của anh nhưng là tiếng lòng của tôi, của tất cả chúng ta.

 

“Ngoại chờ bên kia sông…” là hình ảnh mang tính biểu tượng, giàu sức gợi, chất chứa nhiều hàm nghĩa ý tại ngôn ngoại. Câu thơ tạc nên hình ảnh của người mẹ muôn thuở: yêu thương, dịu dàng, nhẫn nại, chở che, bảo bọc, hy sinh. Từ vị trí của người mẹ ở ba câu đầu, mẹ trở thành vị trí của người con ở câu cuối. Mẹ được về trong vòng tay yêu thương của ngoại, lại một lần nữa được làm con của ngoại, nghĩa là mẹ được tái sinh. Câu thơ còn toát lên một chân lý: có mẹ, dù ở bất cứ nơi đâu, dù ở cõi sống hay cõi chết, ta cũng sẽ được chở che, được bình an. Vì thế, dù “bên kia sông” là một thế giới vô cùng lạ lẫm thì mẹ cũng sẽ khỏi phải ngỡ ngàng, ngơ ngác, bơ vơ, lạc lõng. Có ngoại rồi, con yên tâm cho mẹ, con được an ủi rất nhiều khi nghĩ về bước chân cuối cùng của mẹ trong chuyến độc hành này.

 

Về với mẹ, về bên mẹ là một cách nói giảm nhẹ tuyệt vời để xua tan đi nỗi đau xé lòng, nỗi mất mát không gì bù đắp được. Câu thơ khiến ta bình tâm hơn, thanh thản hơn, thấu đạt hơn, an nhiên hơn khi đón nhận quy luật nghiệt ngã của tạo hóa. Câu thơ còn đặt ra vấn đề về cách nhìn nhận, đón nhận và lý giải những biến cố của đời sống. Trắng – hồng, sống – chết, được – mất, đi – về, sắc – không… ranh giới của những cặp đối lập ấy chỉ là tương đối. Sắc sắc không không, “có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không”, tất cả đều tùy thuộc vào cách chúng ta đón nhận sự việc. Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc đã chọn cách nhìn thấy niềm vui trong nỗi đau, đổi chất trẻ thơ cho sự già nua, biến chia ly thành đoàn tụ, thay mất thành được, biến ra đi thành trở về.

Từ hình ảnh và ý nghĩa đẹp đẽ của câu cuối, đối sánh với ba câu đầu theo lối đọc ngược bài thơ từ dưới lên, ta sẽ thấy mọi ẩn số của nghịch lý đều được giải đáp tường tận. Vì mẹ được về với ngoại (câu 4) nên mẹ nhớ cài hoa hồng lên ngực (câu 3), con dành cho mẹ đóa hồng là hợp lý (câu 2), con nhận phần mất mát cho riêng mình, và con vĩnh viễn không còn mẹ trên đời (câu 1). Cũng từ câu 4, đọc lại câu 3, ta sẽ thấy câu thơ – lời dặn của người con – thấm đẫm nỗi niềm. “Mẹ nhớ gài lên ngực”. “Mẹ nhớ…”, nghĩa là mẹ đừng quên làm điều đó nhé, bởi đóa hoa hồng dường như là dấu hiệu để ngoại nhận ra mẹ, là tín vật để xác nhận hạnh phúc đoàn viên của mẹ và ngoại. Và con mong như thế, mong lắm thay! “Mẹ nhớ gài lên ngực”. Lời thơ như dặn dò nhắc nhở, như van xin cầu khẩn, như vỗ về dỗ dành, như an ủi động viên… trong giờ phút bịn rịn tiễn đưa. Lời nói ấy là tấm lòng, là nỗi âu lo, là yêu thương chan chứa bật lên từ nỗi đau nén chặt trong lòng. Khóc không nước mắt, nỗi đau lớn tựa càn khôn!

 

Mở đầu bằng những nghịch lý và kết thúc bất ngờ bằng những chân lý, Bông hồng cho Mẹ đưa chúng ta ra khỏi bến mê để bước vào bờ đạt ngộ. Dẫn dắt người đọc đi từ mê muội đến tỉnh thức về lẽ tử sinh như thế, quá trình nhận thức của bài thơ mang đậm dấu ấn của Thiền tông. Bài thơ là cái nhìn khác biệt và sống động về một trong “tứ khổ” sinh lão bệnh tử, thấm đượm chân lý về tình mẹ. Nếu có mẹ, được ở bên mẹ thì cõi chết cũng là cõi bình yên. Đối diện với cái chết bằng tâm thế ấy, ta còn sợ nỗi gì? Ai rồi cũng có ngày được về với mẹ, hãy nhẹ nhàng, nhẹ gánh mà đi. Rồi ta sẽ được mẹ ta đón bên kia sông. Hiểu là giải thoát. Vẫn biết như thế, nhưng sao nước mắt vẫn cứ chảy dài khi nghĩ đến ngày ngoại đón mẹ. Ta mê muội quá chăng?

———————————-

Nguồn: Đặc san LIỄU QUÁN, số 12, tháng 8.2017. Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán-Huế

(*) Nguyễn Thị Tịnh Thy, giảng viên Đại học Sư Phạm, Huế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Lõm bõm học Phật: “Con mắt còn lại”…

22/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

“Con mắt còn lại”

Đỗ Hồng Ngọc

Phật bỗng hỏi Tu-bồ-đề, ông nghĩ sao? Như Lai có “mắt thịt” không? Dạ có! Như Lai có mắt thịt! Tu-bồ-đề vội đáp. Hỏi ta, chắc ta ấp úng, không dám trả lời. Ta dễ nghĩ rằng Phật hẳn chỉ có Phật nhãn (mắt Phật) còn phàm phu chúng ta mới có nhục nhãn (mắt thịt) chứ, ai dè kinh Kim Cang nói Phật cũng có nhục nhãn như phàm phu, chẳng cũng khoái ru?  Thế rồi Tu -bồ-đề dạ có, dạ có, năm lần cả thảy! Thì ra Phật có đủ cả năm thứ con mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn… Những 5 thứ con mắt ư, có nhiều quá không?

Dĩ nhiên “mắt” là để nhìn, để “thấy”! Và, nhiều loại con mắt là để thấy nhiều … kiểu khác nhau – nói khác đi là để nhìn dưới nhiều “quan điểm”- chứ không khư khư bám chặt lấy quan điểm của mình,  khư khư cho rằng mình đúng người sai để chí chóe hoặc để thượng cẳng tay hạ cẳng chân! “Thấy” như thế nào là một chuyện hệ trọng. Thấy thế nào sẽ dẫn tới nghĩ suy, nói năng, hành động thế đó! Cho nên Quán Thế Âm bồ tát mới có nghìn mắt nghìn tay mà trên mỗi bàn tay đều có một con mắt!

Trong Bát chánh đạo thì Chánh kiến ở vị trí số một! “Kiến” mà không chánh thì dễ lệch lạc! Có chánh kiến rồi mới có chánh tư duy được! Không thì cứ loay hoay không lối thoát hoặc hý luận chẳng tới đâu!

Thấy và biết có khi xa lơ xa lắc dù cũng căn đó cũng trần đó! Chuyên kể hai vợ chồng nhà kia đang xem xiếc trong rạp. Cô diễn viên trẻ đẹp mặc một bộ đồ biểu diễn rất hấp dẫn đang treo toòng teng trên chiếc đu bay! Người vợ bỗng kêu lên: Bên dưới không có gì hết!Anh chồng gật đầu đồng ý. Nhưng sau một lúc nhìn kỹ lại, anh nói: Không phải! Bên dưới có lớp vải màu da người đó chứ! “Tôi muốn nói không có lưới bảo đảm dưới cái đu bay, còn ông đang nói về cái gì vậy hử?”! Thì ra, yêu nhau là cùng nhìn về một hướng nhưng thấy…  khác nhau! Người vợ thì… từ bi,  ông chồng thì… từ ái!

Chỉ riêng nhục nhãn, mắt thịt, đủ lôi thôi rồi!  Nhãn cầu to hơn một chút đã sinh tật cận thị, trông gà hóa cuốc  Giác mạc cong không đều một chút, đã sinh loạn thị, nhìn cái gì cũng méo mó. Rồi loạn sắc, quáng gà… đủ thứ! Rồi cườm nước, cườm khô, bong võng mạc,  thoái hóa hoàng điểm,  hoa đốm hư không. Cứ tưởng tại không gian ai ngờ mắt mình lão hóa! Khi mất dao thì cái mắt thịt đó thấy người nào cũng giống kẻ ăn cắp dao. Mắt thịt chỉ là một cấu trúc của “tứ đại” giúp ta thấy –  mà không giúp ta biết. Cái  biết nằm ở đằng sau kìa. Nằm ở  vỏ não, ở thùy chẩm kìa. Mắt thịt chỉ tiếp thu ánh sáng, hình thể, màu sắc… rồi dẫn truyền  về cho não phân tích, tổng hợp, so sánh…  Tâm thức thế nào thì vạn pháp thế đó. Mặc sức mà vẽ vời. Mặc sức mà diễn dịch, mà phê phán, nhận xét, rồi chí chóe, rồi  sứt càng mẻ gọng vì những “nhỡn quan” khác nhau! Mắt thịt không có lỗi!  Căn trần gặp nhau tạo ra  “tướng” thì cái tướng không có lỗi! Chính cái tâm nhiễu sự, “dán” vào cái tướng đó mới thành cái “tưởng”, mới sinh sự. Mà sinh sự thì sự sinh!

Vấn đề là chuyển hóa cái tâm đó cách nào, huấn luyện cái tâm đó ra sao, để thấy cho đúng và biết cho đúng. Từ cái tâm “điên đảo mộng tưởng”, cái tâm luôn sinh sự, xuyên tạc, lăng xăng, căng thẳng, mệt mỏi đến cái tâm “vô sinh”, vô sự, vô hành… thảnh thơi vui thú có khó lắm không? Khó, nhưng có thể. Miễn là phải tinh tấn, phải thiền định… để đạt đến trí huệ.  Khi rèn tập như vậy, dần dà ta có những con mắt… mới!

Thiên nhãn- mắt thần – là những loại… siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp (MRI) bây giờ! Nó cũng là… kính hiển vi điện tử, phóng lớn hằng triệu lần, là viễn vọng kính khổng lồ… nhìn xa hằng triệu năm ánh sáng! Thời Phật chưa có  hiển vi điện tử, chưa có viễn vọng kính, chưa có siêu âm, chụp cắt lớp… vậy mà Phật  vẫn thấy đựơc trong ly nước kia có vô số những vi sinh vật, thấy đựơc tam thiên đại thiên thế giới chớ không phải chỉ mình ta cô độc trên quả địa cầu! Các nhà khoa học thường dừng lại ở thiên nhãn. Bởi họ chỉ lo tìm kiếm, phát hiện những thứ ở bên ngoài mà quên nhìn vào bên trong. Gần đây có vẻ các nhà vật lý học, các nhà y sinh học, với những tiến bộ khoa học kỹ thuật của mình đã có thể “thấy” ra nhiều chuyện lạ, khiến họ giật mình không ít. Huệ nhãn là con mắt thứ ba, con mắt bất nhị, con mắt nhìn rõ chân không mà diệu hữu, vô thường, vô ngã. Huệ nhãn có khi là đã đủ. Đủ để dừng chân, Đủ để đặt gánh nặng xuống. Đủ để tủm tỉm cười một mình. Ung dung. Tự tại.

Thế nhưng, nếu chỉ vậy thì đức Phật có lẽ sẽ quanh quẩn dưới gốc cây Bồ đề việc gì phải lặn lội gió mưa đi khất thực và truyền trao giáo pháp suốt cả cụôc đời? Cho nên cần có “Pháp nhãn”! Con mắt pháp (pháp nhãn)  là một “con mắt” lý tưởng, hoài bão cao đẹp, có phần “lãng mạn” nữa! Muốn vậy họ phải xả thân, phải chí nguyện, và trước hết phải… “chủng ngừa” đầy đủ cho chính mình trước khi xuống núi! Không chủng ngừa đầy đủ, họ dễ bị nhiễm ô, mắc bệnh!  Có pháp nhãn rồi mới có thể tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên, thõng tay vào chợ!

Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Như lai hữu Phật nhãn phủ? Tu-bồ-đề, ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn không? Phật mà không có Phật nhãn thì ai có? Nhưng Phật nhãn là gì? Là cái thấy cái biết của Phật, là “tri kiến Phật”.  Nhưng đừng quên rằng Phật thì có đủ cả “ngũ nhãn” cùng lúc.

“Gươm báu trao tay” viết về kinh Kim Cang của Đỗ Hồng Ngọc, bản dịch tiếng Anh của Diệu Hạnh Giao Trinh, Thiện Tri Thức xb, 2015

Bùi Giáng, một thi sĩ thấm đẫm Kim Cang thường hạ những câu “hà dĩ cố” trong thơ có lần viết “ Còn hai con mắt khóc người một con…” mà Trịnh Công Sơn đã nối theo: Còn hai con mắt một con khóc người! Con mắt còn lại…? Ừ, con mắt còn lại thì sao? Con mắt còn lại… nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ…(TCS). Phải rồi, cái con mắt còn lại quả thực là con mắt gây phiền hà! Nó bị diplobie, nhìn một thành hai! Nhưng người bị diplobie thì nhìn một thành hai giống hệt nhau còn đầu này nó nhìn em…  yêu thương thành em thú dữ, rồi còn “ nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp…”, nghĩa là cái nhìn đầy “phân biệt đối xử”! Nó như của ai khác- nó quan sát ta, nhìn ngắm ta  và rồi nó …thở dài thấy mà ghét (Con mắt còn lại là con mắt ai? Con mắt còn lại nhìn tôi thở dài! TCS)! Thở dài, bởi nó thấy ta tội nghiệp! Thấy ta đáng đời! “… đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây…” (TCS). Đó chính là con mắt của “Thức”. Của biện biệt, so sánh, đếm đo. Khi “thức” biến thành “trí” thì mọi chuyện đã khác! Lúc đó,

Con mắt còn lại

 nhìn đời là không

 nhìn em hư vô

 nhìn em bóng nắng!  

Là không, chứ không phải bằng không! Là không, đó là cái không của có, cái có của không… Tóm lại, còn hai con mắt…  “khóc người một con” kia là con mắt của Bi! “Con mắt còn lại nhìn đời là không” này chính là con mắt của Trí. Bi mà không Trí thì cứ sẽ khóc hoài, dỗ không nín!

(báo Văn hóa Phật giáo, số 279 ngày 15-8-2017)

 

Buổi nói chuyện đề tài: “Vận dụng tư tưởng Kim Cang Bát Nhã trong cuộc sống” tại Chùa Xá Lợi Tp.HCM, tháng 9/2013.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

thư gởi bạn xa xôi 8.17

13/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Đã bắt đầu làm biếng tổ rồi! Phải đợi bạn nhắc vài lần mới chịu ngồi gõ đây. Tay chân cũng lọng cọng hơn rồi đó.

Thấy thời đại internet có gì hay ư? Có đó.

Chẳng hạn một bài viết của ai đó, bỗng nhiên thấy tên mình là tác giả, phát tán tùm lum. Một cô giáo hỏi ”đọc không thấy giọng của Ngọc?” và  ”sao lạ vậy? hay là bị ức chế lâu quá nên bây giờ mới xổ ra?”… Rồi hai vợ chồng người bạn cũng khá thân tình, e dè hỏi: lâu nay có chút thắc mắc, nếu anh cho phép… có phải anh vừa mới viết bài nọ bài kia không? Ối trời. Đính chính cả chục lần chẳng ai thèm để ý!

Rồi có bài thì bị cắt khúc giữa, giữ đoạn đầu đoạn cuối của mình, thêm hẳn một khúc theo ý chủ quan của người sửa, chẳng biết để làm gì…!

Có người tử tế hơn, giữ nguyên bài mình viết, giữ nguyên tên tác giả, chỉ có Bold đậm chỗ này chỗ khác theo ý riêng, rồi thêm hình ảnh minh họa, thêm video, thậm chí… quảng cáo cái gì đó nữa. Thật vui.

Mới đây, ngày CN 18/6/2017 mình có buổi Nói chuyện tại Pháp viện Minh Đăng Quang cho khoảng 500 sinh viên. Đề tài cho mình tự chọn. Mình chọn: Tại sao tôi học Phật? Vì nói với các bạn trẻ, sinh viên nên có lẽ tốt nhất là giải đáp cái thắc mắc của họ: Học Phật để làm gì? Tại sao lại học Phật?…

Các Sư ở pháp viện có thu hình, thu âm. Hôm nọ, Sư ML phone nói bác sĩ ơi, video có đoạn đầu bị rè, khó nghe, nhóm thực hiện đề nghị bác sĩ nói lại giùm đoạn này được không? Làm sao nói lại được? Nói là nói với ai, nói lúc nào, nói cái gì… nữa chứ! Rồi Sư bảo hay là, bên nhóm quay clip đề nghị bác sĩ cho họ chọn một giọng nói của ai đó giống giọng bác sĩ nói lại đoạn này vậy nhé? Lại càng tệ! Mình phải từ chối ngay.

Thôi thà nghe rè rè một đoạn (vài chục phút) rồi nghe tốt đoạn sau còn có lý hơn.

Vậy đó, thời buổi của Internet, của truyền thông… đa phương tiện hiện nay.

Bạn nghe thử vậy nhé,

 

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thầy thuốc và bệnh nhân

Để biết thêm về “Viện Dưỡng Lão”

27/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Bài viết của Bs Trần Công Bảo về Nursing Home ở Mỹ cung cấp cho chúng ta rất nhiều kiến thức và thông tin quý báu. Ở Việt Nam, đây là một ”khoảng trống” cần được quan tâm, vì dân số Việt Nam ngày càng già nhanh, già gia tốc, “già chưa kịp giàu” như báo chí thường nói! 

Bác sĩ Trần Công Bảo là một bạn đồng môn của chúng tôi, tốt nghiệp Y khoa Đại học đường Saigon khóa 1962-1969. Anh hiện đang sống ở Mỹ, có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này và đã có một bài viết rất hữu ích cho chúng ta tham khảo. Xin phép được chia sẻ nơi đây. 

Lúc này tôi cũng cảm nhận được cái già gia tốc của mình. Khi có dịp gặp các bạn già… quá cỡ, hỏi ra đều ít hơn mình vài tuổi mới lạ! Thì ra mình chẳng bao giờ thấy mình già! Cho nên thi sĩ Nguyên Sa mới bảo “đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân”! 

Cảm ơn Trần Công Bảo.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

NURSING HOME Ở MỸ

Nỗi buồn của người Việt già ở Nursing Home

Bác sĩ Trần Công Bảo

 

Cổ nhân có câu: “sinh, lão, bệnh, tử”. Bốn giai đoạn này không ai có thể tránh khỏi. Chuẩn bị ứng phó với bệnh tật và tuổi già của mình và của thân nhân mình là điều ai cũng có dịp nghĩ tới, kể cả chính kẻ viết bài này là tôi cũng đang sắp sửa bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi”.

Anh bạn thân của tôi, Bs. TNT từ lâu có đề nghị tôi viết một bài về “Viện Dưỡng Lão” (VDL) để giúp bà con mình có thêm một chút khái niệm về VDL vì anh biết trong suốt 27 năm qua tôi đã liên tục săn sóc cho các cụ già tại các viện dưỡng lão, và cũng đã là “Giám Đốc Y Tế” (Medical Director) của nhiều VDL trong vùng. Nay tôi muốn chia xẻ cùng qúy bạn một số kinh nghiệm và hiểu biết về VDL.

Trong Việt ngữ chúng ta thường dùng từ Viện Dưỡng Lão, nhưng trong Anh ngữ thì có nhiều từ khác nhau như Nursing home, Convalescent home, Rehabilitation and Nursing center, Skilled nursing facility (SNF), Rest home… Nói chung, VDL là một nơi cho những người bị yếu kém về thể xác không thể tự săn sóc cho mình được trong cuộc sống hàng ngày.  Thí dụ như không thể nấu nướng, giặt giũ, đi chợ… nặng hơn nữa như không đủ sức để làm những việc tối cần thiết cho cuộc sống như ăn uống, đi tiêu, đi tiểu… hoặc cần phải có thuốc men đúng lúc mà không thể tự làm được.

Khi nói tới VDL người ta thường chỉ nghĩ tới những người già mà thôi. Thật ra có nhiều người “trẻ” nhưng vì tật bệnh không thể tự lo cho mình được cần phải có sự giúp đỡ của SNF (skilled nursing facility). Vậy thế nào là VDL?

VDL là nơi cung cấp những dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cho những người không đủ khả năng lo cho chính mình. Tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh tật mà có những VDL khác nhau:

1- Skilled Nursing Facility (SKF): là nơi cung cấp những dịch vụ cho những người bị khuyết tật nặng như tai biến mạch máu não gây nên bán thân bất toại, hôn mê lâu dài, hoàn toàn không còn khả năng ngay cả trong việc ăn, nuốt, tiêu, tiểu… Thường thường tại SNF có hai phần: phục hồi(rehabilitation) và săn sóc sức khỏe (nursing care). Có những người sau khi được giải phẫu thay xương khớp háng(hip replacement), thay đầu gối (knee replacement), hay mổ tim (bypass, thay valve tim) … cần thời gian tập dượt để phục hồi(rehabilitation). Sau đó họ có thể về nhà sinh hoạt bình thường cùng gia đình.

2- Intermediate care facility (ICF): cung cấp dịch vụ cho những người bệnh như tật nguyền, già cả nhưng không cần săn sóc cao cấp (intensive care). Thường thường những người này không có thân nhân để lo cho mình nên phải vào đây ở cho đến ngày cuối cùng (custody care).

3- Assisted living facility (ALF):Thường thường những người vào ALF vẫn còn khả năng tự lo những nhu cầu căn bản như tắm rửa, thay quần áo, đi tiêu, đi tiểu một mình được. Họ chỉ cần giúp đỡ trong việc bếp núc, theo dõi thuốc men và chuyên chở đi thăm bác sĩ, nhà thờ, chùa chiền hay mua sắm lặt vặt. Họ vẫn còn phần nào “độc lập”.

4- VDL cho những người quá lú lẫn(Alzheimer facility): có những bệnh nhân bị lú lẫn nặng, đến nỗi không nhận ra người thân như vợ, chồng, con cháu nữa. Không biết tự đi vào buồng tắm, phòng vệ sinh để làm những công việc tối thiểu. Họ không biết họ ở đâu, dễ đi lang thang và lạc đường.  Nếu ở nhà thì phải có người lo cho 24/24.  Những VDL dành riêng cho những bệnh nhân này, thường là “locked facilty”, cửa ra vào được khóa lại để bệnh nhân không thể đi lạc ra ngoài. Cách đây khá lâu đã có trường hợp một bệnh nhân đi ra khỏi viện, lạc đường, bị xe lửa cán chết!  Từ đó có locked facilty.  Đôi khi cũng có những bệnh nhân được gắn alarm vào cổ chân. Nếu bệnh nhân đi qua cửa thì alarm sẽ báo động và nhân viên sẽ kịp thời mang về lại.

 

NHỮNG DỊCH VỤ ĐƯỢC CUNG CẤP TẠI VDL

Điều này tùy theo từng viện. Tuy nhiên những dịch vụ sau đây là cần thiết:

1- Phòng ngủ.
2-Ăn uống
3-Theo dõi thuốc men
4-Những điều tối thiểu hàng ngày như tắm rửa, thay quần áo, vệ sinh cá nhân…
5-24/24 lo cho những trường hợp bệnh khẩn cấp.
6-Sinh hoạt hàng ngày như giải trí, tôn giáo…
7- Vật lý trị liệu. Dịch vụ này rất quan trọng để giúp người bệnh có thể phục hồi càng nhiều càng tốt.  Trong vật lý trị liệu có nhiều dịch vụ khác nhau:

a- Tập dượt (physical therapy): như tập đi, tập lên xuống cầu thang, tập tự vào giường ngủ hay ra khỏi giường một cách an toàn, không vấp ngã…
b- Speech therapy: tập nói, tập nuốt khi ăn uống… Có những bệnh nhân bị stroke, không thể nói hay ăn được, cần được tập để phục hồi chức năng này.
c- Occupational therapy: Tập mang giầy, bí tất (vớ)… Tập sử dụng bếp gaz, bếp điện cho an toàn để tránh bị tai nạn.

 

AI TRẢ TIỀN CHO VDL? 

Có nhiều nguồn tài trợ khác nhau:

1-Medicare
2-Medicaid (ở California là Medi-Cal).
3-Bảo hiểm tư, có nhiều người mua sẵn bảo hiểm cho VDL.
4-Tiền để dành của người bệnh (personal funds).

MEDICARE là do qũy liên bang, chỉ trả tối đa 100 ngày cho những bệnh nhân cần tập dượt để phục hồi chức năng tại một Skilled Nursing Facility (SNF). Thường những bệnh nhân bị stroke, gãy xương… cần dịch vụ này. Medicare KHÔNG TRẢ cho custody care.

MEDICAID là do qũy liên bang và tiểu bang. Qũy này trả nhiều hay ít là tùy từng tiểu bang. Medicaid trả cho dịch vụ y tế và custody care.

BẢO HIỂM TƯ thì tuy theo từng trường hợp sẽ có những quyền lợi khác nhau, nhưng thường rất hạn chế.

Hiện nay người ta ước lượng trên nước Mỹ có khoảng 1.4 triệu người sống trong 15,800 VDL. Các VDL này đặt dưới sự kiểm soát của bộ y tế, đặc biệt là do Center for Medicare & Medicaid Services(CMS) giám sát.  Hàng năm các VDL đều phải trải qua một cuộc kiểm tra rất gắt gao (survey)của CMS. VDL nào không đúng tiêu chuẩn thì có thể bị đóng cửa!  Mục đích kiểm tra của CMS là để bảo đảm cho các bệnh nhân tại VDL được săn sóc an toàn, đầy đủ với chất lượng cao. Đồng thời tránh những trường hợp bị bỏ bê(negligence) hay bạo hành (abuse) về thể xác lẫn tinh thần.  Tại mỗi VDL đều có lưu trữ hồ sơ kiểm tra cho công chúng xem. Bất cứ ai cũng có thể xem kết quả của các cuộc kiểm tra này.  Tất cả các VDL đều phải có các biện pháp để bảo đảm sự săn sóc cho bệnh nhân theo đúng tiêu chuẩn. Nếu không sẽ bị phạt tiền, và có những trường hợp bị đóng cửa.

 

Trên đây tôi đã trình bày sơ qua về những điểm chính của VDL.  Tuy nhiên, như quý bạn đã từng nghe và biết, có nhiều khác biệt giữa những VDL.  Theo tôi nhận xét thì quan niệm chung của mọi người là “không muốn vào VDL”.  Chúng ta từng nghe những chuyện không tốt thì nhiều, mà những chuyện tốt thì ít.“Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, là câu ngạn ngữ người mình vẫn nói từ xa xưa đến nay. Tôi đã đọc không biết bao nhiêu là bài viết về việc con cái“bất hiếu”, bỏ bố mẹ, ông bà vào VDL rồi không đoái hoài tới.  Tôi cũng thấy nhiều trường hợp các cụ vào VDL một thời gian rồi không muốn về nhà với con cháu nữa! Trên đời này không có gì là tuyệt đối cả, trong cái hay có cái dở, và trong cái dở lại có thể tìm ra cái hay.  Vậy chúng ta rút tỉa được kinh nghiệm gì trong vấn đề này?  Tôi chỉ xin nêu lên những nhận xét chủ quan của riêng tôi mà thôi. Có thể quý vị không đồng ý hết, nhưng nếu rút tỉa được ít nhiều ý kiến xây dựng thì “cũng tốt thôi”.

 

NHỮNG “BỆNH” CÓ THỂ DO VDL GÂY RA

1– Lo lắng (anxiety):Trong tháng 9/2011 những nhà nghiên cứu hỏi ý kiến của 378 bệnh nhân trên 60 tuổi nằm VDL tại thành phố Rochester, New York. Kết qủa là có trên 27.3% trả lời là họ bị bệnh lo lắng, từ vừa đến nặng. Nếu không được chữa trị sẽ đưa đến bệnh trầm cảm(depression). Nên nhớ là 378 bệnh nhân này là người Mỹ chính cống, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Chúng ta hãy tưởng tượng người Việt mình không biết rành tiếng Anh, không am tường phong tục, tập quán thì sự khó khăn sẽ nhiều như thế nào!  Còn một vấn đề nữa là thức ăn, chúng ta quen“nước mắm, thịt kho”…, làm sao mà có thể nuốt hamburger, sandwich… ngày này qua ngày khác! Các vấn đề này càng làm bệnh lo lắng, trầm cảm nặng thêm !

2- Phản ứng của thuốc (adverse drug reactions): Trong tháng 1/2012 ngưòi ta theo dõi các bệnh nhân tại VDL, kết qủa là ít nhất 40% các bệnh nhân dùng trên 9 loại thuốc khác nhau. Uống càng nhiều thuốc thì phản ứng càng nhiều. Có ba loại phản ứng khác nhau:

a-      Phản ứng phụ (side effects): thí dụ như uống aspirin làm bao tử khó chịu, thuốc cao máu làm táo bón… Loại này thường xảy ra, không cần phải ngưng thuốc.

b-      Drug interference (tạm dịch là thuốc đối tác với nhau): có nhiều loại thuốc uống chung với nhau sẽ làm tăng hoặc giảm sức tác dụng. Thí dụ thuốc loãng máu coumadin mà uống chung với thuốc tim như amiodarone sẽ làm dễ chảy máu. Có những thức ăn hay nước uống dùng chung với thuốc cũng ảnh hưởng đến thuốc. Thí dụ uống nước bưởi hay nho với một vài loại thuốc cũng sẽ tăng sức tác dụng của thuốc, dễ gây ngộ độc.

c-      Dị ứng với thuốc (allergic reaction):Loại này nguy hiểm hơn, thường làm da nổi mề đay, đỏ, ngứa. Nếu nặng thì có thể chết được như phản ứng với penicillin chẳng hạn. Nếu bị dị ứng thì phải ngưng thuốc ngay.

3- Ngã té (fall): Người già rất dễ bị té ngã gây nên nhiều biến chứng quan trọng như chảy máu trong đầu (intracranial bleeding), gãy xương (như gãy cổ xương đùi, tay…). Khi già quá hoặc có những bệnh ảnh hưởng đến sự di chuyển, không còn đi lại vững vàng, nhanh nhẹn như lúc trẻ nên dễ vấp, té ngã.

4- Da bị lở loét(decubitus ulcers):Những người bị liệt giường, không đủ sức để tự mình xoay trở trên giường, rất dễ bị lở loét da gây nên nhiều biến chứng tai hại.

5- Nhiễm trùng(infection): như sưng phổi, nhiễm trùng đường tiểu…nhất là những người cần phải dùng máy móc như máy thở (respirator),ống thông tiểu (Folley catheter)…

6- Thiếu dinh dưỡng, thiếu nước(malnutrition, dehydration): Ở các cụ già thì trung tâm khát(thirst center) trong não không còn nhạy cảm nữa, nên nhiều khi cơ thể cần nước mà không thấy khát không uống nên bị thiếu nước. Cái cảm giác “ngon miệng” (appetite) cũng giảm đi nên không muốn ăn nhiều gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng.

 

VẬY CÓ NÊN VÀO VDL KHÔNG? 

Việc này thì tùy trường hợp. Theo tôi:

1- Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn.Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time)đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…

2- Nếu không thể ở nhà được, mà tài chánh cho phép thì có thể ở những assisted living facilities. Ở đây thường họ chỉ nhận tiền(personal funds) chứ không nhận medicare & medicaid. Tại đây thì sự săn sóc sẽ tốt hơn.

3- Group homes (nhà tư): Có những người nhận săn sóc cho chừng 4-6 người mỗi nhà. Họ cũng lo việc ăn uống, chỗ ở, thuốc men, chở đi bác sĩ…Thường thì rẻ hơn tùy từng group.

4- Nếu “chẳng đặng đừng” phải vào VDL thì phải làm sao để có được sự săn sóc “tốt nhất”?

a-      Làm sao để lựa chọn VDL:

–  Vào internet để xem ranking của VDL(tương tự như các tiệm ăn có xếp loại A, B, C…)

–  Mỗi VDL đều phải có cuốn sổ phúc trình về các cuộc kiểm tra (survey) do bộ y tế làm hàng năm. Trong đó bộ y tế sẽ nêu lên những khuyết điểm mà họ đã tìm thấy. Cuốn sổ này được để ở khu công cộng (public area)trong khuôn viên của VDL. Hỏi receptionist thì họ sẽ chỉ cho.

–  Hỏi ý kiến thân nhân những người có thân nhân đang nằm tại đó.

–  Quan sát bên trong và ngoài của VDL: xem có sạch sẽ, không mùi hôi, nước tiểu. Theo dõi cách đối xử, săn sóc của nhân viên với bệnh nhân.

–  Nếu có thể thì tìm một VDL có nhiều người Việt đang ở để có nhân viên nói tiếng Việt, có thức ăn Việt, có chương trình giải trí theo kiểu Việt.

b-      Nếu đã quyết định chọn VDL cho người thân rồi thì phải làm gì sau đó?

–          Chuẩn bị tư tưởng không những cho bệnh nhân mà còn cho cả chính mình và mọi người trong gia đình để có được sự chấp nhận(acceptance) càng nhiều càng tốt.

–          Thăm viếng thường xuyên: Nếu nhà đông con cháu thì không nên đến thật đông một lần rồi sau đó nhiều ngày không có ai đến. Nếu được, nhất là trong vài tháng đầu, luân phiên nhau tới, mỗi ngày một lần một vài người. Làm lịch trình ai đi thăm ngày nào, giờ nào…

–          Nên làm một cuốn sổ “thông tin” (communication book)để cạnh giường. Trong cuốn sổ này mỗi khi ai đến thăm thì viết ngày giờ, tên người đến thăm, và nhận xét xem bệnh nhân có vấn đề gì cần lưu ý, giải quyết. Nếu không có vấn đề gì thì cũng nên viết vào là không có hoặc cho nhận xét về vui, buồn, than thở của bệnh nhân…

–          Cuối tuần hay ngày lễ: nên có người vào hoặc mang bệnh nhân về nhà nửa buổi để được sống với không khí gia đình dù ngắn ngủi, hay đưa ra khỏi VDL để làm đầu, tóc hoặc tới tiệm ăn cho khuây khỏa…

–          Nên sắp xếp để bệnh nhân có sách báo, băng nhạc bằng tiếng Việt cho bệnh nhân giải trí.

–          Cho dù có những bệnh nhân bị hôn mê bất tỉnh lâu dài, nhưng khi đến thăm hãy cứ thì thầm bên tai họ những lời yêu thương, những kỷ niệm cũ. Nắm tay, xoa dầu để tỏ tình thương yêu. Tuy họ không có thể cảm thấy được 100% nhưng chắc chắn họ vẫn còn một chút nhận thức, làm họ hạnh phúc hơn, mặc dù mình không nhận thấy. Để bên đầu giường những băng nhạc, câu kinh mà khi còn khỏe họ đã thích nghe.

–          Một điều chót mà theo kinh nghiệm của tôi, rất có hiệu qủa: đối xử tốt nhưng nghiêm túc với nhân viên của VDL:

Đối xử tốt: lịch sự, nhẹ nhàng, không thiếu những lời cám ơn cho những nhân viên phục vụ tốt. Thỉnh thoảng mua một vài món quà nhỏ cho họ(tôi xin nhấn mạnh “nhỏ thôi”– đừng nên coi đây là hối lộ) như đồ ăn, thức uống … để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Mình tốt với họ thì họ sẽ quan tâm đến mình nhiều hơn. Người mình vẫn nói: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”).
Tuy nhiên đối xử tốt không có nghĩa là mình chấp nhận những sai trái của họ. Thí dụ mình đã báo cáo những thay đổi về sức khỏe của bệnh nhân cho họ mà không ai quan tâm giải quyết thì mình phải lịch sự nêu ra liền. Nếu cần thì gặp ngay những người có trách nhiệm như charge nurse, nursing director và ngay cả giám đốc của VDL để được giải quyết. Nên nhớ là phải lịch sự, nhã nhặn nhưng cương quyết thì họ sẽ nể phục mình. Tôi đã thấy nhiều trường hợp đạt yêu cầu một cách rất khả quan.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi xin chia sẻ với quý bạn. Dĩ nhiên là không hoàn toàn đầy đủ tất cả những gì quý bạn mong muốn, nhưng hy vọng cũng đáp ứng được phần nào những ưu tư, lo lắng cho người thân của quý bạn.

nguon: http://vietlifestyles.com/vien -duong-lao/

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân

Nói với Sinh viên Y5 (tiếp theo)

08/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nói với Sinh viên Y5 (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc

Đây là phần trình bày dưới dạng Powerpoint của thầy Đỗ Hồng Ngọc dành cho các bạn Sinh viên Y5 trong buổi Hội thảo Y đức của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh (Saigon) ngày 17.6.2017.

Theo yêu cầu của một số các em, thầy Ngọc đưa lên để tiện tham khảo.

Thân mến,

 

 

  1. Tại sao em nên là một Bác sĩ?

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Làm thế nào để trở thành một Bác sĩ giỏi (tốt)?

 

 

 

3. Làm thế nào để là một Bác sĩ “hạnh phúc”?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

………………………………………………………………………………………………..

(*) Một số hình ảnh được lấy từ Internet. Xin trân trọng cám ơn. (ĐHN)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Nói với Sinh viên Y5

08/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nói với Sinh viên Y5

Bs Đỗ Hồng Ngọc

Hội thảo Y đức cho SV Y5 Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch, Tp HCM 17.6.2017

Năm nay có sự chuẩn bị khá hơn các năm trước, dù số lượng SV khá đông, trên 500 em. Trước đó các em đã sinh hoạt ở lớp và đề xuất mỗi lớp một chủ đề để “thảo luận hội trường”: Đó là 4 chủ đề lớn: 1) First do no harm, 2) Hoa hồng thuốc, 3) Giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, 4) Bạo lực y tế.

Mỗi lớp đều thực hiện các “tiểu phẩm” với kịch bản cô đọng và ‘diễn xuất’ cũng khá hay, sau đó là cuộc thảo luận chung quanh vấn đề được đặt ra rất sôi nổi. Tiếc thời gian quá ít. Phải nói năm nay nhờ nhóm các bác sĩ trẻ trong bộ môn Y đức – Khoa học hành vi hoạt động tích cực, cùng với sự trợ giúp của nhóm hỗ trợ từ Sinh viên, nên Hội thảo có thể nói là thành công. Ngoài thầy Hiệu trưởng Ngô Minh Xuân, kiêm Trưởng Bô môn, thầy Trương Trọng Hoàng, Phó TBM, thầy Ngọc, Cố vấn, còn có các thầy cô được mời tham gia vào từng vấn đề như Cô Phi Yên, cô Hà, thầy Thanh, thầy Tuấn, anh Tân, cùng các cô bên mảng tâm lý. Bộ môn thì có Thanh Ngân, Kiều Chinh, Nguyên Hùng… trực tiếp trong BTC.

Riêng tôi, một “thầy thuốc già”, làm Cố vấn Bộ môn Y đức – Khoa học hành vi của Trường mấy năm nay cũng đã tham gia vào “chủ tọa đoàn” và có một bài phát biểu ngắn với các em: Nói với Sinh viên Y5 trong dịp này. Nhìn lại các bạn bác sĩ trẻ trong Bộ môn và các em sinh viên Y5, đã thấy giật mình: thầy trò cách nhau đã hơn… nửa thế kỷ. Biết bao nhiêu nước chảy qua cầu! Thời mình đã khác xa các em nhiều quá! Tuy nhiên, vẫn còn đó những vấn đề trong mối quan hệ Thầy thuốc – Bệnh nhân…

 

 

Từ lâu, tôi nghe ngóng, biết các em bây giờ không ít em chán nản, không muốn theo đuổi nghề y nữa. Thầy Thanh cho biết chắc có đến 50% các em Y5 đang chán nản, thầy Hoàng thì bảo chắc đến 90% muốn… bỏ nghề!

Tôi nghĩ, với tư cách là một người thầy thuốc già, có lẽ nên chia sẻ với các em về vài vấn đề như : Tại sao nên là Bác sĩ? Làm thế nào để trở thành một bác sĩ giỏi? và Làm thế nào để là một bác sĩ “hạnh phúc”?

Nhưng trước hết, tôi muốn ghi lại đây (trích dẫn) vài kết quả thăm dò ý kiến một vài SV Y5 để hiểu rõ hơn “nỗi lòng” các em, thế hệ thầy thuốc tương lai. Xin cảm ơn các em SV Y5 đã trả lới câu hỏi của thầy Ngọc, cám ơn Bs Mai Ngọc Thanh Ngân đã giúp thầy tiếp cận với các em.

 

Câu hỏi: “Trong thời gian học y khoa, đã bao giờ em chán nản, muốn bỏ nghề chưa? Và vì sao em mất động cơ học để trở thành BS?”

 

TLM

Ngày: 21:47 9 tháng 6, 2017

Con là sinh viên Y5, trong quãng đời sinh viên, đôi lúc con đã chán nản.

Có thể đó là lúc con thấy các bạn, anh chị có người thân làm trong ngành, hay còn gọi là “con ông cháu cha” chỉ cần học tàn tàn nhưng rồi lại kiếm được chỗ làm “ngon”.

Hay là đôi lúc con thấy các bạn “copy” bằng nhiều hình thức trong thi cử nhưng điểm lại cao hơn so với mình.

Rồi còn vấn đề bệnh nhân tin ông/bà hàng xóm hơn tin bác sĩ điều trị. Đôi khi con nghĩ không biết là do thói quen thì khó thay đổi hay do bác sĩ chưa biết cách truyền đạt. Rồi con thấy mỗi buổi sáng 1 bác sĩ phải khám tầm 50 bệnh, mỗi bệnh vài phút, con lại nghĩ là với thời gian như vậy làm sao có thể giải thích hay truyền đạt cho bệnh nhân, thế là lại hơi chán.

Đời sinh viên con cũng không ít lần bị bệnh nhân chửi, to tiếng, bây giờ còn thêm nạn bạo hành nhân viên y tế, rồi những tai biến y khoa lúc nào cũng lơ lửng trên đầu …

Năm 1 thầy có bảo tụi con viết vào giấy những lý do mà tụi con chọn ngành y. Con thấy các bạn viết rất nhiều, rất dài nhưng con chỉ nhớ là con viết rất ngắn gọn “Vì con thích”. Nhiều anh chị nói là nghề chọn mình chứ mình không chọn nghề, có lẽ vì lý do của con quá ít nên khi gặp bế tắc thì không có nhiều sự lựa chọn chăng. Nhưng mà giờ nếu hỏi lại câu hỏi đó chắc con cũng chỉ trả lời được là vì con thích, nếu không thích thì con nghĩ con chẳng làm được.

Tuy đời sinh viên đôi khi tự nhiên có cảm giác chán chán nhưng vẫn còn rất nhiều kỉ niệm thú vị lắm ạ. Bây giờ bác sĩ thì đông, nhiệm sở lại ít. Không biết lúc đi làm con sẽ có những cảm nhận và trải nghiệm như thế nào. Nhưng mà cũng đáng mong chờ phải không ạ?

 

From: Hương

Date: June 9, 2017 at 8:50:49 PM GMT+7

Em là sinh viên Y4. Năm thứ tư chỉ còn vài ngày nữa sắp kết thúc và bước sang năm 5, giờ trong em cảm thấy chán lắm. Em còn nhớ khi được đứng trước lớp để trình bày suy nghĩ của mình về câu hỏi: ’10 năm nữa , tôi là ai?’ lúc đó em đang học lớp 10. Em đã không ngần ngại trả lời em sẽ làm bác sĩ, em sẽ giúp dân mình vì dân mình còn nghèo và khổ. Em đã đậu vào trường với số điểm không phải lắng lo là mình có bị rớt hay không. Năm 1, có vẻ như chưa quen được cách học và bạn bè, em có thi lại nhiều môn và đậu, lúc đó buồn dữ lắm. Năm 2 và 3 , không còn phải thi lại, được đi lâm sàng, cọ xát nhiều hơn, tiếp xúc với bệnh nhân được nhiều hơn, có nhiều động lực hơn. Có thể là do cách học của em, lúc đầu  em học đọc bài từ từ gần đến thi học nhiều hơn chút; nhưng cho đến bây giờ dù thi ngập đến mặt vậy, em không hiểu sao em không cảm thấy sợ nữa mà thấy đơ ra thì đúng hơn… Sau mỗi kì thi, kiến thức của em giành cho môn đó tự động auto shift-delete; nên khi đi lâm sàng em như trên trời rơi xuống, dù có coi lại bài, cũng hiểu chút chút; rồi đâu lại đó. Em cũng biết muốn nắm những cái trên trời thì phải nắm những cái cơ bản trước là Sinh Lý, hoá sinh, sinh lý bệnh.  Đi lâm sàng gặp thầy cô nhiệt tình đôi khi họ truyền lửa trong lúc dạy em còn hứng thú, rồi đi những khoa để tự bơi là đầu em như mớ hỗn độn.

Có phải vì điểm số của bài thi làm em chán nản hay tại em không cố gắng hết mình. Em suy nghĩ lại giúp dân mình thì có đủ thứ cách, có nhất thiết phải làm bác sĩ? ….có phải em đang đổ lỗi cho mọi việc xung quanh? hay em cứ học hết 6 năm rồi chuyển sang ngành học khác.

 

From: Lan
Date: June 15, 2017 at 6:37:35 PM GMT+7

(…) Đây là ít dòng của em về vấn đề “Trong thời gian học y khoa, đã bao giờ em chán nản, muốn bỏ nghề chưa? Và vì sao em mất động cơ học để trở thành BS?”.

Từ năm 3 tới năm 5 này năm nào em cũng muốn bỏ học 3,4 lần !

Giáo dục và y tế, khi bị đem ra kinh doanh, tính lời tính lỗ, thì chả còn gì là nhân đạo, nhân văn, hay nhân bản. Liệu tôi có phải tiếp tục thỏa hiệp để tồn tại? Nghĩ tới đó lại càng chán ngán, ê chề.

(…)

Lương bác sĩ quá bèo bọt. 1 giờ làm nhân viên phục vụ ở Sh café được 18k, làm nhân viên ở cửa hàng tiện lợi FMart được 22k/giờ, làm nhân viên phục vụ ở nhà hàng Gy được 20k/giờ. Học bác sĩ 6 năm ra xin việc trầy trật nhận mức lương 11k/giờ.

(…)

Điều này dẫn tới các hậu quả như:

1.      Bác sĩ không đủ sống với đồng lương chân chính. Muốn sống với nghề phải đi đêm với trình dược viên, phải ngồi phòng khám bệnh viện… Ngồi phòng khám rồi phải khám thiệt nhiều bệnh trong thời gian ngắn nhất, phải có “thái độ phục vụ rất công nghiệp”.

2.      Bệnh nhân được khám như gà, mỗi người 2 phút. Bác sĩ bị đuổi đánh là do vậy; bệnh nhân không hết bệnh đi khắp các bệnh viện góp phần quả tải bệnh viện cũng do vậy; bệnh nhân tìm đến phòng khám có bác sĩ Trung Quốc, bị lừa hàng chục hàng trăm triệu cũng do vậy; bệnh nhân quay ra uống thuốc tàu thuốc nam thuốc bác thuốc tễ đầy corticoid cũng do vậy; ngành y tế bị chửi nhiều như hôm nay cũng là do vậy. Cay đắng không?

Đối mặt với những sự thật này, nói ra những sự thật này không hề dễ dàng. Tôi nói ra vì tôi dám nói, vì tôi thực sự muốn thay đổi, để bác sĩ no ấm hơn, để đồng bào tôi khỏe mạnh hơn.

(còn tiếp)

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

Huấn luyện “thấu cảm”

07/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Huấn luyện “thấu cảm”

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thấu cảm (empathy) không phải là thông cảm. Cũng không phải là đồng cảm. Tiếng Việt ta có nhiều từ “thấu” rất hay như thấu hiểu, thấu đáo, thấu… xương ( lạnh thấu xương! )…

Cho nên thấu cảm không dễ chút nào!  Thấu cảm đòi hỏi phải có khả năng đặt mình vào vị trí người khác để hiểu rõ nguồn cơn, ngọn ngành. Từ cái hiểu sâu sắc đó mới có cách ứng xử đúng đắn, phù hợp. Đối với người thầy thuốc thì thấu cảm là đặt mình vào vị trí của người bệnh để hiểu được đằng sau nỗi đau kia còn có nỗi khổ nào, đằng sau cái bệnh kia còn có cái hoạn nào. Nhờ vậy mà mối tương giao thầy thuốc – bệnh nhân trở nên “đằm thắm” hơn, truyền thông sẽ hiệu quả hơn, có sự hợp tác tốt hơn giữa thầy thuốc và bệnh nhân.

Trong buổi thảo luận “Bàn tròn” sinh viên y khoa năm thứ hai vừa qua nhằm chuẩn bị thái độ và kỹ năng cho các em đi lâm sàng đạt hiệu quả tốt, một sinh viên nói em cầm kim chích thuốc cho bệnh nhân mà run rẩy, chỉ sợ bệnh nhân đau. Vậy là tốt. Biết sợ bệnh nhân đau là tốt. Chỉ lo lâu ngày chày tháng biến thành vô cảm. Người ta vẫn thường trách người thầy thuốc hôm nay, chỉ biết máy móc xét nghiệm mà không thấy có bệnh nhân, chẳng cần hỏi han, chẳng cần “nhìn sờ gõ nghe” gì đến bệnh nhân cả. Một em lớp lớn khuyên do quá đông sinh viên nên phải chia từng nhóm để “thao tác’ trên bệnh nhân rồi chia sẻ thông tin với nhau. Một vị thầy nhắc, đối với người bệnh, không nên dùng từ “thao tác”. Thao tác là dùng cho máy móc kia. Em hãy tưởng tượng mình chính là người bệnh đang có nhiều biến chứng trầm trọng đó được nhiều sinh viên tới ‘thao tác” thì sẽ cảm thấy thế nào? Phải luôn biết ơn người bệnh vì nhờ họ mà em được học hỏi để trở nên người thầy thuốc giỏi.  Một vị thầy khác nói thêm: với cái TV cũ, hư hỏng nặng, người thợ có thể khuyên: sửa không được đâu, vô ích thôi, mua cái khác cho rồi! Còn với một bệnh nhân không thể nói vợ ông già quá rồi, chữa không được đâu, vô ích thôi, lấy vợ khác cho rồi được!

Khoa học y học ngày càng tiến bộ, nhiều kỹ thuật mới ra đời, thâm chí có khả năng thay thế bác sĩ, chẩn đoán bệnh tật, cho y lệnh chính xác. Người thầy thuốc được dạy để biết sử dụng các máy móc tân kỳ, thay đổi mẫu mã xoành xoạch đó, dần dần có khuynh hướng chạy theo kỹ thuật, lệ thụôc máy móc và qua đó cũng lạnh lùng, máy móc, “khoa học”, xa cách dần với…con người. Nó làm cho người thầy thuốc trở nên bí hiểm… chẳng khác gì  các phù thủy của những bộ lạc ngày xưa! Thế nhưng con người từ xưa đến nay vẫn không thay đổi: cũng những âu lo, phiền muộn, sợ hãi, cũng những ganh tị, ghen ghét, mừng vui, cũng những già nua, tuổi tác, ốm đau, bệnh hoạn …

Mấy năm trước, trường Y khoa của Đại học California ở Los Angeles, đã làm một cuộc “thì nghiệm” lý thú  nhằm huấn luyện các bác sĩ tương lai để có khả năng “thấu cảm” tốt hơn. Họ chọn một số sinh viên y khoa tình nguyện giả bệnh nhân để  nhập viện điều trị. Hoàn toàn bí mật. Chỉ có giám đốc bệnh viện và điều dưỡng trưởng tham gia trong nhóm nghiên cứu mới được biết trước, còn toàn bộ nhân viên đều không được biết.

Một “ca” giả tình huống té thang lầu, có giai đọan ngất thóang qua; một ca giả đau bụng, oí mửa, mất nước, kiệt sức (cho uống Ipeca), và ca thứ ba giả bị tai nạn xe máy, đau thắt lưng, một chân bị yếu. Các sinh viên được “tập huấn” kỹ,  khai bệnh trơn tru, qua mắt bác sĩ nhận bệnh. Chọn buổi chiều thứ bảy, cuối tuần, là lúc mọi người dễ lơ đễnh nhất để vào bệnh viện. Các “bệnh nhân” được thử máu, truyền dịch, chụp CT, MRI các thứ …

Sau đây là kết quả: Một sinh viên nói “Lúc đó cảm thấy bất lực, hoàn toàn mất tự chủ. Không kiểm soát được. Chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Chẳng ai giải thích phải làm xét nghiệm gì, lúc nào, tại sao… cũng đành“nhắm mắt đưa chân”! Người thứ hai là cô sinh viên y khoa năm thứ ba, Lisa Shapiro, nói cô hoàn toàn kinh ngạc thấy bác sĩ rất kiệm lời, lạnh lùng, luôn có vẻ mệt mỏi, như chỉ làm cho xong bổn phận, còn  điều dưỡng thì khá hơn, tử tế hơn một chút.  Cô cảm thấy rất hoang mang, sợ hãi, cô đơn cùng cực. Tất cả đều nói bệnh giả mà thành bệnh thiệt!  Lisa Shapiro nói thêm “ Có cảm giác như mình bị sụp bẫy! Tim đập lọan xạ, huyết áp tăng vọt và có vẻ sốt cao thật sự!”. Người nằm giường kế bên cô là một bà già bệnh nặng, kêu bác sĩ suốt đêm, đèn cứ tắt rồi sáng liên tục làm cô không sao nhắm mắt nổi. Căng thẳng. Bơ phờ. Mệt mỏi!

Được hỏi qua trải nghiệm này, liệu khi ra trường trở thành bác sĩ, cô có quên sạch không? Cô khẳng định không thể nào quên! Cô chỉ nằm viện có 19 giờ đồng hồ mà thấy thời gian dài đăng đẵng. Khi bác sĩ đến thăm bệnh nói cô khá nhiều rồi, cho xuất viện, cô mừng đến phát khóc!

(Đỗ Hồng Ngọc)

http://www.viet-studies.com/DoHongNgoc_ThauCam.html

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân

Hoàng Xuân Sơn: “chợt thấy lòng vui một chút buồn”

06/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“chợt thấy lòng vui một chút buồn”

 

Đó là câu thơ của Hoàng Xuân Sơn (HXS). Tôi đọc được trong thơ Quỳnh. Tập thơ mới mà rất cũ của anh.

“Trong trùng trùng duyên khởi cuộc nhân sinh, những hạt mầm vay mượn có hạt chắc và lép…”. HXS viết. Chắc gì đã chắc. Chắc gì đã lép. Tôi nghĩ. Thơ là tấc lòng. Thốn tâm thiên cổ.

Rồi anh nhắc người bạn Phạm Nhuận: Có hề chi vàng một chút rong rêu.

Phải có hề chi. Vàng, tái, hay xanh thì ‘’cũng đã chín tới’’ (HXS).
Bỗng nhớ Trịnh: Nhìn lại mình đời đã xanh rêu…

mày râu nam tử sao bàng nhược?
sậy yếu lau mềm có thế thôi!
già trơ một chỏm đầu mốc thếch
tóc bạc kể hoài mây vẫn trôi

“bạch vân thiên tải không du du” là vậy. Nó cứ trôi và chẳng cần biết đã vẽ nên những gì trên khoảng không mênh mông kia.

có. không. ừ nhỉ hơi đâu luận
phù vân rồi cũng trắng ngang đầu

Có lần tôi gởi một bài thơ Đường luật cho Ni sư Trí Hải với hai câu mở:

“có có không không có có không?/ không không có có có không không?”. Và Ni sư họa ngay tức khắc: “có cũng không mà không cũng không…”

May thay HXS cũng vừa tìm thấy:

một buổi mai tịnh độ
vân yên hà đương say
mộng đời không ai giữ
thức dưới tạng hoa gầy

Phải rồi. thức dưới tạng hoa gầy chính là trở về với Như Lai rồi đó. Như Quách Thoại sụp lạy cúi đầu khi nghe cái bông bụp hiền lành trước cửa hàng ngày bỗng cất lên tiếng hát…

Khi nghe được “cát bụi mệt nhoài’’ cũng là lúc thấy biết ‘’cát bụi tuyệt vời’’ (TCS)  ra sao.

hạt bụi bay qua nóc nhà thờ
núp vào thánh giá nép vào thơ
trời cao xanh quá lòng vô nhiễm
một phút an nhiên thổi tới bờ

thổi tới bờ là ‘’đáo bỉ ngạn’’. Yết đế yết đế… rồi đó vậy.

Trong “Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?’’ trên www.dohongngoc.com/web/ tôi viết: “(…) hạt bụi lang thang/ dính vào hơi thở/ duyên sinh vô ngã/ ngũ uẩn giai không/ từ đó thong dong/ thõng tay vào chợ” (ĐHN). trời cao xanh quá lòng vô nhiễm/ một phút an nhiên thổi tới bờ  thì thõng tay vào chợ được rồi phải không?

Trong bài mười năm, thơ , HXS đề từ ‘’kỷ niệm 10 năm thế vì an sinh’’ khiến tôi ngạc nhiên. Thế vì an sinh ư? Chỉ “thế vì” thôi ư? Có lẽ người thơ đã mỏi mắt đi tìm,

lúc mở lòng ra hứng một mình
bên trời thu tịnh nở huyền kinh
là lúc chín cả mầu oan trái
mười năm. thơ ở lẫn cùng tình

thơ đau nào phải người mông muội
ngôn cú bày ra một cuộc sầu
khí hào dễ có bùng lên. chốc
khuấy bọt bèo tan sóng rượu trào

để rồi thấy “thơ ở đâu xa” kia thôi! Vậy là đã đủ cho thơ Quỳnh. Tôi nghĩ.

Và bỗng muốn nói nhỏ với nhà thơ:

đừng mở miệng. đừng. tơ trời đương xuống
rụng trên đồi và tiếng hát bao la
đừng vội vã hôn sâu vào mật đắng
hồn lưu cư còn thuở trái cây nhà

Nhưng nỗi đau hình như vẫn còn đó. Khôn nguôi.

lũ lượt người về như ong vỡ
một ngày tan biến giữa thinh không
đạp xe trong quãng bình yên ấy
chợt thấy lòng vui một chút buồn

Chợt thấy lòng vui một chút buồn! Phải rồi đó. ‘’một chút buồn’’ để thấy một trời vui. Bởi vui, ấy là nỗi buồn của “yên ba giang thượng sử nhân sầu”!

Cũng làm nhớ Trịnh “Ta mang cho em một chút buồn’’

Chỉ để rồi: “Trong vườn trăng/ Vừa khép những đóa mong manh ” (TCS)…

Khép, cũng chính là mở thôi vậy!

 

Đỗ Hồng Ngọc.
(Saigon 6.7.2017)

…………………………………………………………………………

· Italic: thơ Quỳnh, Hoàng Xuân Sơn, 2017

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Những người trẻ lạ lùng

Vài tư liệu về Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện

16/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Vài tư liệu về Bs Nguyễn Khắc Viện

Bs Đỗ Hồng Ngọc

Như đã trình bày, ngay khi mới thành lập Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Tp.HCM (1989, thực chất là một Trường đại học y khoa, đào tạo bác sĩ đa khoa hướng về cộng đồng của Tp.HCM, tiền thân của Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch ngày nay) do Bác sĩ Dương Quang Trung làm giám đốc, đã sớm hình thành Bộ môn Tâm lý-Xã hội học – Sức khỏe do Bs Đỗ Hồng Ngọc chủ nhiệm, Bs Lâm Xuân Điền, phó CN và Bs Nguyễn Khắc Viện cố vấn. Phần học về Y đức đã lồng ghép vào các bài giảng về Tâm lý học-Sức khỏe, Xã hội học-Sức khỏe, và Văn hóa-sức khỏe, tiền thân của Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe, và Y đức-Khoa học hành vi sau này.

Ngoài những công việc liên quan đến Bộ môn, tôi còn được Bs Nguyễn Khắc Viện hướng dẫn về phương pháp thở bụng của ông khá kỹ. Có lần tại Hà Nội (8, Nguyễn Chế Nghĩa) ông còn cởi áo cho tôi xem mấy vết mổ rồi ém hơi, gồng bụng, kêu ” đấm thử một cái thật mạnh” vào bụng ông xem sao. Tôi đâu dám, chỉ đấm một cái nhè nhẹ, ông phì cười bảo phải ráng hết sức bình sanh mà đấm chứ. Tôi đấm cái bình, ông không nhúc nhích, thản nhiên như không, mặc dù người gầy nhom như một thiền sư! Bà Nhất, vợ ông đứng kế bên cười, ổng vậy đó, rất vui!

Khi hai ông bà vào Saigon, thường ở nhà trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận, gần BV Nhân dân Gia định hoặc ở Viện Pasteur thì tôi và bác sĩ Trương Trọng Hoàng cũng thường được ông mời đến bàn bạc chương trình giảng dạy các thứ…

Dưới đây là vài tư liệu của Ông bà Nguyễn Khắc Viện, xin chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp ở trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch như một kỷ niệm:

Thư của Bs Nguyễn Khắc Viện gởi Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Thư bà Nguyễn Thị Nhất, vợ Bs Nguyễn Khắc Viện giải thích thêm về phương pháp thở bụng của ông.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Nâng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế (*)

11/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Nâng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế (*)

theo TUOI TRE                              11/06/2017 10:56 GMT+7

Đây là đề xuất của Cục Khoa học công nghệ và đào tạo – Bộ Y tế trong hội thảo về đổi mới đào tạo nguồn nhân lực y tế, diễn ra ngày 10-6 tại TP.HCM.

Hội thảo do Trường ĐH quốc tế Hồng Bàng (TP.HCM) tổ chức, với sự tham gia của đại diện Bộ Y tế, các trường đào tạo nhóm ngành sức khỏe và sở y tế một số địa phương.

Ông Nguyễn Minh Lợi, phó cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và đào tạo – Bộ Y tế, cho rằng vấn đề hiện nay là nâng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế chứ không phải số lượng.

Mới chỉ cung cấp kiến thức

Thống kê từ Bộ Y tế cho thấy cả nước hiện có 196 cơ sở đào tạo nhóm ngành sức khỏe. Riêng ngành y đa khoa có 24 trường đào tạo, trong đó có 6 trường ngoài công lập.

Chất lượng đào tạo ngành y đa khoa trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, việc thực hành thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu.

PGS.TS Lê Quang Cường – thứ trưởng Bộ Y tế – cho biết ở các nước, việc đào tạo ngành y rất đặc biệt, tuyển sinh đặc biệt chứ không chỉ dựa vào điểm số, phân chia hệ thống năng lực tách bạch, không bất cập như ở Việt Nam.

Theo ông Cường, muốn có bác sĩ năng lực chuyên môn tốt, sinh viên phải được những bác sĩ giỏi ở bệnh viện hướng dẫn. Nếu không tổ chức thực hành tốt thì kiến thức cỡ nào cũng bỏ đi. Hiện tại, chương trình đào tạo của chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc 
cung cấp kiến thức.

Theo PGS.TS Trần Diệp Tuấn – hiệu trưởng Trường ĐH Y dược TP.HCM, giữa hệ thống y tế và các trường đào tạo ngành y dường như mạnh ai nấy làm. Các cơ sở y tế không phản hồi với cơ sở đào tạo về chất lượng nguồn nhân lực, có đáp ứng được yêu cầu chưa, cần kiến thức và kỹ năng nào…

Trong khi đó, cơ sở đào tạo lại đào tạo những gì mình muốn mà không tham khảo ý kiến đơn vị sử dụng nhân lực, xem họ cần những gì. Giữa cơ sở đào tạo và sử dụng nhân lực chưa có sự tương tác, thảo luận với nhau.

Việc tách bạch hệ thống năng lực ở Việt Nam cũng có nhiều bất cập. Theo ông Cường, ở Việt Nam người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ y khoa cũng tham gia khám chữa bệnh. Mong muốn bằng cấp quá lớn khiến nhiều người coi trọng bằng cấp hơn năng lực chuyên môn.

“Ở nước ngoài, người ta chia ra rõ ràng. Người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ chỉ thiên về nghiên cứu, giảng dạy; bằng chuyên khoa thiên về khám chữa bệnh. Năng lực chuyên khoa có giá trị cao hơn, được đãi ngộ tốt hơn” – ông Cường nói thêm.

“Ở ta lẫn lộn cái này. Luật giáo dục ĐH không coi những bác sĩ giỏi ở bệnh viện là thầy giáo. Việc hành chính hóa đã làm mất nguồn lực đào tạo của ngành y”.

Phải thi năng lực hành nghề

Tại hội thảo, ông Nguyễn Minh Lợi cho hay khung cơ cấu giáo dục quốc dân quy định đào tạo ĐH từ 3 đến 5 năm. Hiện nay nhóm ngành sức khỏe gồm hai ngành là y và dược có thời gian đào tạo vượt khung này, đòi hỏi phải sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Ông Lợi đề xuất mô hình đào tạo bác sĩ theo yêu cầu mới. Hiện chương trình đào tạo ngành y đa khoa liền mạch 6 năm, cấp bằng bác sĩ. Mô hình đào tạo mới tách thành hai giai đoạn: học 4 năm cấp bằng cử nhân y khoa, học thêm 2 năm (tại trường và bệnh viện) cấp bằng bác sĩ y khoa, tương đương trình độ thạc sĩ, nhưng chưa được hành nghề.

Người có bằng bác sĩ y khoa phải có một năm thực tập hành nghề tại bệnh viện và thi chứng chỉ hành nghề, nếu đạt mới được khám chữa bệnh và có thể tiếp tục học chuyên khoa. Hệ nghiên cứu (thạc sĩ, tiến sĩ) do Bộ GD-ĐT quản lý, hệ khám chữa bệnh do Bộ Y tế quản lý.

Với mô hình đào tạo mới này, ông Cường cho biết sẽ giải quyết được những bất cập hiện nay trong đào tạo nguồn nhân lực y tế. Theo ông Cường, người học 6 năm ra nhưng lương chỉ tương đương với người học cử nhân 4 năm là vô lý. Chế độ sẽ được thay đổi, để có chính sách người học 6 năm hưởng lương tương đương thạc sĩ.

Bộ Y tế cũng sẽ đưa ra hai hệ thống năng lực: nghiên cứu và chuyên khoa. Người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ chỉ nghiên cứu, giảng dạy, chứ không tham gia khám chữa bệnh. Theo quy định mới, Bộ Y tế cũng sẽ xây dựng chuẩn năng lực nghề nghiệp cho nhóm ngành sức khỏe.

“Việc thi chứng chỉ hành nghề rất quan trọng. Bằng lái xe còn phải thi, trong khi khám chữa bệnh lại không đánh giá năng lực là điều rất đáng quan ngại”  – ông Cường nói thêm.

“Ở các nước, người ta có bộ phận đánh giá năng lực độc lập, thường là hội đồng y khoa của nhà nước, không liên quan đến các trường. Ứng viên phải qua bài kiểm tra của hội đồng này mới được hành nghề y. Sắp tới chúng ta cũng sẽ làm như thế”.

(theo Tuổi Trẻ 11/6/2017)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

(*) Tựa do ĐHN

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 30
  • Trang 31
  • Trang 32
  • Trang 33
  • Trang 34
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email