Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Ngày Hội Ngộ Gia đình Nữ Hộ Sinh Việt Nam

12/04/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đôi lời phát biểu trong Ngày Hội Ngộ

Gia đình Nữ Hộ Sinh Việt Nam

 

Icon Illustration Featuring a Doctor Cradling a Newborn

 Ghi chú: Hằng năm, cứ vào sáng ngày Chủ nhật đầu tháng 12 là Ngày Hội Ngộ Gia đình Nữ Hộ Sinh được tổ chức tại Bệnh viện Từ Dũ Saigon (Tp HCM). Năm 2017, lại là năm kỷ niệm 70 năm Ngày Thành lập Trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, tôi xin post lại đây bài phát biểu của tôi ngày 4.12.2016 vừa qua, đã được các bạn Nữ hộ sinh thu âm và phiên tả, và có nhã ý gởi tôi như một kỷ niệm.

Xin cám ơn Phan Thị Ngọc Mai và các bạn.

(ĐHN)

 

BS ĐỖ HỒNG NGỌC

Tôi đã đến đây dự buổi họp mặt Gia đình Nữ Hộ Sinh nhiều năm, cũng đã 5 – 6 năm rồi, mỗi năm cảm nhận có sự rơi rụng. Chẳng hạng trước đây có Bs Nguyễn Văn Truyền, Bs Nguyễn Lân Đính là những người Thầy đã cùng với tôi giúp cho Trường NHSQG hồi xưa, bây giờ các anh cũng đã đi xa hết, và một số các chị cũng vắng dần. Chuyện đời “ sinh bệnh lão tử”  là vậy. Nhưng hôm nay đến đây tôi thấy không khí mới lạ hơn những năm trước. Không khí sôi động hơn, văn nghệ hơn, trẻ trung hơn… Không ngờ được nghe chị Thúy Lan ( K7 Huế ) hát, còn hay hơn ca sĩ chuyên nghiệp nữa, rồi hai cô vừa hát bài Về Miền Trung cũng thật bất ngờ dù không “chuyên nghiệp’’ như chị Thúy Lan, nhưng hát với tinh thần rất phấn khởi, vui vẻ, nhiệt tình đáng quý.

 

NHS 2

 

Xem hình ảnh trên màn hình tôi ngạc nhiên thấy nhóm GĐNHS sinh hoạt hay quá. Hết lên núi đến xuống biển. Đó là không khí rất đáng mừng cho một hội đoàn , một gia đình mà bây giờ đã mở rộng ra cả nước.

Hôm nay tôi cũng mừng thấy có riêng hẳn một nhóm các bạn NHS Huế. Các bạn văn nghệ giỏi lắm, nếu chúng ta tổ chức được những buổi họp mặt cả nước như vầy thì thật là sôi động, vui tươi.

Hôm nay tôi cũng được gặp mấy em sinh viên NHS chừng mười tám, đôi mươi, giật mình, các em nhỏ hơn mình hơn nửa thế kỷ, không ai biết ai cả, còn với các cô các chị NHS lớn tuổi ở đây thì lại rất thân quen.

 

Tôi may mắn năm 1972 vào dạy Trường NHSQG, môn Nhi Khoa. Lúc đó tôi đang là bác sĩ ở bệnh viện Nhi Đồng Saigon. Mỗi năm dạy 40 tiết, không nhiều, nhưng rất thân thiết vì Sản với Nhi đâu có xa cách nhau. Sau năm 1975 tôi được mời tiếp tục dạy cho tới năm 1982 mới nghỉ, nên có sự gắn bó với nhiều thế hệ NHS.

 

Các Thầy Cô và Ban phụ trách GĐ NHS

Các Thầy Cô và Ban phụ trách GĐ NHS

Tôi còn nhớ những buổi hỏi thi vấn đáp cùng với Bs Nguyễn Thị Ngọc Phượng rất vui. Trong lúc hỏi thi vấn đáp các em, chúng tôi vẫn cho cả lớp tham dự để cùng nghe, coi như một cách ôn tập, nâng cao, mang tính thực tế trong lúc hành nghề, chắc nhiều bạn ở đây còn nhớ.

 

Nghề NHS rất lạ, từ hồi chưa có trường đào tạo nghề NHS, người đỡ đẻ được gọi là Cô Mụ. Người ta quý trọng cô Mụ lắm. Nào cô Mụ dạy trẻ cười, cô mụ dạy trẻ khóc, dạy trẻ làm duyên… Chuyện gì cũng đổ cho cô Mụ. Cô Mụ nắn trẻ thành con trai, con gái. Trước đó nữa, trước khi có cô Mụ vườn, người ta cũng biết chạy vô rừng đẻ, ôm gốc cây đẻ, xong rồi bồng đứa nhỏ nhúng xuống nước cho nó khóc thét lên vì lạnh ngắt như bây giờ người ta xịt alcool, đét vào đít cho bé khóc. Khóc càng to càng tốt.

Ở thôn quê bà mẹ mới sanh còn phải nằm lửa. Vì lúc mang thai, kiêng cử quá đáng, sợ con to, đẻ khó, nên trẻ thường bị sanh thiếu ký, do đó cần ủ ấm. Thế nhưng nằm lửa nhiều lại gây tại hại như ta biết. Mà lạ, ăn uống đơn sơ rau lang bí đỏ, đu đủ… mà sữa rất nhiều.

Bây giờ có nhiều loại sữa nhân tạo ngoài hộp ghi chữ “ sữa có chứa chất tạo thông mình”,làm như hồi xưa chúng ta  không có sữa đó để uống thì ai cũng ngu hết trơn vậy!

Có nhiều tập tục về hộ sanh ngày xưa rất hay, như ở thôn quê khi sản phụ đẻ khó, lâu, chậm, người ta bắt ông chồng phải nhảy qua nhảy lại cái mương hoặc quậy cái lu nước như để làm trơn tru cho vợ dễ đẻ; có khi ông chồng phải leo lên mái nhà mở mấy cái nút lạt (xưa nhà tranh, nhà lá, buộc bằng những nút lạt) giống như mở toang cửa nhà cho vợ dễ sanh. Những chuyện đó có vẻ “mê tín dị đoan’’ gì đó, nhưng thật ra nó có ý nghĩa về mặt tâm lý. Bà vợ đang đau đẻ nằm trong nhà đang rên, đang đau, vất vả, khó khăn như vậy mà biết có ông chồng thương yêu mình, đang quậy lu nước, leo mái nhà gỡ nút lạt, nhảy qua nhảy lại cái mương… hẳn là trong lòng rất vui, yên tâm có người chia sẻ khó khăn với mình thì việc sanh đẻ trở nên dễ dàng, cũng như bây giờ người ta cho ông chồng vào phòng sanh, nắm tay sản phụ, nói những lời động viện, khích lệ. Có điều bây giờ có khuynh hướng mổ đẻ, nằm máy lạnh… nên ông chồng đành ngồi quán bia chờ vợ sanh thôi! Hồi xưa khi đẻ xong người ta chôn nhau, giữ lại một phần cuống rún treo trên nóc bếp (hong khô), bây giờ ta ngạc nhiên thấy cuống rún được lưu giữ để tạo tế bào gốc chữa bệnh!

 

Gần đây những tiến bộ của khoa sinh sản ở Thụy Điển rất hay, hay hơn cả Nhật, Mỹ… là nhờ trở lại với thiên nhiên, thí dụ như: Cho bà mẹ sanh đẻ tự nhiên, không phải nằm trên giường sanh, buộc tay buộc chân… Trong lúc đau bụng có thể ngồi, bò, ôm chân bàn mà đẻ cũng được, miễn sao thoải mái tự nhiên nhất; bất đắc dĩ, có bệnh lý mới phải mổ đẻ. Bé sinh ra được cho nút vú mẹ ngay. Nhờ nút mới có phản xạ tiết sữa.

Vì sanh tự nhiên thì có sự co bóp nhồi nắn của cơn co tử cung rất cần thiết giúp trẻ hô hấp được tốt sau này, khi bé ra khỏi lòng mẹ còn chậm cắt rún để máu được truyền thêm qua cho đứa con.

 

Một điều cũng đáng ngạc nhiên nữa là không biết tại sao bây giờ người ta ngày càng khó có con. Cưới nhau xong rồi bị vô sinh ngày càng nhiều. Hồi xưa nghèo khó hơn bây giờ về vật chất, sao người ta đẻ dễ dàng, đầu năm sanh con trai cuối năm sanh con gái. Có lẽ xưa nhà cửa chật chội chỉ có mỗi một cái giường chung cả gia đình, lăn qua đụng lăn lại đụng thành ra đẻ hoài. Bây giờ nhà cao cửa rộng, vợ một nơi chồng một ngã, muốn găp nhau phải điện thoại trước, lên kế hoạch thành ra trứng rụng cũng khó, tinh trùng ngày càng yếu liệt. Đó cũng là những chuyện chúng ta cần phải để ý để làm sao cho con người càng sống gần gũi với thiên nhiên càng tốt phải không?

 

NHS Thu hco bé Tôi có một kỷ niệm nhỏ xin trình bày ở đây nhé. Tôi sẽ đọc một bài thơ tôi đã viết tại bệnh viện Từ Dũ, lúc còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, đi thực tập tại đây.  Thời đó mỗi sinh viên y khoa năm thứ ba phải đỡ đẻ tối thiểu 20 cas không bệnh lý.

Đó là năm 1965, cách đây 51 năm, lần đầu tiên tôi nhận một ca, để chuẩn bị đỡ đứa bé tôi đã làm tròn hết công việc cần thiết rồi, nhưng khi tôi đỡ được đứa bé đầu tiên ra đời mẹ tròn con vuông thì tôi rất xúc động.

Thời đó là thời chiến tranh bắt đầu lan tràn ơ nước ta. Đứng ở phòng sanh Từ Dũ nhìn xuống đường bây giờ là Nguyễn Thị Minh Khai, hồi xưa là Hồng Thập Tự thấy người ta đi lại rần rần, hò hét biểu tình…

Tôi viết bài thơ tựa là “Thư Cho Bé Sơ Sinh”. Tôi như là người anh lớn, ra đời trước bây giờ viết cái thư cho em bé sơ sinh mới ra đời. Bài thơ như vầy.

 

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến!

Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu!

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận…
Con người…

Đỗ Hồng Ngọc
( BV Từ Dũ, Saigon,1965)

 

Câu chuyện về bài thơ này cũng có nhiều thú vị.

Bài thơ được đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương… thời đó và in trong tập thở đầu tay của tôi, tập Tình Người, năm 1967.

Năm 1973 Bác sĩ Lương Phán xin bài này để đăng trên một tập san y học của ông. Tôi cũng hơi bất ngờ vì lúc đó ông trả nhuận bút cho tôi rất cao, gấp trăm lần các báo khác. Ông bảo tại vì ông thích bài thơ này lắm.

Thú vị là tờ báo y học đó đã lọt vào trong nhà tù. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đang ở tù, đọc được bèn phổ nhạc. Sau năm 1975 ông tìm tôi để tặng tác giả thơ. Ông nói ông định phổ nhạc bài này cho Thái Thanh hát, nhưng bây giờ thời cuộc thay đổi rồi, cất làm kỷ niệm thôi.

Sau này bài thơ đã thấy có người dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp.

Gần đây có ca sĩ Thu Vàng hát lại bài hát đó của Phạm Trọng Câu. Và mới đây nhạc sĩ Võ Tá Hân ở Mỹ, cũng phổ nhạc bài thơ này và ca sĩ Hoàng Quân hát. Có thể tìm thấy trên youtube.

Không ngờ sau này khi tôi làm việc ở Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Sở Y Tế Tp HCM, có 3 vị bác sĩ ở tỉnh Phú Thọ vào làm việc, một vị tình cờ biết tôi là tác giả bài thơ, mừng rỡ ôm chầm lấy tôi và nói là ở ngoài Bắc sau năm 75 có một người lính mang về cho ông bài thơ này chép tay mà không ghi tên tác giả, năm học nào ông cũng đọc cho học trò lớp Nữ hộ sinh Phú Thọ nghe và nói tác giả “khuyết danh”.

 

Đó là những kỷ niệm chung quanh bài thơ đã quá xưa rồi, đã hơn nữa thế kỷ rồi. Nhưng xin được chia sẻ nơi đây và cám ơn các bạn đã lắng nghe.

Xin mời nghe bản nhạc phổ bài thơ Thư cho bé sơ sinh của Võ Tá Hân:

 

(Saigon, ngày 4.12.2016)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Ở nơi xa thầy thuốc, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

Một hôm có chàng Huy Cận

04/04/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Một hôm có chàng Huy Cận

Đỗ Hồng Ngọc

 

Ông Lê Phương Chi, cậu họ tôi, phone nói muốn nhờ tôi cho mượn một chỗ yên tĩnh ở nhà tôi để ông phỏng vấn Huy Cận. Huy Cận nhà thơ à? Phải. Cậu cứ đến. Tôi nói. Tôi hình dung một Huy Cận nhà thơ mà tôi vốn ngưỡng mộ từ hồi còn nhỏ, Huy Cận của Lửa Thiêng và ông Huy Cận thứ trưởng bây giờ với một lô chức tước bộn bề. Bảy giờ rưỡi tối, cậu Lê Phương Chi đến với một ông già lùn mập, trông giống như Bất Giới hòa thượng, ì ạch leo lên cầu thang. Trời, Huy Cận bằng xương bằng thịt đây sao? Người mà “em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây” đây sao? Lê Phương Chi so vai vế, nói: Cháu kêu bằng bác, bác Huy Cận, nhưng gọi bằng anh Huy Cận cũng được, ổng thích gọi vậy hơn. Tôi nói cũng chẳng cần gọi bằng anh nữa, Huy Cận là đủ rồi. Huy Cận nói bằng một giọng Trung lai hơi khó nghe. Lê Phương Chi đưa tôi cuốn bản thảo bảo tôi ngồi coi lời tựa Huy Cận viết cho cuốn sách của ông, câu giờ trong khi ông phỏng vấn Huy Cận với chiếc máy ghi âm nhỏ xíu. Tôi ngồi nép qua bên, đóng vai con cháu trong nhà. Vừa đọc vừa nghe lóm. Bài thơ đầu tiên của Huy Cận? Lê Phương Chi hỏi. Dở lắm! Dở lắm! Huy cận nói. Dở cũng được. Bài thơ đầu tiên ông làm lúc nào, về đề tài gì, và còn nhớ câu nào đọc cho vài câu? Dở lắm. Dở lắm. Làm đâu hồi 10 tuổi, học lớp nhất, cho thầy cho bạn. Dở lắm. Huy Cận trả lời, bất đắc dĩ. Rồi ông cũng ráng đọc hai câu. Dở thiệt. Rồi cứ thế cuộc phỏng vấn tiếp diễn. Tôi bỗng giật mình nghe Lê Phương Chi hỏi: Huy Cận biết yêu vào lúc mấy tuổi? Tôi quan sát Huy Cận kỹ hơn. Một ông già Tết này đã 78, bụ bẫm, tay chân ngắn ngủn, mũi hỉnh, trán dẹt, môi dưới dài hơn môi trên, tóc lưa thưa bạc, cổ có nọng, bụng to quá cỡ, quần chật cứng, túi phình như con cá phồng mang, thắt cái cà vạt hơi chật, to bản, đánh một vòng cung quanh bụng, ngồi dựa ngửa trên ghế salon không thoải mái lắm. Ông phì cười vì câu hỏi ngộ nghĩnh của Lê Phương Chi. Và nụ cười làm ông bỗng có vẻ gì trẻ thơ ngơ ngác như chàng Huy Cận thuở nào. Tôi chăm chú nghe. Đâu hồi tám tuổi. Ông nói. Tám tuổi à? Phải, nhưng đó chỉ là mối tình bâng quơ thôi mà. Nhưng người đó là ai vậy? Bây giờ người đó ở đâu? Lê Phương Chi tấn công tới tấp. À, một cô gái quê, ở nông thôn… Hiện nay Huy Cận có mối tình già nào không? Huy Cận ú ớ, trả lời sao tôi không nghe rõ. Phỏng vấn tiếp diễn. Tôi lại giật mình nghe Lê Phương Chi hỏi à còn mối tình của Huy Cận và Xuân Diệu? Có phải là… Không không, Tô Hoài viết bậy đó. Huy Cận có vẻ quạu. Tôi với Xuân Diệu là tình bạn thân thiết, không phải tình trai, đồng tính luyến ái chi đâu. Tôi lại quan sát ông. Cái ông già cũng ngộ. Lúc bẽn lẽn, lúc quạu quọ khá dễ thương dù ngó bên ngoài thấy ông giống Bất Giới hòa thượng, nhưng trong ông như lại có Nghi Lâm tiểu sư muội. Tôi bỗng nổi hứng lấy mảnh giấy trắng phác họa thực nhanh hình ảnh ông, ráng diễn tả cho được cái trán trẹt, cái mũi hỉnh, cái miệng hơi ngạo nghễ mà dễ thương, cái nọng ở cổ, cà vạt ôm vòng cái bụng, rồi cái túi quần phình to như mang cá, với mấy sợi tóc lưa thưa phía sau ót…

huy can 1996 - Copy

 

Tôi phác thật nhanh, không để cho ông và Lê Phương Chi kịp thấy. Buổi phỏng vấn hình như đã xong. Ông đòi về. Còn mấy câu này dài dòng quá, hẹn dịp khác. Giờ bận rồi, phải đi ngay. Rồi bỗng ông quay sang tôi đột ngột: Vẽ mình đấy à? Tôi cười, chìa cho ông hai bức phác họa tôi vừa làm xong, trong khi Lê Phương Chi hoàn toàn bất ngờ thì ông bình: Được, cái này được. Ơ, ơ, còn tấm này anh vẽ tôi cái trán và cái mũi thế này thì… tôi thành người Phi châu mất! Lê Phương Chi khoái quá cười ha hả. Giống quá, y chang Huy Cận rồi! Cho cậu đi. Tao sẽ in vào bài phỏng vấn. Tôi lấy lại bức “Huy Cận Phi châu” và đưa cho ông bức kia, ông trao lại cho Lê Phương Chi. Lê Phương Chi giới thiệu: Ngọc nó là bác sĩ mà thỉnh thoảng cũng có vẽ và làm thơ nữa. Tôi đứng dậy, rút từ tủ sách tập Giữa Hoàng Hôn Xưa và ghi: Kính tặng nhà thơ Huy Cận của Lửa Thiêng, rồi trao ông. Ông chồm lên: “Huy Cận của Lửa Thiêng à, được được”, ông nói, vẻ cởi mở. Ngon trớn, sẵn tập thơ bản thảo vừa viết tay xong, dự định ra mắt năm nay tôi bèn đưa ông xem.

Huy Cận cầm lấy. Chăm chú đọc. Rồi đọc lớn tiếng. Rồi ư ử. Rồi gật gù. Có bài đọc lướt qua. Có bài đọc đi đọc lại. Bài Văn miếu, ông đọc lớn: “Dưới những tàng cây–con đường quanh co khúc khuỷu–ai đã qua đây ngàn năm cũ–mà hơi thở còn thơm tho vậy–ta sờ tay vào cột gỗ–nghe thầm thì–đẽo gọt–nét đường thi” Được. Ta sờ tay vào cột gỗ–nghe thầm thì–đẽo gọt–nét đường thi. Tứ được. Ông nói.

tho Van mieu

 

Rồi ông lật tới bài Hoa sữa. Mùa này Hà Nội hết hoa sữa rồi. Ông nói, rồi đọc lớn: “Ta đi trên đường Nguyễn Du–mùa này không còn hoa sữa–cây với cành thôi mà cũng ngộ–khẳng khiu quấn quít không ngờ.” À à, được. Rồi gật gù. Khẳng khiu quấn quít. Hay. Cây với cành thôi mà cũng ngộ! Tiếng miền Nam phải không? “Con nhỏ này ngộ quá ta! Con nhỏ này coi ngộ quá hén! Tôi cũng biết tiếng miền Nam lắm đó nghe”, rồi ông cười sảng khoái. Chắc là ông đã có lần gặp một “con nhỏ miền Nam nào đó ngộ quá ta” rồi nên mới thấm thía vậy. Không thấy ông đòi về nữa. Huy Cận bỗng trở thành một người khác hẳn. Với thơ. Lạ thật.

tho Hoa sua

 

Rồi đọc tới bài Nhật thực. Mớ i thấy cái tựa, ông đã kêu lên. A, mình cũng có một bài nhật thực. Đâu coi nào. “Chim bay về núi tối rồi. Em ngày nhật thực cũng ngồi bên anh”. Bài thơ chỉ có hai câu ngắn ngủn như vậy. Ông ngẫm nghĩ một chút. Lại đọc lại. Lại ngẫm nghĩ. “Nên đổi vẫn thay vì cũng. Chim bay về núi tối rồi. Em ngày nhật thực vẫn ngồi bên anh. Một sự khẳng định, mạnh hơn”. Ông nói. Nhưng trời ơi, cũng với vẫn khác nhau xa quá mà. Đâu có thay được. Cũng mới là vấn đề chứ, cũng không phải là vẫn, mà là bất ngờ, mà là sợ hãi, mà là lo âu… Nhưng tôi không nói ra. Ông đọc bài thơ Nhật thực của ông cho tôi và Lê Phương Chi nghe. Bài ý rằng mặt trăng che lấp mặt trời như cái xấu che lấp lương tâm trong sáng của con người – không sao cứu vãn nổi. Ông lại đọc thêm một bài thơ mới viết về kẻ mất vàng, buồn đến mất ăn mất ngủ, đến ốm o gầy mòn, còn kẻ mất lương tâm thì càng ngày càng béo tốt ra. Tôi biết ông đang có những ưu tư về thời thế. Rồi im lặng giây lâu, ông đọc tiếp bài Huế trong tập thơ bản thảo của tôi: “Một ngày lăng tẩm cung vua–một ngày đi sớm về trưa một ngày–một ngày Vỹ Dạ trăng soi –“ Ông ư ử ngâm. Đột nhiên ông im bặt. Tôi sợ ông không đọc được chữ “bác sĩ” nên đọc giúp ông… “Một ngày Đập Đá…” nhưng ông khoát tay. Im. Im đi. Tôi đọc được mà. Rồi ông lại ư ử. Hay. Câu này hay. “Một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người”.

 

tho Hue oi

 

Tôi nhớ lại lúc viết câu đó. Rõ ràng như có cái gì đó dẫn dắt. Một ngày Vỹ Dạ trăng soi, một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người. Ngày thì trăng không soi được rồi, mà tại sao lại biếc người? Không phải chỉ là cái quán cà phê bên dòng nước xanh um bóng cây kia mà chính là, à phải rồi, chính là con thuyền ai đó có chở trăng về kịp tối nay và vườn của ai kia lá có còn mướt xanh như ngọc. Vâng, xanh nên biếc và người nên ngọc. Ông Huy Cận này ghê thiệt. Quả là danh bất hư truyền. Ông đọc và cảm nhận thơ tinh tế không thể tưởng. Mới vừa thấy ông là Bất Giới hòa thượng đó bỗng đã thành Nghi Lâm tiểu sư muội, rồi bây giờ lại là Lệnh Hồ huynh đệ, chỉ dùng kiếm ý mà không cần kiếm chiêu. Tôi bắt đầu phục ông. Ông lại ư ử tiếp phần kết: “… Một ngày ngày xửa ngày xưa–một ngày ở Huế đã vừa trăm năm”. Không ổn. Chữ đã như có gì không ổn. Ông nói. Thay bằng chữ gì? Tôi hỏi. Ông ngẫm nghĩ. Một ngày ở Huế đã vừa trăm năm… Tứ được, nhưng đã không ổn. Chà, cũng không biết thay bằng chữ gì nữa. Ông bứt rứt. Lê Phương Chi góp ý: hay là cũng, cũng vừa trăm năm… Cũng? Đã? Không ổn. Thôi hôm nay không phải lúc bình thơ. Để khi khác. Ông nói. Rồi ông đọc tiếp đến bài Lá. “Lá chín vàng–lá rụng về cội–em chín vàng–chắc rụng–về anh”. Ông đập nhẹ tay lên đùi. Tứ tuyệt. Đọc đi đọc lại vài lần.

tho La

Không thấy ông đòi về nữa. Lại đọc đến Nhớ. Thôi hết cồn cào–thôi không quặn thắt–chỉ còn âm ỉ–chỉ còn triền miên–thì thôi cấp tính–thì đành kinh niên.” Ông lại trầm ngâm. Kinh niên? Kinh niên ư? Tôi lên tiếng, định giải thích, một từ y học… Không, ông gạt đi, tôi biết rồi chứ. Nhớ. Nhớ… kinh niên, đọc cái tựa là biết rồi. Được. Bài này cũng được. Lê Phương Chi nhắc, đi thôi, trễ rồi. Bỗng nhiên ông hỏi: “Duyệt chưa?” Tôi trả lời: “Chừng nào in mới đưa Nhà xuất bản duyệt”. “Không, vợ duyệt chưa?” Trời đất quỷ thần cái ông Huy Cận này. Lại có vụ đó nữa ư? Tôi ấp úng đành cười trừ. Lê Phương Chi cười ha hả: “Cái ông Huy Cận nhứt vợ nhì trời này, mày không biết sao?” Thì ra thế. Rồi ông cho tôi địa chỉ và số điện thoại cơ quan và cả nhà riêng, dặn “bao giờ ra Hà Nội nhớ ghé chơi nhé”. Dặn đi dặn lại hai ba lần. Khu Ba Đình, dễ tìm lắm. Nhớ nhé. Vừa đi xuống cầu thang vừa nói.

Và đã có một chàng Huy Cận như thế, một hôm.

 

Saigon 7.2.1996

Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú: tập Thơ Đỗ Hồng Ngọc, 1996, gồm 31 bài thơ ngắn, viết tay trên giấy dó thô, với phấn màu Pastel, để kỷ niệm, không in. Một số bài trong tập này đã được chọn in trong tập Vòng Quanh, do Lữ Quỳnh thực hiện, 1997 (Nhà xuất bản Trẻ). Gần đây lúc thu dọn sách vở, tư liệu, tôi bắt gặp bài viết “Một hôm có chàng Huy Cận” khá thú vị, hồi đó đánh máy đen kịt, bèn gởi Nguyệt Mai nhờ Đèn Biển chịu khó gõ giùm. Xin chia sẻ cùng các bạn xa xôi.

Chân thành cảm ơn Nguyệt Mai và Đèn Biển.

ĐHN

(3/2017) 

Bìa tập thơ Đỗ Hồng Ngọc, độc bản, viết tay trên giấy dó thô, 1996.

Bìa tập thơ Đỗ Hồng Ngọc, viết tay trên giấy dó thô, độc bản, 1996.

 

tho DHN

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Rung động sáu cách…

31/03/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Rung động sáu cách…

 

« Lúc bấy giờ, Đức Phật cùng lúc phóng ánh sáng từ nhục kế và nơi tướng lông trắng giữa chặng mày, soi khắp tám trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sa các cõi Phật ở phương Đông… » (Pháp Hoa).

Ít khi nào Phật phải phóng hào quang cùng lúc từ hai nơi như vậy. Phải có cái gì lạ lắm ở đây! Ta thường chỉ thấy Phật phóng hào quang từ nơi tướng lông trắng giữa chặng mày mà cũng đã đủ chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, suốt từ địa ngục A-tỳ cho đến trời Sắc Cứu Cánh. Vậy mà lần này, hào quang « quét » xa hơn và « focus » như để tìm kiếm một cái gì đó, để tìm gặp một « người quen » nào đó!

Thì ra Diệu Âm. Diệu Âm Bồ-tát từ xa vời vợi bỗng rung động toàn thân. Rung động sáu cách! Phải có cùng một tần số thì mới rung động sáu cách được. Nếu không, chỉ trơ như đá !

Dieu am Bo tat Ánh sáng đến từ đỉnh đầu (nhục kế) không phải là ánh sáng trí tuệ. Đây là ánh sáng của cảm xúc. Nó làm cho người ta run rẩy, bứt rứt,… Và tức khắc Diệu Âm Bồ-tát hoá thành ngàn cánh sen xanh mướt bay vèo vèo đến Ta-bà, nơi Phật đang nói kinh Pháp Hoa.

Diệu Âm là vị Bồ-tát có hạnh « thấu cảm » chuyên biệt, sâu sắc nhất. Thấu cảm (empathy) là khả năng đặt mình vào địa vị của người khác mà hiểu cho thấu suốt nguồn cơn.

Con đường đến trái tim người phải là con đường của cảm xúc, của sự rung động, không thể bằng lý trí, nghĩ suy, toan tính… Âm thanh chính là con đường đó, mau chóng nhất, gần gũi nhất.

Tiếng hú, tiếng kêu, tiếng rên… chẳng phải là thứ âm thanh của trần thế cần được lắng nghe đó sao? Khúc nam ai, nam bình, dạ cổ hoài lang… không làm rung động sáu cách đó sao?

Tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng tụng niệm đủ để chuyển hóa. Tiếng tỳ bà đêm khuya lạnh ngắt đã khiến cho người xuống ngựa kẻ dừng chèo? Tiếng chuông chùa Hàn San đã làm lung lay bóng nguyệt?

Phật bảo Văn Thù: «  Đức Đa Bảo Như Lai đã diệt độ từ lâu đây, sẽ vì các ông mà hiện bày thân tướng của Bồ-tát Diệu Âm ». Thì ra phải có Đa Bảo Như Lai « diệt độ từ lâu » mới gọi ra được. Thì ra người ta không thể « nhìn » được cảm xúc nếu không có xúc cảm ! Không thể lấy lý trí, nhất là lý trí tích cóp mà «thấy » được cảm xúc. Những ai hằng sống với Đa Bảo, hằng thân thiết với Đa Bảo mới nhận ra được Diệu Âm: « Mắt như cánh hoa sen xanh rộng lớn, diện mạo đẹp hơn nghìn muôn mặt trăng, thân sắc vàng ròng vô lượng công đức trang nghiêm, ánh sáng chói rực »…

Không thể không khiến ta… rung động sáu cách !

 

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Muốn mau thành Phật?

31/03/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Muốn mau thành Phật?

 

Phap hoa Một hôm Phật nói Ta sắp nhập Niết bàn rồi, ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi.

Các vị Bồ-tát nhao nhao hỏi:

·         Thế tôn, có pháp môn nào giúp cho mau thành Phật không? (Pháp Hoa).

 

Ối trời! Thành Phật đã là chuyện hy hữu, tu hành nhiều đời nhiều kiếp trầy vi tróc  vảy chưa ăn thua gì mà bây giờ còn muốn cho mau thành Phật nữa ư?

 

Vậy mà, Phật tủm tỉm cười:

·         “Có đó. Có một pháp môn giúp cho mau thành Phật đó. Pháp môn này gọi là Vô Lượng Nghĩa. Bồ-tát nếu tu được pháp môn Vô Lượng Nghĩa này sẽ mau thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác!”.

·         Nhưng, sao gọi là Vô lượng nghĩa?

·         “Vô lượng nghĩa này từ một pháp sanh ra, một pháp ấy chính là Vô tướng”.

·         Nhưng, sao gọi là Vô tướng?

·          “Vô tướng đây nghĩa là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thật tướng”.

 

Thiệt là lùng bùng lỗ tai! “Vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng”…

Thì ra để thấy được Thật tướng thì phải tu pháp Vô tướng. Vì còn thấy có tướng, còn dính mắc vào tướng, còn loay hoay trong tướng – cái biểu hiện bên ngoài – thì không thể thấy Tánh.

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Hễ còn có tướng thì đều là hư vọng cả thôi. Cho nên mới bảo một khi “thoát khỏi các tướng thì được gọi là Phật” (Kim Cang: ly nhất thiết tướng tức danh chư Phật).

Có vẻ dễ nhỉ?

Nhưng. Còn lâu! Còn lâu mới thoát được!

 

Nhớ rằng Vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng.”… mới là thật tướng. Nếu không thì thành gỗ đá mất thôi.

Cho nên cái  chân không cũng chính là cái diệu hữu, cái diệu hữu cũng chính là cái chân không đó thôi!

Bấy lâu xà quần, dính mắc. Bấy lâu khắc khoải loay hoay. Không ai buộc cả. Tự mình buộc rồi tự mình gỡ. Mau hay chậm, tùy nghi!

Bấy lầu sống trong hữu tướng, sống trong hư vọng, trong cái “vậy mà chẳng phải vậy”,  cứ tưởng thiệt, cứ tưởng bở, bị lường gạt hoài mà chằng hay biết! Tỉnh ngộ thì nhiều khi đã muộn.

Cho nên biết buông bỏ, biết sống trong cái “vô tướng / thật tướng” kia thì hết sinh sự!

Phật giải thích rõ hơn: “Các pháp xưa nay vắng lặng như hư không, sanh trụ dị diệt niệm niệm chẳng dừng mà bản thể của nó vẫn là như như bất động, thường trụ: nó chính là vô tướng”.

 

Sinh sự là tại mình.

Mau chậm là tùy mình đó vậy.

 

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Chuyến về Cà Mau và Đồng Tháp (2)

20/03/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Chuyến về Cà Mau và Đồng Tháp (tiếp theo)

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Trên đường về Đồng Tháp thăm Tràm Chim ở Tam Nông, đoàn ghé Sóc Trăng ăn trưa, mua mấy thứ bánh pía, bánh hạnh nhân, còn ăn thêm chè đậu trắng sầu riêng nước cốt dừa đặc sản! Đúng là “hảo ngọt”!

IMG_pn cau khiĐường từ Cao Lãnh đi Tam Nông còn gặp những căn nhà cũ kỹ bên bờ đê còn sót lại những cây cầu dịu dàng dễ thương lắm. Nhưng cầu khỉ thì không còn thấy đâu nữa! Có lẽ sau này chỉ cón thấy cầu khi ở nhà Bảo tàng (mua vé vào coi) hoặc vài khu du lịch Đất phương nam. Nhớ anh Hai Trầu quá.

IMG_3684

IMG_pn tram chim

Đến Tam Nông đã quá chiều, không kịp đi Tràm Chim. Thôi để sáng mai. Mấy năm trước,  Tràm Chim xơ xác lắm mà nay đã sắp xếp lại rất khang trang, lịch sự, từ khu hướng dẫn đến khu vệ sinh!

 

 

 

đồng tháp mười

đồng tháp mười

trạm canh

trạm canh

IMG_pn menh mong TC

IMG_pn sen

Nhiều căn nhà nổi trên một vùng nước mênh mông, bát ngát. Tiếng đàn ca tài tử, IMG_pn nha san tiếng nhạc bolero…  Tối quây quần nghe NTB “thuyết pháp’’ một lúc về Nhơn quả, về Duyên sanh, sau đó là buổi trình diễn văn nghệ bỏ túi. Trần Cung ôm đàn hát, Cường và mọi người hát theo…

 Người ơi mau về đây 
Về bên bếp hồng tay cầm tay 
Cười lên chan chứa tươi làn môi 
Nhớ phút vui đêm này

(…) Ơi, bếp hồng sưởi ấm, bếp hồng tươi 

Tiếng ca xa vời hát mừng, mừng lửa hồng tươi ...

IMG_pn van nghe

 

Sáng thật sớm, lên đường vào Tràm Chim. Một chuyến đi bằng tắc ráng (vỏ lãi) dài 21km trên dòng kênh xanh xanh. Mênh mông tràm là tràm. Mênh mông sen là sen. Và chim. Đủ thứ chim,  chim còng cọc, chim cóc, chim cổ rắn… Có con còn giăng cánh ra phơi ngon lành. Khu cò như dành riêng. Ôi đủ thứ cò… Và cỏ. Và súng. Cỏ năng ống, cỏ lác, cỏ ma… Súng cơm, súng ma, súng cò bợt… Mình thực sự cảm động khi nghe cô hướng dẫn viên gọi tên các con chim là “bạn chim”…

IMG_pn cò cô đơn

Năm nay nước nổi về muộn, mà ít. Độ sâu ở đây chưa tới 2m. Lại nhớ người bạn đồng nghiệp Ngô Thế Vinh báo động từ lâu: Mekong, dòng sông nghẽn mạch…

IMG_pn mua nuoc noi

Gọi là mùa nước nổi nhưng năm nay nước chẳng về bao nhiêu. Sông nước cạn dần. Nhớ Ngô Thế Vinh. Anh vừa mới được giải thưởng đặc biệt rất xứng đáng cho 2 cuốn sách Cửu Long cạn dòng biển Đông dậy sóng và Cửu Long dòng sông nghẽn mạch… Có lần, anh kêu mình viết đôi dòng giới thiệu cho cuốn sách:

 

“Cứu lấy một dòng sông!

Khi một mạch máu nhỏ bị nghẽn sẽ đưa đến những tai biến đáng tiếc cho con người. Y học đã có thể can thiệp làm tan cục máu đông, đặt stent nong mạch hoặc phẫu thuật bắc cầu by-pass để khơi thông dòng chảy. Không có máu đưa dưỡng khí đến, các tế bào không sản sinh được năng lượng cho sự sống. Cho nên, khi một dòng sông lớn như Cửu Long giang mà bị nghẽn mạch, ấy là cả một vùng đất mênh mông sẽ tắt đi nguồn năng lượng sống!

  Bạn tôi, người thầy thuốc đặt vội ống nghe lên lòng đất để kịp nghe nhịp đập thoi thóp của dòng sông. Anh lặn suối trèo non lên tận đầu nguồn, lắng nghe dòng sông thở, dòng sông rên… Anh kêu to cho mọi người nghe: Dòng sông đang nghẽn mạch. Dòng sông đang nghẽn mạch! Hãy cứu lấy dòng sông! Đừng để nó qua đời. Đừng để nó biến chứng thành một biển Đông dậy sóng!

Căn nguyên thì đã rõ. Chỉ vì lòng “tham sân si” của con người. Không gì khác. Lời kêu cứu của anh cũng đã được lắng nghe. Nhưng có muộn quá không khi can thiệp chỉ là những biện pháp chắp vá sơ cứu tạm thời mà không tìm thấy căn nguyên từ lòng tham không đáy của con người với nào muôn năm trường trị, nào nhất thống giang hồ, trường sinh bất tử…!

Người thầy thuốc đó là bác sĩ Ngô Thế Vinh, bạn tôi. Anh học cùng tôi dưới mái trường Y khoa đại học đường Saigon hơn nửa thế kỷ trước. Lúc còn là sinh viên, anh đã là một nhà văn, nhà báo, đã có những tiểu thuyết nặng lòng với đất nước quê hương. Tôi không chút ngạc nhiên khi thấy bạn tôi vất đi chiếc áo blouse trắng, cầm lấy cây viết, ngược dòng nước Cửu Long để tìm xem dòng sông thương yêu kia đã nghẽn mạch ở đâu, tại sao, lúc nào, bởi ai?

  Tôi mừng thấy nay tiếng kêu cứu của anh đã có vẻ được lắng nghe từ nhiều phía. Người thầy thuốc của dòng sông kia đã làm được phần phải làm của mình để cứu lấy dòng sông, cũng có nghĩa là cứu lấy những mầm xanh cho trái đất.

Hy vọng rằng dòng sông sẽ hồi sinh kịp lúc. Và dĩ nhiên, đến lúc người ta đã phải “phục hồi chức năng” cho nó phải không Vinh?” 

Đỗ Hồng Ngọc (7.2013)

 

Sáng sớm hôm sau, đoàn từ giả Tràm Chim, trở về lại chợ Cao Lãnh, mua ít trái cây đặc sản cam xoàn, xoài cát hòa lộc, nhãn, vú sữa, đu đủ… không thiếu thứ gì!

IMG_pn Giac Lam co tu

 

 

 

 

 

 

Ghé thăm đền thờ Ông bà chủ chợ Cao Lãnh Đỗ Công Tường ( hình như đây là nơi duy nhất người dân lập đền thờ Chủ chợ và thờ cả ông lẫn bà) nghe nói rất linh thiêng (*)! Rồi ghé chùa cổ Giác Lâm 300 năm ăn bữa cơm chay trước khi rời Đồng Tháp về lại Tp.HCM kết thúc một chuyến hành hương thú vị về đất Phương Nam.

(14-16/3/2017)

Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………………………………………………………………………….

(*) Cụ Đỗ Công Tường (? – 1820) tục danh là Lãnh, là người có công lập chợ và có công cứu giúp dân lúc bệnh tả hoành hành đầu thế kỷ 19. Sau khi mất, ông được người dân lập đền thờ, được vua nhà Nguyễn phong là Thành hoàng, và tên ông từ lâu cũng đã trở thành địa danh, đó là Cao Lãnh, hiện trực thuộc tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam (theo Internet).

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Chuyến về Cà Mau và Đồng Tháp (1)

20/03/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Chuyến về Cà Mau và Đồng Tháp,

 

Đỗ hồng Ngọc

Lúc đầu mình không định đi. Xa xôi quá. Chân cũng vừa bớt Gút. Thế rồi Nguyễn Tường Bách, rồi Trần Trọng Thức và cả Ngô Tiến Nhân “rủ rê” mấy lần, đành xách túi theo bạn cho vui vậy. Vả lại Lửa Việt tours của Mỹ cũng không phải ai xa lạ. Bèn rủ thêm Thân Trọng Minh. Cả nhóm 25 người thì đã có 9 người từ Đức về, 2 người từ Mỹ, nên có “yếu tố nước ngoài” chắc thú vị. Cũng là một dịp giao lưu học hỏi. Đặc biệt có Phan Chánh Dưỡng, dân Cà Mau thứ thiệt, mời mọi người ghé thăm nhà và hứa chiêu đãi đặc sản tôm cua Cà Mau nên ai cũng “háo hức”.  Nhớ PCD không? Ông là người có nhiều trải nghiệm trong thời kỳ đổi mới, và đã góp phần trong giai đoạn hình thành khu Phú Mỹ Hưng ngày nay đó.

4 giờ sáng đã phải có mặt để xuất phát vì đường dài lắm, xa lắm, để sao về kịp nhà PCD dự bữa cơm trưa, mọi người đang chờ. Đến thành phố Cà Mau rồi còn phải đổi xe nhỏ để đi đoạn đường dài vất vả mới đến huyện Trần Văn Thời, sông ông Đốc, phía vịnh Thái Lan, mới tới nhà PCD. Bạn biết không, mình là người già nhất trong nhóm, rồi mới đến Thức, TTMinh đó nhé… Các bạn khác đều còn rất trẻ, mới mấp mé 70. Trẻ và đẹp trai nhất có lẽ là Lê Trọng Nhi và Trần Sĩ Chương, trên dưới 60 gì đó thôi.

đất Phương Nam

đất Phương Nam

IMG_pn kenh rach

hai má con

hai má con (ảnh Đỗ Hồng Ngọc)

Bà má PCD năm nay 97 tuổi, còn sáng suốt, tai thính, mắt sáng, cứ hỏi con tôi đâu rồi con tôi đâu rồi làm mình nhớ bà má mình quá. Bà lớn hơn bà má PCD ba tuổi và đã mất ở tuổi 94. Bữa cơm… nhà quê quá thịnh soạn, ê hề, tôm cua, gà, vịt, lươn, ốc… các thứ. Thấy mình ăn có vẻ hơi kiêng vì sợ Gút, mọi người khuyên… ăn đại đi rồi uống thuốc! OK. Chỉ không uống rượu, bia. Cơm xong xe chạy lòng vòng cho đi thăm Cảng cá sông ông Đốc. Nghe nói đây là một cảng cá rất lớn, ghe tàu các nước lân cận thường xuyên ghé về, có khả năng thành một thương cảng quốc tế. Từ đó về Mũi Cà Mau còn cả trăm cây số. Phải mau về kịp trước khi mặt trời lặn. Từ Năm Căn có thể đi Cano về Ngọc Hiển, tận Đất Mũi, nhưng lúc này quốc lộ 1 đã hoàn tất, xe chạy tốt, trừ đoạn gần đến Cột mốc quốc gia GPS 0001 thì đường đang làm, đi vất vả.  Cà Mau nghĩa là nước đen, phù sa, hình thành một tam giác có mũi nhọn nên gọi là Mũi Cà mau, phía Đông giáp với biển Đông, phía Tây và Nam giáp vịnh Thái Lan, ở đó nhìn cả mặt trời mọc và lặn. Cột mốc tọa độ quốc gia GPS 0001 (cây số 0). Được xây dựng vào năm 1995.

Chợ quê

Chợ quê

IMG_pn cho que

 

 

 

Cảng Cá sông Ông Đốc

Cảng Cá sông Ông Đốc

Cà Mau với mình không xa lạ nhưng lần này thì lạ và xa. Ba mươi năm trước, Cà Mau còn gắn với Bạc Liêu thành tỉnh Minh Hải, mình cũng đã từng đi vỏ lãi đến tận Năm Căn thăm một cơ sở Y tế. Cách đây 3 năm lại có dịp về Cà Mau có lớp huấn luyện Y đức cho tỉnh, thế nhưng chưa lần nào về tận Ngọc Hiển, nơi có cột mốc số 0 của đất nước ta như lần này.

IMG_pn MCaMau

IMG_pn cot moc 0

Một vùng sông nước chằng chịt, mênh mông, hoang vắng. Rừng ngập mặn, mắm, đước, tràm… mọc đầy bên những chòi lá quạnh hiu. Nhưng Cà Mau bây giờ đang phát triển, không còn đỉa lội như bánh canh, cá sấu, cọp hùm đe dọa như thời Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam hay Rừng mắm của  Bình Nguyên Lộc…

rừng Đước Cà Mau

rừng Đước Cà Mau

Bạn biết không, mình đọc Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc từ đời thuở nào rồi mà bây giớ mới biết rừng mắm là gì bạn ạ. Thương lắm. Nó hiền hòa, nó giản dị, nó lặng lẽ âm thầm bồi đắp. Nó tiên phong, luôn đi trước một bước, mọc lên từ mảnh đất phù sa mới bồi đắp mềm nhũn, nên rễ nó phải ngóc lên để thở, nở hoa từ rễ, trái trên cành lá li ti (ăn được), trái rụng thì chui vào bùn đen, mọc thành cây,  chen chúc nhau, dựa dẫm vào nhau mà… thành rừng, vo đất, đúc khuôn lại cho cây đước cây tràm lấn tới, nối đuôi nhau trong một vùng rừng ngập mặn đặc trưng này. Đước thì rễ xúm xít chụm lại như cùng nâng cây lên, hít lấy khi trời. Cây đước làm than làm cũi thì hết sảy, dùng cất nhà thì không bị mối mọt bao giờ…

Hãy đọc lại một đoạn trong Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc:

“- Cây gì mà lạ vậy ông nội ? Trổ bông ngay dưới gốc ?

– Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Đây là rừng mắm đây.

– Cây mắm ? Sao tui không nghe nói đến cây mắm bao giờ ?

– Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm cũng không được.

– Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy ?

– Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

– Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau.

Đời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng”.

(Bình Nguyên Lộc)

IMG_pn rung

IMG_pn rung mam

 

Đến Cà Mau làm sao không nhớ Sơn Nam! Trong Hương rừng Cà Mau, mình thích nhất truyện Tình nghĩa giáo khoa thư bạn ạ. Lần nào đọc cũng muốn khóc. Lạ thiệt.

Nhớ Sơn Nam, mình nhớ lần ghé thăm ông bệnh nằm Chợ Quán, rồi nhớ lần gởi tặng ông cuốn Già ơi… chào bạn của mình.  Lúc đó ông cũng đã 75 tuổi rồi. Ông đọc xong nói: hay thì hay nhưng em viết cái này cho mấy ông già thành thị, còn mấy ông già nhà quê thì sao?

Thân Trọng Minh và Đỗ Hồng Ngọc (Mũi Cà Mau 14.3.2017)

Thân Trọng Minh và Đỗ Hồng Ngọc
(Mũi Cà Mau 14.3.2017)

Mình giựt mình. Ông nói đúng. Mình chỉ nói cái già chung, quên già thành thị với già nhà quê! Nhớ cái hồi ông Nguyễn Hiến Lê đọc cuốn “Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng” cũng vậy, ông nói, cháu là một bác sĩ Nhi khoa giỏi đó, nhưng viết cái này chỉ cho các bà mẹ trẻ có học ở thành thị, còn các bà mẹ ở nông thôn thì sao? Mình hoảng quá, bèn viết thêm cuốn “Chăm sóc con em nơi xa thầy thuốc” có rất nhiều hình vẽ!

 

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Võ Hồng: “rào rào… một nắm thẻ”

09/03/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Võ Hồng: “rào rào… một nắm thẻ”

Lứa bọn mình, ai cũng biết và quý mến nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang. Mình quen anh từ năm 70 – còn “biết” thì từ lâu lắm, từ “Hoài cố nhân” (*) lận. Lúc ra trường về làm việc ở Nha Trang, mình vẫn thường có dịp ghé thăm nhà thơ Quách Tấn và nhà văn Võ Hồng (ảnh bắt bọn mình kêu bằng anh thôi, dù mình chỉ bằng tuổi Diệu Hằng, con lớn anh). Mình đã có bài phỏng vấn nhà thơ Quách Tấn đăng trên Văn (1971) và có những bài đọc sách Võ Hồng trên Ý Thức…

Mới rồi, trong lúc lục lọi đống sách báo thư từ cũ, bỗng gặp bài viết tay này của anh Võ Hồng. Mới thôi mà đã 20 năm!

Năm 1996, mình có cuốn “Câu chuyện sức khỏe” gởi anh đọc cho vui (lúc đó anh đã 75 tuổi), chẳng ngờ anh cao hứng, viết ngay một bài “đọc sách” kiểu rất lạ, không giống ai, gởi vào ngay. Mình… cất kỹ.

“Rồi, 20 năm sau”.

Nay đã có thể nhắc lại với bạn được rồi đó.

Để cùng nhớ về anh Võ Hồng, nhà văn rất dễ thương của chúng ta.

Thân mến,

Đỗ Hông Ngọc.

………………………………………………

(*) tác phẩm đầu tay của Võ Hồng.

 

vo hong ccsk

 

bản viết tay của Võ Hồng, 1996

văn chương… (bản viết tay của Võ Hồng, 1996).

 

 

Ghi chú: Nguyệt Mai đã chịu khó gõ lại bài này, xin được chia sẻ cùng các bạn.

Đa tạ NM.

 

Võ Hồng

Đọc cuốn “CÂU CHUYỆN SỨC KHỎE” của Bs Đỗ Hồng Ngọc

Chăm sóc sức khỏe là một chủ đề khoa học. Tác giả trình bày thường phải đưa ra những lý luận, những quy tắc chặt chẽ và bằng một ngôn ngữ chuyên môn xoay quanh bệnh lý, chẩn đoán, trị liệu… Vì sự Sống mà người đọc thường phải nhẫn nại đọc.

Với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thì không. Trên cái khung của sự biện giải ông khéo “dặm” thêm nhiều kiến thức, như:
– mời người đọc cùng sang thăm trường Đại học Y khoa Harvard.
– ta có 300 triệu phế nang, diện tích 70 mét vuông để “lãnh đủ” bụi khói mù trời trên đường phố. (trang 32)
– bệnh tiểu đường trước phải tiêm thuốc mỗi ngày. Nay chỉ cần dán trên da. Khoa học sắp thực hiện thuốc ngừa thai dưới dạng… thuốc dán.
– một ngày đêm, tim bơm 8.000 kg máu là nhờ cứ mỗi lần co bóp 0,35 giây lại nghỉ 0,50 giây. (trang 123)
…
Ông viết mà như đang đứng nói chuyện; giọng bình dị xuề xòa:
– khẩu hiệu ‘’Khỏe vì nước’’… Nếu có người cắc cớ hỏi: tôi không khỏe… tôi bệnh rề rề… vậy tôi phản quốc hay sao (trang 58)
– chị mới 40 mà như bà cụ ngoài 60. Mười hai đứa con. Cháu bé là con “út thôi”. Trước đó đã có nhiều út: út mót, út rớt, út nữa… Mong chỉ một đứa út mà không xong, chị đành cứ út mãi… (trang 155)
…
Đặc biệt giọng tinh nghịch hóm hỉnh:
– nhiều nơi đã tráng đường bằng chuột như vậy đó. (trang 31)
– trước đây bao cao su được phân phối như một mặt hàng nhu yếu phẩm, mỗi tháng 8 cái. (trang 77)
– ở tuổi mới lớn, tình cảm phát triển, hướng về người khác phái phát hiện ra sự thu hút kỳ diệu để đi tìm phân nửa thất lạc kia của mình. (trang 89)

Đọc CÂU CHUYỆN SỨC KHỎE, cứ gặp một nét dí dỏm thông minh là tôi chợt nhớ đến thủ tục “cầm chầu ném thẻ” thời xưa. Hồi đó ông cha ta có lệ trong các buổi hát bội, hễ diễn viên hát được câu nào hay, múa được điệu nào đẹp là người cầm chầu hốt mấy cái thẻ quăng lên sân khấu. Hay nhiều thì ném thưởng nhiều, vừa đập trống chầu bùm bùm tới tấp. Khi vãn tuồng, cứ theo số thẻ mà tính thành tiền, trao tặng diễn viên.

Nay đọc bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi chợt tinh nghịch nghĩ phải đánh chầu và ném thẻ thưởng khi gặp những câu như:
– rồi đây du khách muốn chiêm ngưỡng cái thú trăng thanh gió mát của miền đồng quê chắc phải vào viện bảo tàng thiên nhiên mua vé (trang 35)
                      bùm bùm bùm (tiếng trống chầu) rào rào… một nắm thẻ.
– nếu người yêu bị SIDA thì sẽ chuyển sang hệ PAL (phủi anh luôn) (trang 66 )
                      bùm bùm bùm (tiếng trống chầu) rào rào… một nắm thẻ.
– vẫn những lo âu về mụn trứng cá, những khổ sở vì “hách từ trong nôi” (hôi nách… trang 97)
                      bùm bùm bùm (tiếng trống chầu) rào rào… một nắm thẻ.

Là một cuốn sách “y khoa” mà đọc thú vị như đọc một sáng tác văn chương!

(Nguyệt Mai đánh máy lại từ bản viết tay của Võ Hồng, 1996)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Nghiêm Nguyễn: Khi bài hát bị hát sai lời

06/03/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Một bài viết rất hay, và cần thiết! Xin phép tác giả Nguyên Nguyễn được chia sẻ với bạn bè nơi này. Đúng là mỗi khi nghe một ca sĩ nào đó hát sai lời, thấy chua xót và tội nghiệp cho cả nhạc sĩ, ca sĩ và người nghe. Gần đây, trên Karaoke có rất nhiều bài viết sai lời, sai chánh tả, và mọi người cứ thế mà hát…

Cảm ơn bạn HV đã chuyển cho đọc bài này.

Đa tạ,

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………………………………………………………………………………………………………..

Khi bài hát bị hát sai lời 
Nghiêm Nguyễn
January 29, 2017

 

Hiện tượng ca sĩ hát sai lời bài hát xảy ra càng lúc càng nhiều, ở trong nước cũng như hải ngoại. Với đa số khán thính giả, có thể đây chỉ là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm, vì chính họ cũng không biết chính xác lời của bài hát. Tuy nhiên với một số người quan tâm, nhất là các nhạc sĩ, các tác giả viết ra bài hát, họ đã buồn lòng không ít về vấn đề này.

 

Trong bài “Mộng Dưới Hoa”, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ bài thơ “Tự tình dưới hoa” của thi sĩ Đinh Hùng, câu “Mắt em lả bóng dừa hoang dại”, nhiều người đã hát thành “Mắt em là bóng dừa hoang dại”. Chữ “lả” diễn tả một hình ảnh nên thơ đôi mắt của người thiếu nữ đẹp như bóng dừa rủ xuống.  Hát thành “là” thì câu hát hoàn toàn mất chất thơ đi.  Có một giai thoại về chuyện này. Sau khi sáng tác bản nhạc này, nhạc sĩ Phạm đình Chương thỉnh thoảng có trình diễn bài hát này ở phòng trà Đêm Màu Hồng. Khi hát đến câu “Mắt em lả bóng dừa hoang dại”, ông đột ngột ngừng lại, rồi nói “Lả bóng, các bạn ạ, đừng hát Là bóng, mất đẹp của câu thơ đi”. Sau đó ông lại say sưa hát tiếp.

 

Nhạc sĩ Tuấn Khanh cũng từng bộc bạch là mỗi lần nghe ca sĩ hát câu đầu của bài “Chiếc lá cuối cùng”  ông hết sức hồi hộp vì nhiều ca sĩ đã hát “Đêm qua chưa” thành “Đêm chưa qua”. “Đêm qua chưa” là một câu hỏi bâng khuâng, trước sự chia ly không còn ý niệm rõ rệt về thời gian, trong khi đó “Đêm chưa qua” đầy tính xác định. Nếu so sánh, “Đêm qua chưa” nghe hay hơn, đầy tính nghệ thuật hơn là “Đêm chưa qua”.

 

Cố ca sĩ Quỳnh Giao khi viết về bài hát “Ngọc Lan” của người cha kế là nhạc sĩ Dương thiệu Tước cũng không kềm được sự bực tức khi một câu trong bài hát đã bị hát sai hoàn toàn. Trong tạp ghi Quỳnh Giao, bà đã viết:

 

Không chỉ là một bài hát, Ngọc Lan là một bài thơ, một bức họa và một đóa thơm lãng mạn. Ca khúc này được nhiều người trình bày, nam lẫn nữ, nhưng có lẽ thích hợp với giọng nữ hơn là nam. Ðiều này hơi lạ vì nội dung gợi ý về bậc nam tử thấy người ngọc trong “giấc xuân yêu kiều” bỗng mê đắm mà… lùi lại để tơ vương trong tâm tưởng. Ngợi ca đóa hoa như vậy thì phải là nam tử chứ?

Về nhạc thì vậy, về lời từ thì thật đáng thương cho Dương Thiệu Tước, cháu nội cụ Dương Khuê.

Ông viết nhạc đã hay mà dùng chữ rất tài cho một hậu thế lại coi thường chữ nghĩa và nỗi dụng công của ông. Khi viết “ngón tơ mềm, chờ phím ngân trùng, mạch tương lai láng”, ông dồn hết thi họa và nhạc vào một câu làm người ứa lệ trước cái đẹp. “Mạch tương lai láng” là một điển cố nói về giọt lệ. Nhưng đời sau lại hát ra “mạch tương lai sáng”. Dẫu có buồn thì cũng chưa đáng khóc bằng “mạch tuôn” hay “mạch tuông lai láng”!

Trong một buổi trình diễn ca nhạc của TT Thúy Nga, nữ ca sĩ  TTH tức HT cũng đã hát  “Mạch tương lai sáng”. Rõ ràng là người nữ ca sĩ này hoàn toàn không hiểu biết gì về ý nghĩa của ca từ này.

 

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng là nạn nhân của rất nhiều trường hợp.  Những bài hát của ông ngoài giai điệu mượt mà, trong ca từ ông thường sáng tạo những từ vựng rất độc đáo, lạ lẫm, tạo nên nét nhạc rất riêng của họ Trịnh. Chẳng hạn như trong bài “Chiều một mình qua phố”.  Khi ông viết “Khi nắng khuya chưa lên”, ông muốn dùng  chữ  “nắng khuya” thay thế ánh trăng lên, thế mà có một nam ca sĩ vì không hiểu nên đã hát “Khi nắng mưa chưa lên”, làm mất đi cái hình ảnh thi vị đó. Thật uổng cái công sáng tạo chữ nghĩa của ông.

Trong bài “Quỳnh Hương” có câu “Nụ cười khúc khích trên lưng”, vẽ lên một hình ảnh rất dễ thương của người thiếu nữ áp sau lưng chàng trai, miệng cười khúc khích. Nhưng chắc vì quên lời nên một số ca sĩ đã hát cương thành “Nụ cười khúc khích trên môi”, làm mất đi cái hình ảnh dễ thương đó. Trong bài “ Một cõi đi về”, những chữ “ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì” thì bị hát thành “thổi xuống” hay “thổi buốt” , sai lạc cả ý nghĩa.  Hoặc trong bài “Biết đâu nguồn cội”, lời của bài hát là “Em đi qua chuyến đò, thấy con trăng đang nằm ngủ”, thì bị hát thành “thấy con trâu đang nằm ngủ”, từ một hình ảnh lãng mạn hóa thành hình ảnh trần trụi, đời thường.

 

Nhạc tiền chiến cũng không ngoại lệ. Bài “Hướng về Hà Nội” của nhạc sĩ Hoàng Dương có quá nhiều câu sai khiến tác giả không ít lần muốn đính chính. “Tiếng guốc” trong câu “thanh bình tiếng guốc reo vui” bị hát thành “tiếng hát reo vui”. Với ông, tiếng guốc là âm thanh riêng của Hà Nội, vậy mà thay bằng “tiếng hát” thì còn gì là Hà Nội nữa. Rồi “Hãy tin ngày ấy anh về” hát thành “Cứ tin ngày ấy anh về”, và câu “đắm say chờ những kiếp sau…” bị hát thành “đắng cay chờ những kiếp sau…”.

 

Trong câu mở đầu đầy chất thơ bài “Bến Xuân” của nhạc sĩ Văn Cao: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước/ Em đến tôi một lần” đã bị hát thành “em đến chơi một lần” hay “em đến thăm một lần”, chỉ đổi một chữ mà làm mất hết hồn thơ của câu hát.

 

Hiện giờ hầu như các bản in đều in nhầm khiến các ca sĩ đều hát sai câu “Muôn kiếp bên đàn” thành “Muôn kiếp bên nàng” trong bài “Dư Âm” của nhạc sĩ Nguyễn văn Tý. Lòng muốn bên nàng nhưng người xưa không muốn nên phải nói tránh ra là bên đàn, tác giả đã có lần tâm sự, kể lại chuyện tình thời trai trẻ của ông.

 

Trong bài “Lá đổ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn,  câu hát “còn nhớ phương nào hoa đã rơi” đã bị một nam ca sĩ sửa thành “còn nhớ hôm nào hoa đã rơi”. “Phương nào” nói về không gian, nơi chốn, trong khi “hôm nào”, nói về thời gian.  “Còn nhớ phương nào” nghe thi vị, khoáng đãng hơn “còn nhớ hôm nào”.

Tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh, ca sĩ được xem diễn tả những sáng tác của  Phạm Duy hoàn hảo nhất cho đến chính tác giả cũng phải khen ngợi là không ai có thể thay thế được, thỉnh thoảngvẫn tự ý sửa lời bài hát, hoặc hát sai khi trình diễn . Có trường hợp nhờ bị sửa mà câu hát trở nên sâu sắc hơn, có ý nghĩa hơn, nhưng không phải lúc nào cũng thành công.

Chẳng hạn như bài “Cho Nhau”, Phạm Duy viết:

Cho nhau ngòi bút cùn trơ….

Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa

Cho nốt đêm mơ về già

Thái Thanh hát:

Cho nhau ngòi bút còn lưa….

Cho nối đêm mơ về già

Lưa là chữ cổ, có nghĩa còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Dĩ nhiên ngòi bút cùn trơ mang ý nghĩa chính xác hơn, nhưng nghe không thi vị bằng ngòi bút còn lưa. “Cho nốt đêm mơ về già”có nghĩa là cho hết đi, không còn chừa gì cả, nhưng “Cho nối đêm mơ về già”, nghe sâu nặng, thủy chung hơn.

Phạm Duy viết:    Cho nhau thù oán hờn ghen.    Cho nhau cho cõi âm ty một miền.

Thái Thanh hát:  Cho nhau cho nỗi âm ty một miền.

Chữ “nỗi” mang ý nghĩa sâu xa, hay hơn chữ “cõi”. Vì từ “cõi” một ý niệm hữu hình về không gian, tuy có vẻ bao la nhưng hữu hạn. Còn “nỗi”, một ý niệm vô hình, diễn tả tâm trạng con người, tưởng chừng như nhỏ bé so với “cõi” không gian, nhưng thật ra mông mênh vô tận lòng người.

Tuy nhiên trong bài “Về miền Trung”, Thái Thanh đã hát sai hai chỗ làm lệch ý nghĩa của bài hát. “Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi” bị hát sai thành “Thương thân thiếu phụ, khóc đầu hài nhi”, và “Một chiều nao đốt lửa rực đô thành”, Thái Thanh hát thành “Một chiều mai đốt lửa rực kinh thành”. Chữ “nao” mơ hồ, mông lung, không xác định rõ thời gian, có thể là không bao giờ, trái lại chữ “mai” có vẻ như một xác quyết, mong muốn. Nhạc sĩ Phạm Duy  muốn gây một ấn tượng mạnh mẽ cho người nghe chứ chẳng bao giờ mong có ngày đốt kinh thành Huế.
Chuyện các ca sĩ hát sai lời từ trước đến giờ có lẽ viết mãi cũng không hết. Đó là chưa nói đến chuyện sửa “anh” thành “em” hay ngược lại để phù hợp giới tính của ca sĩ. Có những bài hát không thay đổi ý nghĩa gì nhiều khi bị sửa đổi, tuy nhiên không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái mà nhiều khi nghe rất ngô nghê, buồn cười.  Phải hiểu là nhạc sĩ sáng tác một bài hát là gửi gấm tâm tình của mình vào trong đó. Vì thế khi thể hiện một bài hát cho có hồn, cho bài hát được thăng hoa hơn, ngoài việc hoà nhập cảm xúc và tâm hồn của mình vào đó, người hát không nên sửa đổi theo ý mình mà làm sai lệch ý tưởng và ý nghĩa của bài hát.

Thử tưởng tượng như trong bài Ngậm Ngùi, Phạm Duy phổ thơ Huy Cận, nếu đổi anh thành em và ngược lại, sẽ nghe một nữ ca sĩ hát như sau:

Tay em anh hãy tựa đầu,

Cho em nghe nặng trái sầu rụng rơi… Thì với thân hình nặng hơn 60 kí lô của chàng tựa vào, chắc chắn cả thân người của nàng sẽ rụng rơi chứ không phải trái sầu nào cả.

Tương tự, nghe hết sức kỳ cục khi:  “Anh vuốt tóc em” sửa thành “em vuốt tóc anh” và “Em khóc trên vai anh” sửa thành “Anh khóc trên vai em” (Một lần cuối, Hoàng Thi Thơ).  “Em ơi nép vào lòng anh” sửa lại là “Anh ơi nép vào lòng nhau” (Đôi ngả chia ly, Khánh Băng).

Trong bài “Này em có nhớ” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, chữ “em”, một người con gái phụ bạc, khiến “tôi”, một người đàn ông phải trách móc, buồn phiền. Thế mà một ca sĩ trong nước khi trình diễn đã đổi ngược lại làm mất hết tính tự sự đầy biểu cảm trong bài nhạc.

Ca sĩ hát sai lời có nhiều nguyên nhân. Từ việc các băng đĩa nhạc phát hành cẩu thả, đến việc những quyển sách nhạc in sai lời mà không bao giờ đính chính. Nhưng xét cho cùng, chủ yếu là từ các ca sĩ; họ đã không chịu tham khảo, tìm hiểu ý nghĩa của bài hát một cách thấu đáo trước khi trình diễn. Ở mỗi tác phẩm, tác giả khổ công gọt giũa từng nốt nhạc, trau chuốt từ câu ca, để qua bài hát chuyển tải những cảm xúc, những tâm tình của họ đến người nghe. Thế mà khi nghe một bản nhạc, hầu như  người ta chỉ quan tâm đến ca sĩ trình bày chứ chẳng ai thèm nhớ hay biết tên tác giả. Ngay cả một số trung tâm sản xuất băng nhạc và một số ca sĩ cũng thế. Cách nay khá lâu nhà văn Bùi Bảo Trúc kể, có lần ông mua một băng nhạc của trung tâm nào đó sản xuất. Khi đọc trên bìa băng nhạc, thấy chỉ liệt kê tên những bản nhạc và ca sĩ trình bày mà không để tên tác giả, ông bực quá vứt băng nhạc vừa mua vào sọt rác. Ông bảo đây là sự vô ơn đối với tác giả.

Cho nên khi thưởng thức hay trình bày một bài hát, người nghe cũng như người hát cần biết đến ai là người đã sáng tác ra bài hát, và sau đó  người hát cố gắng hát cho đúng lời, đúng ý. Đó là cách chúng ta tôn trọng tác giả cũng như thể hiện sự biết ơn của chúng ta đối với họ; những người  mà từ trong cuộc sống với  định mệnh đau thương, nghiệt ngã hay với hạnh phúc êm ả,  ngọt ngào; đã chắt lọc thành chất liệu để cống hiến cho đời những tác phẩm thật tuyệt vời.

Nguyên Nghiễm

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Thư gởi người bận rộn

Nguyễn Thị Khánh Minh: ”Đỗ Hồng Ngọc, lang thang nghìn dặm trái tim”

21/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đỗ Hồng Ngọc, lang thang nghìn dặm trái tim

Nguyễn Thị Khánh Minh

(https://tuongtri.com/2017/02/17/do-hong-ngoc…)

 

Trong Lời Ngỏ sách Nghĩ Từ Trái Tim, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN) có nói, tôi viết bằng cảm xúc, bằng sự thể nghiệm đời sống chứ không phải bằng suy luận lý trí. Theo tôi, không chỉ với cuốn Nghĩ Từ Trái Tim, mà tất cả tác phẩm của ông từ thơ, văn, bàn về kinh sách, hay những đề tài có vẻ chuyên khoa (tôi nói có vẻ vì ngay trong những đề tài ấy, ông viết không đơn thuần là khô khan của khoa học, mà đầy tính văn chương), đều được chữ ông chuyên chở những cảm xúc thực từ trái tim.

Tôi hình dung một chiếc xe -chữ- lọc cọc trên con đường đất nâu quê nhà thơm ngấu mùi bùn cỏ nắng trưa, chở đầy hoa đồng nội -cảm xúc-, trên con đường đi cứ tỏa hương tỏa hương… Đấy, nghìn dặm lang thang của một chàng lãng tử rất đỗi nghệ sĩ, mộng mơ… Và Con Đường mà chàng miệt mài đi, nghe ngóng, kiếm tìm ấy là Trái Tim. Nơi khởi đầu và chung cuộc để con người nhìn ra nhau nhân ái yêu thương. Những điều chàng chắt chiu được trên con đường ấy lại làm quà tặng cho chúng ta -những tác phẩm-. Người nghĩ và sống được như ý nghĩ mình đầy thiện tâm như thế, thật là không dễ. Và không nhiều. Nên chính ông, cũng là một tặng phẩm cho cuộc đời này.

Cũng khởi đi từ nhiệm mầu ấy cộng thêm những trải nghiệm cảnh ngộ trong cuộc đời mà ông đã được người đọc, người nghe, tin cậy. Nếu đọc ông một cách tuần tự rất dễ nhận ra được những tình cảm, kinh nghiệm ấy được nuôi dưỡng, lớn lên, giàu thêm theo thời gian. Giàu thêm chứ không già đi -Cảm Xúc-. Điều lạ ở ĐHN đấy. Kinh nghiệm càng nhiều, càng nghịch cảnh thì cảm xúc càng trẻ trung, cái nhìn về cuộc sống càng giản dị, tình dành cho tha nhân càng thông hiểu bao dung. Phải chăng là một đền đáp của Cảm Xúc cho người biết lắng nghe nó?

Đó là điều tôi cảm nhận về phong cách cùng văn chương của Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi cũng có được duyên may để quen và được xem ông như một người anh. Có một ngẫu nhiên, tôi là người thích những ngẫu nhiên đem lại cho mình may mắn bất ngờ, hồi tháng 4. 2014, tôi qua một cuộc mổ cột sống khá nặng, vào ngày phải tập đi thì tôi đã không thể bước được, nằm trên giường sợ và khóc, rồi vào mạng tìm nghe đây đó thì tình cờ tôi nghe được buổi nói chuyện của Bác Sĩ ĐHN trên Hoa Mặt Trời, nói về niềm hạnh phúc khi ông bước đi những bước đầu tiên sau cuộc mổ sinh tử, nghe xong tôi thấy mình bình tĩnh hơn, và sáng hôm sau tôi tập đi được 2 phút, trong niềm vui, càng thấy thấm thía những điều ông nói, hạnh phúc hóa ra là những điều rất giản dị, sáng mở mắt tai nghe được tiếng chim hót, biết được nỗi tuyệt vời của thiên nhiên muôn loài. Bước được bằng hai chân, cảm được hạnh phúc của một thân thể lành lặn. Phone reo nghe tiếng bạn hỏi thăm, nghe được nỗi ấm áp sẻ chia, từ đó thấu được nỗi đau của những mất mát quanh ta… Vậy đó, từ cảm ngộ của người vừa nhảy qua bờ tử kia đã khiến tôi biết tận hưởng, trước hết, là hơi thở của mình. Cái kho báu đang-là ấy chẳng bao giờ vơi. Càng lấy nó cứ càng đầy. Đó là duyên tôi có được sau khi chỉ nghe một buổi ĐHN nói chuyện trên Hoa Mặt Trời. Tôi biết đóa hướng dương ấy luôn cười và chỉ cho anh em, kia mặt trời đang mọc, xin hãy nở…

Đúng như nhà thơ Duyên nói trong một e-mail cho anh em, Đỗ Hồng Ngọc ảnh hưởng tới mọi tầng lớp và mọi lứa tuổi, khi họ tìm đến thơ văn ông để tùy hoàn cảnh mà rút ra được những cần thiết cho mình. Chính vì có trải nghiệm và tu tập chiến thắng nghịch cảnh, bịnh tật, ông mới có được phong thái giản dị và nói lời trầm tĩnh khiến văn chương ông có sức hút lạ kỳ. Ông hóa giải những điều buồn khổ bằng sự hóm hỉnh duyên dáng khiến nó trở nên nhẹ tênh. Rất rất nhiều người đã viết về ông, đều cảm nhận như thế, và người đọc ông cũng không phủ nhận được sức quyến rũ, thuyết phục từ những áng văn uyên áo mà dung dị ấy.

Tôi chỉ muốn góp thêm chút cảm xúc của mình khi nghe nhịp đập lang thang của một thời tuổi trẻ phập phồng cùng chiến cuộc. Thời mà tôi gọi các anh là những chàng lãng tử, của Bi Thương và Mơ Mộng. Mỗi người một cách thế để sống và tồn tại trong quãng thời gian khắc nghiệt ấy. Với ĐHN ngày ấy, là Thơ.

Một tập thơ in cách nay gần nửa thế kỷ (1967) có tên Tình Người, với bút hiệu Đỗ Nghê [1], ông nói về một ước mơ,

Súng dòn
Ánh sáng lóe lên
Đạn đan trên nền trời
Thành hai chữ Việt Nam
Những kẻ tử thù nhìn rõ mặt nhau
Khóc vì mừng

Anh em
(Ước Mơ)

Định mệnh một cuộc chiến… Đã biết bao gia đình, trong một nhà anh cầm súng vì bên này, em ra chiến trường cho bên kia. Hai phía ngỡ ngàng khi súng đạn lóe sáng nhìn ra nhau anh em… Người thơ ước sao cho đường đi của súng đạn đan thành hai chữ Việt Nam, để thức tỉnh nhau còn khóc được vì mừng… Và dường như có một đau lòng, nỗi chia cắt đất nước, nỗi phân ly ý thức hệ,

Khi ta đưa các con 50 người xuống biển
Và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng
Lòng ta đã rất đỗi băn khoăn
Có một điều gì khiến ta linh cảm…
…
Các con sẽ không bao giờ quên
Đã cùng sinh ra trong một bọc
Một trăm trứng
Một trăm con
Các con sẽ không bao giờ quên…
…
Hãy tha thứ cho nhau- tha thứ hết
Rồi nắm tay cùng gầy dựng lại quê hương…
(Tâm Sự Lạc Long Quân)

Bạn ơi, lời ước nguyện này trải qua mấy mươi năm vẫn tươi rói hiện thực tình cảnh quê hương chúng ta. Mảnh sao băng kia đã thành bụi hư vô rồi mà chưa thành tựu được một ước mơ tưởng là rất dễ dàng đối với những đứa con sinh cùng một bọc Việt Nam này! Trái tim người thơ ấy đã thổn thức gần nửa thế kỷ, và vẫn còn theo thời gian,

… Lịch sử sẽ ghi bằng những lời nói dối
Mặc kệ – chúng mình thương nhau
…
Cho anh, tôi dám nhìn vào mắt nhau
Không một ai cúi mặt

Nếu anh vẫn một mực chối từ
Và nhất định đòi cho tổ quốc một chiếc áo màu -dù xanh dù đỏ-
Hay khoác một định nghĩa -dù trắng dù đen-
Tôi đành nhặt một cọng cỏ rất xưa về làm tổ
Rồi khóc trên đó
Loài chim bỏ đi
(Tổ Quốc)

Nhân bản làm sao và thương cảm làm sao nỗi bé mọn trước tình yêu được gói vào tựa đề là Tổ Quốc. Thân phận khốn khổ nên lớn mãi mộng mơ, ước nguyện. Nên mới có Tình Người. Tác phẩm này theo tôi là một dấn thân của tác giả vào thời cuộc, biểu lộ một thái độ, nhân danh Con Người. Trong đó tôi thích nhất bài này,

Tôi cho mấy người mượn
Con đường độc nhất về quê nội
Để thử những quả mìn mới

Tôi cho mấy người mượn
Những nhà hàng phố xá đông đúc
Để thử lựu đạn, plastic,

Tôi cho mấy người mượn
Cửa nhà vườn tược ruộng nương
Để thử sức tàn phá của bom

Tôi cho mấy người mượn
Tuổi trẻ căng đầy nhựa sống
Làm bia thử vũ khí cá nhân

Tôi cho mấy người mượn
Ông già bà lão con nít thiếu niên
Để thử các chính sách chăn dân cai trị

Tôi cho mấy người mượn
Khối óc linh hồn
Để thử thuốc nhuộm đen nhuộm đỏ

Tôi cho mấy người mượn hết rồi đó
Xin dành lại cho tôi
Những nỗi căm hờn
Và tấm lòng độ lượng rất đông phương
(Cho Mượn)

Tôi trích trọn bài này để thấy được tất tật vốn liếng của người đã cắn răng cho mượn. Rộng lòng hay cam chịu hàm nỗi bất lực? Hỏi tức trả lời. Trước những mất mát và bi phẫn đến nỗi, tự an ủi, thôi thì coi như cho mượn! Và lịch sử cho chúng ta thấy, không lạ gì thói quịt nợ của những tên phú hộ. Và chàng, và chúng ta chỉ còn, chí ít, nỗi căm hờn thường tình. Nhưng, diệu kỳ thay, lại không thường tình chút nào, một tấm lòng độ lượng rất đông phương! Đúng là Đỗ Hồng Ngọc mà ta thấy trong những tác phẩm sau này lấp lánh bóng một thiền giả. Khởi đi từ thời gian viết bài thơ này mới hiểu vì sao mỗi ngày ĐHN mỗi cống hiến những tác phẩm đầy lòng nhân ái, vì người và thương người đến vậy. Và tôi đã nghĩ, cho đến ngày hôm nay thì chắc chắn trong ông không còn “nỗi căm hờn” nào nữa mà lồng lộng cái Đông Phương nhân bản kia. Mặc kệ tất cả, miễn là chúng mình thương nhau, ơi anh em ngọt bùi một bọc… Tôi muốn nói lại lời mà ông đã viết gần nửa thế kỷ trước, Hãy tha thứ cho nhau- tha thứ hết / Rồi nắm tay cùng gầy dựng lại quê huong… … Chợt nghe tiếng thì thầm sâu ý nghĩ / Bàn tay gầy làm dấu quê hương /…

Nhưng để kiếm một tha thứ, để quên đi, sao khó đến vậy? Hết nghiệt ngã này đến khác buộc vào cái quang gánh ốm o chữ S những oan cừu. Nên chàng và những ai kia, cứ mãi lang thang trên nghìn dặm trái tim để nhặt nhạnh những nhịp yêu thương…

Trong tập này còn có một bài thơ khác của ông, rất nổi tiếng, Thư Cho Bé Sơ Sinh, được trích dẫn và nói đến rất nhiều, mỗi người nói một chút, niềm hân thưởng của mình về nó, khiến bây giờ tôi nói một chữ nào thêm nữa thì cũng lọt vào một ý đã nói rồi, thế nên, chỉ biết nói, a, tôi cũng thích bài đó như bạn vậy. Tôi thích hình ảnh tiếng khóc của bé sơ sinh và cái cười của ông mụ (xin lỗi bác sĩ) “Vì từ nay em đã phải cô đơn. Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ…” Tôi thấy ở đây ẩn trong tình cảm thiêng liêng -qua những việc làm đón em bé ra đời- là nét nhìn dí dỏm về thân phận con người. Một tâm hồn mẫn cảm và lạc quan. Nhà phê bình văn học Huỳnh Như Phương khi viết về bài thơ này đã nói “Thật kỳ lạ, ở tuổi 25, Đỗ Hồng Ngọc tự đặt cho mình một cột mốc thơ ca mà chính ông không dễ gì vượt qua. Ni sư Giải Nghiêm có lý khi cho rằng nhiều bài thơ và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc về sau này dường như là một sự nối dài Thư Cho Bé Sơ Sinh” [2] Tới đây thì xin thưa với Nhà Thơ Lữ Kiều, ông nói về bạn ông, ĐHN là một người nghiêm túc, tôi muốn thêm, một người mơ mộng nghiêm túc, một người yêu đời nghiêm túc. Một cây viết nghiêm túc giản dị. Thế cho nên, mỗi khi nói chuyện, email với ông hay nghe ông trên những diễn đàn, cái nghiêm túc ấy không làm nặng nề mà luôn đem đến những tiếng cười thoải mái ý nhị, những vui vẻ nhẹ nhàng.

Trên nghìn dặm trái tim ấy, tôi sững sờ đến đau mênh mang, khi nghe bật lên những tiếng đập như từng tiếng đàn đang dồn dập bỗng đứt phựt. Đó là những bài thơ về La Ngà, đứa con gái yểu mệnh,

Con đã lớn lúc nào mà ba má không hay
… Ba dạy con ca dao trước khi học chữ
Con làm thơ trước khi biết nói
… Ba má nhìn con lớn lên
Thấy mình nhỏ lại
… Con đã lớn lúc nào mà ba má không hay
Cứ tưởng con còn nhỏ xíu
Đến khi con mất đi rồi
Mới biết con đã lớn
(Con Đã Lớn)

Trước mộ con còn ướt
Ba nói với bè bạn ba rằng
Từ nay hãy yêu con mình cách khác
Đừng như ba
Giấu kín trong lòng
Bởi tình yêu có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa…
(Tình Yêu)

Ba viết trăm lần lý lịch
Cứ mỗi lần viết đến tên con
Ba lại ngẩn ngơ
Như một kẻ mất hồn
Biết trả lời sao
Câu hỏi
Hiện con đang làm gì?
Ở đâu?
(La Ngà 2)

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con:
Nỗi mất
(La Ngà 5)

Hồi đó khi đọc xong những bài thơ này, tôi nhìn hai con mình như nhìn vào kho báu. Tôi biểu lộ một cách sôi nổi hơn tình yêu ấy, với chồng, với con, với gia đình bạn hữu quanh mình, như thể, họ hay chính mình sẽ mất đi bất cứ lúc nào, trước khi kịp làm điều gì đó cho nhịp tim nhau biết được niềm thiết tha, trọn vẹn.

Dường như tôi đã nói được điều tôi muốn nói từ lâu, với Nhà Thơ Đỗ Nghê. Điều đó nếu nói gọn, là hai chữ Hàm Ơn, những cảm xúc tôi có được khi đọc văn thơ ông.

Và ngay lúc này, khi tuổi đang vào lúc đi xuống đồi ngắm mặt trời hoàng hôn, qua những đớn đau bệnh tật, tôi tập tành tu dưỡng, đến với Thiền Và Sức Khỏe [3], để học biết được Thiền định qua cách thở. Đến với Nghĩ Từ Trái Tim [4], xem thiền giả kia lắng nghe mình ra sao sau khi qua đường ranh sống chết, và trái tim đã mở con đường dẫn người đến Tâm Kinh Bát Nhã. Ngẫm nghĩ rồi nghe ngóng. Nghiền ngẫm rồi ngập ngừng [5]. Tôi hình dung được nỗi miệt mài tìm hiểu nghiêm túc này. Và đó là điều cần để đi vào hành trình gian nan ấy. Cái gian nan tủm tỉm một mình… thiền hành mỗi phút mỗi giây. Cũng như những lúc say đọc Gươm Báu Trao Tay. Viết, luận về kinh với một văn phong như thế thật đã kéo được người đọc ngồi lại với mình để nghe như to nhỏ chuyện trò. Ông dùng hình ảnh trong Chinh Phụ Ngâm, Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh… ví von thanh gươm báu Kim Cương trao cho người thiện tâm để truyền bá đạo giải thoát chặt đứt mọi khổ nạn kiếp người [6]. Với những sách như thế đâu chỉ đọc một lần.

Có một ngẫu nhiên hết sức vui, vừa mới đây, vợ chồng em gái Khanh Minh &Wayne mời vợ chồng tôi một chuyến cruise nhân tôi vừa khỏi bệnh, em gái viết, chị nhớ đem quần áo đẹp, rực rỡ để ăn tối. Tôi tần ngần trước tủ áo, rực rỡ là thế nào đây. Chọn bộ cánh để đi dạo công viên, đi ra ngồi quán cà phê với bạn văn chương thì dễ, mình sao mặc vậy rất không suy nghĩ gì, nay nhỏ em bảo phải rực rỡ, thiệt tình… suốt buổi sáng không quyết định được gì, lúc nằm nghỉ, thường theo thói quen, khi nằm xuống giường tôi hay lấy không định một cái gì đó để đọc, tôi vớ tình cờ ra cuốn Những Người Trẻ Lạ Lùng [7], và lật ngẫu nhiên, trang 58, có những dòng này, …Ở cái tuổi chín muồi đó, người ta không chỉ biết quan tâm đến mình, mà quan tâm đến những xung quanh, đến tại sao, ai đó, ở đâu, lúc nào…, nghĩa là đến phần hồn kia, người ta biết tìm cái vượt trội hơn những phù phiếm tàn phai…

…Chính cái tuổi chông chênh đó của người phụ nữ, cái tuổi có những cột mốc thì thầm, tuổi chuyển mùa như lá trên cành, từ cái bồng bột sôi nổi, sang cái nền nã dịu dàng, giản dị mà sang trọng…

Tôi bật cười la lên A! Ngẫu nhiên như thể, tôi đang thắc mắc, và có người anh ở cùng nhà, vừa kêu anh ơi, là đã nghe được cách đối phó. Vấn đề của tôi lúc ấy chẳng có gì là đao to búa lớn, chỉ là… và tôi đã biết cách chọn những bộ nào, phải rồi, chỉ có “nền nã” mới trụ được bên cạnh “rực rỡ”. Ông Đỗ Hồng Ngọc này! nói đủ khía cạnh trong cuộc sống mà ta phải chạm đến, ngoài thơ, kinh sách, y học, tâm tình chuyện đời, còn có cả, Thời Trang.

Có phải lang thang qua nghìn dặm Trái Tim mà chàng có được cái lịch duyệt đôn hậu đến thế?

 

Nguyễn Thị Khánh Minh
Santa Ana, Tháng 4. 2015

………………………………………………………………………………………………..

[1] Năm 2013, tôi được Nhà Thơ ĐHN tặng một tập thơ được chụp lại, tập Tình Người- Thơ Đỗ Nghê- Bìa 4 có những dòng in: Tác giả trình bày. Bìa Lữ Kiều. Hình Cocteau. Ấn hành giới hạn dành cho bạn bè và anh em. Năm 1967.

[2] Huỳnh Như Phương- Thơ Đỗ Hồng Ngọc: Ẩn Hiện Giữa Cuộc Đời (Trong phần Phụ Lục tập thơ Thư cho Bé Sơ Sinh Và Những Bài Thơ Khác…)

[3], [4], [7] Tên những tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc

[5] trích trong Lời Ngỏ, Nghĩ Từ Trái Tim

[6] trích trong trang 5, Gươm Báu Trao Tay

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Uncategorized

“Hạnh phúc bình quân đầu người”

21/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

“Hạnh phúc bình quân đầu người”

 

Bạn nhớ đúng, năm 2009, cô Lương Lệ Huyền Chiêu (Nha Trang) đã có bài “Mùa Xuân Chuyện Trò Cùng Nhà Văn Đỗ Hồng Ngọc” phỏng vấn tôi, đăng trên Ninhhoa.com, trong đó tôi đã đề cập tới “hạnh phúc bình quân/ đầu người”  (per capita happiness) lấy ý từ “thu nhập bình quân/ đầu người (per capita income)”…

…“Đó là ở Bhutan, một quốc gia nhỏ bé dưới rặng Hy mã lạp sơn đã đưa ra khái niệm “Tổng hạnh phúc quốc gia” (GNH= Gross National Happiness) để thay cho GNP (Tổng sản lượng quốc gia) để đánh giá sự phát triển của đất nước họ. Tôi đã mượn khái niệm “Tổng hạnh phúc quốc gia” của Bhutan để đặt ra cái gọi là “Hạnh phúc bình quân đầu người” (per capita happiness) … cho vui vậy thôi! Nhưng thật bất ngờ đựơc nhiều bạn đọc quan tâm chia sẻ.

Vài năm gần đây là thời kỳ của khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới, “thu nhập bình quân đầu người” (per capita income) đã giảm rõ rệt, số người thất nghiệp ngày càng đông, tuy vậy, theo tôi, hình như nhìn chung thì “hạnh phúc bình quân đầu người” (per capita happiness) lại có vẻ… tăng lên! Có lẽ nhờ khủng hoảng kinh tế mà mọi người mới có cơ hội để giật mình, thấy ra hạnh phúc không chỉ là tiền bạc của cải, từ đó nhìn lại cách sống hưởng thụ vật chất, chạy theo tiêu thụ bấy nay của mình là phù phiếm, là vô nghĩa. Bây giờ người ta lại nhận ra những giá trị “mới”. Đầu năm 2009, báo chí Mỹ kêu gọi mọi người nên ăn uống lành mạnh, vừa để tránh béo phì (một đại dịch hiện nay ở Mỹ và đang toàn cầu hóa…) vừa để tăng nghị lực, tăng lòng tự tín, một thứ hạnh phúc không ngờ! Báo chí Anh thì khuyên mọi người nên có nếp sống lành mạnh như năng đi nhà thờ nghe nhạc… miễn phí, năng tập thiền định, quán từ bi và năng vận động thể lực, đặc biệt khuyên nên tự trồng rau trong vườn nhà để ăn vừa “an toàn vệ sinh thực phẩm” , vừa tiết kiệm, nhất là nhờ đó sẽ tìm thấy hạnh phúc, sự thanh thản trong tâm hồn! Họ nói, lạ lắm, cứ cuốc đất trồng rau đi rồi khắc biết: lúc đó nó làm cho ta không còn phải vướng bận so đo tính toán nát óc với những con số chứng khoán, tiền vàng lên xuống chi nữa, trái lại tìm thấy niềm vui lạ lùng khi nhìn những rau cải xanh tươi mơn mởn từ bàn tay ta làm nên…  Như vậy, trên toàn cục, ta thấy hình như có sự “tỉnh giác” chút đỉnh rồi đó, người ta đã bắt đầu nói nhiều hơn tới bảo vệ môi trường sống, phát triển bền vững,  chăm lo đời sống tinh thần, làm từ thiện, phục vụ cộng đồng v.v…!”.

Đó là vài “trích đoạn” trả lời phỏng vấn năm 2009 và 2010 của Lương Lệ Huyền Chiêu. Vừa đây, thấy trên mạng có vài bản tóm tắt rất hay về GNH ở Bhutan, cùng các biện pháp thực hành GNH để mang lại “hạnh phúc bình quân đầu người” ngày càng cao cho người dân đáng được quan tâm.

Xin chia sẻ nơi đây cùng các bạn vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

 

Bhutan 1

 

Bhutan 2

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Nước Mắm Phan Thiết

17/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Ghi chú: Đọc bài Nước Mắm Phan Thiết của Phạm Sanh trên blog Phan Bội Châu Phan Thiết tôi không khỏi cảm động vì mình cũng là dân Phan Thiết thứ thiệt, ăn nước mắm tĩn suốt một thời tuổi nhỏ, lội sông Cà Ty, lang thang Đá Ông Địa, leo núi Tà Cú, tắm biển Kê Gà…

Cho nên đã liên hệ với tác giả Phạm Sanh, xin phép post lại nơi đây để chia sẻ cùng bè bạn.

Cảm ơn Phạm Sanh. Cảm ơn Nước Mắm Phan Thiết.

Đỗ Hồng Ngọc

 

NƯỚC MẮM PHAN THIẾT

Phạm Sanh

(http://pbchoingo.blogspot.com/2015/10/nuoc-mam-phan-thiet.html)

 

PT 1

 

Năm đầu tiên vào học Sài Gòn, bạn bè cư xá Phú Thọ cứ kể câu chuyện trêu chọc, đang ngủ trên xe đò đi ngang Phan Thiết là bật tỉnh dậy biết ngay ở đâu. Lúc đó vừa thẹn vừa giận lại vừa thương cho quê hương nước mắm của mình. Nhỏ, ở nhà Ngoại, xung quanh toàn là thùng lều, bà Ngoại nhỏ nước mắm Mậu Hương, bà Ngoại lớn nước mắm Nam Hương, bước ra đường là thấy bà con thân thuộc chữ Hương và chữ Hồng, Hồng Hương, Vạn Hương, Hoàng Hương, Tân Hương, Hồng Sanh, Hồng Xuyên, Hồng Hòa… Mùi cá, mùi nước mắm, cũng như mùi biển mặn đã ăn sâu vào hơi thở lối sống tính cách những người con xứ biển.

Nghe kể, nghề nước mắm Phan Thiết có bề dày trên 300 năm do những  ngư phủ người Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên theo chân đội quân Nguyễn Hữu Cảnh tiến vào miền đất phương Nam, vượt biển đưa cả gia đình vào vùng đất mới Phan Thiết, đất lành chim đậu. Khi thành lập Tổng Đức Thắng (1809), tên khai sinh của Phan Thiết, nước mắm đã ra đến đàng Ngoài. Đến đầu thế kỹ 20, nước mắm Liên Thành hiệu con voi đã có mặt khắp mọi miền đất nước, khắp Đông Dương và qua tận trời Tây dự triển lảm Marseille (1922).Những năm 1930, Bình Thuận đã sản xuất hàng năm đến 40 triệu lít nước mắm, chiếm 70% lượng nước mắm cả nước.

Nhờ hai dòng hải lưu ngược chiều ven bờ kéo theo hiện tượng nước trồi, tạo ra nhiều thức ăn phù du “dụ khị” các loài cá nổi về đầy vịnh Phan Thiết từ Mủi Né cho đến Mủi Dinh. Tiếng lành đồn xa, Phan Thiết đã thu hút đông đảo ngư dân miệt ngoài về dựng lều chòi tạm sinh sống dọc theo cửa sông, bãi biển. Dần dần, có của ăn của để, xây dựng nhà cửa kiên cố, nhớ ơn Tiền hiền Trời Phật Thánh Thần cùng nhau xây Dinh xây Vạn thờ “Ông” (cá voi). Vạn Thuỷ Tú Đức Thắng  lập vào năm 1762 là ngôi Vạn sớm nhất ở Phan Thiết. Hình thành nghề nước mắm, có thể lúc đầu cá nhiều không tiêu thụ hết, ướp muối hoặc làm mắm để ăn dần bán dần, nhưng đến mùa cá nục cá cơm, cá nỗi đầy biển, cá nặng muốn chìm ghe, cá nhiều quá phải nghĩ ra cách kéo rút lấy nước mắm từ thủ công lu mái ảng sành ngoài trời đến công nghiệp thùng lều trong các dãy nhà lều to như nhà máy.

Thùng lều hình trụ thường bằng gỗ mềm như bằng lăng, mít, bờ lời để dễ niền lại bằng dây song chạy quanh mặt ngoài thân thùng, các mảnh ván gỗ được siết chặt vào nhau, không còn khe hở. Có thùng trổ, thùng phơi, thùng chứa. Các loại thùng này có kích thước khác nhau, thùng nhỏ hơn gọi là thùng ba, thùng lớn hơn gọi là thùng tư. Thùng muối cá, xuống ngang mặt đáy thùng có một lỗ lù để rút nước mắm. Trước khi muối cá phải đắp lù, dọn thùng thật sạch, để khô ráo, lấy vỏ ốc để phía trong lỗ lù, đắp bao tải trấu rồi đắp một lớp muối hạt lên trên.

 

PT 2

 

Phan Thiết nổi tiếng thương hiệu nước mắm cá cơm. Cá cơm đánh bắt về được chọn lựa kỹ, bỏ những con to hay nhỏ quá hoặc không tươi, nên chọn cá  cơm than hoặc sọc tiêu để nhiều nước mà ngon. Cá cơm được đem vào muối không cần rửa lại vì trước khi đem lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển. Khi muối tỷ lệ thường dùng là 3 cá 1 muối, hai thành phần đó trộn chung cho thật đều mà không để nát, gọi là chượp, cũng có thể lớp cá lớp muối. Sau khi cho chượp vào đầy thùng, rải một lớp muối lên trên rồi cài lá dừa, vỉ tre trên mặt và xếp đá hộc đè chặt xuống.

Sau 2-4 ngày người ta mở nút lù ở đáy thùng tháo dịch cá chảy ra. Dịch này gọi là nước bổi, do các enzymes trong ruột cá giúp thuỷ phân phần nội tạng cá. Nước bổi có thành phần đạm cao, nhưng có mùi tanh, chưa ăn được, thường được vớt bỏ váng bẩn để làm nước châm vào các thùng chượp đã chín nhằm tăng độ đạm. Sau khi rút nước bổi, chượp trong thùng xẹp xuống và bắt đầu quá trình thuỷ phân chính. Tác nhân chính của quá trình này là một loại vi khuẩn kỵ khí, cần thời gian từ 8-18 tháng mới thuỷ phân xong thân cá. Khi quá trình này hoàn thành, tức chượp chín, nước mắm hình thành trong suốt với màu từ vàng rơm tới nâu đỏ cánh gián (tuỳ theo từng loại cá cơm) không còn mùi tanh mà có mùi thơm nồng, nhà lều dùng từ đã ”cẩn”. Nước nhất được rút từ thùng lều được gọi là nước mắm nhỉ, hoàn toàn từ thân cá thuỷ phân mà thành. Sau khi đã rút nước nhỉ, người ta đổ nước cốt châm vào để rút tiếp nước hai gọi là nước mắm ngang hoặc nước long, có long 1, long 2… Trong thời gian chế biến, hàng ngày 2 lần phải múc nước mắm từ thùng trổ đổ lên lại thùng muối, có thể thêm muối thêm cá thêm nước bổi nước cốt nhiều lần.

Nước mắm Phan Thiết còn một loại nổi tiếng danh bất hư truyền, không phải là loại nước mắm nhỉ ăn với cơm nóng, mà là nước mắm lú, lấy nước mắm nhỉ để lâu thật là lâu nhiều khi quên mất (mới gọi là lú), màu cánh gián, bớt mặn bớt mùi, hơi hăng nồng, dùng trị bệnh là chính. Đau bụng, viêm họng, bất tĩnh trúng gió, đặc biệt là ca sỹ cần hơi dài gọng thanh, thợ lặn uống một ngụm ấm người trước khi xuống nước rất tốt.

Những hãng chế biến nước mắm với số lượng lớn gọi là hàm hộ. Có hàm hộ nhỏ,  hàm hộ lớn. Việc phân định cũng chỉ tương đối, căn cứ theo số que nước mắm và uy tín của hàm hộ. Mỗi que từ 12 – 20 thùng nước mắm lớn, mỗi thùng lớn có sức chứa từ 5 – 7 tấn cá hoặc nhiều hơn nữa. Mỗi hàm hộ lại có logo khác nhau, Kiết Thành biểu tượng 3 cua xanh, Mậu Hương 2 chữ thập xanh, Vạn Hương cá thu đen, Hiệp Hòa 2 ngôi sao đỏ,  Hồng Hương có biểu tượng con tôm được xem là hàm hộ lớn nhất Phan Thiết.

Thật ra, cách chế biến nước mắm của các hàm hộ trước đây đều khác nhau, gần như “bí mật” giấu nghề từ cách chọn cá, dọn thùng, tỷ lệ cá – muối chượp, quy trình pha trộn các loại nước mắm, cả việc bỏ thêm đường cho dịu và bỏ màu cho bắt mắt, người Huế thích màu đỏ đậm, cao nguyên thích mặn, Đà Nẳng thích mùi. Các chủ hãng nước mắm lớn trước đây đều quý người “cọp rằn”, chăm sóc gia đình người này cả đời, giống như cách quản trị nhân sự của các Công ty Nhật hiện nay. Hầu như hàm hộ Phan Thiết ai cũng cho các đầu nậu mượn tiền để có lượng cá làm nước mắm ổn định giá rẽ, đều có đội xe đội tàu, đều có đại lý kho hàng ở các nơi tiêu thụ, một dạng kinh doanh theo nguyên lý khai thác chuỗi giá trị đi trước thời đại.

Nước mắm Phan Thiết ban đầu chứa trong các tĩn nung hình bánh ú bằng đất sét trộn bùn non, mới hình thành xóm Lò Tỉn gần cầu Bốn mươi,  mỗi tĩn có dung tích 3,5 lít, có gắn nắp trét hồ kín và dây quai xách. Theo các cụ lớn tuổi thì nước mắm vô tĩn hợp vệ sinh, hương vị màu sắc được giữ nguyên vẹn ở bất kỳ thời tiết nào, để càng lâu lại càng ngon. Nước mắm tĩn được chất lên những chiếc ghe bầu đi khắp nơi, nghe nói cả các nước Đông Nam Á.

 

Ghe bầu Phan Thiết, đúng ra là ghe bầu Mủi Né khá nỗi tiếng, tiếp thu kỹ thuật đóng ghe của Malaya và Champa, làm kiểu cho ghe bầu miền Trung một thời. Dáng bầu bĩnh, trọng tải hàng 100 tấn chở được khoảng 20.000 tĩn nước mắm tương đương 10 toa đôi xe lửa, 3 buồm, nhiều khi xuôi gió chạy được tới 20km/giờ. Ghe có lái phụ, khoảng 12-14 người bạn chia làm 6 phiên, 1 tổng khậu lo bếp núc ăn uống. Mỗi chuyến đi vài tuần vào Sài Gòn hoặc vài ba tháng ra Trung, chở muối nước mắm đi bán và chở về gạo đường trái cây vải vóc. Công ty Liên Thành có 3 ghe bầu mang tên khá ngộ: Vị thuyền, Phan Thiết, Hải Thuyền.

Ghe bầu trở lái về đông 

Con gái theo chồng bỏ mẹ ai nuôi 

PT 3

 

Khi đường bộ và công nghệ bao bì phát triển, nước mắm Phan Thiết được chuyên chở bằng thùng thiếc và thùng nhựa 20 lít, các chị em súc tĩn đã chuyển sang súc thùng, không còn ghe bầu vì đã có các tàu chở hàng trọng tải trên 200 tấn (những năm chiến tranh, đường bộ bị đắp mô, đường sắt ngừng hoạt động).

Sau 1975, nghề nước mắm Phan Thiết yếu hẳn, các hàm hộ nếu không bị cải tạo tư sản thì cũng phải vào quốc doanh, có người sợ hiến cả sở lều đi làm công nhân múc nước mắm để con cháu được ghi lý lịch tốt tốt một chút. Người ta lại nghiên cứu khoa học, xây bể chượp bằng bê tông gạch đá thay vì thùng gỗ truyền thống, làm nước mắm ngắn ngày thay cho quy trình đảo trộn lụi hụi trước đây. Kết quả thấy rõ, danh tiếng chất lượng thơm ngon nước mắm Phan Thiết chỉ còn trong kỹ niệm hoài cổ, danh hiệu nước mắm Phú Quốc lên ngôi. Dù hiện nay, không còn nước mắm quốc doanh, có tới trên 200 hãng nước mắm tư nhân Phan Thiết, đủ tên đủ tuổi, nhưng ngay cả tôi cũng dặn vợ không nên mua về dùng, vì nếu không giả thì cũng dởm, mang tiếng Phan Thiết mình.

Thật ra tôi rất đắn đo khi viết bài này cho mấy Bạn, sợ viết không hết ý và gợi lại nỗi nhớ những người thân trong gia tộc gia đình đã mất, ngại Má tôi buồn vì cả mười đứa con không ai theo nghề nước mắm của Ông Bà Cha Mẹ, cũng may mà Má đã lãng. Tôi vẫn nhớ hình ảnh những đêm khuya mùa cá nục, từng đoàn người nối đuôi gánh từ Cồn Chà về lều, Mẹ tôi xắn quần muối chượp cả đêm. Tôi không quên đức độ những bà Cửu Sanh, Cửu Mười, Hồng Hương, Hồng Sanh…, những người đàn bà cả đời tận tụy cho danh hiệu  nước mắm Phan Thiết, nhưng cái kết lại không được có hậu cho lắm.

 

(Phạm Sanh, 10.2015)

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

13/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

BÁC SĨ, NHÀ VĂN ĐỖ HỒNG NGỌC – MỘT MẶC KHÁCH HÀO HOA

Lê Minh Quốc

(http://www.leminhquoc.vn/bao-chi/le-minh-quoc-viet/3843-bac-si-nha-van-do-hong-ngoc-mot-mac-khach-hao-hoa.html)

LMQ Phải nói thật, tôi thích bác sĩ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, còn một lẽ do anh là cháu của một trí thức lạ lùng ở miền Nam: Nguiễn Ngu Í (1921- 1979), tên thật Nguyễn Hữu Ngư, sinh tại Bình Thuận. Đi chênh vênh giữa cơn điên và sự tỉnh táo lạ thường, ông Í đã chủ trương cải tiến chữ Quốc ngữ (chẳng hạn thay y bằng i, k bằng c, gi bằng j, kh bằng k, p bằng b, ph bằng f…) và để lại những tác phẩm như Qê hương, Lịch sử Việt Nam, Giấc mộng lớn chưa thành, Suối bùn reo, Sống và viết với…

Vì lẽ đó, khi gặp Đỗ Hồng Ngọc, tôi đã đặt câu hỏi: “Thưa anh, được biết, nhà văn nổi tiếng Nguiễn Ngu Í là cậu của anh. Thuở mới vào nghề viết, anh có học hỏi được gì từ người cậu rất cá tính, rất lạ lùng, rất “quái kiệt giang hồ” của mình?”. Còn nhớ lúc ấy, anh mỉm cười: “Nhiều chứ! Tôi mồ côi cha sớm, lúc 12 tuổi sống trong chùa với bà cô ở Phan Thiết thì ông đến thăm, cho một đống sách báo rồi bắt tôi đi học! Ngay lúc đó, tôi đã thấy mình mê sách báo, muốn làm “nhà văn, nhà báo”… như ông rồi! Nhưng tôi lại giấu biệt ông khi những bài thơ đầu tiên của tôi được đăng báo, đến lúc ông biết, ông khen có “giọng điệu” và “ý tưởng” riêng. Sau này, ông coi tôi như một người bạn… văn, có bài nào mới ông bắt tôi nghe và cho ý kiến”.

Và thêm một điều nữa, Đỗ Hồng Ngọc nổi tiếng từ rất sớm. Trước năm 1975, anh sáng tác thơ với bút danh Đỗ Nghê, đã có tác phẩm đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương, Ý Thức… Nhiều bài cũng được bạn bè “đánh giá cao” như Em còn sống mãi, Tâm sự Lạc Long Quân, Lời ru, Cổ tích về ngôn ngữ v.v… Sau này anh đã tập hợp in trong tập thơ đầu tay Tình người, xuất bản năm 1967.

Nhớ đến anh, lập tức những câu thơ trong bài Thư cho bé sơ sinh thấm đẫm tính nhân văn, thấu hiểu lẽ vô thường trong cõi nhân sinh lại vọng về trí nhớ:

Khi anh cắt rún cho em

Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé

Vì từ nay em đã phải cô đơn

Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

Có thể tách lấy khổ thơ này. Nó đã trở thành bài tứ tuyệt có một tứ thơ chắc và gọn. Tứ tuyệt này, tựa như thông điệp mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Khi làm MC dẫn chương trình ra sách mới của anh tại Đường sách TP.HCM, tôi thật sự xúc động khi có người là học trò của anh ngày trước đã ngâm lại bài thơ này. Không gian hôm ấy, dưới vòm me xanh đang náo động, ồn ào bỗng dưng im bặt. Mọi người lặng im sống cùng con chữ của vị thầy thuốc chào đón một sinh linh bé bỏng vừa cất tiếng khóc dưới ánh sáng mặt trời. Anh kể: “Bài thơ này, tôi viết vào năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, khi đỡ được một bé đầu tiên ra đời “mẹ tròn con vuông”. Tôi viết bài thơ ngay tức khắc trong chừng mươi phút, rồi còn cao hứng chép vào sổ phúc trình sau phần bệnh án, bị thầy HNM rầy “đỡ đẻ không lo đỡ đẻ lo làm thơ”! Thế nhưng hôm sau đã thấy bài thơ được ai đó viết lên bảng đen và được nhiều bạn bè đồng nghiệp lưu truyền…”.

Trước đây, nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê nhận xét về anh: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho người ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Câu này, càng về sau lại càng thấy đúng.

Con đường vào đời của Đỗ Hồng Ngọc cũng thú vị lắm, anh cho biết: “Tôi mê dạy học, mê văn chương và cũng mê làm nghề y. Hồi xưa, đậu Tú Tài 2 xong (1962), tôi băn khoăn không biết nên học Văn khoa, Sư phạm hay Y khoa… Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên nên học y, vì ngành y có thể giúp đời cụ thể và nếu có tâm hồn, có năng khiếu thì làm nghề y cũng có thể viết văn và dạy học được. Tôi nghe lời”.

Từ quyển sách Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972), và nhất là Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974) đã tái bản rất nhiều lần, đến nay anh đã tung hoành khá nhiều thể loại. Đáng chú ý nhất là các tập sách mà anh phân loại một cách dí dỏm là viết cho “Tuổi hườm hườm” như Gió heo may đã về;   Già ơi… chào bạn, Chẳng cũng khoái ru?  Những người trẻ lạ lùng, Thư gởi người bận rộn… Những năm tháng gần đây, anh đã chú tâm nghiên cứu về Phật học, về thiền. Có thể kể đến những tập sách như  Nghĩ từ trái tim, Gươm báu trao tay, Thiền và Sức khỏe, Ngàn cánh sen xanh biếc, Cõi Phật đâu xa…

Hôm kia, anh đã tặng tôi những đĩa DVD thu lại những buổi nói chuyện của anh với Phật tử, tôi ngạc nhiên quá. Có những vấn đề lâu nay đã đọc nhưng chỉ như ngọn gió thoáng qua, nay, nghe anh giải thích lại cảm thấy gần gũi, dễ hiểu. Ấy là do gì? Do am hiểu về y học, do suy ngẫm nhiều và có tâm hồn thơ nên những triết lý uyên thâm ấy đã được anh giải thích uyển chuyển, tươi mới hơn chăng? Còn nhớ lúc phỏng vấn anh, tôi đã cố tình đặt ra những câu hỏi khó, nào ngờ, anh trả lời ngọt xớt. Tôi thường đùa rằng, câu hỏi hay mà người trả lời cũng hay.

Chẳng hạn, “Nếu cùng một lúc có ba đối tượng: hài nhi, phụ nữ và ông lão. Cả ba đều cần kíp đến chuyên môn của một bác sĩ. Chỉ được chọn một trong thời điểm “thập tử nhất sinh” ấy, anh chọn đối tượng nào?”. Anh mỉm cười: “Tôi la lên cho có nhiều người đến giúp. Trong cấp cứu y khoa tôi học được như vậy. Phải kêu cứu. Sau đó, đánh giá mức độ nặng nhẹ và khả năng cứu chữa để chọn ưu tiên can thiệp. Không có sự “phân biệt đối xử” trong y khoa. Một cô hoa hậu viêm ruột thừa thì cũng giống như bất cứ một cô gái nào khác viêm ruột thừa thôi!”.

Một câu hỏi khác: “Nếu cho anh chọn một điều ước có tầm ảnh hưởng cho phụ nữ – “một nửa thế giới của đàn ông”, anh sẽ ước gì?”. Anh đáp: “Ước phụ nữ là phụ nữ chớ đừng biến họ thành đàn ông! Hiện nay, có lẽ do nhiều phụ nữ biến thành đàn ông quá nên đàn ông bèn có khuynh hướng… biến thành phụ nữ, hoặc đàn ông đi… tìm đàn ông để kết bạn! Rắc rối sinh ra từ đó!”. Ngẫm ra cũng có lý đấy chứ? Thêm một câu hỏi nữa: “Người phụ nữ đẹp, theo anh, cần phải có những yếu tố nào – nhan sắc hay sức khỏe?”. Trong cuộc đời, có đôi lúc ta đứng trước sự lựa chọn, chỉ chọn một, thế mới khó.

Hãy nghe anh trả lời: “Không phải nhan sắc, cũng chẳng phải sức khỏe, mà chính là cái tâm hồn của người đó. Bùi Giáng có lần viết: “Em ơi em đẹp vô cùng/ Vì em có cái lạ lùng bên trong”; và tôi thêm “Em ơi em đẹp vô song/ Vì em có cái bên trong lạ lùng”! Cái đẹp bên trong đó mới tạo ra thứ nhan sắc không tàn phai, và chính nó cũng tạo ra sức khỏe, là thứ sảng khoái vế thể chất, tâm thần và xã hội như ta biết. Muốn có cái đẹp bên trong đó, phải rèn luyện, phải học tập… dài lâu, nền nếp. Trong khi sửa mắt sửa mũi, độn ngực độn mông có thể làm ngay tức khắc. Cái đáng lo bây giờ là người đẹp nào cũng giống… người đẹp nào, vì cùng một khuôn mẫu cả!”.

Cách trả lời, cách viết theo lối này âu cũng là “duyên ngầm” của nhà thơ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Có lần, anh cho biết: “Để có thể luôn giữ được sự bình quân từ tâm hồn đến sức khỏe, phải làm gì? Rất đơn giản. Gần gũi với thiên nhiên chừng nào tốt chừng đó. Tôi nhận ra “hạnh phúc rất đơn sơ” bạn ạ. Sống trong hiện tại, sống trong “chánh niệm” thì sẽ phát hiện nhiều điều hay. Chẳng hạn chỉ cần biết thở “chánh niệm”, bạn sẽ ngạc nhiên:

”Lắng nghe hơi thở của mình

Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa…

Một hôm hơi thở tình cờ

Dính vào hạt bụi thành ra của mình

Của mình chẳng phải của mình

Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”.

Đọc những gì anh viết gần đây, theo tôi, đó là sự thông tuệ đã cô đọng, đã chắt lọc của một tâm hồn an lạc. Một trong bài thơ của anh, tôi thích Ở Tuyền Lâm. Chỉ 16 chữ nhưng đã là một “bonsai thơ”:

Nước xanh như ngọc

Sâu đến tận trời

Vốc lên một vốc

Ơi mùa xuân ơi

Lúc đọc, tôi lại nhớ đến 20 chữ trong bài thơ Dục Bàn Thạch kính (Tắm ở khe Bàn Thạch) của Cao Bá Quát: “Sáng lên Hoàng Sơn trông/ Chiều xuống Bàn Thạch tắm/ Nhặt hòn đá mỗi nơi/ Núi sông không đầy nắm” (Hóa Dân dịch). Từ sự đồng điệu ấy, ta lại hiểu thêm và “ngạc nhiên một cách thú vị” về cõi hồn, cõi thơ của Đỗ Hồng Ngọc.

Khi bàn về tác phẩm của anh, tất nhiên không thể bỏ qua những trang viết về chuyên môn của bác sĩ. Ở đây, anh thể hiện sự dí dỏm, đôi lúc ta tủm tỉm cười và dõi theo từng dòng: “Osho trong cuốn Hành trình nội tại từng nói: Con người khổ là do sử dụng cái đầu nhiều quá, suy nghĩ nhiều quá, nên chuyển hướng xuống sống bằng trái tim, sống bằng tình cảm, nhưng như vậy cũng vẫn còn khổ, cần chuyển xuống sống bằng cái… rún thì sẽ hạnh phúc hơn! Ý ông muốn nói sống bằng rún nghĩa là sống bằng hơi thở (thở bụng, đưa hơi xuống huyệt đan điền…) thì ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề căng thẳng trong đời sống. Nhưng theo tôi, chúng ta không chỉ dừng lại ở rún mà nên xuống thấp hơn chút nữa, đến tận  ruột già, vì nói cho cùng… hạnh phúc đến từ ruột già đó vậy!”.

Đọc anh còn là một cách thư giản, như được trò chuyện với một người bạn gần gũi và thân mật.

Ai đó đã nói, “văn tức là người”, câu này hoàn toàn đúng với tính cách Đỗ Hồng Ngọc. Với tôi, anh là một nghệ sĩ tài hoa đúng nghĩa cao đẹp của từ này, chứ tôi hoàn toàn không hề thấy anh có dáng dấp gì gọi là “nghệ sĩ”. Đã “nghệ sĩ” ắt bê bối hình thức, nói năng bạt mạng, và đôi khi tính cách vượt qua cái ngưỡng bình thường. Không, anh không hề có những biểu hiện ấy, ở anh là một trí thức lịch lãm, chừng mực và toát ra một điều gì đó về đạo đức gần với mẫu người như Trần Văn Khê, Nguyễn Hiến Lê… thì phải.

Trước đây, hơn mươi năm trước, tôi nhận xét: “Nhắc đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lập tức chúng ta nghĩ ngay đến một nhân vật khá đặc biệt: lãng tử và phiêu bồng trong thơ, dí dỏm và mạch lạc khi viết về y học, trầm mặc và sâu lắng trong tạp bút và thỉnh thoảng ông cũng ký họa chân dung bạn bè… Gặp ông, dù chỉ trong phút chốc tình cờ hoặc có hẹn trước, thế nào cũng thấy ông cười tươi và từ ánh mắt ấy, dường như luôn có sự quan tâm đến người đối diện. Ông không ồn ào và gần như ít la cà chốn đông người. Và cứ thế, lặng lẽ sống an nhiên và lao động hết mình, ông đã có nhiều tác phẩm quen thuộc với bạn đọc”.

Nay, bác sĩ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc vẫn là mẫu người ấy. Mới đây thôi, nhân xuân xanh nắng ấm của ngày Nguyên đán, tình cờ tôi đọc những câu ngũ ngôn của anh. Đọc chậm một chút để cùng an lạc trong hồng xuân mới: “Hội An còn ngái ngủ/ Mái chùa ôm vầng trăng/ Giật mình nghe tiếng chổi/ Gà gáy vàng trong sương…”.

Há chẳng phải thêm điều khiến ta “ngạc nhiên một cách thú vị” về anh đấy ư?

(Lê Minh Quốc, bút danh Lê Văn Nghệ)
(nguồn: Báo ANTG giữa tháng số 109 -2.2017)

 

 

https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/10935/

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Năm Mới: Trò chuyện về “Nếp sống An lạc”

09/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Năm Mới: Trò chuyện về “Nếp sống An lạc”

Thái Kim Lan từ Huế vào để kịp bay về Đức tối ngày 7.02.2017 (‘Mùng’ 11 Tết Đinh Dậu), còn rất Tết nên cô muốn có một buổi họp bạn, giao lưu đôi điều đầu Năm Mới. Dịp này, mình cũng vừa có cuốn sách mới : “Nếp sống An lạc” cho nên tốt nhất “phối hợp nghệ thuật” cũng hay. Thanh Thúy , Hội quán Các bà mẹ tổ chức cho buổi họp mặt thân mật này tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố, ở đó có một phòng nhỏ, ấm cúng nghe nói của Họa sĩ Sĩ Hoàng, sẵn sàng cho mượn tốt quá còn gì! Bạn nhớ Bảo tàng Mỹ thuật nằm ở đường Phó Đức Chính, xưa là ngôi biệt thự của Chú Hỏa rất đẹp, gần bên Chợ Bến Thành không?

Sáng sớm, Thanh Thúy kêu làm ơn gọi gấp cho chị TKL đi, có vẻ chị mất ngủ vì lo lắng. Thì ra, TKL vốn là một Giáo sư Tiến sĩ Triết học, đã giảng dạy nhiều năm trên bục giảng các trường Đại học ở Đức, xứ sở của triết học nên làm gì cũng phải… nghiêm túc, mà hai ‘diễn giả’ chưa hội ý bàn bạc với nhau gì cả nên lo là phải. Mình phone ngay TKL, bảo yên chí. Vui thôi mà. “Tào lao” thôi mà. Đừng lo. Tung hứng cho vui mà. Tôi sẽ làm MC cho. Trong bụng, mình nghĩ phen này phải đưa Cô Giáo sư Tiến sĩ triết học này bỏ bục giảng, xuống núi một phen, “thõng tay vào chợ” một phen vậy. Chợ Bến Thành kế bên đó thôi!

Ôi không khì đúng như dự kiến. bạn bè gặp lại, tay bắt mặt mừng. Người quen kẻ lạ đều là anh em. Nhóm bạn từ Đức về cũng đông, có vài ba vị là bác sĩ, trò chuyện rôm rả. Vài bác sĩ trẻ, học trò mình cũng có mặt. Nhiều độc giả của ĐHN, TKL, có người chưa từng gặp mà cũng đã rất thân quen… Mình muốn chia sẻ với bạn vài hình ảnh ở đây thôi nhé. Hình như nay mai, bạn Vincent Ngô sẽ có một youtube gì đó nữa.

 

Không khí "an lạc" trước giờ Giao lưu

Không khí “an lạc” trước giờ Giao lưu…

 

Buổi trò chuyện thân mật bắt đầu...

Buổi trò chuyện thân mật bắt đầu… Mình làm MC giới thiệu Nữ sĩ Giáo sư…TKL và hôm nay Cô rời bục giảng “thõng tay vào chợ… Bến Thành” Saigon!

 

Một không khí của ngày đầu năm mới

Một không khí của ngày đầu năm mới

NSAL 4

 

 

 

 

Bắt đầu sôi nổi với những “khái niệm” và thực tế trong đời sống hàng ngày, giữa thân với tâm, giữa an với lạc…

Cuộc tranh luận bắt đầu sôi nổi

Cuộc tranh luận bắt đầu sôi nổi

 

Cuộc tranh luận bắt đầu sôi nổi, khi một người có tuổi nói về sự an lạc thực tế của mình thì một người trẻ hỏi phải chăng… chỉ những người có tuổi, về hưu rồi mới nói chuyên an lạc được?… Một vị hỏi phải chăng người nghệ sĩ phải luôn nuôi dưỡng sự “không an lạc” để có thể sáng tác? Kiểu như “thú đau thương” vậy đó! “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Vậy là có chuyện cho “triết gia” làm việc rồi! Còn mình thì đi vào cụ thể cuộc sống, thậm chí trong nghề nghiệp y khoa để nói về mối quan hệ giữa thân với tâm, an với lạc… và dĩ nhiên không quên nhắc Nguyễn Công Trứ: Tri túc tiện túc… Tri nhàn tiện nhàn…

NSAL 6

 

 

 

Một ca sĩ từ Đồng Khánh cất tiếng hát…When we were young; Ngọc Vân trình bày một bài hát của Vĩnh Điện và rồi Thu Vàng vừa bay kịp từ Đà Nẵng vào đã hát : Thoi Tơ : Em lo gì trời gió/ em lo gì trời mưa/… em cứ yêu đời đi/ như lúc ta còn thơ/… Rồi cô hát tiếp Xuân Ca của Phạm Duy: Xuân vừa về trên bãi cỏ non… tiếp đó lại hát Mũi Né: Năm nay người có về ăn Tết/ Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ? thơ ĐHN, nhạc Hoàng Quốc Bảo…

 

NSAL 7

Đã quá trưa. Tiếp đó là buổi ký tậng sách của TKL và ĐHN.

Ông bạn Ngô Tiến Nhân tóc bạc đứng chờ, hối đi ăn trưa, đói quá rồi… Bạn nhớ anh Nhân không? Người có ngôi nhà rất đẹp ở Huế đó. Ngôi nhà mình đã giới thiệu chuyến về Huế với Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi nhớ không? Anh rất vui tính. Anh bảo thấy có nhiều người cứ xin chụp hình kỷ niệm với mình, anh nói anh sẽ phải đứng ra thu mỗi người “5 đô”. Tại sao? Mình hỏi. “Tôi qua Ai Cập, cứ mỗi lần chụp hình với Lạc Đà người ta đều thu 5 đô cả đó thôi”. Anh trả lời. Thì ta thế!                                                                                                                                                                    NSAL 10

NSAL 11

 

Kiến trúc sư Bạch Anh Tuấn và Hoa Dung, vợ anh, mang tặng mình một chai Chivas để được “an lạc”… Ối Trời, mình đâu biết uống rượu. May quá, Ngô Tiến Nhân bảo chiều nay ở nhà Nguyễn Duy có buổi họp bạn, cần… rượu. Mình bèn chuyển giao ngay cho nhà thơ Nguyễn Duy. Chiều đó, Nguyễn Duy đã gọi… cảm ơn. Rượu ngon!

Vắn tắt. Hẹn thư sau.

Đỗ Hồng Ngọc.

Đoạn clip ngắn của Vincent Ngô:

https://youtu.be/1u6WzTanTL8

NSAL 9

NSAL 8

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

Họp mặt đầu năm

02/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Thư của Cô Nguyễn Thị Thanh Thúy, Hội trưởng Hội quán Các Bà Mẹ mời bạn bè đến gặp Thái Kim Lan và Đỗ Hồng Ngọc trò chuyện lai rai Ngày đầu năm.

Xin chuyển đến các bạn để Tùy nghi và tùy hỷ.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

 

Ngày Lễ Tình Thân.

Có dịp hỏi chuyện Thầy Trần Văn Khê về ngày Valentine 14.02 (Thầy đã đi đến 67 nước trên thế giới rồi), Thầy nói, ở bên Tây ngày Valentine không hẳn là ngày Lễ Tình Nhân để bày tỏ tình yêu mà còn là ngày của Tình Thân. Vậy là Hội Quán Các Bà Mẹ tổ chức chương trình đầu tiên năm nay với chủ đề này. Mới đó mà đã 5 năm rồi, hồi đó cứ tổ chức ở “Ngôi Nhà Âm Nhạc” trên đường Huỳnh Đình Hai của thầy để Thầy đỡ phải di chuyển đi đâu xa. Năm nay, vắng Thầy, vắng BS họa sĩ Trương Thìn, HS BS Dương Cẩm Chương (ba nhân vật trong cuốn tranh truyện “Tuổi Thơ Tấm Gương Việt”).
Thật may mắn, WOW ART lại cùng phối hợp với chúng mình để tổ chức buổi gặp gỡ cùng TS Thái Kim Lan & BS Đỗ Hồng Ngọc.
Mời tất cả các anh chị em quan tâm đến “Nếp Sống An Lạc” lúc 9g30 sáng thứ ba ngày 07.02.2017 (“Mùng” 11 Tết Đinh Dậu) đến Bảo tàng Mỹ Thuật số 97 Phó Đức Chính, Q.1, Tp.HCM để cùng Hội Ngộ nhé.

Hôm đó sẽ có trà, có bánh Phục linh…

Trân trọng,

 

Nếp Sống An Lạc 1

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Một vài hình ảnh… Tết

28/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Một vài hình ảnh… Tết

  1. Cuối năm, ngày 21 tháng Chạp (18.01.2017), Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi và bạn hữu đi thăm chùa Hội Sơn và chùa Bửu Long. Chùa Hội Sơn vốn là một ngôi chùa cổ trên 300 năm, nằm ở hữu ngạn sông Đồng Nai đã bị cháy rụi mấy năm trước, nay cũng vừa được xây cất lại. Đã có nhiều thay đổi nhưng khu Chánh điện và nhà Tổ vẫn giữ được hình dáng cũ, dù còn “tươi” cột gỗ mái ngói…

Mọi người chụp một tấm hình kỷ niệm ở khu xưa còn vương lại chút rêu phong:

IMG_3083

Sau đó đến thăm chùa Bửu Long của Sư Viên Minh. Mặc dù Sư đang bận việc ở Phan Thiết, nhưng cũng đã thu xếp về kịp để gặp anh em. Buổi gặp gỡ tuy ngắn gọn, ít thời gian, nhưng cũng đã trao đổi được nhiều vấn đề “cốt lõi” nên ai nấy đều cảm thấy rất hài lòng và thành tâm quý mến Sư…

 

IMG_3101

2. Mọi năm, Mùng 1, Mùng 2 Tết, các đồng nghiệp và học trò trong Bộ Môn thường đến thăm mình tại nhà, sau buổi bánh mức còn có màn coi quẻ Dịch cho mỗi người (khá chính xác). Năm nay, bỏ lệ này, sáng 30 Tết, hẹn nhau ra Đường Sách, café, trò chuyện… cho có không khí Xuân hơn.

 

Từ trái: Lê Thành Tân, ĐHNgọc, Lê Kiều Chinh, Mai Ngọc Thành Ngân

Từ trái: Lê Thành Tân, ĐHNgọc, Lê Kiều Chinh, Mai Ngọc Thanh Ngân.

 

Đã có thêm Trương Trọng Hoàng, Minh Trang, Yến Phi...

Đã có thêm Trương Trọng Hoàng, Minh Trang, Yến Phi…

 

Một độc giả bắt gặp, bèn xin chữ ký...

Một độc giả bắt gặp, bèn xin chữ ký…

 

"Nếp Sống An Lạc" đã có ở Đường Sách và Chợ Sách

“Nếp Sống An Lạc” đã có ở Đường Sách và Chợ Sách

3. Sáng Mùng 1 Tết Đinh Dậu 2017:

 

Khu Đường hoa Phú Mỹ Hưng

Khu Đường hoa Phú Mỹ Hưng

 

IMG_3270

 

Ở Chợ Sách Mạc Thị Bưởi, Đường hoa Nguyễn Huệ. Gian hàng bày sách Đỗ Hồng Ngọc.

Ở Chợ Sách Mạc Thị Bưởi, Đường hoa Nguyễn Huệ.
Gian hàng bày sách Đỗ Hồng Ngọc.

Chỗ sảng khoái nhất ở Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay: Nước phun.

Chỗ sảng khoái nhất ở Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay: Nước phun.

 

 

 

 

 

 

 

Cái mới của Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay ngoài con gà biết “gáy” đó là đàn ông mặc áo dài hơi nhiều, có phần diêm dúa nữa còn các cô nếu có mặc áo dài thì… cũn cỡn với váy, hoặc cứng ngắc với quần jean bó chật! Thôi thì hết cái áo dài lộng gió: “Nắng Sài-gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” hay “Ai bảo em mang trên áo bay/ Hai phần gió nổi một phần mây/ Hay là em gói mây trong áo/ Rồi thổi cho làn áo trắng bay…”. Không còn gió chẳng còn mây gì nữa đâu!

Người ta bây giờ có vẻ như ngày càng cô đơn hơn trong đám đông nhộn nhịp vì thấy nhiều người ai cũng cầm cái que tự chụp hình cho chính mình… Có lúc thấy ba bốn cô xếp hàng ngang cùng đi, mỗi cô cầm một cái que huơ lên cao, thoáng nhìn cứ tưởng cầm mấy cây “thượng nhang” đi chùa ngày xưa chứ!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 32
  • Trang 33
  • Trang 34
  • Trang 35
  • Trang 36
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email