Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Hiểu và trò chuyện với con trẻ về giới tính”

19/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“Hiểu và trò chuyện với con trẻ về giới tính”

Đó là buổi Trò chuyện thân mật giữa Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với các phụ huynh  có con em từ 7-12 tuổi tại cơ sở Hoàng Văn Thụ, hệ thống trường Việt Úc do Hội quán Các bà mẹ phối hợp tổ chức.

Dưới đây là phần trích một số thông tin trên báo chí về buổi Trò chuyện thú vị và hữu ích này, cùng một số câu hỏi các vị phụ huynh đã đặt ra trong buổi Giao lưu để tham khảo.

(Xem tiếp phần 2 và 3)

(ĐHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Hỏi-đáp, Thầy thuốc và bệnh nhân, Tuổi mới lớn

“THANH THẢN, TỰ TẠI, LÀ HẠNH PHÚC”

12/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

“THANH THẢN, TỰ TẠI, LÀ HẠNH PHÚC”
Tú Lan trò chuyện với BS Đỗ Hồng Ngọc
(Báo DƯỢC & Mỹ Phẩm, BYT, Số tháng 4/2012
Thật là thú vị khi được trò chuyện với một người tinh tế, dí dỏm và yêu trẻ thơ… càng thú vị hơn khi người ấy lại là một nhà khoa học. Không những giúp cho người bệnh bớt bệnh mà còn giúp họ bớt khổ là cái tâm của vị “từ mẫu”, thầy thuốc ưu tú Đỗ Hồng Ngọc. Có lẽ không nhiều người Việt Nam có nhiều danh xưng như ông: một Đỗ Hồng Ngọc bác sĩ, nhà thơ; một Đỗ Hồng Ngọc viết văn, làm báo và một Đỗ Hồng Ngọc viết về Phật học… Thông thường mỗi nhà văn, nhà thơ có một đối tượng “fan” hâm mộ nhất định nhưng bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lại chinh phục được mọi giới, mọi lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, đến các bà bầu ục ịch và cũng chẳng tha các vị sồn sồn hay qúi vị lão niên bởi ông chính là tác giả của những tác phẩm đem lại cho mọi người tiếng cười, cảm giác dễ chịu cùng những lời khuyên đời thường, dung dị và khoa học.

• Là bác sĩ nhi khoa và nhà tư vấn của tuổi mực tím, tuổi trưởng thành và cả tuổi trăng xế…. rất được yêu mến và tin tưởng, bác sĩ vui lòng chia sẻ bí quyết “lấy lòng” mỗi thế hệ khác nhau của mình được không ạ?

“Lấy lòng” ư? Sao phải “lấy lòng”? “Lấy lòng” để làm gì? Một người viết mà nhằm “lấy lòng” một ai đó thì tôi tin khó mà “lấy” được, trái lại có khi còn bị side- effect, bị sốc phản vệ nữa ấy chứ! Thực ra, nếu có “lấy lòng”, ấy là lấy lòng mình, từ lòng mình mà viết ra. Viết chân thành, từ những trải nghiệm riêng tư thì lạ thay lại gặp gỡ những tấm lòng. Khi tôi viết cho tuổi mới lớn, tôi sống ở tuổi “mới lớn”, khi tôi viết cho tuổi gió heo may, tôi đang sống với gió heo may và khi tôi viết già ơi… chào bạn, ấy là lúc tôi đang gậm nhấm, “thưởng thức” cái già của chính mình. Tôi không có khả năng hư cấu nên không viết được tiểu thuyết!

• Trong xã hội ngày nay, bác sĩ có nhận xét gì về phương châm sống của mỗi thế hệ trẻ, già và chớm già?

Xã hội nào mà chẳng có sự cách biệt của các lứa tuổi? Sự cách biệt này đến từ sinh lý, tâm lý và nhất là từ xã hội. Ngày xưa, sự cách biệt ít… cách biệt như bây giờ vì người ta sống lặng lẽ trong lũy tre làng. Ngày nay thế giới phẳng, toàn cầu hóa, trái đất nhỏ lại trong lòng bàn tay thì lạ thay sự cách biệt giữa các thế hệ càng giãn xa ra. Phương châm sống của các thế hệ ngày càng khác nhau đến nỗi gần như không hiểu nhau. Mỗi thế hệ có một thế giới riêng. Nhưng, ngộ thay, thời gian sẽ khỏa lấp sự cách biệt này. Dù kỹ thuật học có phát triển đến thế nào, đời sống vật chất, tiện nghi, tốc độ có thế nào đi nữa, thì hai ngàn năm trước và mãi mãi về sau này, con người vẫn cứ thất tình lục dục, vẫn cứ khổ đau vì… sinh lão bệnh tử phải không? Một người hai mươi tuổi hôm nay một hôm bỗng thấy mình bốn mươi rồi sáu mươi… mau lắm! Vấn đề là sống sao cho mình và mọi người được an lạc, hạnh phúc, phù hợp với tâm sinh lý của từng lứa tuổi.

• Bác sĩ thuần túy chỉ có thể chữa bệnh cho vài trăm người, nhưng làm bác sĩ viết báo thì có thể phòng bệnh và chữa bệnh cho hàng ngàn, hàng triệu người. Có phải vì “sứ mệnh” này mà bác sĩ đã viết không mệt mỏi?

Không. Chẳng có “sứ mệnh” gì cả! Tôi làm trưởng phòng Cấp cứu tại bệnh viện Nhi đồng Saigon (nay là Bệnh viện Nhi đồng 1 TP.HCM) một thời gian khá lâu. Hàng ngày trông thấy bao nhiêu là trường hợp trẻ con bị bệnh hoạn tử vong oan ức có thể phòng tránh được, vì thế mà tôi thấy phải làm gì đó để giúp các bà mẹ. Vậy là tôi viết. Khi nhớ lại những sai lầm của mình ở tuổi mới lớn, tôi lại viết để chia sẻ cùng các em. Rồi khi tuổi già bóng xế, tôi lại viết cho bạn bè cùng lứa. Thực ra, viết, trước hết là cho mình, tự “chữa bệnh” cho mình cái đã, rồi mới dám chia sẻ với người khác. Giống như người xưa tự nếm thuốc rồi mới dám… kê đơn. Không có cái “sứ mệnh” gì ở đây cả, không có sự rao giảng gì ở đây cả, mà chỉ là sự thầm thì nho nhỏ. Có lần một bé 15 tuổi ở Bến Tre viết cho tôi nói cha mẹ em thường cãi cọ, gây gổ cả ngày, em tặng họ cuốn “Gió heo may đã về” , từ đó gia đình êm ấm lại, có nhiều tiếng cười hơn… Vậy là vui rồi phải không? Nhưng như Hải Thương Lãn Ông đã từng nói: “Cho thuốc chữa bệnh thì cứu được một người còn viết sách truyền phương thì giúp đời vô tận, tác động càng lớn thì trách nhiệm càng to, nhỡ có sai sót chút gì thì tội không phải nhỏ”. Người viết sách, làm báo về y học phải luôn nhớ lời căn dặn này vậy!

• Viết về Thiền học, Phật học có phải là một sứ mệnh khác của bác sĩ không ạ?

Cũng vậy. Khi tôi bị một vố bệnh nặng – tai biến mạch máu não, phải mổ cấp cứu- sau đó tôi đã tìm cách tự chữa trị cho mình. Tôi biết trường hợp này thuốc men chỉ là phụ, cái chính là thay đổi nếp sống, thay đổi nếp nghĩ, nếp nhìn. Tôi tìm đến Thiền học, Phật học là vì thế. Mình là bác sĩ, bất quá chữa được một phần cái “đau” còn cái “khổ” mình không chữa được. Có một bậc thầy, một y vương là Phật, sao không học nhỉ? Lại có một vị Bồ Tát rất dễ thương tên là Dược Vương- vị thuốc vua- sao không học nhỉ? Vậy là tôi học. Rồi chia sẻ, bàn bạc, trao đổi lẫn nhau giữa bạn bè anh em, những người đồng bệnh tương lân.

• Bác sĩ định nghĩa thiền và yoga khác nhau thế nào?

Krishnamurti bảo cái gì có định nghĩa thì cái đó thiếu sót một cách đáng tiếc. Tại sao phải định nghĩa? Khi định nghĩa thì ta đã khái niệm hóa nó, đã cắt xén nó, khu trú nó rồi. Mà cây đời thì mãi mãi xanh tươi! Với tôi, do tuổi tác và tính cách, thấy mình hợp với Thiền hơn vì nó tĩnh lặng, giản đơn mà sâu sắc. Người nào phù hợp với phương pháp nào thì phương pháp đó là tốt nhất. Không nên so sánh. Hãy “nhúng chìm” vào nó, trải nghiệm và cảm nghiệm nó cho riêng mình.

• Người ta vẫn quảng bá các bài tập yoga tốt cho sức khỏe và sắc đẹp, sao không thấy bác sĩ giới thiệu với bạn đọc về yoga?

Tôi cũng tin yoga là tốt cho sức khỏe và sắc đẹp. Tôi nghĩ cái đẹp bên trong quý hơn cái đẹp do cắt mắt sửa mũi độn ngực… Yoga có thể làm tăng cái đẹp bên trong lên. Nhưng, trước hết phải phù hợp với tình trạng sinh lý, thể chất, tuổi tác, bệnh lý của mỗi người. Khiên cưỡng có thể nguy hiểm. Ngay cả chạy bộ, một môn thể dục đơn giản nhất mà cũng tốt cho người này không tốt cho người kia. Thấy người ta uốn dẻo thì mình uốn dẻo, không khéo lại vẹo cột sống, vẹo cổ. Mỗi người có nhịp tim, nhịp thở khác nhau, có hệ thần kinh, hệ nội tiết khác nhau. Sợ nhất là các thầy bắt mình phải làm y theo thầy! Nhớ nhắc các bạn đang học thiền, yoga, khí công… điều đó nhé!

• Bác sĩ đánh giá những vấn đề xã hội nào ảnh hưởng mạnh nhất đến sự đau ốm của con người? Theo bác sĩ, chúng ta có thể làm gì?

Môt từ bên trong, một từ bên ngoài. Bên ngoài đó là một môi trường sống ngày càng tệ hại do con người tự tạo ra để… hủy diệt chính mình. Họ sẵn sàng phá hủy môi trường sinh thái để phục vụ túi tham. Sự ô nhiễm chúng ta đã biết. Biến đổi khí hậu chúng ta đã biết. Bão lũ triền miên, động đất sóng thần chúng ta đã biết. Tất cả đều do con người làm ra. Chẳng phải tại Trời tại Đất gì cả. Còn cái từ bên trong chính là lòng tham không đáy của chúng ta. Lòng tham này tạo nên một đời sống đầy cạnh tranh, căng thẳng và gây ra vô số bệnh tật, các thứ dịch bệnh không lây như chúng ta đã biết. Nghiên cứu của Harvard cho thấy có đến 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là có nguồn gốc từ stress dù biểu hiện bệnh lý khác nhau. “Đau đâu chữa đó” thì không thể chữa được hết gốc bệnh là vậy. Nhưng làm sao để con người tự nguyện sống tri túc, thiểu dục? Còn lâu!

• Là một bác sĩ nhi khoa, bác sĩ nhận xét thế nào về thế hệ trẻ em ngày nay?

Trẻ em ngày nay sướng như tiên! Vì là tiên nên tốn rất nhiều tiền. Đẻ ra chưa kịp bú mẹ đã thấy sữa nhân tạo được tặng đầy phòng. Toàn các loại sữa “thông minh”! Thế mới biết các thế hệ trước đây “ngu dốt” biết chừng nào! Sữa thông minh cứ ngày một lên giá cũng phải! Trẻ em được cưng chiều hết cỡ, đồ chơi đầy nhóc, toàn đồ chơi sau một thời gian thì phát hiện có hoá chất độc hại… Bệnh nhi trở thành khách hàng, mà khách hàng là Thượng đế, muốn gì được nấy. Cha mẹ “khoán” con cho người giúp việc. Mỗi chút lên mạng tham khảo, ý kiến tùm lum, tẩu hỏa nhập ma. Trẻ được cưng chiều dễ hư. Không biêt sao bây giờ vô sinh hơi nhiều, single mom ngày càng đông. Tuy nhiên phải công nhận trẻ em bây giờ có điều kiện phát triển rất tốt, tiếp cận sớm với kỹ thuật hiện đại nên rất giỏi. Tôi chủ trương cần cho trẻ gần gũi với thiên nhiên càng nhiều càng tốt chứ không thì trẻ chỉ tiếp xúc với thiên nhiên ảo, qua vi tính.

• Một ngày bình thường của bác sĩ là những công việc gì?

Là ăn, ngủ,… À không, tôi vẫn còn dạy học, hiện là Trưởng bộ môn Khoa học hành vi- Giáo dục sức khỏe của trường Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch Tp.HCM. Sáng tập thể dục, hít thở một chút, tự pha cho mình một ly cà phê, đọc vài trang báo, lên mạng lai rai, cao hứng thì viết lách lăng nhăng cái gì đó… Hưu lâu rồi mà! Đôi khi bạn bè kêu đi cà-phê đầu đường góc phố thì đi. Bàn đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, toàn chuyên lớn… như chuyện vá tầng ozone, cử tổng thống nước này nước khác, “thường, lạc, ngã, tịnh” v.v…!

• Khi nói về lương của thầy thuốc nhiều người nói: “Muốn làm giàu thì không nên làm ngành y”. Riêng bác sĩ có ý kiến gì?

Tôi nghĩ không ai học y với ý định “làm giàu”. Thời tôi học cách đây nửa thế kỷ, y khoa phải học 7 năm, ra trường với văn bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia, chỉ số lương là 720 (Sư phạm học 4 năm, chỉ số 480). Với đồng lương thời đó, người bác sĩ có thể yên tâm chăm sóc bệnh nhân, không cần… phong bì! Y đức ngoài việc học trong trường khi hành nghề còn có Y sĩ đoàn giám sát và bảo vệ. Nghĩa vụ luận y khoa được dạy rất kỹ từ năm thứ 5 trước khi ra trường để biết cách ứng xử với bệnh nhân, với đồng nghiệp và với cộng đồng. Hiện nay, y khoa học 6 năm, ra trường được coi tương đương với cử nhân (4 năm). Còn để được mở phòng mạch, người bác sĩ ngày nay không chỉ cần có Chứng chỉ hành nghề mà còn phải có Giấy phép đăng ký Kinh doanh! Không hiểu tại sao nghề y được coi là “kinh doanh”? Có cách nào tốt hơn chăng, thí dụ “Giấy phép đăng ký Dịch vụ…” ?

• “Người bệnh đến với thầy thuốc không chỉ tìm kiếm những thông tin liên quan đến bệnh tật, đến thuốc men, mà còn mang theo cả những nỗi băn khoăn, lo lắng và sợ hãi…” bác sĩ đã viết như vậy, nhưng bệnh nhân lại cho rằng bác sĩ Việt Nam rất không kiên nhẫn lắng nghe họ nói và thường hay mắng họ. Theo bác sĩ nhận định này có đúng hay không?

Phải coi cái mắng đó là “mắng” yêu hay “mắng” ghét. Tôi thấy có nhiều bệnh nhân bị “mắng” mà rất vui vì biết bác sĩ “mắng” vì mình, thí dụ như khi không tuân y lệnh, sử dụng thuốc men bừa bãi v.v… Mối giao tình thầy thuốc-bệnh nhân mà tốt thì những lời “mắng” này nghe dễ thương, như người thân với người thân. Một bác sĩ làm ở phòng khám nhi một bệnh viện cho biết mỗi sáng anh phải khám cho trên dưới 100 em. Mỗi bệnh nhi chỉ vài phút thôi thì anh đã phải quần quật toát mồ hôi hột, thì giờ đâu mà cười nói hỏi han? Mệt quá hóa quạu, căng thẳng. Dĩ nhiên “mắng” là không nên. Lỗi về phía bác sĩ, về phía ngành y. Cũng có vài bác sĩ thích “ra oai” với bệnh nhân, chẳng qua cũng chỉ vì chưa đủ tự tin. Điều này cũng không nên.

• Bác sĩ có phiền không nếu bạn đọc muốn biết năm nay bác sĩ đã trải qua bao nhiêu cái xuân xanh ạ? Bác sĩ đã phác họa sơ đồ cuộc sống như thế nào để có cuộc sống đẹp nhất ở độ tuổi của mình?

Trong cuốn “Gió heo may đã về” của tôi, Trịnh Công Sơn viết: “Nói với một người trẻ “Tôi già rồi em ạ!” là một điều vô lễ”! Thế nhưng nhà báo trẻ đã hỏi, tôi đành phải “vô lễ” vậy: Tôi đã 73 “xuân xanh” (tuổi ta) bạn ạ. Nhớ Nguyễn Công Trứ ngày xưa ở tuổi này đã… cưới một cô tì thiếp trẻ và: “Tân nhân lục vấn lang niên kỷ/ Ngũ thập niên tiền nhị thập tam”. Cô dâu muốn biết tuổi chàng rễ, Nguyễn tướng công trả lời: “Năm mươi năm trước ta được hai mươi ba tuổi!”. Dĩ nhiên, tôi không có ý định bắt chước Nguyễn tướng công! “Phác họa sơ đồ cuộc sống” ư? Sống thanh thản, tự tại là hạnh phúc rồi, phác họa mà chi?

Cám ơn bác sĩ và chúc bác sĩ nhiều sức khỏe.

Tú Lan

………………………..
(*) Bài đăng trên báo có cắt bớt một câu và một đoạn ngắn.

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

VIỆT LINH “Xin lỗi bản thân”

11/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

VIỆT LINH “Xin lỗi bản thân”
Đỗ Hồng Ngọc
“Chuyện và truyện” của Việt Linh là một tập sách đáng đọc. Bài nào cũng đọc được nhưng với tôi, tôi chỉ chọn một bài thôi: Xin lỗi bản thân (trg 127).
Nói lời xin lỗi với ai đó thì dễ chớ xin lỗi chính mình chẳng dễ chút nào đâu! Cho nên không lạ khi Việt Linh phải bày ra cái cách viết thư cho một người nào đó mà thực ra là cho chính mình, thì thầm bên gối, vẻ như ân cần, nhỏ nhẹ mà nghe ra chì chiết, đắng cay. “Với những gì đã xảy ra, nếu là con chị đáng bị đánh đòn. Nếu là cha mẹ chị đáng bị lên án. Nếu là nguyên thủ, chị đáng bị phế truất!”.

Chuyện gì đó vậy? Chuyện Việt Linh làm việc như điên, hút thuốc lá như ống khói tàu, thức trắng đêm này qua đêm khác, đầu óc lúc nào cũng căng như sợi dây đàn… để rồi một hôm run rẩy đánh rơi cái ly đang cầm trên tay, gục xuống và phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện vì… tai biến mạch máu não! May mà qua khỏi, nhưng di chứng đeo đẳng…
Việt Linh bảo mình đã thực sự “thảng thốt, chao choáng” lúc bắt đầu viết bức thư này. Dễ hiểu thôi. Làm cái nghề đạo diễn, bóc tách tâm lý nhân vật, hô phong hoán vũ ở phim trường thì dễ chứ khi chính mình “bóc tách” mình quả là khó. Cho nên khi kết thúc bức thư, cô nói: “Như trả xong một món nợ”. Phải. Nợ ân tình. Nợ chính mình. Một cảm giác nhẹ nhàng như một người xưng tội và được tự mình tha thứ cho mình. Thế nhưng, Việt Linh không dừng ở đó, cô muốn làm một điều gì khác nữa, cho những ai khác nữa, mà trước hết cho những người thân, bức thư đã như “Một lời kêu gọi thiết tha”, một cảnh báo, một nhắc nhở.
“Ngoài di chứng tê đau khiến chị luôn phải cắn răng chịu đựng, trong chị còn có thêm một di chứng khác: chị hay rùng mình run sợ. Rùng mình khi nghe người thân nói đau đầu. Rùng mình khi thấy người thân thức khuya, hút thuốc, ăn mặn…”
Lần đó, sau cơn bạo bệnh, Việt Linh về Pháp, gởi tôi cái “email” hỏi cách chữa các di chứng tê đau chịu không nổi của cô. Tôi “reply” liền. Nhưng Việt Linh “đổ quạu”: “Em hỏi anh là hỏi kinh nghiệm cá nhân anh, một bệnh nhân, nếm trải và phục hồi thế nào sau cơn bệnh… chứ bên Tây này em có tới 3 bác sĩ chuyên khoa thần kinh, tim mạch, vật lý trị liệu chăm sóc cho mình rồi, đâu có cần ông bác sĩ trong anh nữa. Em cần là cần ông bệnh nhân trong anh kìa!” Vậy là tôi đành chia sẻ với Việt Linh cách khác.
Bây giờ thì Việt Linh “khôn” rồi, chẳng thèm “dại” nữa. Việt Linh biết nghe ngóng tiếng nói của từng tế bào trong cơ thể mình. Việt Linh biết đi nghiêng nghiêng kiểu của mình, dựa vào ai đó cùng đi cho khỏi ngã mà người ngoài nhìn vào tưởng cô đang có một cử chỉ… âu yếm! Việt Linh đã biết nuông chiều mình bằng cách đóng riêng một chiếc giày có đế ngang cho hợp với cái chân cà khêu…

Chia sẻ trong buổi giao lưu ở Hội sách (24.3.2012) cô nói: Tôi đã biết chấp nhận. Tôi hiểu cơ thể mình. Tôi làm quen với bệnh. Tôi sống chung với nó và “có giải pháp cho nó”. Nghĩa là đã biết thích nghi. Biết “hòa hợp”.

“Từ bi với mình” không dễ đâu! Người ta có khuynh hướng hành hạ mình, bốc lột mình, than thở phiền trách mình, thậm chí nguyền rủa, căm thù mình nữa. Viết Linh viết: “Từ nay chị sẽ không ảo tưởng sự hồi phục toàn diện, sẽ an lòng sống chung với đau, với tê, với yếu ớt, mong manh… để hiểu sự trả giá hôm nay là đích đáng. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, rất nhiều đêm chị đã thầm rơi nước mắt, tiếc đau những sai lầm trước đó: hàng chục lần nhức đầu, hàng trăm đêm thức trắng, hàng vạn điếu thuốc trong vòng mấy mươi năm… Các mạch máu trong người chị hẳn đã vô cùng đau đớn, đã nhẫn nại kêu than, chịu đựng biết bao ngày…”

Và rồi, qua một cơn bệnh ngặt nghèo, cô còn nhận ra “biết bao nghĩa tình sâu nặng” đó đây của bè bạn, người thân, thầy thuốc… chung quanh: “Cùng với lời xin lỗi, chị cảm ơn bản thân đã giúp chị sáng mắt. Chị đã bỏ hẳn thuốc lá, sinh hoạt điều độ, bớt ăn mặn, tập yoga, đi bác sĩ thường xuyên, biết sưu tầm những bài thuốc hay cho cơ thể… Tóm lại, từ chỗ nhơn nhơn sức mạnh, chị đã biết lắng nghe tiếng nói của các “thần dân” cơ thể, biết thấu hiểu, chia sẻ. Và một lời cảm ơn quan trọng nữa: trong bấp bênh phù sinh chị đã nhận biết bao nghĩa tình sâu nặng…”.
Việt Linh tâm sự thêm: “Tôi coi như mình đã chết rồi. Tôi biết buông bỏ. Biết sống có ích. Biết làm từ thiện”. Rõ rồi. Cô không còn hò hét ở trường quay nữa mà lặng lẻ viết, dịch để chia sẻ những kinh nghiệm nghề nghiệp với đồng nghiệp, với người đi sau. Một loạt tác phẩm về điện ảnh đã ra mắt. Các tản văn ngày càng thấm đẫm yêu thương. Tôi mến Việt Linh ở đó và cô cũng tự nguyện làm một người “em gái” của tôi, không phải “người em sầu mộng của muôn đời” mà là người em biết yêu cuộc sống, biết chia sẻ và biết “Cảm ơn mình” như một bài viết của tôi trong cuốn Già ơi… Chào bạn! mươi năm về trước./.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Gặp lại Hoài Khanh

07/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi
Gặp lại Hoài Khanh

tặng TVL

Đỗ Hồng Ngọc
Lâu lắm mới gặp lại anh. Hoài Khanh bây giờ đã 79 tuổi ta rồi chớ ít gì. Tóc bạc phơ. Nét nhăn nhàu của người có tuổi. Chỉ vụt tươi khi nói về thơ!
Thơ Hoài Khanh thời mình ai cũng biết, cũng thuộc ít nhiều. Lúc còn quá trẻ mà thơ anh đã làm cho Bùi Giáng giật mình, tưởng là của một… cụ già, với triết lý nhân sinh sâu sắc. “Từ Dâng Rừng tới Thân Phận, Hoài Khanh đi một bước riêng biệt choáng váng trong dòng lục bát của ông. Ông không bị một ảnh hưởng nào gò bó. Ông chỉ chịu ảnh hưởng của trời, của sương, của giòng sông, bến quạnh quê hương” (Bùi Giáng- Đi vào cõi thơ).

Một thời Hoài Khanh làm cho Giữ Thơm Quê Mẹ và chính anh đã chọn đăng “Bài thơ trên xương cụt” của Chinh Ba. Cách đây mươi năm, mình ghé thăm anh ở Biên Hòa, gởi tặng tập “Già Ơi… Chào Bạn!”. Ít lâu sau anh gởi một lá thư: “Đọc Già ơi… của Đỗ Hồng Ngọc xong mình muốn già mau đi … cho đã!”. Và bây giờ thì anh đã già thiệt, “già đã” rồi!
Gặp lại anh trong bữa họp mặt anh em Xunau.org ở Sông Trăng. Vui quá vì không ngờ. Có cả Chinh Văn, Cao Quảng Văn, Trần Dzạ Lữ, Bùi Chí Vinh, Nam Thi, Ngô Quang Hiển, Văn Công Mỹ… và nhiều bạn bè khác.

Từ trái: Chinh Văn, Hoài Khanh, Đỗ Nghê, Cao Quảng Văn...và Trần Dzạ Lữ (áo xanh)

Lần nào về Phan Thiết, đi qua Núi Cú, Ba Hòn, sông Cà Ty… mình cũng nhớ Hoài Khanh. Nhất là khi đi ngang Ba Hòn mình thường lẩm nhẩm “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ”. Thế nhưng, không phải, anh nhắc:“Người đi nhớ dãy Ba Hòn trơ vơ” chớ! Nhưng mình thì vẫn cứ thích “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ” hơn. Nó hay ở chỗ người đi nỡ bỏ lại… chơ vơ Ba Hòn!
Hoài Khanh sinh ra và lớn lên ở Đức Nghĩa, Phan Thiết. Nhà anh cách chỗ mình ở không xa. Anh lớn hơn mình mấy tuổi và đã phiêu bạt… giang hồ tự thuở nào, lúc mình còn cắp sách đến trường tiểu học bên bờ Cà Ty! Anh vào Saigon, làm thơ, làm báo và một mình dựng nên Nhà xuất bản Ca Dao nổi tiếng một thời, in được hằng 70 tựa sách có giá trị. Anh kể một mình anh thôi, vừa… giám đốc, biên tập, dịch thuật, lon ton, thầy cò, phát hành, tài xế, thu ngân… Giỏi thiêt.
Khi nhắc Xa quê nghe gió nồm của anh, anh nói anh thích gió nồm lắm, mát mẻ, còn mình, mình ưa gió bấc hơn, nhất là những buổi tan trường. Trời se se lạnh. Mùa cốm sắp về. Những tà áo trắng… “Mùa ơi, gió bấc nhớ không ngờ/ Năm nay người có về ăn Tết/ Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ” (Đỗ Nghê, 1970). Anh cười lỏn lẻn. Hóa ra anh cũng ưa gió bấc.
Chép lại ở đây vài bài thơ của anh. Chắc bạn cũng đã thuộc rồi. Một thứ thơ cho người ta thuộc. Không dễ đâu!

Ngồi Lại Bên Cầu

người em xưa trở về đây một bận
con đường câm bỗng ánh sáng diệu kỳ
tôi lẫn trốn vì thấy mình không thể
mây của trời rồi gió sẽ mang đi

em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc
màu cô đơn trên suối tóc la đà
còn gì nữa với mây trời đang trắng
đã vô tình trôi mãi bến sông xa

thôi nước mắt đã ghi lời trên đá
và cô đơn đã ghi dấu trên tay
chân đã bước trên lối về hoang vắng
còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

rồi em lại ra đi như đã đến
dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

Hoài Khanh

Đức Nghĩa

Biển mang niềm nhớ đi hoang
Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn
Ôi sương Núi Cú lạnh hồn
Người đi nhớ dẫy Ba Hòn trơ vơ
Cành dương cát trắng hững hờ
Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau.

Hoài Khanh

Cà Ty

Một dòng xanh mấy niềm sâu
Ngẩn ngơ gió lạnh từ đâu thổi về
Trở mình sương rụng trên đê
Người đi rồi chẳng thấy về, chao ôi.

Hoài Khanh

“Người đi rồi chẳng thấy về, chao ôi!” là Hoài Khanh nói về bạn đó, phải chăng?

(ĐHN)
Saigon 30.3.2012

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

NHỮNG BÀI THUỐC QUÝ

06/04/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

“Những bài thuốc quý”
Buổi giao lưu tại Hội sách TP.HCM 24.3.2012
Buổi giao lưu chủ đề “Những bài thuốc quý” của hai bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Đỗ Hồng Ngọc nhân dịp ra mắt tác phẩm Con người trong vòng vây của GS.BS Nguyễn Chấn Hùng sáng 24.3 tại Hội sách TP.HCM đầy kín khán giả, từ những cụ già râu tóc bạc phơ đến các sinh viên trẻ, và rất đông thân hữu trong giới trí thức, doanh nhân, nhà báo…

GS.BS Nguyễn Chấn Hùng mở lời về những suy nghĩ phảng phất trong ông khi viết Con người trong vòng vây: “Từ xưa tới giờ, chúng ta thường tỏ ra bất lực khi đối diện với căn bệnh hiểm nghèo: “Trời kêu ai nấy dạ”, nhưng tôi muốn đưa ra một thông điệp mới: “Trời kêu không dạ”, vì bệnh ấy là tại mình, không phải tại trời! Vòng vây đó không phải của trời, mà của chính con người tạo ra, từ ăn uống, 40% bệnh có thể ngừa được. Vậy làm sao cho nhẹ gánh? Ăn lành – ngủ đủ – tập đều – sống vui là bài thuốc quý trời cho. Không mất tiền mua mà phải biết dùng. Từ ngàn xưa, con người đã biết hoà hợp với trời đất. Hoàng đế nội kinh bàn về dưỡng sinh, nuôi dưỡng cái sống, chú trọng dinh dưỡng tinh thần, ăn uống điều độ, rèn luyện thân thể và ứng hợp môi trường. Trang tử Nam hoa kinh đã thắm đượm cách nuôi sự sống cho mỗi người: “Ngủ không mộng mị, thức chẳng âu lo, ăn không cầu kỳ, hít thở thâm sâu”… Nếu mỗi ngày bạn không ngủ đủ từ bảy đến tám tiếng đồng hồ, đời sống sẽ bị thun lại, óc không nở ra được. Ngủ đủ giúp cho bộ não sắp xếp lại, mềm dẻo hơn, giúp yếu tố tăng trưởng cao. Sống vui giúp bộ não làm việc tích cực, nhạy bén, không sinh ra độc tố. Cười che chở con tim, chống được bao bệnh, mình khoẻ ru thôi…”
BS Đỗ Hồng Ngọc bày tỏ sự thích thú trước tác phẩm mới của GS.BS Nguyễn Chấn Hùng: “Một vị bác sĩ say mê mổ xẻ, say mê khoa học đến giờ lại ngộ ra rằng bác sĩ tốt nhất của mỗi người là chính mình!”. Theo bác sĩ Ngọc, trong các bài thuốc quý thì “thở” là quan trọng nhất. Người ta có thể không ăn 50 ngày vẫn sống được, không uống 5 ngày vẫn có thể sống nhưng không thở 5 phút là chết. Mà thở thì không ai thay mình cả. Không phải vô cớ mà Phật dạy: “Hãy quay về nương tựa chính mình”. Đưa hơi xuống huyệt đan điền thực chất chính là phương pháp thở bụng, thở cơ hoành chứ có gì đâu. Nó giúp mình thảnh thơi đầu óc, không vướng bận. Ngủ cũng là cả một nghệ thuật, phải biết cách ngủ mới thành công. Mình chính là bác sĩ tốt nhất của mình để thay đổi lối sống. Thuốc quý không ở bác sĩ, mà ở mỗi chúng ta.

GS.TS Vũ Đình Huy bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình: “Niềm lạc quan của các bác sĩ đã truyền đến người đọc, bệnh nhân”. Còn đạo diễn Việt Linh thổ lộ: “Sau tai biến mạch máu não, nhiều bạn bè tưởng tôi không qua khỏi. Tôi thực hiện một cách xuất sắc những lời dạy của hai vị bác sĩ, biết buông bỏ những gì làm mình buồn, bắt đầu làm quen với những di chứng của bệnh, và tự tìm ra giải pháp cho mình. Lỗi là do mình đã đối xử quá tệ với bản thân. Xin lỗi bản thân, xin lỗi cơ thể cũng là cách để tôi biết sống có ích, cống hiến cho mọi người nhiều hơn…”.
Sự tung hứng dí dỏm, sâu sắc của hai vị bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng và Đỗ Hồng Ngọc làm không khí oi bức tại hội sách như dịu hẳn. Đã quá trưa, nhưng nhiều người còn vây quanh GS.BS Nguyễn Chấn Hùng với nhiều câu hỏi. Kết thúc buổi giao lưu, ông thổ lộ: “Chúng ta đều trong vòng Trời đất, kính ngưỡng Trời đất, nhưng chúng ta cũng phải biết 85% các loại bệnh không phải tại trời, mà do con người. Loại được những nguyên nhân đó để bệnh không nhập vô mình, thay đổi cách nhìn cũ là điều mà tôi suy nghĩ, để viết Con người trong vòng vây, truyền đạt cho mọi người cùng biết. Viết cho mọi người, văn phong phải giản dị, dễ hiểu, điều này tôi học được từ những người thầy như nhà văn Nguyễn Hiến Lê, nhà văn Sơn Nam, và học được từ bạn tôi, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc”.
Xuất hiện trong buổi giao lưu với tư cách vừa là người bạn thân của BS Chấn Hùng vừa như MC của chương trình, mang đến cho độc giả hai đầu sách mới Thư gửi người bận rộn (tập 2) và Nhớ đến một người, BS Đỗ Hồng Ngọc góp thêm những bài thuốc quý mà ông từng đề cập trong Sức khoẻ gia đình, cuốn sách bán chạy nhất của mình. Ông cho biết thêm: Tổ chức Y tế Thế giới có đưa ra một công thức: SAFE (an toàn), tôi thêm chữ R thành SAFER (an toàn hơn), là chữ viết tắt của các biện pháp: Smoking (không thuốc lá), Alcohol (không rượu), Food (dinh dưỡng đúng), Exercise (rèn luyện thể lực) và Respiration (thở đúng phương pháp). Thực ra nó chính là “giới” và “định” vậy. Giới và định tốt thì sẽ dẫn đến “tuệ”. Nói khác đi, giảm được “tham sân si” ta mới có được thân tâm an lạc. Nếu áp dụng SAFER đúng cách, ta ít cần phải nhờ đến bác sĩ! Cũng đừng quên rằng từ Thế kỷ XVI, Tuệ Tỉnh thiền sư, một danh y ở nước ta đã đúc kết phép Dưỡng sinh bằng 2 câu: Bế tinh dưỡng khí tồn thần/ Thanh tâm quả dục thủ chân luyện hình”.

Hương Xuân

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

“TUỔI GIÀ và SỨC KHỎE”

06/04/2012 By support2 4 Bình luận

Ngày sức khỏe thế giới 2012
TUỔI GIÀ và SỨC KHỎE

Đỗ Hồng Ngọc

Hằng năm, Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) lấy ngày 7- 4 làm “Ngày Sức Khỏe Thế Giới”, đề ra Ưu tiên về một vấn đề Sức khỏe của năm, nhằm kêu gọi sự quan tâm của cả cộng đồng từ các nhà lãnh đạo đến toàn dân, tạo nên một hành động tập thể để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người.

Ngày Sức khỏe Thế giới năm nay 2012 có Chủ đề là “Tuổi già và Sức khỏe” với khẩu hiệu: “Sức khỏe tốt góp thêm đời cho năm tháng”.(ĐHN tạm dịch).
(Ageing and health:  “Good health adds life to years”).

Thế giới già đi một cách nhanh chóng. Không bao lâu nữa, những người trên 65 tuổi sẽ đông hơn những trẻ em dưới 5 tuổi ở bất cứ quốc gia nào dù đã phát triển hay đang phát triển, đặt ra nhiều vấn đế lớn cho xã hội. Người gìa có phải là kẻ “vô tích sự” không, có phải là một gánh nặng không, hay trái lại, một nguồn lực quý giá của gia đình, của cộng đồng và xã hội, một “túi khôn muôn đời” dù khoa học kỹ thuật có tiến nhanh đến đâu! Có sức khỏe tốt, tuổi già sẽ có được chất lượng cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn, an lạc hơn, và nhờ đó đóng góp không ngừng cho gia đình và cộng đồng.

Ai rồi cũng sẽ già, dù giàu hay nghèo, dù đàn ông hay đàn bà, còn trẻ hay đã có tuổi và đang sống bất cứ ở nơi đâu. Cho nên vấn đề làm sao để có một tuổi già khỏe mạnh là mối quan tâm của tất cả chúng ta. Đó chính là chủ đề của Ngày Sức khỏe Thế giới năm nay vậy.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Ở nơi xa thầy thuốc Tag với:BS Do Hong Ngoc, BS Đỗ Hồng Ngọc, ngay suc khoe the gioi

Nguyễn Lệ Uyên viết về Đỗ Hồng Ngọc

29/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Nguyễn Lệ Uyên
__________________________________
ĐỖ HỒNG NGỌC
“Văn như thơ, thơ như văn, thơ náu mình trong Thơ”
“Thầy thuốc là để cứu người.
Nhà văn là để cứu đời”
(Nglu)

Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tuỳ bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào hàng ghế nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với ông, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì ông viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ, vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của ông về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới thấu lẽ, à lên một tiếng, vài ba tiếng, tùy theo tâm trạng mỗi người kèm với không gian, thời gian của người đọc: nó có đấy mà sao ta không thể nhìn thấy, ta không hề nghĩ ra được nhỉ? Những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, qua ngòi bút của ông hoá ra quá đỗi mới lạ; nói theo ngôn ngữ Đỗ Hồng Ngọc là ngòi bút ông đã hoá giải, đã khải thị giúp ta từ những cách nhìn, nghĩ một cách hạn hẹp, quanh co cạnh ta thành rộng ra để ta “như thị”?

Từ những bài tuỳ bút cho đến thơ, ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, thổi phồng mọi sự vật… để nhắn gửi cho mọi người, cho mai sau. Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Mà đúng vậy, ngay trong quyển Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (NTBTTTLTHT), La Ngà xuất bản năm 1972, ông đã giải mã những băn khoăn thắc mắc của lứa tuổi dậy thì, nào là phòng ngừa cận, viễn, loạn thị, trĩ, táo bón, đái dầm… bệnh biếng học cho tới những vấn đề tâm sinh lý thầm kín khó chia sẻ với cha mẹ… như thể tất cả những thứ tật bệnh ấy ông đã từng nếm trải, rồi tập hợp lại thành một kinh nghiệm sống cho các cô cậu ở tuổi học trò? Đã đành ông là bác sĩ nhi khoa, nhưng ngôn ngữ diễn đạt không phải là ngôn ngữ của một ông thầy thuốc khám bệnh, kê đơn mà là ngôn ngữ của một chàng nghệ sĩ vừa bóc tách sự thật trần trụi vừa xoa dịu nó bằng một thủ thuật của tiếng gió luồn lách trong những bụi tre buổi xế trưa. Hãy nghe ông viết về bệnh biếng học và cách điều trị: “… nếu có một ngày nào đó, em bỗng nhiên thấy mình làm biếng kinh khủng, không còn muốn ngó ngàng gì đến sách vở, thì em hãy nghĩ ngay đến điều này: phải chăng em chán ngán sách vở, bài học vì đã “ứ” đến tận cổ? Vì trí óc em đã “saturé” không còn có thể nhồi nhét gì thêm… Tình trạng biếng học “cấp tính” này sẽ qua rất mau, với một thứ thuốc rất hiệu nghiệm – không phải là cà phê, trà lipton đâu nhé – mà là vứt sách vở đi, rong chơi ngoài đường một buổi chiều, câu cá cũng được, đá banh càng tốt… Sau đó ngủ một giấc cho đầy. Tỉnh dậy bảo đảm sẽ “ghiền” học trở lại”. (NTBTTTLTHT, trg 213-214, La Ngà, SG 1972).
Cũng trong tập này, ở chương 17, nói về Chiều cao, cân nặng, ông mở đầu còn hơn cả một đoạn thơ xuôi: “Tới một tuổi nào đó, ta quan tâm rất nhiều đến thân thể mình. Ta lắng nghe cơ thể mình phát triển như chú dế mèn lắng nghe tiếng cỏ mọc trong đêm khuya” (Sđd, trg 142). Điều này khiến người đọc không cảm thấy chán ngán, trái lại, tạo sự tò mò, dù tiếp sau đó là những con số thống kê, biểu đồ, toán học! Có đến 8 đầu sách ông viết cho tuổi mới lớn, mà quyển nào cũng bổ ích, cũng thiết thực trong đời sống của “lũ trẻ”.
Tôi đã nhận những quyển sách ông tặng về đề tài này và đọc. Đọc một mạch, đọc với bao điều thích thú và sau đó “té ngửa” ra rằng mình hồi nhỏ cũng có lắm điều sai phạm với chính cơ thể mình! Hèn chi ngay cả học giả Nguyễn Hiến Lê, trong một bài tựa cho quyển NTBTTTLTHT của Đỗ Hồng Ngọc, đã viết: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”.
Với những người bạn nhỏ, ông đã chăm chút như thể chúng là người ruột thịt, còn với người lớn thì sao? Ông cũng sẻ chia, đưa ra một vài nhận xét nho nhỏ nhưng lại chính xác đến từng li mét. Lướt qua những tập Già ơi… Chào bạn, Thư gửi người bận rộn hay Gió heo may đã về… người đọc sẽ thấy được tấm lòng chân thật của ông. Những điều ông viết ra, có thể đúng với người này, hơi đúng đúng với người kia và hơi sai sai với người nọ, vì cảnh sống có khác nhau, ý thích khác nhau, suy nghĩ không mấy giống nhau, nhưng tựu trung vẫn là những gì ta có thể nhìn thấy một chút hình bóng của chính mình ẩn hiện đâu đó trong từng câu, từng đoạn. Ngay từ lời ngỏ trong quyển Gió heo may đã về (nxb Văn Nghệ Tp HCM, SG 1997), ông đã có lời thưa trước: “Vậy, hỡi những người bạn yêu quý của tôi, xin hãy vui với những dòng chữ chân tình này, và nếu có bực mình thì cứ tự nhủ làm gì có, hù dọa đó thôi… còn nếu có bắt gặp hình ảnh chính mình trong những dòng chữ này thì cũng hãy mỉm cười mà thứ lỗi… Vì sáng hôm nay, một chút gió heo may đã về, những chiếc lá vàng đã rơi lác đác trên những con đường thành phố, một mùi gió bấc quen thuộc đã len vào giữa những hàng cây…” (Sđd, trg 7).
Ông viết những gì trong đó đến nỗi khiến ta phải “bực mình” hay “mỉm cười” khi mở từng trang sách? Thưa ngay, ông viết đủ điều, đủ loại, từ tâm lý, tình cảm đến vật chất, sinh lý v.v… nghĩa là những “thứ” nó bắt đầu bám vào cái tuổi không còn “hườm hườm” mà đang trong thời kỳ “gió heo may đã về”, tức thị một phần tư chân ở bên mép “bất hoặc”, còn lại là những dấu hiệu sắp gặp gỡ, chung sống trong “thế giới đại đồng” dưới 3 thước đất! Cái thế giới ấy, nhìn chung rất hiếm người muốn gặp, dẫu là “đại đồng”, nhưng đọc để biết trước vẫn là điều hăm hở, thu hút; cũng chẳng phải vì tò mò mà, hơn hết là để biết đó có phải là sự thật hiển nhiên không. Tuổi “heo may” ấy, khốn nỗi không ai có thể cưỡng chống được. Phải chấp nhận như một qui luật tất yếu. Chúng ta hãy đọc thử một đoạn ngắn, khi ông cảm nhận một cách nhẩn nha mà thấu lý ở tuổi già cận kề: “Tuổi chớm già, ấy là tuổi của chuyển tiếp, của lúng túng, hoang mang, tuổi của những stress, của những lo âu và phiền muộn, của những mối hiểm nguy rình rập về sức khoẻ, về quan hệ gia đình, xã hội… đồng thời tuổi chớm già cũng là tuổi của thành tựu, của thành đạt… Cái người ta dễ thấy nhất là những thay đổi sinh lý: hết khả năng sinh sản, giảm đời sống tình dục. Rồi luyến tiếc dĩ vãng, nhớ cái thuở trẻ trung, cái thời nhan sắc. Một nỗi buồn man mác chợt đến dù không nói ra, dù gắng gượng quên đi…” (Sđd, trg 18).
Bạn không đồng ý với cách nhìn nhận về tuổi chớm già của Đỗ Hồng Ngọc ư? Sai sót chăng? Khiên cưỡng chăng? Trái lại và trừ phi các bậc thiền sư chân chính mới có phản biện, nhưng chưa hẳn đã là tuyệt đối. Nhưng để giải quyết một cách rốt ráo cho vấn đề vừa nêu trên, ông cũng chừa vài đoạn gọi là “lại quả”, ấy là: “Ở đàn ông còn thấy có hiện tượng “vùng lên”, vớt vát, tìm kiếm những cuộc tình dễ dãi, “bồ nhí”, “bia ôm”… để chứng minh chút nam tính còn sót lại của mình… Ở phụ nữ không phải là không có một giai đoạn gần như vậy, người ta vẫn thường gọi đó là tuổi “hồi xuân” (Sđd, trg 51).
Ngày trước đọc Bonjour tristesse của F. Sagan trong bối cảnh chiến tranh lan rộng, tàn khốc, là đọc để giải toả những phiền muộn qua nhân vật nữ, là một cô gái thông minh, hoà nhập vào nếp sống hiện đại, thời thượng mang nhiều yếu tố hiện sinh, buồn chán, nó biểu tỏ một thái độ của một cá nhân trước xã hội, rộng ra là thời đại. Nay được đọc Đỗ Hồng Ngọc, cũng “chào” nhưng lại là Già ơi… chào bạn, ở một thái cực khác: từ ngạc nhiên đến vui vẻ chấp nhận cái quy luật muôn thuở đến với con người một cách thanh thản, không thắc mắc, vướng bận. Có lẽ, do ông hiểu rất rõ những gì xảy ra với mình trong thời gian nằm ở bệnh viện An Bình sau khi mổ sọ não do tai biến mạch máu não, nên không băn khoăn đặt câu hỏi “tại sao” hay thế này thế nọ, như các nhà văn phương Tây. Đây cũng là thời kỳ ông “ngộ” ra lắm điều, dẫn đến việc ông nắm bắt được phần nào các bộ kinh Phật, đặc biệt là Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh và chuyển cái sự hiểu đó đến người đọc, dẫu cho có nhiều chỗ cần phải bàn lại. Nhưng cốt lõi, theo ông: “Tôi thấy nó phóng khoáng, nó “lật đổ” tất cả những quan niệm hẹp hòi, đố kỵ; nó có khả năng hoà đồng, khả năng giúp cho mọi người có trách nhiệm hơn với chính mình, thương người, thương cuộc sống, biết thưởng thức … cuộc sống với một chất lượng cao hơn… có hạnh phúc hơn; biết tha thứ, biết buông xả… nó có thể giúp cho những người đang mang mặc cảm tội lỗi thoát ra khỏi chính mình…” (Nghĩ từ trái tim, trg 8 nxb tổng hợp tp. HCM, SG 2003).
Trong chúng ta, những con người luôn chạy đua với áo cơm, mấy ai thấu triệt nghĩa lý Tâm Kinh chứ chưa nói là thực hành, mặc dù chỉ có vỏn vẹn 260 chữ?
Chỉ có vậy, không hơn, nhưng một khi đã “hành trì” vào Tâm Kinh, quán triệt nó đến tận cùng thì mới thấy vẻ đẹp uyên áo, những thâm hậu vi diệu của nó, bởi nó như một ngọn roi quất vào chỗ u nhược, làm đảo lộn mọi suy nghĩ hời hợt, phủ định mọi thành kiến về Phật, Thập nhị nhân duyên… như ông hiểu và nói ra.
Với Tâm Kinh thì, không phải để “tri” mà để “hành”. Nhưng “hành” như thế nào để “đáo bỉ ngạn” là điều không phải ai cũng “hành’ được. Khó và khó vô cùng. Nơi ai cũng muốn đặt chân đến và bỏ chân ra là thiên đàng và địa ngục. Có hai thế giới này thật không, nó ở đâu? Từ chiếu kiến ngũ uẩn giai không, Đỗ Hồng Ngọc đã chỉ ra: “Niết bàn hay địa ngục là do ta tự tạo ra cho mình, nó ở ngay trong ta thôi: Giận dữ, ngờ vực, sợ hãi, lo âu… tiêu hao của ta rất nhiều năng lượng, đốt cháy ta từ tầng này đến lớp khác chẳng phải là hình ảnh của địa ngục ư? Còn niềm vui, an lạc, hạnh phúc, vô uý… làm ta như chắp cánh bay lên, quên cả thời gian, không gian, chẳng phải là hình ảnh của thiên đàng, niết bàn ư?” (NTTT, trg 132).
Đọc Nghĩ từ trái tim, gấp sách lại, ta thấy như mình vừa được kéo ra khỏi bóng tối lùng nhùng, đến nỗi GS. Trần Văn Khê cũng phải thốt lên: “Tâm kinh không chỉ đọc hiểu không thôi mà phải hành. Đỗ Hồng Ngọc nhờ tổng hợp được những yếu tố đó mà viết ra được quyển Nghĩ từ trái tim như thế này thì tôi cho đây là một tuyệt tác, nắm được tinh hoa của đạo Phật giảng ra một cách dễ hiểu, dễ dàng để cho người ta tìm thấy được mỗi chuyện làm ở trong đời…”
Những điều ở bên ngoài đời sống, Đỗ Hồng Ngọc đã một phần nhìn ra giá trị của cái tầm thường, như câu chuyện ngày trước, một nhà sư khi nhìn thấy núi, thấy sông vẫn cứ là núi là sông, sau nhờ có bậc tri thức khai mở huệ nhãn thì thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông, đến lúc thể nhập chốn tĩnh mịch, u nhàn, lại thấy núi là núi, sông là sông. Nói chung là ông đã “như thị”.
GS. Trần Văn Khê đã đưa ra nhận xét: “Người bác sĩ này có cả tâm hồn hướng về con người nên đã viết cho trẻ con, cho những người già, người sản phụ, tìm hiểu căn bệnh để trừ bệnh, để giúp cho người ta bớt bệnh bớt khổ. Tâm tư đó là tâm từ đi tới bi. Người bác sĩ đó có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế”.

Hoá ra và bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế. Vậy thì chúng ta thử bước vào thế giới văn chương của ông:
Ông làm thơ trước khi viết văn. Tôi đọc những bài thơ đầu tiên ông đăng trên Bách Khoa năm 1960, chưa hề đọc một truyện hay một tùy bút, đoản văn nào của ông, mãi cho tới tận sau này (Ông có một truyện ngắn duy nhất, tựa là Người Thứ Hai, đăng trên báo Mai, 1965, sau này in chung trong tuyển tập truyện ngắn Cuộc đi dạo tình cảm, cùng với Lữ Quỳnh, Lữ Kiều, Hồ Thủy Giũ… nxb Trẻ, 1998); nhưng tôi cũng chưa hân hạnh được đọc! Nhưng dẫu ông có viết ở thể loại nào, thì câu văn vẫn cứ mượt mà chất thơ, kiểu “văn trung hữu thi” vậy.
Viết về Lữ Kiều, người bạn đồng môn của mình, Đỗ Hồng Ngọc có cái nhìn của một cụ đồ tài hoa: “Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngừng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiên mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút…” (Tôi cũng tin vậy…, trg 61, Như Thị, nxb Văn Nghệ, SG 2007). Dẫn đoạn này, tôi chỉ muốn dẫn đôi dòng, nhưng không làm sao ngắt được. Cái mạch văn ấy cứ tuôn chảy, róc rách đẹp hơn suối reo, không ngăn được. Và liên tưởng ngay đến Chữ của người tử tù và Chén trà trong sương sớm của Nguyễn Tuân. Đỗ Hồng Ngọc viết về người bạn nhưng cứ như chàng họa sĩ làm thơ!
Còn đoạn này nữa: “Cứ một dòng chữ viết tay nắn nót (bản thảo chép tay) lại hiện lên trong tôi sông ngòi biển cả, rừng núi ao hồ, trưa hè nắng cháy nhảy ùm xuống sông Dinh, đập đá Dựng, những ngày mưa lũ, nước cuốn trôi phăng cả nhà cửa trâu bò. Tôi cứ để lòng mình nhảy ùm như thế, cuốn trôi như thể khi đọc Biển Hát. Cả một dĩ vãng xưa ùa sống lại” (Biết bao điều thì thầm, trg 203, Như Thị). Xem ra Đỗ Hồng Ngọc đâu chỉ có tâm hồn trong sáng mà còn có cả tấm lòng, như Cao Huy Thuần nhận xét: “Anh nói những chuyện giản dị. Nhưng mầu nhiệm không nằm ở đâu khác hơn là trong chính những câu chuyện giản dị đó. Một đôi bài của anh khá đơn sơ, nhưng hồn nhiên là cái duyên của anh, anh làm thơ trước khi viết văn, cho nên đó cũng là những bài thơ” (lời trích ở bìa 4 Như Thị).
Đỗ Hồng Ngọc làm thơ khi còn là học sinh trung học, mãi đến năm 1967, ông mới cho in tập thơ đầu tay Tình Người, với bút danh Đỗ Nghê, lúc đang là sinh viên trường Y. Những bài thơ này xuất hiện trên Bách Khoa (từ năm 1960) và Tình Thương (1964) do SV đại học Y Khoa Sài Gòn chủ trương, thời đó có nhiều bài thơ theo trường phái Phi Phi (Phi Thi?). Tôi đọc chúng (thơ phi phi) nhưng chẳng hiểu gì. Và vì vậy, khi vớ phải những câu chữ gần gũi của Đỗ Hồng Ngọc với những cảm xúc chân thật, mộc mạc tôi cảm thấy như có cái gì đó quen quen, như khói củi trong bếp lửa buổi sáng sớm chớm đông. Sau đó, khi tạp chí Ý Thức dời về 666 Phan Thanh Giản, cùng viết chung trên đó tôi mới gặp ông bằng xương bằng thịt và quen nhau. Gần cuối năm 1974, từ tòa soạn Ý Thức, ông mời tôi đi ăn bò vò viên chỗ xế bên rạp Đại Đồng trên đường Cao Thắng và tặng tập Thơ Đỗ Nghê do Ý Thức xuất bản. Trong đó đáng chú ý là bài thơ Tâm sự Lạc Long Quân. Có lẽ do nội dung của bài thơ này, bị kiểm duyệt nên cơ sở Ý Thức không thể in công khai tại Sài Gòn, mà lại in (lậu) trên Đà Lạt do Lữ Kiều coi sóc rồi mang lộn ngược về Sài Gòn. Năm 2010, ông muốn đưa lại bài này vào tập Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác, nhưng cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự như trước 1975, nghĩa là Tâm sự Lạc Long Quân vẫn là bài thơ không có “hộ khẩu”, lang thang trong tập Thơ Đỗ Nghê “phổ biến hạn chế trong vòng thân hữu” (thiếu 2 năm nữa là chẵn 40 năm dài). Những thao thức, băn khoăn, tấm lòng thành ông gửi gắm trong bài đã bị chối bỏ, là chính trị thời trước và thời sau không chấp nhận tấm lòng thành của ông xuất phát từ trái tim, nghĩ từ trái tim của ông.
Khi ta đưa các con 50 người xuống biển
Và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng
Lòng ta đã rất đỗi băn khoăn
Có một điều gì khiến ta linh cảm trước
(…)Nhưng bây giờ mọi sự xảy ra
Các con đều đã rõ
Những vết ô nhục trong lịch sử chúng ta
Các con đều đã rõ
(…)Đã cùng sinh ra trong một bọc
Thì hãy nghe ta
Đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi
Rồi đứng ôm nhau mà khóc
Nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây
Nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất

(Tâm sự Lạc Long Quân, Thơ Đỗ Nghê, trg 5-7, Ý Thức xb, 1974).
Bài thơ này ông viết từ năm 1965, trong bối cảnh đất nước tương tàn! Nội dung bài thơ không mang ý thức phản kháng, gào rống mà, xuất phát tự trái tim ông, réo gọi tình đồng bào và thơ ông bật lên từ tấm lòng chân thật đó. Nhưng những kẻ làm chính trị thì không thể chấp nhận cái tấm lòng ấy, vì phe phía nào cũng tự nhận là chính nghĩa, bóp nát những mơ ước, hoài mong của tầng lớp thanh niên, trí thức. Chúng biến cái tinh thần dân tộc của giới trẻ trở thành hành vi phản trắc, biến lòng yêu đồng loại, nghĩa đồng bào thành tư tưởng phản bội! Sự dồn nén và ẩn ức ngày mỗi dày thêm, cao thêm:
Rất nhiều đêm rất nhiều đêm
Tôi vỗ về tôi thủ thỉ
Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Cầm súng với cầm gươm
Ngủ đi con ngủ đi con
Ngày mai rồi khôn lớn
Giết bạn bè anh em
Ngủ cho ngoan ngủ cho ngoan
(…)

(Lời ru, Thơ Đỗ Nghê, trg 14)
Thời ấy, khi đọc bài thơ này, tôi tưởng tượng cảnh bà mẹ quê ôm đứa con thơ vào lòng, giữa đêm khuya, nức nở than khóc người chồng là anh lính Việt cộng hay Quốc gia vừa chết trận. Âm thanh trong bài thơ không thịnh nộ, cứ ưu uất, nghẹn ngào, nức nở gây một ảo giác như chính bản thân ta đang chịu đựng cảnh khổ nhục đó vậy. Nó cứ rờn rợn như âm thanh trong bài Bà mẹ Gio Linh của Phạm Duy trong đêm bão!
Một bài thơ khác, Đoá hồng mùa xuân tuổi thơ, ông viết tặng con sắp chào đời cũng mang một tâm trạng u uẩn không kém, có thể coi là nỗi lòng của giới trẻ lúc bấy giờ:
Có những người không có cơm ăn
Có những người không có áo mặc
Có những cánh đồng cháy đen
Có những xác người chồng chất
Con sẽ vô cùng ngạc nhiên
(…) Làm gì có Việt Nam đánh giết Việt Nam
Làm gì có đất nước hai miền

(Đoá hồng mùa xuân tuổi thơ, Thơ Đỗ Nghê, trg 66).
Thực tế oan nghiệt đó đã bóp nát trái tim rất nhiều người, trong đó có ông. Vì vậy, có thể xem, Thơ Đỗ Nghê là một sự chọn lựa đúng đắn, là thái độ của của một thanh niên trí thức mẫn cảm trước thời cuộc và xã hội lúc bấy giờ. Đó là nỗi đau không cùng của những người chân chính, đúng như Lữ Kiều viết trong lời bạt cuối sách: “Đã đến lúc chúng ta nghiêm trang đặt những vấn đề, với lịch sử. Ví dụ bài “Điệp khúc” (Thơ Đỗ Nghê, trg 57, ghi chú của người viết bài này) là những câu hỏi thẳng thắn với đàn anh chúng ta thời 45. Những Bài vè thứ nhất, Bài vè thứ hai (Sđd, trg 48 và trg 52, nt) đặt vấn đề với thế hệ hiện tại, với những người mà ta gọi là Đồng Minh. Có lẽ, bây giờ sự thể đã khác đi, nhưng tôi nghĩ, trong tình thế ấy, đặt những câu hỏi như vậy là một thái độ can đảm, nằm trong thái độ nghiêm túc của anh” (Thơ Đỗ Nghê, trg 76, nt).
Bài thơ Thư cho bé sơ sinh nơi trang 39 ông viết năm 1965 khi còn là SV thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, sau này ông cho in lại trong tập Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (nxb Văn Nghệ, SG 2010) được Phat’s blog chuyển ngữ sang tiếng Anh tháng 11/2006, như là sự mở đầu tâm cảm của ông, nhìn về thế giới bên ngoài bằng trái tim chân thật, bằng cả tấm lòng của cá nhân có trách nhiệm trước một cá nhân khác. Bài thơ chỉ có hai nhân vật: anh và em. Anh là chàng SV năm thứ ba y khoa và em chỉ là đứa bé mới chào đời. Ông đã khắc hoạ sự tương phản ngược chiều trong thế giới đa cực của cuộc sống ồn ào, đầy dẫy những cạm bẫy, lo toan, mưu tính… Đó là tiếng khóc và nụ cười, mắt thực và tối đen, cô đơn và êm ấm, là cái bé nhỏ vô cùng và rộng lớn cũng vô cùng. Bài thơ cũng chính là tâm trạng của anh chàng sinh viên ngành y lần đầu tiên làm công việc đưa một sinh linh ra ánh sáng cuộc đời sẽ có nhiều ngọt bùi lẫn cay đắng chờ đón phía trước.
Tính chất của bài thơ, trước hết là giãi bày tâm trạng, bởi đây là lần đầu tiên ông nhìn thấy và nhận ra bản thể của mình qua hình hài bé bỏng kia, rồi nó sẽ phải trải qua những đoạn đường mà ông và bao con người đã bước qua cuộc đời có nhiều những khổ đau và hạnh phúc, của nụ cười và nước mắt, nói chung là “đời nhiều nhãn hiệu”.
Bài thơ không mang hơi thở ngôn ngữ bóng bẩy của thơ ca. Nó là những lời thầm thì, chia sẻ, là tâm tình của một con người với một con người trong mối quan hệ bình đẳng của người ra đời trước và người vừa chào đời sau; của người đã bị trói vào “đời” và người sắp bị “đời” trói chặt. Ông sử dụng ngôn ngữ nói, mộc mạc đến dung dị để chuyển tải nội dung lời thơ là thân phận làm người, mà rất nhiều các triết gia, học giả, nhà văn cả Tây lẫn Đông từng mang ra mổ xẻ. Vấn đề của Đỗ Hồng Ngọc đặt ra không rộng, không gian là phòng sinh, thời gian là một giờ khắc nào đó trong ngày. Ông chỉ ghi lại những cảm xúc và tâm trạng đối với công việc của mình trước một em bé vừa chào đời, bắt đầu cùng ông, gia nhập vào đời sống mà ông đang nếm trải, không hề thấy có một triết lý nào cao xa, chỉ nêu lên những sự việc có thật đang xảy ra và sắp sửa xảy ra với bé, bắt đầu tham dự vào “cõi người ta”.
Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ
(Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác, trg 6).
Nhiều người, khi đọc bài thơ này, cho rằng nhà thơ đã gửi đi một thông điệp cho mọi người hiện hữu trong đời sống muôn màu muôn vẻ. Tôi thì nghĩ, ông không hề có ý làm một công việc to tát đến vậy, mà hơn hết là từ tấm lòng, từ trái tim, là cái nhìn thấu triệt lẽ đời mà ông đã trải nghiệm, như một người đi trước, không phải là kẻ dẫn đường hay đưa đò.
Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Ý hướng đích thực trong bài thơ là 3 câu cuối cùng này. Hai nhân vật anh và em sẽ hoà vào mẫu số chung: số phận con người! Và tinh tế hơn cả, là ông ngắt câu ở nhịp hai như một cú rơi từ trên cao, không có sự chọn lựa.
Đỗ Hồng Ngọc sống nhiều, đi nhiều, viết nhiều. Văn thì viết như thơ. Thơ thì như văn và thơ náu mình trong thơ. Đó là những gì tôi nhìn thấy, đọc ra từ cảm tính rất chủ quan của mình. Ví dụ như mấy câu trong bài Mũi Né:
Em có về thăm Mũi Né không
Mùa xuân thương nhớ má em hồng
Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng
Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong
(Mũi Né, Thơ Đỗ Nghê, trg 8)
Hay như thời gian tu nghiệp ở Pháp, ông nhớ nhà, nhớ quê, nhớ gia đình, bạn bè… Nỗi nhớ găm vào từng thớ vải. Câu thơ xếp đặt như câu nói, nhưng lại lột tả đến tận cùng nỗi nhớ nhung khói củi, đến nao nức:
Anh hôn đằng sau/ Anh hôn đằng trước/ Anh hôn phía dưới/ Anh hôn phía trên/ Chiếc áo của em/ Món quà em tặng/ Chiếc áo lạ lùng/ Có mùi biển mặn/ Có mùi dừa xiêm/ Có mùi cát trắng/ Có mùi quê hương… (Món quà, Thư cho bé sơ sinh…, trg 143).
Ông có quãng đời niên thiếu sống ở La Gi, tắm mình trong mùi gió biển, thiên nhiên hoang sơ với những đồi núi chập chùng, những dải cát trắng, sóng biển rì rào… đã ru ông, nuôi dưỡng tâm hồn ông để có được một Đỗ Hồng Ngọc có một cái Tâm trong veo như bầu trời không gợn chút khói mây.
Ông nhìn nhận cảnh quan theo vẻ đẹp mẫn tuệ nơi ông đã đành, nhưng đến những cảnh huống mà nhiều người nhìn thấy là xấu, khi lọc qua tâm hồn ông bỗng sáng rực như ánh sáng ban mai; ngôn ngữ diễn đạt cứ như những hạt sương long lanh trên cành lá biếc xanh. Ví dụ, từ trang 74 đến trang 80 là các bài La Ngà và La Ngà 1 đến La Ngà 5, là diễn tả tâm trạng và cảm xúc của ông trước cái chết của đứa con gái yêu quý, nhưng lời thơ không hề bộc lộ chất bi lụy, đau thương. Ngược lại, cứ trong suốt như pha lê:
“Mỗi năm/ Mỗi người/ Thêm một tuổi/ Chỉ mình con/ Mãi mãi tuổi đôi mươi” (La Ngà 3, Thư cho bé sơ sinh…, trg 78). Và bài kế tiếp: “Ba vun gốc trường sanh/ Mẹ đặt chùm vạn thọ/ Lên mộ con/ Giữa ngày mùng Một Tết” (La Ngà 4, Thư cho bé sơ sinh…, trg 79).
5 bài thơ viết về La Ngà thực chất là viết về “nỗi mất”, là nỗi đau không cùng của các bậc cha mẹ. Nhưng cả 5, lời thơ vẫn bình thản chấp nhận, không u oán. Chỉ có những người đã tiếp cận với Thiền học, đã “thị” được ngũ uẩn giai không, thả những cảm xúc tâm linh chạm gần đến ngưỡng như Đỗ Hồng Ngọc mới có được cốt cách và phong thái của các hành giả phương Đông trên đường bước vào mép rìa của cái Đẹp.
Ông đã từng thú nhận trong phần dẫn nhập và một chút lịch sử, ở ngay phần đầu Nghĩ từ trái tim, rằng “Viết với tôi là một bức xúc, là một cách “xả”! Tôi thấy nhẹ nhàng sảng khoái hơn khi được viết ra. Đó cũng là một cách tự chữa bệnh cho mình” (trg 9). Và: “Tôi nhớ hồi mới lên mười, trọ trong chùa, đêm đêm cũng nghe cô tôi tụng “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha!” tôi chỉ thấy êm tai, ngủ ngon lành mà thôi” (trg 20). Như vậy, rõ ràng Thiền học đã thấm đẫm tâm hồn ông từ tuổi thơ, như chuyện thấy núi thấy sông của nhà sư viết ở đoạn trên. Chính vì vậy, nên ông mới có những câu thơ như thế này:
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương

(Hội An, Thư cho bé sơ sinh…, trg 99).
Hay:
Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa/ Một hôm hơi thở tình cờ/ Dính vào hạt bụi thành ra của mình/ Của mình chẳng phải của mình/ Thì ra hơi thở của nghìn năm sau (Thở, sđd, trg 196).
Và một bài nữa:
Đất động ta cũng động/ Sóng thần ta cũng sóng/ Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất! (Đất, sđd, trg 197).
Nếu làm công việc như các ông Đặng Tiến và Cao Huy Khanh thì có thể xếp dòng thơ Đỗ Hồng Ngọc vào dòng thơ Thiền được chăng? Tôi không mấy rõ, chưa thể biện biệt, kiến giải; chỉ thấy và hơn hết là cảm được rằng, thơ ông xuất phát từ Tâm Cảm, vượt trên những triền phược. Nó thô mộc mà sáng long lanh; lột tách những vết bụi bám; cũng đứng chung những “số phận thơ”, cũng sần sùi meo mốc như lát sắn mì để quên trong khạp, nhưng lại tỏa ra chút mùi thơm dịu dàng lấp lánh. Đó cũng là nét rất riêng, rất cốt cách của thơ Đỗ Hồng Ngọc.
Tôi đã từng nghĩ: “Làm thầy thuốc là để cứu người; làm nhà văn là để cứu đời”, xem ra lại rất đúng, một cách trọn vẹn, với trường hợp Đỗ Hồng Ngọc: cứu người và cứu đời!

(Nguyễn Lệ Uyên, xứ Xương Rồng, tháng 3/2012)

Thuộc chủ đề:Uncategorized

Trường Phan Bội Châu Phan Thiết…

23/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 10 Bình luận

60 NĂM,
Trường Phan Bội Châu Phan Thiết…

Thư gởi bạn xa xôi,
tặng Trần Vấn Lệ
Tôi thi đậu vào Đệ thất (lớp 6) trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954, đứng hạng 7, được học bổng. Hồi đó, đậu vào Phan Bội Châu là một vinh dự lớn. Đến bây giờ, mỗi khi nhắc đến trường Phan Bội Châu Phan Thiết tôi vẫn còn nghe một chút gì đó nao nao!

Mãi đến năm 1952, Bình Thuận mới có một ngôi trường trung học công lập đầu tiên. Lúc đầu trường chỉ có vài lớp, mượn tạm một cơ sở nằm trên đường Saigon, nay là đường Trần Hưng Đạo. Năm 1954 cả trường cũng mới chỉ có mấy lớp, đệ thất, lục, ngũ. Đệ tứ thì phải ra Nha Trang hoặc vào Saigon học tiếp để thi Đíp-lôm (Trung học đệ nhất cấp). Thời đó, Trung học đệ nhất cấp là một kỳ thi cực kỳ khó, chỉ đậu chừng 10%, thi tất cả các môn học, có cả vào vấn đáp. Ai đậu Pri-me (tiểu học) đã là “oai” rồi, đậu Đip-lôm thì “nhất”!
Vào Đệ thất Phan Bội Châu được mấy tháng, chưa kịp biết hết bạn bè thầy cô thì tôi đã phải rời trường, khăn gói theo gia đình về quê Lagi, Hàm Tân sinh sống. Lúc đó Hàm Tân là tỉnh lỵ của Bình Tuy, tỉnh mới được thành lập, tách khỏi Bình Thuận, trực thuộc Nam phần. Thế là bỏ trường bỏ lớp, xa thầy xa bạn. Tôi tiếc và buồn lắm. Nhưng không cách nào khác. Mãi 3 năm sau Bình Tuy mới có lớp đệ thất đầu tiên trong một nhà thờ, tôi mới đi học lại. Hồi lớp Nhất, tôi học ở Bạch Vân, trong chùa Bà Đức sanh hội. Hết học chùa nay tới học nhà thờ là vậy! Nhờ học nhảy mà tôi đuổi gần kịp bạn bè cùng thời.
Bây giờ mỗi lần về Phan Thiết, tôi thấy mình vẫn quyến luyến nhiều hơn với ngôi trường Phan Bội Châu nhỏ bé, xinh xắn, xưa cũ đó của mình- ngôi trường nằm trên đại lộ Trần Hưng Đạo- khi chưa dời về đường Nguyễn Hoàng (Lê Hồng Phong) ngày nay.

Trường Phan Bội Châu cũ, nằm trên đường Saigon (nay là Trần Hưng Đạo)


Năm 2002, trường Phan Bội Châu kỷ niệm 50 năm ngày thành lập. Thầy Bình hiệu trưởng có mời tôi về nói chuyện với học sinh về “Tuổi mới lớn”. Dịp này trường có một cuộc triển lãm. Một quyển sổ cũ kỹ rất to gọi là Sổ Trước Sách ghi tên học sinh của trường từ lúc thành lập đến nay được trưng bày ở phòng truyền thống. Bạn ơi, có tên tôi trong đó đàng hoàng nhé! Anh Nguyễn Đình Tư (Tư Đình, nhà thơ Từ Thế Mộng, học sinh khóa đầu tiên, 1952) thấy tôi đứng nấn ná hoài bèn tìm cách photo gởi tặng tôi mấy trang.
Trong quyển Sổ Trước Sách của trường Phan Bội Châu lúc đó, tôi đứng số thứ tự 276. (Khóa tôi có 111 người vào đệ thất, từ số thứ tự 234 đến 345). Ở mục họ tên “Đỗ hồng Ngọc” – thời đó chữ lót viết không hoa- thấy ghi “ Ở lại đệ thất”, rồi lại có dấu đánh chéo, xóa tên. Tôi đoán lúc đầu chắc trường xét cho tôi ở lại lớp thôi nhưng lỗi “nghỉ lâu không xin phép” là quá nặng nên quyết định “xóa sổ” luôn! Mục năm sinh bạn thấy ghi 1942. Đó chỉ là “Thế vì khai sanh” thôi chớ tôi tuổi thiệt 1940. Thời chiến tranh, đa số trẻ con đi học trễ. Ở mục Lý lịch cũng ngộ: ghi con ông Đỗ đơn Trì, nghề: “chết” và bà Nghê thị Như, nghề: buôn bán. Thực ra cha tôi chết trong kháng chiến chống Pháp nhưng chỉ cần ghi nghề: “chết” , là đủ, không cần “ngày tháng nào? làm gì? ở đâu? ai biết?”… như kiểu bây giờ!
Bạn để ý địa chỉ: ở chùa Hải Nam, đường Trại cưa Phan Thiết (thuộc Đức Nghĩa). Gọi là đường Trại cưa vì ở đó có rất nhiều trại cưa dọc ven sông, chuyên xẻ gỗ cho người ta đóng thuyền cá. Tôi thường lang thang coi người ta đóng những chiếc thuyền khổng lồ ở đó. Đường Trại Cưa (nay là đường Trưng Nhị) dọc hữu ngạn sông Mương Mán (khu Trường Dục Thanh bây giờ), nơi có bến đò qua Chợ Gò bên kia sông, là nơi tôi thường qua lại để đến Nhà thương chữa bệnh. Nối tiếp đường Trưng Nhị, qua khỏi cầu, là đường Trưng Trắc, nơi có nhà những bạn bè tôi như Tải (Tâm), Quế, Tốt, Tươi…
Ở mục Ngày vào học thấy ghi: Đệ thất I, ngày 14/9/54. Ngày thôi học ghi: 30/11/55.
Tôi chưa học hết đệ thất, mới mấy tháng đã bỏ trường vậy mà trường vẫn “bảo lưu” danh sách học sinh cho tôi, mãi đến 30/11/55 mới chính thức xóa sổ.
Trong Lời phê của ông hiệu trưởng thấy ghi: “Khá, nhưng cần phải gắng học thêm”. Rồi trên đó lại có dòng chữ nhỏ hơn: “Xóa sổ vì nghỉ lâu không xin phép”- chắc là của người thư ký ghi sau khi có quyết định của hội đồng.
Trong quyển Sổ Trước Sách đó, mỗi học sinh có dán cái hình. Cười chết được. Mặt nào mặt nấy ngây ngô. Dễ thương làm sao! Mỗi người một vẻ. Con trai con gái. Ngộ nghỉnh. Tức cười. Cái hình tôi chụp ở Liên Hoa lúc 12 tuổi, mặc pyjama, đi guốc xuồng. Xanh lè, ốm nhom, suy dinh dưỡng nặng, cân được 25 kg ở nhà thuốc tây Phạm Tư Tề: mắt lồi (ốc bươu), mũi bự, tai vễnh, mặt quạu…!
Dù đã bị “xóa sổ”, bị… đuổi học gần 60 năm về trước tôi vẫn luôn coi mình là một “cựu học sinh” của trường, vẫn luôn tự hào đã từng là học sinh của Phan Bội Châu Phan Thiết ngay từ thuở ban sơ…
Năm nay trường kỷ niệm 60 năm ngày thành lập, tôi chắc cũng sẽ ghé về thăm một chút để mong gặp lại cái anh chàng mắt lồi, mũi to, tai vễnh… như hôm nào kia, nơi vườn Luxambourg, có người trông thấy một cậu học trò nhỏ, tay đút túi quần, cặp sách trên vai, vừa đi vừa nhảy nhót như một chú chim sẻ… Je vais vous dire ce que me rappellent… le ciel agité de l’automne… les arbres qui fissonnent…(Anatole France).
Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 3.2012)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tôi, Vài đoạn hồi ký

Gặp gỡ cuối tuần

23/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 9 Bình luận

PHỤ NỮ CHỦ NHẬT số 11 ngày 25.3.2012
Gặp gỡ cuối tuần
Nhắc đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lập tức chúng ta nghĩ ngay đến một nhân vật khá đặc biệt: lãng tử và phiêu bồng trong thơ, dí dỏm và mạch lạc khi viết về y học, trầm mặc và sâu lắng trong tạp bút và thỉnh thoảng ông cũng ký họa chân dung bạn bè…
Gặp ông, dù chỉ trong phút chốc tình cờ hoặc có hẹn trước, thế nào cũng thấy ông cười tươi và từ ánh mắt ấy, dường như luôn có sự quan tâm đến người đối diện. Ông không ồn ào và gần như ít la cà chốn đông người. Và cứ thế, lặng lẽ sống an nhiên và lao động hết mình, ông đã có nhiều tác phẩm quen thuộc với bạn đọc.
Lê Minh Quốc

+ Thưa anh, được biết, nhà văn nổi tiếng Nguiễn Ngu Í là cậu của anh. Thuở mới vào nghề viết, anh có học hỏi được gì từ người cậu rất cá tính, rất lạ lùng, rất “quái kiệt giang hồ” của mình?

Nhiều chứ! Tôi mồ côi cha sớm, lúc 12 tuổi sống trong chùa với bà cô ở Phan Thiết thì ông đến thăm, cho một đống sách báo rồi bắt tôi đi học…! Ngay lúc đó tôi đã thấy mình mê sách báo, muốn làm “nhà văn nhà báo”… như ông rồi! Nhưng tôi lại giấu biệt ông khi những bài thơ đầu tiên của tôi được đăng báo, đến lúc ông biết, ông khen có “giọng điệu” và “ý tưởng” riêng. Sau này, ông coi tôi như một người bạn… văn, có bài nào mới ông bắt tôi nghe và cho ý kiến. Có khi nửa đêm về sáng ông đập cửa, vào lục cơm nguội ăn, tắm rửa, rồi ngồi… chửi “cả và thiên hạ”…Càng lớn tuổi, bệnh điên của ông càng nặng hơn, nhiều đợt phải vào dưỡng trí viện Biên Hòa, nhà thương điên Chợ Quán. Tôi còn nhớ mấy câu thơ của ông: “Ta đi lang thang/ Ta nói tàng tàng/ Ta cười nghinh ngang/ Ta chửi đàng hoàng”…

+ Anh có nghĩ đến lúc nào đó gia đình sẽ in lại tác phẩm của nhà văn Nguiễn Ngu Í ?

Chắc rồi. Nhiều tác phẩm của ông còn có giá trị về văn học sử. Loạt bài phỏng vấn giới văn nghệ sĩ thời đó trên báo Bách khoa mới chỉ in được một cuốn: “Sống và Viết với…”, còn 2 cuốn “Sống và Vẽ với…”, “Sống và Đàn với…” chưa được xuất bản. Gia đình có làm một cuốn “Ngu Í qua ký ức người thân” (1997), với nhiều bài viết của Trần Văn Khê, Huỳnh Văn Tiểng, Bà Tùng Long, Lê Ngộ Châu, Lê Phương Chi, Đỗ Đơn Chiếu, Hoàng Hương Trang, Hồ Trường An, Đỗ Hồng Ngọc, Phan Chính … vẫn chưa được in. Ông cũng có các cuốn tiểu thuyết như Suối Bùn Reo, Khi người chết có mặt v.v…

+ Trước năm 1975, anh đã sáng tác thơ với bút danh Đỗ Nghê. Bài thơ Thư cho bé sơ sinh đã được dư luận lúc ấy đánh giá cao. Đâu là nguồn cảm hứng cho bài thơ này? Có phải nó báo hiệu cho hướng viết lâu dài về sau của anh?

Không. Trước đó tôi cũng đã có những bài thơ đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương… Nhiều bài cũng được bạn bè “đánh giá cao” như Em còn sống mãi, Tâm sự Lạc Long Quân, Lời ru, Cổ tích về ngôn ngữ v.v… Sau này tôi đã tập hợp in trong tập thơ đầu tay: Tình Người, Ý thức xuất bản, 1967. Bài “Thư cho bé sơ sinh” tôi viết vào năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, khi đỡ được một bé đầu tiên ra đời “mẹ tròn con vuông”. Tôi viết bài thơ ngay tức khắc trong chừng mươi phút, rồi còn cao hứng chép vào sổ phúc trình sau phần bệnh án, bị thầy HNM rầy “đỡ đẻ không lo đỡ đẻ lo làm thơ”! Thế nhưng hôm sau đã thấy bài thơ được ai đó viết lên bảng đen và được nhiều bạn bè đồng nghiệp lưu truyền…

+ Học giả Nguyễn Hiến Lê từng nhận xét về anh: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị!”. Đúng vậy. Là BS y khoa có tư duy rõ ràng, mạch lạc, nhưng trang viết của anh lại nhẹ nhàng bay bổng, lãng đãng như thơ. Bí quyết nào giúp anh có thể hài hòa được hai yếu tố “đối nghịch” ấy?

Tôi không có bí quyết nào cả. Tôi mê văn chương từ thuở nhỏ. Làm thơ, viết báo… từ hồi còn học phổ thông. Lớn lên học làm bác sĩ, một cái nghề như bất cứ cái nghề nào khác trong xã hội. Tôi không tin người ta “học” mà có thể viết văn làm thơ được. Nó phải là cái gì đó sẵn ở trong máu thịt, trong gen, trong… “thần kinh”!

+ Những tập sách Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng… nay vẫn tái bản đều đặn nhằm đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Vậy hóa ra, y học vẫn chưa mấy “tiến bộ” hơn trước, vì những tập sách đó anh đã viết từ mấy chục năm trước?

Kỹ thuật y khoa thì tiến bộ rất nhanh đó chứ, thay tim, thay thận, ghép gan, thụ tinh nhân tạo… nhưng mối quan hệ Thầy thuốc –Bệnh nhân thì không thay đổi mấy, vì ngàn năm trước ngàn năm sau con người vẫn sẽ còn đó những lo âu, sợ hãi, còn đó những khổ đau vì thất tình lục dục, sinh lão bệnh tử… Kỹ thuật y khoa càng tiến bộ thì càng cần hơn tính nhân văn trong y học vì nó đứng trước cái sống cái chết, cái đau cái khổ của kiếp người.

+ Bạn đọc “tuổi mực tím” rất thích được anh tư vấn, xin hỏi anh, hiện nay điều gì đáng lo ngại nhất ở lứa này, về vấn đề tâm sinh lý? Các bậc phụ huynh nên quan tâm đến con em mình vấn đề gì nhất?

Giới tính. Nhiều phụ huynh bây giờ hoảng loạn khi thấy con cái mình bỗng dưng… đồng tính luyến ái hoặc có thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên! Giáo dục giới tính do đó cần được quan tâm đúng mức, cần có một chương trình toàn diện từ gia đình đến học đường, xã hội để trang bị một thái độ sống, một gía trị sống phù hợp văn hóa trong một xã hội chuyển biến nhanh như hiện nay.

+ Các bà mẹ sinh con đầu lòng cũng hay “níu áo” bác sĩ “mát tay” là anh. Anh có đúc kết những sai phạm “chết người” mà thông thường các bà mẹ hay vấp phải? Vậy làm sao để tránh?

Hồi xưa thì do thiếu thông tin, do “dốt nát”, còn bây giờ thì do quá nhiều thông tin, do “thông thái” quá… nên dễ bị lường gạt, dụ dỗ… Bạn thấy đó, “thông tin sức khỏe” bây giờ đầy những quảng cáo “thông minh”- trong thời đại cái gì cũng smart- trên báo đài, trên internet, vừa hù dọa vừa dụ dỗ, con người ngày càng xa lạ với thiên nhiên, với chính mình, trở nên hoang mang, sợ hãi, dễ lọt vào những cái “bẫy” giăng mắc, tiền mất tật mang…

+ Tập sách Gió heo may đã về – viết về tuổi “hườm hườm” tức… “tuổi đá buồn”, anh lấy ca từ Trịnh Công Sơn để đặt các tựa. Vậy, nhạc Trịnh có sức hấp dẫn với anh như thế nào?

Nhạc Trịnh với tôi không chỉ để nghe mà để ngẩm, để ngấm. Nhiều ca từ tôi nghĩ phải ở trong thiền định mới thấy được.
Khi tôi đưa bản thảo Gió heo may đã về cho Trịnh công Sơn đọc, anh viết thêm một đoạn: “Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau”. Đó là lời trong bài hát Hạ Trắng của tôi. Bạc đầu có phải đã chớm già không. Theo tôi, bạn Đỗ Hồng Ngọc ạ, đó chỉ là thay đổi một màu tóc. Trời đất có bốn mùa. Con người cũng có những mùa riêng của nó”… (TCS).

+ Tập sách Những người trẻ lạ lùng đọc rất thú vị khi biết về những “riêng tư” của các nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Khê, Nguyễn Khắc Viện… Để được “trẻ lạ lùng” như vậy, anh có lời khuyên gì với những người đang ở tuổi “chớm già”- nhất là phụ nữ?

Ai rồi cũng “trẻ lạ lùng” như vậy cả nếu sống…lâu và sống hạnh phúc! Vừa rồi tôi có dịp đi nói chuyện với hội người cao tuổi về “Một tuổi già hạnh phúc”. Lúc đầu tôi định đặt tựa bằng một câu hỏi: Có không một tuổi già hạnh phúc? Nhưng sau đó tôi chuyển thành một câu khẳng định. Bởi người ta có thể hạnh phúc khi “trẻ lạ lùng” đó bạn ạ!

+ Già ơi… Chào bạn! là tập sách anh viết lúc đang nằm dưỡng bệnh và cũng để “tự chữa bệnh cho mình” – như anh đã cho biết. Xin hỏi, chẳng lẽ văn chương cũng có khả năng đó sao? cũng có thể giúp con người thanh lọc và chữa bệnh?

Có. Văn chương chẳng đã làm cho người ta rướm lệ, cho người ta hả hê vui sướng đó sao? Nói khác đi văn chương có thể “gây bệnh” hoặc “chữa bệnh”, làm cho người ta thêm đau khổ hay làm cho người ta thêm hạnh phúc được lắm chứ. Nhiều thầy thuốc đã trở thành nhà văn vì có dịp tiếp xúc với “con người” một cách tròn vẹn: thể chất và tâm hồn. Những Tchekov, Lỗ Tấn, Somerset Maugham, Cronin… và ở ta cũng không thiếu.

+ “Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương”. Đọc Nghĩ từ trái tim, bạn đọc thấy đậm đà triết lý Phật giáo. Vậy chất “từ bi hỉ xả” có thể giúp con người trị bệnh không?

Được quá đi chứ! Đa số cái bệnh là do cái hoạn, cái đau là do cái khổ mà ra. Cuộc sống đầy stress, căng thẳng, tranh giành, được mất, hơn thua… phát sinh từ lòng tham sân si của mỗi con người. Nếu có một trái tim biết “từ bi hỷ xả” thì mọi thứ đã khác hẳn.

+ Nếu cùng một lúc có ba đối tượng: hài nhi, phụ nữ và ông lão. Cả ba đều cần kíp đến chuyên môn của một bác sĩ. Chỉ được chọn một trong thời điểm “thập tử nhất sinh” ấy, anh chọn đối tượng nào?

Tôi la lên cho có nhiều người đến giúp. Trong cấp cứu y khoa tôi học được như vậy. Phải kêu cứu. Sau đó, đánh giá mức độ nặng nhẹ và khả năng cứu chữa để chọn ưu tiên can thiệp. Không có sự “phân biệt đối xử” trong y khoa. Một cô hoa hậu viêm ruột thừa thì cũng giống như bất cứ một cô gái nào khác viêm ruột thừa thôi!

+ Nếu cho anh chọn một điều ước có tầm ảnh hưởng cho phụ nữ – “một nửa thế giới của đàn ông”, anh sẽ ước gì?

Ước phụ nữ là phụ nữ chớ đừng biến họ thành đàn ông! Hiện nay có lẽ do nhiều phụ nữ biến thành đàn ông quá nên đàn ông bèn có khuynh hướng… biến thành phụ nữ, hoặc đàn ông đi… tìm đàn ông để kết bạn! Rắc rối sinh ra từ đó!

+ Người phụ nữ đẹp, theo anh, cần phải có những yếu tố nào – nhan sắc hay sức khỏe?

Không phải nhan sắc, cũng chẳng phải sức khỏe, mà chính là cái tâm hôn của người đó. Bùi Giáng có lần viết: “Em ơi em đẹp vô cùng/ Vì em có cái lạ lùng bên trong” và tôi thêm “Em ơi em đẹp vô song/ Vì em có cái bên trong lạ lùng”! Cái đẹp bên trong đó mới tạo ra thứ nhan sắc không tàn phai, và chính nó cũng tạo ra sức khỏe, là thứ sảng khoái vế thể chất, tâm thần và xã hội như ta biết. Muốn có cái đẹp bên trong đó, phải rèn luyện, phải học tập… dài lâu, nền nếp. Trong khi sửa mắt sửa mũi, độn ngực độn mông có thể làm ngay tức khắc. Cái đáng lo bây giờ là người đẹp nào cũng giống… người đẹp nào, vì cùng một khuôn mẫu cả!

+ Theo anh, một gia đình như thế nào là có “chất lượng sống”? Tại sao ở VN hiện nay chưa mấy gia đình đạt đến?

“Chất lương sống” là cảm nhận ở mỗi cá nhân, ngoài những tiêu chuẩn chung có thể đo đạc được. Một gia đình gồm những thành viên có “chất lượng sống”, không chắc sẽ là một gia đình có chất lượng sống. Cho nên hỏi “Tại sao ở VN hiện nay chưa mấy gia đình…” tôi không biết trả lời sao. Bạn thử chỉ giùm tôi một vài gia đình có “chất lượng sống” để làm mẫu xem sao nhé? Báo Phụ Nữ có thể làm một hội thảo về vấn đề này được rồi đó.

+ Trong đời sống hằng ngày, anh có tự nhận mình là người chồng hạnh phúc và mẫu mực?

Tôi cũng không trả lời được vì không có cái định nghĩa, cái chuẩn thế nào là người chồng hạnh phúc, thế nào là người chồng mẫu mực. Có người mẫu mực mà không hạnh phúc, có người hạnh phúc mà không mẫu mực. Vả lại, hạnh phúc là gì người ta cũng không biết rõ lắm. Nhiều khi mất hạnh phúc rồi mới biết đó là hạnh phúc. Cho nên, “liệu cơm gắp mắm” thôi bạn ạ. Đòi hỏi quá không được đâu!

+ Bài thơ tình, tạp bút viết xong, ai là người đầu tiên chia sẻ với anh?

Tôi. Tôi chia sẻ với mình. Thường viết xong, tôi để cho nó “hoai” đi, “nguội” đi và sau đó mấy hôm đọc lại bằng một con mắt khác, thấy ổn là được.

+ Một người đàn ông lịch lãm, thành đạt và có tâm hồn như anh chắc có nhiều cô mê như điếu đổ. Anh có bao giờ “say nắng” bởi ai khác ngoài vợ không?

“Say nắng” là một thứ bệnh, có khi phải đi cấp cứu đó bạn ạ! Tóm lại, không nên “say nắng”. Tôi không phải là một người đàn ông lịch lãm như bạn nghĩ, trái lại, hơi quê mùa và cục mịch. Rất lù khù, nhát gái từ hồi còn nhỏ. Còn “thành đạt” theo nghĩa nào còn tùy. Nếu thành đạt là… đại gia, nhà cao cửa rộng thì tôi không có. Tôi sống “tri túc”: “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thì lui” là hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị mà tôi rất thích. Cảm ơn bạn đánh giá cao nhưng cho đến giờ này tôi chưa thấy có cô nào mê mình như điếu đổ cả!

+ Anh sinh hoạt hằng ngày như thế nào để có thể luôn giữ được sự bình quân từ tâm hồn đến sức khỏe?

Rất đơn giản. Gần gũi với thiên nhiên chừng nào tốt chừng đó. Tôi nhận ra “hạnh phúc rất đơn sơ” bạn ạ. Sống trong hiện tại, sống trong “chánh niệm” thì sẽ phát hiện nhiều điều hay. Chẳng hạn chỉ cần biết thở “chánh niệm”, bạn sẽ ngạc nhiên:

Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa…
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…

Bạn đừng nghĩ nó là thơ và bảo sao thơ gì mà dở ẹc vậy nhé! Nó không phải là thơ đâu. Nó là thở.

+ Nếu được nói về vợ, anh sẽ nói điều gì?

Biết nói gì đây! Cách đây mươi năm, tôi có viết một bài “thơ” tặng vợ như mọi người “làm thơ” hay làm:

Dẫu thế nào đi nữa
Em hãy còn trẻ măng
Dẫu thêm ngàn năm nữa
Em còn thua tuổi anh!

+ Xin cảm ơn anh.

LÊ MINH QUỐC
(nhà thơ)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

21/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Cảm ơn em, “Tâm si-đa”

Tôi biết Tâm từ những lớp tập huấn về HIV/AIDS do Trung tâm Truyền thông –giáo dục sức khỏe Tp. HCM tổ chức. Tâm xanh xao, ốm yếu, gầy nhom, nhưng mạnh mẽ, quyết liệt, thẳng thắn và trung thực. Tôi đánh giá cao sự đóng góp tích cực của Tâm trong chương trình Phòng chống HIV/AIDS, đặc biệt trong các hoạt động giáo dục đồng đẳng. Sau này tôi quý mến Tâm hơn khi biết em đang nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc cho các bé nhiễm HIV.

Khi có những ưu tư, thất vọng, nản lòng, lại thấy Tâm… gõ cửa. Có khi Tâm hớt hải xin một cái giấy giới thiệu, một lá thư tay để kịp đưa một bé vào bệnh viện; có khi Tâm kêu cho ít tiền để mua vé xe đò cho một bé gái vừa thoát khỏi ổ mại dâm… Những lúc như thế, bao giờ trong tôi cũng có cái cảm giác mến phục cô gái nhỏ bé mà rắn rỏi này.

Tôi mừng vì nay Tâm đã có được một tập Hồi Ký. Điều rất đáng quý, Tâm viết Hồi ký như là một cơ hội để kiếm chút đỉnh tiền nuôi các “con” nheo nhóc của mình.
Từ chuyện đời thực của mình- qua lời kể chân thành của Tâm- nhiều khi làm cho chúng ta phải lặng người, phải giật mình, sửng sốt…

Như một nhắn gửi, một cảnh báo.

Đọc, thấy rưng rưng…

Tôi nghĩ như có cái gì đó – một cái “nghiệp“ – đã thúc đẩy Tâm tự đem thân mình trải nghiệm nỗi gian truân của cuộc đời để rồi từ đó mà có tấm lòng vị tha, có bàn tay nhân ái, cưu mang bao cảnh đời tối tăm, nghiệt ngã.
Nhà xuất bản muốn tôi viết đôi dòng để giới thiệu tập Hồi ký này, tôi thấy chỉ cần nói một câu: Cảm ơn em,“ Tâm si-đa”.
BS Đỗ Hồng Ngọc.

NGƯỜI MẸ ĐẦY NGHỊ LỰC

Trương Thị Hồng Tâm hay “Tâm si-đa” không phải là một cái tên xa lạ với những ai quan tâm đến công tác truyền thông phòng chống AIDS. Có rất nhiều bài báo viết về chị, đặc biệt là khoảng thời gian đen tối của quá khứ khi chị còn là một người nghiện ma túy nặng, một cô gái bán dâm luôn phập phồng lo lắng những đợt truy quét, một người với “thành tích” nhiều lần trốn trường trại…mà xuất phát điểm của cô gái ấy còn là một quá khứ đau lòng, một thân phận. Nay, bài viết này chỉ xin đề cập đến một khía cạnh khác, một phần đời khác của chị – là một người mẹ của nhiều đứa trẻ mắc bệnh AIDS.

Đoàn Kim Ngọc
(Thế giới Mới, 19.3.2012)

Ấn tượng lần gặp đầu

Tôi gặp chị Tâm vào một ngày nắng nóng. Chị chở hai đứa con đi nhận thuốc ở bệnh viện về rồi,ghé ngang chỗ hẹn luôn. Chị bảo vừa cho hai bé tự về bằng xe ôm. Tôi ngạc nhiên vì sự tự lập của những đứa trẻ, lớn nhất chỉ vừa 15 tuổi, bé nhỏ nhất cũng chỉ mới vào lớp 1. Chị nói: phải tập cho các con tự lập, chị đâu thể lúc nào cũng kè kè bên.

Gặp được chị, chị liền nói ngay lý do chị đến trễ. Vốn là chở hai đứa đi bệnh viện, khi đến đấy, chị có việc nên để hai bé tự chờ nhận thuốc, lát chị quay lại thấy ngay bé Lý (bé lớn nhất) đang khóc rưng rức. Hỏi gì cũng cứ ậm ừ không nói, sau một lúc tìm hiểu chị mới biết bé Lý “bị” tư vấn tâm lý. Dùng chữ “bị” là vì theo chị, tư vấn mà đề cập kiểu “Em có biết em bị Siđa không?” hoặc “Em có biết Siđa là gì không?” sẽ khiến những đứa con chị mất tinh thần hẳn vì sự tự ti và mặc cảm mình mắc phải một căn bệnh mà đến bây giờ xã hội vẫn còn không ít thành kiến.

Dỗ mãi cô bé mới nín khóc. Nhìn cách dỗ con của chị, cách rầy la của chị sẽ không ai biết được hai bé đều là con nuôi của chị. Chị hay nói đùa là “con ngang hông” nhưng chị coi những đứa trẻ kém may mắn ấy như con ruột. Mà chị cũng đâu có con ruột để so sánh như hay không, chỉ biết dùng hết sức mình yêu thương, lo lắng và che chở cho những số phận này.

Một số phận thăng trầm

Chị là Trương Thị Hồng Tâm nhưng cái tên Tâm si-đa được nhiều người biết đến hơn sau nhiều năm gắn bó với công tác tuyên truyền và phòng chống căn bệnh thế kỷ này. Chị không giấu quá khứ từng là làm gái, nghiện ma túy và với “chiến tích” trốn trường trại mà ngay cả chị cũng không thể đếm xuể. Thế nhưng, điều chị muốn nói không phải là quá khứ “lẫy lừng” ấy hay vì đâu mà chị có thế cay nghiện sau nhiều năm hút, chích. Điều mà chị nói nhiều nhất bây giờ là các con của chị, những đứa trẻ mà số phận đã rung rủi để chị gặp chúng rồi yêu thương chúng . Cho dù khó khăn đến mấy, chị cũng không thể nào bỏ mặc được. Chị không có điều gì khác những người mẹ tảo tần, vất vả nuôi con trong điều kiện kinh tế khó khăn. Nếu có khác, có lẽ chị có nhiều nghị lực hơn để những đứa con của chị có nơi nương tựa, có chút an ủi trong cuộc đời đầy bất hạnh.

Chị hiện tại đang nuôi bốn trẻ, nếu tính thêm một bé chiều đi học về ghé nhà chị ăn cơm nữa là năm. Với mức lương hiện tại của chị đang công tác ở nhóm Nụ Cười thì chị không đủ nuôi chị, đừng nói đến nuôi bốn đứa con mắc bệnh hiểm nghèo. May nhờ có sự giúp đỡ của một linh mục đang sống tại Nhật và thỉnh thoảng có sự góp sức của các mạnh thường quân mà các con của chị có được một chế độ dinh dưỡng tương đối để có đủ sức chống chọi với bệnh tật.

Mỗi đứa trẻ là một khoảng đời, một số phận nhưng chung hết là ba mẹ chết vì nhiễm AIDS, có đứa mẹ vẫn còn sống nhưng không mảy may quan tâm đến con mình. Cũng vì thiếu tình thương từ thuở nhỏ nên chị đã yêu thương chúng, quan tâm chúng rất nhiều để những đứa trẻ ấy không có cảm giác bị bỏ rơi như chị ngày xưa. Chị kể có những lúc khó khăn tưởng như có thể buông xuôi hết tất cả nhưng rồi nghĩ đến chặng đời không lối thóat như ngày xưa đến sự giúp đỡ chân thành của những người bạn luôn muốn mình sống tốt, rồi sau này là những đứa con chị đang cưu mang mà cứ tiếp tục cố gắng. Và phần thưởng lớn nhất của chị không gì ngoài tình thương của các con dành cho chị.

Cám ơn Đời và sống
Trong những người thường xuyên giúp đỡ chị, người đầu tiên chị nhắc đến là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chị nói : Bác sĩ Ngọc là người đầu tiên cho chị biết trên đời này vẫn còn người tốt, vẫn còn có người nói chuyện với chị như những người bạn với nhau, không hề xem chị là “dưới đáy xã hội”. Cũng chính bác sĩ Ngọc đã không ít lần giúp chị, mà đúng hơn là giúp đỡ các con chị, khi thì một giấy giới thiệu, khi thì vài trăm ngàn…

Với chị bây giờ có lẽ không gì hơn ngoài các con chị. Điều chị lo lắng bây giờ không gì ngoài các con chị. Nhất là khi sức khỏe chị không được tốt như trước nữa. Chị chia sẽ rằng chị đã chuẩn bị một ít tiền dành cho các con, mỗi đứa một tài khoản, tuy không nhiều nhưng đó là tất cả tài sản của chị. Chị không dành cho mình điều gì ngoài niềm vui sống và tình thương của các con.

Tôi hỏi chị: nhìn lại chị thấy lúc nào là lúc đau khổ nhất trong cuộc đời chị? Chị nói rằng chị không biết vì cũng có những lúc chị rất sướng, nhưng cũng có lúc không có bộ đồ mà mặc, phải đi thuê. Dường như quá khứ ấy, như ánh nắng buổi trưa nay bay vèo đâu mất chỉ còn lại những áng mây trong buổi chiều. Cuộc sống chị bây giờ, có lẽ đã có những áng mây rất xanh như nụ cười hồn nhiên của các con chị và vời vợi bầu trời tương lai mà chị cố gắng đem lại cho các con.

Đoàn Kim Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Đọc sách

Thở đúng cách để chữa bệnh

16/03/2012 By support2 60 Bình luận

Xuân Thái
(Cảm nghĩ về buổi nói chuyện THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH của BS Đỗ Hồng Ngọc)
Từ hàng ngàn năm nay, con người đã biết tự chữa bệnh cho mình qua Yoga, Khí công và Thiền học. Tuy nhiên, qua các cánh rừng lý luận bao la đầy vẻ âm u kỳ bí của các pháp môn này đã làm cho nhiều người ngán ngại, sợ hãi.
Dù vậy, tất cả các pháp môn ấy giống nhau ở một điểm chung nhất, đó là đều thấy hơi thở là trọng yếu hàng đầu, hơi thở quyết định sức khỏe và sự sống.
Có thể nhịn ăn nhiều tuần lễ cũng không sao, nhịn uống nhiều giờ vẫn chưa có gì trầm trọng nguy hiểm, nhưng chỉ ngưng thở 10 phút thì sự cố liền xảy ra và có thể gây mất mạng như chơi.
Yoga cho rằng: 99 % con người hiện nay đều KHÔNG BIẾT THỞ.
Đã sống ai mà không thở, cũng chẳng cần phải học hỏi hoặc tập tành gì nhưng ai cũng thở được.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ở nơi xa thầy thuốc, Thầy thuốc và bệnh nhân Tag với:Bac si Do Hong Ngoc, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập thở để chữa bệnh và sống cho hiện tại

16/03/2012 By support2 14 Bình luận

Tạ Ân Phúc
(Tường thuật buổi nói chuyện THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)
Trong cuộc sống hàng ngày, người ta thường hỏi thăm nhau về sức khỏe, gia đình, công ăn việc làm… Có thể thấy sức khỏe là vốn quý của con người, nó liên quan đến thể chất, tinh thần và xã hội, nhưng thông thường người ta hay lưu tâm về thể chất hơn và nó thể hiện qua tình trạng có bệnh hoặc thương tật hay không. Khi sức khỏe thể chất suy giảm, chúng ta thường nghĩ đến việc ăn uống bồi bổ và chữa trị thông qua thuốc men, ít ai chăm lo hay quan tâm đến hơi thở của người bệnh. Thực ra, thở rất quan trọng đối với sức khỏe, có khi nó còn quan trọng hơn cả ăn uống. Thở liên quan đến việc cung cấp oxy nuôi dưỡng các cơ quan trong cơ thể. Không chỉ đối với người bệnh mà đối với người ở trạng thái sức khỏe bình thường, đôi khi chúng ta vẫn thiếu oxy trong cơ thể do phải sống trong môi trường khói bụi, ô nhiễm. Thật cần thiết để tập luyện hơi thở, từ đó cơ thể có đủ lượng oxy để nuôi dưỡng những tế bào đang hoạt động và làm khôi phục các tế bào bị tổn thương. Nhận biết và kiểm soát hơi thở đúng phương pháp sẽ giúp con người khỏe mạnh và là một trong những phương pháp chữa trị bệnh tật.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Ở nơi xa thầy thuốc Tag với:Bac si Do Hong Ngoc, Đỗ Hồng Ngọc - Bác sĩ

Để giảm tải bệnh viện

14/03/2012 By support2 Để lại bình luận

Ghi chú: Bài này đã được trích một phần đăng trên báo Phụ Nữ Tp.HCM nhân ngày Thầy thuốc VN 27.2 vừa qua. Nay đăng lại toàn văn để chia sẻ cùng các bạn về một vấn đề “nóng” hiện nay của ngành Y.
ĐHN.

Quá tải bệnh viện đang là một vấn nạn lớn của ngành y tế nhiều năm qua chưa giải quyết được. Thực ra, giảm tải bệnh viện không khó ! Câu hỏi cần đặt ra là : Tại sao quá tải ? Quá tải ở đâu ? Làm cách nào để giảm tải ?…

Và câu trả lời đơn giản: Quá tải là bởi vì bệnh nhân quá đông, bệnh viện không đủ giường nằm, nhân viên thiếu… ; y tế tuyến dưới không đủ điều kiện cơ sở vật chất, không tạo được niềm tin, bệnh nhân dồn về tuyến trên v.v…

Vậy nếu có cách nào đó làm cho dân ít bệnh đi, giường dôi ra, tăng niềm tin vào y tế ở tuyến dưới ( gọi là y tế cơ sở), sẽ giải quyết được vấn đề.xem tiếp …

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định Tag với:BS Đỗ Hồng Ngọc, Do Hong Ngoc

Thơ: Rùng Mình (bản dịch Ý và Pháp)

05/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 5 Bình luận

Ghi chú: Nhà văn Trương Văn Dân, tác giả tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” cùng vợ là Elena Pucillo Truong, người Ý, nói đã xúc cảm, “rùng mình” dịch bài thơ Rùng Mình của tôi sang tiếng Ý và tiếng Pháp. Chị Elena là tiến sĩ ngữ văn, tác giả vài truyện ngắn có tiếng gần đây trên báo chí, theo chồng về nước dạy tiếng Ý và tiếng Pháp, hiện đang sống và làm việc tại Tp.HCM. Xin được chia sẻ cùng các bạn.
Cảm ơn Trương Văn Dân và Elena.

ĐHN

Rùng mình…
Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
Vì sao núi lửa cứ phun trào?
Vì sao băng tan vì sao bão táp…?
Vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
Vì sao và vì sao?…

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
Vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
Vì sao và vì sao?

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân e Elena Pucillo Truong)

FRISSONS !

Frissonant, l’Homme demande:
Pourquoi les tremblements de terre et les tsunamis
Continuent à arriver un jour après l’autre?

Pourquoi les volcans continuent à éclater ?
Comment arrive-t-il que les glaciers fondent, les typhons détruisent?
Pourquoi les enfants et les personnes âgées
Sont entraînés et sont reduits en cendres ?

Les maisons s’effondrent et les ville sont détruites
Comme si elles étaient des jouets d’un enfant en colère.
Et pourquoi, pourquoi ?

Et maintenant écoute
Seulement un instant…..

Frissonant la Terre demande également:
Comment arrive-t-il que les montagne continuent à s’effriter ?
Pourquoi les rivières viennent bloquées?
Comment arrive-t-il qu’on continue à percer le fond de la terre?
Pourquoi les oiseaux de forêts, les poissons de la mer
n’ont plus un endroit où vivre?
Pourquoi les arbres sont déracinés?
Pourquoi le riz , le maïs sont génétiquement modifiés?

Et pourquoi, pourquoi?
Une fois on s’appuyait l’un à l’autre
Il semble que maintenant nous n’avons plus besoin les uns des autres.
La Terre frissonne
L’Homme frissonne
Chacun pour son propre compte.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Pháp của Elena Pucillo Truong)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Đi khám bệnh: thơ Trần Vấn Lệ

02/03/2012 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Đi Khám Bệnh

Bác Sĩ cười vui:
“Anh chẳng bệnh, chỉ buồn, không thuốc chữa buồn đâu!”.
Ông đưa tay bắt, bàn tay ấm.
Tôi nói:
“Cám ơn”
Và cúi chào.

Tôi đi ra cửa. Ngang vườn hoa. Trời đã gần trưa, nắng chói lòa.
Hoa nở nhiều hơn hồi nãy tới. Tôi mừng. Không bệnh, khỏi âu lo.

Mà kỳ, khi bước vào xe, mở, máy nổ rồi sao lại ngẩn ngơ?
Sao lại…Như là nghe tức tức, nghe tim đập mạnh, nhặt rồi thưa…

Nhìn sang bên cạnh, em không có. “Lâu lắm mình không ở cạnh nhau”.
Tôi nhớ bốn câu ai đó viết nói về đau lắm một cơn đau (*).

Gục đầu trên cái volant ấm, tôi nhớ bàn tay Bác Sĩ ghê…
Thôi, phải về thôi, không nán được, vườn hoa con bướm cũng vừa bay.

(*) Thơ TchyA:
Em đi từ đó phòng anh vắng
Bút gỉ hồn tan sách bụi nhàu
Mực bỗng khô khan, tim bỗng héo
Can tràng bỗng rạn vết thương đau!

Trần Vấn Lệ

Viết thêm: Sáng nay Trần Vấn Lệ gởi tôi bài thơ này và hỏi bạn có khám bệnh cho ai như vậy chưa? Tôi nhớ mình có khám cho nhiều nhà thơ rồi nhưng không ai kỳ cục vậy. Trần Vấn Lệ và tôi cùng học chung lớp Đệ thất Phan Bội Châu, Phan Thiết, năm 1954, khi trường vừa thành lập được hai năm. (Năm nay, 2012, PBC vừa đúng 60 năm!). Bây giờ lớp chúng tôi mỗi đứa một phương, và đều trên dưới 70 cả rồi! Trần Vấn Lệ làm thơ rất “ướt át”, – chắc tại cái tên của anh- mặc dù, anh thừa biết thực ra, Lệ ở đây là tráng lệ, là nguy nga, mà anh cứ làm bộ như là “nước mắt”! Anh vốn mê những tà áo dài, những con đường nhỏ, những ngọn đồi, những sông hồ núi biển…từ Phan Thiết cho đến Đà Lạt của ngày xưa.
Hôm qua tôi ngồi với mấy người bạn cũ Phan Bội Châu Phan Thiết, cùng nhắc Trần Vấn Lệ, kẻ quên người nhớ… nhưng biết bao kỷ niệm của tuổi thơ đã gợi lên một Phan Thiết của ngày nào. Nói về cái “giọng phan thiết”, sao mà nghe như cộc lốc, thô lỗ, “dùi đục chấm mắm nêm”. Thì ra ở một nơi “ăn đầu sóng nói đầu gió” như vậy người ta không thể không to tiếng, không thể không vắn tắt, nghe cứ như gắt gỏng, gây gổ, lạnh lùng. Nghe quen rồi mới biết nó tha thiết, nó thắm thiết là dường nào!
Rồi cái kiểu “ngồi phan thiết”. Cái kiểu ngồi “chồm hổm” hơi khó coi- rồi biến tướng thành “chè hẻ”, “chò hỏ” nữa- nhưng đều mang những ý nghĩa thâm thúy khác nhau mà chỉ dân Phan Thiết mới hiểu nổi! Thực ra, ở một vùng biển đầy gió cát như thế, muốn ngồi cho vững chỉ có cách “chồm hổm” là tốt nhất! Nhưng “chè hẻ” thì khác. Các bà má hay rầy: con gái gì mà ngồi chè hẻ, không ý tứ gì hết! “Chò hỏ” lại khác nữa! Mày hết chuyện làm rồi sao ngồi chò hỏ đó?
Lại nói chuyện “bánh căn”. Tôi kể bài “Bánh Căn phan thiết” của tôi được báo Bình Thuận Du lịch đăng lại một cách trang trọng. Khi viết tôi dùng chữ “đổ” – đổ bánh căn– thì Trần Vấn Lệ nhắc còn có từ “đúc” nữa – “đúc bánh căn”! Ừ, “đúc”, tôi cũng có biết. Mấy đứa con gái hay bày trò chơi “đúc bánh căn” thì phải. Cát trộn với nước cho vào khuôn đúc một cái… là xong! Tiền bằng lá cây. Vô số!
Rồi cùng nhắc Dũng Chinh, Minh Quốc, Trần Thiện Thanh, nhắc Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn… rồi cả Hàn Mặc Tử, Mộng Cầm…
Ôi, cái Phan Thiết nhỏ xíu!
Đỗ Hồng Ngọc.
(2.3.2012)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 90
  • Trang 91
  • Trang 92
  • Trang 93
  • Trang 94
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email