Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

SAO LÒNG TA CHƯA NGUÔI (Đọc THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ)

01/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

SAO LÒNG TA CHƯA NGUÔI

(ĐỌC THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ)

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy – Đại học Sư phạm Huế

 

Xưa, Vĩ Sinh yêu một người con gái. Hai người hẹn gặp nhau ở dưới chân cầu. Cô gái không đến. Vĩ Sinh vẫn cứ đứng dưới chân cầu đợi người yêu. Chiều tối, thủy triều dâng lên ngập chết Vĩ Sinh.

Câu chuyện trên là một trong những tiểu thuyết đầu tiên của văn học Trung Quốc. Tiểu thuyết – thể loại có dung lượng đồ sộ nhất – ban đầu chỉ nhỏ bé như lòng bàn tay. Vì vậy, nó được đặt tên là tiểu thuyết (tiểu là nhỏ, thuyết là lời nói, lời dạy; tiểu thuyết nghĩa là lời nói, lời dạy nhỏ không đáng coi trọng). Tên gọi đó cho thấy đây vốn là thể loại nhỏ nhất, ngắn nhất, kém giá trị nhất của văn học Trung Quốc. Vậy mà, qua trường kỳ lịch sử, tiểu thuyết dần lớn lên, vượt qua các thể loại khác, trở thành người khổng lồ của văn học.

 

 Cầm trên tay tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê, tôi chợt nghĩ đến tên gọi của tiểu thuyết. Bởi vì tác giả Đỗ Hồng Ngọc đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Thơ ngắn. Thế nào là ngắn? Thế nào là dài? Ngắn nhất là tiểu thuyết, dài nhất cũng là tiểu thuyết. Ngôn hữu tận, ý vô cùng. Làm sao so ngắn dài khi Lý Bạch đã từng khẳng định: “Thi thành thảo thụ giai thiên cổ” (Bài thơ làm xong, cỏ cây đều đã trở thành thiên cổ). “Thiên cổ” là nghìn xưa, là quá khứ. Đối với người phương Đông, quá khứ bao giờ cũng gắn với giá trị. Con dấu thời gian mỗi khi đã chạm khắc vào một sự vật hiện tượng gì thì bản thể đó mặc nhiên có giá trị. Bài thơ làm xong, tất cả thoắt trở thành thiên cổ. Câu thơ hay thường được khen là “thiên cổ lệ cú” (câu thơ đẹp ngàn năm). Giá trị của thơ ca, của văn học không thể đo bằng sự ngắn dài của câu chữ, mà chỉ có thể đo bằng sự ngắn dài của ý nghĩa nhân sinh, của thành tựu nghệ thuật và sức sống của nó trong lòng người đọc. Tuy nhiên, khi thơ càng ngắn, độ hàm súc càng cao, ý nghĩa càng bung tỏa thì lại càng thú vị. Có lẽ đây là quan niệm về thơ mà tác giả Đỗ Hồng Ngọc tâm đắc, nên đã lấy thể thơ ngắn làm đại diện cho cả những bài thơ dài trong toàn tập.

Đề tài của Thơ Ngắn Đỗ Nghê khá rộng: vũ trụ, quê hương, tình yêu, nỗi nhớ, thiền tập… Hầu như tác giả đã “chắt mót” tất cả các cảm xúc với thiên nhiên, tôn giáo và con người để dồn vào tập thơ này. Nếu gọi tập thơ là Tạp thi thì đúng hơn. Tạp thi nghĩa là thơ lặt vặt. Lặt vặt ở đây không có nghĩa là vặt vãnh, mà là gần gũi, giản dị, quen thuộc, thô mộc… Đó có thể là một thoáng suy tư, một chút bâng khuâng, một niềm nhung nhớ, nỗi luyến tiếc hoặc một trò tinh nghịch… Tất cả đều nhẹ nhàng, hồn nhiên và rất đỗi thẳm sâu. Có những bài thơ, câu thơ ngắn như một hơi thở, một cái trở mình nhưng ý nghĩa lại cứ dài ra theo dòng suy ngẫm của người đọc:

“Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…” (Trái đất)

Đêm của nơi này là ngày của nơi kia. Một cái tỉnh giấc nơi đất khách, nhớ đến quê nhà, chợt nhận ra sự mênh mông của Trái đất và sự luân chuyển khôn cùng của thời gian. Bài thơ còn mang ý nghĩa triết lý về tính tương đối: đêm ngày, khái niệm, nhận thức, chân lý… tất cả chỉ là tương đối. Sự tương đối đó chính là cái hữu hạn của con người trước cái vô hạn của thế giới đầy bí ẩn, bao la.

Bài thơ Sóng lại nhắc nhở người đọc về quan niệm duyên khởi của Phật giáo: “Sóng/ Quằn quại/ Thét gào/ Không nhớ/ Mình/ Là nước”. Bài Nước lại mang triết lý về sự trôi chảy của thời gian, sự miên viễn của vũ trụ, sự huyền nhiệm của tính thiền:

“Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu

…

Nước vẫn muôn đời

Không đi chẳng đến

Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu…”

Không đi chẳng đến, vô thủy vô chung, mềm mại như sông và quằn quại thét gào như sóng, nước vẫn an nhiên trôi chảy từ ngàn năm trước đến ngàn năm sau. Khi ta cảm nhận được sự mênh mông ấy của nước, gió, trăng, sao thì tâm hồn và thể xác ta đã hòa cùng vũ trụ: “Vũ trụ chừng nhỏ lại/ Còn chút xíu trong ta!” (Vũ trụ). Ta không còn “là Một, là Riêng, là Thứ nhất” như ông hoàng Xuân Diệu nữa, ta đang “bay vù vù trong không gian” trong từng sát-na. “Mỗi ngày ta rơi rụng/ Mỗi ngày ta phục sinh/ Mà cứ tưởng không hề thay đổi…”. Đó chính là Vô thường, là sự đổi thay qua từng chớp mắt. Vô thường mà không mất mát, vô thường để thấy ta trong vạn vật và vạn vật trong ta. Sự hòa điệu giữa con người – tiểu vũ trụ và vạn vật – đại vũ trụ trong thơ Đỗ Hồng Ngọc theo quan niệm vô thường và duyên khởi mang lại cho người đọc cảm nghiệm mới về thời gian, về sự sống trong guồng quay của tạo hóa. Nó thôi thúc con người ý thức về mối quan hệ của cá nhân và vũ trụ, để kết nối, để sống hết mình trong sự sống chứ không phải để thở than nhân sinh như mộng.

Vô thường trong thơ Đỗ Hồng Ngọc nhiều khi là sự hiện hữu chứ không phải hư vô, ở cái còn chứ không phải là cái mất. Trong những bài thơ về Mẹ, về La Ngà, ta học được cách quên nỗi đau, chấp nhận lẽ tử sinh từ những hình ảnh, chi tiết bình dị nhất. Ánh mắt người mẹ luôn dõi theo con, nụ cười mẹ như thấu hiểu mọi hỷ nộ ái ố, lúng túng, lần khân, láu lỉnh… của con. Nụ cười của mẹ trên bàn thờ trở thành tấm gương soi của con. Đó là nụ cười sống động, nụ cười bất tử mang tâm trạng và tình cảm yêu thương trìu mến của người ngắm nhìn qua mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm. Đối diện với nụ cười của mẹ, hẳn rằng người con luôn phải tự sửa mình. Cũng trong mạch cảm nhận đó, đọc những bài thơ viết cho La Ngà, ta hiểu được cách vượt qua nỗi mất mát của nhà thơ khi “có một dòng sông đã qua đời”:

“Không bài học nào

Như ba đã học

Từ con

 

Nỗi mất!”

Con “mãi mãi tuổi đôi mươi” dẫu tất cả cứ già đi theo năm tháng. Mà bài học về nỗi mất thì cứ tươi nguyên, khoảng trống của nỗi mất dường như thêm sâu rộng. Có thể thanh thản được không khi xem nghiệt ngã là bài học? Có nỗi đau nào lớn hơn không, khi bài học không muốn nhớ, không muốn thuộc nhưng vẫn cứ ghim vào tâm trí? Con “mãi mãi tuổi đôi mươi”, cha vẫn day dứt nỗi đau khổ của kiếp người! Hóa ra, vô thường còn là chấp nhận, là “đành lòng vậy, dầu lòng vậy”, là gào thét trong lặng câm, là bão tố trong bình yên, là chôn chặt trong đào xới, là cồn cào trong thanh thản… Những vô thường như thế này cần phải được đọc từ phía sau câu chữ, bởi câu chữ chỉ là cái bình phong, nó che đậy cảm xúc, nó không cho người khác nhìn thấy nước mắt tuôn rơi. Trang Tử từng nói: “Ngôn giả sở tại ý, đắc ý nhi vong ngôn” (Lời là để diễn đạt ý, được ý hãy quên lời). Những bài thơ này, tôi đọc “ý”, không đọc “lời”; đọc để hiểu, cảm thông và chia sẻ…

 

 

Có một nỗi nhớ quê hương đong đầy trong tập Thơ ngắn. “Đi giữa Sài Gòn/ Phố nhà cao ngất/ Hoa nở rực vàng/ Mà không thấy Tết. Một sáng về quê/ Chợt nghe gió bấc/ Ơ hay xuân về/ Vỡ òa ngực biếc!” (Gió bấc). Xuân không đến từ hoa vàng rực rỡ, xuân chỉ đến khi người yêu quê được đi giữa trời quê.

 

 

 

Ở bài thơ Thu, Đỗ Hồng Ngọc không dùng hình ảnh, mà khuấy động lòng ta bởi một âm thanh:

“Chiều thu

Nghe tiếng quạ

 

Giật mình

Nỗi xa nhà

 

Nhớ sao

Mà nhớ

 

Quá!”

Mùa thu gắn với nỗi buồn. Bởi vậy nên người Hán đã ghép chữ thu với chữ tâm để biểu ý thành chữ sầu (mùa thu đọng lại trong tim thành một nỗi sầu). Chiều thu là thời khắc của ngày tàn, của những nỗi buồn không tên, nỗi sầu thiên cổ bàng bạc như sương khói. Nó khiến lòng người chơi vơi, mang mang; khiến cho “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì” (Xuân Diệu). Giữa chiều thu ấy, thơ thẩn nơi đất khách, bỗng nghe tiếng quạ, giật mình nỗi xa nhà… chợt thấy nhớ sao mà nhớ quá. Bài thơ độc đáo ở cấu tứ. Đó là cấu tứ sắc sắc không không. Không có hình ảnh nào cụ thể: chiều thu, tiếng quạ, nỗi xa nhà, nỗi nhớ đều không hiện hữu. Tất cả đều trừu tượng, lơ lửng trong không trung, vương vấn trong hồn người. Chủ thể trữ tình cũng chỉ xuất hiện trong động thái “nghe” và “giật mình”: nghe tiếng quạ và giật mình nỗi xa nhà. Nghĩa là người đọc chỉ nhận ra thi nhân qua âm thanh trên không trung và nỗi lòng kẻ tha hương. Niềm cô tịch bao trùm toàn bài thơ. Thi pháp chân không được sử dụng rất đắc địa. Và cuối cùng, tiếng quạ kêu bất ngờ kết thúc bài thơ, nhập vào làm một với đỉnh điểm của nỗi nhớ nhà: “Quá!”. Âm thanh đó vút cao, thảng thốt, xuýt xoa, khắc khoải, tê tái, quặn thắt… Từ tượng thanh trùng âm với phó từ chỉ mức độ cao trong tiếng Việt thể hiện sự hòa điệu tuyệt vời của cảnh và tình, của tiếng quạ và tiếng lòng. Nó khiến cái vô hình trở thành hữu hình, cái khó nắm bắt trở nên dễ nắm bắt. Tiếng quạ kêu lan tỏa trong thinh không, mang nỗi nhớ thả vào vũ trụ, để rồi len vào hồn người tâm thức “tư cố hương”. Cảnh nhạt mà tình nồng, bài thơ vừa có cái diệu của thi pháp chân không, của bút pháp lấy động tả tĩnh, huyền ngoại chi âm, và cả bút pháp tá thanh truyền ảnh rất hiếm ở trong thơ. Bởi, từ âm thanh xao động ở câu hai đến se thắt ở câu cuối, ta có thể hình dung được vẻ ngơ ngác ngước nhìn, kiếm tìm, trầm tư mặc tưởng của người thơ.

Thơ tình chiếm tỷ lệ khá lớn trong toàn tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê và đa số là những bài thơ không ngắn, thậm chí là khá dài. Mảng đề tài này thể hiện rõ tâm hồn thuộc “cái nòi đa tình” và tính cách dí dỏm của nhà thơ.

“Em tin có Chúa

Ngự ở trên cao

Còn anh tin Chúa

Ngự ở trong nhau” (Đi Lễ)

Với niềm tin ấy, “mỗi ngày anh chánh niệm về em chánh niệm sáng chánh niệm chiều chánh niệm đêm… em ngồi đó vô biên vô số với phép màu không có thời gian cho anh trở về tuổi hai mươi em mười tám…” (Chánh niệm).

Tình yêu như tôn giáo, tình yêu là tôn giáo của riêng anh. Và nhịp tim, hơi thở luôn thao thiết vì em:

“Ai bảo áo em vàng hoàng hậu

Cho tôi phải thở nhịp quân vương” (Đồng hương)

Và nếu thiếu em, quân vương ấy chẳng màng đến ngai vàng nữa:

“Ta về lối cũ

Nghe lòng lạnh băng

Thiếu em hoàng hậu

Ngai vàng như không…” (Giữa hoàng hôn xưa)

 

 

Anh viết tên em lên cát, cho sóng cuốn đi, cho gió cuốn đi. Để “tên em mênh mông đại dương…”, mang tình anh đi muôn phương, cho thỏa dạ kẻ si tình (Viết tên lên cát). Nỗi nhớ em trở thành căn bệnh – bệnh nhớ, khi cấp tính thì cồn cào, quặn thắt; trở thành kinh niên thì âm ỉ, triền miên (Nỗi nhớ). Mà thật lạ, hình như anh chẳng muốn chữa lành căn bệnh tương tư này. Bởi nghe trong tiếng thở than có niềm hạnh phúc, nghe trong nỗi buồn vẫn có thú đau thương.

Rồi “tình xa” sẽ biến thành “tình sầu”, “tình nhớ”, để ngày gặp lại, luyến tiếc gọi nhau bằng hai chữ Cố nhân:

“Mới đó mà em đã cố nhân

Lòng đau như cắt hiểu gì không

Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng

Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…”

Tình “ngùi phai theo tháng năm” nhưng lòng không ngùi phai. “Lòng đau như cắt hiểu gì không” – Câu thơ như một nhát cắt cứa vào tim nhau. Trách móc? Giận hờn? Tiếc nhớ?… Không! Chỉ thấy vẫn yêu. Và đau! Yêu ngay cả khi dùng từ ngữ có tính chất ngăn chặn, chấm dứt, thuộc về quá khứ: “cố nhân”. Vậy đó, sự trớ trêu của tình cảm thật khó mà cắt nghĩa, “cố nhân” nhiều lúc không phải là người cũ, người xưa, mà là người thân thiết, tha thiết một thời… và mãi mãi. Để rồi ta lại đêm ngày chánh niệm về em, và không ngừng cật vấn mình: “Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi!” (Khi gặp lại).

Giả sử là bài thơ tình rất hay ở nhiều phương diện. Nhà thơ nói với người yêu về một tình huống hủy diệt của thiên tai. “Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang/ Ập vào Mũi Né/ Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng/ Vút qua những ngọn dừa/ Những đồi cát trắng/ Em nhớ mang theo đôi quả trứng/ Vài nắm cơm/ Vài hạt giống/ Đừng quên mấy trái ớt xanh…/ Biết đâu mai này/ Ta làm An Tiêm/ Trở về làng cũ/ Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang/ Nơi kia gọi là Mũi Né…/ Cho nên/ Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…”. Bài thơ mở đầu bằng sự bất an và kết thúc bằng sự bình an. Tất cả hãi hùng hoang lạnh đó sẽ qua đi nếu ta biết thương nhau, và hãy thương nhau khi còn có thể, vì mấy ai lường trước được chuyện bãi bể nương dâu. Sử dụng những motif thường thấy trong văn chương: yêu trong hoạn nạn, sống sót qua hoạn nạn, cơn đại hồng thủy, tái lập Trái đất và sự sống…; tuy nhiên, trong hoảng hốt hoang hoải đi tìm sự sống, Đỗ Hồng Ngọc vẫn không quên chiếc thuyền thúng, mấy trái ớt xanh, đôi quả trứng, vài hạt giống của An Tiêm, để trở về làng cũ… Cổ tích Việt Nam, văn hóa Việt Nam thấm trong từng hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng không phải vì nỗi sợ thiên tai, mà vì vẫn tìm thấy những gì quen thuộc trong sự mất mát. Dĩ nhiên, tất cả chỉ là giả sử, thể hiện những dự cảm bất an về môi trường và quan niệm vô thường của cuộc sống, nhưng mục đích là kết luận: “Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?” Hỏi cũng chính là trả lời, câu thơ khiến người với người xích lại gần nhau hơn như câu hát của Trịnh Công Sơn: “Hãy yêu nhau đi/ Khi rừng thay lá/ Hãy yêu nhau đi dòng nước có trôi xa… Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi/ Dù mai nơi này người có xa người…”

Tình yêu trong thơ Đỗ Hồng Ngọc vừa nồng nàn mãnh liệt “như đổ dầu vào lửa”, sắc bén như “ánh mắt dao cau”, dại khờ luyến tiếc khi phải “nhận bừa là đồng hương”, day dứt “khi nhìn nhau xa lạ” “nói năng vô nghĩa” mà nghe “thác reo trong hồn”, ranh mãnh mong người ta nhớ đến anh trong “ngày sinh nhật” khi mọi ngày của anh đều là sinh nhật. Và cuối cùng, vẫn chờ đợi một bến đỗ bình yên, chở che, đón nhận, ấp iu và chung thủy đến muôn đời:

“Lá chín vàng

Lá rụng

Về cội

 

Em chín vàng

Chắc rụng

Về anh” (Lá)

“Chắc” là một hư từ (vị từ tình thái) mang tính dân dã của khẩu ngữ được đặt vào trong sự biến tấu của thành ngữ “lá rụng về cội” khiến câu thơ cuối lập tức trở nên giàu ý thơ, chất thơ hơn. Nhìn từ phương diện ngôn ngữ học, “chắc” thuộc loại từ có “lực ngôn trung” gắn với “tình thái phát ngôn”. “Chắc là”, “có thể”, “có lẽ”, “hãy”, “sẽ”, “nên”…; vừa ướm hỏi vừa mời gọi; vừa mang tính khẳng định, vừa mang tính dự định. Chủ thể của lời nói vừa có thể là anh, vừa có thể là em. Tâm trạng của các chủ thể sẽ thay đổi tùy vào cách người đọc mặc định vị trí của họ và nghĩa của từ “chắc” ở trong lời nói. Cả hai chủ thể sẽ có tâm thế hoặc tự tin, yên lòng; hoặc e dè, hoài nghi, phấp phỏng. Tất cả tùy thuộc vào việc người đọc đứng ở bên nào trong tính nước đôi của từ ngữ. Vậy là người đọc có quyền quyết định nghĩa, làm tăng nghĩa, tăng tầng bậc khám phá cho văn học. Theo lý thuyết tiếp nhận, đồng sáng tạo giữa tác giả và độc giả là một trong những tiêu chí thành công của tác phẩm. Một từ thôi nhưng có thể thay chủ đổi ngôi, làm khuynh đảo những gì vững chắc nhất. Tiếng Việt là vậy đó! Hay, đẹp, đa nghĩa và đáo để đến vô cùng nếu được vào tay người nghệ sĩ ngôn từ biết cách giũa mài cho ngọc quý. Giống như Bông hồng cho Mẹ, bài thơ này toàn dùng từ thuần Việt. Mới hay, trong lĩnh vực ngôn ngữ, cái dân dã bình dị có khả năng chuyển tải văn hóa cao nhất chứ không phải cái cao sang. Một nửa của bài thơ là có sẵn, là kết tinh từ triết lý, trí tuệ dân gian, quy luật và ao ước muôn đời của muôn người. Nửa còn lại là sáng tạo của tình yêu, của thi ca; mời gọi, ướm hỏi, đợi chờ, hồi hộp, đón nhận, giao hòa… và hạnh phúc với chân lý của tình yêu.

Đề tài phong cảnh thể hiện nét bút tài hoa của nhà thơ. Đó là bút pháp thi trung hữu họa, lấy động tả tĩnh trong cảnh Hội An sớm:

“Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương”

Trăng treo nghiêng trên mái chùa, sương vàng theo ánh trăng. Chỉ cần chấm phá hai hình ảnh, một sắc màu là tạo nên bức cổ họa. Và tiếng chổi, tiếng của nhịp đời xao xác nhẹ nhàng đủ để đánh thức đàn gà ngái ngủ cất lên tiếng gáy. Sau tiếng gà gáy, cả thế giới im lìm sẽ tỉnh giấc. Tất cả mọi đường nét, mọi âm thanh đều vừa vặn, không thừa không thiếu cho việc diễn tả một Hội An trầm mặc cổ kính. Bài thơ gợi nhớ cái giật mình của loài chim núi khi nhìn thấy ánh trăng khuya trong Điểu minh giản của nhà thơ Vương Duy đời Đường. Nhưng ở đây, tiếng chổi tương hợp với ngôi chùa, tiếng gà gần gũi với đời sống. Tiếng chổi quét sân chùa sau buổi công phu sáng sẽ sớm hơn tiếng gà trong vườn nhà. Nếu ngoài đời thường, tiếng gà gáy sáng bắt đầu chuỗi hoạt động của con người, tiếng gà đánh thức tiếng chổi thì ở đây tiếng chổi đánh thức tiếng gà, bởi nhà chùa thường dậy sớm hơn. Bài thơ thể hiện sự quan sát tỉ mỉ, cách cảm nhận tinh tế của tác giả. Chất thiền không chỉ bàng bạc trong hình ảnh mà còn vang vọng trong âm thanh của bài thơ.

Tuyền Lâm mang vẻ đẹp trong trẻo của mùa xuân qua thủ pháp gương soi và tiếng gọi mùa xuân tha thiết, đắm say:

“Nước xanh như ngọc

Sâu đến tận trời

Vốc lên một vốc

Ơi mùa xuân ơi!”

Trời soi bóng nước, nước sâu tận trời, “sâu chót vót” như Tràng giang của Huy Cận, nhưng không cô liêu, tịch liêu mà đong đầy cảm xúc yêu cảnh, yêu mùa, yêu đời của nhà thơ.

Ta sẽ còn có thể nghe hơi thở người xưa, “Nghe thì thầm, Đẽo gọt/ Nét Đường thi” trong bài thơ Văn Miếu; ngắm làn mưa giăng mờ trong Hà Tiên mưa, cảm nhận “sóng lăn tăn gợn vỗ quanh ghế ngồi” Ở Montmartre… Mỗi bước chân trải nghiệm của tác giả đều được ghi dấu bằng hồn thơ.

Tư tưởng Phật giáo thấm đượm trong toàn tập Thơ ngắn. Đỗ Hồng Ngọc đã chuyển tải tư tưởng một cách nhẹ nhàng, giản dị như chính triết lý nhà Phật qua những bài thơ như Thiền, Vè thiền tập… Và đặc biệt, bài thơ Mới hôm qua thôi còn mang nỗi buồn của bi kịch nhân sinh: “Họ ngồi đó/ Hói đầu/ Bạc trắng/ Móm sọm/ Nhăn nheo/ Mới hôm qua thôi/ Nào vương/ Nào tướng/ Nào tài tử/ Nào giai nhân/ Ngựa xe/ Võng lọng/ Mới hôm qua thôi/ Nào lọc lừa/ Nào thủ đoạn/ Khoác lác/ Huênh hoang/… Nói nói/ Cười cười/ Ghen tuông/ Hờn giận/… Ngoài kia/ Tuyết bay/ Trắng xóa/ Ngoài kia/ Dòng sông/ Mênh mông/ Mênh mông…”. Đúng! Mới hôm qua thôi… mà bây giờ đã… Tham hận sân si sẽ tan đi hoặc vơi bớt khi ngẫm lại sự phù du của kiếp người, và sẽ “Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất” (Đất), mai này ta cũng là đất. Ta cần ngộ ra điều đó, để có thể chứng nghiệm Niết Bàn trong cõi ta bà này, ngay ở đây, lúc này, hiện sinh chứ không phải là huyễn tưởng:

“Tham chẳng còn

Sân cũng hết

Si đã tuyệt

 

Niết Bàn

Tịch diệt

Để làm chi?” (Ngộ)

 Rũ bỏ tất cả, an nhiên tự tại, Niết Bàn trong ta, tùy vào ta. Niết Bàn là lúc ta thõng tay vào chợ, trở về với tâm tướng con người như nó vốn sinh ra…

Thơ Ngắn Đỗ Nghê có 59 bài, đa phần là thơ ngắn như tên gọi của toàn tập. Nhan đề của mỗi bài thơ cũng ngắn: Sóng, Nước, Đất, Thiền, Thở, Lá, Ngộ, Trái đất, Chân Không… Có bài chỉ 6 âm tiết, 10 âm tiết. Xem ra, so với Haiku của người Nhật (17 âm tiết), Sloka của người Ấn Độ (32 âm tiết), Lục bát của người Việt (14 âm tiết), Tứ tuyệt của người Trung Quốc (20 – 28 âm tiết) thì quả là Đỗ Nghê đã có những bài thơ ngắn độc đáo. Tuy nhiên, sức cuốn hút của tập thơ không phải ở độ dài ngắn, mà ở sự sôi nổi của lòng yêu cuộc sống, sự chiêm nghiệm về cõi nhân sinh, sự cảm ngộ triết lý nhà Phật đầy mới mẻ, nỗi niềm đau đáu với lẽ được mất và thi pháp thơ đầy sáng tạo. Tất cả như thể hiện nỗi vướng bận của nhà thơ với cuộc đời: “Ta làm sao mà lòng ta chưa nguôi”. Nguôi sao được khi trái tim và tâm hồn thi nhân vốn dĩ đã bị cầm tù trong bể đời ngọt ngào pha lẫn với chua cay mặn đắng. Lòng chưa nguôi, và sẽ mãi mãi không nguôi, sẽ dễ dàng rung lên như những sợi dây đàn mẫn cảm, để cho đời thêm những tiếng thơ hay.

Nếu cần góp ý cho tập thơ, tôi chỉ mong tác giả gạt bớt những bài chưa chín tới về cảm xúc cũng như bút pháp, hoặc không phù hợp với toàn tập như To Edith (vì là thơ dịch), Về quê (vì trùng với danh tác Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương), Đông Boston (vì không điệp vần), Theo già, Tuyết (vì thiếu thi ý), Món quà, Quấn quýt (vì cấu tứ non tay)… Vẫn biết, cắt bài sửa chữ là đề nghị lạnh lùng làm đau lòng người sáng tác. Bởi vì mỗi câu, mỗi bài đều gắn với kỷ niệm, vết xước, nỗi đau và những rung cảm chân thành. Tuy nhiên, nếu không làm điều đó, tác phẩm sẽ thiếu chắt lọc, sa vào ôm đồm và nhạt mất khí cốt. Trong nghệ thuật, có sự trưởng thành nào mà không trả giá bằng nỗi đau, có sự vẹn nguyên nào mà không khởi đầu bằng mất mát? Thiển ý này của người viết cũng thể hiện nỗi niềm “sao lòng ta chưa nguôi”, mong mỏi mỗi bài thơ đều hướng đến cảnh giới “Bút lạc kinh phong vũ. Thi thành khấp quỷ thần” (Hạ bút làm kinh hoàng cả mưa gió. Thơ làm xong khiến quỷ thần phải khóc – Đỗ Phủ).

 

Xứ Huế, Mùa Đông năm 2017

……………………………………………………………………………………………

[Bài đã đăng ở Tập san Quán Văn số 52 – Xuân Mậu Tuất (01/2018)]

* Đã có chỉnh sửa bởi Tịnh Thy (31.01.2018)

** Minh họa của Đỗ Hồng Ngọc (trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê).

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

”Sông Ơi Cứ Chảy…”

31/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Nhạc sĩ Thuần Nhiên (Nguyễn Đức Vinh) Đà Lạt, trong dịp Noel 2017 vừa qua đã phổ nhạc bài thơ “Giỗ một dòng sông” trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê và ôm guitar hát ngay trong đêm với đầy xúc cảm, đã được chia sẻ cho bè bạn trên trang này… (xem Giỗ một dòng sông).

Tối qua, nhạc sĩ Thuần Nhiên và anh Nguyễn Phu vừa gởi tôi bản nhạc hoàn chỉnh, với tựa mới (cho phù hợp hơn với bài hát) là Sông ơi cứ chảy… cùng với lời Anh của Phan Tấn Hải Flowing forever dear river, xin gởi đến các bạn.

Trân trọng cảm ơn,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

NGÔN NGOẠI

31/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ngôn Ngoại

Ghi chú: Tôi đọc được truyện này trên trang Luân Hoán, rất dễ thương. Xin phép Tâm Thanh chia sẻ cho bà con đọc Tết nhé. Đa tạ. (ĐHN).

 

Tâm Thanh

Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một chuyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu ‘Cứ yên tâm’.

Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói ‘bả không phải vợ tôi’? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.

– Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!

‘Chát!’ Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời ‘vu cáo’ trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:

– Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?

Được dịp ‘đáp lễ’ sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:

– Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.

Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:

– ‘Toa với lết’. ‘Lết’ đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà ‘lết’.

Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:

– Bà có biết đọc … xa tới đằng kia nổi không?

– Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!

– Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà … đái.

Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:

– Ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!

Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận ‘tội ác’ của mình, chỉ giúp bà mở khóa

dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:

– Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.

Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:

– Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?

Tôi tính nói ‘bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu’, nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:

– Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?

Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lễ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:

– Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!

Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:

– Ông bà tình ghê!

Câu này, chắc hôm đó bà không nghe đâu, nhỉ? Về chỗ, tôi vẫn ngồi vào cái ghế đã bị đổi, đầu tràn ngập những dấu hỏi về người đàn bà kỳ lạ.Bà đi với ai? Đi đâu? Làm gì? Khi bà trở lại, lò dò mãi không tìm thấy chỗ, tôi phải vẫy tay, kêu:

– Bà ơi! Đằng này nè!

Tôi nghe từ hàng ghế sau, phía bên trái có giọng đàn bà, tiếng Việt:

– Ông già lấy được bà vợ đẹp, chỉ tội quê không để đâu hết.

Bụng tôi thon thót theo mỗi bước chân của bà, chỉ lo ngại cho những cái đầu người ngồi dẫy bìa bị tay bà quơ phải, lỡ mà bà nhằm cái đầu tóc giả của một ông Tây mà vịn thì tôi phải tuyên bố ‘ly dị’ ngay tại chỗ. Nhưng tôi thở phào khi cuối cùng bà tới được chỗ ngồi bình an, gieo bàn tọa cái rầm, thả ra mùi ‘eau de Cologne’ pha lẫn mùi dầu cù là lổn ngổn.

– Bà đi máy bay lần đầu?

– Chớ lần mấy?

– Bà đi đâu ạ?

– Phần-lan.

– Bà đi thăm bà con bên đó, chắc?

– Bà con hồi nào? Theo chồng.

– Ông nhà sang Phần-lan lâu chưa?

– Chả người Phần-lan …

Bà kể bà làm nghề chèo ghe đưa khách tại bến đò Vĩnh Long. Chở bạn hàng cũng có, mà sau này chở khách du lịch cũng có. Thường thì bà chậm chân, không tranh được mấy mối khách du lịch béo bở. Một hôm bà để ý có một ông khách Tây cứ ngồi uống cà phê đá mà nhìn bà cả buổi, ‘cái đầu xồm không nhúc nhích’ và ‘cái môi đỏ chót liếm lia’. Cuối cùng ông đứng lên ra bến, đưa tay gạt hết mấy thằng giành mối ra một bên, mà tiến thẳng lại ghe bà, chẳng nói chẳng rằng, bước xuống, và bà chèo ghe cho ông coi cảnh trên sông Cổ Chiên. Bà nói tiếp:

– Tối về chả rút bóp ra một xấp tiền đô. Tui hổng dám lấy. Thằng chả xòe ra biểu lấy một ít cũng được. Nhưng chú tính coi – ai lấy kỳ vậy?

Cô tiếp viên đưa khay ăn tới. Tôi giúp bà hạ bàn con xuống, chọn nước uống, và chỉ bà cách dùng mấy thứ lỉnh kỉnh như dao nĩa, khăn ăn v.v. Và tôi ngạc nhiên tại sao một người chèo đò nhà quê mà có bàn tay búp mang đẹp như vậy. Bà cầm dao ăn như cầm búa, nhưng ăn vén khéo và rất … bạo -so với các mệnh phụ phu nhân khác. Vẻ tự nhiên của bà và những món ăn hấp dẫn với rượu vang khiến tôi phấn chấn tinh thần. Tôi thấy đã đủ thân mật để nói đùa:

– Bà không lấy tiền, chứng tỏ bà mê ông rồi?

Bà cười khinh khích:

– Mê cái mốc xì họ. Bộ ghe chùa sao? Tôi lấy cái tờ có vẽ số 1.

– Sao bà không lấy tờ vẽ số 10 hay 20?

– Lấy đủ công mình thôi chớ.

– Rồi sau đó?

– Sau đó hả? Mấy bữa sau, bữa nào chả cũng trở lại thuê ghe tui đi chơi lòng vòng… Rồi chả đòi lấy tui.

– Ý! Chết mẹ người ta chưa!

Dầu biết trước bà đang trên đường đi về nhà chồng, tôi buông ra một câu sững sờ như thế vì hồi kết cuộc tới một cách đột ngột quá. Không ngờ tiếng reo của tôi đã đậm đà giọng của bà, thốt ra mà thấy sướng cổ họng.  Nhưng thấy sau đó bà im bặt, tôi lại lo bà giận tôi lỗ mãng.

– Xin lỗi nhé!

– Lỗi gì?

– Dạ, không.

Tôi chờ đợi một câu truyện hấp dẫn, có đầu đuôi hơn. Tôi muốn biết buổi hẹn hò đầu tiên ở đâu? ông tỏ tình thế nào? tại sao bà biết ông thương mình thiệt? cái gì làm cho bà thích ông? ông làm nghề gì? có tổ chức đám cưới không? Nhưng bà không kể nữa, tiếp tục ăn món tráng miệng, khen ngon.

Tôi uống sang ly Cognac thứ ba, nghe ra giọng nhừa nhựa của chính mình:

– Dô! Dô! Mừng cho mối tình của bà! Đẹp thấy … mẹ!

Bà nhìn tôi, cau mặt:

– Ê! Chú hổng nên bắt chước tui ăn nói cái kiểu ẩu tả đó.

Thế ra bà vẫn biết mình ăn nói khác thường. Tôi chữa:

– Bà nói ngon lành hết xảy, chứ đâu có … ẩu tả.

– Chú nói thiệt tình hay xí gạt tui?

– Tui xí gạt bà làm mẹ gì? Bà là người tốt muốn chết.

– Chú coi bộ cũng được, nên tui khuyên chú đừng bắt chước tui. Tui trót học thói xấu, không sửa được. Không muốn sửa. Thằng khốn nạn đó …

Tôi ngạc nhiên, tại sao mới ‘thằng chả’ thân mật đã lên cấp ‘thằng khốn nạn’?

– Bà nói ai … khốn nạn?

– Thằng chồng của má tui.

– ‘Chồng của má’, tức thị là cha ?

– Cha ghẻ tui đó. Mà tui có kêu chả bằng cha đâu.

– Sao vậy?

– Nó nhậu say rồi đánh đập mẹ tui tối ngày. Một hôm nó định giở trò súc vật  với tui, mẹ tui bắt gặp, nó đánh mẹ tui bất tỉnh nhơn sự, tui quơ con dao yếm, huơ cho nó ớn mà giang ra, ai dè nó tự lao thây vào lãnh dao, chết ngắt. Đúng là số chả chết. Bị thần Lưu Linh vật. Tui .. tui không cố ý. Ông ta cũng thông cảm cho tui như vậy. Tui chỉ bị ba năm cải tạo. Lúc má tui đau nặng, người ta lại thả cho về sớm gần năm để nuôi bả.

Bà ngưng kể, khóc. Tôi im lặng để bà khóc tự nhiên, nhưng thấy bà khóc mãi, tôi an ủi:

– Việc đã qua rồi. Bà đừng buồn nữa.

Bà mủi lòng, khóc mùi hơn:

– Tui nhớ má tui với thằng Mẫn quá. Tui bỏ đi thiệt là tệ. Không ai coi chừng má tui với nó hết trơn.

– Thằng Mẫn là ai?

–  Nó là em cùng mẹ khác cha với tui. Nó bị tàn tật, què giò.

– Cha em là ai?

– Thằng chồng mắc toi của mẹ tui, chứ ai?

Tôi quay nhìn khuôn mặt hiền lành đẫm nước mắt và nghĩ có lẽ chính khuôn mặt này đã làm cho các quan tòa giảm khinh cho bà tội vô ý giết người. Phải tay tôi, đã cho bà trắng án. Rồi như bấm nút, bà nín bặt, chùi nước mắt, nói ráo hoảnh:

– Bảy năm cãi lộn với thằng cha ghẻ và hai năm cải tạo, hết thảy chín năm, tui quen ăn nói ba trợn. Sửa lại thấy … miệng lạt nhách.

Bà nói xong than:

– Tui mắc ói quá. Trước khi lên máy bay đã uống ba viên thuốc, mà còn mắc ói.

– Hèn gì bà vừa lên máy bay đã ngủ li bì.

Tôi vừa kịp banh cái bao ói thì bà ọc ra. Bà lại lấy dầu cù là ra xức. Cái nồng nàn của những chuyến đò đêm, cái ngất ngưởng của những chuyến xe đò trưa nắng, cái bệnh viện lưu động đó, dầu cù là con hổ. Hai mươi năm mới gặp lại, gặp lại vẫn nồng. Tôi bật ghế cho bà nằm nghỉ.Tôi cũng ngả người, nhắm mắt, suy nghĩ miên man về câu truyện của bà. Thỉnh thoảng tôi hé mắt, thấy bà chăm chú coi phim trên bàn ảnh truyền hình. Tôi chỉ cho bà đeo ống nghe. Tay chạm phải bộ tóc thật rậm, khỏe mạnh.

Không biết máy bay đã bay tới đâu và mấy giờ ở dưới mặt đất. Tôi có cảm tưởng thời gian và không gian như đọng lại ở một nơi xa lạ, không liên quan tới trái đất. Nhưng tôi vẫn tưởng tượng dưới đó hàng mấy tỉ người đang lao xao cười, khóc, nói thật và nói dối, thông cảm và ngộ nhận, bằng nhiều thứ ngôn ngữ, chân ngôn xen lẫn ngụy ngôn.

Tôi thức giấc đã nghe nhiều người rục rịch. Bà đã bật ghế thẳng, ngồi đan áo, tôi hỏi:

– Bà không ngủ?

– Ngủ mẹ gì được. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng gà gáy.

Tôi ngạc nhiên:

– Trên máy bay, làm gì có gà kìa?

Bà không do dự:

– Chắc nó gáy trong đầu tui. Bị ở nhà quê, nghe gà gáy riết, quen đi, cứ gần hừng sáng là nghe gà gáy trong tai.

Hình như bà giao tiếp với thế giới bên ngoài bằng trực giác. Thuần trực giác. Tôi chắc người đàn ông gặp bà trên bến đò Vĩnh Long cũng có trực giác rất mạnh. Tôi thích nghe tiếp câu truyện về họ.

– Tại sao ông không về Việt Nam … rước dâu?

– Chú đừng kiêu ngạo tui… Chả đòi sang đó chớ. Nhưng tui không cho. Tui nói dìa chi tốn tiền. Tui xin món tiền đó cho thằng Mẫn ăn học, chả bằng lòng, gởi tiền dìa rồi.

Khi bà dẹp len và kim đan để chuẩn bị ăn điểm tâm, tôi hỏi:

– Bà đan áo cho ông?

– Bển nghe nói lạnh lắm.

Chúng tôi ăn xong, máy bay qua một vùng ‘ổ gà trời’, hổng lên hổng xuống. Đèn báo nhắc cài dây an toàn. Lần này tôi chỉ cho bà cái khóa.Hành khách đi máy bay gặp những báo hiệu cài dây thế nào cũng ít nhiều lo lắng. Rủi ro, ai biết? Loa phóng thanh loan báo có bão, nhưng hành khách có thể yên tâm. Tôi lòn tay dưới gầm ghế, lấy cái phao cấp cứu. Bà hỏi:

– Cái gì vậy?

– Cái phao cấp cứu. Tôi chỉ kiểm soát xem nó có đó không, để mình yên tâm.

– Tui đi sông đi nước hai chục năm trời, chẳng phao phiếc gì, cũng chẳng chết. Hôm đầu thằng chả xuống ghe cũng bày đặt hỏi phao, tui nói không cần, chả cũng chịu. Riết rồi chả nói đi ghe với tui mà không mang phao mới thích.

Bà không lộ một thoáng lo âu nào. Tôi có cảm tưởng người đàn bà này bay trên 10 ngàn bộ cao mà tưởng mình đang bơi xuồng trên sông Cổ Chiên, xuồng lật, chỉ việc nhào xuống nước bơi. Tôi cất phao trở lại chỗ cũ, hỏi:

– Bà có chắc ông sẽ ra đón không?

– Tui chắc mà. Tui biết ai là người tin được. Tui biết thằng cha này không bao giờ nói xạo.

Tôi nhớ một sự tích trong Tân ước: Một hôm thuyền của các môn đệ gặp sóng gió, Chúa Giêsu đi trên mặt nước ra với họ, nhưng họ càng sợ hơn vì tưởng là ma. Chúa nói ‘Thày đây, đừng sợ’. Đại môn đệ Phêrô mừng quá nói ‘Nếu là Thày thì xin cho con đi trên mặt nước đến với Thày’.Chúa phán ‘Con lại đây!’ Phêrô bước xuống, đi trên mặt nước, được mấy bước, thấy sóng to quá, ông đâm hoảng, và chìm xuống, Chúa phải đưa tay ra đỡ lên thuyền. Ngài trách yêu ‘Cái đồ yếu lòng tin!’

Tôi cảm phục lòng tin của bà lắm, bà ạ: Bà bước thẳng lên mây đến với chồng. Tôi nghĩ mọi người trên chuyến bay này đều biết trước về cuộc hành trình, và biết điểm tới. Chỉ có bà nhắm mắt mà bước lên mây, không biết điểm tới nằm chỗ nào trên mặt đất. Bà đi tới với chồng, chứ không đi tới một nơi nào cả. Không một giây hồ nghi. Câu hỏi ‘Liệu ông chồng có tới đón không?’ chỉ bám vào đầu tôi, một con người thường thấy quá nhiều sóng lớn trên biển đời, lòng tin thường bị nhận chìm, đến nỗi mỗi bước đi về sau trở thành một dấu hỏi.

Tôi phải chờ bảy tiếng đồng hồ tại Copenhagen để được chuyển máy bay đi Oslo. Lịch trình bay đã ghi như vậy từ đầu. Còn bà, theo lịch trình lẽ ra chỉ phải chờ ba tiếng để chuyển máy bay, nhưng vì trục trặc đình công sao đó, phải thêm hai tiếng trễ nải. Chính hai tiếng trễ nải này khiến cho tôi lo ngại giùm bà. Tôi đề nghị:

– Bà nên báo cho chồng bà biết máy bay trễ.

– Chả biết mà … Cái gì chả cũng biết hết đó.

‘Cái gì chả cũng biết’, đã tin ắng đi như vậy, thì thôi, kệ bà. Tôi hướng dẫn bà  đi coi các gian hàng trong sân bay. Bà bị kích thích mạnh vì vẻ choáng lệ và đồ vật bày trong các cửa hiệu. Bà trầm trồ, reo vui. Tôi hỏi bà có định mua cái gì làm quà cho chồng không, vì đồ ở đây miễn thuế, rẻ hơn ở ngoài, bà nói:

– Tui mang theo nhiều đồ lắm, khỏi cần mua. Chú đừng cười nghe, tôi may ba bộ birama, kho một nồi tôm, và mua năm ký bánh phòng tôm, hai ký kẹo dừa. Nghe nói mấy thứ này ở bên tây không có. Mèn ơi! Tây u gì mà nó thích ăn tôm kho tầu gì đâu …

Đi với bà, tôi có cái vui thích như đi bên cạnh một đứa trẻ tò mò. Trẻ ngoan nữa, vì bà từ chối khi tôi đề nghị mua tặng một cái máy sấy tóc mà bà rất thích.

– Ai lại để chú mua, kỳ chết. Để chả mua cho tui, nếu tui còn thích.

Theo tôi, bà có một bộ tóc mây quá đẹp. Tôi hy vọng ông chồng sẽ thuyết phục được bà đừng uốn tóc. Tôi thăm dò:

– Tóc bà để tự nhiên như thế đẹp hơn.

– Biết đâu thằng chả.

‘Biết đâu thằng chả’, thế là cả nhan sắc bà cũng giao cho ông luôn.

– Hèn gì.

– Chú lẩm bẩm cái gì?

– Dạ, không. À, tôi định nói con gấu bông kia nhỏ bé quá, hèn gì ai cũng muốn bồng.

Tuy nhiên, bà càng tin tưởng, phó thác một cách ngây thơ, đầu óc đầy sạn của tôi càng nghi ngại. Rủi chồng bà không tới, bà sẽ xoay xở ra sao ở nơi xa lạ? Khi đi qua một trạm điện thoại, tôi đề nghị:

– Bà nên điện thoại cho ông báo tin báy bay trễ, để ông khỏi lo.

Bà ngẫm nghĩ, rồi trả lời:

– Chú nói có lý. Nhưng làm sao ra nhà dây thép gió bây giờ?

Tôi lấy cái thẻ nhựa của tôi tra vào máy điện thoại, và quay số bà ghi trong một tờ giấy nhét cẩn thận trong bóp. Chuông điện thoại reo. Bỗng tôi ngại ngùng, có thể nào người đàn ông nghe tiếng tôi ở đầu dây bên này, biết tôi đứng bên cạnh vợ ông và đâm ghen không. Tôi vội trao máy cho bà trước khi đầu dây bên kia trả lời. Tôi nghe bà la oang oang bằng tiếng Việt :

– Ê! Ông Ron đó hả! Ê ông có nghe không, Ron, Ron, Ron?!

Bà nói liên hồi, xăng xái. Bà bụm bàn tay trước ống nói mà hét lên, cũng không có tiếng trả lời. Tôi nhớ chúng ta thử lại nhiều lần, bà nhỉ.Nhưng không ai trả lời. Tôi an ủi:

– Có lẽ ông đã đi đón bà, và đang chờ ngoài phi trường.

Sắp tới giờ bà phải lên máy bay, tôi cần được giải đáp vấn nạn lớn nhất rằng tại sao một con người ăn nói mộc mạc như bà lại có thể làm cho một người đàn ông lạ say mê cưới làm vợ. Và, mặc dầu bà thường kể ‘chả biểu, chả nói’, nhưng nói bằng ngôn ngữ gì? Suốt cuộc hành trình, tôi biết bà không hiểu một chữ tiếng Tây tiếng Mỹ, làm cách nào ông bà hiểu nhau, hiểu một cách thâm sâu như thế? Cụ thể nhất là có thiệt ông hẹn bà sang Phần-lan chuyến này? Và có chắc tất cả mọi truyện không bắt đầu từ một sự … hiểu lầm nào đó do bất đồng ngôn ngữ? Tôi hắng giặng hỏi:

– Tôi hỏi không phải, ông bà nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Phần-lan?

Bà xăng xái:

– Tiếng Việt mình, thằng chả có hiểu con mẹ gì.  Còn cái tiếng quỉ tiếng ma gì của chả, tui cũng đách hiểu.

Cũng hay. Nhờ không biết tiếng Việt, ông khỏi cần hiểu ‘con mẹ’ với ‘cái đách’ là gì. Có lẽ chỉ cần hiểu gật đầu là ‘có’ và lắc đầu là ‘không’ , hai tín hiệu mà nếu thông suốt, minh bạch, con người đỡ được bao nhiêu phiền trược trong cái biên giới u minh nửa không, nửa có, của ngôn ngữ. Tôi nghe nói bộ óc điện toán cũng chỉ biết ‘gật đầu’ và ‘lắc đầu’. Phương chi, con người, không phải chỉ có bộ óc, mà còn trái tim kỳ diệu. Điều này làm cho tôi, khi tiếng loa mời hành khách đi Helsinki vang lên, cảm thấy bớt áy náy. Cái gì làm cho một người đàn ông từ Helsinki sang tận bến đò Vĩnh Long gặp bà, thì cũng đang hướng dẫn bà từ Vĩnh Long sang Helsinki bình an.

Bà le te ra cổng số 39, tươm tất trong cái áo vét xanh đậm và quần tây thẳng nếp. Tôi đứng ngoài, bịn rịn nhìn theo, bà quay lại vẫy tay. Cái vẫy tay cũng không giống ai, bàn tay đưa ngang vai, lòng úp xuống, ngón tay phẩy phẩy ra phía ngoài, như giục tôi cứ đi đi. Cứ yên tâm.

Tâm Thanh
(Nguồn: QGHC Miền Đông)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn

Buổi trò chuyện về Thiền “Quán Niệm Hơi Thở”

29/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Em nvquyen vừa gởi video clip buổi ”Gặp gỡ & Đối thoại” về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati) dưới góc độ khoa học tại Cà phê Thứ 7, ngày 20.1.2018.

Xin gởi đến các bạn để Tùy nghi và Tùy hỷ,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Quán Văn… ăn Tết!

26/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Quán Văn… ăn Tết!

Quán Văn số 52 Xuân Mậu Tuất sẽ “linh đình” họp mặt bạn bè ở Cafe Embassy Nhà hát Bến Thành sáng Chủ Nhật 28.01.2018.

Nghe nói có người từ Huế, có người từ Quy Nhơn, có người từ nhiều nơi xa xôi khác nữa cũng “vân tập” về chung vui cùng nhà văn Nguyên Minh, “chủ xị” và nhóm bạn.

Lai nghe nói có nhiều bài vở đặc sắc lắm, trong đó bài Sao Lòng Ta Chưa Nguôi, của Nguyễn Thị Tịnh Thy đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”(!?).

Tôi vẫn chưa biết nội dung bài viết này vì Nguyên Minh và Tịnh Thy đều muốn giữ bí mật đến giờ chót cho nên tôi cũng sẽ “khăn gói quả mướp” đến một phen.

Bạn mình rảnh, đến nhe,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Càphê Thứ 7: Trao đổi về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”

25/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Càphê Thứ7: Trao đổi về Thiền “Quán Niệm Hơi Thở” dưới góc độ khoa học

Thứ bảy 20.1.2018, Cà phê Thứ7 của nhạc sĩ Dương Thụ có một buổi sinh hoạt “Gặp Gỡ & Đối Thoại” đầu năm khá thú vị về Thiền Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati), do Bs Đỗ Hồng Ngọc phụ trách và Gs Nguyễn Văn Trọng ”chủ trì”!

Thú vị vì trước đó một tuần, Gs Trọng đã có buổi trình bày về cuốn sách mới dịch của ông: Một hướng dẫn cho người bối rối của E.F.Schumacher.  Có vẻ như buổi nói chuyện chủ đề Thiền ”Quán niệm hơi thở” của mình cũng là để giới thiệu một cách cụ thể hơn giúp cho người ta “bớt bối rối, bớt hoang mang” trong một xã hội ngày càng có vẻ phức tạp chăng nên có khá đông bạn bè tham dự.

Trong Lời dẫn, mình đã viết:

Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, một nhà minh triết phương Đông – Đức Phật – bảo đừng vội tin, hãy đến nếm thử đi rồi biết! Đến là thực hành. Nếm thử là cảm nhận. Phải tự mình thực hành và tự mình cảm nhận. Không thể nhờ ai khác. Rồi Ngài vạch ra một con đường “thoát khổ” cho chúng sanh:

« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết-bàn »…(Satipathana, Thích Minh Châu dịch).

Đó là Thiền Anapanasati còn được gọi là An-Ban Thủ Ý, “Nhập tức xuất tức niệm” hay Quán Niệm Hơi Thở. Ana là thở vào, Apana là thở ra và Sati là niệm, là nhớ, nghĩ.  

Chỉ có vậy thôi sao ? Chỉ có vậy. Mà vô vàn.

Gần đây các nhà y sinh học, tâm lý học, hợp tác cùng các nhà sư, dùng các kỹ thuật mới như EEG, PET, fMRI…  nhằm khám phá những “bí nhiệm” của Thiền để ứng dụng vào đời sống. Hiệu quả đã có thể chứng minh. Nhưng Thiền Phật giáo không dừng ở đó, mà còn nhằm đến sự giải thoát, giác ngộ.

Thời nay dù vật chất ngày càng đầy đủ, khoa học kỹ thuật tiến bộ như vũ bão mà đời sống con người thì ngày càng căng thẳng, lo âu, luôn sống trong đe dọa của chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… Gần đây, một thứ bệnh mới, trầm trọng, khó chữa là S.A.D, chữ viết tắt của Stress (căng thẳng), Anxiety (lo âu, sợ hãi) Depression (trầm cảm). Các nhà Tâm lý trị liệu, các nhà y học, phải tìm đến Thiền định đã có từ ngàn xưa để chữa trị như MBSR, MBCT… Ngành Giáo dục Mỹ gần đây cũng đưa ra một chương trình giảng dạy về sự Tử tế, gọi là Kindness Curriculum, cũng lại dựa trên Thiền định.

Buổi trao đổi hôm nay chỉ nhằm cung cấp thêm một cái nhìn từ góc độ y sinh học của một người thầy thuốc về Thiền Quán Niệm Hơi Thở.

BTC cho biết gần trăm người hiện diện, vì phòng ốc quá hẹp, một số không ít phải ra về. Tuy nhiên, vì có thực hiện live stream nên đã có trên 800 người theo dõi qua facebook.

Hôm đó có nvquyen quay một video clip, nay mai sẽ post lên đây để nếu muốn bạn có thể theo dõi chi tiết. Hôm nay bạn xem trước vài hình ảnh thôi nhé.

Hôm nay cũng sẽ trả lời vài câu hỏi của các bạn đồng nghiệp trẻ (chừng mươi bác sĩ, dược sĩ tham dự) muốn mình chia sẻ một chút kinh nghiệm riêng về ”tào lao” sao cho thành công. Thực tế, mình chẳng bao giờ có sự chuẩn bị nghiêm túc ”giáo trình giáo án” chi cả, chỉ là trao đổi, đối thoại thôi mà, những điều từ trong bụng, từ kinh nghiệm bản thân, với tất cả sự chân thành thế thôi.

Dĩ nhiên trước mỗi buổi ”tào lao” như vậy, mình cũng tự hỏi: Nói với ai đây? Nói cái gì đây?… như thường lệ, và ghi chú vòng vèo một ”sơ đồ” để giúp trí nhớ. Thực tế, tùy đối tượng mà sơ đồ này hoàn toàn có thể ”sụp đổ”, không được ngó tới! Vậy đó, cho nên buổi giao lưu thường rất nhẹ nhàng, vui vẻ. “Vui thôi mà”.

Thứ hai, mình không thích trình chiếu slides. Nó có vẻ ”bó buộc” quá, cứng ngắc quá, trang trọng quá… Chỉ ở một số trường hợp mới phải dùng đến. Lạm dụng không nên. Thực tế khi không có máy chiếu, bị cúp điện… thì có thể bị gãy đổ. Trao đổi, giao lưu, trò chuyện trực tiếp bao giờ cũng sinh động hơn, ”tâm truyền tâm” hơn, không bị máy móc, kỹ thuật che lấp. Nhớ Socrates cũng thường đứng ngoài đường mà trò chuyện, Phật cũng ngồi dưới gốc cây mà ”thuyết” đó thôi…

Dĩ nhiên đây chỉ là những câu trả lời cho buổi ”phỏng vấn bỏ túi” của mấy bạn đồng nghiệp trẻ về ”kinh nghiệm tào lao” đó thôi (!).

 

”Lá bùa” để giúp trí nhớ cho buổi giao lưu!

 

 

 

 

Đỗ Hồng Ngọc và Nguyễn Văn Trọng thoải mái trong một buổi cà phê sáng thứ bảy!

 

 

Sử dụng Flipchart để viết vẽ rất tiện, linh hoạt hơn dùng máy chiếu slides.

Thở bụng: Cơ hoành là cơ hô hấp chính, chịu trách nhiệm 80% hoạt động hô hấp.

Trung khu hô hấp nằm bên ngoài vỏ não. ”Quán niệm hơi thở” giúp ”giải phóng” vỏ não, nơi tiêu thụ quá nhiều năng lượng cho những chuyện vô bổ!

Buổi trò chuyện khá sôi nổi, hào hứng. Nhiều câu hỏi-đáp thực tế, trao đổi kinh nghiệm bản thân…

 

Hẹn thư sau,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Thiền và Sức khỏe

Thơ Ngắn Đỗ Nghê (bản Anh ngữ: Phan Tấn Hải)

22/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thơ Ngắn Đỗ Nghê

(bản Anh ngữ Phan Tấn Hải, 01.2018)

Gởi bạn vài bài trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê được dịch sang Anh ngữ bởi nhà thơ Phan Tấn Hải (Nguyên Giác):

 

Trái đất

Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…

Đỗ Nghê, Boston 1993
.
Earth
In middle of the night
Awakening
In middle of the day…

Do Nghe, Boston 1993

………………………………..

Sóng

Sóng
Quằn quại
Thét gào

Không  nhớ
Mình
Là nước

Đỗ Nghê

Waves

The waves
Wriggle
Roar

Forgetting
Of being
Water

Do Nghe
…………………………………….
         

Nước

Nước từ đâu đến
Nước trôi về đâu
Từ con suối nhỏ
Từ dòng sông sâu
Từ khe núi lở
Từ dưới nhịp cầu
Từ cơn thác lũ
Từ giọt mưa rơi

Nước đến từ đâu
Nước trôi về đâu
Từ cơn gió thoảng
Từ làn mây trôi
Từ hơi biển mặn
Từ phía mặt trời

Nước vẫn muôn đời
Không đi chẳng đến
Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu…

Đỗ Nghê, Paris 1997

 

Water

From where the water comes
To where the water flows
From a small stream
From a deep river
From a steep ravine
From beneath the bridges
From a massive flood
From falling raindrops
.
From where the water comes
To where the water flows
From a breeze of wind
From a floating cloud
From salty sea air
From the sun’s rays

Water forever
neither comes nor goes
Who has the heart to ask
from where the water comes
Who has the heart to ask
to where the water flows

 

Do Nghe, Paris, 1997

…………………………………………………………………………….

Bông hồng cho mẹ

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Đỗ Nghê, 2012

A rose for Mom

I put on myself a white rose
and give Mom a red one
Mom, be sure to put it on a lapel
Grandma is waiting at the other shore of the river…

Do Nghe (2012)

…………………………………………………………………….

Giỗ một dòng sông

.

Sông ơi cứ chảy

Cứ chảy về trời

Cứ về biển khơi

Cứ làm suối ngọt

Cứ làm thác cao

Cứ đổ ầm ào

Cứ làm gió nổi

Cứ làm mây trôi…

Sông ơi cứ chảy

Chảy khắp châu thân

Chảy tràn ra mắt

Chảy vùi bên tai

Dòng sông không tắt

Dòng sông chảy hoài…

Đỗ Nghê

 

 

Memorial service for a river

Dear river, just keep flowing

keep flowing to the sky

keep flowing to the ocean

keep being a sweet stream

keep being a high waterfall

keep swirling and gushing 

keep becoming the howling wind

keep becoming the floating clouds

Dear river, just keep flowing

flow all over the body

flow throughout the eyes

flow all through the ears

The river doesn’t give up

The river flows forever…

Do Nghe

………………………………………………………………………………………….

 

 

Vè thiền tập


Thả lỏng toàn thân
Như treo móc áo
Ngồi xếp bằng tròn
Vai ngang lưng sổ
Dõi theo hơi thở
Như mượn từ xa
Khi vào khi ra
Khi sâu khi cạn

Chú tâm quãng lặng
“Pranasati”
Hơi thở xẹp xì
Thân tâm an tịnh
Không còn ý tưởng
Chẳng có thời gian
Hạt bụi lang thang
Dính vào hơi thở
Duyên sinh vô ngã
Ngũ uẩn giai không
Từ đó thong dong
Thõng tay vào chợ…

Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)
 

 

Meditation verse

Relax your whole body
just like to hang clothes on a coat hanger
Sit in cross-legged position
with your back straight, shoulders horizontal
Focus your mind on the breaths
just like borrowing something from afar
Breathing in and out

Breathing deep and low
Focus your mind on the quiet between
“Pranasati”
When the breaths almost vanish
your mind and body become still and pure
Thoughts cease to exist
Time  disappears
Only the wandering dust
attaches to the breaths
See that all things are dependent arising and non-self
See that the five aggregates are emptiness
Thereafter you can leisurely
enter the marketplace.

Do Hong Ngoc (Do Nghe)
(translated by Phan Tấn Hải, 01-2018)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Một chút tiểu sử, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 12: Phật học & Đời sống, ngày 13.1.2018

21/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Kỳ 12: Phật Học & Đời Sống, 

Bát Chánh Đạo

8. Chánh Định (tiếp theo)

Thiền Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati/ Nhập tức xuất tức niệm)

 

Ghi chú:

Do nvquyen bận đi Từ thiện ở Tây nguyên nên lần này có sự chậm trễ. Mong các bạn thông cảm.

Cảm ơn Nga và Trung đã thu hình cho buổi sinh hoạt PH & ĐS kỳ 12, ngày 13.1.2018 tại Chùa Xá Lợi. Ngày 20.1.2018 đã tiếp tục có buổi sinh hoạt Kỳ 13. Sẽ post nay mai.

Sau buổi này, “Lớp lỏng lẻo” sẽ nghỉ Tết đến Thứ bảy 3.3.2018 mới sinh hoạt trở lại theo lịch của Ban Phật học Chùa Xá Lợi. Xin thông báo để các bạn được biết.

Nhớ, Thứ bảy, ngày 3/3/2018 sẽ ”học” tiếp. Các buổi sinh hoạt Phật học & Đời sống luôn rộng mở, ai cũng có thể tham dự.

Chúc các bạn Tết Mậu Tuất 2018 vui khỏe nhé.

Thân mến,

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Nguyễn Thị Khánh Minh, Người Nối Đường Tơ…

21/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nguyễn Thị Khánh Minh, Người Nối Đường Tơ…

Trần Thị Nguyệt Mai

 

Ở cuối mỗi điện thư, chị thường ký tắt km, chữ nhỏ, không hoa. Là “khánh minh”. Ai cũng hiểu như vậy. Nhưng bỗng một hôm anh Đỗ Hồng Ngọc khám phá ra: km là kí-lô mét.

khánh minh viết tên mình
km khiêm tốn 
thư từ bè bạn
nhiều lúc đọc nhầm 
thành kilomet
nhiều lúc hỏi thầm 
từ đây đến đó
bao nhiêu khánh minh?

(km – đỗ hồng ngọc)

Khám phá này thật hay và cũng thật đúng với “tên” của chị nữa. Vì, bằng trái tim mẫn cảm và ngòi bút thơ mộng, chị đã như một gạch nối đưa thơ văn vào trong tim người đọc với những bài giới thiệu thật đặc sắc. Và, hẳn nhiên, tác giả rất cảm động vì được chia sẻ. Như là: “Nguyễn Lương Vỵ, người thơ hát âm”, “Bất chợt thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Và gió…”, “Du Tử Lê, dòng sông hẹn hò biển cả”, “Lữ Quỳnh, Thơ. Và con mắt của giấc mơ”, “Lữ Kiều, chàng lãng tử của thời gian”, “Khuất Đẩu. Và cõi đẹp”, “Phan Tấn Hải. Người Tới Như Mộng”, “Lê Giang Trần. Chiếc vòng kim cô nhớ”, “Vũ Hoàng Thư. Hạt Nắng Phiêu Du”, “Hoàng Xuân Sơn. Quỳnh ơi, hồn nhiên một đóa…”, “Ngoại chờ bên kia sông”, “Trịnh Y Thư, lắng nghe hài cỏ”, “Nguyên Minh, chân kiến dặm trường”, … [1]

Nhớ có lần anh Khuất Đẩu nhờ giới thiệu sách của anh trên blog TTNM theo mẫu do Tương Tri thực hiện, nhưng tôi đi bằng một bài viết của chị như sau:

Sau khi đọc bài điểm sách “Khuất Đẩu. Và Cõi Đẹp” của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, một số bạn muốn tìm đọc nên viết thư hỏi địa chỉ mua sách… [2]

E nhà văn không hài lòng, tôi hỏi lại cho chắc: “Nếu cần sửa đổi gì xin anh cho em hay…”
Tôi đã thật vui khi nhận thư trả lời:
Nguyệt Mai ơi,
Như vầy là quá chu đáo rồi. Bài viết của KM có bút lực rất lôi cuốn, không cần thêm lời giới thiệu của TT.
(trích điện thư ngày 12/2/2016)

Anh Tô Thẩm Huy (người giữ mục “Đùa Với Đường Thi” trên tạp chí Văn Học trước đây, ký tên là Đàn Bách Kiếm) đã nhận xét về bài viết “Ngoại chờ bên kia sông”của chị, cảm nhận từ bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” của Đỗ Hồng Ngọc, như sau:

Tôi không biết Nguyễn Thị Khánh Minh thân, sơ với anh thế nào, nhưng rõ ràng là chị đã cảm bài thơ của anh đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Anh thật là người may mắn có được người đồng điệu như thế.
(trích điện thư của anh Tô Thẩm Huy gửi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) [3]

Vì chị cũng là thi sĩ, nên văn chị đẹp tựa thơ. Tôi yêu từ những trang đầu tiên của “Bóng bay gió ơi”, tập tản văn gần đây nhất của chị,

Nhắm mắt lại, phút này đây.
… nghe được hương trâm trâm bên vệ đường rầy xe lửa về quê nội, ai biết được mầu lấm tấm ngũ sắc kia đã cấy trong tôi mùi quyến luyến quê nhà đến vậy. Hễ chìm vào là nghe tiếng xe lửa xập xình, ánh nhìn cô gái nhỏ chạy lùi theo những hình ảnh vụt qua, bụi cây, ngọn núi, chiếc cầu nhỏ, những ô lúa xanh và con mương ốm chạy ngoằn ngoèo theo bờ ruộng…

Tôi đã theo chị “Bồng bềnh quê nhà” để cảm nhận được:

… mùi đất bùn khô dưới nắng, phải là nắng buổi trưa oi nồng, mùi lá tre, mùi cỏ bên vệ đường, mùi đống rơm trong sân gạch nhà và đặc biệt mùi phân trâu bò trên đường đất, quyện vào trong gió tre, bạn ơi tôi mong là bạn cũng đã từng ngửi thấy để có thể chia sẻ cùng tôi vì tôi không biết diễn tả thế nào, tôi gọi đó là mùi nhà quê, với tất cả thương yêu gắn bó mà tôi có được với nó…

Rồi đi vào “Mái ấm”:

Chỉ cần cúi xuống bên cái võng thong thả theo nắng buổi sáng là có thể hái trong tay chiếc lá nham nhám, hương ngái của lá và hoa như chiếc thuyền thả tôi trôi về quê nội, hai bên đường hoa chùm bao phủ trắng xen lẫn sắc trâm trâm…

Đến “Mưa nắng thềm nhà”:

Buổi sớm, trong yên lặng trầm, mọi thứ chuyển động nhẹ nhàng theo từng nhịp ánh sáng, lòng tôi cũng vậy, nhẹ bẫng, và như bay cao, không phải cái vụt lên ngẩn ngơ của một trái bóng tuột khỏi tay cầm, mà là cái lồng lộng của con diều còn có một sợi dây nối với một bàn tay. Có phải đó là cảm giác của lâng lâng trong khí trời chưa rối bởi muôn thứ âm thanh?

Qua “Đáy đĩa mùa đi”, từ Hạ:

… Lộng ngát trời hè xứ lạ những đám mây ngày cũ êm đềm trôi về, làm tôi thấy yên lòng, lẫn một chút nôn nao của những gắn bó vừa nhú sợi rễ non…

tới Thu:

Trời ạ, gió và lá vàng, nó góp thêm vào ký ức hai mùa nắng mưa ngày xưa của tôi tiếng lăn giòn của lá khô, màu lá ruộm vàng nắng thu. Cái se lạnh chiều Calif. lăn tăn da thịt làm tôi tơ tưởng tiếng gió heo may Hà Nội và vốc cốm xanh rức trên tấm lá sen, chênh vênh những con đường phố cổ đang chờ tôi gõ bước chân hẹn hò, dường như mình đã có một ước hẹn với mùa thu nơi ấy?

rồi Đông:

Mùa Đông là một dấu chấm lửng lơ quyến rũ, từng bước đi đến điểm khép lại, cùng lúc mở ra lung linh nhịp hội hè cuối năm. Và cứ rơi vào điểm kết sổ này là ký ức lại đẩy đưa… Và, có phải người, trong bất ngờ một nhịp lẫy của thời gian, gửi tới mùa đông này vạt gió tơ lụa, ẩn mật một lời hẹn?

và vào Xuân:

Có một niềm vui mà tôi phải chia để thấm hết nỗi đầy, cuối năm của tôi đã được khép lại trong tiếng khóc đầu tiên của bé cháu gái, cái chớp mắt chào đời của bé như thể tôi vừa được mở ra một tấm thiệp đẹp đẽ nhất của đất trời với những lời chúc phúc, một trang mới tinh khôi, tràn trề nhịp chảy sinh động của dòng sống, rồi tôi sẽ có những chữ lần theo cái lật cái bò cái lẫm chẫm bước đi non tơ ấy… Tiếng oa oa như nắng trên cao đang vỡ ra trong ban mai tín hiệu của ấm áp, có phải cả hải hà đang tao nôi hạnh phúc ta không, bé bỏng ơi…

Hãy đọc đi bạn ơi, đọc cho hết cuốn tản văn này, theo cùng tác giả lần về những kỷ niệm, những ngày tháng cũ quá đỗi dấu yêu, có khúc vui, khúc buồn, khúc cô quạnh, khúc sâu lắng… Nhưng, dù như thế nào, đến cuối đất cùng trời ta cũng chẳng thể quên:

Đã hẹn đã hò, cũng ước cũng thề, thì dẫu con đường có dài, thời gian có mịt mù thế nào đi nữa thì cũng có lúc chúng mình sẽ gặp lại, nói cho sâu lắng đá vàng hơn, thì chúng mình sẽ tái ngộ, nối lại một đường tơ lơ lửng…

Cám ơn người thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã nối giùm một đường tơ mong manh hư ảo đẹp tuyệt vời để cho tôi có những phút giây tao ngộ hạnh phúc với kỷ niệm, với đất trời biển cả mưa nắng thuở nào ở quê nhà…

(TTNM)
December 5, 2016

………………………………………………………………………………

Ghi chú:
[1] Những bài này đã đi hoặc trong tản văn “Bóng bay gió ơi” hoặc trên các trang mạng văn chương.
Những chữ in nghiêng trong bài, nếu không dẫn nguồn, đều trích từ tập tản văn “Bóng bay gió ơi” của Nguyễn Thị Khánh Minh, nhà xuất bản Sống phát hành năm 2015 tại Hoa Kỳ.
[2] Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2016/02/12/sach-truyen-cua-nha-van-khuat-dau/#more-17118
[3] Nguồn: http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ngoai-cho-ben-kia-song/

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Cafe Thứ Bảy: 20/1/2018 Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”

18/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”

(Anapanasati dưới góc độ khoa học)

 

Thư gởi bạn,

Cà-phê Thứ Bảy do nhạc sĩ Dương Thụ làm ”chủ xị” khá nổi tiếng từ nhiều năm nay ở Saigon (và nay ở cả Hà Nội), không chỉ là một nơi có những buổi Giao lưu văn hóa, gặp gỡ và đối thoại thân tình giữa bạn bè anh em bên tách café sáng về nhiều vấn đề từ triết học, văn hóa, xã hôi, tôn giáo…  mà còn thường xuyên có những buổi trình diễn Âm nhạc thính phòng hấp dẫn.

Nơi đó, ta có thể gặp nhiều bạn bè thân quen, Gs Nguyễn Văn Trọng, nhà văn Nhật Chiêu, luật gia Ngô Tiến Nhân, Gs Nguyễn Đăng Hưng, Bs Nguyễn Chấn Hùng…

Và chính mình cũng đã đến ”làm diễn giả” mấy buổi nơi đây về Nếp sống An lạc, về Thiền và Sức khỏe v.v…

Lần này nhạc sĩ Dương Thụ mời chia sẻ về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati), còn gọi là ”Nhập tức xuất tức niệm” hay ”An-ban Thủ ý”, một thứ thiền rất cơ bản, rất khoa học, mà Đức Phật đã truyền đạt cho các đệ tử từ xa xưa trong kinh Tứ Niệm Xứ (Satipathana) sau này thành một kinh riêng Anapanasatisutta (bản dịch HT Thích Minh Châu).

Vậy thứ bảy 20.1 này nếu rảnh, đến chơi nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thư Mời của Càphê thứ 7:

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe, Thư gởi người bận rộn

Kỳ 11: Phật Học & Đời Sống

11/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Kỳ 11: Sinh hoạt Phật Học & Đời Sống

tại Chùa Xá Lợi Sài-gòn (Tp.HCM)

Thứ bảy, ngày 6.01.2018 từ 15-16h30.

Ngày Thứ bảy 13.01.18 tiếp tục bàn về Chánh Định trong Bát Chánh Đạo, chia sẻ về Thiền Anapanasati (Quán Niệm Hơi Thở/ An Ban Thủ Ý hay Nhập tức xuất tức niệm).

Thân mời các anh chị, các bạn tham dự để cùng thảo luận và trao đổi kinh nghiệm.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

nghĩ về ”GIỖ MỘT DÒNG SÔNG”

08/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Thầy giáo Nguyễn Mậu Pháp (nguhanhson) dạy ở Lạc Dương, một ngôi trường ngoại thành Dalat, dưới chân núi Langbian. Một hôm, nghe Thuần Nhiên hát “Giỗ Một Dòng Sông’’ từ thơ Đỗ Hồng Ngọc mà không sao cầm lòng được, phóng bút viết nhanh mươi phút những cảm nghĩ của riêng mình rồi gởi ngay cho tác giả thơ và nhạc để cùng chia sẻ…

Vẫn còn đó những tâm hồn đồng điệu, những tấm lòng bè bạn, chưa từng gặp gỡ nhau, mà đã như cùng nghe tiếng vỗ của một bàn tay…

Đa tạ Nguyễn Mậu Pháp,

ĐHN.

(7.01.2018)

 

nghĩ về

”GIỖ MỘT DÒNG SÔNG”

Thơ Đỗ Hồng Ngọc. Nhạc: Thuần Nhiên

 

Nguyễn Mậu Pháp  (Đà Lạt)

Cuộc hành trình để tìm về vô tận mênh mông, về với khoảng không vô cùng của ngàn trùng bao la hằng tại. Chảy mãi và chảy mãi đến muôn nơi…
Sông ơi! Đừng ngừng trôi “ cứ chảy về trời, cứ về biển
khơi”. Dòng sông là dòng chảy từ suối ngọt, làm thác cao, làm gió nổi,
làm mây trôi…. Như dòng đời chảy hoài đến trùng khơi bất tận. Cuối
cùng là “chảy khắp châu thân” trong ngần khối nguyên chân vĩnh trường
muôn thuở.
Bài thơ là một nỗi niềm, hoài vọng thương nhớ nhưng không bi lụy
não nề, mà là tiếng vỗ về, đánh thức giấc mê , tìm về cội quê của chân
tâm bổn tánh.
Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc đã suy nghiệm và chắt lọc những ngôn từ nhẹ nhàng
tha thiết như lời dỗ dành thiêng liêng của người Cha với người con
trong khối vuông tròn sự sống. Nhịp thơ vang vọng như đánh thức vào
tâm mình của tiếng gọi hư linh   – hãy như dòng sông tìm về với lẽ hóa
sinh của ánh sáng Phật pháp quang minh vi diệu.
“ Giỗ một dòng sông” như lời nâng niu, dỗ dành gót chân phiêu bồng của
người xa xứ, như bước hành trình của một khách lữ tỉnh mộng chốn mê
trần. Tựa đề bài thơ không phải là lời phân vân hay bâng khuâng hoài
mộng mà là thắp lên sự sống của hằng tâm.
Như một dòng sông chảy hoài có khi lặng thầm, có lúc như tiếng thét
gào của thác cao đổ dồn vào hư không nơi rạng ngời ánh hồng của tâm
thức. Nhạc sĩ Thuần Nhiên đồng cảm với lời thơ chân thực mà ý nghĩa
kín đáo sâu xa để hòa tiếng ca cùng “Giỗ một dòng sông”, hòa cùng
tiếng lòng của nhà thơ đang ung dung chèo thuyền để sang bờ chánh
giác.
Dòng sông ơi! Dòng sông ơi!
Chảy đi ….chảy mãi về nơi vô cùng
Cho trăm bến đỗ tương phùng
Trở về vô tận muôn trùng hư không
Vỗ về  “Giỗ một dòng sông”
Mà nghe lời vọng ….tiếng lòng ….thênh thang….

Nguyễn Mậu Pháp (nguhanhsondalat)

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

”Phật học & Đời sống” tiếp tục, Thứ bảy 6.01.2018

05/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Sinh hoạt ”Phật học & Đời sống”

Mời các bạn tiếp tục đến dự buổi Sinh hoạt 15h chiều Thứ bảy ngày 6-01-2018 tại Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM (Saigon).

Sau 2 kỳ nghỉ Noel và Tết tây, chắc mọi người đều bắt đầu… uê oải.

Vậy cố gắng đến đúng giờ nhé.

Chủ đề kỳ này: THỞ & THIỀN

Bs Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

Một chút lan man Ngày Tết

05/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Tết tây 2018, có người chuyển tới tôi bài viết cũ của mình như là một lời nhắc. Có lẽ người bạn đó nghĩ rằng tôi đang ở cái tuổi đẹp nhất của mình mà không biết, cứ hay nhắc ”hồi đó, hồi đó” hoài thấy dễ ghét!

Bèn chia sẻ cùng bạn vậy.

Thân mến,

ĐHN

 

Một chút lan man Ngày Tết

Đỗ Hồng Ngọc

 

Ngẫm lại sự đời, tôi thấy hình như hầu hết chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Hừm! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy tại sao ta không nghĩ ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải…. nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!

Còn đối với các vị phụ nữ cũng có khi gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Thân thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần hỏi han ta, không cần biết ta có “chịu” không! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.

Trái lại, nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Từ ngày “thế giới phẳng” thông qua internet, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với người nhà nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện với mọi người bên cạnh thì nhiều khi đã lỡ nhịp!

Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Từ ngày biết thương “thân thể” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho thân thể của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá!

Một người bạn tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương ông quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được?

Giá ông nghèo một chút còn hay hơn! Kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn ông ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho thân thể của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được!

Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!

Nên nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe được, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy được, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là mắt xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.

Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Có lẽ như vậy hay hơn!

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

”Giỗ Một Dòng Sông”

04/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Vài dòng về bài hát ”Giỗ một dòng sông”

Đỗ Hồng Ngọc

“Giỗ Một Dòng Sông” là bài thơ ngắn tôi viết nhân ngày giỗ La Ngà, đã in trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê cùng với vài bài thơ nho nhỏ khác: La Ngà 3, La Ngà 5…

Không ngờ buổi gặp gỡ với các bạn trong Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt ngày 23.12.2017 vừa qua lại có được một kỷ niệm thật đẹp, thật cảm động với tôi đến vậy!

Tôi được đón mời trang trọng và ấm áp, gần gũi, thân tình trong một không khí gia đình đặc biệt giữa những ngày lạnh buốt cao nguyên trong mùa Giáng sinh trong một buổi ”trà đạo” lạ lùng giữa những người bạn chưa từng biết nhau mà như đã quen từ thuở nào xa. Tất cả thành viên trong gia đình Hoa Sen đó ai cũng có pháp danh là ”Nhiên”: Thảo Nhiên, Thuần Nhiên, Như Nhiên, Hồn Nhiên… Họ cùng hát những khúc thiền ca do Thuần Nhiên, một thành viên nhạc sĩ sáng tác. Mỗi người một nhạc cụ… nồng nhiệt tham gia. Còn tôi thì ”bỗng nhiên” bất ngờ được thưởng thức trà thơm và tiếng đàn tiếng hát đượm buổi thiền vị này.

Tôi đọc vài bài thơ đáp lễ và rất may tôi có mang theo duy nhất một cuốn bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” liền trao tặng cho người nhạc sĩ. Không ngờ, ngay trong đêm Noel đó, 24.12.2017 anh đã viết nên ca khúc ”Giỗ một dòng sông” và gởi ngay cho tôi bài hát mộc do anh tự hát trong đêm, giữa lúc bên ngoài là tiếng chuông Giáng sinh rộn rã…

Tự bài hát, lời hát, âm điệu… như đã nói lên tất cả! Tôi nghe, không cầm được nước mắt. Bài hát lan truyền thật nhanh trong nhóm bạn bè gần xa.

Thuần Nhiên bảo chờ anh ”dàn dựng” lại cho đàng hoàng đã, nhưng tôi nói, thôi, hát mộc đơn sơ vậy là đã quá đủ và quá quý với tôi rồi. Và tôi xin phép anh cho post lên đây. Cảm ơn Phi Hùng Tôn Thất đã thu qua điện thoại, và cảm ơn nvquyen chỉnh sửa giao diện và ky (phụ đề) lời bài hát thật đẹp rồi post lên youtube để chia sẻ cùng bè bạn hôm nay.

 

 

Đỗ Hồng Ngọc và nhạc sĩ Thuần Nhiên (Nguyễn Đức Vinh). Đà Lạt 23.12.2017

 

Gia đình Hoa Sen họp mặt ở gác ”trà đạo” của Thảo Nhiên, Đà Lạt 23.12.2017 cùng Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc (giữa) với Gia đình Hoa Sen, Đà Lạt 23.12.2017

 

 

 

Cảm ơn Ns Thuần Nhiên đã vừa gởi cho bản nhạc viết tay này. DHN

Viết thêm: Ngày 11.12.2017, nhạc sĩ Thuần Nhiên đã gởi bản nhạc chính thức, có chỉnh sửa vài chỗ so với bản viết tay ban đầu. Xin gởi bạn để tùy nghi nhé:

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 45
  • Trang 46
  • Trang 47
  • Trang 48
  • Trang 49
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thiền và Sức Khỏe: Góc nhìn khoa học.
  • Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ
  • Tâm Nhiên: “DUY MA CƯ SỸ” ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Sách song ngữ Việt Anh: CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HANH PHÚC
  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email