Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Đọc ĐỂ LÀM GÌ: Bàng bạc một tấm lòng…

29/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

 

BÀNG BẠC MỘT TẤM LÒNG…

Đọc “ĐỂ LÀM GÌ” của Đỗ Hồng Ngọc

Hai Trầu Lương Thư Trung

 

Bàn về tác phẩm mới nhứt “Để Làm Gì” của Đỗ Hồng Ngọc vừa phát hành hồi tháng 6 năm 2020 thì rất nhiều bậc thức giả đã đọc và đã nhận định về đủ mọi khía cạnh của tác phẩm này rồi; ở đây với tư cách là một người đọc nhà quê già, tôi chỉ có thể nêu lên được vài cảm tưởng của một người sống cùng thời với tác giả bằng cách để lòng mình chảy tràn theo tấm lòng của tác giả qua từng chủ đề mà tác giả ghi chép lại trên từng trang sách ấy.

Từ đó, cảm tưởng đầu tiên của tôi là thấy tác giả đã trải lòng mình để nhớ về những người cũ, những thế hệ đi trước, những người mà tác giả hằng ái mộ và kính trọng. Đó là khi tác giả nhắc về nhà văn Võ Hồng với tên tuổi mà trong văn giới cũng như người đọc sách chắc ai cũng đã có lần mở ra những trang sách như Hoa Bướm Bướm, Hoài Cố Nhân… hoặc gần gũi nhứt là Một Bông Hồng Cho Cha, Người Đi Trong Bóng Lá…  Ở đây tôi muốn ghi nhận về tấm lòng của tác giả nghĩ về một Võ Hồng với nỗi “cô đơn uy nghi” của tuổi già lúc nhà văn ở vào cái tuổi 80:

“Vẫn căn gác nhỏ với một phòng chừng hơn chục mét vuông, vừa là chỗ ăn chỗ ngủ, chỗ làm việc, tiếp khách… lổn nhổn những sách vở, thư từ, bản thảo… tràn lan trên bàn, trên nệm, dưới gầm. Nhờ cái sân thượng phía trước khá rộng có bóng râm cây khế, cây dừa mà ông có một khoảng không để mà trầm tư, mà hoài cố nhân…”

Với khung cảnh mà tác giả vừa nhắc, chúng tôi, những người bạn cùng thời lúc còn trẻ hồi ở Nha Trang vào những năm 1970-1973, có vài lần đã ghé thăm nhà văn Võ Hồng nơi địa chỉ, nếu tôi nhớ không lầm, đó là căn nhà số 53 đường Hồng Bàng, gần bến xe mới Nha Trang lúc bấy giờ, thì cũng vẫn những ly tách bàn ghế đều ngổn ngang bề bộn như vậy! Rồi khi nhà văn Võ Hồng ở tuổi 91, Đỗ Hồng Ngọc lại một lần nữa ghé thăm tác giả “Hoa Bươm Bướm” với lời cảm ơn người học trò cũ săn sóc nhà văn Võ Hồng rất cảm động:

“Năm ngoái, có dịp về Nha Trang, tôi lại ghé thăm ông, bấy giờ ông đã 91 tuổi, đã dần dần khó tiếp xúc… Cô Đạm, người học trò cũ quý thương ông vẫn là người hằng ngày trực tiếp đến chăm sóc ông cùng với một người giúp việc. Ông tuy nằm liệt giường đã lâu vậy mà trông vẫn thanh mảnh, sạch sẻ lắm. Tôi cảm động nói với cô Đạm, thay mặt những bạn bè thân quen gần xa của nhà văn Võ Hồng, trân trọng cảm ơn cô.”(Để Làm Gì, trang 70).

Nếu như ông không có chút lòng làm gì có những chuyến đi rất xa xôi để thăm lom và nói lên được lời cảm ơn rất trân trọng dành cho cô Đạm, người học trò cũ của Võ Hồng?

 

Rồi tác giả “Để Làm Gì” cũng không quên những người bạn một thời xa lắm thuở hàn vi – có tới hơn bốn năm chục năm- khi nhắc về nhà văn Trần Hoài Thư với nhiều kỷ niệm khi đọc được câu thơ của người bạn mà “muốn rơi nước mắt”:

“Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc

Chuối mẹ chuối con, trời hỡi quê nhà!”

(Xa Xứ, Trần Hoài Thư) 

Hai tiếng “trời hỡi” mới “cải lương” làm sao! Nhưng nó đã làm tôi muốn rơi nước mắt! Cải lương thật tuyệt vời!”

Rồi tác giả lại nhớ tiếp với một tấm lòng lúc nào cũng thương bạn:

“Bốn mươi năm trước, những ngày ở Nha Trang, tôi lang thang cùng anh trên bãi biển đầy những cơn sóng thịnh nộ giữa những ngày tháng bão bùng… Rồi ở Saigon, có lần tôi đèo anh bằng chiếc xe lọc cọc của mình đến tòa soạn Bách Khoa, nơi anh hò hẹn… Trần Hoài Thư là một chàng thư sinh nho nhã, vầng trán rộng quá khổ, đôi mắt hun hút sau tròng kính cận, những ngón tay lòng thòng, dáng đi lỏng khỏng… Anh là một kẻ “nòi tình”, dễ nước mắt, dễ giận hờn, dễ đắng cay… 

Bốn mươi năm không gặp lại. Anh vẫn nhắc tôi món bánh cuốn nóng ở cạnh nhà mình mà hôm đó anh và tôi ra ngồi bên lò lửa từ rất sớm, để tiễn anh đi, không, tiễn anh về. Về nơi gió cát. “Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao”. Không cầm lòng được, hôm đó tôi đã viết cho bạn: 

“Ta cũng muốn ngâm tràn câu tống biệt

Đưa người đi tiếng sóng ở trong lòng

Nhưng khói thuốc đã cay sè đôi mắt

Có ai còn thổi sáo trên sông.

 

Trời buổi sáng mù sương lớp lớp

Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời

Và khí phách thôi một thời trẻ dại

Ta nói gì cho bớt chút chia ly?

 

Đưa người ta nâng ly cà phê nhỏ

Rồi quan san rồi bụi đỏ người đi

Rồi khói súng người tập tành nỗi chết

Ta trở về hiu hắt đường khuya…”

…………..

(Đỗ Hồng Ngọc, 1972)

 

Nhắc tới tấm lòng của Đỗ Hồng Ngọc dành cho những người cũ, tôi không thể không nhắc đến “Sến Già Nam” trong Để Làm Gì. Theo đó, “Sến Già Nam”, “Sến Già Nữ” là một phát hiện rất tình cờ của tác giả khi nghe người ta gọi những băng nhạc Boléro một thời! Và tác giả dành một chút lòng của mình nghĩ về những ca khúc đi vào lòng người cùng các nhạc sĩ, ca sĩ đã từng hát những điệu nhạc ấy mà buồn man mác, xa xăm…

Với tác giả, nhạc chỉ có hay hoặc dở thôi, không cần biết “sến” hay không “sến” gì ráo trọi:“Còn tôi, tôi chỉ biết nhạc hay hay dở với mình mà thôi. Hay là thứ làm tôi “rung động sáu cách” (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý)…, còn dở là nhạc “nghe không vô”!”

Và tác giả còn dẫn ra nhiều bản nhạc theo anh là rất hay như“Chiều làng em” của Trúc Phương;“Mộng ban đầu”của Hoàng Trọng, làm sao quên được; rồi “Lối về xóm nhỏ”của Trịnh Hưng; đặc biệt với bản nhạc  “Tình lúa duyên trăng”của Hoài An, có những câu như:

“Quê hương ta đất xưa vốn nghèo

Nhưng giàu tình thương nhau

Biết yêu lúa mầu xa cuộc đời cơ cầu

Gái trai biết làm tròn lời thề khi ban đầu”

Và tác giả tự hỏi mình mà cũng để hỏi người và hỏi đời:

“Tôi không hiểu vì sao những lời ca đầy tình quê hương, đất nước, tình gia đình, tình gái trai “biết làm tròn lời thề khi ban đầu” như vậy mà “sến”được?”

(Để Làm Gì, trang 57).

 

Đến như “gió bấc” mang hơi lạnh về vào những ngày gần giáp Tết thôi, qua câu thơ của chính mình làm vào năm 1970, tác giả cũng làm người đọc có lẽ cũng sẽ mềm lòng cùng ông về một thời nhung nhớ ấy:

“Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ

Năm nay người có vềăn Tết

Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?…”

(Mũi Né, Đỗ Hồng Ngọc 1970)

“Gió bấc, rất lạ. Nhớ không? Thứ gió thổi lốc qua người, dán sát vào da người như có chút hỗn xược ớn lạnh làm nhớ cơn sốt rét rừng thường chuyển mùa trong Tết, với hương cốm hộc, mứt gừng, mứt bí… rồi bánh căn, bánh xèo, bánh kẹp, cơm gà, bánh canh chả cá… của một vùng biển mang mang mùi nước mắm, những ai nghe quen thì đâm ghiền nặng… rồi sông Cà Ty – Mường Mán, con đường Gia Long đi mãi không cùng, với đường Trưng Trắc Trưng Nhị ôm sát dòng sông nhớ không?

 Cho nên với tôi, gió bấc là Tết, là tuổi thơ, là Phan Thiết, là Mũi Né, là Rạng, là Lagi, là Kê Gà, là Tà Cú…

(….)

gió bấc mùa thơm ngát

bâng khuâng một mái nhà

biển xanh lùa sóng bạc

cát vàng hoàng hôn xưa…”

(Quê Nhà, ĐHN)

Và, Tết:

Đi giữa Sài Gòn

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

Một sáng về quê

Chợt nghe gió bấc

Ơ hay Xuân về

Vỡ òa ngực biếc…

(Gió bấc, ĐHN)

Vậy đó, cho nên về Phan Thiết Mũi Né Lagi… mấy ngày chẳng qua để tìm thứ gió quen mà lạ đó. Và để nghe cái Tết tuổi thơ thấm vào trong da thịt, trong nhớ nhung…”

(Để Làm Gì, trang 157)

 

Ở một cái nhìn khác về sự nhọc nhằn và bền bỉ của những chuyến phà với biết bao mùa mưa nắng dông gió bão bùng bập bềnh trên những bến nước chỉ để chờ đưa rước khách bộ hành qua sông, có khi tuổi đời mỗi bến phà như vậy dài đến cả trăm năm, rồi ra một ngày nào đó nó sẽ chẳng còn lại gì, tác giả đành nhũ lòng“Tôi thấy tôi thương những chuyến phà”:

“Tôi thấy tôi thương những chuyến phà

Ngàn đời không đủ sức đi xa… 

Phà ở quê mình thì khác. Hằng trăm năm nay vẫn ì ạch nối đôi bờ. Thế rồi một hôm bỗng bị người ta vứt lên cạn. Xẻ thịt. Bán ve chai… Không ai còn cần tới nữa! Người ta nay đã có cầu. Những chiếc cầu ngạo nghễ, nghênh ngang vươn giữa dòng sông. Nhưng, hãy đợi đấy! Với tình hình hiện nay, đến một lúc khi mà “sông kia rày đã nên đồng” thì những cây cầu cũng sẽ bị xẻ thịt, bán ve chai… (…) 

Phà đúng là ngàn đời không đủ sức đi xa! Chỉ bờ này bến nọ. Nối những niềm vui, những nỗi buồn, những đợi chờ… (…) Phà chẳng những không đủ sức đi xa mà còn không đủ sức đi mau. Nó ì ạch một cách dễ thương. Ai vội vã mặc ai. Nó cứ ì ạch, khệnh khạng, làm như không nỡ rời bến, không nỡ cặp bờ… Há mõm thật to bên này nuốt gọn dòng người dòng xe rồi há mõm thật to bên kia nhả dòng người dòng xe ra cứ như một con quái vật hiền lành.

Và những chuyến phà trăng. Nó ì ạch chở trăng đi. Nó nhích từng bước như sợ trăng tan. Lòng người cũng nhẹ tênh, dãi cùng trăng sáng.

(Để Làm Gì, trang 164)

Bao giờ và đời nào cũng vậy, trong dòng đời rồi ra có những lúc vật sẽ đổi và sao sẽ dời, có những khi người ta cần mình và có những lúc người ta cũng sẽ quên mình; nhưng biết bao lần có biết bao người đã đi qua những chuyến phà trên khắp các bến sông có ai còn nhớ những nhọc nhằn chìm nổi của những chuyến phà trên các bến nước ấy? Bạn đọc những chuyến phà qua lời tâm sự của tác giả, đến một lúc nào đó nó sẽ hết thời, sẽ thành sắt vụn mà bạn không thấy lòng mình cảm động lắm sao?

 

Đỗ Hồng Ngọc và Hai Trầu (Cafe Đông Hồ, Saigon 2017)

Rồi ngay cả tới những mùa màng ngày cũ, cách nay có tới sáu bảy chục năm, khi nghe người nhà quê già như tôi kể chuyện công việc đồng ruộng mùa màng của mình ngày xa xưa ấy, dù chưa quen biết nhau lâu, dù tác giả học hành thành tài và hành nghề bác sĩ hơn năm chục năm ở Sài Gòn nhưng với lòng từ tâm của một bậc thức giả có lòng, giống như ngày xưa Nguyễn Khuyến lúc nào cụ cũng vui với cái vui của người nông dân và buồn với cái buồn của họ, Đỗ Hồng Ngọc qua bài “Còn thương rau đắng” rất cảm động, rất chí tình sau khi đọc Mùa Màng Ngày Cũ của Lương Thư Trung:

“Bạn có bao giờ Xúc Lùm, Nhảy Hùm, Quậy Đìa, Xuống Bửng, Đặt Lợp, Đặt Lờ, Đặt Rù, Chận Ụ, Làm Mùng, Bắt lươn, Bắt lịch… chưa? Chưa hả? Thì không có gì tốt hơn đọc Mùa màng ngày cũ của Lương Thư Trung tức Hai Trầu đi! Tôi ở miệt biển, Lagi, hồi nhỏ thỉnh thoảng mới được về quê ngoại ở Phong Điền theo người ta tát đià bắt cá, cắm câu… mê lắm, nhưng quả thực đọc Hai Trầu mới biết ở miền Tây đời sống người dân quê mình nhiều sinh hoạt phong phú biết chừng nào! 

Miền Tây, hai tiếng thôi đã nghe lòng nôn nao nhớ một bài hát cũ: “… Có ai về miền Tây/ Lúa mùa thơm thơm mãi/ Dừa xanh nghiêng chênh chếch/ Cá ngược dòng sông đầy…” (Y Vân). Cá ngược dòng sông đầy nên mới có Xúc lùm, Quậy đìa, Chặn Ụ, Làm mùng và mới có Mùa xạ lúa, Mùa cấy lúa, Mùa bắp, Mùa đậu… Về miền Tây, để ngẩn ngơ mấy cây cầu khỉ, ngẩn ngơ những chuyến phà ngang: “Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba/ Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm/ Qua bến bắc Cần Thơ…” (Trần Thiện Thanh). Về miền Tây, còn đó thứ tình nghĩa chân thật dù vật đổi sao dời… nên mỗi lần đọc lại Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam, đọc lại Ba anh em nhà họ Điền, chuyện Lưu Bình Dương Lễ không sao không cảm thấy lòng rưng rưng!”

(…) 

“Sáu bảy mươi năm, mới thôi, mà đã quá xa! Ngày nay, toàn cầu hóa, thế giới phẳng, một sát na đã qua là một pháp giới khác. Ai còn nhớ đến chuyện quê xưa?

Mùa Màng Ngày Cũ với tôi là một chút tình quê, một “khung trời kỷ niệm”, một “rau đắng nấu canh” (Bắc Sơn)!”

(Để Làm Gì, trang 128)

 

Tóm lại, qua 65 đề tài với hơn 400 trang sách, tác giả đã đề cập về mọi khía cạnh khác nhau của đời sống, từ con người tới thiên nhiên, cây cỏ, từ những tình cảm dành cho bạn bè thân thiết mấy chục năm cho chí đến những chuyến phà, những cây cầu khỉ, những bến sông, đâu đâu người đọc cũng đều bắt gặp bàng bạc một tấm lòng của tác giả về những cảnh đời qua nhiều màu sắc ấy!

Theo thiển ý quê mùa của mình, tôi nghĩ viết sách hay, không cần phải cố làm cho văn hay, mà cũng không cần phải cố ý mang vào sách một thứ đạo lý hoặc một thứ triết lý cao siêu nào đó trong các trang sách của bạn mà chỉ cần dành cho đời một tấm lòng cảm thấu chân thành của mình, chừng đó thôi, bạn đã làm nên tác phẩm giá trị rồi! Và tôi nghĩ, sách “Để Làm Gì” nói riêng và nhiều tác phẩm khác của Đỗ Hồng Ngọc nói chung, được nhiều người tìm đọc, có lẽ một phần chánh yếu là nhờ vào tấm lòng trắc ẩn, hiểu đời, thương đời của một bậc thức giả luôn bàng bạc trên khắp các trang sách của tác giả vậy!

HT

Houston, ngày 26 tháng 7 năm 2020.

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Tôi thấy tôi thương những chuyến phà

24/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tôi thấy tôi thương những chuyến phà

Đỗ Hồng Ngọc

 

Tôi thấy tôi thương những chuyến phà

 Ngàn đời không đủ sức đi xa…

Không phải thơ của tôi đâu! Nhại thơ Tế Hanh đó. Từ những năm 40 của thế kỷ trước, Tế Hanh viết:

Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu

 Ngàn đời không đủ sức đi mau

 Có chi vướng víu trong hơi máy

 Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau…

(Những ngày nghỉ học. Tế Hanh).

 

Thật ra mấy chiếc toa tàu chẳng nặng khổ đau gì đâu, khổ đau chẳng qua là do “lòng của người đi với kẻ về” kìa! Nhưng Tế Hanh quả cũng không thể ngờ rằng chẳng bao lâu sau đó, những chiếc xe lửa đầu đạn chạy nhanh như gió với tốc độ 300 km/giờ và nay đã lên đến 500 km/giờ!

Phà ở quê mình thì khác. Hằng trăm năm nay vẫn ì ạch nối đôi bờ. Thế rồi một hôm bỗng bị người ta vứt lên cạn. Xẻ thịt. Bán ve chai… Không ai còn cần tới nữa! Người ta nay đã có cầu. Những chiếc cầu ngạo nghễ, nghênh ngang vươn giữa dòng sông.

Nhưng, hãy đợi đấy! Với tình hình hiện nay, đến một lúc khi mà “sông kia rày đã nên đồng” thì những cây cầu cũng sẽ bị xẻ thịt, bán ve chai… “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng”, là cuốn sách của bạn tôi, bác sĩ, nhà văn Ngô Thế Vinh báo động gần hai mươi năm trước, nay gần như đã hiện thực. Gần đây, Ngô Thế Vinh còn có loạt bài nêu vấn đề phải chăng cần làm đê ngăn nước mặn tràn bờ và làm những hồ chứa nước ngọt ở U Minh Đồng Tháp, một khi nước ngọt sắp trở thành một thứ “vàng xanh”!

 

mênh mông sông nước miền Tây
(Nguồn: Internet)

 

Những ngày cuối năm, tôi vội vã đi một vòng qua những chuyến phà. Hết rồi phà Rạch Miễu. Hết rồi phà Cần Thơ, phà Mỹ Thuận. Hết cả phà Hàm Luông. May còn Cổ Chiên. Cổ Chiên thiệt ngộ. Ngay cái tên nghe cũng khoái rồi. Cổ Chiên khác Cần Thơ, Rạch Miễu. Nó dài và rộng hơn, và đặc biệt, nó gần biển hơn nên lắc lư với sóng và gió biển, đến nỗi tưởng mình đang vượt biển trong khi những phà khác chỉ vươn qua một dòng sông! Đi trên phà Cổ Chiên… sắp dẹp, đã nghe có cái gì khang khác: không còn ung dung, thư thả, mà hấp tấp vội vàng. Ai nấy như bực bội, cáu gắt hơn, kể cả những nhân viên phục vụ. Họ sẵn sàng quát tháo, to tiếng. Không một tiếng rao. Không một tiếng đàn, tiếng hát… Rời Cổ Chiên, tôi qua Đình Khao rồi Vàm Cống, An Hòa, Cao Lãnh, Mỹ Lợi… Không kể phà Cát Lái, Bình Khánh, Thủ Thiêm vốn gần gũi thân quen.

Đi cho hết phà. Bởi vì rồi đây phà sẽ vắng dần rồi tắt ngủm. Như những cây cầu khỉ và áo dài trắng nữ sinh. Và, như những dòng sông…

Phà đúng là ngàn đời không đủ sức đi xa! Chỉ bờ này bến nọ. Nối những niềm vui, những nỗi buồn, những đợi chờ… “Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm… qua bến bắc Cần Thơ”(Chiếc áo bà ba, Trần Thiện Thanh)… Hồi đó trong Nam phà gọi là “bac” – tiếng Pháp- chạy có giờ. Ban đêm phà nghỉ. Trễ một chuyến phà là trễ biết bao nhiêu!
Phà chẳng những không đủ sức đi xa mà còn không đủ sức đi mau. Nó ì ạch một cách dễ thương. Ai vội vã mặc ai. Nó cứ ì ạch, khệnh khạng, làm như không nỡ rời bến, không nỡ cặp bờ… Há mõm thật to bên này nuốt gọn dòng người dòng xe rồi há mõm thật to bên kia nhả dòng người dòng xe ra cứ như một con quái vật hiền lành.
Và những chuyến phà trăng. Nó ì ạch chở trăng đi. Nó nhích từng bước như sợ trăng tan. Lòng người cũng nhẹ tênh, dãi cùng trăng sáng. Bỗng nhớ

Có ai về miền tây/ lúa mùa thơm, thơm mãi/ dừa xanh nghiêng chênh chếch/ cá ngược dòng sông đầy… Có ai về miền tây/ mái nghèo nhưng mà đẹp/ má gầy nhưng mà xinh…(Y Vân).

 

Phà Cổ Chiên về Trà Vinh
(nguồn: Internet)

 

Có những cuộc tình phà. Làm như khi người ta lên phà, rời bến, người ta sống một cách khác rồi. Lòng rộng mở cùng sông nước, chập chùng cùng bãi bờ. Người ta bỗng dễ thương chi lạ. Nếu không, đâu có L’Amant (Người tình) của Marguerite Duras thuở nào…
Một ông bạn “đào hoa” của tôi nói, qua phà, một cơ hội tốt để làm quen, đế tán tỉnh… Ai cũng đẹp ra, thảnh thơi ra, mở lòng ra. Người ta hình như đã bỏ đi trên bờ kia bao nhiêu nhọc nhằn, bao nhiêu khổ lụy. Chỉ có ở trên phà, người ta mới dễ mời mọc xâu nem, bịch bánh tráng, mía, bắp, trái cây các thứ. Chỉ có ở trên phà, người ta mới dễ nhũn lòng với tiếng hát tiếng rao. Sau những giờ cá hộp nhọc nhằn, sau những giờ chờ đợi mướt mồ hôi, người ta uống vội trái dừa tươi hay ly trà đá để kịp chen chúc xuống phà. Nhẹ nhõm, sảng khoái, lâng lâng. Phà vì thế mà.. rất phà!

Tôi còn có một kỷ niệm với Phà Rừng, một đêm trăng. Đó là năm 1978, lần đầu tiên ra miền Bắc. Phà Rừng. Phà qua sông Bạch Đằng. Không thể cầm lòng mà không thử nhúng chân xuống nước, để nghe rờn rợn lời của dòng sông “…Bạch Đằng giang sông hùng dũng của nòi giống tiên rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng, Nam Bắc Trung…” …

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Vài kỷ niệm với Mang Viên Long

24/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Vài kỷ niệm với Mang Viên Long
Đỗ Hồng Ngọc

 

Thư gởi bạn xa xôi (10.2013)

*  Mang Viên Long, bạn nhớ không?  Mới đây từ Bình Định phone vào hỏi anh mới bị xe tông, té xuống đất, may có nón bảo hiểm không hề hấn gì nhưng vẫn cứ lo, bây giờ phải làm sao, muốn nhân dịp vào Saigon tái khám tim ở bác sĩ Thân Trọng Minh (Lữ Kiều) sẽ khám thần kinh luôn. Mình hỏi thêm vài chi tiết có … bất tỉnh không? có nhức đầu? nôn mửa… gì không thì không. Lời khuyên dù sao dịp này cũng nên làm cái MRI cho chắc ăn. Tái khám tim, hẹp van động mạch chủ nhưng chưa đến đỗi nào. Lữ Kiều bảo MVL : “Cứ tiếp tục yêu đi, không sao đâu!”. Kết quả MRI cái đầu cũng không có vấn đề. Mừng rồi. MVL bèn… mời anh em một chầu café ”hậu tạ”. Hẹn nhau đến cái quán gần cổng Cư xá đô thành, nơi còn chút vòm lá xanh nhớ không?

 

Từ trái: Sâm Thương (thấy lưng) Chu Trầm Nguyên Minh, Rừng, Nguyên Minh, Lữ Kiều, Đỗ Nghê, Mang Viên Long) Ngày 10.10.13

Từ trái: Sâm Thương (thấy lưng) Chu Trầm Nguyên Minh, Rừng, Nguyên Minh, Lữ Kiều, Đỗ Nghê, Mang Viên Long (Saigon,10.10.2013)

Khi mình đến nơi đã thấy có Lữ Kiều, Chu Trầm Nguyên Minh, Rừng, Nguyên Minh, Mang Viên Long. Lát sau có thêm Sâm Thương… cà nhắc tới. Lữ Kiều bảo cả nhóm ngồi đây đa số là  thân chủ của bạn. Dĩ nhiên rồi, già thì bệnh, mà bệnh thì không khỏi “ba cao một thấp” (tiểu đường, huyết áp, tim mạch, thấp khớp…).  Lữ Kiều là bác sĩ chuyên khoa tim mạch mà! Bản thân Lữ Kiều cũng phải mỗi ngày tự “harakiri” mấy chục đơn vị Insuline vào bụng! Họa sĩ Rừng cho biết sắp mở triển lãm, hẹn anh em đến Du Miên ngày khai mạc, café miễn phí! Ai cũng khâm phục Rừng về nhiều mặt không thể kể… hết. Chu Trầm Nguyên Minh lúc này phụ giúp Nguyên Minh làm tờ Quán Văn, đang chuẩn bị ra mắt số chủ đề sông Mường Mán (Phan Thiết) sau khi đã làm số  về Sông Dinh và sông Seine.

Quán Văn có vẻ mê sông nhỉ? Đến nỗi bìa và phụ bản cũng đều do… Sông Ba lo!  Khi bảo Chu Trầm Nguyên Minh lúc này… “núp bóng” Nguyên Minh (trầm) thì anh cực lực phản đối. Anh nói anh cao hơn Nguyên Minh hẳn một cái đầu! Mà đúng vậy. Đứng lên đo thì sẽ biết!

(www.dohongngoc.com)

Viết thêm: Mới thôi, mà đã Chu Trầm Nguyên Minh, Sâm Thương và nay Mang Viên Long… đi rồi. Cảm ơn Trần Vấn Lệ đã viết cho Mang Viên Long: Đi! Đi! Đi Đi Đi… như Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté…

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thương nhớ đòn roi… 

20/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thương nhớ đòn roi… 

tặng Khuất Đẩu

Đỗ Hồng Ngọc

Nguồn: Internet

Tôi thường tự hỏi không hiểu vì sao ngày xưa trẻ con thuờng bị đòn roi mà nên người còn bây giờ cha mẹ… sợ con, lúc nào cũng ngọt ngào, tử tế với con mà con dễ bị hư? Dĩ nhiên là không vơ đũa cả nắm! Câu trả lời có thể là vì ngày xưa con người còn được thong dong, có nhiều thì giờ để gần gũi nhau, tình mẫu tử, tình phụ tử nhờ đó mà nẩy nở, phát triển toàn vẹn. Cha mẹ theo dõi con từng cử chỉ, lời ăn tiếngnói, để kịp thời uốn nắn. Nói cách khác là có sự quan tâm, dạy dỗ con từng li từng tí theo lứa tuổi. Dĩ nhiên dạy con không thể không có những lúc nổi nóng, đánh vài roi. Có khi đánh thiệt, có khi chỉ dọa. Con biết ngay là cha mẹ thương mình. Đánh xong, cha mẹ còn bật khóc, vì hối hận, vì đau lòng. Lúc đó có khi chính con là người ôm lấy cha mẹ, vỗ về, an ủi, hứa từ nay “không dám vậy nữa”! Tình cha mẹ con cái sau đó càng trở nên khắn khít, đằm thắm, như hiểu nhau hơn, như quý nhau hơn. Cha biết rằng con đang mang trong mình hạt giống của cha mẹ, giống dòng, đánh con vài roi là đánh vào chính mình, đánh vào tương lai mình. Mẹ ít đánh con hơn mà tình thương thì trải rộng, chan hòa trong từng cử chỉ, lời nói. Đau xót khi con bị đánh, nhưng mẹ thường bình tĩnh, dịu dàng giải thích cho con thấy rõ lỗi, có khi mẹ còn bảo đánh thêm cho nó chừa – tức là không bênh con – nhưng nếu biết con bị oan thì can ngăn lằn roi của cha, đem thân mình ra mà đỡ, ôm chặt con vào lòng, bày tỏ với con sự trìu mến, dịu ngọt, dỗ dành. Dạy và dỗ như vậy luôn đi đôi với nhau. Cha dạy. Mẹ dỗ. Cha nghiêm đường. Mẹ từ mẫu. Cũng có khi ngược lại. Như là có một sự phân công của tự nhiên. Chuyện xưa kể có người con đã lớn bị cha đánh đòn đã bưng mặt khóc nức nở, người cha kinh ngạc hỏi, tại sao ngày xưa tao quất mày túi bụi, mày không khóc, bây giờ quất mấy roi mà mày lại khóc nức nở vậy hở con? Con nói rằng cha đánh con ngày càng yếu đi chứng tỏ cha đã ngày một già thêm… nên con khóc! Những chuyện như vậy bây giờ ít được nghe kể nữa, chỉ nghe người ta kể nhiều về chuyện con cái gọi cảnh sát đến bắt cha mẹ… bỏ “bót”!

Đòn roi ngày xưa rõ ràng chỉ là một trong những cách dạy dỗ con – (Có người như mẹ Mạnh Tử đã phải dời nhà ba lần để con có môi trường tốt mà học tập). Mỗi lần đánh con thì người đau là cha mẹ. Con ý thức rõ điều này hơn ai hết. Cha thường lựa chỗ mông thịt của con mà đánh cho nó đỡ đau, chỉ làm nó biết lỗi mà sửa. Mẹ luôn hợp tác cùng cha, dặn dò cặn kẻ, chỉ dạy thêm cho. Không có chuyện cha mẹ đấu với nhau… để “ngư ông đắc lợi”! Không hề có chuyện đòn roi vì thù hằn, vì trút giận. Cha mà giận, lạnh lùng không nói một tiếng mới thật là đáng sợ! Cha mà giận, mở tung cửa, bỏ nhà ra đi mới thật là đáng sợ! Con hoảng hốt chỉ mong cha đánh mình mấy roi, nói rõ lỗi của mình để sau đó cha con cùng nhẹ lòng, cùng vui vẻ, gia đình đầm ấm như xưa.

Nguồn: Internet

“Đòn roi” bây giờ khác hẳn rồi chăng? Cha mẹ đã quá mệt mỏi, đã quá đuối sức vì những chuyện bên ngoài, đi sớm về khuya, gặp con nhiều khi chỉ còn là những lời hỏi thăm qua loa, hời hợt, rồi là trách cứ, hạch hỏi, điều tra, rồi là ngờ vực, hăm dọa, đôi khi chế nhạo, làm nhục… như nhiều trẻ đã lên tiếng. Có trẻ chỉ muốn bỏ nhà ra đi, có trẻ muốn “chết quách cho khỏe”! Nếu có đòn roi, thì lúc đó đòn roi sẽ là những “vết thù trên lưng ngựa hoang”! Con thấy cha mẹ bỏ bê mình, không hiểu mình, không thương mình. Trong khi cha mẹ có thể đã thương con cách khác, mong muốn để lại cho con một gia tài sự nghiệp lo cho tương lai của con. Đứa trẻ ngược lại chỉ mong được ngửi… mùi mồ hôi mẹ, được tựa vào bờ vai cha trong cảnh sống giản đơn mà hạnh phúc, trong từng bữa ăn, giấc ngủ. Gia đình là một tổ ấm, một chốn nương thân cả thể xác lẫn tâm hồn chứ không phải là một chiến trường mang từ cuộc sống xô bồ bên ngoài về! Những cuộc đụng độ của cha mẹ, những cuộc tranh hơn thua của cha mẹ thấm vào trẻ còn đau hơn cả đòn roi! Ngay cả những ngọt ngào, giả lả, bù đắp, trẻ cũng nhận ra không phải là thứ tình thương của chân thành và thấu cảm.

Dĩ nhiên, “Thương nhớ… đòn roi” không có ý tái lập chuyện này trong gia đình, chỉ muốn nói rằng có những cái không phải là đòn roi mà còn đau hơn đòn roi đối với trẻ em vậy.

(ĐHN, 17.7.2020)

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

Bs Đỗ Hồng Ngọc ra mắt sách “Để làm gì”

20/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ra mắt sách “Để làm gì”

(http://ictvietnam.vn)

“Để làm gì” là tác phẩm mới nhất của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa được Nhà Xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ra mắt bạn đọc với một không gian sống đầy trải nghiệm của chính tác giả.
 
Tựa sách “Để làm gì” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc xuất phát từ câu nói của André Maurois, rằng “khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì”, lúc đó mình đã già thiệt rồi”. Từ cái ý của Maurois về “nghệ thuật già” ấy, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thú nhận rằng lâu nay ông biết mình già, nhưng quả thật ông vẫn đang nghĩ là mình đang “già giả” thôi.

Trong cuốn sách này, tác giả vừa cảm nhận tuổi già của chính mình, vừa lục soạn lại mớ gia tài trước tác bấy lâu nay trong ý niệm thường trực “để làm gì”, rồi gạn lọc lại, hình thành thêm một quyển sách.

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ra mắt sách: Để làm gì - Ảnh 1.

Cuốn sách mới nhất của Nhà văn, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

 

Bạn đọc sẽ được chính những trang sách dẫn dắt theo bước tác giả về lại không gian sống của nhiều “cảnh giới”. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có cách kể chuyện như sực nhớ lại chuyện hay hay của chính mình, tiện chỗ bạn bè nên kể lại cho vui, vậy mà người đọc bị cuốn theo lúc nào không biết, đọc như sợ hết mất quyển sách, đọc “dè sẻn” để tìm lại chính mình trong đó.

Dường như với người bạn nào, Đỗ Hồng Ngọc đều nhìn ra cái hay để học, từ ông bạn Hai Trầu với câu thơ tuy chợ búa mà vẫn ý đạo: Đạo cang thường chẳng phải cá tôm/ Đang mua mớ nọ, chạy chồm mớ kia; đến ý tưởng “Thy đạo” của Nguyễn Bắc Sơn như một điểm bấu víu trong những tháng ngày chông chênh tuổi tác.

Tiếp theo, rồi Hoài Khanh lúc cuối đời vẫn kịp nhắc ông chữ trơ vơ khác với chơ vơ hay cũng chính bạn bè cắt nghĩa cho ông những địa danh mang phương ngữ Chàm xưa: Tà là núi (Tà Zôn, Tà Cú, Tà Pao), La là sông (La Ngâu, La Ngà, La Gi), Hàm là ruộng (Hàm Tân, Hàm Thuận, Hàm Cường)…

Bạn đọc thấy mình trôi theo biết bao điều thú vị qua câu chữ, ngoảnh lại nhìn cái nhan đề sách, bừng tỉnh nhận ra: thì chỉ cần vậy thôi chứ đâu cần phải hỏi “để làm gì?”.

Có những bài đầy chất thơ, xen kẽ với mọi đề tài viết theo ngẫu hứng, rồi những bài cảm nhận về các tác giả, mà loại nào cũng được viết dưới lăng kính thơ mộng để chuyển tải những suy nghĩ uyên bác một cách thâm trầm, nhẹ nhàng.

Đó là điểm đặc biệt của bút pháp Đỗ Hồng Ngọc. Lôi cuốn người đọc bằng sự hiểu biết sâu rộng, nhẹ nhàng chứ không phải kiểu giáo điều, cứng nhắc, máy móc, thay vào đó là lời thì thầm nhỏ to tâm sự…

Nhà văn, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gia nhập giới viết văn từ trước 1975, tính đến nay đã in ngót 40 đầu sách.

N.N
Và, một clip ngắn trên HTV 9, Chủ Nhật 19.7.2020:
https://drive.google.com/file/d/10pCLzJRH5QGGACDszNeYN4n53krJg8aV/view?zarsrc=30

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Huỳnh Ngọc Chiến: Tản mạn cùng “Nghĩ từ trái tim”

12/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Sau buổi “Ra mắt bỏ túi” Để Làm Gì ở NXb Tổng Hợp Tp.HCM, bạn Huỳnh Ngọc Chiến đã gởi đến tôi bài viết này của anh đã đăng trên Giác Ngộ Online 2009.

Trân trọng cảm ơn HNC và xin được chia sẻ cùng bạn bè thân thiết.

ĐHN

 

Tản mạn cùng “Nghĩ từ trái tim”

Huỳnh Ngọc Chiến

 

Thật khó lòng tưởng  tượng khối năng  lượng khổng lồ được  giải phóng từ hai quả bom nguyên tử kinh người tại Hiroshima và Nagasaki lại bắt nguồn từ công thức vật lý chỉ có vỏn vẹn năm ký tự E=mc2. Cũng thế, thật khó lòng tưởng tượng toàn bộ khối kinh sách đồ sộ trong hệ tư tưởng Bát nhã Phật giáo, nói về trí huệ siêu việt thượng thừa thù thắng làm kinh động tất cả tam thiên đại thiên thế giới, lại bắt nguồn và được khoáng diễn từ một chữ KHÔNG, rồi lại được cô đọng trong bài Tâm kinh chỉ vỏn vẹn có 260 chữ. Đủ thấy bản thân mỗi chữ trong Tâm kinh đều hàm ẩn một dạng năng lượng khổng lồ E=mc2 như thế nào rồi! Diệu dụng của chữ KHÔNG thật vô bờ bến.

“Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc; sắc tức thị Không, Không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp Không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố Không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh-tận, nãi chí vô lão-tử, diệc vô lão-tử-tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc”.

Toàn bộ thế giới vật lý và tâm lý với lục căn, lục trần, lục thức, cho đến thuyết Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên nền tảng của Phật giáo đều bị quét sạch trong cơn lốc phủ định toàn triệt của hai chữ BẤT và VÔ. Bởi vậy, không ngạc nhiên gì khi chư Phật không ngớt khuyến cáo thính chúng đừng sợ hãi khi nghe thuyết giảng kinh Bát Nhã. Không kinh hãi sao được khi mà mọi chỗ an tâm lập mệnh, mọi sở trú của con người đều bị phủ định vì “Tứ đại giai không, ngũ uẩn phi hữu” và con người dễ có cảm giác như bị rơi tõm vào cõi hư không mù mịt giữa cõi Ta bà?

Thế nhưng, phủ định toàn triệt là thể cách vi diệu để đưa đến sự khẳng định toàn triệt trong cảnh giới tự do tuyệt đối. Tuy Chân Không mà lại là Diệu Hữu. Có lẽ để hậu thế dễ tiếp cận hơn với tư tưởng KHÔNG, nên toàn bộ kho tàng kinh sách Bát Nha khổng lồ, đặc biệt là 600 cuốn Đại Bát Nhã, đã được cô đọng trong bản Tâm kinh. Chung quanh Tâm kinh vẫn luôn là những huyền thoại với những năng lực siêu nhiên cùng với bước chân hành hương của nhà chiêm bái vĩ đại Huyền Trang, hiểu theo nghĩa nó là “đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư”. Tâm kinh vẫn mãi mãi là một huyền án đối với những ai quan tâm đến Phật học và luôn chờ những lời chú sớ. Trong tác phẩm “Thiếu Thất lục môn”, mà theo tương truyền là của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, có chú giải về bản Tâm kinh này, với cửa thứ nhất là “Tâm kinh tụng”. Muốn vào được động Thiếu Thất phải lọt qua cửa ải Tâm kinh. Song bản chú giải “Tâm kinh tụng” theo kiểu bình tụng trong “Thiếu Thất lục môn” cũng khó hiểu như nguyên bản cần được chú giải bởi vì chư Tổ giải minh Tâm kinh từ cảnh giới giải thoát bất khả tư nghì của mình, khiến những độc giả sơ cơ như chúng ta khó lòng tiếp cận. Đó là cách đem ẩn ngữ trùm thêm lên ẩn ngữ, khiến cho nó càng “huyền chi hựu huyền”, nên xưa nay nhiều Phật tử thường chỉ học thuộc lòng suông Tâm kinh với thái độ “kính nhi viễn chi ”. Nói đúng ra là chư Tổ không muốn phu diễn (vulgariser) nội dung Tâm kinh bằng ngôn ngữ quy ước trong thế giới khái niệm. Các ngài không chú giải Tâm kinh mà chỉ ghi lại kinh nghiệm thực chứng của mình từ Tâm kinh bằng những lời bình tụng, cũng như người xưa thích “chú giải” một bài thơ bằng cách làm một bài thơ khác! Đây là thể cách thường thấy trong lịch sử văn hóa phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc.

Chỉ khi nào đạt đến cảnh giới của chư Tổ, chúng ta mới  mong chia sẻ kinh nghiệm của các ngài qua các lời bình tụng đó, vì trong thực tế lắm khi do sự bất toàn của ngôn ngữ quy ước, lời bình chú dễ vướng vào vấn nạn “démystifier pour mieux mystifier” , theo Dominique Duvivier,  nghĩa là muốn giải thích rõ ràng một sự việc thì ta lại càng làm cho nó trở nên khó hiểu. Theo cách nói của ngôn ngữ Thiền tông, đó là “Tuyết thượng gia sương” (Trên tuyết lạnh lại đổ thêm sương).

Trong giới Thiền tông, dường như chỉ có Thiền sư Động Sơn Lương Giới, khai tổ tông Tào Động, mới đặt ra nghi vấn về nội dung Tâm kinh. Ngữ lục Thiền tông ghi lại rằng thuở nhỏ, sư theo thầy tụng Tâm kinh đến câu “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ”, sư chợt lấy tay sờ lên mặt mà hỏi thầy:

– Con có đầy đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, cớ sao trong kinh nói là không?

Vị bổn sư lấy làm kinh ngạc, bảo:

– Ta chẳng phải thầy của ngươi.

Và giới thiệu sư đến núi Ngũ Tiết làm lễ xuất gia với Thiền sư Linh Mặc.

Câu hỏi của Thiền sư Lương Giới là cách trì tụng Tâm kinh đúng nghĩa, vì sư không muốn nắm bắt huyền nghĩa Tâm kinh bằng khái niệm. Hôm nay, có một người không xuất thân từ chốn thiền môn, quanh năm không hề rau dưa kinh kệ, mà lại “dám” theo chân chư Tổ để khám phá thêm những ẩn ngữ của Tâm kinh. Đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với tác phẩm “Nghĩ từ trái tim” qua lời tự bạch:

“Tác giả viết cuốn này là để tự chữa bệnh cho mình và cũng giúp cho vài bạn bè trang lứa, đồng bệnh tương lân. Cái nhìn về Tâm kinh trong Nghĩ từ trái tim là cái nhìn của một người thầy thuốc, một bác sĩ, có thể rất khác với những người khác và mong được chia sẻ” (Lời cuối sách).

Có lẽ nhờ vậy mà người đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi những suy nghĩ nhẹ nhàng không nặng về học thuật. Tâm kinh, qua cái nhìn của một thầy thuốc với những kinh nghiệm hành trì thực sự, bỗng nhiên trở nên nhẹ nhàng dễ hiểu. Nó hòa nhập và mang hơi thở bình dị của cuộc sống đời thường một cách thật dễ dàng. Theo lời tâm sự trong sách, tác giả đã “ngộ” ra Tâm kinh sau một cơn đau thập tử nhất sinh. Do thân bệnh mà thấy được tâm bệnh. Nhờ chữa bệnh của thân mà chữa luôn được bệnh của tâm. Quả là một cơ duyên hy hữu để thể nghiệm được cảnh giới “Tuyệt hậu tái tô” trong cõi “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan phùng”. Tôi cảm nhận được rất rõ điều này khi đã một lần tìm về cõi Sinh từ cõi Tử. Lúc đó, chỉ có những gì giúp ta một mình đối diện với cái chết bằng tinh thần vô úy mới thực sự có ý nghĩa, ngoài ra ta sẽ thấy tất cả mọi thứ trên đời đều vô nghĩa và phù phiếm. Tâm kinh có lẽ là một hành trang cần có cho chúng ta trên đường về cõi Chết, một khi ta cảm nhận được rằng “vô lão-tử diệc vô lão-tử-tận”. Tôi tin rằng tác giả “Nghĩ từ trái tim” phải có những kinh nghiệm nhất định khi trì tụng Tâm kinh mới có thể viết được những trang sách bình dị mà sâu sắc đó.

“Tâm kinh ở đây là một loại” chân kinh” cần phải được rèn luyện, thực tập, thực hành, thực chứng… chớ không lý thuyết suông, không để học hỏi tụng niệm thuộc lòng…” (tr.19).

Mọi thứ văn chương biên khảo với tất cả các ngôn ngữ quy ước đều phù phiếm và bất lực, một khi nó không dựa trên kinh nghiệm thực. Huống gì là lời bình giải cho bản Tâm kinh. Lúc đó kiến thức sẽ nhường bước cho kinh nghiệm và sự hành trì. Tôi ghi nhận điều này qua bài viết “Ngã ba ngôn ngữ”, và biết bài viết của chính mình vẫn chứa quá nhiều yếu tố bất toàn về ngôn ngữ, nên đã có lần nói với anh: “Có lẽ mọi ngôn ngữ quy ước đều bế tắc. Có khi viết nghiêm túc một cách cà rỡn như Bùi Giáng hoặc viết nhẹ nhàng như anh mà lại hóa hay”. Nghĩa là cứ viết bằng sự cảm nhận những điều tưởng chừng huyền mật từ hơi thở bình dị của cuộc sống đời thường. Tác giả Đỗ Hồng Ngọc phần nào đã làm được điều này, theo cách của riêng anh.

Đọc Tâm kinh, “hành thâm Bát nhã” suy cho cùng cũng chỉ là cách học tập để an trú trong cõi đời bằng một thể cách khác. Cực lạc cũng là đây mà A-tỳ-địa-ngục cũng chính là đây. Thử hỏi trong đời có gì xấu xí bằng hình ảnh ngọ ngoạy của con sâu, và có gì đẹp bằng hình ảnh phất phới bay của con bướm màu sặc sỡ? Nhưng hai con chỉ là một từ trong bản chất. Đó là điều huyền mật nhất giữa trần gian. Sinh tử hòa nhập với Niết bàn, tội lỗi trộn lẫn với thanh cao, giác ngộ ẩn tàng trong vô minh, bóng tối chan hòa cùng ánh sáng, tất cả đều chỉ là một. Đáo bỉ ngạn là vượt qua sông để đến với bờ bến bên kia. Bên kia là Bồ đề, là giác ngộ. Nhưng đến bờ bến bên kia là để trở lại bên này, và:

“… làm cách nào thực hiện được Tâm kinh trong đời sống hàng ngày của một người bình thường, giúp họ thay đổi thái độ, có cái nhìn mới mẻ về cuộc sống, về cõi người, về vũ trụ và nhờ đó thấy cuộc sống đẹp hơn, quý giá hơn, sống có trách nhiệm hơn với thiên nhiên, với đời, với người, với bản thân…; làm việc hiệu quả và năng suất cao hơn, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi thành viên… (tr.34-35)”.

Cuốn “Nghĩ từ trái tim” được tái bản đến lần thứ tám, một điều cực kỳ hiếm hoi đối với một cuốn sách dạng biên khảo, khi mà cái học thực dụng thô thiển đã biến sự đơn bạc về tình cảm, sự hời hợt trong tư duy trở thành một nét đặc trưng đau xót trong xã hội hiện nay. Nhưng khi đọc xong thì tôi hiểu. Văn chương thực chưa chắc đã hay, nhưng văn chương muốn hay thì phải thực. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không suy nghĩ từ khối óc mà “nghĩ từ trái tim”. Tất cả những gì anh viết đều là những điều cảm nhận từ kinh nghiệm hành trì của bản thân, cũng như từ những suy tư bình dị và chân thành của trái tim. Mà những gì phát xuất từ trái tim chân thực đều dễ dàng đi vào tận trong sâu thẳm lòng người.

Huỳnh Ngọc Chiến

(Giac Ngo Online 4.2009)

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn (5.7.2020)

08/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn (5.7.2020)

“Ra mắt” ĐỂ LÀM GÌ để làm gì?

Mình không có ý định “Ra Mắt” cuốn ĐỂ LÀM GÌ để làm gì, vì vốn nó chỉ là một Tạp tuyển những bài viết ngắn ưng ý như một kỷ niệm trong buổi “về thu xếp lại” này thôi, nhưng truyền thống của các Nhà xuất bản nói chung cũng hay: Ra mắt là dip để “giao lưu” giữa tác giả và người đọc, và quan trọng không kém là để quảng bá, giới thiệu tác phẩm mới đến bạn đọc, nếu không, sách “ế” cũng nguy, nhất là trong thời Cô-Vi này. Sách mình xưa này không đến nổi ế, tuy chưa “best seller” như cuốn Gió heo may đã về dạo nọ, nhưng các nhà xuất bản đều gọi là loại “long seller” mà!

Sau cùng mình chọn làm buổi “gọi là ra mắt” nho nhỏ, kín đáo một chút, riêng tư một chút, thân mật, gần gũi ở ngay trong Nhà xuất bản thay vì làm “hoành tráng” ở Đường Sách đông đúc nhộn nhịp.

Chỉ khoảng 40-50 bạn tham dự, cũng ngộ là thấy có lớp trẻ cũng khá đông. Mình gởi bạn vài hình ảnh và mấy lời phát biểu của các “trưởng lão” được một bạn ghi lại vậy nhe.

MC Xuân Huy dặn bác Ngọc phải ngồi hàng dưới kia, chờ con giới thiệu xong sẽ lên “giao lưu” nhé. Mình nói không. Ở đây ai cũng quen biết nhau cả mà. Không cần phải bày đặt, hình thức làm chi!

Chủ nhật 5.7.2020
tại Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.HCM

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Lệ Uyên đến sớm nhất, Hoàng Kim Oanh ôm theo một bó hoa cúc vàng, Nguyên Cẩn, Ngô Tiến Nhân, Nhật Chiêu rồi Huỳnh Ngọc Chiến, Trần Đình Sơn, Hoàng Anh, Trần Quang Hiếu, Hồng Vân… và khá đông các bạn trẻ.

Hoàng Kim Oanh, tiến sĩ văn chương, nói về lối viết… “văn nói” của ĐHN

 

Nhà văn Nhật Chiêu nói đọc ĐHN có lúc thì cười tủm tỉm có lúc thì cười ha hả…

 

Nhà nghiên cứu Phật học, Huỳnh Ngọc Chiến (tác giả “Lai rai chén rượu giang hồ” ngày trước, nay đang viết “Lai rai câu kệ Lăng Già”) phát biểu về cách viết của Đỗ Hồng Ngọc trong lãnh vực nghiên cứu Phật học.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngô Tiến Nhân: “Không làm gì mà làm tất cả. Làm tất cả mà cũng không làm gì”… Nguyên Cẩn (áo xanh): ĐHN viết như bông lơn mà càng đọc càng thấm…

 

 

 

 

Hoàng Anh nhắc lại chuyện xưa, với cuốn “Viết cho các bà mẹ…” của ĐHN và về cậu con trai nay đã là một vị bác sĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

… và Trần Đình Sơn, Nhà NC Phật học…

 

Bất ngờ có một cô bé, tự giới thiệu mình tên là Đỗ Hồng Ngọc Uyên, quê Quảng Nam, xin chụp với bác Ngọc tấm hình để gởi về cho Cha ( Cha cô là người đã đặt tên cho cô), vì ông là độc giả của ĐHN từ lâu…

 

 

 

Rồi ký tên cho bè bạn thân quen…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Tư Tường Minh, thay mặt NXB gởi một bó hoa đẹp.

 

 

 

 

 

 

 

Dưới đây là một vài phát biểu:

Nhà văn Nguyên Cẩn

Anh Ngọc với tôi là bậc thầy về y học , đàn anh về Phật pháp và văn chương . Lối viết của anh đáng học hỏi : viết nhẹ nhàng tưởng chừng không có gì như bông lơn nhưng càng đọc càng thấm. Về cuốn Để Làm Gì , tôi mới cầm sáng nay nên chỉ đọc phớt qua phần đầu anh viết về An lạc. Qua đó anh phân biệt rõ hạnh phúc (happiness) không phải là an lạc (well- being) ví như cô hoa hậu đăng quang hôm trước , hôm sau đã bị vây quanh với bao âu lo hay như một người trúng Vietlott phải đối phó phiền muộn từ những người thân ngay sau đó.  An lạc là một phẩm tính đến từ tâm tĩnh tại và quan trọng là phải có tuệ giác mới lĩnh hội được. Cũng rất tình cờ tôi lật những trang cuối sách thấy bài viết về Ngọn lửa, từ ngọn lửa của Phật mà có người hỏi nếu có nhiều người chia lửa, liệu có hao hụt đi không? Nhưng câu trả lời đã rõ : càng nhiều người thì ánh sáng càng lan toả chứ chẳng hề hao hụt. Tác giả liên tưởng tới ông thầy: nếu chỉ truyền trao kiến thức một cách lạnh lùng trong thời buổi Google có thể trả lời mọi thứ thì có nhất thiết phải có thầy không? Ông thầy theo DHN là người truyền lửa , phải thổi niềm đam mê tri thức hay sự yêu thích nghiên cứu cho học trò, thậm chí sự dấn thân vào đời trong tâm thế tích cực cũng đến từ người thầy, nếu không làm được thì vai trò người thầy hết sức mờ nhạt. Phải chăng ông thầy bs DHN cũng đã từng là người truyền lửa cho bao thế hệ bác sĩ. Tôi cũng là một thầy giáo nên rất thấu hiểu điều này. Đấy là những điều tâm đắc tôi cảm nhận khi cầm sách đọc thoáng qua sáng nay. Chắc là còn bao điều lý thú nữa dang chờ người đọc khám phá nơi cuốn sách hấp dẫn trên 400 trang này .

 

Nhà văn Nhật Chiêu:

Để làm gì nghĩa là chẳng làm gì theo quan điểm vô vi như hình bìa, một chữ “Không” khép lại. Cái hay của DHN là viết có vẻ không nghiêm túc mà vẫn chuyển tải điều cần chuyển tải. Đọc anh lúc thì tôi cười tủm tỉm, lúc thì cười ha hả! Ai đọc Sến Già Nam cũng thích…! Nói một cách nào đó ĐHN trở về tâm thức trẻ thơ mà trong triết học đó là trạng thái trở về sau khi người ta ngao du trong bể kiến thức rồi cuối cùng tìm về như một đứa trẻ nhìn cuộc đời và ĐHN đạt được cảnh giới đó . Khi nói ĐHN viết ko nghiêm túc cũng nằm trong ý đó, viết giản dị nhất có thể mà vẫn khiến người ta hiểu và cảm điều mình cần nói, ko cần khoa trương , triết luận chi nhiều. Người viết nào cũng mong như thế

 

Ngô Tiến Nhân:

Đỗ Hồng Ngọc là ai, khó mà định danh. Là bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Phật học?… Theo tôi, anh là một thi sĩ. Có chất thơ trong văn anh, trong các bài viết tản mạn, trong các ký họa của anh. Lãng đãng nhưng chăm sóc rất kỹ, trau chuốt nhưng không làm dáng, lững thững, cà rỡn mà sâu sắc. Anh có cái hồn nhiên ngay cả trong học Phật, đạt một tâm thái vô vi, tự tại của một người… vô sự! Không làm gì mà làm tất cả. Làm tất cả mà cũng không làm gì. Để Làm Gì là vậy.

 

Thân mến,

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc

Viết thêm: Bs Thân Trọng Minh không đến dự được, gởi mấy dòng:

Với tư cách là một người bạn thân với nhau 60 năm nay, cùng học chung trường chung khóa với ĐHN tại Y khoa Đại học đường Saigon, cùng say mê văn chương, tham gia với báo chí ở Saigon từ 1966 với Gió Mai, Ý Thức, Tình Thương v.v… cũng là người đã trình bày và vẽ bìa cho tập Thơ Tình Người in roneo đầu tay của ĐHN từ năm 1967 lúc còn là Sinh viên y khoa, tôi có vài ghi nhận về một bạn văn, một bạn đồng nghiệp như sau:

  1. Tập tạp bút Để Làm Gì này thể hiện đúng bản chất của ĐHN. Văn phong tạp bút  là phù hợp với cách viết của anh.
  2. Theo tôi, văn chương ĐHN qua Để Làm Gì nổi bật lên tính Chân thật, Chân tình và Chân thành. Như anh vẫn nói, anh không có khả năng “hư cấu”, nên không viết tiểu thuyết, truyện ngắn như các bạn văn khác được. Anh chỉ làm thơ, viết tạp bút, tùy bút… thì hợp với cái tạng của anh.
  3. Tập này anh viết nhiều về bè bạn, với tất cả chân tình đáng quý; về xã hội, cũng với tấm lòng chân thành để xây dựng đóng góp cho sự tốt đẹp.
  4. Theo tôi, đây là một Tập đánh dấu sự thành tựu của anh trong Sư nghiệp Văn chương.
  5. Ở lãnh vực khác, một nổi trội của sự nghiệp ĐHN, còn ở chỗ nghiên cứu và ứng dụng Phật học vào đời sống, đáng được trân trọng. Mong có dịp NXB tổ chức một buổi trình bày về vấn đề này với ĐHN. Trong tập Tạp bút này đã thấp thoáng có những bài viết về Phật học rất hay.

Tôi rất tiếc đang bị bệnh, không đến dự được buổi Giao lưu hôm nay nên xin gởi mấy dòng.

Bs Thân Trọng Minh

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

vnexpress: ĐHN với “Để Làm Gì”

07/07/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

https://vnexpress.net/do-hong-ngoc-ra-sach-de-lam-gi-4126032.html

Đỗ Hồng Ngọc ra sách ‘Để làm gì’

Quỳnh Quyên

Trong quyển “Để làm gì”, tác giả Đỗ Hồng Ngọc nói về hành trình tìm kiếm bình an nhờ “thân tâm nhất như”.

Tạp bút Để làm gì dày hơn 400 trang gồm các bài viết về kỷ niệm với bạn văn, bạn thơ cùng các câu chuyện tản mạn trong cuộc sống của Đỗ Hồng Ngọc.

 

(Video trên vnexpress.net)
Bác sĩ, nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc nói về ý nghĩa tựa đề “Để làm gì”. Video: Quỳnh Quyên.

 

Trong buổi giao lưu ngày 5/7 tại NXB Tổng hợp TP HCM, tác giả cho biết viết sách để lan tỏa an lạc – bình an trong tâm hồn. Theo ông: “An lạc phải cả thân và tâm. Thân tâm nhất như, tâm có an thì thân mới lạc. Tâm có lạc thì thân mới an. Tìm đến an lạc là tìm đến sự kết nối của thể chất khỏe mạnh và tâm hồn thư thái”. Trong sách có chuyện quen thuộc như Một hôm gặp lại – cảm thức của tác giả về truyện Hoàng tử bé (Antoine de Saint-Exupéry) với hình con voi trong chiếc mũ hay Tôi học Phật kể ông “có chút duyên với Phật, nhưng đến với Phật rất trễ”.

Tên sách Để làm gì xuất phát từ câu nói của nhà văn Pháp – André Maurois: “Khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý ‘Để làm gì’, lúc đó mình đã già thiệt rồi”. Từ cái ý về “nghệ thuật già” này, Đỗ Hồng Ngọc thú nhận lâu nay ông biết mình già, nhưng vẫn đang nghĩ là “già giả”. Cái già đối với ông là cái mặt nạ, còn bên trong vẫn là một đứa trẻ hừng hực lửa yêu thương. Tác giả còn lấy cảm hứng từ bài hát Để gió cuốn đi của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không. Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi”.

Ông có giọng văn không lẫn đi đâu được: lững thững, tinh nghịch, dí dỏm. Theo nhà nghiên cứu văn học – nhà thơ Nhật Chiêu, sách mang lại niềm vui mới đúng là sách. Nhật Chiêu cho biết ông “cười quá trời quá đất” khi đọc các câu chuyện hài hước, gấp sách lại, ông thấy như “đứa trẻ rong chơi ngày nào đã trở lại hồn ta”. Khi chạm tuổi “gió heo may đã về”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chế tác các viên thuốc tinh thần bằng các câu chuyện hóm hỉnh. Người đọc lân la, đọc đi đọc lại vì cảm thấy thoải mái, dễ chịu với giọng văn không giáo điều.

 

Để làm gì được NXB Tổng hợp TP HCM phát hành. Ảnh: NXB Tổng hợp.

“Để làm gì” được NXB Tổng hợp TP HCM phát hành. Ảnh: NXB Tổng hợp.

Theo tác giả Nguyên Cẩn: “Đỗ Hồng Ngọc viết văn nhẹ nhàng, tưởng không là gì nhưng càng đọc, càng sâu sắc”. Bác sĩ viết văn từ cảm nhận, trải nghiệm cá nhân và lấy chất liệu từ cuộc sống. Do đó, độc giả có thể bắt gặp chính mình trong các câu chuyện và tìm thấy sự đồng cảm.

 

Đỗ Hồng Ngọc (bút hiệu Đỗ Nghê), sinh năm 1940. Trước khi làm bác sĩ chuyên khoa nhi, Đỗ Hồng Ngọc đã là thi sĩ với các bài thơ cộng tác trên báo. Các tác phẩm của ông khai thác đa dạng đề tài. Tập thơ tiêu biểu: Tình Người (1967), Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010). Tạp văn, tạp bút như Gió heo may đã về (1997), Về thu xếp lại (2019). Ông viết về y học phổ cập trong Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)…

Quỳnh Quyên

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Giao lưu tác phẩm ĐỂ LÀM GÌ của Đỗ Hồng Ngọc

30/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Văn hóa Phật giáo: TÔI HỌC PHẬT

30/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TÔI HỌC PHẬT

(Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 347 ngày 01.7.2020)

Ghi chú: Bạn tôi, anh Trần Tuấn Mẫn, Tạp chí Văn hóa Phật giáo cho biết anh đã thôi việc ở Tòa soạn kể từ ngày 1.7.2020 vì tuổi đã cao. Tôi gởi anh bài này như một kỷ niệm riêng. Bài đã in trên Tạp chí VHPG số 347 ngày 1.7.2020. Xin chia sẻ cùng các bạn.

ĐHN

 

TÔI HỌC PHẬT

Đỗ Hồng Ngọc

Càng có tuổi, hình như tôi càng nhận ra có cái gì đó ở ngoài ý chí mình, can thiệp vào mình tùy hứng khiến mình đôi lúc không khỏi chưng hửng, ngỡ ngàng, thầm nghĩ “duyên” chăng? Nhưng duyên là gì không biết. “Nghiệp” chăng? Nhưng nghiệp là gì cũng không biết. Thôi thì, cứ để nó trôi chảy, tự nhiên, bởi nó có vẻ chẳng cần đến ta, chẳng phải là ta, chẳng phải của ta…

Vào tuổi tám mươi, tôi nghĩ đã đến lúc “về thu xếp lại”, đã đến lúc “nhìn lại mình…” như người bạn nhạc sĩ họ Trịnh kia đã nói. Về thu xếp lại, bởi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”, vì rất nhanh thôi, các tế bào thân xác kia đã có vẻ rã rượi, ù lì, và cũng rất nhanh thôi các tế bào thần kinh nọ cũng mịt mờ, mỏi mệt, nhớ trước quên sau… Đầu năm 2019, tôi gom góp in cuốn Về thu xếp lại như một cột mốc, một hẹn hò, rồi cuối năm tiếp tục gom góp in thêm cuốn Biết ơn mình như một nhắc nhở… Bên cạnh đó, cũng đã tạm một bản thảo Đi để Học, Ghi chép lang thang… chủ yếu là một dịp để “nhìn lại mình”… và gần đây nhất là tập Tạp bút Để Làm Gì không phải để hỏi cũng chẳng phải để thở than chi! Tôi cũng mong gom góp, tập hợp một số bài viết, sách, biên chép bấy nay trong lúc lõm bõm học Phật, thấp thoáng lời kinh, làm thành một tập tuyển học Phật để ngẫm ngợi khi cần. Muốn thì muốn vậy, nhưng lực bất tòng tâm!

Duyên may lại đến.

Cách đây mấy năm, một buổi chiều, nhận được 4 cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày hơn ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình. Ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẩn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa! Lúc đầu tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng không, anh cho biết đã gò lưng đánh máy từ những trang sách mà anh ưa thích! Thời buổi này. Lạ thiệt.

Rồi hẹn gặp, mới biết Nguyễn Hiền Đức (thường gọi anh 5 Hiền), trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu… Anh tốt nghiệp Báo chí và Xã hội học, rồi cao học Sử ở Đại học Vạn Hạnh. Đó là một người gầy gò, trông khắc khổ, nghiêm túc, nhưng rất nhiệt tâm và nói chung… dễ thương.

Gần đây, một người bạn bên kia nửa vòng trái đất cho hay tình cờ thấy có Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc “Thấp Thoáng Lời Kinh” trên Thư Viện Hoa Sen online.  Nghĩ chắc… Nguyễn Hiền Đức đây rồi! Và đúng vậy.

Nguyễn Hiền Đức tâm sự: Tôi bắt đầu “gõ” và “gõ”, mải mê “gõ” cuốn “TUYỂN TẬP ĐỖ HỒNG NGỌC –  THẤP THOÁNG LỜI KINH” này từ năm 2010 và kết thúc năm 2018. Tôi rất thích từ “Thấp thoáng” vì nó thể hiện rất rõ, rất đúng cái chất “thấp thoáng”, “lõm bõm” của tôi khi học Phật.

Ngay trong bước đầu “tập tễnh học Phật” tôi đã chọn cách học hợp với sở thích của mình. Đó là chọn bài, chọn sách rồi… rị mọ. cặm cụi, kiên trì “gõ” vào máy. Cách làm này giúp tôi đọc chậm, đọc kỹ từng đoạn, từng trang, từng bài, rồi chú tâm sửa lỗi. Tôi đọc ít nhất 5 lần cho mỗi trang với lòng thanh thản, thư thái. Tôi không “ép” mình phải ghi, phải nhớ một điều gì cứ để nó trôi chảy như một dòng sông…

 

* * *

Tôi có chút “duyên” với Phật, nhưng đến với Phật rất trễ. Lại đến một mình.  Sanh ở Phan Thiết mấy ngày thì tôi được về nhà Ngoại ở làng Phong Điền, Hiệp Nghĩa, dưới chân núi Tà Cú, nơi có Linh Sơn Trường Thọ Tự. Nhỏ xíu, tôi đã được theo cha mẹ, các cậu, dì, lên chơi Chùa núi. Khi là sinh viên ở Saigon, tôi cũng đọc Bát Nhã, đọc Suzuki, Krishnamurti… nhưng đọc chỉ để mà đọc. Đến năm tuổi gần 60, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, tôi thấy mọi sự khác hẳn đi. Tôi đọc Tâm Kinh thấy không khó nữa. Như vỡ ra. Và với Tâm Kinh, tôi thấy chỉ cần học một chữ thôi. Chữ Không. Từ đó mà vô trụ, vô trí, vô đắc… Từ đó mà gaté, gaté, paragaté… Nó như giúp tôi trả lời câu hỏi cho chính mình, Why, tại sao? Tôi vẫn thường tự đặt ra cho mình những câu hỏi “tại sao” như vậy. Rồi lại hỏi bằng cách nào đây (How?) để mà “hành thâm Bát nhã”? Câu trả lời nằm ở Kim Cang. Ở Kim Cang tôi học Vô ngã (nhân vô ngã, pháp vô ngã), và Thiền định. Dĩ nhiên không thể không học những bước cơ bản: Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… Không có chánh định thì làm sao có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ… Con đường từ thể nghiệm, thực nghiệm đến ứng dụng trong đời sống hàng ngày. Ở Pháp Hoa, học vô tướng, thực tướng, gặp Như Lai Đa Bảo của mình như luôn tủm tỉm cười chọc quê mình! Cái học y khoa, tâm lý học, xã hội học cũng đã giúp tôi thấy rõ hơn vai trò thầy thuốc, tham vấn viên của bậc Y vương qua hình tượng các vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Quán Thế Âm… với tôn trọng (respect), chân thành (guenuine), thấu cảm (empathy) để không chỉ học hiểu lời kinh mà còn vận dụng vào nghề nghiệp…  Ở Duy-ma-cật, học Bất nhị. Kinh mở ra một cách tiếp cận mới, sinh động, cho dòng chảy mênh mang rộng khắp.

Chắc chắn Phật không muốn chỉ có các đệ tử ngồi thiền định dưới gốc cây, tới giờ đi khất thực và đợi ngày nhập Niết bàn. Phật cần có những vị Bồ-tát đem đạo vào đời, tự giác giác tha. Thế nhưng, các vị Bồ-tát đầu tròn áo vuông cũng khó mà “thõng tay vào chợ” giữa thời đại bát nháo này. Vì thế mà cần Duy-ma-cật. Một thế hệ cư sĩ tại gia, nhằm thực hiện lý tưởng của Phổ Hiền Bồ-tát…!

Rồi từ những điều học hỏi, nghiền ngẫm, thể nghiệm… bấy nay mà tôi mạnh dạn sẻ chia với “Thấp thoáng lời Kinh”,  “Thoảng hương Sen”, “Thiền và Sức khỏe”, “Nếp sống An lạc”… như một ứng dụng Phật pháp vào đời sống.

Khi được hỏi “kinh nghiệm” về học Phật, tôi nghĩ trước hết, cần nắm được các thuật ngữ, sau đó là hiểu được các ẩn dụ, ẩn nghĩa, hàm chứa trong lời Kinh và quan trọng nhất là thực hành, ứng dụng vào đời sống, ở đây và bây giờ…

Những năm sau này, tôi có dịp cùng học với nhóm bạn về Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lăng Già… Con đường học Phật thênh thang như cánh rừng kia mà ta mới tiếp cận vài hạt bụi rơi từ nắm lá Simsapa dạo nọ.

Tôi lại gặp duyên may trong lúc một mình lõm bõm học Phật như vậy khi gắn bó với Tạp chí Văn hóa Phật giáo. Tôi còn nhớ buổi họp đầu tiên để thực hiện tạp chi Văn Hóa Phật Giáo có sự hiện diện của quý thầy cùng với các vị cư sĩ tôi hằng mến mộ như Cao Huy Thuần, Trần Tuấn Mẫn, Trần Đình Sơn, Nguyên Cẩn… Anh Cao Huy Thuần sau đó nói riêng với tôi: Này, tôi “thách” anh Đỗ Hồng Ngọc viết được mỗi tháng một bài cho Văn hóa Phật giáo đó. Thế là tôi gắn với Văn hóa Phật giáo từ thuở ban đầu đó đến nay đã gần 15 năm!  Thực ra tôi viết Văn Hóa Phật Giáo là để học.

Nhớ những bài viết đầu tiên gởi Văn Hóa Phật Giáo tôi băn khoăn nên để mục này là “Lõm bõm học Phật” hay “Thấp thoáng Lời Kinh”, bởi biết mình chỉ học lõm bõm, thấp thoáng, chẳng chính quy hiện đại gì cả. Trần Tuấn Mẫn kêu “Lõm bõm” thiếu nghiêm túc. Chọn “Thấp thoáng Lời Kinh” nhé.  Chẳng ngờ độc giả “chịu” cách viết “bên lề” như vậy. Thường khi bài đăng xong tôi hỏi Trần Tuấn Mẫn thế nào, có bị “rầy la, sỉ vả” gì không? Mẫn bảo viết tiếp đi, nhanh lên, được khen lắm đó. Đó là một lời khuyến khích động viên qúy báu, giúp mình tự tin hơn. Tôi viết từ những cảm nhận riêng với một văn phong đời thường về Tâm Kinh Bát nhã, về Kim Cang, Pháp Hoa, Duy-ma-cật… Tôi biết ở Ban Biên tập có những bậc tôn túc, những cao nhân và nhất là độc giả Phật tử khắp nơi đều là những vị thầy của mình, sẽ là “bộ lọc” cho những bài viết của mình, có gì sai họ sẽ chỉ dẫn. Thật vậy, thỉnh thoảng Trần Tuấn Mẫn giúp tôi chỉnh  một chữ, thỉnh thoảng anh Lê Văn Lợi từ Huế khen một câu hoặc nhắc cho một ý…  Khi tôi viết mục “Thoảng hương sen”, là những suy gẫm, những cảm nhận tích lũy trong nhiều năm tháng học Phật của mình, Văn Hóa Phật Giáo đã sửa thành “Hương Sen” mà bỏ đi chữ “Thoảng”. Tôi hiểu. Với tôi, viết cho Văn hóa Phật giáo là một cách học Phật tốt nhất.

Khi tôi xuất bản cuốn Thấp thoáng Lời Kinh thì Trần Tuấn Mẫn viết trên Văn hóa Phật giáo, số 163, ngày 15-10-2012:

Đọc xong tác phẩm Thấp thoáng lời kinh của Đỗ Hồng Ngọc. Im lặng, thanh thản, hoan hỷ như vừa trải qua một cuộc du lịch kỳ thú đến những vùng đất xa xôi, kỳ ảo, để rồi sau đó tâm trí như loãng đi, mơ hồ, lung linh, băn khoăn trong niềm vui thú vị vẫn còn đó, quanh quất lâu dài. Gập sách lại, tôi bỗng thấy thấp thoáng lời sách, từ ngữ, câu văn từ bài này chuyển sang bài nọ, chữ nghĩa nhẹ nhàng đổi chỗ nhau, nhưng vẫn rất tự nhiên, rất trật tự và rất đẹp. Phải chăng tác giả cũng thấy thấp thoáng chứ không nghe văng vẳng lời kinh vì không trực tiếp nghe được kim thanh của Đức Phật. Anh chỉ tự nghiên cứu kinh điển, tự cảm nghiệm và những dòng kinh chợt đến chợt đi trong tâm tưởng. Có lẽ anh dùng từ thấp thoáng cũng là do sự khiêm tốn, muốn bảo rằng những gì anh viết ra không phải là từ sự nghiên cứu mang tính kinh viện mà chủ yếu là do cảm nhận, do sự suy nghĩ và trải nghiệm cá nhân. Tôi vui vì nghĩ như thế, vì nghĩ mình thông cảm được với anh và được anh truyền cho niềm cảm hứng và mấy phần kiến thức Phật học (…).

Các bài viết ở đây, theo lời tác giả, là “những loay hoay, bứt rứt”, “những cảm nghiệm riêng tư, rất chủ quan của người thầy thuốc, bấy lâu nay tìm kiếm, thử nghiệm trên mình rồi mới dám mà sẻ chia cùng bạn bè tương lân”. Những lời tâm sự ấy là chân thật, là tình nghĩa và những gì anh viết ra thì chân xác trong chừng mức có sự chấp nhận của những người đã học Phật, đã tu Phật hay từng chiêm nghiệm về cuộc đời. Anh nhận định sâu sắc về các đề tài nói trên, nhưng vốn là một bác sĩ nhiều kinh nghiệm chữa trị thân và tâm, có khi anh tế nhị và có đôi chút dí dỏm nên chuyển ý sang bình diện cụ thể, thiết thực, gợi ý chúng ta về sự suy nghĩ, về thái độ tích cực trong cuộc sống hằng ngày nên cố ý chuyển ý nghĩa của vài lời kinh như là một thể cách khế cơ (…).

Nhẹ nhàng mà thâm sâu, dí dỏm mà chân thật là tính chất của Đỗ Hồng Ngọc. Thật hay và thật vui khi anh bàn về Hơi thở ra vào, Bồ-tát Di lặc, Du hý ta-bà, Luân hồi sanh tử v.v…

Đọc Thấp thoáng lời kinh của Đỗ Hồng Ngọc, tôi bỗng cảm thấy mình chỉ thấp thoáng lời anh và loay hoay, bứt rứt về cái kiến thức Phật học của mình. Những đoạn kinh tôi đã thuộc lòng bỗng trở nên “thấp thoáng”…

Với tôi, Trần Tuấn Mẫn vừa là bạn, mà cũng là thầy, từ thuở Vô Môn Quan, đến Bàng Ẩn, rồi Lăng Già… và nhất là Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo suốt 15 năm qua.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 6.2020)

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

N.Q.Chơn đọc “Để làm gì” của Đỗ Hồng Ngọc

28/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Để làm gì” của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyễn Quang Chơn (Đà Nẵng)

Tập sách của anh Đỗ Hồng Ngọc gởi bằng bưu điện, đến với mình vào đúng trưa mồng năm tháng năm âm lịch, ngày giỗ ông Khuất Nguyên. Sách được anh bọc cẩn thận trong một bao gương sạch, đẹp, với “người gởi”, “người nhận” rõ ràng, trang trọng.
Tập sách này đã được thấy, đã được nghe, trên trang nhà dohongngoc.com của anh rồi. Mình đã từng tìm trong hiệu sách mà không thấy. Giờ nhận quà từ tác giả qua bưu điện, thấy cuốn sách đẹp hơn, giá trị hơn và…nặng ký hơn!…
Đó là cuốn “Để làm gì” của anh mới in tháng 5/2020. “Để làm gì” không hỏi, chấm, làm người ta dễ đặt câu hỏi: ông đặt tựa như vậy để làm gì?
“Để làm gì” thì thường ở thể nghi vấn, còn được dùng ở thể khẳng định nữa. Nên phải đi kèm với dấu hỏi hoặc dấu than. Còn ở đây không có dấu gì, dạng “trung tính”, thì phải xem trong đó ông ấy viết gì!…
Đọc lời mở. Đã thấy sơ sơ ý của tác giả. Lật trang kế tiếp, đã thấy bài quen quen. Tiếp tục cũng quen quen. Vậy ra anh chọn lọc những bài ký, bài tản mạn…đã in rải rác đâu đó trên nhiều ấn bản để làm thành một selection kỷ niệm tuổi 80, cái tuổi mà anh hay nói với tôi là “già tới nóc”. Bộ già tới nóc là hết già rồi sao? Già thêm một tí nữa thì sẽ lọt qua cái nóc, rớt cái bịch không chừng. Có lẽ bởi thấy mình tới nóc. Nên anh dừng…già lại, giở mấy cuốn sách cũ ra xem. Hứng, nên chọn. Vui, nên gom lại một tập. Rồi anh lại nghĩ. Mình viết nhiều, in nhiều, nhiều thể loại. Từ thơ, văn, đến nghiên cứu, khảo luận, và nhất là Phật pháp. Rồi anh hỏi. Mình viết nhiều vậy “để làm gì?” Biết đâu có ai đó đọc xong rồi tặc lưỡi, viết mấy cái này chi, chẳng “để làm gì!” Hoặc, một người lững thững, “để làm gì….”…
Nên chi, thôi thì tập hợp lại mấy bài viết hồi hườm hườm, hồi già già, hồi già tới nóc, mà chỉ là những tản mạn, những ký. Dạng văn này thì nó không làm nhọc lòng ai, người đọc không nghĩ ngợi chi nhiều, không đi sâu vô một cái gì, nó vui vui, nó chẳng làm gì…., và, vì vậy, anh lấy một cái tựa “Để làm gì” để dành cho độc giả ghi tiếp thêm, sau khi đã đọc. Người thắc mắc thì thêm dấu hỏi (?). Người không ưa thì thêm dấu than (!). Và người trầm tư hơn thì thêm ba chấm (…)…
Nhưng tuyệt vời nhất là ông hoạ sĩ Mai Quế Vũ, ông trình bày cái bìa với một nét cọ mực xạ hình tròn phóng túng ôm cái tựa “Để làm gì” của tác giả. Cái vòng tròn mang “tánh không” đó là đủ bao trùm cả dấu hỏi, dấu than, dấu chấm, dấu gì gì đó nữa hết rồi. Bởi dấu nào cũng rứa, cũng là không! Cái ánh sáng màu trắng tinh khôi không sắc màu kia chẳng phải đã mang đủ trong nó cả đỏ xanh vàng lục lam chàm tím…đó ư?
Nên chăng, “để làm gì” của ĐHN đã có đủ các dấu trong đó rồi. Đọc đi, rồi nghĩ gì thì nghĩ, để làm gì cũng được!…
Nguyễn Quang Chơn
Tối thứ bảy, 27/6/20

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Ngãnh Tam Tân (LaGi)

28/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn,

Ngãnh Tam Tân (LaGi)

 

Bài viết La-Gi Du Ký rất thú vị của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên khiến có bạn hỏi thêm mình về địa danh “Ngãnh” khá lạ lùng ở vùng này.

Xưa, từ Lagi quê nội của mình về quê ngoại ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa chỉ cách chừng 15-16km, nhưng toàn phải đi đường biển, ngang qua Nước Nhỉ (giếng Nguồn Chung) rồi đến Ngãnh Tam Tân (nay là Tân Hải), vượt thêm đoạn đường dốc, rừng rậm… đến Cầu Cui, cầu Quan qua sông Đợt mới về đến ngoại, gần chân núi Tà Cú. Vùng này thời đó còn có cọp lộng hành, ra bắt người ăn thịt.

Làng chài Tam Tân ngay sát Ngãnh khá trù phú, là quê của cậu Nguiễn Ngu-Í (Nguyễn Hữu Ngư), nơi đây ngày nay còn ngôi mộ của ông và gia đình.

Lúc nhỏ, đi qua Ngãnh mình sợ lắm. Rừng mênh mông, âm u, có một hồ nước đen ngòm chảy tràn ra biển, có khi rộng đến vài chục mét, sâu đến bụng (cậu bé là mình). Nghe Má kể lúc đám cưới Má, phải cưỡi ngựa để đi qua dòng nước ở Ngãnh, có lẽ do mặc đồ cưới không thể lội nước, chớ bình thường bà vẫn gánh cau trầu đi bộ dọc biển xuống tận chợ Lagi bán, do vây mà gặp Ba mình. Bà thì giỏi, tảo tần, lo buôn bán, làm ăn, trong khi ông thì… công tử ở Chợ, chơi violon, đóng kịch, thỉnh thoảng còn mời bạn bè là ca sĩ ở Saigon ra Lagi hát hò! Chuyện sẽ kể sau khi có dịp.

Từ “Ngãnh” không thấy có trong Tự điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1988. Chỉ có “Ngoảnh”…

Phan Chính, tác giả địa phương chí viết nhiều sách báo về văn hóa, địa danh của vùng đất cực Nam trung bộ là Hàm Tân, Lagi (tỉnh Bình Tuy…) này, tuy có nhiều tài liệu phong phú nhưng cũng khá lúng túng. Trong bài Nghĩ về địa danh Ngảnh Tam Tân đăng trên báo Bình Thuận, anh viết:

BT- Đó là một đoạn bờ biển có cảnh quan đẹp. Cách xa bờ khoảng 50m nổi lên một cụm đá lô nhô như đang khỏa mình với những làn sóng êm ả không ngớt dội vào. Ngảnh Tam Tân thuộc xã Tân Tiến cách trung tâm thị xã La Gi khoảng 12 km. Đây cũng là địa danh nổi tiếng gắn liền với khu di tích Dinh Thầy Thím huyền thoại và nay đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch tâm linh kết hợp nghỉ dưỡng.

Không những với khách xa đến mà kể cả người địa phương vẫn đặt ra những câu hỏi về địa danh Ngảnh Tam Tân? Với người dân bản địa thì đã trở thành quen thuộc nhưng khi gợi lại mới thấy thật sự bồi hồi tưởng chừng đang trở về với vùng đất “địa linh” của người xưa thuở còn hoang sơ. Từ “ngảnh” ở đây là chỉ về một địa hình thiên nhiên rất đặc trưng. Nhưng với ngữ âm thường gặp khi nói về địa hình dọc dài vùng biển từ miền Bắc vào Nam chưa ở đâu có từ “ngảnh”. Địa hình ghềnh, gành, mỏm, mỏ, mũi… là phần đất có đá từ bờ nhô ra sông, biển thì có nhưng “ngảnh” thì lại không… (Phan Chính).

May thay, mình tìm thấy từ Ngãnh (dấu ngã) trong Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức-Lê Ngọc Trụ 1970 tại Saigon (Nxb Khai Trí):

 

—  https://ia800603.us.archive.org/26/items/viet-nam-tu-dien-khai-tri-1970/viet-nam-tu-dien-khai-tri-1970.pdf

Viêt Nam Tự Điển Khai Trí- 1970, trang 1013

Ngãnh: Phần đất đột ngột nhô ra biển, không lớn không dài, thường có những gộp đá.

***

Lần này đi với Thân Trọng Minh, Lê Ký Thương, Kim Quy, Nguyễn Lệ Uyên về quê nhà LaGi, Tam Tân (nay là Tân Hải), mình tìm thăm nhà bà con cũ ở Tam Tân, gần như không còn ai, hỏi những người cao tuổi… thì đều đã qua đời. Nhà Bà Năm, Má cậu Năm Chi, có cái giếng nước ngọt nổi tiếng cả vùng, nay con cháu đã bán đất, lấp giếng…

Tam Tân, một vùng chài lưới đầy những rặng dừa xanh mát bỗng chốc… bê tông hóa gần hết. Không buồn sao được! May rồi cũng gặp được vài người trẻ, thế hệ thứ hai thứ ba gì đó… hỏi ra chỉ ngậm ngùi như… Từ Thức bơ vơ. Mới 70-80 năm chớ có xa xôi chi lắm đâu!

Xin gởi vài tấm hình bạn coi thôi vậy nhé.

Internet
Ngãnh Lagi, Bình Thuận

 

nhớ Má (Nghê Thị Như và cậu Nguyễn Ngu Í, tức Ngê Bá Lí, Tân Fong Hiệb, theo cách viết của ông)

 

 

 

Dòng nước đổ ra biển ở Ngãnh giờ cũng mênh mông! Nay đã là khu chợ cá biển, ghe thuyền về tấp nập, cách Dinh Thầy Thím chỉ vài cây số. (Ảnh ĐHN 21.6.2020)

 

Ngãnh Tam Tân LaGi. Hòn Bà xa xa… (ảnh ĐHN, 21.6.2020)

 

Do Hong Ngoc ngồi “thiền” trên gộp đá Ngãnh (ảnh NLU)

Nhóm bạn đến Ngãnh Tam Tân (6.2020).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐHN lang thang một mình ở Ngãnh Tam Tâm (ảnh MTriết, 21.6.2020)

Hẹn thư sau,

Thân mến.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 28.6.2020)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Lệ Uyên: La-Gi Du Ký

26/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

LA-GI DU KÝ

Nguyễn Lệ Uyên

 

Khi không hai ông “bạn trẻ” đốc tờ gọi, một ông lúc chiều tối, ông nọ lúc giữa trưa, cách nhau chừng 10 tiếng, hỏi “có muốn rong chơi không?”. Dĩ nhiên nhận lời ngay, nhưng bụng dạ thì cứ sôi rồn rột. Vì các chàng đều là dân “bảnh tỏn” trong khi mình lại là tay kiết xác mà ham vui!

Tôi cũng biết tỏng từ lâu, hai ông đốc tờ cộng với ông họa sĩ thì chưa chắc “chân cứng đá mềm” bằng phía trái không thuận của anh chàng nông dân xứ xương rồng trong chuyện leo trèo chạy nhảy; cho nên có giang hồ cùng trời cuối đất thế nào cũng chấp cả “cơm sôi” với “nhớ nhà”.

Xe đón ở ngả tư Hàng Xanh. Dòm vào đã thấy có hai trợ lý, một cho ông bác sĩ, một cho họa sĩ. Kể ra như vậy là khá an toàn.

Từ trái: Nguyễn Lệ Uyên, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Ký Thương, Thân Trọng Minh.
(Đập Đá Dựng, Lagi 20.6.2020)

Nơi đến là nơi tôi đã từng đến, đã bỏ lại trong phút chốc nhà cao tầng chen chúc, xe cộ nối đuôi, ồn ào, khói bụi xập xình… Giờ thì đang băng qua những con đường quanh co; lúc thì chìm lút vào giữa rừng cây thưa, khi lòi ra giữa cánh đồng vắng có đàn cừu, vài con cò trắng bên cạnh đàn bò thong thả gặm cỏ. Yên bình đến lạ.


Internet.
Đập Đá Dựng (tình Bình Tuy, Hàm Tân, LaGi 1957)

Xe qua chân núi Chứa Chan, rẽ vào Hàm Tân và dừng ở La Gi, quê hương của Đỗ Hồng Ngọc, đúng 10 giờ sáng, uống cà phê sát bờ sông Dinh, bên đập Đá Dựng.  Anh giới thiệu con đập này được TT Ngô Đình Diệm cho xây dựng vào năm 1957 (tỉnh Bình Tuy) để dẫn nước tưới cho cánh đồng phía trên. Thuở nhỏ, anh và bạn bè thường cởi truồng đứng trên thân đập lao xuống, ngoi ngót giữa trưa nắng. Đập không rộng, không có dáng hùng vĩ như Đồng Cam, nhưng hai bờ cây rừng chen khít, tầng lá xanh che kín, thỉnh thoảng nhô lên mái ngói đỏ, những cây phượng vỹ chói rực bên bờ tây, gần hơn chút, ngày xưa là chùa một cột đứng thoi loi bên mé sông (đã sụp đổ lâu rồi). Giá như không có phiên bản này, tôi nghĩ, dòng sông Dinh sẽ thơ mộng hơn, hoang dã như nó đã từng trước đó. Cũng may, chủ nhân quán này còn biết tôn trọng thiên nhiên, cứ để những cây rừng đứng chung với bàn ghế trong sân: những cây duối, cây bàng lẻ, thao lao và dây leo quấn quanh.

 

Tù trái: MTriet, Do Hong Ngoc, Nguyen Le Uyen, Le Ky Thuong, Kim Quy, Than Trong Minh (Lagi, Đập Đá Dựng 20.6.2020) 

 

La Gi rộng, nhưng không sầm uất, như một cô gái quê đội nón lá, mặc áo mới, chân đi guốc lên phố chợ. Vẻ mộc mạc, chơn chất vẫn còn ở những con đường quanh co, còn biết nhớ đến các bậc danh nhân để đặt tên đường. Tôi thực sự xúc động khi vòng qua đường Trương Vĩnh Ký, uốn lượn, vòng vèo như đang đi trong đường làng… Mấy nơi được như chốn này?

Xe đi tiếp xuống Ngãnh Tam Tân nay còn có tên Mỏm Đá Chim thuộc xã Tân Hải, chừng 12 cây số. Hai bên đường là vườn cây thanh long héo rũ, gãy đổ. Tôi hiểu thân phận của các “ông vua” hơi hám du lịch biển dẫn đến “tra tấn” thiên nhiên là chuyện thường tình ở xứ sở sặc mùi kim tiền, thiếu vắng niềm ân ái hòa đồng với đất trời.Và, tôi hiểu vì sao, khi kể chuyện Hàm Thuận, Hàm Tân, La Gi từng là nơi bò rừng, mển, cọp, beo… quần tụ dưới tầng cây cao thấp đã bị xóa sạch vết chân, anh Ngọc kể với giọng ngậm ngùi. Đâu chỉ riêng quê anh vắng tiếng gầm cọp beo, mất hút những tiếng “tác, tác” của mển, cheo, tiếng gà rừng gáy trưa… cả đất nước này, cả thế giới đều lâm vào thảm trạng não nề đó.

12 giờ trưa tới Dốc Trâu, những động cát trắng phau, cao ngút nối dài tới gần Ngãnh. Đứng dưới phải hất mặt lên mới đụng ngọn. Vẻ hoang sơ của nó đang bị tô vẽ bộ mặt mới. Những cọc bê tông cắm xuống, hàng rào lưới quây nhốt gà vịt, vài nhà cao tầng chen ngang… Nhìn ngang, ngó dọc, Thân Trọng Minh kêu lên, Dốc Trâu đẹp quá, có khi còn đẹp hơn Dốc Lết! Không rõ, nếu Huyền Chiêu Khuất Đẩu mà nghe “phát ngôn” này có dậy lòng tự ái hay không?

 

Dốc Trâu. Bãi biển đầy thuyền thúng. Xa xa là Hòn Bà, Lagi

 

Bữa trưa đúng phong vị biển, bởi nơi quán tiếp với biển với những thuyền thúng câu mực, thả lưới bắt cua ghẹ đang thả mình trên bãi sau một đêm dài lên đênh trên ngọn sóng. Nếu như các cụ Tản Đà, Vũ Bằng có sống lại và ngồi đây, lúc này, hẳn cũng không thể lắc đầu, bởi sự chọn lựa món ăn từ một người sành ăn như anh Minh thì không ai chê nổi. Trước đó mấy phút, các vệ binh của Long hải Diêm vương còn vươn vòi, ngo ngoe càng, giương vây bơi lội quanh hồ nhỏ, giờ đã đổi màu nằm im trên dĩa: mực luộc, tôm hấp, cua biển rang me, cháo cá mú… khiến tôi có cảm giác như chiếc bàn ăn sắp bị lún sâu xuống nền cát vài phân!

 

Mùi gió biển, mùi tôm cua, sóng biển vỗ rì rào, chân trần chạm trên nền cát ướt và những chàng thanh niên U 80 như đang ở một thế giới khu biệt với cái ồn ào “dzô, dzô…” rất kém vệ sinh trong thành phố.

Trong bữa ăn đầu tiên (của chuyến “đi bụi”), chỉ quan sát lần đầu, tôi đã khám phá ra điều thú vị: Trời sinh ra cha con Thân Trọng Minh và Triết là một cặp đôi hoàn hảo, là hai người bạn nâng đỡ và chia sẻ cùng nhau. Không có hai người thì món ăn kém hương vị, ly rượu mất chất ngọt ngào, khói thuốc không còn những vòng trắng mơ mòng khiến sóng biển thôi vỗ vào bờ và nước biển cũng nhạt đôi phần?

Nhưng với chàng họa sĩ Cóc thì ngược lại. Chừng mực như một vị chân tu. Ăn nói nhẹ nhàng, bước chân rón rén… Vì vậy tôi mới rõ vì sao anh bị “cà lăm” với mối tình đầu và mãi mãi cà lăm với những mối tình không tên tuổi, khiến anh trút hết tinh lực vào những đường nét, màu sắc trên những bức tranh của anh lúc nào cũng mang phong thái của tuổi dậy thì, khiến chị Kim Quy phải lòng, khiến những bức tranh anh tặng (Bến đỗ), tôi luôn treo ngược lên vách: doi đất hay thuyền câu giữa dòng sông, hai bờ cây cong xuống điệu đà xanh mướt tôi lật chổng lên cho mặt trời thành mặt trăng ngâm mình giữa dòng nước lạnh băng của Lý Bạch?

Riêng ông bác sĩ, nhà thơ, du sỹ, thiền sỹ, cư sỹ… thì phong thái đời và đạo trộn lại làm một. Từ cái ăn, cái ngủ chí cách đi đứng nói cười…tôi có cảm giác thiệt và giỡn nơi anh chính là giỡn và thiệt. Anh thở mà không thở, ăn như không ăn mà ăn! Đáo bỉ ngạn rồi chăng? Đêm ngủ cùng phòng, anh cho ếch kêu vang dậy, lúc ồm ộp, khi nỉ non ai oán như mùa chúng động dục, đến nỗi tôi phải vác chăn ra hành lang nằm, phải thêm vài ba ly rượu để ngủ vùi. Nhưng khi ngâm mình dưới nước biển, tôi mới “ngộ” ra: ếch kêu là ếch không kêu. Những tối tiếp theo, tôi đánh một giấc dài không mộng mị chiêm bao. Anh xem, tôi cũng mon men tới chỗ “đạo khả đạo phi thường đạo” rồi đó chăng?

Đỗ Hồng Ngọc (Ngãnh Tam Tân, Mõm Đá Chim 21.6.2020, ảnh NLU)

 

Đây là lần thứ hai tôi đến Ngãnh, mỏm Đá Chim, Tân Hải – La Gi. Nhưng nếu có lần thứ ba, thứ tư… tôi vẫn. Bởi đây là vùng biển còn hoang sơ, chưa bị nền văn- minh-công-nghiệp-không-khói tra tấn.

 

 

Bãi nông, cát trắng phau, dấu chân người và rác thải vẫn còn mắc cỡ. Bến cá thu nhỏ một góc rất sạch sẽ. Người dân thì hiền và chơn chất như thời cọp beo đông hơn người xứ này. Rổi bờ chào mời các loại hải sản nhưng không chèn ép, thách giá… khác xa với cái táp nham của biển Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Quy Nhơn… Nhưng liệu nó còn trụ vững tới bao lâu khi mà nước biển mát lạnh giữa mùa hè, sóng lăn tăn không ồn ào dữ dội. Không ai đoán được. Vì những cọc bê tông đang thọc sâu xuống nền đất, rải rác quanh đây. Thôi thì cứ theo phép thắng lợi tinh thần giỡn là thiệt, ếch kêu là ếch không kêu, tha hồ ngâm mình vẫy vùng một góc hẹp ở biển, hít thở khí trời trong veo chót Mỏm Chim, vùi trong nắng và gió ở Ngãnh phủi gọn mọi triền phược đeo bám quanh người.

 

Nhóm bạn “giang hồ vặt”
20.6.2020

 

 

Khu mộ Nguyễn Hữu Ngư (Nguiễn Ngu-Í) tại Ngãnh Tam Tân (ảnh ĐHN, 2020).

 

 

 

 

 

 

 

Ngay tại Ngãnh Tam Tân này còn có ngôi mộ của nhà văn Nguiễn Ngu Í và song thân.  Tôi nghĩ cụ Nguiễn Ngu Í đã chọn mảnh đất tuyệt đẹp này làm nơi an nghỉ cuối đời là hoàn toàn đúng đắn. Lắm người ao ước mà biết có được chăng?

Hôm sau, anh Đỗ Hồng Ngọc lại hướng dẫn ra Phan Thiết theo con đường sát biển để ngắm nhìn nước biển trong xanh, trời xanh mây trắng, nhìn bãi Đá Nhảy từng hòn chồng lên nhau, làm tôi nhớ mấy câu thơ của Nguyễn Đức Sơn:

“Trên biển vắng bánh xe đời lóc cóc

Anh thật tình mát mẻ giữa hư vô”

(Dặn dò một mai, NĐS)

Bãi Đá Nhảy (Kê Gà, ảnh NLU)

 

Đây là vùng Mũi Kê Gà nổi tiếng với Hải đăng trên trăm năm. Cuối bãi Đá Nhảy có thể nhìn thấy Mũi Né xa xa, định vị được lầu Ông Hoàng. Trước khi ăn món cơm gà đặc sản Phan Thiết, anh đưa chúng tôi đi thăm Thanh Minh Tự, xem cây me trên 200 tuổi giữa trưa nắng chan chan. Ngôi chùa nhỏ, ngói tường, rường, cột kèo xiên trính từ xa xưa còn sót lại lẻ loi, lạc lõng giữa những căn biệt thự, nhà, phố sầm uất, thênh thang…Không quên ghé thưởng thức món chè Mộng Cầm thiệt ngon.

 

Thanh MInh Tự, Phan Thiết

Đoạn trở lại Mỏm Đá Chim, không theo đường cũ mà vòng qua núi Tà Cú, tôi mới chợt nhớ quê hương của Đỗ Hồng Ngọc còn có một ông nhà văn Nguyễn Hiệp, nhà dưới chân Tà Cú, với truyện Dưa huyết đọc rất ấn tượng, rồi lại lai rai nhớ ra xứ Phan Thiết Bình Thuận có rất nhiều người tài hoa, lớp trước lớp sau kể không hết: Hoài Khanh, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, Phạm Văn Nhàn, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Như Mây, Đồng Chuông Tử, Hồ Việt Khuê, Liên Tâm… Hèn chi mà mọi người dân già trẻ gái trai đều biết đến anh, nhớ đến ông BS ra tay chữa bệnh cho em bé không cần thuốc (em bé nay đã là thiếu nữ 20 tuổi). Tình cờ đọc được tạp bút của Bạch Vân Nhi trên giai phẩm Hoa Biển (tháng 4-2020 chi hội VHNT La Gi), có đoạn ngắn nhưng vô cùng trang trọng: “Mình cũng luôn tự hào rằng quê mình có những người giỏi giang như bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc… nhớ Lê Quý  Đôn viết trong Vân Đài Loại Ngữ: Người ơ vùng biển thì giàu trí tuệ, người ở vùng núi thì giàu nhân nghĩa…”.

Ôi chào, đọc tới đoạn này tôi sướng rơn, thơm lây vì được là bạn là em của ông giỏi giang, sướng ngất trời mây trắng bay!

Ba ngày ở biển La Gi chỉ để đầm mình trong nước mặn, hít thở khí trời; có những nơi biết rồi không đến (Dinh Thầy Thím, chùa Phật Quang…), có nơi chỉ ngang qua nhìn (bến cá sông Dinh, tượng Phật nằm trên Tà Cú), rồi quay về chốn bụi bặm phù sinh.

Thiền viện Viên Chiếu

Nhưng còn cố níu kéo, thanh tẩy bợn cặn sần sùi, sân si, … trong người, bèn kéo nhau viếng Thiền viện Viên Chiếu, diện kiến các sư nữ Như Đức, Viên Thể… các bậc chân tu theo đúng nghĩa, ăn trái cây, hưởng lộc Phật và đứng trước cây rơm vừa vi vu đất trời mang mang vừa nhớ lại tuổi ấu thơ chăn bò, gánh rơm, đốt đồng, nướng khoai nhổ trộm… Quá 70, một chút trẻ con may mắn còn sót lại.

Nếu có ai lỡ miệng hỏi, có muốn đi nữa không? Đi. Chỉ trong một sát na trả lời. Đi. Để được ngồi giữa rừng cây vên vên ở Bưng Riềng, đi để được ăn bánh xèo nức tiếng Tân Hải mà không ăn, để được cầm miếng chả lụi quấn vào bánh tráng rau thơm, ăn chè Mộng Cầm, gối đầu lên cát nghe biển thì thào bên tai như người tình hát ru thời trai trẻ…

 

(NgLu, 26.6.2020)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Lam Điền: Khi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hỏi ‘Để làm gì’

18/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Khi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hỏi ‘Để làm gì’

18/06/2020 13:48 GMT+7

TTO – Ở tuổi 80, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vẫn rất duyên cùng câu chữ khi ra mắt quyển tạp bút mới nhất mang nhan đề ấn tượng: “Để làm gì” (NXB Tổng Hợp TP.HCM).

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – Ảnh: NGỌC HIỂN

Mỗi khi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có sách mới “trình làng”, bạn đọc luôn tìm thấy chi tiết thật đặc biệt. Lần này là từ câu nói của André Maurois, rằng “khi nào trong đầu mình nảy ra cái ý “Để làm gì”, lúc đó mình đã già thiệt rồi”. Từ cái ý của Maurois về “nghệ thuật già” ấy, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thú nhận rằng lâu nay ông biết mình già, nhưng quả thật ông vẫn đang nghĩ là mình đang “già giả” thôi.

Cái ý đó đặc biệt và gợi ra một hình ảnh thú vị: Tác giả vừa cảm nhận tuổi già của chính mình, vừa lục soạn lại mớ gia tài trước tác bấy lâu nay trong ý niệm thường trực “để làm gì”, rồi gạn lọc lại, hình thành thêm một quyển sách nữa, chính là những trang sách dẫn bạn đọc theo bước ông về lại không gian sống của nhiều “cảnh giới”.

 

 

Câu hỏi ở nhan đề sách thật hóc hiểm, do lẽ không chỉ viết lách để làm gì, mà ghi nhớ chuyện nọ chuyện kia, tâm đắc thứ này thứ khác, buồn vui hờn giận, cay đắng nhục vinh… bao nhiêu chìm nổi đã trải qua trong tám chục năm sống ở đời, rốt lại là để làm gì?

Câu hỏi còn nguyên đó, bởi không dễ tìm ra lời đáp. Chỉ có những trang sách bắt đầu một công việc khác: đặt ra trước mỗi người đọc hôm nay những câu chuyện chân chất, thiệt tình mà đầy cảm xúc, ý vị của chính tác giả.

Đỗ Hồng Ngọc có cách kể chuyện như sực nhớ lại chuyện hay hay của chính mình, tiện chỗ bạn bè nên kể lại cho vui, vậy mà người đọc bị cuốn theo lúc nào không biết. Đến chừng nhận ra mới thấy dường như đã có một thời, người ta sống với nhau chan hòa quá, giao hảo đối đãi nhau ý nhị tinh tế quá, tâm đắc và sâu sắc đến nỗi dư vị còn mãi trong nhiều trang sách hôm nay.

Đó là tình bạn tình thơ với Nguyễn Bắc Sơn, Từ Thế Mộng; là kỷ niệm nơi Bình Tuy, Phan Thiết quê nhà; và quan trọng hơn là ở tinh thần “học bạn” của chính tác giả.

Dường như với người bạn nào, Đỗ Hồng Ngọc đều nhìn ra cái hay để học, từ ông bạn Hai Trầu với câu thơ tuy chợ búa mà vẫn ý đạo: Đạo cang thường chẳng phải cá tôm / Đang mua mớ nọ, chạy chồm mớ kia; đến ý tưởng “thy đạo” của Nguyễn Bắc Sơn như một điểm bấu víu trong những tháng ngày chông chênh tuổi tác; rồi Hoài Khanh lúc cuối đời vẫn kịp nhắc ông chữ trơ vơ khác với chơ vơ; hay cũng chính bạn bè cắt nghĩa cho ông những địa danh mang phương ngữ Chàm xưa: Tà là núi (Tà Zôn, Tà Cú, Tà Pao), La là sông (La Ngâu, La Ngà, La Gi), Hàm là ruộng (Hàm Tân, Hàm Thuận, Hàm Cường)…

Bạn đọc thấy mình trôi theo biết bao điều thú vị qua câu chữ, ngoảnh lại nhìn cái nhan đề sách, bừng tỉnh nhận ra: thì chỉ cần vậy thôi chứ đâu cần phải hỏi “để làm gì?”.

.

LAM ĐIỀN

(https://tuoitre.vn/khi-bac-si-do-hong-ngoc-hoi-de-lam-gi-20200618085532577.htm)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

thơ duyên: Để Làm Gì

16/06/2020 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

ĐỂ LÀM GÌ

gửi thi sĩ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc.

Đọc “Về Thu Xếp Lại…” của Đỗ Hồng Ngọc - Giới thiệu sách mới - THƯ ...

giữa những ngổn ngang…
về thu xếp lại *
kỷ niệm tìm về…
khi êm đềm, nhẹ nhàng
nụ cười đến tìm, tim ấm áp
lúc xót xa, lúc chạnh lòng…
và sao tránh được niềm đau
dù xa tắp, cũng len lỏi về
quặn thắt tim. đau.

ngổn ngang đó…
khúc phim trắng đen
quay thật chậm, ân cần
khi rõ. lúc mờ…
nụ cười khúc khích
tiếng thở dài
âm thanh rè rè, khi đứt khúc
lúc dịu ngọt. ngân nga…

anh chợt thấy
ngổn ngang kia
dù có
chỉ là những mảnh vụn đời mình
những viên đá. nhặt trên đường đời. anh qua
được xâu thành chuỗi
lóng lánh như mơ…
dọn dẹp ngổn ngang
là
chạm vào dĩ vãng
sẽ
hỗn loạn riêng mình
vứt bỏ ư?
chỉ, chút thôi
hạt đời. rối tung…
người. lạc lối…

tôi thấy anh. nụ cười nhân hậu
đã từ lâu. thõng tay vào chợ
biết. để làm gì…

chẳng
để làm gì?
không
để làm gì!

để làm gì
hạt hồng ngọc giác ngộ của riêng anh.

duyên
06.12.2020

*về thu xếp lại, tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc.

(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress.com)

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 13
  • Trang 14
  • Trang 15
  • Trang 16
  • Trang 17
  • Interim pages omitted …
  • Trang 63
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email