Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

‘NGƯỜI ĐỌC và NGƯỜI VIẾT,’ một tác phẩm mới của Lương Thư Trung

03/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

‘Người Đọc và Người Viết,’ một tác phẩm mới của Hai Trầu-Lương Thư Trung

Trần Doãn Nho

 “Người Đọc và Người Viết” là tác phẩm thứ chín của Hai Trầu-Lương Thư Trung. Hai Trầu và Lương Thư Trung là hai bút hiệu của cùng một tác giả. Khi viết về văn chương, ông lấy bút hiệu Lương Thư Trung; khi viết đời sống ruộng đồng, ông ký là Hai Trầu.

Trong “Lời Nói Đầu,” Lương Thư Trung cho biết “Người Đọc và Người Viết” là sự “gom lại tất cả các cảm tưởng về các trang văn thơ mà tôi đã đọc trong vòng hai mươi năm qua cũng như thêm nhiều cuộc trao đổi mới với các tác giả khác trong vài ba năm trở lại đây.”

Ông khẳng định, “Người Đọc và Người Viết” “không phải là một cuốn sách phê bình văn học gì hết vì tự thân tôi, tôi chỉ là một người đọc bình thường chứ không phải nhà văn nhà chương gì và tôi cũng không có khả năng để làm những công việc cao siêu ấy.”

Tác phẩm rất đa dạng, cho thấy ông là một “người đọc” thực sự, nghĩa là một người “mê” đọc, đọc nhiều, đọc đủ thể loại, đọc đủ loại tác giả, xem đọc là một thú tiêu khiển trong đời sống. Không những thế, ông còn “mê” viết. Nghĩa là thích được bày tỏ cảm nghĩ của mình sau khi đọc.

“Người Đọc và Người Viết” được viết dưới nhiều hình thức khác nhau: Đọc lại, đọc, lá thư văn nghệ, thư trao đổi, mấy ý kiến, vài ghi nhận, trao đổi ngắn, hỏi thăm, trò chuyện, thư gửi… đọc một bài thơ, một truyện ngắn, đọc một tác phẩm, vân vân.

Không chỉ là đọc thơ, đọc văn mà Lương Thư Trung còn đọc các tác phẩm phi-hư cấu như “Nhật Ký Truyền Giáo,” “Vui Đời Toán Học,” hay sách viết về ẩm thực. Không chỉ là nhận định nhiều tác phẩm của một tác giả hay một tác phẩm riêng biệt nào đó, mà còn là những lá thư trao đổi với tác giả để bàn về một vấn đề đời sống nào đó, hay bàn về văn dịch, bàn về chữ nghĩa, bàn về cách dùng chữ ngoài đời và trong tự điển, trao đổi với tác giả về một mục trên báo. Chẳng những thế, đối với một số tác giả, ông còn tìm cách đào sâu hơn bằng cách trực tiếp trò chuyện hay phỏng vấn tác giả và đặt vấn đề về những gì tác giả và tác phẩm nêu ra.

Khác với một số tác phẩm biên khảo khác, qua đó, tác giả thường chỉ viết về một số nhà văn tên tuổi hay có ảnh hưởng trong dư luận, Lương Thư Trung hào phóng và đa dạng hơn. Ông viết về bất cứ tác giả nào ông thích, từ những người rất nổi tiếng cho đến những người chưa có tiếng tăm gì, cả trong lẫn ngoài nước. Và tác giả nào cũng được ông trân trọng đọc, trân trọng nêu ra ý kiến mình. Với ông, bất cứ tác giả nào cũng có cái hay để thưởng thức.

Với một tấm lòng trải rộng như thế, tác phẩm gồm hai cuốn của ông (hơn 1,000 trang) đề cập đến một số lượng tác giả khá lớn: hơn 70 tác giả, dưới dạng này hay dạng khác, cách này hay cách khác. Từ những cây bút nổi tiếng như Hoàng Lộc, Tô Thùy Yên, Song Thao, Ngô Thế Vinh, Hoàng Xuân Sơn, Lâm Chương, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư… cho đến khá nhiều những người chưa được biết nhiều trên văn đàn.

Mỗi tác giả, Lương Thư Trung có một nhận định riêng. Khen có, chê có, nhưng Lương Thư Trung không có kiểu đưa người này lên trời hay dập người kia xuống đất. Ông luôn luôn giữ một giọng bình văn chừng mực, chân tình, tin cậy. Xin lướt qua vài tác giả:

-Đọc thơ Phan Nhiên Hạo, Lương Thư Trung nhận xét, thơ Phan Nhiên Hạo “không phải để cảm mà để nhận, không phải để ngâm nga mà để nghiền ngẫm, không phải để ca ngợi cuộc đời mà để nhận dạng cuộc đời” (…) Đó là một “tách trà đắng” làm tê đầu lưỡi dần dần nghe cái “hậu ngọt của trà” (trang 98-101, quyển 1).

-Về Nguyễn Thanh Trúc, Lương Thư Trung cho rằng thơ của Nguyễn Thanh Trúc “không sắc sảo tài tình, không trau chuốc bóng bẩy, không văn chương thời thượng,” mà “là tiếng hót lảnh lót của loài chim chìa vôi giữ rặng tre làng. Tiếng hót ấy sẽ mang đến cho đời một chút hương nội gió đồng, một chút hoa cau hoa bưởi…” (trang 394, quyển 1).

-Đọc “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư, Lương Thư Trung cho biết, “đọc thì thấy quá xá là hay” khiến ông cảm thấy “nhói nhói bên ngực trái” vì quá thương cho số phận của chị em thằng Điền, hai nhân vật chính trong truyện. Nhưng Lương Thư Trung không chịu được cách cách chấm, phết của Nguyễn Ngọc Tư. “Ở đây tui bị ngộp thở vì mấy chữ ‘và’ và mấy cái dấu chấm phết ào ào như mưa như nắng ở vùng kênh xáng” trong “mùa áp thấp nhiệt đới Tháng Tám” (trang 192, quyển 1).

-Về truyện dài “Đời Thủy Thủ” của Vũ Thất, Lương Thư Trung nhận xét: “Phải là một thủy thủ tài tình với óc quan sát và nhận xét khá tinh xác mới có thể viết chương sách về trận chiến cách nay tròn năm mươi năm (1965) mà đọc lại như mới xảy ra bây giờ” (trang 392, quyển 2).

-Đề cập đến hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển, Lương Thư Trung nêu lên một nhận xét đáng quan tâm: hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển có những đóng góp lớn lao cho nền văn học miền Nam, nhưng “dường như bị các nhà viết văn học sử, các nhà phê bình, các nhà diễn thuyết không biết vì vô tình hay cố ý mà thường hay bỏ quên sự có mặt của họ” (trang 374, quyển 2). Chẳng hạn như trong lần hội thảo “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam” (1954-1975) được tổ chức tại nhật báo Người Việt và nhật báo Việt Báo ở Westminster, California, trong hai ngày, 6 và 7 Tháng Mười Hai, 2014, “các diễn giả thuyết trình nhiều đề tài nhưng dường như quý vị ấy bỏ quên những đóng góp to lớn của nhị vị học giả này.” Mà ngay trong bộ Văn Học Miền Nam do Võ Phiến biên soạn, “hai vị này cũng chỉ được tác giả nhắc qua một cách rất sơ lược trong một hai trang giấy ngắn…” (trang 356, quyển 2).

Xen lẫn trong những bài viết về văn chương, Lương Thư Trung cũng có những bài viết bàn về chữ nghĩa khá thú vị. Chẳng hạn như bàn về việc dùng chữ trong sách vở và chữ ở ngoài đời trong “Giữa “Thiệt” và “Thật,” “Cái lợi của bút lục là chắc, nhưng cái hại của bút lục là quá nệ vào sách vở.” (trang 14, quyển 1).

Hay trong bài “Vài chữ dùng ngoài đời và trong tự điển,” đọc bài viết của Lê Mạnh Chiến, Lương Thư Trung nêu ra sự khác biệt của một số cách giải thích từ ngữ giữa các tự điển và giữa tự điển và ngoài đời và từ đó, nêu ra cái sai sót trong cách hiểu của một số từ như: ba đào, âm đức, bồng bột, chúng sinh, bình sinh… (trang 135-141, quyển 1).

Dù Lương Thư Trung khiêm tốn cho rằng ông chỉ ghi lại “cảm tưởng” của ông khi đọc, nhưng thực sự, với 95 bài viết về nhiều tác giả và tác phẩm, “Người Đọc và Người Viết” là một tập tiểu luận nhận định văn học. Dù không dựa trên một trường phái nào hay một quan điểm nào rõ rệt, nhưng khi phân biệt cái hay, cái dở, phê phán điểm này, khen ngợi điểm kia, tác giả cũng phải dựa vào một quan điểm nào đó. Chẳng hạn, Lương Thư Trung nhận xét rằng, văn chương hay văn học tựa hồ như “những dòng nước làm cho một dòng sông luôn đầy và chảy hoài bất tận,” không dễ gì “cắt lìa giữa cổ điển và hiện đại, giữa lãng mạn trữ tình và hiện thực tả chân, giữa triết lý và đời sống thường, giữa người đọc và tác giả.” Còn người đọc thì mê văn chương xưa hay nay miễn nó hay, cái hay tùy thuộc tâm hồn mỗi người. Mê đọc cũng tốn kém nhiều thứ. Tác giả tự nhận mình thuộc “người đọc đại chúng” và ông cho rằng đừng ai khinh thường người đọc đại chúng vì “chính họ là những người thầm lặng đã mang đến cho văn học những nhà văn tên tuổi” (trang 47-57, quyển 1).

Đó cũng có thể xem là một quan điểm văn học. Từ chỗ đứng này, Lương Thư Trung thẳng thắn phê phán sự áp đặt người đọc vào một “nhóm văn chương” nào đó, quy cho họ là không có văn chương. Nhà phê bình văn học, theo Lương Thư Trung, “chỉ là một người ngồi câu ở một bến sông,” là người  “không làm nên văn chương” mà cũng không là “vị thẩm phán cuối cùng ban phát văn chương cho mọi người” (trang 68, quyển 1).

Nhận định đó cho thấy Lương Thư Trung không chấp nhận lối phê bình văn chương độc đoán, nghĩa là chỉ đứng trên một quan điểm nào đó mà họ cho là đúng đắn, rồi sổ toẹt những cách phê bình văn chương khác hoặc là có cái nhìn thiên lệch đối với những tác phẩm không phù hợp với quan điểm mình.

 

(TDN, 25.5.2018)

………………………………………………………….

Hai Trầu-Lương Thư Trung, sinh trưởng ở Tân Bình, Sa Đéc. Ông đã xuất bản chín tác phẩm ở Hoa Kỳ: Bến Bờ Còn Lại (2005), Tình Thầy Trò (2005), Lá Thư Từ Kênh Xáng 1 (2005), !4 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ (2012), Nhớ Về Những Bến Sông (2013), Lá Thư Từ Kênh Xáng 2 (2013), Mùa Màng Ngày Cũ (2011), Một Chút Tình Quê (2015) và Người Đọc và Người Viết (2017).

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Ghi chép lang thang (tiếp theo)

06/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo)

Về Huế

Về Huế lần này cùng đi với Bác sĩ Thân Trọng Minh, người bạn cùng lớp cùng trường ở Y khoa Đại học đường Saigon hơn nửa thế kỷ trước, một “người Huế thứ thiệt” nên mình… học thêm, biết thêm được nhiều thứ… rất huế. TTM không chỉ là một bác sĩ, anh còn là nhà thơ, họa sĩ, kịch tác gia, là một bạn văn thân thiết từ xa xưa của thời Gió Mai, Ý Thức, Tình Thương… Anh cũng là người trình bày bìa cho tập thơ đầu tay của mình, Tình Người, năm 1967, lúc còn học dưới mái trường Y.

Việc đầu tiên ở Huế là Minh kêu cùng đi thăm nhà Từ đường cùa dòng tộc anh ở An Lỗ, qua sông Phú Ốc… cách Huế chừng 40 cây số. Chuyến đi cùng với cả gia đình anh hơn mười người, Thanh Hằng (bà xã TTM) và cô Kim Kê, người bạn. Minh kè kè cuốn gia phả dòng họ để trao cho một người em. Sau đó anh đưa đi thăm ngôi mộ cổ của ông Tổ cách đây 600 năm (Viên, người em anh bảo 400 năm chứ, nhưng Minh quả quyết 600 năm!), làm mình sực nhớ hôm nay là Mùng 10 tháng 3 Âm lịch, đang có Lễ giỗ Tổ Hùng Vương 4000 năm  ở Phú Thọ. Minh nói Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… đều có mộ ở Kim Long, gần chùa Linh Mụ.

Rồi xe đi qua Phong Điền, Quãng Điền, vựa lúa của Thừa Thiên-Huế, thấy còn bát ngát những cánh đồng vàng nhưng Viên nói đang đô thị hóa dần rồi. Qua một nơi gọi là Sịa, Minh nói Huế có câu ‘nhất Huế nhì Sịa” là ở đây, cũng là quê nhà của Hồ Thanh Ngạn, bạn chúng tôi đã mất. Mấy ngày ở Huế, Minh cùng gia đình về “làng”, có nhà tự để thăm bà con, rồi thăm bạn bè, có bạn đang hấp hối, bạn đang nằm liệt…

Nhưng đây rồi. Phá Tam Giang. Mình nhớ mấy câu thơ viết về Huế năm xưa mà Trương Thìn đã phổ nhạc, bài Một ngày ở Huế: “…Một ngày Từ Hiếu băn khoăn/ Đồi sương dốc dựng té lăn cù rồi/ Một ngày sông nước thuyền trôi/ Tam Giang sóng vỗ đâu hồi còn thơ/ Một ngày ngày xửa ngày xưa/ Một ngày ở Huế đã vừa trăm năm” (Đỗ Nghê, 1995).

“Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang” (Ca dao). Từ nhỏ vốn đã “sợ” Phá Tam Giang qua câu ca dao đó rồi, bây giờ tận mắt nhìn Phá Tam Giang mới… hết hồn! Ôi mênh mông trời nước. Tỉnh Thừa Thiên có thành phố Huế 80km2 còn riêng Phá Tam Giang đã rộng hơn 50km2 rồi và trải dài đến 24km, từ bắc vào nam, từ bến đò Vĩnh Tu đến Cầu Hai, Lăng Cô. Nhớ bài thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên với bài phổ nhạc của Trần Thiện Thanh ngày nào.

 

 

 

 

 

 

 

 

Phá Tam Giang nhìn từ Túy Vân Tự.

 

 

Lăng Cô. Đường lên đèo Hải Vân.
Phá Tam Giang kéo dài đến Đầm Cầu Hai, Lăng Cô.

Ngày hôm sau, chúng tôi đến thăm chùa Từ Đàm. Nhớ năm 2008, mình cũng đã có lần đến đây trình bày về đề tài Thiền và Sức khỏe trong Tuần lễ Văn hóa Phật giáo, lần đó có nhà văn Nguyên Ngọc, Gs Cao Huy Thuần v.v… đông vui. Sông Hương dịp đó lần đầu tiên thả bảy đóa hoa sen rất đẹp trên dòng nước, phía trên cầu Tràng Tiền. Sau này đọc Thái Kim Lan mình mới biết người ‘chủ xị’ vụ này là thầy Tâm An (Thích Không Nhiên) hiện là Phó chủ biên Tạp chí Liễu Quán. Từ Đàm nay do thầy Hải Ấn trụ trì. Thầy Hải Ấn không phải ai xa lạ, vốn là một bác sĩ y khoa, đồng nghiệp của chúng tôi. Nghe kể chuyện lúc thầy đang là tu sĩ, học y khoa, đi thực tập đỡ đẻ cũng nhiều và đều rất mát tay. Thầy đi vắng. Chúng tôi ra ngồi… dưới cội Bồ đề trước sân chùa, đợi vào thăm vị Đại sư thân với bác sĩ TTM.

 

 

Chiều đó, chúng tôi về Mỹ Lợi, thăm ‘chốn xưa’ của Nguyễn Tường Bách, Lữ Quỳnh, Lê Trọng Nguyễn… Đây chính là quê của bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại.

 

Đường vào làng quanh co. Các nhà thờ dòng tộc họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Phan… còn vài người già cả trông nom. Rất nhiều mồ mả. Có những ngôi nhà tan hoang đầy vết bom đạn.

 

 

TTMinh chỉ đây là nhà bà… Từ Cung, đây là nhà Bà ngoại TS Nguyễn Tường Bách… Đây là con đường mà một người bạn rất thân hồi nhỏ, mê một cô nào đó không dám nói ra đã viết được những câu thơ rất hay… đến bây giờ Minh hãy còn nhớ! Đây cũng là con đường làng mà nhạc sĩ Lê Trong Nguyễn ghé qua đã viết nên bài Nắng Chiều ” Qua bến nước xưa lá hoa về chiều… Ngập ngừng mềm đưa trong nắng lưa thưa… khi đến cuối thôn chân bước không hồn… nhớ sao là nhớ bóng người ngày thơ”… “Nay anh về qua sân nắng/ chạnh nhớ câu thề/ tim tái tê/ chẳng biết bây giờ/ người em gái. duyên ghé về đâu…” . Minh nhắc nào DT, nào BT…ôi những người đẹp của ngàn đời xứ Huế… nay biết về đâu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Từ đó, chúng tôi về thăm Túy Vân Tự (Chùa Thánh Duyên), ngôi chùa nằm chơ vơ giữa Phá Tam Giang. Xưa muốn đến thăm phải đi thuyền. Nay nhờ có cầu Trường Hà nên có thể đi bằng xe hơi, hoặc đi từ cửa bể Thuận An.

Túy Vân là ngôi chùa được các đời vua Gia Long, Minh Mang và nhất là Thiệu Trị đặc biệt chăm sóc vì sự hùng vĩ, uy nghi và tuyệt đẹp của nó. Trên đỉnh tháp Điều Ngự, tầm mắt nhìn rộng khắp cõi trời đất mênh mông và nhìn rõ hơn tứ đại ngũ uẩn của cỏ cây mây nước và của con người mình… Ở đó đã có thể thấy biết sắc bất dị không, sắc tức thị không…

Nhóm chúng tôi trèo lên đến đỉnh tháp cao nhất để nhìn bao quát cảnh trời nước bao la…

 

 

trên Tháp Điều Ngự.

 

 

 

 

 

 

Gặp thầy Minh Chính trụ trì. Thầy đang cuốc đất dọn dẹp với các đệ tử và bà con Phật tử đến làm công quả. Lúc này, nhờ đườg sá tốt dần nên chùa đã có nhiều người đến viếng cảnh, tu tập.

Một ngày… ở Huế, được thấy được nghe được học hỏi biết bao điều!

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn

Thăm thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang

04/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thăm thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thầy Phước An nói nghe anh đến từ chiều hôm qua nên có ý đợi, sáng nay cũng ở chùa, chưa đi đâu cả. Tôi từ Đà lạt xuống Nha Trang tối trễ quá không đến thăm thầy được như đã hẹn nên sáng nay Mùng 5 tết Mậu Tuất (2018) mới đến được đây. Ngân Hà đưa đi đường vòng phía sau chùa Long Sơn, qua Phật đài Thích Ca, ngày xưa biết bao lần đến viếng mà chưa có dịp ghé thăm Hải Đức. Ngôi chùa cổ với nhiều thế hệ các bậc tôn túc đã dày công xây dựng nên một Phật Học viện nổi tiếng của miền Trung, nơi sau này còn có Ni sư Trí Hải, thầy Tuệ Sỹ, thầy Mạnh Thác… từng trú ngụ, đặc biệt nhiều văn nhân thi sĩ như Quách Tấn, Võ Hồng, Phạm Công Thiện… thường xuyên lui tới, người tu học, người tham quan, đàm đạo… như một thuở nào xưa… giữa ‘những phương trời viễn mộng’… Nhớ thời ở Nha Trang, tôi cũng thường gặp thi sĩ Quách Tấn, nhà văn Võ Hồng nhưng chưa có lần nào đến chùa Hải Đức, hình như chưa có ‘duyên’ và còn có quá nhiều bận bịu.

 

Thầy Phước An không phải là ai xa lạ. Thầy là tác giả của tập tùy bút nổi tiếng “đường về núi cũ chùa xưa” rất hay về văn chương và thâm trầm đạo vị. Khi nói đến Thích Phước An những ai từng sống với Đại học Vạn Hạnh năm xưa không ai không nhớ: nhà báo Nguyễn Trọng Chức nhắc những kỷ niệm cũ, Nguyễn Hiền (5 Hiền) rồi Văn Công Tuấn…  đều nhắc với tất cả lòng quý trọng.

Tôi chần chừ khá lâu trước cái Hồng Chung vĩ đại. Một nhóm học sinh lớp 11 tình cờ đến và các em mở bánh ra ăn, mời tôi thiệt dễ thương. Tôi nói về tiếng chuông và ý nghĩa bài kệ khắc trên hồng chung:

 

 

 

 Bể cả triều dâng tiếng Phổ Môn

Chín tầng sen ngát hiện đồng chơn

Cam lồ giọt nước cành dương rải

Nhuần thấm sơn hà cảnh sắc xuân

 

Đó là bài tán ca tụng hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm:

 

Hải chấn triều âm thuyết Phổ Môn

Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn

Dương chi nhất trích chơn cam lộ

Tán tác sơn hà đại địa xuân

 

Thầy Phước An vừa ra đón khách. Tôi chắp tay chào thầy và nói xin chụp cái hình kỷ niệm nhé. Thầy kêu khoan khoan chờ tôi vào thay y cho đàng hoàng đã chứ!

Rồi cùng chuyện vãn bên chén trà xuân, bên cánh mai vàng rực rỡ… Chuyên xưa chuyện nay, chuyện văn chương, chuyện đạo pháp… Dưới chân đồi thăm thẳm kia là thành phố Nha Trang dày kín, xa xa là rặng núi xanh lơ…

 

Ngân Hà, Đỗ Hồng Ngọc và thầy Phước An. (chùa Hải Đức, Nha Trang, M5 tết Mậu Tuất 2018)

 

 Nhắc Văn Công Tuấn với mấy tập sách mới, giọng văn chân thành trong sáng, “vang vọng lời kinh, lấp lánh ánh vàng” như Nguyễn Hiền Đức nhận xét. Thầy đi lấy ngay cuốn mới nhất của Văn Công Tuấn: Hạt nắng Bồ Đề, thay mặt tác giả, ghi lời tặng trang trọng.

Và tôi, cũng không quên gởi thầy tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê.

Dưới đây là vài hình ảnh buổi trò chuyện cùng thầy Thích Phước An ở chùa Hải Đức Nha Trang một sáng Mùng 5 tết Mậu Tuất (2018):

 

 

Trò chuyện với Thầy Phước An, chùa Hải Đức Nha Trang, M5 Tết Mậu Tuất 2018

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

”Ở một nơi ai cũng quen nhau”

05/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

”Ở một nơi ai cũng quen nhau”

Đó là tựa một tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Hình như là tình yêu, Cô bé treo mùng, Học Trò… hồi đó nhớ không? Nhưng ở đây mình chỉ ”mượn” để nói về buổi họp mặt, ra mắt Quán Văn số 52, Xuân Mậu Tuất 2018 của Nguyên Minh và nhóm bạn.

Ngộ lắm! Hình như từ ngày có Internet mọi người cứ xa dần nhau, dù ngồi đối diện mà cứ như xa cách muôn trùng, mỗi người trú vào cái ”pháp giới” riêng mình và sống ảo trong đó. Cho nên, bỗng dưng có một buổi họp mặt ”offline” tay bắt mặt mừng như vầy thì mọi người đều có vẻ hạnh phúc như chưa bao giờ có. Họ như ngắm nghía nhau, hít thở nhau và… chuyện cứ nổ như bắp rang như đã hẹn nhau ”từ muôn kiếp trước”.

Mà thực vậy, Quán Văn giống như một tập san… hoài cổ, với những bài viết không mới, không có hậu hiện đại, không có tân hình thức… gì ở đây cả. Chỉ là những tâm tình, sẻ chia, thẳng thắn, ngọt ngào, cay đắng…

Nhiều người chưa từng gặp nhau, chưa từng biết nhau mà như đã quen đã từ lâu, dù người từ Canada, từ Mỹ, từ Ý, từ Hà Nội, từ Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Vũng Tàu, Phan Thiết… chỉ nghe cái tên thôi mà đã vô cùng thân thiết. Phải rồi, chỉ cần gặp gỡ, chỉ cần nói năng, chuyện chung chuyện riêng gì cũng được… Ca hát nhảy múa chỉ là một cái cớ, một sự ồn ào cần thiết, bởi nhiều khi chỉ cần một sự im lặng, một ánh mắt nhìn.

Mình chia sẻ với bạn mấy tấm hình ở đây, và dành cho bạn sự…tưởng tượng. Bởi bạn biết đó, mình già rồi, làm biếng tổ rồi!

Nguyên Minh ”chủ xị” phát biểu mấy câu chào mừng.

Nguyên Minh vẫn tấm thân gầy gò nhỏ xíu đó mà sức làm việc dẻo dai rất đáng nể phục. Mỗi ngày 4 giờ sáng đã thức dậy hì hục… làm báo… Anh kêu mệt quá mệt quá, chỉ đến khi báo ra gặp gỡ anh em mới vui. Anh mới sắm cái mũ lưỡi trai, lúc nào cũng đội che mái đầu còn loe hoe mấy sợi. Lâu nay mình đã đặt cho NM một cái tên, bây giờ đâm ra ai cũng biết và ai cũng gọi anh là Cập Thời Vũ Tống Công Minh… Nhờ sống rất chân thành nên anh em ai cũng quý cũng thương. Có lần bệnh nặng, nằm bệnh viện suýt chết, mình biết tin đến thăm, nói với người bác sĩ đàn em đây là nhà văn Nguyên Minh, bạn thầy đó em. Cứ như Tống Giang sắp bị mổ thịt làm bánh bao…

Địa điểm có vẻ đã quá chật chội rồi đó. Lần sau nên tìm cái sân rộng rãi hơn thì tốt.

Cô áo tím là Ban Mai đã cùng ông xã từ Quy Nhơn đi xe lửa suốt đêm qua mới kịp đến.

Nguyên Cẩn, Nhật Chiêu…

 

Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào, Phạm Văn Hạng từ Đà Lạt xuống.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào. Trông anh hiền như bụt. Hỏi sao lạ vậy? Anh cười: ai cũng hỏi vậy! Rồi mình hỏi thăm Phùng Hoàng Anh, cháu ông Nguyễn Hiến Lê cũng ở Sơn Tây cùng NXD.

 

 

 

Hiếu Tân ở Vũng Tàu gặp Tịnh Thy từ Huế…

 

Và “Nhóm Ý Thức” cũng luôn có mặt bên cạnh Quán Văn. Từ trái; Đỗ Nghê, Nguyễn Ước, Lữ Kiều, Nguyên Minh, Lê Ký Thương… nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư và các bạn thời xa xưa đó…

 

 

 

Tịnh Thy, cô giáo Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế giới thiệu vài nét về bài ”đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê: ”Sao lòng ta chưa nguôi” của cô và giữ bí mật để mời mọi người đọc trực tiếp trong Quán Văn 52.

Cô dành thời gian kể về chuyến đi Hà Nội của Quán Văn vừa rồi với nhiều hấp dẫn…

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

NGÔN NGOẠI

31/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ngôn Ngoại

Ghi chú: Tôi đọc được truyện này trên trang Luân Hoán, rất dễ thương. Xin phép Tâm Thanh chia sẻ cho bà con đọc Tết nhé. Đa tạ. (ĐHN).

 

Tâm Thanh

Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một chuyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu ‘Cứ yên tâm’.

Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói ‘bả không phải vợ tôi’? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.

– Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!

‘Chát!’ Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời ‘vu cáo’ trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:

– Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?

Được dịp ‘đáp lễ’ sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:

– Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.

Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:

– ‘Toa với lết’. ‘Lết’ đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà ‘lết’.

Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:

– Bà có biết đọc … xa tới đằng kia nổi không?

– Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!

– Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà … đái.

Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:

– Ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!

Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận ‘tội ác’ của mình, chỉ giúp bà mở khóa

dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:

– Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.

Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:

– Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?

Tôi tính nói ‘bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu’, nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:

– Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?

Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lễ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:

– Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!

Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:

– Ông bà tình ghê!

Câu này, chắc hôm đó bà không nghe đâu, nhỉ? Về chỗ, tôi vẫn ngồi vào cái ghế đã bị đổi, đầu tràn ngập những dấu hỏi về người đàn bà kỳ lạ.Bà đi với ai? Đi đâu? Làm gì? Khi bà trở lại, lò dò mãi không tìm thấy chỗ, tôi phải vẫy tay, kêu:

– Bà ơi! Đằng này nè!

Tôi nghe từ hàng ghế sau, phía bên trái có giọng đàn bà, tiếng Việt:

– Ông già lấy được bà vợ đẹp, chỉ tội quê không để đâu hết.

Bụng tôi thon thót theo mỗi bước chân của bà, chỉ lo ngại cho những cái đầu người ngồi dẫy bìa bị tay bà quơ phải, lỡ mà bà nhằm cái đầu tóc giả của một ông Tây mà vịn thì tôi phải tuyên bố ‘ly dị’ ngay tại chỗ. Nhưng tôi thở phào khi cuối cùng bà tới được chỗ ngồi bình an, gieo bàn tọa cái rầm, thả ra mùi ‘eau de Cologne’ pha lẫn mùi dầu cù là lổn ngổn.

– Bà đi máy bay lần đầu?

– Chớ lần mấy?

– Bà đi đâu ạ?

– Phần-lan.

– Bà đi thăm bà con bên đó, chắc?

– Bà con hồi nào? Theo chồng.

– Ông nhà sang Phần-lan lâu chưa?

– Chả người Phần-lan …

Bà kể bà làm nghề chèo ghe đưa khách tại bến đò Vĩnh Long. Chở bạn hàng cũng có, mà sau này chở khách du lịch cũng có. Thường thì bà chậm chân, không tranh được mấy mối khách du lịch béo bở. Một hôm bà để ý có một ông khách Tây cứ ngồi uống cà phê đá mà nhìn bà cả buổi, ‘cái đầu xồm không nhúc nhích’ và ‘cái môi đỏ chót liếm lia’. Cuối cùng ông đứng lên ra bến, đưa tay gạt hết mấy thằng giành mối ra một bên, mà tiến thẳng lại ghe bà, chẳng nói chẳng rằng, bước xuống, và bà chèo ghe cho ông coi cảnh trên sông Cổ Chiên. Bà nói tiếp:

– Tối về chả rút bóp ra một xấp tiền đô. Tui hổng dám lấy. Thằng chả xòe ra biểu lấy một ít cũng được. Nhưng chú tính coi – ai lấy kỳ vậy?

Cô tiếp viên đưa khay ăn tới. Tôi giúp bà hạ bàn con xuống, chọn nước uống, và chỉ bà cách dùng mấy thứ lỉnh kỉnh như dao nĩa, khăn ăn v.v. Và tôi ngạc nhiên tại sao một người chèo đò nhà quê mà có bàn tay búp mang đẹp như vậy. Bà cầm dao ăn như cầm búa, nhưng ăn vén khéo và rất … bạo -so với các mệnh phụ phu nhân khác. Vẻ tự nhiên của bà và những món ăn hấp dẫn với rượu vang khiến tôi phấn chấn tinh thần. Tôi thấy đã đủ thân mật để nói đùa:

– Bà không lấy tiền, chứng tỏ bà mê ông rồi?

Bà cười khinh khích:

– Mê cái mốc xì họ. Bộ ghe chùa sao? Tôi lấy cái tờ có vẽ số 1.

– Sao bà không lấy tờ vẽ số 10 hay 20?

– Lấy đủ công mình thôi chớ.

– Rồi sau đó?

– Sau đó hả? Mấy bữa sau, bữa nào chả cũng trở lại thuê ghe tui đi chơi lòng vòng… Rồi chả đòi lấy tui.

– Ý! Chết mẹ người ta chưa!

Dầu biết trước bà đang trên đường đi về nhà chồng, tôi buông ra một câu sững sờ như thế vì hồi kết cuộc tới một cách đột ngột quá. Không ngờ tiếng reo của tôi đã đậm đà giọng của bà, thốt ra mà thấy sướng cổ họng.  Nhưng thấy sau đó bà im bặt, tôi lại lo bà giận tôi lỗ mãng.

– Xin lỗi nhé!

– Lỗi gì?

– Dạ, không.

Tôi chờ đợi một câu truyện hấp dẫn, có đầu đuôi hơn. Tôi muốn biết buổi hẹn hò đầu tiên ở đâu? ông tỏ tình thế nào? tại sao bà biết ông thương mình thiệt? cái gì làm cho bà thích ông? ông làm nghề gì? có tổ chức đám cưới không? Nhưng bà không kể nữa, tiếp tục ăn món tráng miệng, khen ngon.

Tôi uống sang ly Cognac thứ ba, nghe ra giọng nhừa nhựa của chính mình:

– Dô! Dô! Mừng cho mối tình của bà! Đẹp thấy … mẹ!

Bà nhìn tôi, cau mặt:

– Ê! Chú hổng nên bắt chước tui ăn nói cái kiểu ẩu tả đó.

Thế ra bà vẫn biết mình ăn nói khác thường. Tôi chữa:

– Bà nói ngon lành hết xảy, chứ đâu có … ẩu tả.

– Chú nói thiệt tình hay xí gạt tui?

– Tui xí gạt bà làm mẹ gì? Bà là người tốt muốn chết.

– Chú coi bộ cũng được, nên tui khuyên chú đừng bắt chước tui. Tui trót học thói xấu, không sửa được. Không muốn sửa. Thằng khốn nạn đó …

Tôi ngạc nhiên, tại sao mới ‘thằng chả’ thân mật đã lên cấp ‘thằng khốn nạn’?

– Bà nói ai … khốn nạn?

– Thằng chồng của má tui.

– ‘Chồng của má’, tức thị là cha ?

– Cha ghẻ tui đó. Mà tui có kêu chả bằng cha đâu.

– Sao vậy?

– Nó nhậu say rồi đánh đập mẹ tui tối ngày. Một hôm nó định giở trò súc vật  với tui, mẹ tui bắt gặp, nó đánh mẹ tui bất tỉnh nhơn sự, tui quơ con dao yếm, huơ cho nó ớn mà giang ra, ai dè nó tự lao thây vào lãnh dao, chết ngắt. Đúng là số chả chết. Bị thần Lưu Linh vật. Tui .. tui không cố ý. Ông ta cũng thông cảm cho tui như vậy. Tui chỉ bị ba năm cải tạo. Lúc má tui đau nặng, người ta lại thả cho về sớm gần năm để nuôi bả.

Bà ngưng kể, khóc. Tôi im lặng để bà khóc tự nhiên, nhưng thấy bà khóc mãi, tôi an ủi:

– Việc đã qua rồi. Bà đừng buồn nữa.

Bà mủi lòng, khóc mùi hơn:

– Tui nhớ má tui với thằng Mẫn quá. Tui bỏ đi thiệt là tệ. Không ai coi chừng má tui với nó hết trơn.

– Thằng Mẫn là ai?

–  Nó là em cùng mẹ khác cha với tui. Nó bị tàn tật, què giò.

– Cha em là ai?

– Thằng chồng mắc toi của mẹ tui, chứ ai?

Tôi quay nhìn khuôn mặt hiền lành đẫm nước mắt và nghĩ có lẽ chính khuôn mặt này đã làm cho các quan tòa giảm khinh cho bà tội vô ý giết người. Phải tay tôi, đã cho bà trắng án. Rồi như bấm nút, bà nín bặt, chùi nước mắt, nói ráo hoảnh:

– Bảy năm cãi lộn với thằng cha ghẻ và hai năm cải tạo, hết thảy chín năm, tui quen ăn nói ba trợn. Sửa lại thấy … miệng lạt nhách.

Bà nói xong than:

– Tui mắc ói quá. Trước khi lên máy bay đã uống ba viên thuốc, mà còn mắc ói.

– Hèn gì bà vừa lên máy bay đã ngủ li bì.

Tôi vừa kịp banh cái bao ói thì bà ọc ra. Bà lại lấy dầu cù là ra xức. Cái nồng nàn của những chuyến đò đêm, cái ngất ngưởng của những chuyến xe đò trưa nắng, cái bệnh viện lưu động đó, dầu cù là con hổ. Hai mươi năm mới gặp lại, gặp lại vẫn nồng. Tôi bật ghế cho bà nằm nghỉ.Tôi cũng ngả người, nhắm mắt, suy nghĩ miên man về câu truyện của bà. Thỉnh thoảng tôi hé mắt, thấy bà chăm chú coi phim trên bàn ảnh truyền hình. Tôi chỉ cho bà đeo ống nghe. Tay chạm phải bộ tóc thật rậm, khỏe mạnh.

Không biết máy bay đã bay tới đâu và mấy giờ ở dưới mặt đất. Tôi có cảm tưởng thời gian và không gian như đọng lại ở một nơi xa lạ, không liên quan tới trái đất. Nhưng tôi vẫn tưởng tượng dưới đó hàng mấy tỉ người đang lao xao cười, khóc, nói thật và nói dối, thông cảm và ngộ nhận, bằng nhiều thứ ngôn ngữ, chân ngôn xen lẫn ngụy ngôn.

Tôi thức giấc đã nghe nhiều người rục rịch. Bà đã bật ghế thẳng, ngồi đan áo, tôi hỏi:

– Bà không ngủ?

– Ngủ mẹ gì được. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng gà gáy.

Tôi ngạc nhiên:

– Trên máy bay, làm gì có gà kìa?

Bà không do dự:

– Chắc nó gáy trong đầu tui. Bị ở nhà quê, nghe gà gáy riết, quen đi, cứ gần hừng sáng là nghe gà gáy trong tai.

Hình như bà giao tiếp với thế giới bên ngoài bằng trực giác. Thuần trực giác. Tôi chắc người đàn ông gặp bà trên bến đò Vĩnh Long cũng có trực giác rất mạnh. Tôi thích nghe tiếp câu truyện về họ.

– Tại sao ông không về Việt Nam … rước dâu?

– Chú đừng kiêu ngạo tui… Chả đòi sang đó chớ. Nhưng tui không cho. Tui nói dìa chi tốn tiền. Tui xin món tiền đó cho thằng Mẫn ăn học, chả bằng lòng, gởi tiền dìa rồi.

Khi bà dẹp len và kim đan để chuẩn bị ăn điểm tâm, tôi hỏi:

– Bà đan áo cho ông?

– Bển nghe nói lạnh lắm.

Chúng tôi ăn xong, máy bay qua một vùng ‘ổ gà trời’, hổng lên hổng xuống. Đèn báo nhắc cài dây an toàn. Lần này tôi chỉ cho bà cái khóa.Hành khách đi máy bay gặp những báo hiệu cài dây thế nào cũng ít nhiều lo lắng. Rủi ro, ai biết? Loa phóng thanh loan báo có bão, nhưng hành khách có thể yên tâm. Tôi lòn tay dưới gầm ghế, lấy cái phao cấp cứu. Bà hỏi:

– Cái gì vậy?

– Cái phao cấp cứu. Tôi chỉ kiểm soát xem nó có đó không, để mình yên tâm.

– Tui đi sông đi nước hai chục năm trời, chẳng phao phiếc gì, cũng chẳng chết. Hôm đầu thằng chả xuống ghe cũng bày đặt hỏi phao, tui nói không cần, chả cũng chịu. Riết rồi chả nói đi ghe với tui mà không mang phao mới thích.

Bà không lộ một thoáng lo âu nào. Tôi có cảm tưởng người đàn bà này bay trên 10 ngàn bộ cao mà tưởng mình đang bơi xuồng trên sông Cổ Chiên, xuồng lật, chỉ việc nhào xuống nước bơi. Tôi cất phao trở lại chỗ cũ, hỏi:

– Bà có chắc ông sẽ ra đón không?

– Tui chắc mà. Tui biết ai là người tin được. Tui biết thằng cha này không bao giờ nói xạo.

Tôi nhớ một sự tích trong Tân ước: Một hôm thuyền của các môn đệ gặp sóng gió, Chúa Giêsu đi trên mặt nước ra với họ, nhưng họ càng sợ hơn vì tưởng là ma. Chúa nói ‘Thày đây, đừng sợ’. Đại môn đệ Phêrô mừng quá nói ‘Nếu là Thày thì xin cho con đi trên mặt nước đến với Thày’.Chúa phán ‘Con lại đây!’ Phêrô bước xuống, đi trên mặt nước, được mấy bước, thấy sóng to quá, ông đâm hoảng, và chìm xuống, Chúa phải đưa tay ra đỡ lên thuyền. Ngài trách yêu ‘Cái đồ yếu lòng tin!’

Tôi cảm phục lòng tin của bà lắm, bà ạ: Bà bước thẳng lên mây đến với chồng. Tôi nghĩ mọi người trên chuyến bay này đều biết trước về cuộc hành trình, và biết điểm tới. Chỉ có bà nhắm mắt mà bước lên mây, không biết điểm tới nằm chỗ nào trên mặt đất. Bà đi tới với chồng, chứ không đi tới một nơi nào cả. Không một giây hồ nghi. Câu hỏi ‘Liệu ông chồng có tới đón không?’ chỉ bám vào đầu tôi, một con người thường thấy quá nhiều sóng lớn trên biển đời, lòng tin thường bị nhận chìm, đến nỗi mỗi bước đi về sau trở thành một dấu hỏi.

Tôi phải chờ bảy tiếng đồng hồ tại Copenhagen để được chuyển máy bay đi Oslo. Lịch trình bay đã ghi như vậy từ đầu. Còn bà, theo lịch trình lẽ ra chỉ phải chờ ba tiếng để chuyển máy bay, nhưng vì trục trặc đình công sao đó, phải thêm hai tiếng trễ nải. Chính hai tiếng trễ nải này khiến cho tôi lo ngại giùm bà. Tôi đề nghị:

– Bà nên báo cho chồng bà biết máy bay trễ.

– Chả biết mà … Cái gì chả cũng biết hết đó.

‘Cái gì chả cũng biết’, đã tin ắng đi như vậy, thì thôi, kệ bà. Tôi hướng dẫn bà  đi coi các gian hàng trong sân bay. Bà bị kích thích mạnh vì vẻ choáng lệ và đồ vật bày trong các cửa hiệu. Bà trầm trồ, reo vui. Tôi hỏi bà có định mua cái gì làm quà cho chồng không, vì đồ ở đây miễn thuế, rẻ hơn ở ngoài, bà nói:

– Tui mang theo nhiều đồ lắm, khỏi cần mua. Chú đừng cười nghe, tôi may ba bộ birama, kho một nồi tôm, và mua năm ký bánh phòng tôm, hai ký kẹo dừa. Nghe nói mấy thứ này ở bên tây không có. Mèn ơi! Tây u gì mà nó thích ăn tôm kho tầu gì đâu …

Đi với bà, tôi có cái vui thích như đi bên cạnh một đứa trẻ tò mò. Trẻ ngoan nữa, vì bà từ chối khi tôi đề nghị mua tặng một cái máy sấy tóc mà bà rất thích.

– Ai lại để chú mua, kỳ chết. Để chả mua cho tui, nếu tui còn thích.

Theo tôi, bà có một bộ tóc mây quá đẹp. Tôi hy vọng ông chồng sẽ thuyết phục được bà đừng uốn tóc. Tôi thăm dò:

– Tóc bà để tự nhiên như thế đẹp hơn.

– Biết đâu thằng chả.

‘Biết đâu thằng chả’, thế là cả nhan sắc bà cũng giao cho ông luôn.

– Hèn gì.

– Chú lẩm bẩm cái gì?

– Dạ, không. À, tôi định nói con gấu bông kia nhỏ bé quá, hèn gì ai cũng muốn bồng.

Tuy nhiên, bà càng tin tưởng, phó thác một cách ngây thơ, đầu óc đầy sạn của tôi càng nghi ngại. Rủi chồng bà không tới, bà sẽ xoay xở ra sao ở nơi xa lạ? Khi đi qua một trạm điện thoại, tôi đề nghị:

– Bà nên điện thoại cho ông báo tin báy bay trễ, để ông khỏi lo.

Bà ngẫm nghĩ, rồi trả lời:

– Chú nói có lý. Nhưng làm sao ra nhà dây thép gió bây giờ?

Tôi lấy cái thẻ nhựa của tôi tra vào máy điện thoại, và quay số bà ghi trong một tờ giấy nhét cẩn thận trong bóp. Chuông điện thoại reo. Bỗng tôi ngại ngùng, có thể nào người đàn ông nghe tiếng tôi ở đầu dây bên này, biết tôi đứng bên cạnh vợ ông và đâm ghen không. Tôi vội trao máy cho bà trước khi đầu dây bên kia trả lời. Tôi nghe bà la oang oang bằng tiếng Việt :

– Ê! Ông Ron đó hả! Ê ông có nghe không, Ron, Ron, Ron?!

Bà nói liên hồi, xăng xái. Bà bụm bàn tay trước ống nói mà hét lên, cũng không có tiếng trả lời. Tôi nhớ chúng ta thử lại nhiều lần, bà nhỉ.Nhưng không ai trả lời. Tôi an ủi:

– Có lẽ ông đã đi đón bà, và đang chờ ngoài phi trường.

Sắp tới giờ bà phải lên máy bay, tôi cần được giải đáp vấn nạn lớn nhất rằng tại sao một con người ăn nói mộc mạc như bà lại có thể làm cho một người đàn ông lạ say mê cưới làm vợ. Và, mặc dầu bà thường kể ‘chả biểu, chả nói’, nhưng nói bằng ngôn ngữ gì? Suốt cuộc hành trình, tôi biết bà không hiểu một chữ tiếng Tây tiếng Mỹ, làm cách nào ông bà hiểu nhau, hiểu một cách thâm sâu như thế? Cụ thể nhất là có thiệt ông hẹn bà sang Phần-lan chuyến này? Và có chắc tất cả mọi truyện không bắt đầu từ một sự … hiểu lầm nào đó do bất đồng ngôn ngữ? Tôi hắng giặng hỏi:

– Tôi hỏi không phải, ông bà nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Phần-lan?

Bà xăng xái:

– Tiếng Việt mình, thằng chả có hiểu con mẹ gì.  Còn cái tiếng quỉ tiếng ma gì của chả, tui cũng đách hiểu.

Cũng hay. Nhờ không biết tiếng Việt, ông khỏi cần hiểu ‘con mẹ’ với ‘cái đách’ là gì. Có lẽ chỉ cần hiểu gật đầu là ‘có’ và lắc đầu là ‘không’ , hai tín hiệu mà nếu thông suốt, minh bạch, con người đỡ được bao nhiêu phiền trược trong cái biên giới u minh nửa không, nửa có, của ngôn ngữ. Tôi nghe nói bộ óc điện toán cũng chỉ biết ‘gật đầu’ và ‘lắc đầu’. Phương chi, con người, không phải chỉ có bộ óc, mà còn trái tim kỳ diệu. Điều này làm cho tôi, khi tiếng loa mời hành khách đi Helsinki vang lên, cảm thấy bớt áy náy. Cái gì làm cho một người đàn ông từ Helsinki sang tận bến đò Vĩnh Long gặp bà, thì cũng đang hướng dẫn bà từ Vĩnh Long sang Helsinki bình an.

Bà le te ra cổng số 39, tươm tất trong cái áo vét xanh đậm và quần tây thẳng nếp. Tôi đứng ngoài, bịn rịn nhìn theo, bà quay lại vẫy tay. Cái vẫy tay cũng không giống ai, bàn tay đưa ngang vai, lòng úp xuống, ngón tay phẩy phẩy ra phía ngoài, như giục tôi cứ đi đi. Cứ yên tâm.

Tâm Thanh
(Nguồn: QGHC Miền Đông)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn

Buổi trò chuyện về Thiền “Quán Niệm Hơi Thở”

29/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Em nvquyen vừa gởi video clip buổi ”Gặp gỡ & Đối thoại” về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati) dưới góc độ khoa học tại Cà phê Thứ 7, ngày 20.1.2018.

Xin gởi đến các bạn để Tùy nghi và Tùy hỷ,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Quán Văn… ăn Tết!

26/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Quán Văn… ăn Tết!

Quán Văn số 52 Xuân Mậu Tuất sẽ “linh đình” họp mặt bạn bè ở Cafe Embassy Nhà hát Bến Thành sáng Chủ Nhật 28.01.2018.

Nghe nói có người từ Huế, có người từ Quy Nhơn, có người từ nhiều nơi xa xôi khác nữa cũng “vân tập” về chung vui cùng nhà văn Nguyên Minh, “chủ xị” và nhóm bạn.

Lai nghe nói có nhiều bài vở đặc sắc lắm, trong đó bài Sao Lòng Ta Chưa Nguôi, của Nguyễn Thị Tịnh Thy đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”(!?).

Tôi vẫn chưa biết nội dung bài viết này vì Nguyên Minh và Tịnh Thy đều muốn giữ bí mật đến giờ chót cho nên tôi cũng sẽ “khăn gói quả mướp” đến một phen.

Bạn mình rảnh, đến nhe,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Một chút lan man Ngày Tết

05/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Tết tây 2018, có người chuyển tới tôi bài viết cũ của mình như là một lời nhắc. Có lẽ người bạn đó nghĩ rằng tôi đang ở cái tuổi đẹp nhất của mình mà không biết, cứ hay nhắc ”hồi đó, hồi đó” hoài thấy dễ ghét!

Bèn chia sẻ cùng bạn vậy.

Thân mến,

ĐHN

 

Một chút lan man Ngày Tết

Đỗ Hồng Ngọc

 

Ngẫm lại sự đời, tôi thấy hình như hầu hết chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Hừm! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.

Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy tại sao ta không nghĩ ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải…. nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!

Còn đối với các vị phụ nữ cũng có khi gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Thân thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần hỏi han ta, không cần biết ta có “chịu” không! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.

Trái lại, nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Từ ngày “thế giới phẳng” thông qua internet, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với người nhà nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện với mọi người bên cạnh thì nhiều khi đã lỡ nhịp!

Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.

Từ ngày biết thương “thân thể” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho thân thể của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá!

Một người bạn tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương ông quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được?

Giá ông nghèo một chút còn hay hơn! Kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn ông ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho thân thể của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được!

Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!

Nên nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe được, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy được, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!

Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là mắt xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.

Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.

Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Có lẽ như vậy hay hơn!

(ĐHN)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (12/2017)

14/12/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (12/2017)

Lâu quá phải không? Thiệt ra cũng có nhiều chuyện để kể bạn nghe lắm. Mà lười. Bệnh ”Làm biếng” ngày càng nặng. May nhờ có internet mà vẫn biết được tình hình bè bạn các nơi. Được xem mấy bức chân dung Nguyệt Mai, Duyên cho Trương Vũ vẽ tuyệt đẹp, đúng như bài thơ của Phạm Cao Hoàng: vẽ tâm hồn bạn. Nhưng nghe ”nghề làm người mẫu” cũng khổ, mỗi sitting cả 3 tiếng đồng hồ, mà nhiều lần như vậy mới xong. Vậy người mẫu phải tập thiền chăng? Rồi nghe nhạc sĩ Vĩnh Điện đã ”rửa tay gác đàn” (theo lời kể của Ngọc Vân trong “gánh hát” vừa có bài thơ Vườn Xưa do Vĩnh Điện phổ nhạc). Vĩnh Điện cùng… tuổi với mình, đã phổ nhạc bài Mới Hôm Qua Thôi nhớ không? Thu Vàng cũng đã bay qua họp mặt với các bạn. Chương trình Thu Vàng và các bạn xa xôi nghe xôm quá. Thiệt vui.

Thôi, gởi vài tấm hình, kèm ”tào lao” mấy dòng chú thích cũng đủ phải không.

Nguyệt Mai về thăm mẹ đâu giữa tháng 10. Nghe nói mẹ NM gần 90, có con về bỗng đi đứng hoạt bát chớ không nằm đừ một chỗ như mấy tuần trước đó! Hay quá. Bạn bè gặp NM ai cũng vui. Một ”cô bé” hồn nhiên rất mực, chẳng thấy nét thời gian. Hẹn nhau ở Đường Sách, rồi cùng gặp một bữa ”linh đình” ở nhà Thân Trọng Minh/ Thanh Hằng. Với Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Thu Vàng, Lê Ký Thương, Kim Quy, Đỗ Hồng Ngọc, Ngọc Vân, nói chung gần đủ cả ”gánh hát”, chỉ thiếu Duyên / Tùng, Khánh Minh… Lẽ ra có cả Hoàng Quốc Bảo mà chàng bận đi thu nhạc không kịp về.

 

Buổi ”văn nghệ bỏ túi” tại nhà Thân Trọng Minh.

Từ trái: Huyền Chiêu, Thu Vàng, Ngọc Vân,TTMinh, ĐHNgọc, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Kim Quy, Nguyệt Mai. Thu Vàng ôm đàn hát mấy bài, kể cả bài HQB phổ thơ TTM, ĐHN, rồi Huyền Chiêu, Ngọc Vân cùng… thi ca. Nhìn kỹ, sẽ thấy có mấy chai rượu nặng, mà chỉ có TTMinh và KĐ cụng ly nên có vẻ buồn, bởi ĐHN và LKT chỉ cụng… trà đá!  Tiếc HQB chưa về kịp.

 

”Chuồng cu”” tòa soạn Quán Văn.

 

Cái ”chuồng cu” tòa soạn Quán Văn của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, TKTS, thầy cò, thợ xếp chữ, thợ nhà in, lon-ton… Nguyên Minh coi vậy mà hay, là nơi quy tụ quần hùng khắp nơi hội ngộ. Nguyên Minh vừa làm chuyến Bắc du về nên vung tay kể chuyện tíu tít. Nghe nói chuyến đi rất thành công.

Từ trái: Hoàng Quốc Bảo, Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Thân Trọng Minh, Hiếu Tân, Lê Ký Thương, Kim Quy. Lúc sau thì có cả Elena, Trương Văn Dân, Nguyễn Sông Ba…

Hôm đó tình cờ cũng là hôm Nguyên Minh đang in thử vài trang Bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” vừa được Lê Ký Thương layout rất độc đáo xem sao!

Cũng ngộ. Năm 1967, mình đang còn là sinh viên y khoa, đã in tập thơ đầu tay Tình Người, thơ Đỗ Nghê, do người bạn cùng lớp là Lữ Kiều Thân Trọng Minh trình bày bìa. Đúng nửa thế kỷ sau, 2017, in tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê do họa sĩ Lê Ký Thương, người bạn cùng nhóm Y thức layout và trình bày bìa. Quả là rất thú vị khi hôm nay cả Đỗ Nghê, Lữ Kiều, Lê Ký Thương cùng gặp nhau nơi đây!

 

Mấy bạn trẻ của nửa thế kỷ trước đang hì hục in thử vài trang bản thảo Thơ Ngắn Đỗ Nghê coi chơi: Nguyên Minh gò lưng trên máy, Lê Ký Thương… giám sát!

 

Từ trái: Nguyên Minh, Lê Ký Thương, Đỗ Nghê, Lữ Kiều và vài trang bản thảo trước mặt…

Những tập thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) từ Tình Người(1967) đến Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017): Thơ Đỗ Nghê, Giữa Hoàng Hôn Xưa, Vòng quanh, Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bìa “Thơ Đỗ Nghê”, Ý Thức xuất bản, 1974. L

Phải nói thêm rằng tập Thơ Đỗ Nghê 1974 cũng do nhóm bạn thực hiện ở Đà Lạt: Lữ Kiều, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba… với tranh bìa Nguyễn Trung, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận trình bày. Tập thơ do Hoàng Khởi Phong mang từ Đalat về Saigon cho Đỗ Nghê thời đó. Mới tìm thấy cái bìa, ở bìa bốn, chữ viết tay của Lữ Kiều, giới thiệu các tác phẩm do Ý Thức sắp xuất bản, có Hoàng Khởi Phong, Trần Hữu Lục, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương, Thụy Văn, Lữ Kiều, Nguyễn Mộng Giác… Ơi, một thời để nhớ!

 

 

Mấy hôm sau lại có dịp họp mặt cùng nhà thơ Ý Nhi, Nguyễn Tường Giang, Nguyệt Mai, Hoàng Quốc Bảo… ở nhà Lê Ký Thương. Ái chà, chuyện vãn nổ như bắp rang… nhất là có 3 tay y khoa cùng thời là Nguyễn Tường Giang. Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc!

Nguyễn Tường Giang, bạn nhớ không? Bác sĩ Giang là con của nhà văn Thạch Lam, Gió đầu mùa và Hà Nội băm sau phố phường… đó mà! Anh cũng là một nhà văn, nhà thơ…

 

HQB, TTM, NTG, LKT, ĐHN nhà LKT 24.11.2017

 

Và mọi người không quên chụp chung cái hình kỷ niệm: Nhà thơ Ý Nhi đứng giữa, sau Thu Vàng.(hình Thân Trọng Minh)

 

Vậy đó. Định viết mấy dòng thôi mà cũng hơi nhiều rồi đó nhé.

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Hai Trầu: TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ”

23/11/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ”

Hai Trầu (Houston)

 

Thi sĩ Đỗ Nghê và Hai Trầu bên hồ sen Kỳ Hòa (Sài Gòn) sau cơn mưa chiều, ngày 06 tháng 6-2017. (Hình do chị HT chụp)

 

 

 

 

 

Nhớ có lần, khoảng tháng 5 năm 2013, tôi bắt đầu làm quen với thi sĩ Đỗ Nghê (Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) qua trao đổi trên trang nhà Dutule.com, tôi có hỏi:

“Bài thơ đầu tiên bác sĩ gởi đăng ở tạp chí nào? … Bác sĩ có làm thơ tình lãng mạn không, nếu có, xin bác sĩ cho bạn đọc được đọc một bài mà bác sĩ ưng ý nhứt nhe bác sĩ?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trả lời:

(…)

Những bài thơ học trò thôi không nhắc, thí dụ kiểu: “Những bước chân mềm trên cát thơm/ Em đi sa mạc rợn trong hồn?/ Buổi chiều lên đọng hai vành mắt/ Màu áo hôm nào làm sao quên…” Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…) rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…)

Năm 1967, đang là sinh viên y, tôi in tập thơ đầu tay: Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)… (1)

 

Thế rồi từ đó, thỉnh thoảng tôi có thư từ liên lạc qua lại với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và một hôm có duyên may, tôi từ dưới quê Lấp Vò lên Sài Gòn và gặp được anh lần đầu vào một buổi chiều tháng 6-2017 bên hồ sen Kỳ-Hòa khi cơn mưa vừa dứt hột. Lần đó, tôi thấy mình vốn đã già quá mạng và ngồi nghe anh nói chuyện về thở và thiền mình mới thấy đọc thơ Đỗ Nghê mình phải thiệt là già mới thấu hiểu phần nào cái thâm thúy trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” . Chính vì vậy mà tôi mới mạo muội đặt tựa cho bài viết này là “Tuổi Già Thử Đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” “.

Còn khi nào thì mới gọi là tuổi già? Đó có lẽ, theo tôi là một câu hỏi hơi khó trả lời. Riêng tôi thì, tôi có cảm tưởng là mình nay đã già lụ khụ nhiều rồi, không còn hăng hái như hồi mình còn nhỏ, ít quan tâm tới những gì cao siêu nên có thể có những hiểu biết cùng sự lãnh hội không được thấu đáo qua những vần thơ ẩn mật của một tác giả già giặn như thi sĩ Đỗ Nghê qua tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” này, nhưng tôi cứ thử lần mò xem sao!

 

Mở trang đầu “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, tôi bắt gặp bài thơ “Trái Đất”, quả đúng như cái tựa sách, thì bài thơ này ngắn thật, chỉ vỏn vẹn có ba câu và mỗi câu chỉ có hai chữ, dưới bài thơ  tác giả ghi: Boston, 1993:

 

“Giữa đêm

Thức giấc

Giữa ngày…”

 

(Trái đất, Boston 1993)

 

Nhờ tác giả ghi Boston, tôi mới lần mò ra bài thơ thật ngắn này nó gói ghém cả một vũ trụ. Chừng như năm 1993, năm tác giả sáng tác bài thơ này là lúc anh đang có mặt ở Boston (Hoa Kỳ) cho một khóa tu nghiệp về y khoa ở trường Đại học Harvard. Người đọc không cần phải tưởng tượng nhiều như hồi còn trẻ mà chỉ cần có chút tưởng tượng như người ở tuổi già, người ta có thể vẽ được một bức tranh với một bóng người ngồi giữa đêm khuya mà ở một góc đối diện phía bên kia biển Thái Bình Dương là mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Vì Boston đang giữa đêm thì Sài Gòn mặt trời đang đứng bóng, giữa ngày. Cái mà tôi thích nhất trong bài thơ này là thi sĩ Đỗ Nghê đã gợi được hình ảnh con người trong vũ trụ bao la này. Hình ảnh đó gói gọn trong hai chữ “thức giấc”. Ai thức giấc đây? Hẳn phải là tác giả và tác giả chính là sự hiện hữu của một con người bằng xương bằng thịt; còn trái đất thì có ngày và đêm. Và chính con người mới biết thế nào là thức giấc, thế nào là giữa đêm và thế nào là giữa ngày ! Bài thơ chỉ sáu chữ mà gom được trời, đất và con người vào cùng một vũ trụ! Nếu không có con người giữa trời và đất, tôi tin là trái đất này, vũ trụ này mất đi phần nào cái hấp dẫn vốn làm cho mọi sinh vật trên trái đất này kể cả loài người luôn luôn muốn sống!

 

Tôi mê cái ý tưởng của nhà nghệ sĩ gởi gấm nỗi lòng của mình vào thiên nhiên, vũ trụ ấy, và đặc biệt những câu thơ Đỗ Nghê làm ở nơi mà bên này là “giữa đêm”và bên kia đại dương  bao la là “giữa ngày”,  nên tôi mới lần mò tìm thêm nhiều bài nữa. Chẳng hạn bài Thu. Những năm tháng tác giả viết về mùa Thu ở Boston cùng những nỗi niềm của kẻ xa nhà, cùng thời điểm ấy tôi cũng có mặt ở Boston, nên tôi mới thấy thấm thía những chữ mà tác giả đã dùng, anh đã chẳng những ghi lại được những giây phút của một chiều thu nghe tiếng quạ kêu rồi chợt giật mình nỗi xa nhà để biết tê tái trong lòng mà thốt nên lời, làm nao nao trong lòng đã đành mà còn làm cho người đọc già như tôi cũng nao nao buồn nhớ những năm tháng cách nay hơn hai mươi lăm năm mình cũng bồi hồi nỗi nhớ nhà như vậy!

 

Chiều thu

Nghe tiếng quạ

 

Giật mình

Nỗi xa nhà

 

Nhớ sao

Mà nhớ

 

Quá!

 

(Thu, Boston 1993)

 

Đúng rồi, thi sĩ ơi! Nhớ sao mà nhớ quá đi thôi!

Chưa hết, tác giả khắc họa mùa Thu xong rồi, anh lại diễn tả tiếp về mùa Đông ở Boston. Bạn có bao giờ tận mắt nhìn thấy mùa Đông ở Boston lần nào chưa? Bạn có bao giờ đứng nhìn tuyết rơi bay bay trong tiết trời giá lạnh ở Boston lần nào chưa? Và bạn có bao giờ nhìn ngắm những thân cây ở Boston vào mùa Đông lá rụng trơ cành không? Vâng thưa bạn, bạn thử đọc mấy câu thơ của tác giả Đỗ Nghê ghi lại, bạn sẽ cùng cảm với nhà thi sĩ về mùa Đông lạnh lẽo ấy:

 

Còn cây

           trơ lại với cành

Với linh hồn lá

           ngập ngừng trút qua…

 

(Đông, Boston 1993)

 

Vâng mùa Đông ở Boston ngày dài lắm, nhưng dưới cái nhìn của nhà nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê  không như chúng ta, những người ở tuổi già muốn kể chi li về những rừng cây với cành nhánh khẳng khiu trụi lá trơ cành mà anh còn muốn đi xa hơn cái cảm xúc của người thường là chỉ thấy cái thực ngoài đời của cảnh vật, nhà nghệ sĩ muốn chia sẽ cùng người đọc cái lạnh, cái buồn, cái cô đơn không những của những cành cây trụi lá mà anh còn muốn nói lên giùm linh hồn những chiếc lá rừng bay bay đâu đó vào những ngày mùa Thu mà chừng như là cũng không đành rời bỏ cành nhánh một thời nuôi sống đời lá những ngày nắng ấm ngày nào! Lá rụng về cội, đã đành rồi, nhưng lá đâu phải tự ý mình muốn rụng hồi nào đâu? Chính vì vậy mới “ngập ngừng trút qua” Những chữ “linh hồn”, “ngập ngừng” quả là những chữ làm cho câu thơ thêm thần sắc, tuyệt diệu!  .

 

Cây khẳng khiu bên bờ hồ Weymouth, Boston với đàn vịt trời trên mặt hồ đóng băng. (Hình do chị Lộc Tưởng chụp)

 

Bạn có thể nhìn thấy những cành cây khẳng khiu trụi lá vào mùa lá rụng nhưng bạn có lần nào đi dưới tuyết giữa phố Tàu của thành phố Boston chưa?

 

Tuyết bay

Bay  nhẹ

Phố tàu

 

Gió co

Ro lạnh

Phố

Đìu hiu

Theo.

 

(Tuyết, Boston, 1993)

 

Tôi có cảm tưởng những chữ “giật mình”, “nỗi xa nhà” ở bài Thu; “ linh hồn lá”, “ngập ngừng” trong tiết trời mùa Đông; cùng “ co ro” và “đìu hiu” trong bài Tuyết này là những chữ dùng mà tôi thấy giản dị nhưng không đơn giản, không dễ dàng chút nào với người đọc nhà quê già như tôi.

 

Ngoài đặc điểm là trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, tác giả tập trung nhiều bài thơ ngắn đã đành, mà dường như tác giả còn muốn cho người đọc có dịp nhìn ngắm lại những hiện tượng thiên nhiên thường xảy ra trong trời đất mà vì quen quá, hoặc xảy ra thường quá, không phải mỗi ngày mà dường như lúc nào cũng có thể xảy đến, ai cũng thấy nhưng ít ai để ý hoặc không màng tới. Chẳng hạn như những lượn sóng bạc đầu cao vòi vọi nhiều khi giận dữ nỗi trận ba đào, nhưng sóng quên mình vốn là nước. Mà đã là nước thì phải ở chỗ trũng, chỗ thấp, phải biết cái yếu cái mềm của mình:

 

“Sóng

Quằn quại

Thét gào

 

Không  nhớ

Mình

Là nước”

 

(Sóng)

 

Ai ai trong chúng ta, có lẽ cũng đã hơn một lần thấy sóng biển đập vào vách đá nơi Đèo Cả, nơi Hòn Chồng (Nha Trang) hay sóng trên dòng sông Hậu làm chòng chành ghe xuồng vùng Vàm Cống (Long Xuyên), Cái Vồn, Cái Côn (Cần Thơ) vào những ngày mưa dông bão táp vùng gió mùa; nhưng mấy ai nghĩ sóng “không nhớ mình là nước” như câu thơ của thi sĩ Đỗ Nghê! Chỉ vỏn vẹn chừng ấy chữ, nhưng tác giả đã gởi đi một thông điệp về căn nguyên của mỗi người, của chính mình!

 

Và sự có mặt của “nước” cũng như sự có mặt của con người là sự có mặt ngẫu nhiên, bất định. Không ai có thể trả lời một cách chính xác nước từ đâu đến và nước trôi về đâu? Và hỏi về nguồn cội của một người cũng là một câu hỏi không dễ trả lời và có thể cũng làm đau lòng nhiều người vì nó dễ chạm vào chỗ yếu nhứt, chỗ riêng tư nhứt của mỗi người, nên thi sĩ Đỗ Nghê có lời khuyên rất nhẹ mà tha thiết biết bao!:

 

“Ai người nỡ hỏi

Nước đến từ đâu

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu…”

 

 Nước

(Paris, 1997)

 

Còn bàn về “vũ trụ”, về “đất” , tác giả cũng gợi cho chúng ta thấy được, biết được vũ trụ vốn biến hóa giữa có và không, giữa không và có:

“Nhẹ như không có

Có mà như không…”

(Vũ trụ)

 

Và con người vốn từ đất từ bùn:

 

“Đất động ta cũng động

Sóng thần ta cũng sóng

Giật mình chợt nhớ ra

Vốn xưa ta là đất”

(Đất)

 

Nhớ có lần, tôi cũng có viết về “nỗi lòng của đất” với câu mở đầu rất thật lòng:

“Tôi là đất. Tôi là bùn. Bạn ơi! Bạn có bao giờ nghĩ rằng tôi đã làm đuợc những gì cho bạn không? “(…) Và câu kết :“Tôi là bùn. Tôi là đất. Bùn là bản thể của tôi lúc tuổi chưa già và đất là hình tướng của tôi khi bùn bị va chạm vào dòng đời của vũ trụ với những vòng quay đến chóng mặt. Bạn ơi, dường như đất là nơi chốn để bạn bắt đầu một đời sống và đất cũng là nơi chốn để bạn trở về sau một đời sống.”  (2)

 

Tóm lại, ngoài những bài thơ vừa dẫn, trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” , còn có thêm những bài như “Biển mặn”, “Viết tên lên cát”, “Biển vắng” có thể nói đó là một kết hợp về sự liên đới giữa cát giữa biển và giữa trái đất với con người một cách khắng khít không rời!

“Thơ Ngắn Đỗ Nghê” với chừng ấy những bài thơ tôi vừa lược dẫn, kể cũng đã gói ghém khá nhiều ý thơ mà tác giả muốn chia sẻ cùng người đọc, nhưng sẽ còn thiếu nếu chúng ta quên những bài thơ ngắn khác như  “Món quà”, “Không tên”, “Lá”, “Nỗi nhớ”, “Quấn quít”… những bài thơ rất hàm súc, nhưng tôi muốn bạn, những bạn đọc rất gần gũi và ái mộ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc  nên tìm đọc  “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” thì chắc sẽ thú vị hơn!

 

Nhưng ở đây tôi muốn thưa cùng bạn bài thơ “Mới Hôm Qua Thôi” mà với tuổi già như tôi nếu đã đọc qua mà không nhắc lại, tôi nghĩ quả là mình quá thiếu sót nếu không muốn nói là người già sợ những câu thơ trong bài thơ này như một thực tế mà mình cố tình không dám chạm mặt. Và thi sĩ Đỗ Nghê đã vẽ lại bức tranh rất thật này nơi một nhà dưỡng lão mà có lẽ đã một lần anh chứng kiến cảnh người già “mới hôm qua thôi”!

Xin mời bạn:

 

 

Mới hôm qua thôi

 

Họ ngồi đó

Bên nhau

Đàn ông

Đàn bà

Không nhìn

Không nói

 

Họ ngồi đó

Gục đầu

Nín lặng

Ngửa cổ

Giật nhẹ tay chân

 

Có người

Trên chiếc xe lăn

Chạy vòng vòng

Có người

Trên chiếc xe lăn

Bất động

 

Họ ngồi đó

Hói đầu

Bạc trắng

Móm sọm

Nhăn nheo

 

Mới hôm qua thôi

Nào vương

Nào tướng

Nào tài tử

Nào giai nhân

Ngựa xe

Võng lọng

 

Mới hôm qua thôi

Nào lọc lừa

Nào thủ đoạn

Khoác lác

Huênh hoang

 

Mới hôm qua thôi

Nào galant

Nào quý phái

Nói nói

Cười cười

Ghen tuông

Hờn giận

 

Họ ngồi đó

Không nói năng

Không nghe ngóng

Gục đầu

Ngửa cổ

Móm sọm

Nhăn nheo

 

Ngoài kia

Tuyết bay

Trắng xóa

Ngoài kia

Dòng sông

Mênh mông

Mênh mông…

 

Montreal, 1993

 

Bài thơ tác giả ghi: Montreal, 1993. Chắc thi sĩ sáng tác cùng năm với những bài thơ về mùa Thu, mùa Đông, về Tuyết ở phố Tàu thành phố Boston, cũng 1993, khi anh có dịp qua Canada vì từ Boston qua Montreal, đường tuy dài nhưng bạn đi qua đó không phải trở ngại gì nếu bạn muốn đi chơi cho biết.

Đọc bài thơ “Mới hôm qua thôi”, tác giả dưới con mắt của một vị thầy thuốc và dưới con mắt của một nhà nghiên cứu về đạo Phật, và dưới con mắt của một người thương người cùng chất lãng mạn của một nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê nắm tay chúng ta và anh đã dắt chúng ta đi qua một dòng sông đời trôi qua mấy mươi năm rồi với biết bao gian truân, vinh nhục, được và mất rồi ra chỉ còn là “mênh mông” với “ mênh mông…” thôi!!!. Chẳng còn lại gì! Chẳng còn lại chút gì!

 

Thưa bạn,

Trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” còn nhiều bài nữa rất đời mà cũng rất lãng mạn nữa. Nhưng tôi thấy bài thơ “Về thăm quê” hết sức ngắn mà theo thiển ý của tôi thì tôi nghĩ ý thơ trong bài này vô cùng thâm thúy.

 

“Lâu không về thăm quê

Những người xưa biền biệt

Lũ trẻ lớn lên

Ngơ ngác

“Ủa, chú là ai?

Làm sao chú biết…?”

 

Đúng vậy, lâu quá không về thăm quê nên khi mình về lại thì nhiều người, nhiều đời người ta đã ra người thiên cổ bộn rồi! Và trẻ nhỏ đời này, đời kia tiếp tục có mặt và hết sức ngơ ngác với người già. Nhưng có lẽ câu trả lời “Làm sao chú biết…?” mới là tuyệt diệu. Làm sao chú biết chú là ai? Làm sao tôi biết tôi là ai giữa cõi đời ô trọc này? Thực sự trong đời sống này mỗi mỗi chúng ta, có lẽ ai ai cũng tự cho rằng mình rất hiểu, và biết rất rõ về mình, nhưng thực tế không phải vậy! Làm sao mình nhận rằng mình biết hết mọi việc trên đời này!

Đó là chưa kể, người già nghe câu hỏi:“ Ủa, chú là ai?” và trả lời bằng mấy chữ:“Làm sao chú biết”, còn có nghĩa chú còn phải tìm tòi, phải học ở cháu nữa dù thế hệ của cháu đáng con, đáng cháu của chú! Hổng phải vậy sao? Vì nếu một người nói rằng chú biết hết mọi việc thì người đó đã đầy một bụng kinh luân rồi và đâu cần học hỏi ai điều gì nữa, nếu không muốn nói là người ấy chỉ mất thời giờ của họ thôi chứ đâu có ý lãnh hội điều gì và dĩ nhiên đâu có ích lợi gì. “Làm sao chú biết” là một lời đáp của một người biết khiêm nhường, của một người muốn nhận rằng mình dù thông thái cách mấy, dù giỏi cách mấy, dù già giặn cách mấy vẫn tự thấy mình vẫn chẳng là gì giữa dòng đời đầy nhiêu khê, bất trắc này vậy!

Nhưng, thưa bạn, khi mình ở tuổi được gọi là đang già hoặc đã già, thì cái vũ trụ mênh mông ấy cũng chính là một thực thể ở ngay trong chính mình như thi sĩ Đỗ Nghê, cũng là một bác sĩ hơn nửa thế kỷ lăn lóc với nghề qua biết bao kinh nghiệm dạn-dày với bệnh nhân và với chính bản thân mình nữa , nhà thi sĩ đã nhắc với bạn đọc của anh qua bài thơ Vũ trụ rất thực mà cũng rất gần. Nói cách khác, đây cũng là cách gởi gắm ý tưởng rất tế nhị, tác giả vốn là nhà nghiên cứu về Phật Giáo, muốn nhắn nhủ người đọc lời Phật dạy: “Hãy quay về nương tựa chính mình”:

 

“Khi mắt mũi kèm nhèm

Là áp thấp nhiệt đới

Khi bần thần rã rượi

Là áp thấp gần bờ

Khi huyết áp tăng cao

Là bão từ nổi dậy

Từ phía mặt trời xa

Vũ trụ chừng nhỏ lại

Còn chút xíu trong ta!”

 

Tóm lại, qua 103 trang sách với 56 bài thơ ngắn, quả thật tôi đã học hỏi ở thi sĩ Đỗ Nghê rất nhiều ý mới lạ qua những bài thơ ngắn cùng với chữ dùng rất bình dị mà thâm thúy, mà thực sự nếu muốn hiểu cặn kẽ những ý thơ qua từng dòng thơ của tác giả tôi nghĩ không dễ dàng chút nào. Về điềm này, tôi nghĩ rất khế hợp với lời nhận định của một thi sĩ Ba Lan, người nhận giải Nobel năm 1996, bà Wislawa Szymborska (1923-2012), có lần đã viết:”Trong ngôn ngữ thi ca, nơi mỗi chữ đều được cân nhắc, không có gì thông thường hoặc bình thường…”(3) Còn Lâm Ngữ Đường thì viết “Thi sĩ chỉ vẽ phác một cảnh, diễn một nỗi lòng thương cảm rồi để cho độc giả tưởng tượng.”(4)

Theo thiển ý của người đọc nhà quê già như tôi, tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” đều bao hàm cả hai nhận định của hai nhà vừa kể, một ở trời Âu và một ở trời Đông vậy!

 

Hai Trầu

Houston, ngày 22 tháng 11 năm 2017

………………………………………………………………………………………………………………………

Phụ chú:

1/ “Trò chuyện với Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc qua những lá thư từ kinh xáng” trong bộ sách Người Đọc & Người Viết, Quyển II, của Hai Trầu, ấn hành tháng 10-2017, trang 132. Houston, Hoa Kỳ.

2/ Trong cuốn “Nhớ Về Những Bến Sông”của Hai Trầu, Hoa Kỳ, năm 2013, trang 149 hoặc bạn có thể tìm đọc trên các trang nhà “Gio-o.com”, “thatsonchaudoc.com.”.

3/“Tôi-Không-Biết”:Giới thiệu, nhận định, dịch thơ Wislawa Szymborska, giải Nobel 1996” của nhà thơ Ngu-Yên biên soạn và dịch , Tập một, do Amazon ấn hành, lần thứ nhứt, tháng 3 năm 2017, Hoa Kỳ, trang 90.Toàn tập gồm hai quyển 1&2,dày 1303 trang.

4/”Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa “của Lâm Ngữ Đường do Nguyễn Hiến Lê dịch, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 117.

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

RẤT NGƯỜI “Ningen teki” của Hoshi Shinichi – Quỳnh Chi dịch  

21/11/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Một người bạn vừa gởi ”Rất Người” của Hoshi Shinichi, do Quỳnh Chi dịch. Xin Quỳnh Chi cho phép chia sẻ nơi đây nhé.

Chúng ta cũng đang lo tình trạng ”Rất Robot” nữa đây phải không? 

ĐHN 

 

RẤT NGƯỜI
“Ningen teki” của Hoshi Shinichi – Quỳnh Chi dịch

Ông R là một người cao tuổi có gia sản bề thế, đến thăm một học giả trẻ tuổi là tiến sĩ F. Chuyện trò hồi lâu, ông R nói:
-Robot thì cũng tốt rồi, nhưng có thể nào làm cho khá hơn một chút được không? Ở nhà tôi cũng đã có sử dụng robot từ lâu rồi, nhưng không vừa ý lắm.
Tiến sĩ F bèn hỏi lại:
-Bác không vừa ý về điểm nào ạ? Cháu cũng là một chuyên gia về ngành này, nên cũng muốn biết để tham khảo ạ.
– Nói tóm lại là nhạt nhẽo vô vị. Quả là robot rất chính xác, là một thứ tiện lợi thật đấy, nhưng bảo gì cũng đáp vâng hiểu ạ, rồi chỉ biết làm đúng y như thế. Làm thật đúng một cách máy móc. Tôi hiểu là phải biết ơn thành quả này của khoa học, nhưng vẫn thấy chán làm sao ấy.
Những tưởng sẽ bị phản luận là chỉ được voi đòi tiên, nào ngờ tiến sĩ F gật đầu nói:
-Cháu hiểu được tâm trạng ấy. Từ lâu rồi, cháu đã đoán là thế nào cũng sẽ đến lúc có người đưa ra ý kiến này.
-Thật không ngờ lại được nghe những lời như vậy thốt ra từ một học giả về robot. Cậu nói thế, hẳn là đang nghiên cứu cách giải quyết, phải không?
-Vâng đúng thế. Thật ra là cháu cũng mới chế thử một robot kiểu mới. Và đã cho đi tu tập làm người rồi ạ.
-Tu tập làm người là làm sao? Tôi chưa bao giờ nghe nói tới chuyện cho robot đi tu bao giờ cả. Như thế là thế nào?
Ông R rất đỗi ngạc nhiên, mắt trợn tròn cả lên. Tiến sĩ F bèn giải thích:
-Robot từ trước đến nay khi được chế tạo thì đồng thời cũng được cài sẵn những ký ức cơ bản. Tuy nhiên đó chỉ là những ký ức đủ dùng sau này khi cần đến. Nhưng robot mới lần này thì khác. Bộ phận ký ức được chừa lại một khoảng, rồi cho sống chung với người. Vì thế so với robot từ trước đến nay thì có thêm phần trội hơn này.
-Ra là vậy, nghĩa là robot sẽ mang tính người hơn. Thế kết quả ra sao rồi?
-Dạ, chưa biết có thể nói như thế nào ạ. Là vì robot đi tu vừa mới trở về vào ngày hôm qua. Giai đoạn sắp tới là dùng thử để quan sát xem robot làm trò trống ra sao.
Vừa nghe tiến sĩ F nói xong, ông R đã hăm hở nói:
-Vậy thì cậu cho tôi đem về nhà dùng thử có được không. Tôi sẽ viết báo cáo về cảm tưởng khi sử dụng. Tôi đã chán ngấy, không còn chịu nổi những robot lâu nay, chỉ được mỗi một cái là bảo sao làm vậy. Robot mới này không có gì nguy hiểm chứ nhỉ.
-Về điểm đó thì xin bác yên tâm. Robot này đã được thiết kế để tuyệt đối không làm hại người. Thế nhưng, robot đã lĩnh hội được tính nết gì từ người, thái độ làm việc ra sao, thì hiện hoàn toàn chưa rõ ạ.
-Như thế mới là hay cậu ạ. Cậu cho tôi mượn đi. Nếu phải trả lệ phí sử dụng, tôi cũng xin trả.
Ông R cố hỏi mượn cho bằng được nên cuối cùng cũng khiến tiến sĩ F phải xiêu lòng. Thế là ông mượn được robot của tiến sĩ F và đem về nhà.

***

-Xem nào..
Ông R vừa buông mình xuống ghế và nói thế, thì robot đã đáp ngay:
-Dạ thưa ngài, có việc gì ạ?
-Xem ra thì chú mày cũng chẳng khác những robot từ trước đến giờ là bao. Nhưng thôi cũng được vậy. Ta muốn uống rượu. Hãy pha cho ta một ly cốc tay Blue Nova. Nếu không biết cách pha thì có trong sách để trên giá đấy.
Nếu là những robot từ trước đến nay thì đã bắt tay vào việc ngay, nhưng robot lần này vẫn cứ đứng yên. Ông R giục:
-Ơ kìa, sao không pha đi hả? Chú mày không pha được à?
-Dĩ nhiên là được ạ. Nhưng uống rượu là không nên. Không tốt cho sức khỏe. Hoàn toàn không có lợi lộc gì cho cả ruột gan lẫn trí óc.
-Không phải lo. Nếu đau dạ dày thì đã có thuốc uống.
-Chính vì thế nên mới là không ích lợi gì cả. Ngài nên bỏ rượu ạ. Dĩ nhiên là nếu ngài không quyết chí bỏ được, thế nào cũng bảo phải pha rượu thì robot tôi sẽ pha thôi.
-Thôi được, ta hiểu rồi. Chú mày làm ta chẳng còn hứng thú đâu mà uống rượu. Để khi nào ta tự pha lấy mà uống vậy. Thôi, thay vì uống rượu, bây giờ lái xe ra ngoại ô dạo mát vậy. Chú mày hãy lái xe cho ta.
Ông R bèn sai việc khác, nhưng robot vẫn đứng ì một chỗ. Ông R càu nhàu thì robot đáp:
-Dạo này tai nạn xe cộ ngày càng tăng, là vì phải chi giao cho robot lái thì an toàn xong vẫn có những người thích tự mình lái xe. Hễ đụng phải những hạng ấy thì không biết làm sao. Ngài nên ở yên trong nhà cho được an toàn. Nếu muốn ngắm cảnh thì xin hãy dùng tivi mầu lập thể. Nếu muốn hít thở không khí mới thì vặn nút thiết bị điều chỉnh không khí. Trừ phi ngài bảo dù có bị tai nạn cũng không sao, cứ lái xe đi thay đổi không khí, thì dĩ nhiên là tôi xin tuân lệnh. Cơ thể tôi thì dù có thế nào cũng không hề gì, không hỏng được.
-Chỉ nói toàn những chuyện dở hơi làm người ta chẳng còn muốn đi đâu nữa. Ta đi ngủ đây. Chú mày hãy dán giấy tường mới cho căn phòng này.
Thế nhưng robot lại đáp:
-Nếu vậy, ngài nên đợi thêm ít lâu nữa thì hơn ạ…. Là vì chẳng bao lâu nữa người ta sẽ phát minh ra loại giấy dán tường mới, so với các loại giấy từ trước đến nay thì bền, không bẩn, tuyệt hảo về mọi mặt như màu sắc hay âm hưởng. Nếu thay giấy dán tường bây giờ thì sẽ phí đi, vì rồi sẽ dán lại ngay thôi.
-Chú mày không phải lo về chuyện tiền bạc.
-Dạ vâng. Nếu ngài đã biết rõ là phí phạm vô ích mà vẫn ra lệnh thì..
-Thôi được. Không làm nữa. Chú mày hãy ở đấy mà nghỉ đi.
Ông R chán nản không sai robot làm gì nữa. Ông cũng gọi điện thoại cho công ty sản xuất giấy dán tường để hỏi thử xem sao, thì quả đúng như lời robot, công ty này dự định chỉ trong may mai sẽ bán ra loại giấy mới.

Ngày hôm sau, ông R đem robot đến chỗ tiến sĩ F. Tiến sĩ hỏi:
-Bác dùng thấy thế nào ạ?
-Quả là có vẻ như người, khác với những robot từ trước đến nay. Nhưng lại có vẻ người quá. Hễ mình ra lệnh sai bảo điều gì thì nó lại khuyên bảo mình, nào là không tốt cho cơ thể, nào là nguy hiểm hay vô ích. Như thế cũng là trung thành với chủ đấy, nhưng mà khó dùng quá. Hình như nó đã học được khi đi tu làm người hay ở đâu đấy, cái thói dạy đời thì phải.
-Nhưng mà có cho nó đi tu ở những chỗ hay dạy đời đâu chứ.
-Thế nhưng thực tế là như vậy. Cậu hãy xem kỹ lại cho.
Tiến sĩ F lấy làm lạ, bèn xét nghiệm thật kỹ, rất tốn thì giờ. Ông R tò mò muốn biết kết quả, thì chẳng bao lâu được tiến sĩ F cho biết:
-Ra là vậy, đúng là khác với những robot từ trước đến nay, robot này đã có tính người.
-Chắc là vậy rồi. Nhưng mà, tại sao lại có cả cái thói hay dạy đời thế chứ?
-Thưa bác, đấy không phải là thói dạy đời đâu ạ.
-Thế thì là cái gì?
-Đấy là tính lười, chỉ giỏi nại cớ để trốn việc.

 

Quỳnh Chi dịch “Ningen teki” của Hoshi Shinichi

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Thư gởi người bận rộn

Thư gởi bạn xa xôi: HÒN ĐÚ

02/11/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi: HÒN ĐÚ

 

HÒN ĐÚ
photo Thanh Hằng

Từ Mũi Né đi Bàu Trắng ta có dịp thấy Hòn Đú. Mũi Né thì có nhiều hòn lắm. Hòn Rơm nổi tiếng thì ai cũng biết, nhưng Hòn Đú thì ít người biết hơn. Đú là tiếng địa phương gọi Rùa biển. Ở vùng mình, ngày xưa thỉnh thoảng bộ hành đi đường biển dễ gặp mấy ổ trứng đú, hốt về cả trăm trứng như vậy. Trứng đú vỏ dai, chắc, mềm, trắng, giống như trái bóng bàn. Người ta ngâm muối rồi luộc ăn…

Trứng đú (rùa biển)
Theo du lịch Bình Thuận

Chuyến về Lagi, Mũi Né, Bàu Trắng… kỳ này mình đi với vợ chồng bác sĩ Thân Trọng Minh/ Thanh Hằng, vợ chồng họa sĩ Lê Ký Thương/ Kim Quy và ca sĩ Thu Vàng. Dĩ nhiên lâu lâu mới được đi với cả nhóm bạn trong ”gánh hát” như vậy về quê mình nên mình đã ”tranh thủ” đưa các bạn thăm nhiều điểm trên đường đi. Chẳng hạn, ghé qua Đồng cừu ở Suối Nghệ, Châu Pha cho các bạn được dịp… ôm cừu chụp hình! Rồi ghé khu rừng nguyên sinh Bưng Riềng, Bình Châu thăm rừng, thăm suối…

Không thể không ghé nhà mình, căn nhà tuềnh toàng cấp 4 còn đó với biết bao kỷ niệm. Nhớ xưa vợ chồng Thân Trọng Minh, cùng Lữ Quỳnh/ Kim Nhung đã đến trú một đêm trên nền gạch. Rồi Hoàng Quốc Bảo cũng từng ghé uống dừa Lagi. Cũng phải tạt ngang Đập Đá Dựng một chút. Ghé Ngảnh ăn cơm, nơi có ngôi mộ cậu Nguiễn Ngu Í. Đi qua rừng thanh long ngút ngàn dưới chân núi Tà Cú về Phan Thiết, Mũi Né. Sáng hôm sau đã đi Bàu Trắng và ghé Hòn Đú ăn trưa. Chuyến này về Phan Thiết có ghé thăm nhà thơ Liên Tâm và dĩ nhiên không quên cho các bạn ăn bánh căn! Thôi, coi hình cho vui thôi nhé. Lúc này mình làm biếng viết quá rồi bạn ơi.

 

Căn nhà của ĐHN ở Lagi.
Từ trái: Thanh Hằng, Lê Ký Thương, Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh, Thu Vàng

 

Quán Vên Vên trong khu rừng nguyên sinh Bình Châu vẫn còn những dây leo khổng lồ

 

… và một dòng suối róc rách

 

Bàu Trắng. Phải đi xe ”đặc chủng” để leo đồi cát thôi bạn ạ!

 

ĐHN, TTM… hai bạn già nhắc năm xưa đi với Hoàng Quốc Bảo về đây! Thời đó, HQB còn râu tóc dựng ngược, chưa thành Sư cụ như hôm nay… Mới thôi, đã hơn mười năm rồi! (Phóng lớn hình coi đoàn người trên đồi cát phía xa xa)

 

 

 

 

Lần đó cũng cùng ngồi thiền trên đồi cát mênh mông với HQB.
Hãy phóng to để nhìn đoàn người trên đỉnh đồi phía xa nhé…

 

 

 

 

“Cụng dừa” sắp trở thành ”truyền thống” rồi đó bạn ơi. Leo đồi cát rã rời rồi thì không gì thú bằng cụng dừa dưới bóng mát chân đồi…

 

Hòn Đú… xa xa … Bãi biển nơi đây đã đầy màu sắc tuyệt đẹp. Nếu có nhiều thời gian, đi bộ thì có thể đến sát cận Hòn Đú.

 

Đến Mũi Né mà không ghé thăm một cơ sở làm Nước mắm sẽ là một điều đáng tiếc…

Hẹn thư sau.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(14-16/10/2017)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim

thư gởi bạn xa xôi 8.17 (tiếp)

15/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp)

Về Phan Thiết

 

Với mình thì ”Phan Thiết” luôn bao gồm cả Lagi và Mũi Né, cả Ma Lâm và Mương Mán.  Vậy là đông tây nam bắc có đủ cả. Cái vùng đó thật lạ. Ngoài địa danh Lagi (đọc là La Di, giọng Nam bộ) thì còn có La Gàn, La Ngâu, La Ngà… Núi thì có Tà Cú, Tà Dôn, Tà Đặng, Tà Lài, Tà Mon… Hàm thì có Hàm Tân, Hàm Thuận, Hàm Đức, Hàm Tiến… Có người bảo La là sông, Tà là núi và Hàm là ruộng. Mình chỉ biết vậy.  Mương Mán nổi tiếng với Ga Mương Mán, trên tuyến đường xe lửa Bắc Nam hàng trăm năm, bỗng dưng sau 75 bị đổi tên thành Ga Bình Thuận, chẳng hiểu tại sao. Có lẽ rồi đây Ga Tháp Chàm sẽ đổi thành Ga Ninh Thuận… và rồi ga Diêu Trì, ga, ga… tiếp tục đổi tên.

Về Phan Thiết, lúc nào cũng ghé Lagi. Thế nào cũng ghé Đập Đá Dựng. Một ly cà phê. Nhìn dòng nước chảy xiết. Ngày nào, mới đó mà đã hơn 60 năm, cùng bạn bè đạp xe vượt đồi, qua các trảng cỏ cao hơn đầu người, lên Đá Dựng tắm sông. Trần truồng như nhộng. Đến khi Bình Tuy làm cái đập nước, có cái nhà một cột giữa dòng, có những con lân đá mang tên mới là Đập Đá Dựng thì vẫn trần truồng như nhộng tắm sông cả bọn. Mới thôi.

 

 

Về Mũi Né lúc này muốn ngắm dừa “xứ Rạng” thì phải vào các resort may ra. Mà rừng dừa cũng già quá đỗi rồi.

 

 

Vườn dừa Rạng.

 

 

 

 

Thuyền thúng (Thúng chai) bây giờ cũng lạ. Xanh xanh đỏ đỏ cũng khá tươi.

 

 

Bàu Trắng, Bàu Sen xưa là một vùng tuyệt đẹp với đồi cát mênh mông, hồ nước mênh mông xanh ngút ngàn mà nay dấu xe đặc chủng du lịch cày xới không thương tiếc… Nhớ ngày nào đưa đoàn T4G đến thăm còn hoang sơ lắm.

 

 

May còn một chút làng chài ở Hòa Thắng, nơi có cái đảo nhỏ trông giống như một con Rùa biển gọi là Hòn Đú (Rùa biển vùng mình gọi là con Đú, nhớ không? Đú lên cát đẻ trứng hằng trăm quả, như trái bóng bàn, mềm mềm và vỏ dai chắc, vùi trong cát để ấp, khi nở ra hằng trăm con đú con đua nhau bò xuống biến…).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lần này về Phan Thiết mình còn ghé lên Ma Lâm. Tính gặp Ngô Đình Miên thăm mà bạn đi Saigon. Thôi ghé chụp cái hình chiếc ga xép nhỏ, ngày nào 12 tuổi, đi theo Chị Ba Oanh từ chùa HN lên thăm bác Năm H, anh Lìn, chị Nhạn… bằng xe lửa. Nay anh Lìn (Lâm Hồng Lân cũng vừa mới mất). Ma Lâm chỉ cách Phan Thiết 15km, thuộc Hàm Thuận Bắc, có đường đi thẳng lên Di Linh Đà Lạt, quốc lộ 28, ngang qua khu rừng nguyên sinh mênh mông đượm vẻ huyền bí nên từ xưa đã được gọi là Ma Lâm chăng? Ở đó có Đập Sông Quao hùng vĩ. Sông Quao đổ về Lương Sơn, Phan Rì, còn nhớ chứ? Lần này mình cũng có ghé thăm Đập Sông Quao. Năm xưa, còn Má, đã đưa Má đến đây.

 

Đập sông Quao

 

Ga xép Ma Lâm

Rồi ghé tạt ngang Chùa HN, nơi mình ở mấy năm tuổi thơ đi học Trường tiểu học Bạch Vân của cô Tiểu Sính (Hồ Thị Tiểu Sính, con Út cụ Hồ Tá Bang) rồi vào đệ thất trường Phan Bội Châu năm đó (1954)… Mấy cây điệp (phượng) to đỏ rực mùa hè và cây me khổng lồ ba người ôm không xuể trong sân chùa đã bị đốn chặt tự bao giờ, may còn sót lại một cây dừa ngơ ngác. Mới thôi.

 

 

 

 

 

Nhưng không thể không kể thêm rằng mỗi lần về Phan Thiết thế nào cũng phải ăn Bánh Căn và ăn chè “Mộng Cầm”, rồi uống trà Lipton đặc biệt chỉ thấy có ở Phan Thiết, quán cafe BM bên bờ biển Vĩnh Thủy (Thương Chánh).

 

 

Trà lipton nóng, tự pha chế. tự vắt trái quất, chanh, cam vào tách trà, có sẵn táo tàu, xí muội, cam thảo… các thứ! Rất ngon. Chỉ thấy có ở Phan Thiết.,

 

Vậy đó, vài chuyến về Phan Thiết gần đây của mình. Phải kể cho bạn nhớ quay quắt chơi!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Gío heo may đã về ...., Uncategorized

thơ Trần Vấn Lệ: Mùa Vu Lan…

12/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Trải Chiếu Nhìn Trăng

 

Cũng muốn lắm làm bài thơ thật êm, một bài thơ thật dịu, thật mềm…như tóc thề em hồi em mười bảy, như cành soan hoa nở và chim…

Cũng muốn lắm để hồn dang cánh và thơ bay trong cảnh thanh bình, lướt qua tai em những lời nhỏ nhẹ, lướt qua vai em hơi thở của anh…

Cũng muốn lắm đại dương hẹp lại như con sông Hương uốn lượn giữa hai bờ, thấy ai đó như là dáng Ngoại giữa vườn cau bay bay sáng mưa…

Cũng muốn lắm mình là tảng đá nằm bên đường gội nắng giầm sương, em tan học về ngồi nghỉ mệt…có đôi khi chợt thấy em buồn…

*

Cũng muốn lắm che đầu nón lá có bài thơ cho Huế bốn câu mà cây bút cầm lên để xuống tưởng quê nhà có lẽ đang Thu…

Đừng nói nhé một lời đau đớn!  Đừng thở dài, Non Nước đã dài!  Đừng hỏi sao mặt trời tắt muộn?  Ngôi sao chiều lấp lánh chờ ai…

Một bài thơ mở lời không có, nói vu vơ không điệu không vần.  Đợi nắng tắt và đêm rồi sẽ trải chiếu nằm nhìn tha thiết ánh trăng…

Trần Vấn Lệ

 

Khói Quyện Trầm Hương

Hôm nay em nói em đi Chùa, em sẽ ăn trưa ở đó trưa, ăn cho được nhẹ lòng ham muốn, cho thấy đời không có thiếu, thừa…

Em muốn hồn nhiên như lúc nhỏ níu tà áo Mạ nép lưng Ba, em quỳ tay chắp Nam Mô Phật…lòng tự nhiên bừng một đóa hoa…

Em nói dễ thương như tiểu thuyết để anh mặc sức diễn thành thơ.  Chúng ta rồi sẽ như chim sẻ ríu rít bên nhau trước bệ thờ…

Em nói líu lo như chim rừng hôm nào về đậu ở Dran, áng mây Ngoạn Mục trùm Eo Gió, hoa anh đào nở rực sáng Xuân…

Em nói như là chuông thánh thót, ờ em hôm nay em đi Chùa, Sư Ông sẽ tặng phong bì đỏ, em cúi đầu, em ấp úng thưa…

Ôi em, em vẫn là cô bé, vẫn nhé như trăng tháng Bảy Rằm, xá tội vong nhân, đời hạnh phúc với người kề cạnh kẻ xa xăm…

*

Hồi tối anh mơ thấy dọc đường, một o xinh lắm áo mù sương, anh đưa tay hứng vầng trăng bạc rồi gọi âm thầm em-cố-hương…

Em nói nữa đi, em cố quận, con đò, bến cũ, bóng cây đa…Mái tranh quán lá ngày mưa bão, khói quyện trầm hương anh thiết tha!

 

Trần Vấn Lệ

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn

thơ Hoàng Xuân Sơn

11/08/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

thông thống.  gió

                                                 luợng nồm,

                                                từ một phẩy heo may

 

(tặng BS Đỗ Hồng Ngọc)

 

linh thần của cá

cách hành xử của tôm

với lũ nghêu sò

chúng ta hằng ăn thịt đỏ

bó rau xanh lăn lóc ngoài hè

bìa đậu trắng vẫn còn nằm trong giỏ

chẳng phải là vua cũng lính hầu tíu tít

chúng ta thưởng thức màn trình diễn ngoạn mục

bò.  lết                           lê

và trườn

đôi bàn chân thống lĩnh

quảng trường kêu ca

không còn sự lựa chọn nào khác, chúng ta

dựa dẫm sự lịch lãm của những chùm nho nâu bóng

men hổ vàng

thứ đã làm nên dưỡng chất

niềm tin thống khoái

khi những cây nấm trồi lên

thực vật sống đời thực vật

và bọn mình ngày mỗi lùn xuống

bằng những nắm đấm

buồn xo

 

 

hoàng xuân sơn

9 tháng 8 năm 2017

 

Ghi chú: 

hxs; Từ 1 cơn đau thống phong, từ lời khuyên của bs ĐHN, viết 1 đoạn ngắn chia sẻ cùng quý bạn .

Lời bình của ĐHN: Khi nhà thơ… bị GOUT thì hẳn Gout khác với… thiên hạ! Bởi Gout hóa thành thơ. Bạn đọc kỹ đi nhé. Nếu vẫn chưa hiểu thi sĩ ”rên” cái nỗi gì thì Gout đi một lần rồi biết!

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Interim pages omitted …
  • Trang 10
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email