Mới hôm qua thôi
Ban Mai
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Mới hôm qua thôi
Ban Mai
Chè thưng

gánh chè thưng xưa (hình Internet)
Chè thưng coi ngọt ngào vậy mà lại là món “khó ăn” nhứt cho tôi, trước do cái tên bí hiểm, sau vì quá khứ đầy bí ẩn của nó. Sau hơn hai tháng ăn không ngon ngủ không yên, nhờ anh Google và các vị tiền bối, thêm chút máu trinh thám, tôi cuối cùng cũng hoàn tất một câu chuyện tương đối hợp lý để trình làng.
Nghĩ tới chè Sài Gòn, tôi nhớ ngay đến câu rao hàng dài nhứt, tha thiết và mùi mẫn nhứt mà tôi từng được nghe:
“Ai ăn chè bột khoai bún tàu… đậu xanh nước dừa đường cát…hôn…”
Thực ra vào thập niên 1980 và 1990 thưở tôi ở Sài Gòn, tiếng rao này đã vắng đi nhiều. Và khi bước sang thập kỷ 21, tiếng rao này không còn nữa. Cũng không thấy ai bán món chè có bột khoai – bún tàu – nước dừa nữa. Đó là lý do tôi chọn tiếng rao này để bắt đầu cuộc hành trình đi tìm một món chè xưa đã mất (?) của Sài Gòn.
Nhờ anh Google và thùng sách quý giấu đầu giường, tôi khám phá ra bí ẩn đầu tiên: tên gốc ngắn gọn của món chè này chính là chè tào/ tàu thưng. Xin hầu quý vị vài câu chuyện từ các bậc tiền bối để chứng minh cho sự liên hệ giữa tiếng rao trên và cái tên này.
Trên trang nhà của Giáo sư Trần văn Khê, ông tả lại một buổi đi thuyền trên sông Sầm Giang với hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận vào năm 1939. Thuyền đi từ Vĩnh Kim ra Rạch Gầm.
“Đáp lời mời của thi sĩ Khổng Nghi, hai nhà thơ lớn Xuân Diệu và Huy Cận đến Sầm Giang để cùng chúng tôi thưởng thức một đêm trăng trên sông, có nhạc, có thơ, có người đẹp và có cả những thức ăn đặc sản. Đêm đó có cháo gà xé phay, tráng miệng ngoài trái cây còn có món “tào thưng” (chè thưng gồm có bột khoai, bún tàu, nước dừa, đường cát). …Thuyền trôi đến chỗ nào ưng ý, chúng tôi neo thuyền lại rồi bắt đầu hòa đờn. Lúc nào cũng có người “lắng tai Chung Kỳ”. Rồi thưởng thức món cháo gà xé phay, ăn kèm rau ghém, bên cạnh đó cũng có vài chung rượu đế Vĩnh Kim cho ấm bụng. Chén “tào thưng” làm cho hai thi sĩ Miền Bắc tấm tắc khen ngon.” (Trên sông Sầm Giang đăng 5/6/2013, trang Trần văn Khê)
Sau này gặp lại, nhà thơ Xuân Diệu vẫn nhớ buổi du thuyền đêm đó và viết tặng Giáo sư một bài thơ, trong đó có câu:
“Dưới trăng, mời chén tào thưng,
Mà ba mươi lẻ năm chừng đã qua.”
(bài đã dẫn)
Trong khi đó ở Sài Gòn, nhà văn Minh Hương kể về tiếng rao hàng làm ông day dứt những đêm cô đơn trong tù (ông bị tù khoảng năm 1945-1954):
“…khi thấy nửa vành trăng khuyết treo lơ lửng trên ngọn cây sao, cây dầu. Rồi có tiếng rao lảnh lót ngân vang ngoài đường “Ai ăn chè đậu xanh… bột báng… nước dừa… đường cát không?” (Sách “Nhớ… Sài Gòn”, trang 247).
Minh Hương cũng nhớ “những câu rao hàng rất dài trong đêm vắng” ở đất Sài Gòn những năm sau đó: “Hò …hò…ai ăn chè đậu xanh, bột báng, nấm mèo, bột khoai, đường cát, nước dừa …không?” (Sách “Nhớ… Sài Gòn”, trang 99)
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trong bài “Thơm bàn tay nhỏ” viết về hàng rong Sài Gòn, cũng nhắc tới tiếng rao này:
“Ngày xưa khi Sài Gòn còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? “ (Trang nhà Đỗ Hổng Ngọc)
Câu rao này còn rất có duyên với âm nhạc và thơ ca. Văn sĩ kiêm thi sĩ Trúc Giang hồi năm 1950 có viết truyện thơ “Cô Sáu tào thưng”. Nhạc sĩ Thu An thì viết bài vọng cổ “Gánh chè khuya” sau khi cám cảnh cô gái nghèo mười lăm tuổi đi bán chè nuôi mẹ già. Danh ca Út Trà Ôn và Út Bạch Lan ca bài này hay hết chỗ chê, nhứt là giọng cô Út Bạch Lan rao câu “mở hàng” đến động lòng:
“Ai ăn chè bột khoai bún tàu đậu xanh nước dừa đường cát hôn….”
Trong lời bài hát, tên tào thưng đã rút gọn lại thành “chè thưng”:
“Em đi bán chè thưng. Nặng lo chữ hiếu cho tròn”.
Như vậy, chè bột khoai – bún tàu – nước dừa – đường cát, sau đó thêm đậu xanh – bột báng có tên cúng cơm là tào/tàu thưng, sau đó gọi rút gọn là chè thưng. Tới đây tôi tự hỏi: sao lại là tào/tàu thưng mà không phải một cái tên tiếng Việt?
Cụ Sơn Nam, khi nhắc đến các món ăn Nam bộ, đã nhân tiện giải thích cho tôi hai chữ tào/tàu thưng:
“Nên kể thêm các loại chè, như chè khoai môn nước cốt dừa, chè hột sen, chè đậu xanh đường cát (gọi tàu thưng, đậu và đường, tiếng Quảng đông âm lại)” (Nhiều tác giả – Nam bộ xưa và nay, trang 387 sách điện tử)
Tôi vỡ lẽ: tào thưng hay tàu thưng, cũng có chữ tào/ tàu như trong tào phớ, hay tào/tàu hủ. Tào/tàu là đậu, và theo cụ Sơn Nam, thưng là đường. Nhưng chè đậu xanh chính cống của người Hoa chỉ có đậu xanh, không có bột khoai – bún tàu – nước dừa nên tôi lại đi tìm tiếp, nhứt là cái vụ bún tàu trong chè nghe nó kỳ kỳ.
Tôi viết email xin Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc giải thích cho hai chữ bún tàu trong chè thưng. Bác sĩ trả lời:
“Con chịu khó nghe bài vọng cổ này của Út Trà Ôn nhé, trong đó có tiếng rao ngọt ngào của cô gái bán chè Tàu Thưng. Bác còn thiếu ”đậu xanh” nữa mới đầy đủ con ạ. Hình như cái gọi là ”bún tàu” trong chè ở đây không phải “miến” đâu. Nó to bản hơn, dai hơn, rời rạc chớ không cuộn thành tổ như tổ chim đâu. Hồi nhỏ bác cũng hay… ăn chè nên nhớ mang máng đó con ạ!”
Tôi đoán cái Bác Ngọc tả là bột khoai, vậy lúc Bác Ngọc ăn chè (chắc khoảng những năm 60 khi Bác vào Sài Gòn học Y khoa), bún tàu đã…không còn trong chè thưng nữa. Vì sao tiếng rao vẫn còn “bún tàu” như xưa?
Giây phút “A ha!” xảy ra bất ngờ khi tôi đọc “Những bước lang thang” của nhà văn Bình-nguyên Lộc, một cây bút kỳ cựu của Sài Gòn xưa. Cụ Lộc, thua cụ Vương Hồng Sển một giáp và hơn cụ Sơn Nam cũng đúng một giáp, sống hơn 45 năm ở Sài gòn từ đầu những năm 1930. Trong tập “Những bước lang thang”, xuất bản lần đầu vào năm 1966, cụ Lộc tả món “bột khoai” bán rong trên thuyền trong bài “Quà đêm trên sông Ông Lãnh”:
“Đó là thứ quà hỗn hợp và hỗn độn, hình ảnh của những đợt sóng người tràn vào đây khai hoang đất mới từ ba trăm năm nay. Thứ chè ấy gồm cả những món ăn dùng để nấu thức ăn mặn như là bún tàu (miến), nấm mèo (mộc nhĩ), vân vân…Đặc biệt nữa là khi rao quà, họ kể hết các món ấy ra:
Ai…ăn bột khoai, bún tàu…đậu xanh, nước dừa, đường cát…hôn?” (Những bước lang thang, trang 11-12 sách điện tử)
Tôi nghi cụ Lộc ở nhà thường xuyên nấu ăn, vì chỉ có cụ mới có cái nhận xét rất nghề của người hay nấu ăn là có những món mặn trong cái món chè vốn ngọt này. Cụ thật sự “gãi đúng chỗ ngứa” cho tôi khi xác nhận có bún tàu (miến) trong món chè này. Cái tinh tế thứ hai của cụ là nhận xét của một người quan sát bén nhạy: chè này đặc biệt vì khi rao, người bán kể hết các thức có trong chè ra, chứ không rao gói gọn. Cái tinh tế thứ ba, liên tưởng của một nhà văn hóa, rằng đây là món tượng trưng cho “hình ảnh của những đợt sóng người tràn vào đây khai hoang đất mới từ ba trăm năm nay”. Cụ dùng từ vô cùng chính xác: “hỗn hợp” vì là sự kết hợp giữa nguyên liệu của nhiều tộc dân khác nhau cư trú trên đất Sài Gòn – Gia Định khi đó, còn “hỗn độn” vì có nhiều thứ mặn ngọt xen lẫn. Có lẽ, chỉ có dân khai hoang mới dám thử và chế ra một món chè bạo gan như vậy!
Nhưng bạn có để ý không, cụ Lộc không gọi chè thưng mà gọi là món bột khoai. Một người kỹ tính, tinh tế như cụ chắc không gọi bừa tên một món ăn mà cụ nhắc tới với giọng điệu trân trọng như vậy. Cụ làm tôi phải giật mình: hóa ra ngoài cái tên chè thưng, món chè này còn có một cái tên Việt dễ thương chất phác như vậy – chè bột khoai.
Tôi vẫn chưa yên tâm nên lôi một trong các sách bửu bối ra tìm lần nữa. Cuốn “Từ điển văn hóa ẩm thực Việt Nam” ghi:
“Chè thưng: Đậu xanh ngâm mềm, đãi sạch vỏ, hấp chín, ướp với đường. Bột đao hòa với nước dão dừa, nước đường, bắc lên bếp vừa đun vừa khuấy đều tay cho bột chín đều, khi bột chín trong cho đậu xanh, hạt sen (hấp chín, ướp đường), mộc nhĩ (ngâm nở, thái chỉ), nước cốt dừa vào đảo đều. Ăn nguội.” (trang 349-350)
“Chè bột khoai nước dừa: Bột khoai ngâm nước cho nở. Đậu xanh ngâm mềm đai sạch vỏ nấu chín mềm. Lạc ngâm nước, bóc bỏ vỏ lụa, hầm mềm. Cho nước dão dừa vào xoong, bắc lên bếp, bỏ bột báng và bột khoai vào nấu trước cho chín cho tiếp lạc, đậu xanh và đường vào nấu để các thứ ngấm đường, chế nước cốt dừa vào đảo đều. Bắc xuống cho vani vào. Ăn nóng hoặc ăn nguội với đá.” (trang 450)
Theo các tác giả cuốn từ điển này, chè thưng có dạng đặc mà chè bột khoai là dạng lỏng. Cả hai đều có đậu xanh và nước dừa, ngoài ra chè thưng có hạt sen – mộc nhĩ còn chè bột khoai có bột khoai – bột báng – đậu phụng. Tôi nhờ anh Google tra coi bây giờ thiên hạ nấu chè thưng và chè bột khoai ra sao liền thấy xuất hiện thêm một cái tên – chè bà ba. Nhiều người giải thích một cách rất tự tin: chè thưng chính là chè bà ba. Và chè bà ba thì có thêm vô số kể các thứ mới như khoai lang, khoai mì, khoai môn…Tới đây tôi thật sự “tẩu hỏa nhập ma”: giờ biết tin ai? Trong thân tâm tôi vẫn thấy tin tưởng các vị tiền bối, các cụ đều là người đức cao trọng vọng, lời nói đáng tin. Vậy phải giải thích chuyện nguyên liệu một lần nữa “hỗn hợp” và “hỗn độn” như vầy ra sao?
Trước hết phải tìm ra xuất xứ chè bà ba. Theo Wikipedia tiếng Việt và giang hồ đồn đại thì chè này “là món chè được chế biến lại từ chè bột khoai đường cát của bà Ba bán chè nổi tiếng ở chợ Bình Tây (thuộc quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) cách đây khoảng một phần hai thế kỉ. Từ món chè bột khoai công thức chỉ gồm có nước cốt dừa, đậu xanh cà, bột khoai, khoai lang… bà đã thêm vào đó phổ tai, táo tàu, hạt sen, mộc nhĩ… tổng cộng tất cả từ 9, 10 thứ nguyên liệu mới trong một chén chè tạo nên món chè bà ba.” Có người còn thêm cái tên bà ba là do “bởi món chè này ngon độc đáo, giống như người con gái đẹp miền Tây mặc chiếc áo bà ba mộc mạc mà hấp dẫn vô song”. Ý tưởng này nghe rất nịnh đầm nhưng sự thực chắc không nhiều lắm. Dù sao nó cũng làm tôi táy máy tra thử nguồn gốc “áo bà ba”.
Nhiều người dẫn lời nhà văn Sơn Nam rằng áo bà ba là từ áo truyền thống của người Baba – người Mã lai Hoa thay đổi mà thành. Tiếc thay, không ai nói rõ Sơn Nam viết như vậy trong cuốn sách nào của ông và trang bao nhiêu. “Trong nhà” chưa rõ, đành “ra ngõ” mà hỏi. Sách “Đông Nam Á bách khoa toàn thư” (Southeast Asia – A Historical Encyclopedia from Angkor Wat to East Timor), trang 199-200, cho biết Baba Nyonya là tên nhóm hậu duệ Hoa – Mã lai (cha Hoa, mẹ Mã lai) cư ngụ nhiều nhất tại Melacca, Penang (Mã lai) và Singapore . Các gia đình thuộc tộc này đa phần khá giả và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, thương mại. Một số từ Melacca đã di cư đến Sài gòn mở các điểm chuyển tiền, cho vay và bao thầu nhiều tàu chở hàng giữa Sài Gòn và Singapore.
Rồi tôi thấy món Bubur Cha-cha của người Baba Nyonya với nguyên liệu gần tương tự chè bà ba: khoai lang, khoai mì, khoai môn, bột báng, nước dừa, có khác là họ nấu với đường thốt nốt thay vì đường cát trắng. Nhớ cụ Bình-nguyên Lộc có viết trong cuốn “Lột trần Việt ngữ”, trang 100 (sách điện tử trên trang binhnguyenloc.de), rằng người Việt thời đó gọi người Mã Lai bằng một trong năm từ sau: Miền Dưới, Chà Và, Mã Lai, Bà Lai và Bà Ba. Bà Ba có khả năng lớn là phiên âm của Baba Nyonya nhưng dân ta bỏ bớt chữ sau để gọi cho gọn. Dựa vào chuyện này, tôi mạnh dạn suy luận chè bà ba chính là chè của người Bà Ba do một người Hoa-Mã lai bán ở Sài Gòn. Người này có thể tên là Bà Ba, nhưng không ngẫu nhiên mà “truyền thuyết” nói bà này bán ở chợ Bình Tây. Đừng quên chợ Bình Tây còn được kêu là Chợ Lớn Mới do ông Quách Đàm, một thương gia người Hoa bỏ vốn xây cất vào năm 1928 và dĩ nhiên có rất nhiều người gốc Hoa buôn bán.
Rồi vì chè bà ba, chè thưng và chè bột khoai có nhiều nguyên liệu giống nhau, lại thêm lục tàu xá (chè sáu món của người Hoa, gồm đậu xanh, phổ tai, táo đỏ, hạt sen, nhãn nhục, hoa móng tay hay vỏ quýt), ngưòi Sài Gòn bắt đầu pha trộn theo khẩu vị của riêng mình. Kết quả, Sài Gòn có vô số phiên bản chè thưng và chè bà ba, còn chè bột khoai không hiểu sao ngày càng ít phổ biến.
Tới đây chắc sẽ có người cắc cớ hỏi tôi rằng sao lại đặt tên bài viết là chè thưng. Xin thưa, bởi tôi nghĩ chè thưng thực sự là con đẻ của đất Sài Gòn đa văn hóa, mạnh mẽ và phóng khoáng, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và biến nó thành đặc trưng của riêng mình. Chè thưng bây giờ, không phải là chè tào/tàu thưng ngày xưa, không hoàn toàn là chè bột khoai, cũng không là chè của người Bà Ba, mà là một món chè chính hiệu Sài Gòn. Vàng ươm khoai lang, trắng bóc khoai mì, tím hồng khoai môn, xanh non phổ tai, trong ngần bột báng, vàng nắng đậu xanh, hồng hồng đậu phụng. Mềm dẻo của khoai, dai dai phổ tai – bột khoai – bột báng, sần sật đậu phụng, mềm nhừ đậu xanh, ngọt béo nước dừa. Có món chè nào trên đời đa sắc và đa vị được như vậy không?
Tôi tin chè thưng có thể tự tin cùng bánh mì thịt, nước mắm, phở đại diện “tinh hoa ẩm thực Việt Nam” đi thi đấu trên trường thế giới. Tôi tin một ngày nào đó, đánh vào tự điển Oxford hay tự điển Ẩm thực Larousse hai chữ chè thưng, tôi sẽ vui mừng đọc thấy dòng chữ “Món chè của Việt Nam” và lịch sử đa văn hóa của chè thưng. Tôi tin ở một hội chợ ẩm thực thế giới trong tương lai, gian hàng Việt Nam sẽ có chị gái mặc áo bà ba bán chè thưng, ngồi xổm cất tiếng rao:
“Ai ăn chè bột khoai bún tàu… đậu xanh nước dừa đường cát…hôn…”
Mong lắm thay!
Minh Lê (Suối Tiên, Khánh Hòa)
………………………………………………..
tác giả gởi ngày 17.10. 2020
Khoảnh khắc

Ảnh Lê Hồng Linh
Lê Hồng Linh muốn tôi ghé thăm phòng triển lãm ảnh với chủ đề Thấu Cảm của anh lần này một chút- một chút thôi- và ghi lại đôi dòng cảm nghĩ. Tôi đã ở vào cái tuổi tám mươi, lại chẳng biết gì về nghệ thuật, kỹ thuật nhiếp ảnh, nhất là trong một thế giới toàn cầu hóa, mỗi người đều như sẵn có một cái máy ảnh trong tay, bấm hoài chẳng sợ hết phim như những ngày xa xưa đó!
Thấu cảm (Empathy) tôi hiểu, không phải là đồng cảm, thông cảm… mà là Gaté, gaté, paragaté…vượt qua, qua “bờ bên kia” để mà hiểu cho “thấu”, để mà cảm cho “thấu”, rồi như Quán Thế Âm Bồ-tát nghìn mắt nghìn tay làm một cái gì đó cho cõi nhân sinh.
Thế là tôi bước vào phòng triễn lãm của bạn. Và tôi cảm thấy mình bị shoc. Một nỗi buồn mênh mông xâm nhập hồn tôi. Đất nước tôi, dân tộc tôi đó ư? Sau cuộc chiến tranh đằng đẵng đầy bom đạn chết chóc, tang thương để rồi cũng chỉ là những nỗi buồn mênh mông vậy sao? Hình như nhà nhiếp ảnh muốn bày ra để mọi người thấy và muốn kêu lên để mọi người nghe.
Thấy gì? Thấy ánh mắt buồn bã của một em bé vùng quê không được đến trường. Thấy những bà mẹ quê gồng gánh con như thời khói lửa, bà mẹ chợ đèo con trên xe đạp trong hai chiếc giỏ… Thấy một người đàn ông thân cò lặn lội trên vùng nước đọng, một người đàn ông khác ráng kéo con ngựa qua dòng thác lũ… Và thấy những nụ cười ngơ ngác của già nua…, ánh mắt sợ hãi của bé thơ…
Nghe gì? Nghe một tiếng kêu thương.
Rồi cũng thấy những tà áo dài trắng tinh khôi lướt qua cây cầu khỉ, soi mình xuống dòng kênh, một “con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi…” của ngày xưa, và chiếc xe vua chở ba cô học trò vút bay trong hoa nắng. Chiếc xe vua rồi cũng mất, cây cầu khỉ rồi chẳng còn. Chút kỷ niệm ngọt ngào trong trắng kia làm sao tồn tại trong một thế giới đảo điên, tràn đây vật chất mà thiếu tình người, thiếu hồn nhiên trong sáng…
Tôi thấy dâng lên một nỗi buồn. Sự nghèo khó. Sự cô đơn. Sự bất hạnh… Có thể từ đó mà có sự “thấu cảm”, từ đó mà có ánh mắt bàn tay của Quán Thế Âm chăng? Tôi nghĩ Từ bi là không đủ. Một đống rác khổng lồ sặc sở như núi kia bao giờ sẽ thành hoa? Những người già nua kia rồi về đâu? Những bé thơ hồn nhiên nọ bao giờ sẽ bình minh? Và những người tật nguyền…
Tôi cũng chợt nhận ra cái đẹp ở “Khoảng khắc” dưới ống kính của người nghệ sĩ. Bé sợ hãi chới với níu tay mẹ. Bà cõng bé như trốn chạy với những ngón tay quíu lại một vành đai. Cái ánh mắt của con khỉ ôm chặt lấy em bé như một chỗ dựa khi thiên nhiên bị tàn phá không còn là chốn nương thân… Và chiếc xe vua bay giữa ngàn sao…
Lê Hồng Linh chia sẻ về nghề:
Máy ảnh không phát hiện được cái đẹp.
Chỉ có độ nhạy cảm con người mới nhìn thấy và sáng tạo cái đẹp.
Tâm hồn là loại ống kính tốt nhất mà nhà nhiếp ảnh phải gìn giữ sự trong sáng của nó.
Quả thực, ảnh của Lê Hồng Linh là cái hồn, từ nụ cười đến ánh mắt, từ làn sóng đến cơn mưa… Với tôi, anh là một nhà thơ biết ‘tan vào nhau trong từng khoảnh khắc” khi anh viết những câu thơ cho một bức ảnh:
Anh/ như mây/ như sương
Trôi/ đến núi em/ thành thủy mặc
Tan vào nhau/ trong từng khoảnh khắc
Tuyệt mù
(LHL)
Tôi bỗng nhớ một bài thơ cổ:
Chàng như mây mùa thu
Thiếp như khói trong lò
Cao thấp tuy có khác
Một thả cũng tuyệt mù…
“Một thả”, ấy là “tan vào nhau” đó vậy.
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, Trung thu 2020)
An instant
Lê Hồng Linh asked me to stop by his photography exhibition Empathy for a short visit – just a short visit — and to write some comments. I was eighty years old and knew nothing about the art and technique of photography in a globalized world where everyone likely had a camera on hand, took countless pictures, and never run out of the roll film like ancient days..
I knew that Empathy was neither sympathy nor compassion. It should be Gate Gate Paragate Parasamgate… to cross to the other shore, to completely understand, to thoroughly feel, and to follow the steps of the thousand-armed and thousand-eyed Quán Thế Âm Bodhisattva to make this world a better place..
Thus I stepped into his photography exhibition. And I felt shocked. A vast sorrow soaked up my heart. My country, my people there? After a long deadly war that bombarded and destroyed so much, only a vast sorrow lingered here, didn’t it? It seemed that the photographer wanted his photos to be seen, and his loud cries to be heard..
Seeing what? Seeing the sad eyes of a countryside youth who had no chance to go to school. Seeing a countryside mother who used a shoulder pole to carry her child just like in the wartime. Seeing an urban mother who rode a bike on which her children sat in two baskets.
Seeing a lonely man who waded through backwaters. Seeing another man who tried to pull a horse over a torrential flood. And seeing the dazed smiles of the old people… seeing the fearful eyes of the youths.
Hearing what? Hearing a cry of Empathy.
Then I saw the white flaps of long dresses from the schoolgirls who stepped cautiously over a monkey bridge and looked at their reflections on the water surface of a canal that brought back memories of a “greenish canal of gently flowing water in the afternoon”… Then I saw a cycle rickshaw with three schoolgirls seating rushed wildly amidst the flowering of sunshine. The cycle rickshaws are now gone, so are the monkey bridges. How could the sweet and innocent memories linger in this upside-down world, which is full of materialistic things and lacks of human compassion and sinless innocence?
I felt the arising of sorrow. Poverty. Loneliness. Misery… From there, maybe empathy could arise, and the Quán Thế Âm’s eyes and hands could appear? I thought Compassion was not enough. How long for a huge colorful dumpsite that was as high as a mountain to become a flower field? Where would the old go? When would the young live in the sunrise of their life? And disabled people….
I also suddenly discerned the beauty of An Instant revealed through the lens of the artist. A child fearfully grasped her mother’s hand. With her fingers gripping like a belt, a woman piggybacked her child in a hurry, as fugitives on the run. The light in the eyes of a monkey who held firmly a child as a sort of anchor while all the nature around was destroyed and left nowhere for them to lean on. And the cycle rickshaw that flew among thousands of stars….
Lê Hồng Lĩnh shared his thoughts about photography:
The camera could not point out the beauty.
Only the human sensibility could discern and create the beauty.
The human mind was the best lens that the photographer had to keep it as pure as possible..
In fact, Lê Hồng Linh photos had their own souls – from a smile to the shining eyes, from the river waves to a falling rain… In my mind, he was a poet who knew “how to blend into his love in every instant” when he wrote some poetic lines for a photo:
I / like clouds / like fog
Flew / to you, the mountain / became an ink wash painting
Blending into each other / in every instant
Wonderfully invisible.
(LHL).
I suddenly recalled an ancient poem:
You was like a cloud of autumn
Me, a column of smoke from the chimney
High and low – differently
Once had flown – wonderfully invisible..
“Once had flown”— that implied “blending into each other”.
ĐỖ HỒNG NGỌC
(Saigon, Mid-Autumn 2020)
Translated by NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI
“Ba điều bốn chuyện”
Một bạn trẻ hỏi có “bí quyết” nào dễ nhớ để học Phật cho tốt không?
Có đó. Tôi gọi đó là “Ba điều bốn chuyện”.
Chuyện thứ nhất: Phật không phải là một thần linh, một giáo chủ… uy quyền tối thượng, ban bố ơn phước cho loài người. Phật là một người bình thường như ta, cũng trải qua khổ đau bệnh hoạn già nua và chết chóc như chúng sanh. Nhờ tìm được con đường thoát khổ mà chia sẻ với mọi người với lòng từ bi vô hạn, bởi ai cũng có Phật tính, ai cũng sẽ thành Phật mai hậu. Phật không độc quyền làm Phật một mình. Cho nên Phật là một đạo sư “Chánh đẳng Chánh giác”, một nhà giáo dục, một bậc y vương đáng quý đáng trọng.
Chuyện thứ hai: Phật khuyến khích hãy quay về nương tựa chính mình, đừng chạy vạy tìm kiếm đâu xa. Tự trách nhiệm về cuộc đời mình, chọn con đường mình đi. Không ai vào nước thiên đàng hay địa ngục vĩnh viễn, ai cũng có cơ hội để thay đổi vòng đời mình. Nói khác đi, tạo cho mọi người tự tin vào năng lực của riêng mình và hoàn toàn bình đẳng, không phân biệt.
Chuyện thứ ba: Thở là quan trọng số một của đời sống. Hãy biết thở đúng. Thở đúng để thấy thân tâm nhất như. Và nhìn kỹ vào hơi thở để thấy rõ sự sống chết, sự tạm bợ, sự đổi thay, sự không có cái tôi riêng mình vì thở cóc cần ta, chẳng phải của ta, chẳng phải là ta.
Chuyện thứ tư: Ăn là quan trọng. Cần phải hiểu tại sao ăn, ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn cách nào… Phật mang bình bát đi khất thực vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và ai cho cái gì cũng vui nhận, không đòi hỏi, chẳng từ chối. Mang về vo lại thành một cuộn tròn để ăn một cách chánh niệm gọi là “đoàn thực”. Đủ glucid, protid, lipid, mineral, vitamin… thành ngũ uẩn. Ăn ngũ uẩn để nuôi thân ngũ uẩn. Vẫn là tùy duyên, vô thường, vô ngã. “Ăn chay” là ngoài đoàn thực còn phải chú ý đến các món ăn khác là xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
Đó là bốn chuyện.
Còn ba điều là sao?
Một là phải hiểu “thuật ngữ” Phật học. Không hiểu thuật ngữ thì sẽ bối rối, hiểu lầm, dễ dẫn tới dị đoan mê tín. Khi phải giảng về Phật pháp, tốt nhất là ”vô ngôn”, vì ngôn ngữ tự nó đầy rẫy những cạm bẫy. Thí dụ: “Tam- ma- địa” mới nghe tưởng là vùng đất của ba con ma! Thực ra Tam-ma-địa do phiên âm chữ Samadhi, nghĩa là Chánh định, một thứ định sâu. Chữ Niết-bàn chẳng hạn không phải là cái nơi thiên đàng, cực lạc, mà là chữ phiên âm của Nirvana, “tắt lửa”, nghĩa là không còn tham lam, sân hận, si mê gì nữa. Đã hoàn toàn giải thoát phiền não khổ đau. Ngay cả chữ “chúng sanh” cũng vậy. Cho nên Phật bảo “chúng sanh không phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh- Kim Cang).
Hai là phải hiểu những ẩn dụ, ẩn nghĩa, mật nghĩa… khi đọc kinh sách Phật. Ta thấy trong kinh Pháp Hoa nói đến hóa thành, cùng tử, viên ngọc trong chéo áo… Niệm Quan Thế Âm thì gặp lửa lửa tắt, gặp nước cuốn trôi thì nước cạn, muốn sanh con trai có con trai, con gái có con gái… Tưởng thiệt thì nguy! Lửa ở đây là muốn chỉ lòng sân hận. Sân hận đưa ta vào chín tầng địa ngục. Nước ở đây là lòng tham cuồn cuộn cuốn ta vào hố thẳm không đáy… Con trai là Trí tuệ, con gái là Từ bi…
Ba là học Phật phải Thực hành. Từ từ, không nóng vội. Nóng vội sẽ dẫn tới “tẩu hỏa nhập ma”. Thực hành trong cách thở, cách ăn, cách nghĩ, cách làm. Học Bồ-tát Thường Bất Khinh để luôn kính trọng mọi người, không phân biệt. Học Bồ-tát Dược Vương để luôn chân thành, ai thấy cũng vui ai gặp cũng mừng (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến). Học Bồ-tát Quán Thế Âm để biết thấu cảm, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân đủ hình dạng tùy cơ ứng biến giúp người bất cứ nơi đâu có tiếng kêu khổ đau của trần thế. Đó chẳng phải là những đức tính tôn trọng (respect), chân thành (genuine), thấu cảm (empathy) giúp cho cuộc sống luôn an lạc, hạnh phúc ư?
Đỗ Hồng Ngọc
(9.2020)
Thư gởi bạn xa xôi
(25.9.2020)
Sáng mở email, thấy Bác sĩ Nguyễn Cầm, anh bạn cùng khóa ở Y khoa Đại học đường Saigon với mình (1962-1969) chuyển cho bạn bè một bài viết rất dễ thương của Nguyễn Nhật Ánh: Về giọng nói ở một nơi không có xe lam.
Nguyễn Cầm vui lòng cho mình post lại trên trang này nhé. Cám ơn bạn.
Dịp này mình cũng chia sẻ thêm vài câu chuyện quanh “giọng nói” đặc biệt vùng miền này để tặng ca sĩ Thu Vàng, nhà văn Trúc Hạ, Nguyễn Quang Chơn cùng các bạn ở Hội An nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
.
Về giọng nói ở một nơi không có xe lam
Nguyễn Nhật Ánh
Giọng Quảng phân biệt một cách rõ ràng giữa âm TR và CH, S và X, D và V, R và G… Nhưng âm giữa và âm cuối, người Quảng thường phát âm chệch.
“En không en tét đèn đi ngủ” (Ăn không ăn tắt đèn đi ngủ) có lẽ là câu nói phổ biến nhất nhằm giễu cợt cách phát âm của người Quảng. Người ta còn bảo ở Quảng Nam không có xe lam, xe đạp. Hỏi tại sao, đáp: Tại Quảng Nam chỉ có xe “lôm”, xe “độp”.
Liên quan đến chiếc xe đạp, còn có câu chuyện hài: Người Quảng Nam đi vào một cửa hàng bán phụ tùng xe ở Sài Gòn, cố uốn giọng để phát âm cho chuẩn, oái ăm sao rốt cuộc lại thành: “Bán cho tôi một cái… láp xe độp”.
Người bán sau một hồi gặng hỏi, bực mình: “Lốp xe đạp” thì nói đại là “lốp xe đạp” ngay từ đầu, còn bày đặt… nói lái là “láp xe độp”. Nào có cố tình lái liếc gì đâu, thật oan còn hơn oan Thị Kính! Những câu chuyện như thế, ngẫm ra còn rất nhiều.
Rủ nhau vô núi hái chơm chơm
Nhớ bạn hồi còn học chữ Nơm
Sáng sáng lơn tơn đi nhử cuốc
Chiều chiều xớ rớ đứng câu tơm
Mùa đông tơi lá che mưa bấc
Tiết hạ hiên tranh lộng gió nờm
Nghe chuyện xóm xưa thời khói lửa
Sảng hồn, sấm nổ tưởng đâu bơm!
Nhà thơ trào phúng Tú Rua cũng có một bài tương tự, nhưng trong bài thất ngôn bát cú này “a” biến thành “ô”:
Rứa mới kêu là chất Quảng Nôm
Ăn hòn nói cục chẳng thôm lôm
Có chàng công tử quê Đà Nẽng
Cưới ả Thúy Kiều xứ Phú Côm
Cha vợ đến thăm chào trọ trẹ
Mẹ chồng không hiểu nói cồm rồm
Thêm ông hàng xóm người Hà Nội
Chả hiểu mô tê cũng tọa đồm.
Cả hai bài đều hay.
“Khách đòi mua bánh bèo đem về, con Cúc kêu con Lệ:
– Chị kiếm cho em cái “bô”!
Chữ “cái bao” qua cái giọng nguyên chất của con Cúc biến thành “cái bô” khiến con Lệ thừ ra mất một lúc. Rốt cuộc, tuy không hiểu con Cúc kiếm cái bô làm chi, con Lệ vẫn vào toa lét cầm cái bô đem ra:
– Nè.
Con Cúc ré lên:
– Trời, lấy cái ni đựng bánh bèo cho khách răng được?”
Như vậy, giọng Quảng Nam không chỉ xuất hiện trong những câu chuyện tiếu lâm dân dã, mà còn đi vào cả văn thơ. Ở đây, không thể không để ý đến một điểm đặc biệt: nhà thơ Tường Linh, nhà thơ Tú Rua và tôi đều là… người Quảng Nam. Và tôi e rằng những mẩu chuyện cười về giọng Quảng đa phần đều do người Quảng Nam sáng tác.
Nếu để ý, bạn sẽ thấy trong những bàn trà, cuộc rượu, chính dân Quảng Nam là những người kể một cách sảng khoái nhất những mẩu chuyện cười về giọng Quảng chứ không ai khác. Những người dân của xứ “xe lôm”, “xe độp” đó cũng là những độc giả đón nhận những vần thơ “tự trào” của Tường Linh, Tú Rua một cách vô cùng nồng nhiệt.
Bên cạnh sự thích thú, còn có sự thân thương. Nhất là những người Quảng tha hương, đã bao nhiều năm không được sống trong khung cảnh quê nhà, bây giờ bỗng đọc thấy, bỗng nghe nói chữ “con tơm” thay vì “con tôm”, “cái bô” thay vì “cái bao”, “thôm lôm” thay vì “tham lam” tự nhiên thấy bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ ùa về.
Cái giọng nói mộc mạc, quê kiểng đó là giọng nói của ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, hàng xóm láng giềng mà mình đã quen tai từ nhỏ, ngay từ lúc còn nằm u ơ trong chiếc nôi ru. Chất giọng đó đã ngấm qua bao mưa nắng, trải qua bao bão giông của thiên nhiên và cuộc đời mà hình thành và trụ lại cho đến hôm nay.
Nó gợi lên những vùng đất, những mặt người, những ký ức mà người Quảng xa xứ nào cũng chất chứa trong lòng như một hành trang vô hình. Nó là một giá trị phi vật thể, không phải để tổ chức UNESCO công nhận mà để những người Quảng tự hào như một tấm “căn cước tinh thần” mà mình mang theo suốt cả đời người. Có thể nói, giọng Quảng là một phần của văn hóa Quảng.
Khi nhà thơ Lý Đợi (cũng người Quảng Nam) gửi cho tôi qua email bài Mưa chiều kỷ niệm được hát bằng giọng Quảng, tôi nghe, thoạt đầu thì bật cười, nhưng càng nghe càng xúc động, cuối cùng là rưng rưng nước mắt.
Lúc đó tôi chưa biết người hát là Ánh Tuyết. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần, mường tượng đó là giọng của người chị họ yêu dấu năm xưa, của cô bạn gái ngây thơ thời trung học. Càng nghe càng thấy nhớ và bồi hồi nhận ra cái chân chất trong giọng hát, trong tâm tình người Quảng chân quê.
Ánh Tuyết chưa ra album, những bài hát demo kia đã phát tán trên mạng nhanh như gió. Và tôi đọc thấy biết bao lời chia sẻ đượm thương yêu, trìu mến của người Quảng đang lưu lạc ở khắp nơi trên thế giới. Họ cảm ơn Ánh Tuyết, cảm ơn những ca khúc hát bằng giọng Quảng đã giúp những người Quảng tha hương được một lần thổn thức hoài vọng quê nhà.
Hiển nhiên, giọng Quảng không phải là giọng để chinh phục và phổ biến những ca khúc một cách chính thức, đại trà. Bên cạnh giọng Quảng, những ca khúc trong album Duyên kiếp còn được Ánh Tuyết trình bày bằng giọng Bắc – dành cho những thính giả chưa có “bằng B tiếng Quảng”.
Rõ ràng, Ánh Tuyết thực hiện album này như là một cuộc chơi của người con xứ Quảng. Như các nhà thơ Tường Linh, Tú Rua đã từng chơi những cuộc chơi của mình.
Những cuộc chơi nghiêm túc. Và giàu ý nghĩa, ít ra là với người Quảng Nam!
Nguyễn Nhật Ánh
(https://thanhnien.vn/van-hoa/ve-giong-noi-o-mot-noi-khong-co-xe-lam-439694.html)
………………………………………………………..
Viết thêm:

Nguyễn Nhật Ánh “ngán ngẩm” nhìn dòng người xếp hàng chờ đợi anh ký tên… tại Hội chợ sách năm kia ở Saigon (ảnh ĐHN).
2. Nhà văn Huỳnh Ngọc Chiến kể ở xứ Quảng có ông Dương Quốc Thạnh, biệt hiệu Sơn Hồ, chuyên làm thơ “nói lái” theo thể Đường luật rất hay. Có lần một cặp trai gái yêu nhau chưa cưới mà đã mang bầu mấy tháng. Đàng gái xin cho cưới gấp đàng trai không chịu. Nhà thơ quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục. Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bầu 6 tháng (!). Không khí nặng nề giữa hai họ được giải tỏa hoàn toàn khi nhà thơ – với tư cách chủ hôn- đọc bài thơ:
Ai bàn chi chuyện đã an bài
Trai khiển đồng tình gái triển khai
Cứ sợ cho nên thành cớ sự
Mai than mốt thở lỡ mang thai
Tính từ ngày tháng vương tình tứ
Khai ổ bây giờ báo khổ ai
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng
Thôi đành để chúng được thành đôi!
(chuyện kể của Huỳnh Ngọc Chiến).

Một bài thơ xưa thời vương phủ của Nguyễn Xuân Thiệp trong TÔI CÙNG GIÓ MÙA:

Nhịp bước mùa thu
sáng nay. tôi lắng bước mùa xưa
chim nhỏ. năm nao. đậu khóm dừa
sông chớm đôi bờ thu quạnh quẽ
đường dài, son đỏ. quán lau thưa
nhà ai. phơi áo. ngoài hiên nắng
nắng tắt trưa qua. lạnh bến chờ
cây ố. sắc tường. vương phủ ấy
trẻ nghèo. nhặt lá. ngói rơi. hư
nghìn mùa. sương khói. dậy âm vang
lộp bộp. hiên sau. trái rụng vàng
bóng sậu. kêu qua bờ mía dại
xa nhau. mùa thu. mưa trong trăng
em đi. nhịp bước dạo đôi mùa
áo biếc. chìm trong dáng núi xa
trống lẻ. trường bên. hờ hững điểm
hoàng thành vừa chợp giấc mơ trưa
thời đại xây trên lòng quá khứ
tiếng mùa. hốt gió. rắc ly tan
này em. nhìn lại nương cày cũ
mặt đất. khô se. bặt tiếng đàn
1956
………………………………………………..
Thư gởi bạn xa xôi (7.2019)…
Một hôm gặp lại Nguyễn Xuân Thiệp
Bạn biết đó, mình vừa mất toàn bộ các bài viết, draft, hình ảnh… trong cái “ổ cứng” kỳ cục gì đó của máy vi tính… Đứa cháu nói để con ráng “cứu” dữ liệu xem sao. Thất bại. Mà như bạn biết, “Thất bại là mẹ đẻ của… đại bại” nên không có gì đáng ngạc nhiên.
Lò mò thế nào, lượm được bài Nguyễn Xuân Thiệp đọc “Một Hôm Gặp Lại” của Đỗ Hồng Ngọc. Trời ơi, xưa giờ chưa thấy một bài “đọc sách” nào trời ơi đất hỡi như vậy. Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, chủ xị phovanblog bạn nhớ chứ? Mình chưa gặp anh lần nào mà đã thân thiết lắm. Anh lứa lớn, bạn với anh Cao Huy Thuần mà. Cao Huy Thuần bảo ngay từ hồi còn bé, chơi với nhau chỉ thấy Nguyễn Xuân Thiệp làm thơ! Và thơ anh ngay từ thời xa xưa đó không chỉ có từ có tứ có âm có vận mà còn rất “tân hình thức” nữa. Những dấu chấm đột ngột, những ngắt dòng đột ngột… đã khiến câu thơ sửng sốt thành vô số tứ thơ, bài thơ…
Và như thế, Nguyễn Xuân Thiệp đã “đọc sách” Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc. Một bài đọc sách kỳ cục, một bài rất thơ nguyễn xuân thiệp… Rảnh đọc lai rai vậy nhé.
Ta sẽ giật mình “gặp lại” biết bao người, biết bao nỗi niềm từ Bồ Tùng Linh đến Nguyễn Du, Saint Exupery, rồi Bùi Giáng, Mai Thảo, Quách Thoại, Hoàng Ngọc Biên, Diễm Châu, Trịnh Công Sơn, Đỗ Trung Quân, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, rồi Đinh Cường, Bửu Ý, Nguyễn Đức Sơn, Hà Thanh, rồi Võ Phiến, Trang Thế Hy, Thận Nhiên, Diễm Tú, Hoàng Chu, Xuân Phước, Kim Phượng, rồi Trần Hoài Thư và Yến, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương…
Và vì thế, không có lý do gì ta chẳng “gặp lại” Nguyễn Xuân Thiệp “một hôm”,
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
(Sg 22.7.2019)
…………………………………
Mời đọc lại bài đọc sách “trời ơi đất hỡi” của Nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp:
“Về Thu Xếp Lại”
Hai Trầu: NHỮNG LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG
Ghi chú: Anh Hai Trầu Lương Thư Trung năm nay mới 78 tuổi nhưng cũng muốn bắt chước tôi “Về thu xếp lại”, nhất là vào thời buổi co ro do Corona virus này, đã phải ru rú trong xó nhà nhiều ngày nhớ bè nhớ bạn, bèn gom góp mấy bức thư viết từ Kinh xáng Bốn Tổng “phỏng vấn” tôi trên trang nhà dutule.com từ năm 2013, gởi tôi gọi là “để dành” coi cho vui.
Xin post lại đây, chia sẻ cùng bè bạn thân quen, rỗi rảnh, lai rai đọc nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
(12.9.2020)
……………………………….
Lời thưa của Hai Trầu:
Thưa bạn,
Trong cuộc trò chuyện với Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc trên trang nhà dutule.com kéo dài tròn ba tháng (từ 15-3-2013 đến 14-6-2013), tôi có 4 “Lá Thư Từ Kinh Xáng”để trò chuyện với bác sĩ; vì là một diễn đàn chung có nhiều bạn đọc cùng vào đặt câu hỏi với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về mọi vấn đề nên những lá thư trao đổi qua lại giữa tôi và bác sĩ thường bị cách quãng nhưng nó lại liền một mạch vì mục đích của tôi là muốn hỏi thăm bác sĩ về việc sáng tác của ông cũng như về nhà văn Nguyễn Hiến Lê và bác sĩ Ngô Thế Vinh là hai nhân vật mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc rất thân quen và gần gũi. Đó là chưa kể vì lý do giới hạn của các trang trò chuyện trên dutule.com, do vậy mà các lá thư từ kinh xáng đều bị lược bớt cho ngắn lại nên không còn nguyên vẹn các chi tiết mà tôi muốn bày tỏ. Chính vì vậy nên nay tôi có ý đúc kết lại các lần trao đổi này theo các lá thư đã gởi và xin được trân trọng giới thiệu cùng các bạn.
Trân trọng,
Hai Trầu
Kinh xáng Bốn Tổng ngày 16 tháng 6 năm 2013
—————-
I. Kinh xáng Bốn Tổng ngày 15 tháng 03 năm 2013
Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Nhắc đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, không thể không nhắc đến bài viết “Nguyễn Hiến Lê và tôi”, đăng trên tạp chí Bách Khoa số 426 ngày 24-4-1975, tác giả viết:
“Tôi biết có những tác giả sản xuất còn mạnh hơn ông, viết mau và viết mạnh hơn ông, nhưng đọc họ, người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt..Ở ông [Nguyễn Hiến Lê] thì không. Ở ông là con người. Tác phẩm của ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là một tấm gương nghị lực; ông viết về tổ chức thì nếp sống của ông là một sự tổ chức; ông viết về tự học thì chính ông đã nhờ tự học mà thành công.Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều ứng dụng được.”
Qua đoạn văn của bác sĩ mà tôi vừa trích dẫn, xin thưa bác sĩ, ngoài nhận xét vừa nêu, bác sĩ có thể chia sẻ thêm với bạn đọc về các nội dung khác trong bài viết ấy không?
Qua rồi 38 năm, thời gian cũng đã khá dài, nếu có phải nhận định lại, bác sĩ có thay đổi hoặc bổ túc thêm về cài nhìn của mình đối với thầy Nguyễn Hiến Lê không và nếu có bác sĩ sẽ bổ túc những điểm nào?
Bác sĩ có thể kể lại những lần bác sĩ gần gũi hoặc gặp gỡ cùng những kỷ niệm đáng nhớ với nhà văn Nguyễn Hiến Lê không?
Ngoài ra, dù là một người sống với ruộng đồng, nhưng qua theo dõi các sinh hoạt văn chương, tôi nhận thấy có nhiều vị bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ viết văn làm thơ như xa xưa có bác sĩ William Somerset Maugham viết Kiếp Người; Việt Nam mình có bác sĩ Ngô Thế Vinh với Vòng Đai Xanh và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác lúc sau này như “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng”, “Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch”; rồi còn có bác sĩ Thân Trọng Minh với bút hiệu Lữ Kiều với tập truyện Trên Đồi Là Lô Cốt, một tập truyện gợi cho tôi biết bao nhung nhớ về những ngày thơ mộng của tuổi hai mươi thuở nào; thêm nữa có dược sĩ Ngô Nguyên Nghiễm ở Châu Đốc làm thơ, bác sĩ Nguyễn Đức Tùng làm thơ ở bên Canada, bác sĩ Hoàng Chính viết văn cũng ở bên Canada, nha sĩ Đăng Khánh làm thơ ở Houston, bên Mỹ ; bác sĩ Trần Văn Tích viết văn bên Đức và có lẽ còn nhiều vị khác nữa mà tôi chưa được biết… Ngay như bác sĩ, qua lời giới thiệu trên trang nhà Du Tử Lê, bác sĩ vừa viết văn vừa làm thơ. Vậy qua kinh nghiệm chính mình, bác sĩ có thể chia sẻ với bạn đọc vì sao các vị theo ngành thuốc thường lại mê viết văn làm thơ nhiều như vậy ? Có phải do bẩm sinh của mỗi cá nhân hay là do có một truyền thống lâu đời nào không, thưa bác sĩ ?
Trân trọng kính chào bác sĩ.
Hai Trầu
Đỗ Hồng Ngọc trả lời:
Sài Gòn, ngày 19.3.2013
Anh Hai Trầu ơi,
Rất cám ơn anh đã “mở hàng” cho mục Trò chuyện lần này trên trang Du Tử Lê. Khi nhận lời làm “khách mời” kỳ này tôi cũng lo lo, sợ “ế” thì tội nghiệp cho dutule.com lắm!
Xin được trả lời 2 câu hỏi của anh: Về Nguyễn Hiến Lê (NHL), anh Hai Trầu ơi, tôi phục anh còn nhớ bài viết của tôi trên tạp chí BK số 426 ngày 24-4-1975. Đó cũng là số báo cuối cùng của BK. Đã 38 năm rồi chớ ít gì! Tôi may mắn được quen biết với ông NHL từ năm 1957 đến năm ông mất, 1984. Suốt thời gian đó, tôi thường gặp ông, khi trực tiếp khi thư từ qua lại. Đến nay tôi vẫn còn giữ nhiều thư viết tay của ông như một kỷ niệm. Tôi học được ở ông lối sống và lối viết.Ông là tấm gương nghị lực, gương tự học, chọn con đường làm văn hoá suốt đời mình.Câu “châm ngôn” của ông là “Viết để học và học để viết”.Tôi chịu lắm.Chỉ có cách đó mình mới học được nhiều, học được sâu. Tôi bây giờ còn đi dạy và vẫn nghĩ: “Dạy để học và học để dạy”. Ấy là bắt chước ông đó.
Anh hỏi tôi có “bổ túc” gì thêm không trong nhận định của tôi về ông trước đây? Xin thưa tôi vẫn luôn nghĩ ông là một “người hiền”- người hiền Nam bộ, dù sinh ở đất Bắc. Khiêm tốn, giản dị, chính trực. Chắc anh đã đọc Hồi ký của ông rồi thì biết.Ông sống tri túc, kham nhẫn, hết lòng vì sự nghiệp “trồng người”.Năm 1986, hai năm sau ngày ông mất, báo Thanh Niên nhờ tôi viết một bài về ông.Đó là bài đầu tiên viết về Nguyễn Hiến Lê sau 1975.Tôi đặt tựa là “Nguyễn Hiến Lê, nhà giáo dục”, nhưng tòa soạn sửa thành “NHL, một tấm gương kiên nhẫn”.Tôi nghĩ ông xứng đáng được gọi là “Nhà giáo dục”.Anh biết không, thật bất ngờ khi sách của ông bây giờ được rất nhiều bạn trẻ ở miền Bắc đọc, nghiền ngẫm, ứng dụng.Họ thực hiện các tủ sách Nguyễn Hiến Lê, trao đổi cho nhau. Vừa rồi còn có nhóm thanh niên tổ chức một chuyến đi xuyên Việt bằng xe gắn máy từ Bắc vào tận Đồng Tháp viếng mộ cụ Nguyễn, họ mặc áo pull có in hình ông, gắn cờ có hình ông lên xe nữa! Tóm lại, họ đã coi ông là một “thần tượng”.Ngộ quá chớ phải không anh?
Trong cuốn “Nhớ đến một người” tôi có viết kỹ hơn về Nguyễn Hiến Lê. Có dịp tôi sẽ xin gởi tặng anh Hai một cuốn!
Về câu hỏi thứ hai của anh vì sao mà nhiều thầy thuốc (y nha dược sĩ…) viết văn, làm thơ làm nhạc, vẽ tranh…? Anh có kể trường hợp Somerset Maugham, chắc cũng nên nhắc Tchekov, Cronin v.v… Việt Nam mình không thiếu.Tôi nghĩ những người thầy thuốc viết văn thì cũng như nhà giáo, kỹ sư, luật sư… viết văn vậy thôi.Một đằng là cái “nghề” và một đằng là cái “nghiệp”.Cái “nghiệp” thì nó gắn vào trong gène rồi, còn cái “nghề” thì ai cũng phải có để kiếm sống. Anh nhớ Huy Cận là kỹ sư nông nghiệp, còn Xuân Diệu là công chức nhà Đoan?… Viết văn làm thơ phải là chuyện “máu mê” từ nhỏ, trước khi người ta học để trở thành thầy giáo, bác sĩ, kỹ sư… Dĩ nhiên, môi trường hành nghề cũng có tác động. Người làm nghề y gần gũi với nỗi đau nỗi khổ của kiếp người, dễ xúc động, dễ trầm tư và thúc đẩy cầm lấy cây viết! Tôi thì mê văn chương từ nhỏ. Hồi đậu tú tài toàn phần xong, tôi hỏi ý kiến ông Nguyễn Hiến Lê nên học văn khoa (theosở thích mình) hay học y khoa (theo ý muốn gia đình). Ông khuyên nên học… y khoa để giúp ích cho đời cụ thể hơn. Rồi nếu nuôi dưỡng được năng khiếu văn chương thì hành nghề y chừng mươi năm sẽ có nhiều điều để viết lắm! Nghe lời ông, tôi thi vào y khoa và ghi danh học… văn khoa!
Kính mến,
Đỗ Hồng Ngọc
……………………………………………………………….
II. Kinh xáng Bốn Tổng ngày 20 tháng 3 năm 2013
Kính chào bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Xin chân thành đa tạ bác sĩ đã có lòng yêu mến và giải đáp vài ba ý kiến của một bạn đọc nhà quê già như tôi rất tận tình, những lời giải đáp ấy rất gần gũi, thân ái giống như tấm lòng của một vị thầy thuốc ân cần, tử tế, nhân từ dành cho một bệnh nhân đang cần một vị lương y vậy!
Theo tài liệu bút lục của nhiều nhà thì số báo Bách Khoa 426 ngày 24-4-1975 là số chót, có các bài tạp chí Bách Khoa giới thiệu nhà văn Nguyễn Hiến Lê nhân cuốn sách thứ 100 của ông ra đời, đó là cuốn “Mười Câu Chuyện Văn Chương” do nhà Trí Đăng xuất bản. Được biết, sau này thầy Nguyễn Hiến Lê còn nhiều cuốn sách biên khảo quý báu nữa, và có lẽ cuốn sau cùng là cuốn “Sử Trung Quốc” do nhà Văn Nghệ bên California xuất bản vào năm 2003.
Thưa bác sĩ, tôi hồi nhỏ , những năm 1950, từ kinh xáng Bốn Tổng có dịp theo xuồng ra Long Xuyên , rồi sau này, khi tôi được vào học trường Khuyến Học, rồi trường Trung học Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên thì Thầy đã lên Sài Gòn, nhưng hình bóng Thầy vẫn thấp thoáng nơi các lớp học vào hai năm Thầy dạy tại trường Thoại Ngọc Hầu này vào thời ông Nguyễn Ngọc Thơ còn làm Tỉnh Trưởng. Mãi đến sau năm 1975, khoảng cuối năm 1979 hoặc tháng 02 năm 1980, Thầy Nguyễn Hiến Lê mới dọn về lại Long Xuyên ở luôn những ngày tuổi già nơi đường Gia Long ấy.
Hồi nhỏ tôi ở trọ trên Cua Lò Thiêu, đi học phải đi bộ dọc theo con đường Tạ Thu Thâu qua cây cầu sắt ngay Ty Trường Tiền, rồi đi dọc theo đường Gia Long tới trường; chúng tôi thường đi bộ ngang qua nhà Thầy nằm trên đường Gia Long với con kinh lộ mùa nước cỏ tháng mười một, tháng chạp âm lịch, nhằm mùa cá dại nên cá lòng tong, cá nhái nổi bèo mặt nước.
Là dân quê tụi tôi, dường như ai cũng thích đọc sách của Thầy. Từ cuốn đầu tay “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười” tới cuốn sau cùng , cuốn nào cũng thích mà nhất là các cuốn thuộc loại sách “Học Làm Người” nhưng chỉ âm thầm tìm đọc sách thôi chứ không có ý tìm gặp hoặc viết thư từ gì vì hổng dám làm phiền, làm quen với những người nổi tiếng. Hồi xưa khác chứ không có hiện tượng như ngày nay người ta ngưỡng mộ Nguyễn Hiến Lê như bác sĩ vừa nhắc:
“Anh biết không, thật bất ngờ khi sách của ông bây giờ được rất nhiều bạn trẻ ở miền Bắc đọc, nghiền ngẫm, ứng dụng.Họ thực hiện các tủ sách Nguyễn Hiến Lê, trao đổi cho nhau. Vừa rồi còn có nhóm thanh niên tổ chức một chuyến đi xuyên Việt bằng xe gắn máy từ Bắc vào tận Đồng Tháp viếng mộ cụ Nguyễn, họ mặc áo pull có in hình ông, gắn cờ có hình ông lên xe nữa! Tóm lại, họ đã coi ông là một “thần tượng”.Ngộ quá chớ phải không anh? “
Thú thật với bác sĩ, ngày nay tuổi tôi cũng già quá mạng rồi, mỗi ngày tôi ngoài việc nhìn đồng ruộng mà tiếc cho những ngày mùa lúa mùa cách nay sáu bảy chục năm, lúa thôi là lúa, bạt ngàn san dã, chạy mút tận chân trời, mà chợt buồn sao thời gian trôi qua quá mau, tuổi ấu thơ nhà quê với những ngày mùa cắt gặt theo cộ trâu, cộ bò mót lúa bông rơi rớt hồi xa xưa ấy nay chẳng còn! Ngoài những thương nhớ ấy, tôi chỉ còn mỗi việc là đọc lại sách của thầy Nguyễn Hiến Lê, tôi có khoảng gần 100 cuốn của Thầy. Thú thiệt nhe bác sĩ, mình chỉ đọc các bài “TỰA” trong các cuốn sách ấy của Thầy thôi là thấy cũng đáng đồng tiền bát gạo rồi bác sĩ ơi! Còn bác sĩ thì sao, bác sĩ có nhận xét gì về các bài “TỰA” trong các sách của Nguyễn Hiến Lê?Ngoài ra, bác sĩ có nhận xét gì về bút pháp của Nguyễn Hiến Lê trong các sách của Thầy?
Thêm vào đó, bác sĩ đã trải qua nhiều thời kỳ văn học Việt Nam, bác sĩ có thể chia sẽ với bạn đọc về cái nhìn của mình qua các thời kỳ văn học ấy được không, chẳng hạn thời kỳ văn học Miền Nam Việt Nam 1954-1975, thời kỳ văn học Việt Nam từ 1975 tới nay ở Sài Gòn cũng như ở hải ngoại sau 38 năm qua? Trong các giai đoạn văn học này của Việt Nam, theo bác sĩ, có những tác giả và tác phẩm nào bất hủ không, thưa bác sĩ?
Vì “trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc”, nên tôi có ý hơi lòng vòng, mong bác sĩ và bạn đọc rộng lòng bỏ lỗi cho. Xin cảm ơn bác sĩ và bạn đọc nhiều lắm.Và không quên cảm ơn bác sĩ có nhã ý tặng sách.
Kính thư,
Hai Trầu
Đỗ Hồng Ngọc trả lời:
Sài Gòn ngày 14-04-2013
Kính anh Hai Trầu,
Rất cảm động, lại được thư anh hỏi han và chia sẻ trên dutule.com. Thú thực, có một “bạn đọc nhà quê già” như anh Hai, với tôi, là một hạnh phúc, bởi tôi cũng là một bác sĩ “nhà quê già” không kém đó anh Hai (*). Thế hệ chúng ta có lẽ cũng lại là một thế hệ lạc lõng, cho nên rất gần gũi nhau.
Đúng như anh nói.Sử Trung Quốc là cuốn biên khảo sau cùng của Nguyễn Hiến Lê.À, anh vừa gọi “Thầy” Nguyễn Hiến Lê mặc dù chưa hề học với ông ngày nào.Và có lẽ thế hệ chúng ta nhiều người cũng nhận ông là “Thầy” dù chưa hề học với ông ngày nào anh nhỉ?Trong bài báo “Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi” viết năm 1975 trên Bách Khoa, tôi cũng đã nói lên điều này. Câu anh viết: “nhưng hình bóng Thầy vẫn thấp thoáng nơi các lớp học vào hai năm Thầy dạy tại trường Thoại Ngọc Hầu này” rất cảm động, chứng tỏ mặc dù chỉ dạy học có hai năm, ông cũng đã để lại “hình bóng” tốt đẹp cho nhiều lứa học trò về sau. Nhờ cái gì vậy?Nhờ tấm lòng của một “bậc thầy” phải không anh?Không chỉ là kiến thức đâu mà chính là “thân giáo” đó.
Về cách viết TỰA của Nguyễn Hiến Lê, đúng vậy đó anh Hai.Cách viết TỰA của ông cũng đặc biệt, đáng “đồng tiền bát gạo” lắm.Nó chân thành và thấu cảm thực sự anh à, cho nên nó mới đi vào lòng người.Không phải chỉ những bài tựa viết cho riêng sách của mình đâu mà cả những bài tựa ông viết cho người khác. Anh thử đọc bài tựa ông viết cho cuốn “QÊ HƯƠNG” của Nguiễn Ngu Í thì thấy. Tôi may mắn cũng được ông viết cho một bài tựa ở cuốn “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò”, cuốn sách đầu tay của tôi do La Ngà xuất bản và Lá Bối phát hành, năm 1972. Tôi vẫn còn giữ “thủ bút” của ông như một kỷ niệm đó anh Hai. Tôi nhớ câu kết của ông trong bài tựa này:“Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”! Ông viết vậy có lẽ vì từ năm 1967, tôi đã gởi tặng ông tập thơ đầu tay của tôi Tình Người (thơ Đỗ Nghê).(**)
Ôi, “chia sẻ với bạn đọc về cái nhìn của mình qua các thời kỳ văn học” ư? Dạ cái “vụ” này xin anh Hai tha cho! Tôi làm sao dám nói về những điều to tát như vậy! Xin anh hỏi các nhà phê bình văn học vậy nhé. Hình như Võ Phiến, một nhà văn lớn, đã có một cuốn nhận định gì đó về văn học Việt Nam cũng gặp không ít những phiền toái! Ngay cả Hoài Thanh và Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan… ngày xưa cũng vậy! Nhưng vì anh Hai đã hỏi thì tôi cũng xin thưa rằng tôi chỉ thấy các đợt sóng văn học cứ tuần tự luân phiên vỗ bờ, và bên dưới đó là… mênh mông nước!
Cảm ơn anh Hai đã chịu khó đọc.
Thân kính.
Đỗ Hồng Ngọc
………………………………………..
(*)http://www.dohongngoc.com/web/o-noi-xa-thay-thuoc/thay-thuoc-va-benh-nhan/bac-si-nha-que/
…………………………………………………………………
III. Kinh xáng Bốn Tổng ngày 15 tháng 04 năm 2013
Kính chào bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Tôi vừa nhận được thơ hồi âm của bác sĩ, nên trong bụng tôi mừng quá mạng! Thơ bác sĩ viết cho một bạn đọc nhà quê già mà rất chí tình, đồng cảm, chẳng hạn có đoạn bác sĩ viết rất cảm động: “Thế hệ chúng ta có lẽ cũng lại là một thế hệ lạc lõng, cho nên rất gần gũi nhau.”
Qua giới thiệu của trang nhà Du Tử Lê, được biết bác sĩ tuổi Canh Thìn, sanh năm 1940, tôi tuổi Nhâm Ngọ, nhỏ hơn bác sĩ hai tuổi, nhưng chắc tôi cũng cùng với bác sĩ là được sanh ra giữa những mùa ly loạn nơi các làng quê rồi lớn lên giữa ruộng vườn, theo học trường làng; rồi sống qua mấy mươi năm chiến tranh nên lúc nào cũng thấp thoáng bên mình những “lạc lõng”; “lạc lõng” từ những ngày thơ ấu chạy giặc tản cư cho tới những ngày già nua lụm cụm như bây giờ; “lạc lõng” từ trong gia đình cho tới bà con, chòm xóm, láng giềng và bằng hữu nữa khi mỗi người mỗi ngã trôi giạt bềnh bồng khắp mọi miền, chẳng khác nào khi một mình đi trên bờ bi nhìn cánh đồng lúa mênh mông mà bóng hình mình in lên mặt ruộng lúc nắng chiều chênh chếch về hướng tây giữa lúc chiều tà! Thành ra, nhiều lúc tôi tự nhìn lại mình, nhìn lại thân phận dân quê tụi tôi, tôi thầm cảm ơn bác sĩ có lòng với dân quê tụi tôi dữ lắm! Một người không thể làm hết mọi việc nhưng làm được một việc ý nghĩa cũng xứng đáng sống với đời sống này rồi vậy!
Qua trả lời thơ của Cô Sáu Sa Đéc trên Dutule.com, bác sĩ đã viết: “Cảm ơn Cô Sáu. Tôi viết cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” năm 1974, lúc đó tôi cũng vừa mới có 3 đứa con “đầu lòng” nên đã có ít nhiều kinh nghiệm, lại đang làm ở khoa Cấp Cứu bệnh viện Nhi đồng Saigon nên hằng ngày gặp nhiều trường hợp rất thương tâm, vì thế mà thấy cần phải viết. Viết xong, tôi có đưa nhờ ông Nguyễn Hiến Lê coi qua. Ông nói: “Đọc cuốn này thấy cháu là một bác sĩ nhi khoa tốt.Nhưng cháu viết cho ai đây? Cho những người có học ở thành thị, còn bà con ở thôn quê ít học thì sao?”. Vì câu nói này, sau đó tôi có viết thêm cuốn : “Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc…”
Theo tôi, với “Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc…”, bác sĩ đã mang tặng cho đời, cho dân quê chúng tôi một món quà đầy ý nghĩa vậy!
Ngoài ra, trong thơ bác sĩ có nhắc cách tôi gọi Thầy Nguyễn Hiến Lê bằng “Thầy”, bác sĩ viết: “À, anh vừa gọi “Thầy” Nguyễn Hiến Lê mặc dù chưa hề học với ông ngày nào. Và có lẽ thế hệ chúng ta nhiều người cũng nhận ông là “Thầy” dù chưa hề học với ông ngày nào anh nhỉ?”
Thưa bác sĩ,
Dân quê tụi tôi dường như không biết từ lúc nào, họ luôn luôn có lòng kính trọng những người biết chữ. Hồi đời xưa thì các bậc túc Nho đều được bà con tôn xưng là Thầy. Chẳng hạn như ở làng Cái Tàu Thượng nằm bên bờ sông Tiền Giang, những năm 1930-1940, có Thầy Bùi Xuân Hòa một bậc tinh thông chữ Nho, những bài minh trên bảo tháp của ngài Yết Ma Trụ Trì chùa Tân Phước Tự tại làng Tân Bình thuộc quận Lấp Vò trước kia thuộc Long Xuyên, sau này thuộc Sa Đéc, là do Thầy đặt để và được khắc lên bảo tháp, nay vẫn còn. Rồi có dịp tôi về ngang qua làng Tân Bình, tôi may mắn được gặp Thầy Bảy Lạc, cũng là một bậc túc Nho của làng Tân Bình, Thầy mới chép cho tôi xin sáu bài minh trên bảo tháp ấy qua nét chữ rất sắc sảo, tài hoa của Thầy Bảy Lạc gợi cho chúng tôi, các thế hệ hậu sinh trong làng như tôi, rất lấy làm vinh hạnh làng quê mình có vị các vị Thầy hay chữ; nhưng nay thì các bậc tiền hiền ấy cũng đã ra người thiên cổ hết rồi, bác sĩ ơi!
Đó là nói về dân quê quý trọng các bậc túc Nho một thời và ai biết chữ là họ tôn xưng là bậc Thầy. Rồi trong cái nề nếp đạo đức “tôn sư trọng đạo” ấy, dân quê chúng tôi còn được các đấng sanh thành, các bậc tiền hiền dìu dắt dạy dỗ theo cái nếp nhà xưa cũ nữa. Chẳng hạn có lần tôi kể với anh Tô Thẩm Huy về cái nếp nhà này và nay xin lò mò chép lại tỏ bày cùng bác sĩ:
“Thêm vào đó, cái nền lễ nghĩa nơi các làng quê vào những năm xa xưa ấy một phần nữa nó còn được tô bồi bằng việc thờ phượng Thánh Thần, Trời Phật qua các đình miếu, chùa chiền, những nơi chốn trang nghiêm ấy là một trong những biểu tượng của sự kết hợp giữa các đấng thiêng liêng với con người một cách hài hoà; nó chẳng những phù hợp với đời sống tinh thần của dân quê mình vốn coi Trời Đất là trọng, mà còn là biểu hiện một quan niệm về đời sống thuận cùng Trời Đất và hợp Con Người lân láng vậy ! Tôi cũng xin được gợi nhớ ra đây những lời dạy từ các trang sách rầt cũ của các bậc thánh hiền như Minh Tâm Bửu Giám, Quốc Văn Giáo Khoa Thư; những trang sách rất cũ và thật là đơn sơ mà hàm súc ấy, nó rất thâm thuý mà gần với làng quê, nó rất cao siêu mà thiết thực trong đời sống thường ngày của cư dân nơi những miếng ruộng, mảnh vườn quanh năm xanh một màu xanh của thiên nhiên tươi mát ấy… Trải qua nhiều đời, từ ông Cố, ông Nội tôi, rồi đến đời Tía Má tôi, tôi còn giữ được mấy trang sách Minh Tâm Bửu Giám này được nẹp bằng hai thanh tre với chỉ gai kết lại là một trong những vật quí báu còn sót lại qua biết bao mùa binh biến, những trang sách có tuổi thọ nhiều hơn tuổi đời những người cùng thế hệ với tôi mà tôi đã được học từ những ngày còn nhỏ, cũng xin gởi kèm theo đây như một di tích về cái nền đạo nghĩa ở nhà quê vùng làng Tân Bình tôi qua gần trăm năm ấy đến bây giờ. Tất cả, đó có thể gọi là những tinh chất làm nền cho một phong vị sống đẹp của dân quê miệt vườn ruộng miền Tây Nam Phần từ những năm xa xưa ấy vậy.”
Thưa bác sĩ,
Từ cái nền lễ nghĩa đó, nó được truyền đi truyền lại nhiều đời, rồi lâu dần hết đời này tới đời khác, nó hóa thành cái nếp quen tôn kính các bậc thánh hiền, và việc kính thầy, trọng thầy dạy chữ, dạy nghề nó thấm vào lòng mình như máu chảy trong tim vậy!
Người nhà quê nó lớn được một phần là nhờ có lòng biết tôn kính các bậc ân sư dạy cho mình vậy. Thuở nhỏ, chúng tôi học vở lòng với thầy Chín Nhậm ở Cầu Nhà Lầu (Mặc Cần Dưng), rồi học Sơ Đẳng Tiểu Học bắt đầu lớp Năm với Thầy Cầm, lớp Tư với Thầy Trang, lớp Ba với Thầy Ngân; lên bậc Tiểu Học, chúng tôi học với Thầy Nhì dạy lớp Nhì, lớp Nhứt vớ Thầy Nguyễn Văn Chánh kiêm Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Bổ Túc Bình Hòa (Mặc Cần Dưng, Long Xuyên). Vậy mà rồi từ những năm 1949-1956, cách nay sáu bảy chục năm và các Thầy thì đã ra người thiên cổ hết rồi, nhưng mỗi lần có dịp nhắc lại, như hôm nay chia sẻ cùng bác sĩ sao trong lòng tôi vẫn thấy bồi hồi thương Thầy hoài như lúc mình còn bé bỏng ê a học vần xuôi vần ngược vậy! Tiếp theo cái lòng kính và trọng Thầy ấy, dường như học trò chúng tôi thuở ấy khi lên tới Trung Học, đứa nào cũng gọi các Thầy dạy lớp mình bằng Thầy đã đành, mà các Thầy không trực tiếp dạy mình, mình cũng tôn xưng bằng THẦY với tất cả lòng kính nễ. Chẳng những học trò gọi Thầy mình bằng Thầy như vậy mà ngay cả “Phụ Huynh Học Sinh” cũng gọi các vị Thầy của con mình bằng Thầy nữa. Thế nên, có thể nói cái nề nếp giáo dục ngày xưa ở thôn quê là lấy cái nề nếp kính trọng Thầy làm cái đạo chánh vậy! Nhớ có lần học trò chúng tôi mấy ngàn đứa gồm tất cả các trường trong tỉnh lỵ Long Xuyên tiễn Thầy Lê Công Chánh dạy môn Sử Ký lớp Đệ Ngũ đến nơi an nghỉ cuối cùng ở nghĩa trang Long Xuyên trên đường đi vô Núi Sập, mà ngày nay là chỗ Viện Đại Học An Giang cất gần đó, đứa nào cũng khóc khi nghe bài điếu văn vô cùng cảm động của Thầy Nguyễn Văn Mùi tiễn Thầy Chánh về bên kia thế giới!
Do vậy, theo ý nhà quê của tôi, cái đạo trọng Thầy là cái đạo cũ nhưng nó vẫn mới và rất cần dù ở thời nào! Cái đạo ấy nó làm mới đời sống trong mỗi người; người biết giữ cái đạo ấy, tâm hồn của họ sẽ giàu có còn hơn là tiền bạc và danh vọng, chức phận cao vòi vọi vậy!
Thưa bác sĩ,
Đó là vài ba ý nghĩ khi tôi gọi bác sĩ hay gọi nhà văn Nguyễn Hiến Lê bằng THẦY là có ý vậy. Giờ xin bác sĩ chia sẻ vài điều về việc trước tác của bác sĩ nhe bác sĩ! Khi nào thì bác sĩ dùng VĂN và khi nào bác sĩ dùng THƠ để chuyên chở những ý tưởng của mình? Bài thơ đầu tiên bác sĩ gởi đăng ở tạp chí nào?Có lần nào bác sĩ bị các ông chủ bút từ chối đăng bài của bác sĩ không?Nếu có, cảm tưởng của bác sĩ lúc bấy giờ thế nào?Bác sĩ có làm thơ tình lãng mạn không, nếu có, xin bác sĩ cho bạn đọc được đọc một bài mà bác sĩ ưng ý nhứt nhe bác sĩ?
Kính chúc bác sĩ vạn an.
Kính thư,
Hai Trầu
Đỗ Hồng Ngọc trả lời:
22-5-2013
Thưa anh Hai Trầu,
Cảm ơn thạnh tình của anh Hai.Anh nói rất đúng, lứa mình phải nói là lứa “lạc lõng”, học hành cà ịch cà đụi là chuyện bình thường.Suốt những năm tản cư tôi cứ học hoài một lớp, lớp 3. Sau này nhờ biết tổchức việc học theo hướng dẫn trong cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của Nguyễn Hiến Lê (1957) mà tôi học nhảy lớp, bỏ cả đệ tứ và đệ tam để thi Tú tài I và II, rồi đậu vào Y khoa. Anh nhớ hồi đó thi Tú tài đậu chừng 10% , mỗi năm thi 2 kỳ, gồm cả thi viết và thi vấn đáp. Anh nhớ hồi đó lứa mình mà “rớt Tú tài…”. Nhưng thôi, nói mãi chuyện xưa không nên! Người ta bảo đời người có ba hồi: “hồi trẻ”, “hồi trung niên” và… “hồi đó”! Khi nào mình cứ “hồi đó” hoài chứng tỏ là mình “già quá mạng” rồi phải không anh Hai.
Giờ xin nói chuyện “trước tác” của tôi nhe. Tôi mê văn thơ từ hồi nhỏ, đọc gần hết tủ sách trong một tiệm cho mướn sách ở Phan Thiết. Cô Hai tôi ( xe lửa trúng mìn, gãy cả 2 chân) cư ngụ trong một ngôi chùa nhỏ,thường kêu tôi đi mướn sách về cho cô đọc, nhưng lại cấm tôi đọc vì con nít đọc truyện không tốt, mê, bỏhọc. Mỗi lần đi mướn truyện, tôi lén đọc hết dọc đường đi, có khi ngồi gốc cây đọc xong mới về.Tôi còn ghi chép tóm tắt nội dung, các nhận xét của mình vào một cuốn vở.Tôi nhớ những bài văn của mình hồi học lớp Nhứt (lớp 5) thường được thầy khen và đọc trước lớp.Rồi cậu tôi là ông Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư làm báo ở Saigon về thăm, cho một đống sách báo, tranh ảnh.Tôi mê tít.
Những bài thơ học trò thôi không nhắc. Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói.Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…) rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…)
Năm 1967, đang là sinh viên y, tôi in tập thơ đầu tay: Tình Người và sau đó là các tập Thơ ĐỗNghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thưcho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)…
Tôi không viết “chuyên nghiệp” được như Thầy Nguyễn Hiến Lê, tôi chỉ viết khi có hứng. Bây giờ có máy vi tính cũng tiện. Khi hứng đến, tôi cứ viết ào ào rồi để đó, năm bảy ngày sau cho nó “hoai” đi mới “chỉnh”lại đôi chút. Tuy nhiên, khi báo đặt bài gấp thì cũng viết ngay được. Lâu lâu gom lại có thể in thành một cuốn sách như Thư gởi người bận rộn, Chẳng cũng khoái ru, Nhớ đến một người… Tôi không viết được truyện anh Hai à, vì không có khả năng… hư cấu!
Nhớ lại, năm 1965 tôi cũng có một truyện ngắn đã đăng trên báo Mai, sau này thấy in lại trong tuyển tập truyện ngắn nhiều tác giả của NXB TRẺ, năm 1998: CUỘC ĐI DẠO TÌNH CẢM.
Đây cũng là truyện ngắn duy nhất của tôi đó anh Hai Trầu ơi.
“Để đáp lại tấm thạnh tình” của anh và bạn đọc, xin gởi tặng một bài thơ, viết ngày sóng thần ập vào Fukushima, Nhật Bản:
Giả sử
Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang
Ập vào Mũi Né
Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng
Vút qua những ngọn dừa
Những đồi cát trắng
Em nhớ mang theo đôi quả trứng
Vài nắm cơm
Vài hạt giống
Đừng quên mấy trái ớt xanh…
Biếtđâu mai này
Ta làm An Tiêm
Trở về làng cũ
Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang
Nơi kia gọi là Mũi Né…
Cho nên
Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?
ĐỗNghê
(2011)
……………………………………………………………………
IV. Kinh xáng Bốn Tổng ngày 22 tháng 5 năm 2013.
Kính chào bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Nhận được lá thơ trả lời của Bác sĩ về việc trước tác thơ văn, mà nhất là được đọc bài thơ Mũi Né, mà Bác sĩ làm cách nay 43 năm, làm tôi nhớ quá một thời lang bạt khắp các vùng Mũi Né, Sông Mao (Hải Ninh), Phan Lý Chàm, Tuy Phong ngoài Phan Thiết của Bác sĩ quá mạng! Những ngày tháng khi tuổi đời vừa mới lớn ấy rồi lại có mộng đi đó đi đây, vậy mà rồi tôi lại được đi tới quê nhà của Bác sĩ. Tôi còn nhớ tỉnh Bình Thuận nằm dọc theo quốc lộ I chạy dài từ trong này giáp với Bình Tuy với Rừng Lá, Căn Cứ 4, Căn Cứ 5 ra tới ngoài kia giáp với Suối Vĩnh Hảo, bải biển Cà Ná của tỉnh Ninh Thuận mà hai bên quốc lộ là rừng chồi rải đều lên mặt đất với phía trong xa xa là dãy Trường Sơn chập chùng núi là núi và bên này quốc lộ xa xa chạy về hướng biển bạt ngàn… Dường như từ lâu lắm rồi, có tới hơn bốn mươi năm, tôi chưa có dịp trở lại Phan Thiết lần nào nhưng sao trong lòng tôi vẫn không quên Phan Thiết của Bác sĩ, mà nhất là lại được đọc bài thơ Mũi Né của bác sĩ nữa!
“Em có về thăm Mũi Né không?
Hình như trời đã sắp vào xuân
Hình như gió bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân.”
…..
Thưa Bác sĩ,
Trong thư vừa rồi bác sĩ có nhắc Bác sĩ Ngô Thế Vinh, tôi có lần đã đọc vài tác phẩm của nhà văn Ngô Thế Vinh như Mây Bão (1963), Bóng Đêm (1964), Vòng Đai Xanh (1970, 1987), Mặt Trận Ở Sài Gòn (1996), “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng”(2000), và “Mékong Dòng Sông Nghẽn Mạch” (2007), được biết thời còn là sinh viên đại học Y Khoa Sài Gòn, bác sĩ và nhà văn Ngô Thế Vinh cùng làm tờ báo Tình Thương của trường này, bác sĩ có thể chia sẻ với bạn đọc vài kỷ niệm giữa Bác sĩ và nhà văn Ngô Thế Vinh trong những ngày làm báo sinh viên này được không? Và khi nào báo Tình Thương đình bản và vì sao báo đình bản, thưa bác sĩ?
Đặc biệt, giữa hai tờ báo Tình Thương và Ý Thức, bác sĩ là một trong các tên tuổi trong Ban Biên Tập, nay qua rồi hơn 40 năm, bác sĩ có cái nhìn nào về cách làm tờ báo sinh viên và tờ báo ở ngoài đời, chẳng hạn làm báo nào dễ hơn hoặc khó hơn, thuận lợi hoặc trở ngại, và có lần nào Bác sĩ hạnh phúc cũng như mệt mỏi với các tờ báo mà Bác sĩ cùng các nhà văn khác đồng khai sinh ra nó?
Kính chúc bác sĩ luôn dồi dào sức khỏe và hạnh phúc.
Kính thư,
Hai Trầu
Đỗ Hồng Ngọc trả lời:
Sài Gòn ngày 14 tháng 6 năm 2013
Anh Hai Trầu ơi,
Tôi với anh Hai mà cứ trao đổi qua lại trên dutule.com như vầy hoài chắc bạn đọc sẽ ngán! Cũng có mấy câu hỏi về… Phật pháp, về… bệnh hoạn, nhưng đã ra ngoài khuôn khổ cuộc Trò chuyện về văn học nghệ thuật trên dutule.com rồi!
Kỳ này, anh hỏi tôi về chuyện nguyệt san Tình Thương của sinh viên y khoa 50 năm về trước với Ngô Thế Vinh và về bán nguyệt san Ý Thức của Nguyên Minh và bằng hữu là hai tờ báo tôi có dịp tham gia nên xin được trả lời anh vắn tắt như sau:
Nhà văn – bác sĩ Ngô Thế Vinh học trên tôi một năm, nhưng như anh biết, hồi đó học y khoa đến 7 năm, lại cùng làm báo Tình Thương chung với nhau nên chúng tôi rất thân thiết. Ngay hồi sinh viên, Ngô Thế Vinhđã nổi tiếng với các tiểu thuyết Mây Bão, Bóng Đêm, rồi sau này là Vòng Đai Xanh và những năm gần đây, anh chuyên khảo về dòng sông Cửu Long với những cuốn sách rất có giá trị. Anh từng lặn lội lên đến tận nguồn Mékong và cảnh báo dòng Mékong sẽ nghẽn mạch, cũng như đã thấy trước Biển Động sẽ dậy sóng như thế nào.Nói về Tình Thương của Sinh viên Y khoa thời đó, không ai viết rõ hơn Ngô Thế Vinh vì anh là Thư ký tòa soạn. Anh Hai chịu khó đọc bài viết năm 2009 này của Ngô Thế Vinh theo địa chỉ: www.luanhoan.net/GioiThieuTacGia/html/22-3-13%20gttg%2010.pdf nhé. Tôi chỉ ghi lại đây vài dòng phần mở đầu và kết:
“Thời gian ở trường Y khoa, đó thực sự là những năm xanh của một đời người. Không phải chỉ có học, chúng tôi còn có những bận rộn ngoài chuyên môn y khoa nhưhoạt động sinh viên và cùng với các bạn trông nom tờ báo Tình Thương. Tờ báo ấy ra đời trong một hoàn cảnh và thời điểm đặc biệt ngay sau biến động tháng 11 năm 1963”.
(…)
“Có thể khái quát mà nói rằng, cho dù giữa những năm chiến tranh, báo Tình Thương đã thể hiện được một tinh thần tự trị đại học, trong sinh hoạt tương đối có tựdo, có tinh thần dân chủ, tôn trọng khác biệt, trong một mẫu số chung rộng rãi và đoàn kết cùng hướng tới một xã hội nhân bản. Viết về lịch sử trường Đại học Y Khoa Sài Gòn, có lẽ không nên lãng quên tờ báo Tình Thương. Điều đáng tiếc là Tình Thương đã không tồn tại lâu dài để trở thành một truyền thống và như một nhịp cầu giữa vòng thành y khoa ra bên ngoài xã hội”.
(“Tìm lại thời gian đã mất, Nguyệt san Tình Thương, 1963-1967. Tiếng nói của Sinh viên Y khoa”, Ngô Thế Vinh, 2009)
Còn về Bán nguyệt san Ý Thức, cũng xin mời anh xem bài viết của Lữ Quỳnh, một người trong nhóm chủ trương trên www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=13905
(…) Cho đến khoảng năm 1969, Lữ Kiều từ Phú Quốc, Lữ Quỳnh, Châu Văn Thuận từ Qui Nhơn, Hồ Thủy Giũ từ Quảng Nam, Nguyên Minh, Trần Hữu Ngũ ở Phan Rang đã có cuộc họp mặt bàn chuyện làm báo. Tờ Gió Mai được đổi tên: tạp chí Ý Thức. Và,tòa soạn theo chân người viết.Tuy in ronéo, tờ báo được trình bày rất đẹp và phổ biến khá rộng. Nhóm chủ trương có thêm Lê Ký Thương, Ðỗ Nghê (Ðỗ Hồng Ngọc ), Trần Hoài Thư, Võ Tấn Khanh.
Qua năm 1970, tạp chí Ý Thức xin giấy phép ấn hành ở Sài Gòn. Mỗi tháng 2 số ( bán nguyệt san). Số báo ra mắt ngày 01-10-1970 dưới tiêu đề Bán Nguyệt San Văn Học Nghệ Thuật Ý Thứcvới truyện ngắn Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Ngụy Ngữ, Nguyên Minh; Truyện dài Từ Kế Tường; Kịch Lữ Kiều; Ðọc sách: Quê Người của Dương Nghiễm Mậu… Nhóm chủ trương lúc này thêm: Ngụy Ngữ, Nguyễn Mộng Giác, Lê Văn Ngăn, Trần Hữu Lục.
Bên cạnh Bán Nguyệt San Ý Thức, còn có nhà xuất bản Ý Thức. Trong mấy năm đầu của thập kỷ 70, đã lần lượt ấn hành nhiều tác phẩm của Ðỗ Nghê, Lê Ký Thương, Trần Hoài Thư, Lữ Quỳnh, Nguyên Minh, Nàng Lai. Nhiều bản dịch văn học và lịch sửcủa Trần Quang Huề, Nguyên Thạnh, Minh Quân, Lê Ký Thương… Bán nguyệt san Ý Thức qua năm thứ hai có phần chệch hướng, không còn là tờ báo vốn có tiếng dấn thân tích cực, chống lại thứ văn nghệ salon, viễn mơ tràn ngập lúc bấy giờ.Ý Thức số 24 phát hành xong thì đình bản.
Bấy giờ giữa năm 2008 này, nhìn lại, nhóm chủ trương tạp chí Ý Thức đã phiêu bạt khắp nơi, thật khó để hình dung ra một buổi họp mặt như ngày nào! Nhưng, không như Nguyễn Mộng Giác nghĩ “40 năm qua, từ những thanh niên hăm hở đi tìm một giải pháp cho thời thế và cho văn chương, họ đã bắt đầu trở thành những ông già chậm rãi, mỏi mệt, cuộc vui hằng ngày không phải là những hăm hở mở đường phá núi, mà là ngồi lặng yên bên chồng sách cũ”. Họ, tuy tuổi tác có cao, sức khỏe không còn như ngày nào, nhưng vẫn giữ liên lạc với nhau, vẫn trao đổi chuyện văn chương, vẫn viết lách, in ấn: một Trần Hoài Thư ở New Jersey miệt mài với Thư Quán Bản Thảo, một Nguyên Minh ở Saigon vẫn đều đặn ra tập san Quán Văn…
(Những kỷ niệm của một thời Ý Thức. Lữ Quỳnh, 2008).
Anh thấy đó, tất cả chúng ta đều có một thời tuổi trẻ như vậy!
Chúc anh Hai Trầu sức khỏe,
Thân mến.
Đọc sách “Chớ Quên Mình Là Nước” của Văn Công Tuấn
Trần Văn Chánh
Trong khoảng chục ngày nay, các báo Việt Nam đưa tin toàn chuyện dịch bệnh CoViD-19, vì nó đang đe dọa trở lại sau một thời gian 3 tháng tạm thời im ắng. Ngay lúc này, giở ra đọc lại sách Chớ quên mình là nước – Tạp văn, khảo luận về nước và môi trường của Văn Công Tuấn mà tôi đã được tác giả gởi tặng từ một tháng trước, ý thức về tầm quan trọng đối với môi trường sống của tôi càng trở nên đậm nét.
Nói chung người Việt Nam chúng ta mải lo chạy theo cuộc sống thực tế trước mắt hàng ngày nên vẫn còn khá hờ hững trước các vấn đề môi trường, vì “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”, trong khi tình trạng khủng hoảng môi trường giờ đây cũng đã trở thành một thực tế không thể ngó lơ, và đại dịch CoViD-19 có lẽ phần nào nhắc nhở sự tỉnh thức, bởi sự xuất hiện virus Corona (SARS-Co V-2) cũng không ra ngoài lý do môi trường, nhưng người ta có vẻ sợ hơn những thứ khác vì chúng có thể đe dọa trực tiếp và tức khắc mạng sống con người, so với hiện tượng biến đổi khí hậu tuy cũng nguy hiểm nhưng tác động chậm hơn. Cuốn Chớ quên mình là nước xuất bản trong lúc này tại Việt Nam vì thế có vẻ như rất thích hợp, góp thêm phần cảnh giác/ báo động trước một vấn đề vô cùng hệ trọng đối với con người thời hiện đại.
Trong lời tựa cho lần tái bản sách này tại Việt Nam (NXB Hồng Đức, Quý III-2020), tác giả (một kỹ sư chuyên viên kỹ thuật y khoa định cư làm việc ở Đức) cũng khơi mào câu chuyện bằng thời sự CoViD-19 , cho biết “khi đi làm việc tại khu cấp cứu cách ly dành cho bệnh nhân CoViD-19 tại Uniklinikum UKSH Kiel, tôi càng có dịp suy nghĩ thêm về mối tương quan giữa con người và thiên nhiên… Người ta biết rằng, khi môi trường tự nhiên bị hủy hoại, khi trật tự vũ trụ bị đảo lộn thì thiên nhiên phải tự ra tay thiết lập trở lại sự cân bằng. Kết quả có thể là những thiên tai khủng khiếp như hạn hán, lũ lụt, sóng thần, động đất… hoặc những cơn đại dịch chết người hàng loạt… Trong khi đó, chúng ta không ngừng gây ô nhiễm môi trường, chúng ta phung phí nước bất kể nhiều vùng trên trái đất đang ngày càng khô cằn, đồng loại ta đang chết khát…” (tr. 8-9).
Ở nước ta từ nhiều năm nay, nạn thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước, xâm nhập mặn… đã ngày càng trở nên rõ rệt và phổ biến, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày và hoạt động sản xuất của người dân. Thiếu nước nghĩ xa hơn cũng là thiếu lương thực, có thể gây nên nạn đói trong tương lai khi dân số ngày một gia tăng vì nước chiếm một tỉ lệ quan trọng tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp.
Trong bài viết thứ hai, “Buồn ơi – gặm nhắm thêm chi”, tác giả nêu lên nguy cơ biến đổi đổi khí hậu (làm nước biển dâng…), giới thiệu sơ qua phong trào kêu gọi hãy cứu lấy môi trường của lớp trẻ toàn thế giới từ tháng 8.2018, mà có lúc chính tác giả, tuy thuộc lớp già, cũng đã tham gia biểu tình chung với 7.000 học sinh và sinh viên người Đức với tấm biểu ngữ khôi hài mà cười… ra nước mắt: “Hãy chuẩn bị mặc quần tắm vào đi, biển ngập tràn khắp rồi!” (tr. 27)
Theo tác giả, nước là trung tâm của mọi nguyên tố (element) trên trái đất. Không có nước là không có sự sống. Cho đến nay không có bất cứ vật thể gì tồn tại được nếu thiếu nước. “Nước hiện diện trong mọi vật thể quanh ta mà ta thực sự ít quan tâm đến nó. Nước là yếu tố đầu tiên cho sự sống… Để nhấn mạnh ý nghĩa này, Liên Hiệp Quốc từ năm 2003 đã chọn ngày 22 tháng 3 là Ngày Nước Thế Giới” (tr. 53). Trong bài “Khô khan chuyện Nước”, tác giả tái khẳng định: “Không ai chối cãi được, thiếu nước là vấn nạn lớn nhất của chúng ta hiện nay” (tr. 57). Tiếp theo, nêu lên yêu cầu bức thiết phải tiết kiệm nước tối đa trong mỗi hành vi sinh hoạt, và đề nghị nêu gương theo bài học thoát hạn của Do Thái, đề cao một nền văn hóa tôn trọng nước: “Nói tóm lại, cái viễn cảnh thiếu nước ngọt để sử dụng của chúng ta trên địa cầu này là tất yếu, chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng qua kinh nghiệm Do Thái, ta thấy cũng có thể có một sinh lộ” (tr. 68).
Bài “Bà Ny-lông, Ông Mủ nhựa” cảnh báo nguy cơ rác thải bao bì bằng nhựa làm ô nhiễm nguồn nước từ sông ra tới biển: “Hiện nay mỗi năm có khoảng 8 tấn rác mủ nhựa ny-lông đổ vào biển”. Rồi cá voi (thuộc lớp Thú) cũng bị tiêu diệt dần, các loài chim trời cá nước khác cũng vậy (xem bài “Dưới biển cá thôi bơi, trên trời chim hết lượn”, (tr. 142). Một nguy cơ cho toàn thể nhân loại, “Cá tuyệt chủng thì ngư dân cũng tuyệt chủng. Tôi và anh chị rồi cũng sẽ đi vào đường tuyệt chủng khi cây cỏ và sinh vật chung quanh chúng ta tuyệt chủng” (tr. 150).
Số bài còn lại hầu hết là những tản mạn việc đời, biểu lộ những nỗi suy tư trăn trở, thường cũng gắn liền với yếu tố “nước”, phong cách viết thong thả, đầy tính văn nghệ. Bài nào cũng có dẫn thơ, ca dao, danh ngôn của các bậc hiền triết, và nhất là điển tích, ngụ ngôn lấy từ trong các kinh sách Phật giáo, nên dễ đọc, đọc mà không cảm thấy quá nặng nề, lại thêm được bồi bổ nhiều loại kiến thức liên quan đến tôn giáo, triết học…
Tác giả chọn “nước” làm đầu đề triển khai cho toàn tác phẩm không chỉ vì lý do đơn thuần khoa học, mà còn vì những cảm thức cá nhân liên quan đến cái chất liệu quan trọng này đã có trong ông từ buổi ấu thơ sống trong môi trường thiên nhiên lành mạnh đầy kỷ niệm đẹp của quê hương mến yêu, từ khi nước chưa bị thiếu và chim, cá chưa bị chết do môi trường bị hủy hoại như bây giờ. Cho nên cuốn sách được cấu trúc không hoàn toàn như một công trình biên khảo khoa học khô khan, mà lồng vào 16 bài viết ngắn dài, tác giả đưa ra những lời tâm sự, “cũng chỉ vì một ước mong duy nhất” là để nhắc nhở mọi người cần biết trân quý trái đất này của chúng ta: “Chúng ta cũng nên biết giữ gìn những giọt nước của đất, vốn phủ đầy hai phần ba địa cầu. Đất này, nước này là những dấu tích còn lưu lại của đời trước, là nơi an nghỉ của tổ tiên. Đất và nước không thể là sở hữu của riêng bất cứ một ai. Xin đừng nói ngây thơ là ai đó vì có tên trong hồ sơ bất động sản nên là kẻ sở hữu. Nếu có chăng những kẻ sở hữu thì kẻ ấy chính là con cháu chúng ta ở các thế hệ sau… Phải biết chăm sóc đất, phải tử tế với nước…” (trích “Lời thưa”, tr.20-21).
Ở đây, khi nói “nước” đi liền với “đất”, nhiều chỗ trong sách, tôi nghi rằng tác giả Văn Công Tuấn có ý dùng thuật chơi chữ một cách tế nhị, với hàm ý yêu nước, bảo vệ nguồn nước cũng là yêu quê hương đất nước, và phải ra sức bảo vệ nó. Đọc tới bài “Cụ Phan gọi trà” (tr. 103), có trích dẫn câu thơ trong bài “Gọi trà” của Phan Bội Châu “Trà ơi còn nước là vinh hạnh”, ta càng thấy rõ thâm ý này của tác giả, với lời bình luận: “Cụ thương nước thương nòi, nhưng bấy giờ phải lâm tình cảnh bị giam lỏng nên cụ cứ phải ‘khát nước hoài’. Nước hiểu theo đầy đủ tất cả nghĩa. Một lối chơi chữ quá tài hoa: vừa là đất nước vừa là dòng nước mà cũng là dòng đời lênh đênh của cụ. Cái nào cũng quý và cái nào cũng đang lâm nạn. Mình chỉ nhận ra khi không còn có nữa” (tr. 104).
Trần Văn Chánh
31.7.2020
(Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2020/08/11/doc-sach-cho-quen-minh-la-nuoc-cua-van-cong-tuan/)
Thư gởi bạn (14.8.2020)
MÓN QUÀ SINH NHẬT BẤT NGỜ
Đúng là bất ngờ bạn ạ. Chiều nay, em NVQuyền – người lâu nay thường đi với mình nơi này nơi khác, ghi hình một số hoạt động của mình để làm “tư liệu” vừa gởi một email với mấy dòng “Quà sinh nhật tặng bác Ngọc” kèm một clip ngắn “Vài hình ảnh hoạt động của Bs Đỗ Hồng Ngọc” phần lớn là những hình ảnh do em góp nhặt rải rác trong các clip em đã quay gần đây rồi ráp nối lại, tuy không đầu không đuôi nhưng khá sinh động, với phần mở đầu là bản tin giới thiệu cuốn ĐỂ LÀM GÌ của HTV 9. Bất ngờ quá chớ phải không?
Trong bài “Tôi học Phật”, mình có viết rằng càng có tuổi, mình càng nhận ra có “cái gì đó” ở ngoài ý chí mình “can thiệp” vào chuyện mình khiến mình đôi khi không khỏi chưng hửng, ngạc nhiên, ngẫm nghĩ… duyên chăng? nghiệp chăng?… Thôi thì cứ “tùy duyên thuận pháp” như thầy Viên Minh dạy!
Chẳng hạn xưa tự nhiên có người không quen biết mang đến nhà tặng mình 5 tập bản thảo, tập hợp các bài viết của mình dày đến hơn vài ngàn trang, lại nói tự tay mày mò gõ cả chục năm như vậy, không “duyên” sao được! Sau mới biết đó là anh 5 Hiền, Nguyễn Hiền Đức, người vẫn tiếp tục giúp mình dàn trang các tài liệu thiệt đẹp sau này…
Rồi gần 10 năm trước có người xưng là Hai Trầu ở miệt Kinh xáng Bốn Tổng… gì đó, đặt cho mình mấy câu hỏi khá “lắc léo” trên trang nhà dutule.com, sau này mới biết là anh Lương Thư Trung, nay là người bạn thiết, cùng chia sẻ những buồn vui của lứa bạn già… Không “duyên” sao được?
Rồi chuyện em NVQuyền cũng ngộ. Tết năm nọ, Nhóm Học Phật mình ghé vào thăm chùa Diên Thọ quận 12, đang ngồi quanh một bàn ăn thì có mấy bạn trẻ bàn bên nọ đến chào hỏi và xin chụp với mình cái hình kỷ niệm. Một em nói khi nào bác có buổi nói chuyện hay dạy học ở đâu đó bác cứ kêu con, con đi ghi hình cho. Tưởng chỉ nói vậy thôi, ai dè em làm thiệt. Các buổi sinh hoạt Phật học và Đời sống ở chùa Xá Lợi, các buổi nói chuyện nơi này nơi kia, khi rảnh, em xách máy theo… Hôm nay, cao hứng, em tập hợp một ít tư liệu ráp nối, gởi làm “Quà sinh nhật” tuổi 80 của mình. “Duyên” quá chớ phải không?
Cho nên, post lên đây để chia sẻ cùng bạn bè thân thiết vậy.
Rảnh, coi vui nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
ĂN VÓC HỌC HAY
Ghi chú: In lần đầu năm 2012, đã tái bản vài ba lần gì đó. Nay làm mới. Mới gì? Mới cái bìa. Cái bìa lần này tôi không xem tới xem lui gì nữa. Cũng chẳng góp ý kiến ý cò gì nũa. Viết cho mấy em bây giờ, cách xa mình đến hơn 60 năm, hãy để cho các em có cách nghĩ riêng, nhìn riêng. Cái mình tưởng hay tưởng đẹp có thể chán ngắt với mấy nhỏ.
Cho nên cái bìa lần này vàng chóe, chữ nghĩa hình ảnh… hạp tụi nhỏ (theo lời Nhà xuất bản). Thôi kệ. Cái chính vẫn là nội dung. Thêm một ít đề mục, câu chữ cho hợp thời! Hồi đó lo H5N1 thì bây giờ lo Covid-19, rồi S.A.D… (Stress; Anxiety; Depression).
Và bởi vì “hôm nay còn thi, mai kia còn thi…” thì cũng cần nhắc lại một chút vậy.
Thân mến,
Bs Đỗ Hồng Ngọc.
(9.8.2020)

Lời ngỏ
Ăn vóc học hay là một tuyển tập những bài viết – mới có cũ có – của tôi trong nhiều năm qua liên quan tới chuyện “Ăn” chuyện “Học” của người bạn trẻ.
Người xưa nói “Một linh hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”, và như vậy, cũng có nghĩa là “một thân thể tráng kiện” chỉ có thể có ở “một linh hồn minh mẫn”.
Thân và tâm không thể tách rời nhau.
Tương lai trong tay ta. Em biết rồi đó!
Đây không phải là một cuốn sách y học. Bởi khi cần đến y học thì đã có các bệnh viện, các thầy thuốc. Đây là những chuyện đời thường, hằng ngày chúng ta vẫn gặp, chuyện cái ăn, cái mặc, nếp nghĩ, nếp làm… Nhưng nó lại là cái cớ để chúng ta có dịp trò chuyện thân tình với nhau hôm nay, giữa một người đi trước và một người đi sau – giữa hai thế hệ – cách nhau hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn còn rất nhiều điều gần gũi nhau.
Cho nên khi viết cho em, khi nói với em, cũng chính là cơ hội để tôi nhìn lại tôi.
Xin cảm ơn em!
Đỗ Hồng Ngọc
(6.2020)
…………………………………………………………
Mùa thi đến rồi đó!
* Bác sĩ có thể cho biết vai trò của việc giữ gìn sức khỏe trong cuộc sống con người nói chung, trong mỗi kỳ thi nói riêng?
– Như ta vẫn thường nói “sức khỏe là vốn quý nhất của con người”. Quả đúng vậy. Không có sức khỏe thì không thể làm được việc gì hết, kể cả chuyện học hành thi cử! Thậm chí có những người học rất giỏi mà sau đó mắc bệnh lao phổi, tim mạch hay tâm thần… thì cũng chẳng đến đâu. Mỗi kỳ thi là một cuộc đo tài ganh sức, đòi hỏi trí tuệ và cả… cơ bắp nữa. Phải có sức khỏe cả thân và tâm thì mới thành công. “Một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện” phải không? Thi cử là một stress lớn cho mỗi thí sinh nên phải có cách vượt qua. Muốn vậy, cần có sự chăm sóc tốt sức khỏe thể chất và tâm thần trong suốt quá trình học hành, thi cử. Nhiều người đợi nước đến chân mới nhảy nên nhảy không kịp, lọt tõm xuống ao. Muốn đi đường dài thì phải chăm sóc ngựa, chăm sóc xe… không đợi đến nước rút!
* Ăn uống như thế nào là hợp lý trong mùa thi?
– Không đợi đến mùa thi mới lo ăn uống hợp lý. Ăn uống là chuyện thường ngày mà! Thế nhưng, trong mùa thi thì chuyện ăn uống trở nên quan trọng hơn. Chẳng hạn, học thiệt xuất sắc, chuẩn bị đâu đó sẵn sàng để đi thi, chắc mẽm kỳ này sẽ đậu cao, ai dè tới ngày thi thì bị Tào Tháo đuổi chạy không kịp thì học giỏi cách mấy cũng rớt! Cho nên không có gì đáng tiếc hơn những ngày sắp thi mà ăn uống bậy bạ ngoài đường, không đảm bảo “an toàn vệ sinh thực phẩm”! Một câu hỏi thông thường khác là ăn gì thi cho dễ đậu? Câu trả lời là ăn gì thi cũng dễ đậu cả, miễn là ăn no, đủ chất, học hành đàng hoàng, giữ gìn sức khỏe tốt. Ngày thi mà đau bụng ói mửa, mà xây xẩm, chóng mặt, té xỉu trong phòng thi vì hạ đường huyết (quá đói) thì không thể nào đậu được! Còn người đã học có kế hoạch, ôn tập kỹ lưỡng thì ăn chè đậu cũng đậu mà ăn trứng vịt cũng đậu! Đừng có dị đoan mê tín! Trứng cũng bổ như đậu, miễn là đừng ăn trứng bị H5N1 (cúm gia cầm) là được! Tóm lại, nên quan tâm đến “cái ăn”. Ăn đủ chất và lượng. Giống như đổ xăng, nếu xăng pha nước thì xe chạy không được. Nhớ, không cần tẩm bổ với cao lương mỹ vị gì cả, không cần sâm cao ly, nước tăng lực gì cả, vì nếu cứ lo chuyện ăn uống tẩm bổ này nọ thì sẽ không còn thì giờ tập trung cho việc học. Thật sai lầm khi những ngày này phụ huynh bắt con em phải ăn thức này thức khác để tẩm bổ! Món ăn nào trẻ thích và vệ sinh, an toàn đều tốt cả. Khoái khẩu thì ăn sẽ ngon, học sẽ giỏi. Một em ở vùng biển quen ăn mắm, cá khô… bỗng được ăn thịt bò bít-tết khoai tây chiên thế nào cũng sình bụng, phát ách, ói mửa… và thi rớt!
* Thời gian ôn thi thường tạo cảm giác căng thẳng – mất ngủ, vậy làm cách nào để có giấc ngủ ngon và say?
– Thi cử là một stress lớn. Stress dễ làm mất ngủ. Ngủ rất cần thiết để giải stress, giảm stress. Ngủ đủ, ngủ ngon thì học sẽ mau thuộc bài hơn. Có em ráng uống cà phê đậm, trà đậm để thức khuya học, thậm chí có em cột mình vào ghế cho khỏi ngủ gục… đều là những cách làm sai lầm. Tế bào thần kinh một khi đã quá mệt mỏi, lại bị cưỡng bức nữa thì dễ bị kiệt sức, không hồi phục, dẫn đến tâm thần. Tốt nhất là khi học quá căng, cảm thấy quá mệt mỏi thì nên nghỉ. Nghỉ trước khi mệt càng tốt. Đi một bài quyền, ca hát nhảy múa gì đó, tắm rửa một cái chẳng hạn để… thay đổi không khí. Sau đó học lại, sẽ thấy tốt hơn. Ngủ rất cần thiết. Trong giấc ngủ, các tế bào thần kinh não bộ được thư giãn, được phục hồi sau thời gian căng thẳng. Giống như điện thoại hết pin cần phải sạc lại, mất vài giờ nhưng sau đó pin đầy, làm việc tốt hơn. Để ngủ ngon thì phải có kế hoạch học ôn từ sớm. Không nên dùng những thứ kích thích thần kinh. Một “kỹ thuật” giúp dễ ngủ là “lắng nghe hơi thở của mình”, không quan tâm tới bất cứ điều gì khác, không cần đếm sao trên trời… Cứ theo dõi hơi thở của mình một lúc sẽ ngủ được ngon và sâu.
* Phong độ thư thái, tự tin sẽ giúp các bạn đạt kết quả tốt, thế nhưng để đạt được cảm giác này là điều không dễ?
– Dĩ nhiên. Chỉ những người học hành kỹ lưỡng, hoàn tất chương trình đầy đủ, chuẩn bị đâu đó sẵn sàng cho ngày thi thì mới thư thái tự tin được. Mặc dù lúc đi thi, người đó vẫn có thể có cảm giác như bị tràn ngập, không nhớ được gì cả, nhưng khi đề thi ra thì đầu óc tự nhiên tập trung lại một điểm, trí nhớ sẽ phục hồi, làm bài rất dễ dàng. Một người học lõm bõm, đánh tủ, thường không thể tự tin, không thể thoải mái. Một người uống thuốc kích thích thì cảm thấy rất tỉnh táo, “rất tự tin”, nhưng làm bài sai bét mà không hay! Một kỹ thuật để giảm stress, để có phong thái tự tin là… thở sâu, đưa hơi xuống “huyệt đan điền” (dưới rốn 3 đốt ngón tay) và quan sát, theo dõi hơi thở. Thở chậm, sâu, đều, sẽ làm cho phong thái trở nên điềm đạm. Lúc đó thi cử sẽ là một… trò chơi. Thi “chơi” cũng đậu! Còn căng thẳng quá, tự cao tự đại quá thì thường hỏng! Phụ huynh… thông minh, thường khuyên con em trước kỳ thi rằng không có gì phải lo. Đậu cũng được, rớt chẳng sao. Thua keo này bày keo khác. Phụ huynh nào đặt nhiều kỳ vọng, đặt chỉ tiêu này nọ, giải thưởng tiền bạc này nọ… thường thất vọng to! Nhiều em thi rớt, thấy phụ huynh quá đau lòng, bèn “trả hiếu” cho cha mẹ bằng cách… tự tử chết quách đi cho xong! Mùa thi nào cũng phải cấp cứu những tình huống đáng tiếc này. Lỗi ở phụ huynh. Đường còn dài. Đâu phải chỉ có thi cử ở trường ốc. Nhiều người thành đạt trên trường đời chẳng hề tốt nghiệp một thứ đại học nào cả! Một em học giỏi, IQ (Intelligent Quotient) rất cao, mà ra đời nhiều khi lại thất bại, thua xa một em học trung bình mà EQ (Emotional Quotient) tốt! (Xem bài IQ và EQ).
* Việc lạm dụng “thần dược” trong mùa thi đã để lại nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe, BS chia sẻ gì về vấn đề này?
– Không có chuyện “thần dược” trong mùa thi. Chỉ là để gạt gẫm nhau thôi. Một ly nước chanh đường, một không khí thoáng đãng cùng với kế hoạch ôn tập từng bước quy củ chính là thần dược. Nhắc lại, tự học mới quan trọng. Học kỹ theo chương trình là đủ. Ăn uống, ngủ nghỉ đầy đủ, thể dục thể thao đàng hoàng, biết cách giảm stress thì thi sẽ dễ đậu. Bói toán, dị đoan mê tín, tin tưởng “thần dược” này nọ thì hy vọng rất ít vì đã mất tập trung, đã chia trí. Thủ khoa các kỳ thi đại học thường là những em học trường huyện, chưa bao giờ học thêm, ăn uống thậm chí còn thiếu thốn, chỉ có học kỹ theo chương trình và có sự chuyên tâm tự học thì sẽ thành công. Học tủ, học kèm, học thêm… dễ thi rớt vì mất thì giờ cho ăn diện, cho điệu đàng, cho tán gẫu, tầm phào đáng tiếc. Tin tưởng vào “thần dược” là nhảm nhí!
* Xin cám ơn Bác sĩ.
(Báo Giáo Dục TP.HCM)
Thư gởi bạn (8.2020 tiếp!)
Anh Hai Trầu Lương Thư Trung là một người rất dễ thương, năm nay mới 78, nhỏ hơn tôi vài tuổi, dân Châu Đốc, miệt vườn thứ thiệt, rành chuyện mùa màng sông nước không ai bằng. Lạ, anh mê sách và bây giờ anh đã có khá nhiều “đầu sách”, nổi tiếng với Mùa màng ngày cũ kể chuyên thôn dã đọc mê, rồi Người đọc và Người viết… thì có những nhận định sâu sắc về “nghề đọc” và “nghề viết”… khá lý thú.
Anh Hai Trầu tưởng là mê sách, lang thang các nhà sách từ thuở đôi mươi học ở Saigon đến giờ, hóa ra anh mê… người bán sách! Anh gặp chị Bảy làm việc ở một tiệm sách Tây ở đường Ngô Đức Kế, góc Nguyễn Huệ bây giờ, anh cứ giả bộ rề rề coi cọp sách trong tiệm. Thế rồi như anh dẫn hai câu ca dao khi viết cảm nhận về cuốn Để Làm Gì của tôi: Chuyện cang thường đâu phải cá tôm/ Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia! cho nên vừa rồi anh Hai chị Bảy làm kỷ niệm 50 năm Ngày Cưới rất trang trọng, con cháu đầy đàn, đông đủ…
Tóm lại, tưởng anh mê sách là hổng phải nhe, phải nói anh mê “người bán sách” mới đúng!
ĐHN
……………………………………………………………….
HAI TRẦU
TÔI ĐI TÌM SÁCH
Hồi đời trước, người đọc sách thế hệ như chúng tôi, ít khi nào được làm quen với các tác giả nên ba cái vụ tác giả tặng sách cho người đọc như ngày nay, tôi thấy dường như là hổng có trừ những bạn bè thân thiết riêng của các tác giả thì tôi hổng biết; kỳ dư hổng có tác giả nào tặng sách cho người đọc! Ai muốn đọc sách thì tìm tới nhà sách để mua sách; còn không muốn mua thì tới thư viện mượn sách; còn như nếu không muốn tới thư viện nữa thì người ta tìm các chỗ cho mướn sách và đến đó mướn sách về đọc.
Trong công việc đọc sách, tôi có cái thú vui nữa là ưa tìm kiếm và đúc kết các tác phẩm của các tác giả có nhiều sách giá trị và quý. Chẳng hạn tôi ưa tìm kiếm và đúc kết sách của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, của học giả Vương Hồng Sển … Thật tình ra, các tác phẩm của các bậc tiền bối ấy đã in có khi rất lâu, năm ba chục năm, mà lại nhiều nữa, nên các năm xuất bản hoặc nhà xuất bản nào in lần đầu hoặc tái bản chẳng hạn nó nằm rải rác khắp nơi, có khi mình muốn tìm, muốn biết, nhiều lúc chẳng biết đường đâu mà mò!
Trong sở thích đó, vài năm trước, có lần tôi ghé ngang qua Sài Gòn, tôi đi tìm sách của các tác giả như học giả Vương Hồng Sển, nhà văn Nguyễn Hiến Lê và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở vài nơi để bổ túc những quyển nào của ba vị này mà tôi chưa có, trong đó có đường Sách Sài Gòn nằm bên cạnh nhà Bưu Điện, bên hông Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Nơi đây bán rất nhiều sách, đặc biệt là các quầy sách cũ xuất bản trước 1975, nhưng rất khó tìm sách vì người ta để không theo thứ tự nào cả. Tôi thả bộ ra khu Lê Lợi nhưng lúc bấy giờ đại lộ Lê Lợi bị rào chắn lại để sửa đường rất khó đi đến nhà sách Khai Trí, nên tôi tạt qua đường Nguyễn Huệ và gặp nhà sách Nguyễn Huệ nằm trên đường này gần góc đường Ngô Đức Kế & Nguyễn Huệ, gần với nơi có Bookshop ngày trước. Ở đây cũng như nhiều nhà sách khác từ xưa tới nay người ta thường chưng bày (có chỗ viết “trưng bày”) sách trên các kệ sách kê sát tường theo từng loại hoặc theo tên tác giả; nhưng đặc biệt sách của học giả Vương Hồng Sển và nhà văn Nguyễn Hiến Lê được chưng bày rất trang trọng và mỹ thuật ngay chỗ vừa bước vào rất nhiều tựa sách.

Kệ sách của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong nhà sách Nguyễn Huệ (Sài Gòn) [Hai Trầu, tháng 9 năm 2018].
Tình cờ tôi bắt gặp kệ sách của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với các tác phẩm được để trên kệ riêng biệt như một cái tủ kính rất lớn và đứng lại coi từng tựa sách một rồi lựa mua những cuốn nào mình chưa có. Lúc bấy giờ tôi nhìn quanh thấy nhiều người cùng ghé lại cầm những cuốn sách trên quầy sách này lên và lật lật ra xem. Tôi đếm thử thì có khoảng hơn bốn chục tựa sách như vậy được chưng bày ở đây.
Thật ra, lúc bấy giờ theo chỗ tôi được biết thì các sách của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản rất nhiều tác phẩm rồi, có khi lên tới trên 50 cuốn, và nay có vài cuốn đã tuyệt bản! Nhờ lần đó mà tôi lò mò ghi chép các tựa sách, các năm xuất bản và nay tôi tạm đúc kết các tác phẩm của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc theo chủ đề và theo thứ tự thời gian như dưới đây:
Tác phẩm của Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC:
(Hai Trầu sưu tập, tháng 7.2020)
I. THƠ
1/ Tình Người (1967)
2/ Thơ Đỗ Nghê (1973)
3/ Giữa Hoàng Hôn Xưa (1993)
4/ Vòng Quanh (1997)
5/ Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác (2010)
6/ Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)
7/ Những Bài Viết Về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc):
“Như Không Thôi Đi Được” (2020).
II. VĂN: Tùy bút, tạp văn
1/ Gió Heo May Đã Về (1997)
2/ Già Ơi… Chào Bạn! (1999)
và bản dịch tiếng Nhật của Kazuo Minagawa (2001)
3/ Những Người Trẻ Lạ Lùng (2001)
4/ Thầy Thuốc & Bệnh Nhân (2001)
5/ Như Ngàn Thang Thuốc Bổ (2001)
6/ Cành Mai Sân Trước (Tuyển tập, 2003)
7/ Thư Gởi Người Bận Rộn I (2005)
8/ Khi Người Ta Lớn (2007)
9/ Như Thị (2007)
10/ Chẳng Cũng Khoái Ru? (2008)
11/ Nhớ Đến Một Người (2011)
12/ Thư Gởi Người Bận Rộn II (2011)
13/ Ăn Vóc Học Hay (2011)
14/ Ghi Chép Lang Thang (2014)
15/ Già Sao Cho Sướng? (2015)
16/ Có Một Con Mọt Sách (4.2015)
17/ Một Hôm Gặp Lại (2016)
18/ Chuyện Trò Cùng Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc Về Nếp Sống An Lạc (2017)
19/ Về Thu Xếp Lại (2019)
20/ Biết Ơn Mình (2019)
21/ Để Làm Gì (tháng 6 năm 2020)
III. PHẬT HỌC
1/ Nghĩ Từ Trái Tim (về Tâm Kinh Bát Nhã, 2003)
2/ Gươm Báu Trao Tay (về kinh Kim Cang, 2008)
3/ Handing Down Precious Sword (bản dịch tiếng Anh, 2015)
4/ Thấp Thoáng Lời Kinh (2012)
5/ Thiền và Sức khỏe (2013)
6/ Ngàn Cánh Sen Xanh Biếc (về kinh Pháp Hoa, 2014)
7/ Cõi Phật Đâu Xa (về kinh Duy Ma Cật, 2016)
8/ Thoảng Hương Sen (2018)
9/ Thấp Thoáng Lời Kinh (Thư viện Hoa sen, 2019)
10/ Tôi Học Phật (Thuvienhoasen 11.2019)
IV. Y HỌC THƯỜNG THỨC
A- Sách dành cho tuổi mới lớn:
1/ Những Tật Bệnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Trò (1972)
2/ Nói Chuyện Sức Khỏe Với Tuổi Mới Lớn (1989)
3/ Bệnh Ở Tuổi Hoc Trò (1990)
4/ Viết Cho Tuổi Mới Lớn (1995)
5/ Với Tuổi Mười Lăm (1997)
6/ Bỗng Nhiên Mà Họ Lớn (2000)
7/ Bác Sĩ Và Những Câu Hỏi Của Tuổi Mới Lớn (2003)
8/ Tuổi Mới Lớn (Tuyển tập, 2005)
9/ Khi Người Ta Lớn (2011)
B- Sách dành cho các bà mẹ:
1/ Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng (1974)
2/ Chăm Sóc Trẻ Từ Sơ Sinh Đến 3 Tuổi (1978)
3/ Làm Sao Để Trẻ Được Khỏe Mạnh Và Thông Minh?
4/ Những Bệnh Nguy Hiểm Thường Gặp Ở Trẻ Em (tập 1,2)
5/ Săn Sóc Con Em Nơi Xa Thầy Thuốc (1986)
6/ Nuôi Con (1988)
7/ Sức Khỏe Trẻ Em (1991)
8/ Câu Chuyện Sức Khỏe (1996)
Tổng cộng gồm 55 quyển (chưa kể còn vài tác phẩm trên liên mạng, chưa in).
Thật đơn giản đối với tôi khi có dịp tôi đi tìm sách ở các nhà sách để mua và sưu tầm rồi đúc kết các tác phẩm của các tác giả đã xuất bản mà mình thích là một trong những thú vui mà tôi nghĩ là, dù ở tuổi nào đi nữa, tôi không thể nào bỏ được thói quen rất dễ thương này vậy!
Hai Trầu
Houston, ngày 27 tháng 07 năm 2020.
Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress.com
……………………..
Viết thêm: Có bạn hỏi thăm 2 cuốn sách dịch, xin gởi thêm vài tấm hình.
Cuốn Già Ơi… Chào Bạn! do Kazuo Minagawa dịch sang tiếng Nhật (Nhà xuất bản Sosisha, Tokyo 2001) và tái bản ngay cùng năm.
Cuốn Gươm báu trao tay (viết về Kinh Kim Cang) do Diệu Hạnh Giao Trinh (Paris 2015) dịch sang tiếng Anh, Thiện Tri Thức ấn hành.


Thư gởi bạn (8.2020)
Đỗ Hồng Ngọc
Sáng 1.8.2020, ngủ dậy, mở “meo” đã vô cùng sửng sốt khi thấy một chùm bong bóng của một buổi “đại tiệc” mừng Sinh Nhật mình do Nguyệt Mai gởi tới, với rất nhiều thơ, văn, hình họa… bạn bè thân thiết khắp nơi gởi mừng Sinh Nhật 80 của mình!
Nhớ có lần mình đã thú thiệt:
Anh không có ngày sinh nhựt
Nên mỗi ngày là sinh nhựt của anh
Cảm ơn em
Nhớ đến anh
Ngày sinh nhựt!
(Do Hong Ngoc)
Nói cho đúng, mình chỉ có “Tháng Sinh Nhựt” (!). Vì bà Má nói tuổi thì Canh Thìn (1940), sanh tháng 8, ở nhà bảo sanh Cô mụ Bé, dưới chân cầu sắt Phan Thiết, ngày thì Bà không nhớ, giờ thì hình như… sáng sớm, vì thế Tử vi coi cũng không được! Tản cư trong rừng 7 năm, về thành trễ học, phải làm lại Thế vì Khai sanh 1943 (con Dê) để vào lớp. Tóm lại tuổi thì vừa Rồng vừa Dê.
Đọc những bài thơ, bức vẽ… rất dễ thương của bạn bè trên Trang nhà tranthinguyetmai.wordpress.com không sao không xúc động.
“Mít ướt. Nó vậy đó”
(https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2020/08/01/chuc-mung-sinh-nhat-bac-si-nha-tho-do-hong-ngoc/)
Xin phép được trích đôi bài nơi đây:
NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI
MỪNG ANH NGỌC TÁM MƯƠI
.
Tám mươi nhìn thân ngũ uẩn
ngộ rằng sắc tức là không
lung linh như hư, như thật
biết mẹ chờ bên kia sông
.
Nửa khuya thì thầm với gió
nghe kìa thấp thoáng lời kinh
hương sen ủ vào giấy mực
thư thả viết từ trái tim
.
Đỗ Nghê một thời cầm bút
dòng thơ theo những chuyến phà
chảy khắp dặm nghìn sông núi
mới hay biển cũng là ta
.
Để làm gì, nào ai biết
bé sơ sinh, gửi tiếng cười
hôm nay về, thu xếp lại
nhiều năm nữa, mây lưng trời
.
Tám mươi già ơi chào bạn
dặn dò ngọn gió heo may
như thị, như thị, như thị
niềm vui gươm báu trao tay
.
Một thời tập nghề đỡ đẻ
viết thư tặng bé sơ sinh
giờ nhìn lại, xa phòng mổ
vào giữa chợ, biết ơn mình
.
Có phải một hôm gặp lại
có người tóc trắng rưng rưng
ngồi cảm thọ từng hơi thở
tắm vô thường khắp thịt xương
.
Vui vô cùng, khi học Phật
thấy trăng lên, ngộ Lăng già
mới hay khắp trời vô ngã
mới hay cõi Phật đâu xa
.
Tám mươi cành mai sân trước
nghe đời vui như gió đông
hoa bay khắp trời mưa pháp
ngẩng nhìn lòng nhẹ như không
.
Chắt hết tim gan phèo phổi
hóa thân mưa bụi lưng trời
giã biệt muôn ngàn kiếp trước
chim bay gió bạt lưng trời
.
Phật Phật Phật, khắp trời bất nhị
Thiền thiền thiền, kinh tụng không lời
Tâm tâm tâm, không người, không pháp
Đỗ Hồng Ngọc, cười mãi tám mươi.
.
ng pth
Gửi về quê nhà, mừng anh Đỗ Hồng Ngọc sinh nhật thứ 80.
Tháng 8/2020, nắng vàng phương ngoại.
Bài đã đăng trên Thư Viện Hoa Sen:
https://thuvienhoasen.org/a34321/mung-anh-ngoc-tam-muoi

Do Hong Ngoc by Dinh Truong Chinh
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
TỦM TỈM ĐI. VỀ. TỚI.
Gửi Nguyệt Mai
Nguyệt Mai gửi e-mail bảo, anh Ngọc đang ở sinh nhật 80. Ở là cư ngụ hả Mai. Ở là lúc, thời gian, phải không Mai. Em nói hay thật đấy, tôi đang hình dung những bước chân tuổi 80 hôn trên đất (sư Nhất Hạnh bảo thiền hành với những bước chân như là hôn mặt đất vậy), tôi đang tưởng thời gian đang bắt tay tuổi 80. Mà ai bắt tay ai trước, với bản chất như thế thì chắc là anh Ngọc nhà mình rồi, Mai đồng ý không? Bỗng nhiên tôi mở lại những hình của anh Đỗ Hồng Ngọc, hầu hết là anh cười, mà cười tủm tỉm, mỉm cười. Khi tôi đọc văn thơ của anh lần nào cũng thầm nói, anh Ngọc là vậy, cứ thế mà tủm tỉm đi tủm tỉm về tủm tỉm tới. Hình ảnh đúng như bao người nhận xét, hòa nhã, thong dong, từ từ, nghĩa là tất cả những hình ảnh nào mang tính dừng lại, thì là anh đấy! Anh là mỉm cười, là tủm tỉm, là dừng lại. Tóm lại, là tự tại. Khiến tôi nghĩ đến câu hỏi của Vô Tận Ý bồ tát: “Thế Tôn, Quán Thế Âm dạo đi trong cõi ta bà như thế nào?” Tôi thích nghĩa dạo chơi này lắm, anh Đỗ Hồng Ngọc qua mấy chục pho sách tung tăng cõi bụi độ thoát bao tâm tư thì quả là dạo chơi như thế đúng không hả Nguyệt Mai?
Trong sách Biết Ơn Mình, anh viết,
Xây dựng hình ảnh về chính mình (self-image) rất quan trọng, nếu đó là một hình ảnh tích cực nó sẽ giúp cho mình tự tin hơn và từ đó ảnh hưởng đến “môi trường” xung quanh; còn nếu là một hình ảnh tiêu cực thì sẽ rất không hay.
Tôi nhớ đã nghe trong một pháp thoại của thiền sư Thích Nhất Hạnh có nói, người đang mỉm cười là tỉnh thức, là chánh niệm, là lúc vững chãi thảnh thơi. Phải chăng anh Đỗ Hồng Ngọc luôn tự tại mỉm cười nên chi ba-con-nợ tham sân si kia chẳng có cửa mà vào? Thế có phải là Niết Bàn Lạc Trú như sư Nhất Hạnh giảng? Hình ảnh ấy đã để lại những tình cảm tích cực nơi người có dịp tiếp xúc anh hay tiếp xúc anh qua chữ nghĩa. Hình ảnh đó đối với riêng tôi như một nhắc nhở khi tôi lậm vào những thứ buồn bã linh tinh về cuộc sống về bịnh tật.
Nguyệt Mai bảo, anh Ngọc đang ở sinh nhật 80. Thì bây giờ chỉ nói cái gì liên quan đến cái tuổi thôi nhé Mai, mà nói về phạm trù này thì hầu như chiếm hết trong danh mục mấy chục cuốn sách của anh Đỗ Hồng Ngọc đấy, dám không! Tám mươi tuổi, nhìn dáng vẻ mặt anh thì thấy, ừ 80 thật (dạ thưa quả-táo-nhăn-nheo, can chi một chút eo sèo thời gian!), nhưng nghe anh nói chuyện, đọc văn anh thì ai cũng thốt lên, sao trẻ trung thế! Tôi nghĩ anh được phong thái như thế vì anh chấp nhận tuổi tác vui vẻ quá, đến tuổi nào thì reo tuổi ấy, đây là cách mà chị em mình nên bắt chước đó, Kim Quy, Duyên, Mai, Thu Vàng, Thanh Lương ơi, cái màu tóc bạc, cái da cổ nhăn nheo sẽ làm người ta quên ngó tới khi tiếp xúc với một ánh mắt ấm áp, một nụ cười thân thiện -nếu không tủm tỉm được thì cứ mở hết diện tích của cái miệng xinh, cũng tốt lắm-, khi nào đủ nội lực thì tức khắc tủm tỉm được thôi.
Mà anh đã vào mùa sinh nhật 80 ư anh Ngọc? Nhưng dường như ngày nào cũng là sinh nhật anh mà, nhớ câu thơ này không, Nguyệt Mai, khi em tổ chức sinh nhật anh Ngọc trên không gian ảo nên thơ của Những Tình Thân Ái?
Anh không có ngày sinh nhật/ Nên mỗi ngày/ Là sinh nhật của anh… (Sinh Nhật)
… Mỗi ngày ta rơi rụng/ Mỗi ngày ta phục sinh (Vô Thường)
Ngày nào mở mắt ra cũng nhủ cười: -hôm nay sinh nhật mình- nên chi anh Đỗ Hồng Ngọc viết cả một loạt sách về cái nhân sinh quan reo tuổi -một võ công thâm hậu đủ sức mạnh để xoay sở với thời gian-. Đôi khi tôi nhìn những vết nhăn, vướng một bịnh nào đó của tuổi tác tôi cứ bị lôi về những kỷ niệm, làm sao tu để có được cái tuệ giác vô thường hầu ứng xử với những nỗi buồn ấy…
Ở đâu đó anh nói, đời người có ba hồi: Hồi trẻ, Hồi trung niên và Hồi đó. Cái Hồi đó này bao trùm cả ba hồi. Như giờ ai hỏi tôi đang ở hồi nào, chắc tôi trả lời, hồi đó, đúng lắm, vì ngay phút trả lời thì đã thành hồi đó rồi, nhưng không phải là hồi xưa đâu, là cái đã, vừa qua mà cứ lung linh rung rinh hiện tại. Thế thì em có hiểu thêm cái nghĩa của tủm tỉm không vậy, Nguyệt Mai? Anh lại bảo: … với tôi, tôi không hề biết mình đã có tuổi, tích tuổi, lúc nào tôi cũng thấy tôi đã già, và lúc nào tôi cũng thấy tôi còn trẻ (Thư Gửi Người Bạn Nhật Chưa Quen Biết). Bởi vậy mà tới tuổi nào anh cũng có vô số chuyện để đối thoại với chúng, và lúc nào cũng như đứng trước tấm gương tuổi mà hỏi, tôi bây giờ khác gì tôi xưa (Về Thu Xếp Lại), rồi tủm tỉm tay bắt mặt mừng với nó. Hẳn là thời gian cũng vui mừng khi có người bạn đồng điệu ngang cơ như thế. Luôn nhìn mình hỏi mình để thấy được từng lúc rơi rụng, phục sinh thì sao mà không vui vẻ với cái không ta để thanh thơi mỉm cười?
Mai ơi, em có như tôi, vô cùng “gato” cái dũng ấy của anh không? Hùng lực ấy đến từ đâu? Thưa ở nơi cái nhìn rất nên thơ về các giai đoạn đời người. Nên thơ nên chuyển hóa được sợ hãi lo buồn.
Trong Thư Cho Bé Sơ Sinh, anh viết:
Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
… Khi người ta cắt rún cho bé thì từ đó cái lỗ rún trở nên một nơi chốn để nhớ về.
Khi vừa lìa khỏi êm ấm cõi lòng mẹ, thì có ngay sau đó hình ảnh lỗ rún như một quê hương để nhớ về. Anh đã nhìn nỗi chia lìa kia trữ tình làm sao!
Và khi đến tuổi hoang mang vô kể thì anh cho đó là một phép lạ:
Rồi khi người ta đến tuổi dậy thì, cũng một đợt “biến thái” đầy phép lạ nữa!… không chỉ thể xác mà cả tâm hồn! Người ta xa lạ cả với chính mình. Cao vọt lên, dài ngoằng ra, chỗ phình chỗ xẹp, chỗ lõm chỗ lồi, chỗ dư chỗ thiếu, làm người ta hoang mang vô kể!
… Vậy đó bỗng dưng mà họ lớn (Huy Cận). Họ ở đây là… mình chớ không phải ai khác. Bỡ ngỡ xa lạ với mình ngày hôm qua, hôm kia… (Đỗ Hồng Ngọc)
Nếu Hồi đó có ai nói với tôi rằng, có một chiếc đũa thần gõ vào thân thể khiến nó thay đổi lạ lùng đến thế thì hẳn đã không phải “théc méc” lo sợ! Các cháu bây giờ thì đã có bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc giải thích rồi, mà nói kiểu của bác thì hẳn đa số các cháu nghe xong sẽ làm văn làm thơ… Bởi có cái nghe như thế này:
“Tới một tuổi nào đó, ta quan tâm rất nhiều đến thân thể mình. Ta lắng nghe thân thể mình phát triển như chú dế mèn lắng nghe tiếng cỏ mọc trong đêm khuya…” (Những Tật Bịnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Trò)
Nghe như thế thì hẳn chả lo sợ gì mà thay vào là nỗi hồi hộp thơ mộng, nghe má mình đang hồng lên, chờ một điều âm thầm nào đó đang khiến mình đẹp hơn lên… Nguyệt Mai ơi, phải mà mình được trở lại tuổi đó để được nghe như thế thì thú quá phải không Mai?
Rồi tới cái tuổi mà Đỗ Hồng Ngọc bảo: Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình… (Một Chút Lan Man)
… Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến…
A. Khi tình yêu tìm đến… vậy tất có cái hồi rất dài đó, anh Ngọc ơi, không chỉ tuổi hai mươi đâu, đó là Hồi yêu, nhìn lại những Reo Tuổi của anh xem, bất kể tuổi nào cũng có tình yêu hiện diện, sắc mầu biến hóa như chiếc kính vạn hoa. Lúc nào Đỗ Hồng Ngọc cũng nhận diện được Thương Yêu chung quanh mình. Nhận về rồi trao đi, rồi thủ thỉ với nhau, Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa! (Một Chút Lan Man)
Nguyệt Mai ơi, em bảo anh Ngọc đang ở sinh nhật 80. Nhưng với ý nghĩ lúc nào tôi cũng thấy tôi đã già, và lúc nào tôi cũng thấy tôi còn trẻ, thì tôi có kết luận rằng lúc nào ông anh nhà thơ lãng mạn của chúng ta cũng ở vào Hồi yêu. Yêu em, yêu người, yêu đời, yêu đạo.
Lúc tôi đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê, tôi có ghi chú dưới mấy bài thơ tình mấy chữ: trời ơi tình! Đã định bụng viết về mảng trời ơi này của anh, nhưng rồi lại xớ rớ đâu đó, giờ tôi xin chép lại đoạn viết ngắn ấy.
…
Thời gian chỉ còn là một đường tơ mong manh cho nỗi nhớ lay động. Hãy xem chàng làm gì để nguôi? Phải hét lên cho cây già hốt trẻ, phải gióng vang chuông trần cho ta bà biết nhớ…
Anh thương nhớ quá làm sao nói
Gọi tên em vang động gốc cây già…
(Quê Nhà)
… Nhớ ơi rung tiếng chuông trần
Em xa xôi biết có bần thần không?
(Chiang Mai)
Phải là tiếng chuông nhớ rất duyên nợ với rung động bần thần yểu điệu kia, nên Lá chín vàng / Lá rụng / Về cội / Em chín vàng / Chắc rụng / Về anh. (Lá 1994). Thế thì Thôi hết cồn cào / Thôi không quặn thắt / Chỉ còn âm ỉ / Chỉ còn triền miên (Nỗi Nhớ). Và bình yên. Có phải đã ước nguyện với nhau như thế?
Có thể nói tuổi cho tình yêu này? Say mơ của tuổi hai mươi. Nồng nàn của tuổi ba mươi. Lắng thương sâu của tuổi bốn mươi. Và biến hóa nhiệm mầu của tuổi không tuổi…
Đưa em đi lễ
Vầng trăng treo nghiêng
Em làm dấu thánh
Anh làm dấu em.
(Đi Lễ 1997)
Anh hôn đằng sau
Anh hôn đằng trước
Anh hôn phía dưới
Anh hôn phía trên
Chiếc áo của em
Món quà em tặng
Chiếc áo lạ lùng
Có mùi biển mặn
Có mùi dừa xiêm
Có mùi cát trắng
Có mùi quê hương…
Paris 1997
(Món Quà)
Tinh nghịch, mộc mạc, giản dị, đằm thắm, cảm động. Em và quê hương giờ đây hòa vào nhau. Nhớ em là nhớ quê hương. Nhớ quê hương là nhớ em. Trời ơi là tình!
Cái tuổi nào mà có thể thủ thỉ những câu có thể đưa nhau tới nơi không sinh không diệt như vầy:
Cảm ơn em sợi bạc
Cảm ơn em sợi hung
Cảm ơn em năm tháng
Đã theo già cùng anh
(Theo Già)
Nguyệt Mai ơi, hẳn em cũng như tôi, đã rưng rưng khi đọc những câu thơ này, tôi cảm thấu được thời gian gắn bó đi theo màu tóc thủy chung của tình vợ chồng, của đạo vợ chồng. Chúng ta còn khóc huống chi là nhân vật Em kia, Mai nhỉ. Ai nói tuổi được của cái Đẹp?
Nguyệt Mai bảo, anh Ngọc đang ở sinh nhật 80. Tưởng tượng, một buổi sáng nắng rất đẹp hứa hẹn một dạo chơi Đường Sách, bỗng thấy anh mình ngồi trầm tư loay hoay giữa bộn bề sách vở thư từ tranh ảnh, ở mắt dường như có hạt thủy tinh, ngạc nhiên hỏi cớ vì sao, cái tủm tỉm cố hữu bỗng nghiêm trang, “Vào tuổi tám mươi, anh nghĩ đã đến lúc “về thu xếp lại”, đã đến lúc “nhìn lại mình…” Hơ, tôi thấy mắc cười quá, đồng ý việc thu xếp lại kia, nhưng “nhìn lại mình” thì anh lúc nào mà chẳng, mà thường trực nhìn lại mình cơ chứ, phải không Nguyệt Mai. Đọc xem: … tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai… (Một Chút Lan Man) Nhìn ra vậy chẳng phải là pháp tu của Người Biết Sống Một Mình? Thanh thơi với ở đây và bây giờ, chẳng phải là ta, chẳng phải của ta…
… Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”. Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. (Tôi Chợt Nhìn Ra Tôi)
Và trong buổi ngồi thu lại những ký ức thời gian và xếp lại những vướng víu đa đoan ấy, anh đã tâm sự:
… Càng có tuổi, hình như tôi càng nhận ra có cái gì đó ở ngoài ý chí mình, can thiệp vào mình tùy hứng khiến mình đôi lúc không khỏi chưng hửng, ngỡ ngàng, thầm nghĩ “duyên” chăng? Nhưng duyên là gì không biết. “Nghiệp” chăng? Nhưng nghiệp là gì cũng không biết. Thôi thì, cứ để nó trôi chảy, tự nhiên, bởi nó có vẻ chẳng cần đến ta, chẳng phải là ta, chẳng phải của ta…
Nguyệt Mai có nhận thấy không từ cái thay đổi của tuổi mới lớn đến tuổi hơi già, già chút nữa, già thêm nữa đến…, anh Ngọc đều cảm nhận đó là những biến thái đầy phép lạ, diễn biến tuyệt vời, tôi gọi reo tuổi là vậy:
… Nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu, có gì mà không thể tủm tỉm cười một mình đâu. Cho nên nếu tôi có gì khác tôi xưa thì chính ở chỗ tôi có phần… khoái cái sự già nua tăng tốc đó của mình, tôi hồi hộp dõi theo nó, tôi cảm thấy nó… hợp lý, nói chung là… cũng dễ thương quá đó chớ! (Tôi Chợt Nhìn Ra Tôi)
Và “người không già không trẻ” này kể kinh nghiệm hưởng thụ cái dễ thương đó:
Một là thiếu bạn. Nhìn qua nhìn lại, bạn cứ rơi rụng dần… – Hai là thiếu… ăn. Không phải vì không có điều kiện ăn mà người già thường thích những món ăn kỳ cục, và phải lắng nghe mệnh lệnh của bao tử… – Ba là thiếu vận động! (Những Cái Thiếu Ở Người Già)
Nghe thì thấy anh Đỗ Hồng Ngọc chả thiếu cái nào, các bạn trong Gánh Hát Rong mở email từ hồi nảo hồi nao đến giờ có phải là anh thường xuyên ngao du sơn thủy cùng bạn hữu không? Lúc thì với hồng nhan tri kỷ của cuộc đời, lúc thì bạn cố cựu cỡ nửa thế kỷ như Lữ Kiều rồi thì Khuất Đẩu Lê Ký Thương Nguyễn Lệ Uyên Nguyên Minh Lữ Quỳnh… chưa kể một hàng dài người ái mộ xếp hàng chờ một chữ ký trên trang sách thơm, chưa kể ở khắp nơi có biết bao người đang cầm trên tay sách của anh, chưa kể Gánh Hát Rong còn có: Huyền Chiêu, Ngọc Vân, Kim Quy, Duyên, Thu Vàng, Nguyệt Mai, Thanh Lương, và Khánh Minh đây. Nói chung thì Người Trẻ Lạ Lùng Đỗ Hồng Ngọc kia lúc nào cũng có cái Bên Cạnh. Có khi thì em bé mò trai lượm ốc, có khi là người chủ quán cà phê, có khi thì cây bàng, tảng đá, có lúc là những thuyền thúng, còn không thì có nụ cười tủm tỉm trên môi. Đâu có thiếu bạn. Còn ăn ư, cũng không thiếu nốt, vì ngồi với bạn là có cái gì đó để cùng nhau nhâm nhi, thậm chí ngồi quán ăn xong thì có ai đó bí mật trả tiền rồi. Mà đã đi lang thang hết núi tới rừng tới biển tới quê nhà thế thì sao thiếu vận động được, ôi chả trách người viết Biết Ơn Mình. Và chắc giờ đây sau khi Về Thu Xếp Lại và hỏi Để Làm Gì thì “Khi bạn hoàn tất việc sắp xếp lại căn nhà của mình, bạn sẽ thấy cuộc đời mình thay đổi một cách diệu kỳ.” Tôi cảm thấy cái diệu kỳ nhất, là nhận ra mình cần chậm lại, để nghe trái tim lên tiếng, để cảm nhận những chuyển biến dù nhỏ nhất xung quanh mình, trong bản thân mình” (Tìm Tết). Chậm lại, nghe tiếng trái tim, cho ta năng lực để thấm thía được hết những đau khổ và hạnh phúc, mới tu học được bốn tâm vô lượng mà Phật dạy để đối xử với người với mình trong hiểu và thương, phải vậy chăng?
Ở Hồi yêu ấy người-ta lại nói thêm, nghiên cứu cho thấy có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn và càng yêu thì càng sống khỏe sống vui hơn! Khi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” thì mới thấy còn có bao nhiêu thời gian để yêu thương và được yêu thương? Nguyệt Mai bảo anh Ngọc đang ở sinh nhật 80 đấy. Nhớ anh có bài thơ rất tình:
thì viết cho anh một lá thư tình
trên tờ pelure xanh
như thuở em mười lăm…
… thời gian qua nhanh
em nay lên bảy tám
cũng vừa mười lăm
anh vẫn đợi hoài lá thư màu xanh
đọc run thuở đó…
(Biết Làm Gì Đây, 2020)
Khi đọc bài thơ trên của anh, tôi có trả lời, em nghĩ ừ hay mình viết một lá thư tình cho ai (cho cố nhân hay cho thời gian) trong lúc đang shelter in place này bằng giấy pelure xanh chăng? Có vậy mới quên được bầy quỷ Covid-19 đang hoành hành, và tuyệt thay tôi nhận được câu trả lời của anh, mà em chưa tới bảy mươi viết thư tình hơi quá sớm chăng? Ừ, thì cứ như Đỗ Hồng Ngọc, như Quang Dũng, em mãi là hai mươi tuổi, ta mãi là mùa xanh xưa…
Và, Nguyệt Mai ơi hãy nghe cùng tôi những tế bào sinh sôi khi đọc: Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới…” (Lời Ngỏ – Về Thu Xếp Lại). Như vậy thì tất cả trong Gánh Hát Rong mình đang là tuổi chín tới đấy, nghe cực lãng mạn phải không các bạn trẻ lạ lùng của tôi? Ơi Huyền Chiêu Ngọc Vân Kim Quy, ơi Duyên Thanh Lương Thu Vàng ơi…
Santa Ana, Jul 24, 2020
ntkm
* Những chữ viết xiên trong bài là văn, thơ của tác giả Đỗ Hồng Ngọc.

Chân dung BS Đỗ Hồng Ngọc Charcoal on paper 28 x 24” by Trương Đình Uyên
…………………………………………………………………………………….
Đa tạ Trương Đình Uyên. Đinh Trường Chinh và tất cả…
Phan Tấn Hải ơi, quả là “Nguyên Giác”…
Vui vô cùng, khi học Phật
thấy trăng lên, ngộ Lăng già
mới hay khắp trời vô ngã
mới hay cõi Phật đâu xa
và Khánh Minh, Nguyệt Mai, Duyên, Thu Vàng, Thanh Lương… ơi,
Reo Tuổi đi em.
Cái Bên Cạnh đi em.
Trời ơi Tình đi em.
(Bold là những từ “chuyên biệt” của nhà thơ Khánh Minh trong bài viết)
ĐHN
(01.8.2020)
Trần Văn Chánh
Đọc TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN
Của Trương Văn Dân
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp- tp HCM. 6-2020
Sách vừa do NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành khoảng giữa Quý II năm 2020, trong lúc đại dịch Corona đang diễn ra gây đe dọa sinh mạng của con người trên toàn thế giới. Dưới tên sách chính Trò chuyện với thiên thần còn có cái tên phụ: Những tai họa của thế giới và giấc mơ Việt Nam. Tôi chưa hiểu vì sao tác giả Trương Văn Dân xếp sách của mình vào thể loại tiểu thuyết (có ghi rõ hai chữ “tiểu thuyết” dưới tên sách), trong khi thật ra nó không giống một cuốn tiểu thuyết nào khác cả, vì từ đầu chí cuối chỉ toàn thấy nghị luận việc đời. Nhưng nó cũng không phải loại tiểu thuyết luận đề, như tiểu thuyết xã hội của nhóm Tự Lực Văn Đoàn hay tiểu thuyết triết lý của Jean Paul Sartre, Albert Camus chẳng hạn, vì bên trong không có nhiều nhân vật và các lời đối thoại, không có những tình tiết kịch tính.
Vậy có thể gọi đây là một thể loại tiểu thuyết đặc biệt chỉ riêng có ở nhà văn Trương Văn Dân?
Dường như vậy. Trong đề mục số 10 (trang 67), “Một cuộc phỏng vấn bất ngờ”, vấn đề thể loại được tác giả chia sẻ: “Khi người bạn hỏi đây có phải là tiểu thuyết hay không, ba [tức tác giả tự xưng với đứa con tưởng tượng sắp ra đời – TVC] không biết phải trả lời sao. Vì mình viết những gì lóe lên trong óc, theo sự xếp đặt chủ quan, chứ khi cầm bút đâu có nghĩ là mình sẽ viết theo thể loại nào, tiểu thuyết hay tân tiểu thuyết, hiện thực, luận đề, hư cấu hay phi hư cấu, hiện đại hay hậu hiện đại? Ba cũng không quan tâm là trước đây hay sau này có ai viết như thế để chuyển tải suy nghĩ của mình không… Còn như nếu phải trả lời là tiểu thuyết hay không… thì ba xin trả lời rằng đây là một… cuộc trò chuyện. Trò chuyện với thiên thần. Một cuộc trò chuyện về sự hiện hữu pha lẫn với hiện thực của một đứa bé sắp chào đời và bối cảnh xã hội của đất nước và thế giới có liên quan đến nó” (tr. 68)
Tác giả là người ham mê đọc sách, trải nghiệm thực tế nhiều, khi thì đóng vai người cha, khi thì đóng vai người mẹ, trao đổi, tâm tình thân mật với “thiên thần” tức với đứa con tưởng tượng sắp ra đời của hai vợ chồng, nhưng thật ra là để trao đổi với những người đồng thời, về những suy tư thấm sâu của mình liên quan đủ mọi vấn đề trong cuộc sống hiện thực của một thế giới văn minh ầm ầm lao tới phía trước nhưng đầy bất toàn với biết bao nỗi lo âu, đe dọa, cám dỗ, mà con người luôn bị bám chặt, rất khó kiểm soát và không dễ thoát ra được, vì thường chỉ biết vô tình nhắm mắt chạy theo các tham vọng hoặc tập quán bầy đàn mà không còn làm chủ cuộc sống, làm chủ tình cảm, từ đó cũng đánh mất luôn bản thân mình.
Sách tản mạn thể hiện những mảnh suy tư riêng trước hiện thực đa tạp dễ gây bối rối của cuộc sống hiện đại toàn cầu hóa đầu thế kỷ XXI như một lời cảnh báo, nhắc nhở, gợi ý “phản tư”, “phản tỉnh”, cân nhắc lại mọi vấn đề gặp phải hàng ngày theo các chiều cạnh tinh tế khác nhau để có được cuộc sống tỉnh giác, tích cực, an bình và hạnh phúc.
Bằng một lượng kiến thức và kinh nghiệm từng trải sâu rộng, rất nhiều vấn đề đã được tác giả đề cập, mô tả, nhận xét rồi phân tích, lựa chọn thái độ, từ vai trò của người phụ nữ, trách nhiệm làm cha, làm mẹ, làm con, việc học hành thi cử, cho đến các vấn đề xa hơn về bạo lực, chiến tranh, đạo đức xuống cấp, óc thực dụng chạy theo các giá trị vật chất, nạn khủng hoảng môi sinh, sự toàn cầu hóa kinh tế, cuộc cách mạng sinh học và tin học…
Tác giả không trốn chạy hoặc phủ nhận thực tại cuộc sống văn minh và sự phát triển tất yếu khách quan thần tốc kỳ diệu của nền khoa học-kỹ thuật hiện đại trong giai đoạn đầu thiên niên kỷ thứ ba, nhưng lại rất băn khoăn trăn trở về nó trên những tác động không thể tránh khỏi mà hàng ngày nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, từ đó gợi ý lựa chọn một lối sống chủ động phù hợp để đạt được hạnh phúc đích thực, không để bị cuốn trôi hay hòa tan một cách vô ý thức theo dòng sống cuồng nhiệt của nền văn minh hiện đại, vốn thiên trọng về máy móc và các phương tiện vật chất hơn là tâm linh, tình cảm.
Đây là một cuốn sách luận bàn về nhân sinh quan và thế giới quan với một tinh thần lạc quan tin tưởng ở thế giới loài người. Một vài vấn đề có tính siêu hình như lý do nào con người được sinh ra, ý nghĩa cuộc đời, vấn đề định mệnh hay số phận, họa phúc, sự sống chết và rủi ro, tính cách ngẫu nhiên vô thường của thế giới,… đều được mang ra phân tích mổ xẻ, như một cách tìm hướng giải đáp cho những thắc mắc thông thường của đời người, nhưng vẫn không dám khẳng định sở kiến của mình là chân lý. Trong sự lờ mờ của chân lý tuyệt đối như vậy mà ai cũng phải bối rối khi đứng trước hàng loạt câu hỏi không có câu trả lời chắc chắn, vì biết rõ một con người/ một sinh mệnh vốn dĩ bị/ được sinh ra quẳng vào cuộc đời một cách không chủ động, tác giả chấp nhận thực tại và dường như đã chọn hẳn thái độ sống hiện sinh, thay vì chối bỏ nó: “Trong đời người có cả hạnh phúc lẫn khổ đau. Phải đón nhận và nhiều khi phải chấp nhận, vì chung quy cũng do mình. tự mình tạo nghiệp… Đời quá ngắn nên cần sống bình an với chính mình! Hãy sống với một tấm lòng tốt với mọi người, với thiên nhiên, với muôn loài. Có thể gọi cách sống hết mình trong từng ngày là ý nghĩa của đời sống. Trọn vẹn trong từng ngày vì tương lai không ai biết được, còn quá khứ thì đã qua, không thể lấy lại. Vì vậy chỉ có hiện tại. Trân trọng từng ngày đang sống… Cảm nhận khoảnh khắc nào cũng là duy nhất, theo ba là một điều quan trọng” (tr. 31). Ý chung, thể hiện trong suốt quyển sách, mục tiêu tối hậu của cuộc sống là hạnh phúc, có được trong một đời sống yên vui thanh thản và chia sẻ những mối đồng cảm của mình với người khác. “Mục đích của đời người là đi tìm hạnh phúc và hưởng hạnh phúc chứ đâu phải sản xuất ra nhiều và bán được bao nhiêu” (tr. 351). Mức thu nhập tiền bạc vì vậy không chắc có thể mang lại cho con người hạnh phúc, và vì thế sự làm việc cật lực trối chết để thăng tiến thu nhập và địa vị xã hội cũng không phải là lối sống khôn ngoan đáng được theo đuổi, như trong trường hợp tiêu biểu nước Nhật, ở đó khá phổ biến hiện tượng “karoshi”, có nghĩa là chết do làm việc quá sức. “Trong xã hội siêu tiêu dùng, karoshi phát sinh ở Nhật nhưng đang lan rộng tới các nước và vùng lãnh thổ như Nam Hàn, Đài Loan và Trung Quốc. Số người chết do làm việc quá sức có thể là hàng ngàn người mỗi năm… Trong nhịp sống mới, áp lực của người trẻ giống như một vận động viên điền kinh không tìm được vạch chiến thắng” (tr. 18). Còn ở Việt Nam hiện nay thì tình trạng cũng đang có xu hướng gần gần như vậy.
Trong bối cảnh một thế giới hiện đại đầy biến động mà Việt Nam cũng không thể đứng ngoài, khi nói đến “giấc mơ Việt Nam” ở đề mục số 75, tác giả viết: “Có thể trong những lần trò chuyện ba có cái nhìn bi quan, đưa ra những hình ảnh không đẹp… nhưng chưa bao giờ góc nhìn đó có mang theo ý nghĩa tuyệt vọng. Bởi ba luôn hi vọng và nhìn tương lai một cách lạc quan, nghĩ nước ta vẫn còn có dư điều kiện để nắm giữ vai trò một cường quốc nếu chấp nhận cải cách. Xây dựng được nền giáo dục nhân bản, khai phóng và tự do. Xem con người như cứu cánh chứ không phải là phương tiện” (tr. 531).
Sách dày 376 trang, đề tài rộng, với tất cả 75 đề mục, mỗi đề mục luận bàn lan man về một chủ đề, làm thành một cuốn sách triết lý thực tiễn về đời sống. Nếu chỉ nhìn qua tên gọi các đề mục được đặt theo một kiểu đôi khi rất “văn chương”, người đọc khó đoán ra ở đoạn tiếp theo sắp nói gì, nên đọc đoạn trước vẫn còn thắc mắc muốn theo dõi tiếp đoạn sau, theo tôi, đây cũng là một chỗ thành công của tác giả. Tôi định trích thêm vài đoạn nữa để giới thiệu nội dung sách cho được đầy đủ hơn, nhưng cảm thấy hơi lúng túng, vì dường như đoạn nào cũng cần đọc, đều đều như nhau, chi bằng để cho người đọc tiếp cận thẳng với tác phẩm, sẽ có thể hay hơn và thú vị hơn?
Có thể coi sách này là một “bách khoa thư” tản mạn về cuộc sống thực tế của con người hiện đại, chứa đựng đủ các vấn đề liên quan văn hóa-giáo dục, triết học, tôn giáo, đạo đức, kinh tế, chính trị, khoa học-kỹ thuật… Nhiều đề tài phức tạp đã được diễn đạt bằng lối văn tương đối bác học nhưng sáng sủa dễ hiểu, với giọng văn ôn tồn bình thản đi cùng nhiều thí dụ minh họa sinh động lấy ra từ sách vở đông tây kim cổ cũng như từ thực tế đời sống, nên nghe như tiếng nói thì thầm của cha mẹ tâm tình cởi mở với con cái, hoặc đôi khi như một thầy giáo giảng bài, một đạo sư giảng đạo…
29.7.2020
Nguyễn Quang Chơn
(Đà Nẵng)
Mới tuần trước nói với Tâm. “Lâu quá không đi Hội An. Nhớ cao lầu và thèm ăn vặt. Nhớ không gian rêu cũ và muốn chụp vài tấm hình…”. Rồi ập một cái, Đà nẵng bỗng thành tâm dịch, ĐN bị cách ly. Và hôm nay, từ 0 giờ 31/7, toàn Hội An bị cách ly. Người bạn gởi mấy bức hình Hội An trơ vơ, hắt hiu. Chùa Cầu lẻ loi, hoang vắng…, lòng bỗng thấy buồn. Cái buồn “không hiểu vì sao tôi buồn”….
ĐN vắng mà thấy không buồn. Hội An lại buồn. Vì sao? Có lẽ trong tôi, HA như một cô gái bé bỏng miền thôn quê, nón lá, áo bà ba hiền lành. Cô đi thong thả trên cánh đồng lúa chín vàng, mây trên trời màu trắng, không gian như một bức tranh. Nay bỗng dưng trói tay cô lại, bắt cô cách ly một chỗ bất động. Cô ngồi yên bất lực, đôi mắt cô đọng một nỗi sầu cô quạnh thế kia. Tôi không buồn sao được!…
Hội An có với tôi nhiều kỷ niệm cũ xưa. Nhưng HA có một kỷ niệm mới, hồi 2010 và 2017. Năm 2010, tháng 9, hoạ sĩ Đinh Cường về triển lãm tranh ở Châu Ê, Huế. Anh vào Đà nẵng chơi, tôi đưa anh thăm Hội An. Ghé thăm “chàng” lãng tử Lê Nuôi và lang thang góc phố. Anh mua mấy quà nhỏ cho hai cháu Như Tranh, Như Thơ, và nói thật nhỏ. “Mình có nhiều kỷ niệm lắm với Hội An!”… Anh Cường ít nói và khuôn mặt thường trầm buồn đầy hoài niệm. Lần ấy lần cuối cùng anh với Hội An….
Tháng 4/2017, anh Đỗ Hồng Ngọc ra ĐN theo lời mời của nhà sách Phương Nam để “tương tác” với bạn đọc bên bờ sông Hàn thơ mộng. Ngày hôm sau tôi đưa anh vào Hội An để nói chuyện về “Sống an lạc”, theo lời mời của “Không gian đọc Hội An”, cô Khiếu thị Hoài và bác sĩ Huỳnh Kim Hơn….

ĐHN, Khiếu Thị Hoài, Ca sĩ Thu Vàng

Hội An, buổi “giao lưu”
(NQChơn-Tâm ngồi bên cửa sổ)

Cùng các bé ở Không gian đọc Hội An
Hội An nhỏ. Góc nói chuyện cũng nhỏ. Nhỏ mà thoáng và nằm cạnh bến sông Hoài. Người Hội An cũng thanh cảnh, nhẹ nhàng như không gian phố Hội. Cái không gian êm ả thanh bình đó thật hợp với phong cách trầm tĩnh, sâu lắng của bác sĩ , nhà thơ ĐHN. Khoảng hơn 30 bạn bè quây quần bên anh… Hội An thật ấm tình!…
Rồi hai tháng sau tôi bị nhồi máu cơ tim cấp. Rồi cuộc sống bập bênh. Tháng trước anh Ngọc gọi phone, hỏi thăm sức khoẻ và nói nhớ ĐN, Hội An, muốn làm chuyến về thăm lại sông Hoài. Anh cũng nói sơ về sức khoẻ mình. Cho hay anh đã “chạm mốc” 80!…
Nghe anh 80. Mừng cho anh vẫn chưa “dừng bước giang hồ”. Mới lang thang cùng bạn bè ở Lagi Phan thiết, và đâu đâu đó nữa, vừa về. Tôi mừng rỡ mời anh. “Mời anh về Đà Nẵng, Hội An, em sẽ có chỗ cho anh ăn ở đàng hoàng, sẽ sắp xếp gặp anh em văn nghệ ở đây cho vui…”. Anh “hứa mà không hứa”. Anh Ngọc là vậy. Anh làm việc gì cũng có… kế hoạch. Mà kế hoạch phải chắc chắn, không lơ mơ được. Tôi e rằng anh thấy bản thân không khoẻ lắm, chưa sẵn sàng cho một cuộc đi xa, nên chưa “confirm”, mặc dầu sau đó tôi nhắn tin, gọi phone thúc giục hoài….
Rồi cuộc sống biến thiên theo những biểu đồ không ngờ. ĐN bỗng thành trung tâm đợt dịch cúm vũ hán mới. Thành phố bị cách ly. Người người bị giãn cách. Và hôm nay, lại đến lượt Hội An. Con góc phố nhỏ vắng bóng chị bán chè, mẹ bán tò he, em bán thịt xiên nướng. Cây hoa giấy trên mái nhà rêu phòng buồn rũ. Sông Hoài tĩnh lặng, những chiếc thuyền ghếch mái chơ vơ!…
Anh Ngọc chắc chẳng thể về thăm Hội An được lúc này. Chúng tôi chẳng thể mời anh về được lúc này. Dịch chắc còn lâu. Sang năm anh thêm một tuổi, 81, già chưa, già tới nóc chưa, cái chưn có sẽ bắt anh dừng bước giang hồ chưa, để rồi ta lại còn được lang thang trên những con phố nhỏ, anh vẫn bước những bước khoan thai trầm tĩnh, mỉm nụ cười hiền hoà, và tâm tràn ngập ý thơ?
(NQC)
31.7.20
BÀNG BẠC MỘT TẤM LÒNG…
Đọc “ĐỂ LÀM GÌ” của Đỗ Hồng Ngọc
Hai Trầu Lương Thư Trung
Bàn về tác phẩm mới nhứt “Để Làm Gì” của Đỗ Hồng Ngọc vừa phát hành hồi tháng 6 năm 2020 thì rất nhiều bậc thức giả đã đọc và đã nhận định về đủ mọi khía cạnh của tác phẩm này rồi; ở đây với tư cách là một người đọc nhà quê già, tôi chỉ có thể nêu lên được vài cảm tưởng của một người sống cùng thời với tác giả bằng cách để lòng mình chảy tràn theo tấm lòng của tác giả qua từng chủ đề mà tác giả ghi chép lại trên từng trang sách ấy.
Từ đó, cảm tưởng đầu tiên của tôi là thấy tác giả đã trải lòng mình để nhớ về những người cũ, những thế hệ đi trước, những người mà tác giả hằng ái mộ và kính trọng. Đó là khi tác giả nhắc về nhà văn Võ Hồng với tên tuổi mà trong văn giới cũng như người đọc sách chắc ai cũng đã có lần mở ra những trang sách như Hoa Bướm Bướm, Hoài Cố Nhân… hoặc gần gũi nhứt là Một Bông Hồng Cho Cha, Người Đi Trong Bóng Lá… Ở đây tôi muốn ghi nhận về tấm lòng của tác giả nghĩ về một Võ Hồng với nỗi “cô đơn uy nghi” của tuổi già lúc nhà văn ở vào cái tuổi 80:
“Vẫn căn gác nhỏ với một phòng chừng hơn chục mét vuông, vừa là chỗ ăn chỗ ngủ, chỗ làm việc, tiếp khách… lổn nhổn những sách vở, thư từ, bản thảo… tràn lan trên bàn, trên nệm, dưới gầm. Nhờ cái sân thượng phía trước khá rộng có bóng râm cây khế, cây dừa mà ông có một khoảng không để mà trầm tư, mà hoài cố nhân…”
Với khung cảnh mà tác giả vừa nhắc, chúng tôi, những người bạn cùng thời lúc còn trẻ hồi ở Nha Trang vào những năm 1970-1973, có vài lần đã ghé thăm nhà văn Võ Hồng nơi địa chỉ, nếu tôi nhớ không lầm, đó là căn nhà số 53 đường Hồng Bàng, gần bến xe mới Nha Trang lúc bấy giờ, thì cũng vẫn những ly tách bàn ghế đều ngổn ngang bề bộn như vậy! Rồi khi nhà văn Võ Hồng ở tuổi 91, Đỗ Hồng Ngọc lại một lần nữa ghé thăm tác giả “Hoa Bươm Bướm” với lời cảm ơn người học trò cũ săn sóc nhà văn Võ Hồng rất cảm động:
“Năm ngoái, có dịp về Nha Trang, tôi lại ghé thăm ông, bấy giờ ông đã 91 tuổi, đã dần dần khó tiếp xúc… Cô Đạm, người học trò cũ quý thương ông vẫn là người hằng ngày trực tiếp đến chăm sóc ông cùng với một người giúp việc. Ông tuy nằm liệt giường đã lâu vậy mà trông vẫn thanh mảnh, sạch sẻ lắm. Tôi cảm động nói với cô Đạm, thay mặt những bạn bè thân quen gần xa của nhà văn Võ Hồng, trân trọng cảm ơn cô.”(Để Làm Gì, trang 70).
Nếu như ông không có chút lòng làm gì có những chuyến đi rất xa xôi để thăm lom và nói lên được lời cảm ơn rất trân trọng dành cho cô Đạm, người học trò cũ của Võ Hồng?
Rồi tác giả “Để Làm Gì” cũng không quên những người bạn một thời xa lắm thuở hàn vi – có tới hơn bốn năm chục năm- khi nhắc về nhà văn Trần Hoài Thư với nhiều kỷ niệm khi đọc được câu thơ của người bạn mà “muốn rơi nước mắt”:
“Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc
Chuối mẹ chuối con, trời hỡi quê nhà!”
(Xa Xứ, Trần Hoài Thư)
Hai tiếng “trời hỡi” mới “cải lương” làm sao! Nhưng nó đã làm tôi muốn rơi nước mắt! Cải lương thật tuyệt vời!”
Rồi tác giả lại nhớ tiếp với một tấm lòng lúc nào cũng thương bạn:
“Bốn mươi năm trước, những ngày ở Nha Trang, tôi lang thang cùng anh trên bãi biển đầy những cơn sóng thịnh nộ giữa những ngày tháng bão bùng… Rồi ở Saigon, có lần tôi đèo anh bằng chiếc xe lọc cọc của mình đến tòa soạn Bách Khoa, nơi anh hò hẹn… Trần Hoài Thư là một chàng thư sinh nho nhã, vầng trán rộng quá khổ, đôi mắt hun hút sau tròng kính cận, những ngón tay lòng thòng, dáng đi lỏng khỏng… Anh là một kẻ “nòi tình”, dễ nước mắt, dễ giận hờn, dễ đắng cay…
Bốn mươi năm không gặp lại. Anh vẫn nhắc tôi món bánh cuốn nóng ở cạnh nhà mình mà hôm đó anh và tôi ra ngồi bên lò lửa từ rất sớm, để tiễn anh đi, không, tiễn anh về. Về nơi gió cát. “Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao”. Không cầm lòng được, hôm đó tôi đã viết cho bạn:
“Ta cũng muốn ngâm tràn câu tống biệt
Đưa người đi tiếng sóng ở trong lòng
Nhưng khói thuốc đã cay sè đôi mắt
Có ai còn thổi sáo trên sông.
Trời buổi sáng mù sương lớp lớp
Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời
Và khí phách thôi một thời trẻ dại
Ta nói gì cho bớt chút chia ly?
Đưa người ta nâng ly cà phê nhỏ
Rồi quan san rồi bụi đỏ người đi
Rồi khói súng người tập tành nỗi chết
Ta trở về hiu hắt đường khuya…”
…………..
(Đỗ Hồng Ngọc, 1972)
Nhắc tới tấm lòng của Đỗ Hồng Ngọc dành cho những người cũ, tôi không thể không nhắc đến “Sến Già Nam” trong Để Làm Gì. Theo đó, “Sến Già Nam”, “Sến Già Nữ” là một phát hiện rất tình cờ của tác giả khi nghe người ta gọi những băng nhạc Boléro một thời! Và tác giả dành một chút lòng của mình nghĩ về những ca khúc đi vào lòng người cùng các nhạc sĩ, ca sĩ đã từng hát những điệu nhạc ấy mà buồn man mác, xa xăm…
Với tác giả, nhạc chỉ có hay hoặc dở thôi, không cần biết “sến” hay không “sến” gì ráo trọi:“Còn tôi, tôi chỉ biết nhạc hay hay dở với mình mà thôi. Hay là thứ làm tôi “rung động sáu cách” (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý)…, còn dở là nhạc “nghe không vô”!”
Và tác giả còn dẫn ra nhiều bản nhạc theo anh là rất hay như“Chiều làng em” của Trúc Phương;“Mộng ban đầu”của Hoàng Trọng, làm sao quên được; rồi “Lối về xóm nhỏ”của Trịnh Hưng; đặc biệt với bản nhạc “Tình lúa duyên trăng”của Hoài An, có những câu như:
“Quê hương ta đất xưa vốn nghèo
Nhưng giàu tình thương nhau
Biết yêu lúa mầu xa cuộc đời cơ cầu
Gái trai biết làm tròn lời thề khi ban đầu”
Và tác giả tự hỏi mình mà cũng để hỏi người và hỏi đời:
“Tôi không hiểu vì sao những lời ca đầy tình quê hương, đất nước, tình gia đình, tình gái trai “biết làm tròn lời thề khi ban đầu” như vậy mà “sến”được?”
(Để Làm Gì, trang 57).
Đến như “gió bấc” mang hơi lạnh về vào những ngày gần giáp Tết thôi, qua câu thơ của chính mình làm vào năm 1970, tác giả cũng làm người đọc có lẽ cũng sẽ mềm lòng cùng ông về một thời nhung nhớ ấy:
“Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ
Năm nay người có vềăn Tết
Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?…”
(Mũi Né, Đỗ Hồng Ngọc 1970)
“Gió bấc, rất lạ. Nhớ không? Thứ gió thổi lốc qua người, dán sát vào da người như có chút hỗn xược ớn lạnh làm nhớ cơn sốt rét rừng thường chuyển mùa trong Tết, với hương cốm hộc, mứt gừng, mứt bí… rồi bánh căn, bánh xèo, bánh kẹp, cơm gà, bánh canh chả cá… của một vùng biển mang mang mùi nước mắm, những ai nghe quen thì đâm ghiền nặng… rồi sông Cà Ty – Mường Mán, con đường Gia Long đi mãi không cùng, với đường Trưng Trắc Trưng Nhị ôm sát dòng sông nhớ không?
Cho nên với tôi, gió bấc là Tết, là tuổi thơ, là Phan Thiết, là Mũi Né, là Rạng, là Lagi, là Kê Gà, là Tà Cú…
(….)
gió bấc mùa thơm ngát
bâng khuâng một mái nhà
biển xanh lùa sóng bạc
cát vàng hoàng hôn xưa…”
(Quê Nhà, ĐHN)
Và, Tết:
Đi giữa Sài Gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết
Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay Xuân về
Vỡ òa ngực biếc…
(Gió bấc, ĐHN)
Vậy đó, cho nên về Phan Thiết Mũi Né Lagi… mấy ngày chẳng qua để tìm thứ gió quen mà lạ đó. Và để nghe cái Tết tuổi thơ thấm vào trong da thịt, trong nhớ nhung…”
(Để Làm Gì, trang 157)
Ở một cái nhìn khác về sự nhọc nhằn và bền bỉ của những chuyến phà với biết bao mùa mưa nắng dông gió bão bùng bập bềnh trên những bến nước chỉ để chờ đưa rước khách bộ hành qua sông, có khi tuổi đời mỗi bến phà như vậy dài đến cả trăm năm, rồi ra một ngày nào đó nó sẽ chẳng còn lại gì, tác giả đành nhũ lòng“Tôi thấy tôi thương những chuyến phà”:
“Tôi thấy tôi thương những chuyến phà
Ngàn đời không đủ sức đi xa…
Phà ở quê mình thì khác. Hằng trăm năm nay vẫn ì ạch nối đôi bờ. Thế rồi một hôm bỗng bị người ta vứt lên cạn. Xẻ thịt. Bán ve chai… Không ai còn cần tới nữa! Người ta nay đã có cầu. Những chiếc cầu ngạo nghễ, nghênh ngang vươn giữa dòng sông. Nhưng, hãy đợi đấy! Với tình hình hiện nay, đến một lúc khi mà “sông kia rày đã nên đồng” thì những cây cầu cũng sẽ bị xẻ thịt, bán ve chai… (…)
Phà đúng là ngàn đời không đủ sức đi xa! Chỉ bờ này bến nọ. Nối những niềm vui, những nỗi buồn, những đợi chờ… (…) Phà chẳng những không đủ sức đi xa mà còn không đủ sức đi mau. Nó ì ạch một cách dễ thương. Ai vội vã mặc ai. Nó cứ ì ạch, khệnh khạng, làm như không nỡ rời bến, không nỡ cặp bờ… Há mõm thật to bên này nuốt gọn dòng người dòng xe rồi há mõm thật to bên kia nhả dòng người dòng xe ra cứ như một con quái vật hiền lành.
Và những chuyến phà trăng. Nó ì ạch chở trăng đi. Nó nhích từng bước như sợ trăng tan. Lòng người cũng nhẹ tênh, dãi cùng trăng sáng.
(Để Làm Gì, trang 164)
Bao giờ và đời nào cũng vậy, trong dòng đời rồi ra có những lúc vật sẽ đổi và sao sẽ dời, có những khi người ta cần mình và có những lúc người ta cũng sẽ quên mình; nhưng biết bao lần có biết bao người đã đi qua những chuyến phà trên khắp các bến sông có ai còn nhớ những nhọc nhằn chìm nổi của những chuyến phà trên các bến nước ấy? Bạn đọc những chuyến phà qua lời tâm sự của tác giả, đến một lúc nào đó nó sẽ hết thời, sẽ thành sắt vụn mà bạn không thấy lòng mình cảm động lắm sao?

Đỗ Hồng Ngọc và Hai Trầu (Cafe Đông Hồ, Saigon 2017)
Rồi ngay cả tới những mùa màng ngày cũ, cách nay có tới sáu bảy chục năm, khi nghe người nhà quê già như tôi kể chuyện công việc đồng ruộng mùa màng của mình ngày xa xưa ấy, dù chưa quen biết nhau lâu, dù tác giả học hành thành tài và hành nghề bác sĩ hơn năm chục năm ở Sài Gòn nhưng với lòng từ tâm của một bậc thức giả có lòng, giống như ngày xưa Nguyễn Khuyến lúc nào cụ cũng vui với cái vui của người nông dân và buồn với cái buồn của họ, Đỗ Hồng Ngọc qua bài “Còn thương rau đắng” rất cảm động, rất chí tình sau khi đọc Mùa Màng Ngày Cũ của Lương Thư Trung:
“Bạn có bao giờ Xúc Lùm, Nhảy Hùm, Quậy Đìa, Xuống Bửng, Đặt Lợp, Đặt Lờ, Đặt Rù, Chận Ụ, Làm Mùng, Bắt lươn, Bắt lịch… chưa? Chưa hả? Thì không có gì tốt hơn đọc Mùa màng ngày cũ của Lương Thư Trung tức Hai Trầu đi! Tôi ở miệt biển, Lagi, hồi nhỏ thỉnh thoảng mới được về quê ngoại ở Phong Điền theo người ta tát đià bắt cá, cắm câu… mê lắm, nhưng quả thực đọc Hai Trầu mới biết ở miền Tây đời sống người dân quê mình nhiều sinh hoạt phong phú biết chừng nào!
Miền Tây, hai tiếng thôi đã nghe lòng nôn nao nhớ một bài hát cũ: “… Có ai về miền Tây/ Lúa mùa thơm thơm mãi/ Dừa xanh nghiêng chênh chếch/ Cá ngược dòng sông đầy…” (Y Vân). Cá ngược dòng sông đầy nên mới có Xúc lùm, Quậy đìa, Chặn Ụ, Làm mùng và mới có Mùa xạ lúa, Mùa cấy lúa, Mùa bắp, Mùa đậu… Về miền Tây, để ngẩn ngơ mấy cây cầu khỉ, ngẩn ngơ những chuyến phà ngang: “Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba/ Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm/ Qua bến bắc Cần Thơ…” (Trần Thiện Thanh). Về miền Tây, còn đó thứ tình nghĩa chân thật dù vật đổi sao dời… nên mỗi lần đọc lại Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam, đọc lại Ba anh em nhà họ Điền, chuyện Lưu Bình Dương Lễ không sao không cảm thấy lòng rưng rưng!”
(…)
“Sáu bảy mươi năm, mới thôi, mà đã quá xa! Ngày nay, toàn cầu hóa, thế giới phẳng, một sát na đã qua là một pháp giới khác. Ai còn nhớ đến chuyện quê xưa?
Mùa Màng Ngày Cũ với tôi là một chút tình quê, một “khung trời kỷ niệm”, một “rau đắng nấu canh” (Bắc Sơn)!”
(Để Làm Gì, trang 128)
Tóm lại, qua 65 đề tài với hơn 400 trang sách, tác giả đã đề cập về mọi khía cạnh khác nhau của đời sống, từ con người tới thiên nhiên, cây cỏ, từ những tình cảm dành cho bạn bè thân thiết mấy chục năm cho chí đến những chuyến phà, những cây cầu khỉ, những bến sông, đâu đâu người đọc cũng đều bắt gặp bàng bạc một tấm lòng của tác giả về những cảnh đời qua nhiều màu sắc ấy!
Theo thiển ý quê mùa của mình, tôi nghĩ viết sách hay, không cần phải cố làm cho văn hay, mà cũng không cần phải cố ý mang vào sách một thứ đạo lý hoặc một thứ triết lý cao siêu nào đó trong các trang sách của bạn mà chỉ cần dành cho đời một tấm lòng cảm thấu chân thành của mình, chừng đó thôi, bạn đã làm nên tác phẩm giá trị rồi! Và tôi nghĩ, sách “Để Làm Gì” nói riêng và nhiều tác phẩm khác của Đỗ Hồng Ngọc nói chung, được nhiều người tìm đọc, có lẽ một phần chánh yếu là nhờ vào tấm lòng trắc ẩn, hiểu đời, thương đời của một bậc thức giả luôn bàng bạc trên khắp các trang sách của tác giả vậy!
HT
Houston, ngày 26 tháng 7 năm 2020.
