CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Mấy hôm nay nhận được rất nhiều lời CHÚC TẾT của bạn bè anh em, nơi gần nơi xa với nhiều hình ảnh, thơ ca, tranh vẽ rực rỡ, đẹp tươi… cho một NĂM MỚI TÂN SỬU 2021.
An Vui, Hạnh Phúc,
“Không, chăn trâu sướng lắm chứ!” (QVGKT)

Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Mấy hôm nay nhận được rất nhiều lời CHÚC TẾT của bạn bè anh em, nơi gần nơi xa với nhiều hình ảnh, thơ ca, tranh vẽ rực rỡ, đẹp tươi… cho một NĂM MỚI TÂN SỬU 2021.
“Không, chăn trâu sướng lắm chứ!” (QVGKT)

Thư gởi bạn xa xôi
Bạn hỏi Ngày Tết tôi làm gì ư? Không làm gì cả. Với tôi bây giờ, ngày nào cũng là Tết, ngày nào cũng là Ngày Tết. Có gì khác nhau đâu?
À mà nói vậy khó hiểu quá! Phải ngoài 80 một chút, như tôi bây giờ (có người còn bảo là U90!) thì mới hiểu.
Tuy vậy, cũng có vài chuyện “rất Tết” kể bạn nghe vui thôi nhe. Hôm qua, một người bác sĩ học trò cũ (mới ngoài 50) đặt một câu hỏi với tôi: Nhiều lúc em thấy giận con em quá, em phải làm gì thưa Thầy? Có cách nào chữa trị cái giận không?
Tôi trả lời: Em giận con em quá hả? Tốt lắm. Trước hết nó làm em đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột, các hormone xuất tiết ào ào, huyết áp tăng cao, đường huyết tăng cao, và nếu em… ráng nuốt giận xuống bụng, lâu ngày thành ung thư đại tràng…
Thực ra có vài ba món thuốc em thử xem:
Một là em thử thở chánh niệm. Hít một hơi sâu và “dõi theo” (không phải theo dõi) hơi thở của em đi từ mũi xuống huyệt đan điền dưới rún, ấy là lúc cơ hoành được đẩy xuống như em biết. Sau đó thở ra nhẹ nhàng từ từ bằng cách đưa cơ hoành lên và cũng dõi theo hơi thở ra đó. Sau đó lại có một quãng ngừng trước khi thở tiếp. Điều quan trọng là chú ý tới hơi thở “vào-ra-ngừng” đó của mình… Cái hay là khi đầu óc mình “bận bịu” với chuyện dõi theo hơi thở này thì mình… quên chuyện giận! Não mình nó vậy. Khi chỗ này được kích hoạt thì chỗ kia tắt ngấm, nhớ không?
Hai là em bắt “Ấn”… Cũng vậy. Tập trung vào một ấn nào đó, ấn Từ, Bi, Hỷ, Xả chẳng hạn… thì em sẽ quên giận. Nhớ coi, hồi nhỏ những lúc em cho con bú, thiếu sữa, nó cũng cắn em tưng bừng đó thôi, mà em đâu có giận hờn gì phải không?
Ba là… niệm “Chú”. Chú nhiều lắm. Em có thể đặt riêng cho mình một câu “thần chú” mà không ai biết để tự chữa bệnh cho chính em. Còn không, em niệm câu thần chú sẵn có và rất hiệu nghiệm: OM MANI PADME HUM. Trong đó chữ OM có thể hiểu là AUM, tập trung vào 3 giai đoạn hơi thở như trên nói. MANI là Ngọc “Ma Ní”, trong suốt, phản ánh tất cả màu sắc bên ngoài nhưng không lưu giữ bao giờ. PADME là hoa sen và HUM, là “như nguyện” “thành tựu”…
Vậy đó. Em bây giờ dạy con nào học ăn học nói học gói học mở, nào ăn coi nồi ngồi coi hướng, nào… nào… bao nhiêu là thứ mà em gọi là kỷ luật, là nếp nhà… làm nó mệt mỏi, phản đối. Thiệt ra chỉ cần truyền cho con “nội lực”, còn “chiêu thức” nó sẽ tùy cơ ứng biến. Nội lực là “ngũ giới” đó thôi: Không sát sanh/ không trộm cắp/ không nói dối/ không tà dâm/ không nghiện ngập… Giữ được các “giới” này là đủ cho con sống an vui, hạnh phúc để vào đời!
Mọi sự vô thường, nhớ không? Em bây giờ như “cá nước ngọt”, còn con như “cá biển”.
Cá biển với cá nước ngọt mà cứ hục hặc nhau hoài… cũng ngộ chớ phải không?
Chuyện vậy đó, kể bạn nghe cho vui thôi nha.
Hẹn thư sau,
Đỗ Hồng Ngọc.
Đỗ Hồng Ngọc
Có người hỏi vì sao tôi không phải là bác sĩ lão khoa mà lại dám viết về… người già, nào Gió heo may đã về, nào Già ơi chào bạn, nào Già sao cho sướng…? Đúng vậy, tôi là một bác sĩ nhi khoa, bác sĩ của trẻ con, nhưng sở dĩ viết về người già là bởi vì trước sau gì mấy nhóc nhỏ mà tôi đã và đang khám chữa bệnh cũng sẽ trở thành một người già, một ngày nào đó! Hơn năm mươi năm trước khi tôi thực tập ở bệnh viện Từ Dũ, đã có dịp đỡ đẻ cho một số trẻ sơ sinh, bây giờ nhớ lại, các nhóc đó tuổi cũng đã “gió heo may” rồi còn gì! Còn mấy bệnh nhi tôi có dịp chữa trị ở Bệnh viện Nhi đồng Saigon và tại phòng mạch hằng mấy chục năm qua thì bây giờ cũng đã lại thấy mang con và cả cháu nữa đến khám bệnh. Cho nên làm gì có chuyện cách ngăn tuổi này tuổi nọ tuổi kia. Cuộc sống như một dòng sông đó thôi.
Lão khoa, nhi khoa…chẳng qua là một cách nói! Có người chưa hai mươi mà đã già…khú đế, có người tám mươi còn phơi phới tuổi xuân. Một thầy thuốc đàn anh của tôi thường nói : “Hãy chăm sóc các cụ từ trong bụng mẹ”! Đúng vậy, đợi các cụ ngáp ngáp rồi mới “tận tình chăm sóc” thì e rằng quá trễ, chẳng giúp ích được gì cho cuộc sống của họ, chẳng giúp các cụ thêm vui, thêm khoẻ, thêm hạnh phúc…
Tổ chức Sức khoẻ Thế giới (WHO) khi đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho Năm quốc tế người cao tuổi, (1999) cũng đã khuyến cáo muốn cho các cụ được khoẻ mạnh thì phải cho Mẹ…các cụ được dinh dưỡng tốt trong lúc mang thai, trong lúc cho các cụ… bú mớm; phải chích ngừa đầy đủ các bệnh nguy hiểm ngay từ nhỏ để các cụ không phải chịu cảnh tật nguyền bệnh hoạn sau này; phải dạy dỗ các cụ từ tuổi thiếu niên như không uống rượu, không hút thuốc lá… để các cụ sau này khỏi bị ung thư phổi, viêm phổi tắt nghẽn mạn tính, xơ gan cổ trướng; giúp các cụ có thói quen tập thể dục, chơi thể thao, ăn uống đúng cách để sau này khỏi bị xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường v.v…Rồi khi lớn lên thì tránh các nguy cơ bệnh lây truyền qua đường tình dục, tránh béo phì, loãng xương, thấp khớp…Và dĩ nhiên đảm bảo cho các cụ có một thu nhập hợp lý để không bị lệ thuộc, để sống có phẩm giá, tiếp tục hoạt động theo năng lực, đóng góp kinh nghiệm của mình cho con cháu, được sự tôn trọng của xã hội, được thấy con thuận cháu hoà, gia đình hạnh phúc. Dĩ nhiên là bản thân các cụ phải hiểu rõ những chuyển biến tâm sinh lý của mình qua từng lứa tuổi, nhờ đó mà thích nghi, mà điều chỉnh thái độ và hành vi của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới, với môi trường mới. Tóm lại, chăm sóc các cụ, nói cách nào đó, thực chất là công tác của … Nhi khoa. Hoặc cũng có thể nói nhi khoa chính là lão khoa, và lão khoa cũng chính là nhi khoa đó vậy! Ngành lão khoa ngày càng phát triển vì tuổi thọ con người ngày càng được nâng cao, không chỉ ở các nước giàu có mà ngay ở cả các nước nghčo cũng vậy là nhờ những tiến bộ của khoa học, của y học, của kiến thức vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ cũng như hiệu quả của sự cải thiện môi trường sống, của chế độ dinh dưỡng hợp lý…Thế nhưng, khi nói đến lão khoa, hình như người ta quá nặng về bệnh hoạn, về tàn phế hơn là đến sự sảng khoái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội phù hợp với tình trạng tuổi tác, giới tính, chất lượng cuộc sống của họ. Các thầy thuốc lão khoa cũng thường lại là những thấy thuốc trẻ, họ tuy có chuyên môn sâu trong chữa trị bệnh tật cho người cao tuổi nhưng chưa từng được trải nghiệm tuổi già, chưa được thưởng thức…cái già, chưa được hưởng thụ …cảnh già! Khi tôi viết cuốn “Gió heo may đã về” thì đó là lúc tôi đang thực sự nghe gió heo may, tôi đang sống với nó, sửng sốt và sảng khoái vì nó, âu lo và hồi hộp vì nó. Tôi hiểu được nỗi khắc khoải “tôi ơi đừng tuyệt vọng”, nỗi bâng khuâng “tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe im lặng của tôi…” của Trịnh Công Sơn, và những bạn bč trang lứa. Nhưng phải đợi đến tuổi 60, tôi mới dám viết “Già ơi…chào bạn” – “Bonjour Vieillesse!”- như một tiếng reo vui, chào mừng nó, cái sự già đó! Đâu dễ mà già phải không? Đến tuổi 75, tôi mới dám viết “Già sao cho sướng?”…
Cho mãi đến cuối thế kỷ 20, năm 1999, Liên Hợp Quốc mới có một “Năm” dành cho người cao tuổi, người già trên toàn thế giới, gọi là “Năm quốc tế người cao tuổi” với khẩu hiệu là “Hãy sống một tuổi già tích cực” , bởi vì trước đó người ta chỉ nghĩ tuổi già là tuổi của tàn phai, héo úa, ăn hại, là gánh nặng xã hội…cho đến khi giật mình thấy không phải vậy! Con người ở tuổi nào cũng sẽ là gánh nặng cho xã hội, cũng ăn hại, cũng tàn phai… nếu sống không ra sống, sống mà như đã chết, sống mà không hạnh phúc, không có chất lượng cuộc sống, sống mà lệ thuộc, mà khổ đau triền miên…
Ngàn năm trước, ở nước ta, vào thời nhà Lý, Mãn Giác thiền sư đã có những câu thơ còn lưu truyền mãi đến nay với một cái nhìn tích cực về tuổi già:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai…
( Mãn Giác, 1052-1096)
Xuân ruỗi trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già tới rồi
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai…
(Ngô Tất Tố dịch)
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết! Thật vậy. Vẫn còn đó, nơi sân trước kia, đêm qua, một cành mai vàng rực rỡ đã nở, báo hiệu một sức sống mãnh liệt vẫn dâng tràn… Vậy đó, můa xuân dů đã phai, cành mai sân trước vẫn nở tươi thắm. Nụ cười vẫn lạc quan, cuộc sống vẫn tích cực, chủ động và sáng tạo không ngừng nếu những người có tuổi được chuẩn bị trước để hiểu rõ sự đổi thay , để chấp nhận, để điều chỉnh, tưới tẩm những niềm vui cho chính bản thân mình, cùng với sự ý thức giúp đỡ của gia đình và xã hội thì sẽ giúp họ có một cuộc sống đầy chất lượng, nhiều hạnh phúc.
Theo WHO : “Sức khỏe của người già là phát triển và duy trì được sự sảng khoái và hoạt động chức năng tốt nhất về tâm thần (mental), xã hội (social) và thể chất (physical)”.
Phát triển và duy trì được sự sảng khoái (well-being) và hoạt động chức năng (function) , bởi đa số các hoạt động chức năng xài lâu quá đều rệu rả, phần lớn đã “quá date”, dễ cảm thấy chán nản, tuyệt vọng, lo âu, trầm cảm… nói khác đi là khó mà… hạnh phúc. Thể chất thì “ba cao một thấp” (ba cao là cao máu (HA); cao đường (Tiểu đường); cao mỡ (Cholesterol xấu); còn một thấp là… Thấp khớp) đã đành mà tâm thần thì tám vạn bốn ngàn phiền não! Cho nên đưa vấn đề “tâm thần” lên hàng đầu là hoàn toàn hợp lý so với định nghĩa về sức khỏe ở người trẻ.
“Khổ” thì dĩ nhiên không thể có hạnh phúc. Con đường của Phật là con đường “Diệt Khổ”, con đường dẫn đến giải thoát.
Ở góc độ y sinh học, tâm lý xã hội học, thì những điều kiện để có một tuổi già hạnh phúc gồm:
Có sức khỏe tương đối ;
Tài chánh tự chủ;
Nhà ở an toàn; an ninh, môi trường thuận lợi;
Tự tại: chủ động sắp xếp cuộc sống riêng của mình,
Duy trì các mối quan hệ gia đình/ bè bạn;
Có ký ức tốt về tuổi thơ và tuổi thanh niên,
Hoạt động phù hợp để thấy luôn sống hữu ích;
Gần gũi với thiên nhiên;
Hiểu luật vô thường và biết “Từ bi hỷ xả” với chính mình!
Cũng có thể nhìn theo Tháp MASLOW:
a) Nhu cầu sinh học: gồm những vấn đề cơ bản của tồn tại như : Ăn, Ngủ, Thở, Tình dục… (physical well-being).
b) Nhu cầu an toàn: nhà ở an toàn, môi trường xã hội tốt đẹp, an ninh, bảo đảm về kinh tế, đời sống quân bình…
c) Nhu cầu xã hội (social well-being): các mối quan hệ xã hội trong gia đình, hàng xóm, cộng đồng tốt đẹp…
d) Nhu cầu tự khẳng định: để luôn có được tôn trọng, đóng góp theo công sức cho xã hội, thấy mình sống có ích…
e) Nhu cầu tâm thần, tâm linh (mental well-being): hướng thượng, có một tôn giáo lành mạnh, tin tưởng ở sự sống thiện, nhân quả, nghiệp báo…
Có thể nhìn ở góc độ “Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức” ta cũng có thể hình dung gần giống với Tháp Nhu cầu của Maslow, và nếu có Chánh kiến để thấy Vô Thường/ Khổ/ Vô ngã/ Không/ Duyên sinh… thì đã có thể “độ nhất thiết khổ ách” rồi vậy!
(ĐHN)
Từ Quang, tập 35, Xuân Tân Sửu 2021
“Trò chuyện” với Cao Huy Thuần vài điều về cuốn SEN THƠM…
Anh Cao ơi,
Tôi đang đọc “mê man” cuốn sách mới của anh đây. Người đưa đò quá hay. Nhất là “mong manh” “tro bụi” và phần ngoại truyện. Tôi có hơi tiếc một chút: giá mà anh dịch theo giọng xưa của 20 thế kỷ trước thì càng thấm thía. Anh nói anh cố dịch sát, nhưng giọng mới quá, thành tưởng… của anh viết? Hay ông Lucien de Samosate… là Cao Huy Thuần giả bộ gạt độc giả là tui? Hy vọng Sharon sẽ được chở nhẹ một phen!
Lúc này đọc anh không biết đâu mà rờ, y như hai Tôn hành giả đánh nhau giữa thời buổi “Tin giả này mới là tin giả thật”.
DHN
(14.01.2021)
–…………………………………………………………………………..
Anh Đỗ ơi,
Ôi, vui biết bao khi đọc thư anh, biết anh “mê man” bài “Người đưa đò”. Đó là bài mà tôi lo nhất, sợ độc giả không theo dõi được một (bi) hài kịch.
Đi vào chi tiết một chút để trả lời thư anh:
– Tôi dịch rất sát nguyên văn. Khó nhất là phải lột cho được cái giọng tếu thú vị, nếu không thì chẳng còn gì hấp dẫn.
– Nhưng khó hơn nữa là phải sát, phải tếu, nhưng phải là giọng văn của thời đại này, chớ nếu cổ lổ sĩ thì khó mà lôi kéo độc giả đi theo. Rất may là giọng văn của nguyên văn rất hợp với giọng văn (tếu) của CHT. Anh nói không biết thật giả là CHT rất khoái. Rất thật đấy nhưng cũng rất CHT.
– Nguyên văn của câu chuyện là dựa trên thơ của Homère, do đó trong nguyên văn không cần phải giải thích bao nhiêu là chi tiết thần thoại. Tôi phải giải thích như thử là tác giả viết. Do đó, phần giải thích ấy là phần thêm của tôi, nhưng thêm mà không phản với nội dung và văn khí. Thêm thế nào cho trơn tru như nước chảy xuôi dòng, không vướng ngại.
– Nói tóm lại, anh không phân biệt thật giả là tôi mừng. Rất thật vì tôi không phóng tác. Nhưng rất “tôi”.
– Cho nên “tôi” là “tôi” trong ngoại truyện. Thật chăm phần chăm.
Cám ơn ĐHN.
CHT.
(14 Jan 2021)
………………………………………………………………………………..
Anh Cao ơi,
Tôi thấy cần nói rõ với anh thêm: thí dụ Nguyễn Du mà “dịch” theo văn bây giờ sẽ hết hay! Kim Dung mà dịch huynh với muội thành anh với em cũng hết hay. Cho nên trừ phi anh cố tình “lộng giả thành chơn” thì dịch một tác già 20 thế kỷ trươc băng văn phong hiện đại cái đau mới quá, chưa mưng mủ, chưa thấm thía, giá mà cái đau đó nó đã 2000 năm thì thú vị hơn, đau hơn cho kiếp người…! —
À anh đã đọc “Sách ở trên đường” viết về Đường Sách của tôi chưa?
ĐHN
(15.01.2021)
………………………………………………………………………………..
Anh Đỗ ơi,
Tất nhiên là tôi đã đọc “Sách ở trên đường” viết về Đường Sách của ĐHN rồi chớ! Tuy rằng mắt đã dở lắm rồi. Đánh máy mail cho bạn phải đọc lui đọc tới mỗi câu kẻo sai bét.
“Đường sách” còn thiếu nét họa của ĐHN tuy rằng nhìn photo vẫn mê quá. Có lẽ cũng thiếu một bài thơ. Nó nằm nhớ thơ ĐHN đó.
CHT
(15 Jan 2021)
……………………………………………………………………………………
Anh Cao ơi,
Đọc bài Thì thầm của anh, tôi phục lắm. Nói chuyên “Bát Nhã”, chuyện “Bát bất”, chuyện “Có Không” như vậy là… rạch ròi và thuyết phục. Lăng Già chỉ gút một câu:
Trí bất đắc Hữu Vô
Nhi hưng đại bi tâm.
Tôi nhớ Vũ Khắc Khoan trong cuốn Đọc Kinh có nhắc một bài thơ cổ, không biết ai là tác giả:
Chàng như mây mùa thu
Thiếp như khói trong lò
Cao thấp tuy có khác
Một thả cũng tuyệt mù…
Dĩ nhiên anh và tôi không phải “chàng” với “thiếp”, nhưng một thả là vậy!
Vì anh nhắc thơ ĐHN, nên gởi anh bài này nghe chơi (mắt kém thì tai thính?):
CÓ KHÔNG, thơ Do Hong Ngoc, nhạc Hoàng Quốc Bảo, tiếng ca Thu Vàng.
Những hình minh họa là do tôi chụp trong chuyến đi Nepal 2018: Hy-Mã-Lạp-Sơn, Lâm-Tì-Ni và Ca-Tỳ-La-Vệ…
https://www.youtube.com/watch?v=I–qslaDEUM&feature=youtu.be
ĐHN
(SG 17.01.2021)
………………………………………………………………………………….
Reply của CHT
Tôi không biết câu trong Lăng Già, như vậy là học được từ anh, anh trích là đúng quá, tất cả nằm trong đó.
Mấy câu thơ, tôi cũng đã đọc, không biết từ đâu, vẫn tưởng là thơ cổ vì có “chàng” và “thiếp”, và vẫn tưởng là thơ Đường dịch ra. vì có chữ “thả” hơi ép, nhưng “một thả” thì lại mới và hay.
Thơ của ĐHN rất hay, giọng hát của Thu Vàng hợp quá, vì hay và vì chắc là thấm bài thơ. Ít khi tôi nghe phổ nhạc 4 câu mà đạt như vậy. Mà lại là nhạc đạo – vừa đạo vừa mới. Giọng hát bay lên, đúng là “một thả cũng tuyệt mù”.
Viết mà có “nữ thần Tiếng Dội” vọng lại từ ĐHN, hạnh phúc quá.
CHT
(17 Jan 2021)
9.1. 2021
Kỷ Niệm 5 Năm Đường Sách Sài Gòn

(“Nhà Dài”, Đường Sách Saigon, ảnh ĐHN 2021)
tặng Mây Hồng
Tôi mê Sách ở trên Đường nên sau này mê cả Đường Sách.
Tuần nào gần như tôi cũng có mặt ở Đường Sách.
Làm gì ư? Không làm gì cả. Chỉ để dòm, để ngửi, để nghe, để ngóng…
Và… để nhớ. Nhớ gì? Nhớ những ngày mới lên mười, sống trong một ngôi chùa nhỏ với Cô tôi ở Phan Thiết. Cô tôi bị thương tật gãy cả hai chân vì tai nạn xe lửa trong thời chiến tranh. Hàng ngày tôi có nhiệm vụ đi qua đò mượn sách bên kia sông Cà Ty hoặc đến một nhà cho mướn sách nào đó ngoài phố. Cô cấm tôi đọc sách vì con nít mê sách sẽ làm biếng học. Tôi đành vừa đi vừa đọc trên đường, hoặc ngồi dưới bóng me, góc chùa, đọc hết cả cuốn mới về đến nhà…
Tôi lại nợ Sách trên Đường. Một lần về Saigon, lang thang trên đường Trần Hưng Đạo, trước rạp hát Eden, ai đó bày ra cả một… đường sách mênh mông, tôi vớ phải cuốn Kim Chỉ Nam Của Học Sinh (Nguyễn Hiến Lê, 1956), để rồi từ một cậu bé thất học, tôi… bơi vào bể học.
Tôi biết ơn sách và đặc biệt biết ơn Sách ở trên Đường. Tôi quen Quách Tĩnh với Hoàng Dung, Vô Kỵ Triệu Minh… trên đường Cao Thắng, Lê Văn Duyệt… Tôi biết Cửu âm bạch cốt trảo với Giáng long thập bát chưởng, Lăng ba vi bộ, Vô chiêu thắng hữu chiêu… từ ngày còn là một sinh viên trường thuốc.
Rồi sau 1975, đường sách cũ Đặng Thị Nhu là nơi tôi loanh quanh không mỏi mỗi chiều, vì nơi đó, ngoài sách, tôi còn được gặp biết bao bạn bè thân thiết, nào họa sĩ Cù Nguyễn, nào nhà thơ Trần Yên Thảo, nào… nào…
Khi viết sách lai rai, tôi nghiệm rằng sách vốn là… thuốc, viết sách là bào chế thuốc, bán sách là bán thuốc, đọc sách là uống thuốc, không phải chuyện chơi nhưng vẫn nhớ mãi sách trên đường…
Nên không thể không mê Đường Sách.
Năm năm nay có một cái Đường Sách rất dễ thương ở Sai Gòn. Nó dễ thương vì nó nhỏ xíu, nó làm cho mọi thứ trở nên thân mật và ấm cúng. Tôi luôn coi nó là một cái Nhà Dài nơi xứ Thượng, lợp bằng lá me, gia đình toàn là những người kỳ cục, nam phụ lão ấu đều như bị một thứ bùa mê… qua lại có khi va vào nhau, không cần xin lỗi vì mắt mũi cứ dòm ngó đâu đâu!
Thỉnh thoảng có những dây con nít được mấy cô mẫu giáo xinh đẹp dẫn đi cho ngửi mùi sách làm quen, có những bà đầm hở rún dắt ông tây bụng bự, có những người đẹp trình diễn xuyên thấu…, có cụ già trên chín chục, xách laptop ra gõ những dòng thơ tình đắm đuối, có những bạn bè phương xa, vừa xuống máy bay đã kéo lê cả vali túi xách chạy về Nhà Dài cho đúng hẹn…
Còn có những buổi trò chuyện ngoài trời ở Nhà Dài cho ông đi qua bà đi lại lõm bõm nghe. Có nhà văn trẻ ký tên tặng sách mỏi cả tay, năn nỉ xin nghỉ vài phút để vào restroom…!
Nhà Dài theo tôi còn có vẻ nghiêm trang quá, bày biện trang trí kiểu cọ quá, thiếu chút bừa bãi dễ thương như Sách ở trên Đường ngày xưa, hay như dãy nhà dài dọc sông Seine ở Paris. Đặc biệt Nhà Dài thiếu các tủ kính bày chân dung cùng trang sách viết tay, bản sửa morasse ngoằn ngoèo… của những nhà văn, nhà thơ, triết gia, thi sĩ… Và còn thiếu những giỏ cần-xé to đùng đựng đầy sách… biếu tặng, mặc ai muốn lấy cuốn nào thì lấy…
Nhắp một ly capuchino ở một quán café Book quen thuộc nơi Nhà Dài, lặng nhìn từng cánh lá me bay bay và ngó những người bị “quỷ ám” lang thang, khệ nệ ôm một túi sách trên tay đủ để hạnh phúc cho một ngày ở Đường Sách hôm nay đó vậy.
Đỗ Hồng Ngọc.

Sách cũ bên bờ sông Seine, Pháp (ảnh Internet)

Hàng sách cũ Đặng Thị Nhu, Saigon (ảnh Internet)

Sách Đỗ Hồng Ngọc cũng có mặt ở quày sách cũ trên Đường Sách… hôm nay.
……………………………………………………………………..
Đọc bài “Sách Ở Trên Đường” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Hai Trầu Lương Thư Trung (Houston, 8 Jan 2021)
Không biết sao, khi tôi đọc “Tôi mê Sách ở trên Đường nên sau này mê cả Đường Sách.”, tôi nghe như đó là điệp khúc của một bản nhạc, “sách ở trên đường” rồi “đường sách” nó hòa vào nhau thành một, rồi nó trườn lên nhau như đợt sóng này trườn mình lên đợt sóng khác nơi bãi biển Nha Trang cách nay hơn nửa thế kỷ mà có lần tôi đã ngồi bên hàng dương với cát trắng mịn dưới chân, nhìn biển chập chùng…
Rồi tác giả lại viết: “Tôi lại nợ Sách trên Đường. Một lần về Saigon, lang thang trên đường Trần Hưng Đạo, trước rạp hát Eden, ai đó bày ra cả một… đường sách mênh mông, tôi vớ phải cuốn Kim Chỉ Nam Của Học Sinh (Nguyễn Hiến Lê, 1956), để rồi từ một cậu bé thất học, tôi… bơi vào bể học.”
(…)
Đặc biệt khi tác giả viết:
“Tôi biết ơn sách và đặc biệt biết ơn Sách ở trên Đường.”
Cảm động quá! Là một người nhà quê già và cũng có chút chút mê sách trên đường vì hồi đó sách bán trên đường gọi là sách bán “son” (solde) giá rất rẻ nên hợp túi tiền con nhà nghèo, nên tôi cũng lang thang qua những đường sách và cũng để dòm dòm ngó ngó coi chơi cho vui chớ đâu có tiền để mua dù sách giá rất rẻ ấy.
Với tác giả, một người già giặn, lão luyện trường đời đã nhận ra sách không chỉ là sách trong các nhà sách lớn khang trang trùng trùng điệp điệp như nhà sách Khai Trí, nhà sách Tự Lực trên đại lộ Lê Lợi, hay nhà sách Xuân Thu trong thương xá Eden (Sài Gòn) …, mà còn là sách trên đường với giá rẻ mà vẫn quý và từ đó, tác giả nghiệm ra rằng:
“Khi viết sách lai rai, tôi nghiệm rằng sách vốn là… thuốc, viết sách là bào chế thuốc, bán sách là bán thuốc, đọc sách là uống thuốc, không phải chuyện chơi nhưng vẫn nhớ mãi sách trên đường…
Nên không thể không mê Đường Sách.”
Với đường sách Sài Gòn, tác giả dí dỏm ví nó như nhà Dài của người Thượng vùng cao nguyên dù nó đang nằm giữa chốn đô thành:
“Tôi luôn coi nó là một cái Nhà Dài nơi xứ Thượng, lợp bằng lá me, gia đình toàn là những người kỳ cục, nam phụ lão ấu đều như bị một thứ bùa mê… qua lại có khi va vào nhau, không cần xin lỗi vì mắt mũi cứ dòm ngó đâu đâu!”
Tâm trạng này thì tôi có cái cảm được qua hai lần ghé ngang qua đường sách Sài Gòn mà anh gọi là Nhà Dài lợp bằng lá me nhỏ xíu ấy, nó rất đẹp và lãng mạn…
Lần đầu, vợ chồng tôi ghé ngang đường sách này với mục đích duy nhứt là để hy vọng tìm lại được chút gì về cái chất Sài Gòn xưa nó nằm trên những quầy “sách cũ”, ở đó có tuổi trẻ của tụi tôi hồi mới quen nhau rồi mãi tới những ngày dạo phố Sài Gòn vào những ngày cuối tuần hoặc chợ hoa giáp Tết cách nay hơn năm chục năm! Lần thứ hai, tôi trở lại đường Sách Sài Gòn qua hẹn gặp tác giả để ngồi nhăm nhi ly cà phê, như anh đã viết:
“Nhắp một ly capuchino ở một quán café Book quen thuộc nơi Nhà Dài, lặng nhìn từng cánh lá me bay bay và ngó những người bị “quỷ ám” lang thang, khệ nệ ôm một túi sách trên tay đủ để hạnh phúc cho một ngày ở Đường Sách hôm nay đó vậy.”
Vâng, đọc bài “Sách ở trên đường” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hôm nay (Saigon, 9.01.2021), tôi đã thấy được cái vui trong đôi mắt của tác giả mà cũng là dịp mình bắt gặp lại chính mình có một thời cũng mê tìm sách cũ, sách xưa và “sách ở trên đường” để biết mình cũng có một thời biết mê những con đường bán sách “son” (solde) ngày cũ nữa!
Hai Trầu Lương Thư Trung
Houston, ngày 08.1.2021
…………………………………………………………………
Cảm “Sách ở trên đường”
Minh Lê (Suối Tiên, Nha Trang)
10.1.2021
Đọc bài “Sách ở trên đường” của Anh Đỗ Hồng Ngọc, rồi bài cảm nghĩ của Anh Hai Trầu Lương Thư Trung, tôi thấy tôi bị “cảm” mất rồi. Ấy, “cảm” đây không phải cảm cúm của Covid-19, mà là đồng cảm và cảm kích.
Anh Ngọc mê Sách, nợ Sách, biết ơn Sách và trân trọng Sách, rõ ràng Anh coi Sách là người tri kỷ. Mỗi cảm xúc sâu nặng với Sách còn được “chứng minh” ngắn, rõ, sinh động, tiết tấu nhịp nhàng như một bài thơ. Anh còn nhấn mạnh “Sách ở trên đường”, vậy Sách-ở-trên-đường khác Sách-ở-trong-tiệm chỗ nào? Tôi cảm thấy sách ở trên đường gần gũi hơn, tự do hơn, lại thêm cái cảm giác “đãi cát tìm vàng”. Ai mê sách mà không từng có một thời hàn vi “vẫy vùng” trong những chồng sách cũ, kiếm ra được một cuốn mình thích thì mừng tới mức…khỏi ăn cơm? Nên dù kỷ niệm khác nhau, cảm nhận với Sách vẫn tương đồng.
Anh Ngọc mê “Sách ở trên đường”, nên mê luôn… “Đường Sách”. Tới đây phải cảm ơn Anh Hai Trầu Lương Thư Trung, hình dung của Anh về sự hòa lẫn của hai cụm từ này “như đợt sóng này trườn mình lên đợt sóng khác nơi bãi biển Nha Trang” rất sinh động và chính xác. Cũng bởi tôi là dân Nha Trang nên càng “cảm nặng” hơn một chút. Và vì Anh Ngọc mê Đường Sách, nên mới có mấy góp ý thiệt đáng giá cho Đường Sách. Tôi không ở Sài Gòn nên chỉ được ghé qua Đường Sách vài lần, vẫn thấy thiếu thiếu chút gì, giờ đọc xong liền thấy trúng ý quá. Nhứt là cái đề nghị “bày chân dung cùng trang sách viết tay, bản sửa morasse ngoằn ngoèo… của những nhà văn, nhà thơ, triết gia, thi sĩ…” và “chút bừa bãi dễ thương” trong việc trang trí và sắp xếp. Hai việc này, một gợi cho người ta nhớ tới người “mang nặng đẻ đau” ra Sách, một giúp tạo không khí thân mật và thoải mái trong Đường Sách để người ta càng lưu luyến. Nếu Sách là tri kỷ, thì Anh Ngọc ước mong Đường Sách sẽ thành chốn tri âm cho những người yêu sách.
Cuối cùng, ngoài bài viết rất “Đỗ Hồng Ngọc”, tôi còn khoái mấy bức hình minh họa, nhứt là hình chụp bộ sách của Anh Ngọc ở quầy sách cũ, mà bên dưới là cuốn sách lộ ra hai chữ “bụi đời”. “Cảm” thêm lần nữa! Giữa cõi trần ai mịt mù, mỗi lần đọc sách Anh Ngọc là một lần thấy lòng nhẹ nhàng, “bụi đời” dường như rơi xuống, lắng lại, để tâm thanh tịnh hơn. Hèn chi, Sách là thuốc, mà cái bịnh từ “bụi đời” mà ra này, chắc cũng chỉ có thuốc là Sách thôi.
Cám ơn Anh Đỗ Hồng Ngọc và Anh Hai Trầu Lương Thư Trung! Trời Suối Tiên (Khánh Hòa) giờ đang rất lạnh, nhưng có hề gì, bởi đã có nắng ấm từ lòng người “thiên lý hữu duyên”.
(ML)
Ngô Nguyên Nghiễm
Ghi chú: Trần Yên Thảo (Trần Ngọc Minh) là người bạn thiết từ thuở thiếu thời của tôi ở Hàm Tân, Lagi, lúc chúng tôi mới lên 7 lên 8, cùng sống trong vùng tản cư Cù Mi, Láng Găng, Giếng Ngự, Láng Hàng, Bàu Mưa, Rừng Khỉ… cùng sốt rét rừng, cùng suy dinh dưỡng, và thiệt ngộ: cùng viết lách, thơ thẩn… sau này.
Trần Yên Thảo “chuyên trị” lục bát từ những ngày chúng tôi có những tập thơ chép tay truyền nhau. Anh sống như một Ông đạo, râu tóc lênh đênh như vừa ở Núi tuyết Hymalaya về.
Tử Sinh Ca là tập thơ mới của anh, gồm 351 bài thơ lục bát 4 câu, theo tôi là rất “đáng nể”.
Và bài viết của Ngô Nguyên Nghiễm cũng thiệt hay!
Xin đa tạ.
Đỗ Hồng Ngọc.
(7.1.2021)

Trần Yên Thảo
TỬ SINH CA
Nxb Thanh Niên, 2020
Đọc TỬ SINH CA của TRẦN YÊN THẢO
*Ngô Nguyên Nghiễm
Trên lộ vắng, bước di hành vòng quanh mịt mịt trên một không-thời gian hiu quạnh của một kiếp người. Dù muốn thoát thai trở về một bản ngã sáng láng trong một vòng tròn luân hồi, hành giả chắc chắn phải hiểu rằng: Bước đi đốn ngộ chỉ dành cho một bừng ngộ mà a tăng tỳ kiếp mới hạnh ngộ một lần trong sác na đạo pháp.
Thiện căn của thi tập Tử Sinh Ca cũng hy vọng khai hóa, không thể gọi là cơ bản thiền hành cho một căn cơ đạo hạnh, vì tâm thức cũng chỉ còn vướng víu trong hữu vi. Điều chắc chắn, hành giả có ý niệm rải từng đóa hoa vô ưu trên dọc lộ trình đã bước qua, hy vọng như ngọn mộc đăng le lói trong khu rừng tịch mịch, mà người đi sau có lối bước về.
Chính vậy, khách quen chỉ muốn vén màn trên một quan điểm cổ sơ, về ý niệm Sinh Ca và Tử Ca, trong 12 nhân duyên hẹn gặp, dù không biết đến bao giờ thoát được vòng luân chuyển hằng sa?
Khao khát trên lộ trình bước lên bản ngã, hành trang là yếu tính của người lữ hành trong giai đoạn cập nhập vào hướng đạo. Giai đoạn chập chững nhập thân trong những bước sơ khai, tâm trí còn mờ mịt chưa định tâm nhớ quên, thất lạc mảnh trăng cổ đại một thời hữu vi còn không trong rừng già nẻo quê !
Vô tình lạc đến phố hoa, chân còn vướng mê muội giữa thánh phàm, mong một tiếng gọi chân thành từ quá khứ, nhưng bước đường thưa dần, làm sao trở bước lui chân. Hóa ra:
Cầm canh nhịp mõ đều đều
ban mai nắng đón về chiều gió đưa
Khiến cho trăm cõi sơ khai còn loạn mù sương khói, nên bước đi của kẻ lữ hành giữa đất trời quang lạnh, phải hiểu vì:
Đèn le lói suốt canh khuya
xới tung kinh kệ còn chưa vỡ lòng
Lẫn trong tiếng gió đêm thâu, mà từ vô thủy đến hiện tại, lão tiều vẫn còn ngẩn ngơ dưới núi. Lạc lỏng giữa đêm về, khách thầm tự nghĩ đã đành Phật chẳng nói gì/ xưa nay báo nghiệp có trì hoãn đâu ( ?).
Chính vậy, chỉ vì cần ao ước giọt nước trên đồng khô, hành giả chợt hiểu và bước đi:
Sơn chưa tận thủy chưa cùng
giấc Nam Kha đã cháy bùng ruột gan.
Lối về không tìm thấy, chân hoang bất chợt mất dấu cội nguồn, nhân dạng thay đổi theo từng bước đi. Thì thôi:
Bèo duyên mấy kiếp lạc bờ
gậy tre bình bát nương nhờ thập phương
ngựa về tháo bỏ yên cương
trên mê lộ hãy còn vương lụy phiền
Bao nhiêu kiếp nạn vấn vương từ bên kia tả ngạn, nên hành nhân còn ngơ ngác trong mịt mùng bốn phương. Bởi vì, tâm hoang còn lãng đãng trên đường cố lý. Muốn vô tình quên bẵng không màng vướng bận hữu thể, cho quang niên soi rọi được đường đi lối về:
Trăm sông xé nát mạch nguồn
………
Trải đời bất kể gai chông
thịnh suy chưa tỏ hưng vong chưa tường
……..
Lê la áo rách giày mòn
tới đây lụy những mối hờn con con
khi về rủ áo đầu non
ngoảnh trông dưới núi phấn son dập dìu
Mê lộ cuộc tình trần của hành giả, còn trong giai thể ba vá của một tiều tăng. Trên bước hội nhập làm sao sàng lọc tình và lý, khiến cuộc nhập thể đường trường còn nhiều phân vân trước hữu thể:
Long đong mấy bận nổi chìm
Hết ham bước tới chẳng hiềm bước lui
Vì rằng, trong cơn ảo giác của người ban sơ bước giữa đạo tràng :
Phụ phàng đâu phải chơi ngông
đóa hoa vô sắc nở trong vườn trần
Lành thay, chỉ là cơn mơ ảo diệu làm rối tung tâm thức khách du phương, vì hoa vô sắc cũng đâu bằng vô hoa. Nên, hành trình không thể là thi khúc tơ vương lộn mối, nên tử sinh thuyền đã ghé bờ/ hành nhân nấn ná còn chờ tiễn đưa. Tại sao vậy? Thế giới hằng sa, kẻ sơ đạo sao cứ ngoãnh lại nhìn về chân trời sau lưng. Khiến kỷ niệm vẫn là ảo giác hiện thực đã có, nhưng xòe tay ra xem, trong tay còn vướng đọng hình thể gì không? Nên ngồi chưa ấm chiếu vội vàng bỏ đi/ rạch ròi từng sợi lông mi/ cũng chưa thấu được lẽ nghi ngờ nầy. Chính vì vậy, hiễn dụ rõ rằng:
Mất còn có cũng như không
nên chi trời đất uổng công hẹn hò
từ vô lượng kiếp đến giờ
vượt sinh tử cũng tới bờ tử sinh
Trong chương Gót Tục bước vào những thi khúc:
Lang thang khắp cõi luân hồi
giữa cơn bĩ cực thấy đời đẹp hơn
đâu cần lánh ngụy tìm chơn
thoát ly sinh tử nào hơn kém gì
………..
Cầm bằng công lực kỳ khu
thách ai ép được lá thu đừng vàng
………..
Quanh đây chiếu lạnh gương mờ
chuyến đò hóa nghiệp còn chờ đưa ai
Ranh giới cõi tục, khiến miếu thiêng quạnh quẽ, quỷ thần đứng dưới mưa mà khóc òa. Sự hoang dại địa giới thổ cư của quỷ thần, lô nhô sắc đá, rơi nhào từng viên gạch rụng giữa thiên thu. Thì khác gì, mê trận đang bao quanh con người trong trận đồ đầy rẫy gót chân tục lụy còn quanh quẩn nhiều.
Gót chân sơ thiền như những bước chân sơ khai của trẻ mới lớn, chập chững bước đi tự tại trên từng vuông đất vô tâm, trên từng phiến đá vô tri… Người sơ đạo vẫn còn chập chờn trên gót tục. Từ giáp vòng cũng lộn về đây/dù xưa chẳng hẹn đến nay chẳng hò/ tử sinh cùng đốt một lò/ chòm ong lũ kiến dẹp trò quỉ ma. Quanh quẩn trong tư niệm, nên kẻ còn dạo gót tục trên một không gian tục lụy, ảo giác cho tư tưởng Vốn từ phiến đá vô tri/ dầy công điểm nhãn có khi nhập thần/chẳng qua nhân sự bày đàng/ đẫm mùi nhang khói dần dần hóa thiêng. Chính vì sơ hoang trên gót tục, nên người đi đối mặt kẻ về/ ngu ngơ thiện ác vụng bề cương nhu/ gót phàm lê lết cõi tu/ cần đâu tách bạch xuân thu hai mùa. Còn vương vấn trên bước du hành chưa tròn thiện ý, làm sao chẳng trầm tư hướng tới:
Đôi lần chùn bước tay du
phân thân hành giả muốn thu gậy về
trời tây hối đã gần kề
nặng vai công đức khó bề thối lui
Chắc chắn là vậy, không thể dừng bước hay phải tìm phương hướng để hoàn tu qua núi khác:
Một giây chểnh mảng ơ thờ
đò qua bến khác có chờ ai đâu
ai còn tưởng vọng bến sau
khó hơn núi dựng sông sâu mấy trùng.
Chuyển bước trong chương Những Vì Sao Bỏ Ngôi, bước qua thời dù đã xa bờ người khách lữ dù rằng âm thanh đời trước bây giờ còn nghe, khiến rách y sờn bát hình như mươi năm kinh sách đã trở thành hư vọng:
Cam lòng nhện đứt dây tơ
từ niên thiếu đã bạc phơ mái đầu
……….
Ta nằm chờ đá đơm bông
chờ cơn gió núi cảm thông mây trời
………..
Nãn lòng tiếng vạc kêu sương
còn đôi ba khách hành hương lạc loài
trăng thì soi suốt dặm dài
hiềm vì khách đã đi ngoài ánh trăng
………..
Chập chờn bóng quế hồn ma
lẫn trong tiếng khóc vài ba giọng cười
miếu thiêng quạnh quẽ lâu rồi
thần linh chừng cũng kén người khói nhang
Bước đi thầm lặng trên bến đời, khác gì con thuyền dộc mộc tiền kiếp, vật vã di hành qua các nẻo không gian nhiều thế hệ. Bước tới thế hệ, là bước tới miền tương lai, có một cuộc sống chưa biết rõ. Bước lùi về quá khứ, là trở về với bản lai, thành tụ hoại diệt đã trải qua như một tiền kiếp. Vậy, có thay đổi được gì trong quá khứ hay thành đạt được gì ở vị lai? Vì vậy, những vì sao bỏ ngôi chung quy phải tan biến thế nào vào lỗ đen vũ trụ, để quá khứ vị lai là một thế giới không ngày tháng, cho người hành giả? Vậy là, dễ gì tính sổ ngàn năm/ nợ từ bao kiếp đã thâm hụt nhiều/ chợ tan còn quán với lều/ đời tan, vắng cả cánh bèo trôi sông. Hay là, ước chừng cách chẳng bao xa/ tới khi rạc gót, thì ra ngàn trùng. Nợ từ bao kiếp (quá khứ), rạc gót thì ra ngàn trùng (vị lai)… Tất cả, thời-không bất biến trong cái tụ-thành-hư-hoại có ý nghĩa gì với vô vi. Chính vậy, hành giả có vội gì vượt núi qua đồi/ dựng cao vách đá tạc lời vô ngôn:
Nghiêng vai trút gánh quan hoài
bỏ nơi mắt thấy bỏ ngoài tai nghe
đội trời bỏ lớp khăn che
bỏ luôn tích trượng bên khe hữu tình
Để lắng nghe, có muộn gì trăm năm:
Ngại gì tóc trắng hơn xưa
trong vườn diệu pháp mai chưa kịp vàng
trăm năm đâu đã muộn màng
còn kiên gan đợi đến ngàn năm sau.
Hành trình bước sang giai đoạn mặc cho sức ngựa đường trường/ cổ lai vạn vật có thường hằng đâu/ bạt ngàn đồng thấp nương cao/ chừng nghe đất dậy lao xao sóng dồn. Chương Lớp Lớp Sóng Đùa, tất cả đều động và người sơ đạo chớp nhoáng nhìn ra cảnh tượng biến dịch trong cuộc sống:
Từng bước lạ giữa đường quen
trần ai trót đã mấy phen lỗi thề
vai bao tay gậy cặp kề
chuyến đò cuối bến biết về nơi đâu
……….
Miệng đời khó tỏ nông sâu
vần xoay ác thiện lấy đâu nghĩ bàn
ác nhân trừ kẻ bạo tàn
thiện nhân cứu kẻ lăng loàn nhớp nhơ
……….
Suối còn róc rách qua khe
có ngờ đâu núi đã xê dịch rồi
chuông khua động dấu chân người
hồn tu mấy kiếp đã rời đất tu
Người du phương bỗng dưng tâm thức hiển hiện, trùng trùng những hình bóng của bản ngã cổ sơ. Một giai đoạn còn khai nguồn trong ý niệm, qua đò trong tiếng réo gọi của thiện nghiệp.Vì vậy, làm sao thoát ra khỏi vòng vây của hữu vi, nên mọi phán đoán thể hiện một thường hằng của thế sự. Ý niệm chơn phương của bước sơ khởi còn mong manh giữa lối đi nẻo về, nên mọi tư hướng còn vắt trên vai một vùng sương muối thế nhân. Phán đoán mặc cho sức ngựa đường trường/ cổ lai vạn vật có thường hằng đâu. Có chứ, nhưng đồng hóa vạn vật hữu vi và vạn vật vô vi, cũng như phân biệt hai thái cực hoàn toàn khác biệt, nhưng cũng chìm đắm trong vạn vật đồng nhất thể. Sự ngổn ngang thế sự nghiêng bầu với ai, hoặc cung tên bỏ mặc bên bờ / mải mê nhác khỉ với trò rung cây. Thì bản lai không còn diện mục, mà thuyền giác đang xoay vòng trong vùng nước xoáy đa mang. Thì ra, một kiếp người du sĩ giữa cánh hạc chân mây trùng trùng bóng núi, tưởng chừng lạ hoắc chưa hề đi qua …
Thoáng đó, ảo giác vẫn bám bụi trần trên gót chân du phương. Trăm bề chụp xuống dầy đặc che kín không gian của kẻ đang đối bóng với vạch mây tìm lửa chân như….Xác xơ trong cuộc nổi chìm / sóng trùng khơi quét sạch niềm riêng tư.
Cơn nổi chìm xơ xác như thế, có phải chăng ý niệm cho cơn sóng quy hồi:
Lũng sâu giờ đã thành đồi
tận cùng qui hợp tới hồi phân ly
dù sung mãn lúc ra đi
chớ hoang sức ngựa phòng khi trở về
Dù vậy, chương Nước Động Bóng Rung có lời thầy dặn, lấy nhiêu khê làm thường.Khổ hạnh của khách du phương, trong thế sự trăm đường oan nghiệt nên ý và lời nhiều khi đùa cợt lẫn nhau: lên non được ý quên lời / kể gì khổ hạnh một đời chơn tu…
Một hòn đá cuội đánh võng trên mặt nước dòng sông, từng vòng chu luân hiện lên dầy đặc, rồi từng vòng tròn như luân xa dần dần tan biến trong từng khoảnh khắc hư vô. Chính vậy,
quanh năm thờ thẩn đi tìm / bóng hình tại chỗ sao nhìn không ra/ càng mỏi mắt tận phương xa / thì càng không thấy trong ta có mình. Câu hỏi nghiệm thể từ những tưởng như bất thường trong cuộc đời, thực chất vẫn còn sắp lớp như một thực thể bất biến mà người vô tình không thấy rõ:
Người người nương tựa bóng nhau
chen chân lối cỏ vượt bao núi đồi
đâu đây tiếng vọng không lời
pháp âm chuyển động lòng người thập phương
Và như vậy, là:
Dăm đăm vào cõi không hư
cố hình dung lại chỗ Như Lai ngồi
tòa sen bỏ trống lâu rồi
trang kinh còn hiện rõ thời lập ngôn
Du sĩ bước vào chánh pháp, mọi tư hướng vật thể buông xã một cách không thương tiếc. Tất cả vay mượn như là chiếc bóng lung linh giữa thiên thu, chập chờn theo ngọn lửa phù hư.
có-không trong nghiệp chứng, là nước động bóng rung hằng sa ảo giác. Vì vậy, đâu còn rào giậu cách ngăn / chẳng còn thiện-ác không phân chánh-tà / khoanh tay đứng giữa ta bà / thản nhiên như cụm tre già bên sông.
Nhìn lại, quả nhiên tất cả hình dáng, âm thanh huyền hoặc giữa không gian cũng thể hiện lòng người, từ tâm ẩn hiện. Chính thế, kẻ du hành trong sơ nguyện cũng có nhiều khi ngơ ngẩn giữa thực hư:
Đắm nhìn trăng nước vu vơ
lạc trong giấc ngủ bâng quơ đầu hè
sáng ra chợt thấy e dè
hình như mới bị bóng đè hôm qua
Ngôn từ phát khởi, cũng là tư hướng của tâm niệm duyên khởi ôn cố từ chương Góp Nhặt Lời Quê:
Khắc ghi lời tổ trong tâm
trước giờ rũ áo về thăm cõi người
cần đâu mắt biếc môi cười
cái duyên thầm lặng chết người như chơi
Chắc phải như thế:
Lá rơi vào cõi vô tình
thì đâu cần biết phận mình nông sâu
người về hỏi lá phương nao
lá không nghe được làm sao đáp lời
.. ……………
Vòng sinh tử khéo bông đùa
hết cơn nắng hạ tới mùa mưa ngâu
trải từng cội thóc nương dâu
lời quê góp nhặt dám đâu dông dài.
Tư hướng của kẻ du sinh trên bước đường dài hoàn chỉnh bản thể, nhiều lúc cũng thấy thấp thoáng mở rộng vài chiêu thức rao truyền.Trong ngôn ngữ lập thể của mấy ngàn ký tự, dù thế nào cũng chỉ hóa hợp với thiện căn của từng bộ lạc có duyên phần. Vì vậy, ở mỗi không phận đạo pháp chỉ hành xử huyền đạo theo căn cơ phong thổ và tâm linh. Vượt thoát ra ngoại vi đó, chắc chắn là bóng ma ngày trước rập rình / hình như có vạn bóng hình trong ta / vẫy chào ngày tháng đi qua / thản nhiên như một bông hoa lìa cành.
Thấy gì và nghĩ gì, cũng phiêu du trong vòng hữu hạn có sẵn giữa trời đất cũng thân tứ đại như mình vậy thôi.
Cái hữu hạn của chính bản ngã đã đưa hành giả bước vào vòng quay rao truyền một cách hoang sơ, tưởng tượng hình thái đầy mê tưởng sẵn có giăng đầy ngập trong giả tướng chung quanh. Dĩ nhiên, cái thực vẫn chồng lấp trong cái hư, khiến tâm thức u hoài trông ngóng vô minh:
Có nhà sư trẻ ngẩn ngơ
tay vin tích trượng mắt lơ láo nhìn
phấn son ở cõi nhơn tình
cũng thân tứ đại như mình vậy thôi
Vì vậy, nghiệp vẫn được hồi báo như một bản thể sinh tồn vun quén từ vạn cổ kéo dài hàng ngàn kiếp sẽ tới. Nhắc nhở như tự thầm nhủ chính bản thể, người du sĩ chậm bước lê thầm trên hướng bước về nguồn cội của vô vi, gởi lại vài chiếc lá ngôn từ trong cơn gió lạnh phiêu bạt thiên thu:
Chim xanh đáp xuống vườn lê
hót rằng vạn vật còn xê dịch nhiều
nhắn ai sầu sớm lo chiều
thuyền vô ngạn cũng có nhiều bến sông
Cố nhân có hồi báo hay không, chắc cũng phải chờ duyên nghiệp. Căn cơ cội nguồn xuyên suốt kéo dài vô tận, là kết quả của nhân quả của vạn thể sinh ra. Người hành giả mang theo trong hành trang, những ý niệm sơ đẳng, gọn nhẹ vài ký hiệu rao truyền. Từ sơ khởi đó, ngôn ngữ phát huy âm điệu, cho ca khúc tử sinh vời vợi thấm sâu vào tư chất người thừa nghiệp sẽ nắm bắt…Chính vậy, đối nhân lời lẽ chưa cùng / hoang mang cái thị ngại ngùng cái phi / nghi ngờ đến cả lương tri / khiến cho tâm sự thường khi nặng nề…Chương Nước Tìm Chỗ Thấp nói lên điều tự nhiên hoằng hóa trong vô niệm : Thái sơn rồi cũng lạc loài / ích gì mơ tưởng đến nòi trâm anh / tìm người tri kỷ trong tranh … Muốn thành quả như vậy, người du sĩ cũng phải vạch trước một khung trời hoằng hóa ban đầu là: đến từ thăm thẳm tầng cao / đường vô ngại biết nói sao cạn lời / phất tay biệt cả núi đồi / tìm về chỗ thấp vui đời bể dâu…
Tạo gióng gánh hành trang bước vội trên lộ trình chiêu hóa, dẫn nhập dung nhan cho tròn thị phi, hòa hợp nơi trở về … Đó là những bước tiến hóa độ trì theo cơ địa phong thổ nhân gian lưu xứ, người du sĩ cũng hiểu thâm sâu rằng:
Hóa ra về chẳng phùng thời
sinh cơ lỡ hội lòng người đa đoan
ngại đời lem luốc dung nhan
ta bôi bùn đất tự trang điểm mình
………….
Thuận đường về lại chốn xưa
bến chưa kịp đón đò chưa kịp mời
lòng mừng rơm rả với đời
đất xưa dù đã vắng người ngàn xưa
Nước tìm chỗ thấp, trở thành một cảnh ngộ trở thành người hôm nay tìm tri độ người hôm qua. Người của tiền kiếp đã bước qua thời gian nên không còn duyên ngộ, thuyền qua tả ngạn lâu rồi / ở đây còn nuối tiếc thời chưa xa. Trần duyên như gió thoảng, chỉ ngoái lại thời gian mà nương dấu về:
Lênh đênh lời nổi ý chìm
khuất mờ nhân diện càng tìm càng xa
dấu người lạnh ngắt tha ma
khổ bao năm, tạc chưa ra hình hài
…………
Tạc chưa ra hình hài, có thể đã bước qua hai phong cách. Một, là người xưa huyễn hóa theo duyên ngộ từ sơ khởi của một kiếp người, từ hạt bụi ngàn thu mà phủi qua cõi sống mà vọng tu cõi thiền. Hai, là hoại hóa theo luật thừa trừ của tạo hóa tử sinh.
Chương Trăng Tỏ Đường Về, báo hiệu sự huyển hóa như cây khô trốc gốc bao đời / sớm nay chợt thốt mấy lời an cư…
Tâm nguyện của khách xưa, bản thể mịt mờ, soi trong trăm ánh đuốc. Giữa truông sâu, bao lần nguyệt khuyết, nguyệt tròn … dò dẫm ngỡ ngàng bên lối mòn hành hương. Giữa cái hư và cái thực mờ nhạt trong khuôn sáo của vô thường. Chốn đến và nơi về cũng mờ nhạt dấu tích, phương nầy mai kia còn tìm lại được chút gì hài cốt xưa?
Phàm trần đến cũng như đi
rừng hương dệt gấm sá chi vân đài
chỉ xin tạc dấu phương nầy
mai kia tìm lại chút hài cốt xưa
………….
Biết mình lạc giữa truông sâu
hoa bao độ nở nguyệt bao lần tròn
kẻ đi dấu tích đâu còn
phí công dọ dẫm lối mòn hành hương
………….
Khắc giờ đảo lộn tháng năm
đêm đi, bóng tối còn xâm lấn ngày
núi xưa biến đổi hình hài
thềm xưa rêu đã phủ dầy hơn xưa
Từ cái hữu hạn bỗng nhiên phải thầm bước vào mệnh số. Chính thể vô hạn mênh mông, mọi phương hướng đều trôi lạc, như trở về cái hoang vắng tận cùng.
Quay theo trời đất quay cuồng
thần xiêu phách lạc rẫy ruồng đôi nơi
cũng vì mộng mị xa xôi
đem thân hữu hạn vào nơi vô cùng
………….
Ngại gì trời đất mênh mông
sông không cách trở núi không bủa rào
trớ trêu lòng vẫn héo sầu
đường trăm ngả biết ngả nào cố hương
Suốt đoạn đường chính lộ của ngày ra đi, từng ngỏ vắng băng qua, từng vườn hoang đón lối, người du sĩ vẫn bâng khuâng mịt mờ giữa lộ trình hướng tới chân như. Giai đoạn nầy, hình như cũng gieo rắc nhiều nỗi nghi ngờ trong tâm thức của người đang đo phương hướng.
Lối về đích vẫn như ảo giác, mờ mịt vô cùng. Nên dù sao, cũng nhiều phen gầy dựng trong lòng khách xưa, cảm thấy cô độc hoang mang bên hướng tới.
Hồ đồ bất kể tây đông
rẽ bao lối tắt cũng không thấy gần
hốt nhiên tâm trí bần thần
…………
Ngón đàn chừng đã mất thần
hoang vu phách tấu lạc dần cung thương
trông ra trời đã mù sương
muốn tìm lại bóng thì gương đã mờ
Quả thật vậy, thánh phàm khi đã tương thông / cõi viên dung có cần mong đợi gì. Đường về trăng đã tỏ, bước viên thông cũng mở được lối thoát ngàn xưa. Người trí không cần khuếch đại tri thức, mà bản thể cũng phiều phen tương ứng hoạt mở cánh cửa không…
Vì vậy, đâu còn ngỡ ngàng gì khi đã mà phải quanh co khi Bước Qua Cầu Sinh Tử, bởi
Khúc sông eo hẹp đã đành / lòng người eo hẹp mới thành trái ngang:
Lang thang một góc trời mờ
trót ham phiêu lãng bây giờ nhớ nhau
cựa mình từ giấc chiêm bao
kịp khi tỉnh thức thì mau quay về
Giữa dòng gác mái buông câu
nước- mây tự tại cần đâu cõi bờ
chẳng mong tìm cõi nương nhờ
không theo lối tục, phớt lờ nẻo tu
Bỏ lại tất cả bụi hồng trên khoảnh khắc bước lên cầu sinh tử, là chính du sĩ bất chợt cũng hiểu rõ, tứ đại bất chợt lóe sáng như hư không. Những tạo vật chung quanh lối đi như hằng sa cát đá, lót giữa đường cho thưc-hư hỗn mang tụ thành thế giới ta bà. Chân dung ngày xưa sẽ rơi rớt từng mảng vụn trên nẻo đường hiu quạnh bước qua.
Lối đi đã chạm chân tường
thì trăm sự cũng hết đường mưu toan
nổi chìm trong cuộc bi hoan
làm sao thấy được dung nhan chính mình
Tắt đèn, gởi lại kinh thư
đêm vô tận, đã hầu như canh tàn
hành trang gói ghém lìa ngàn
câu kinh vô tự tiếng đàn vô âm
Dù muốn dù không, đã bước lên lộ trình tìm cứu cánh giải thoát, thì cầu sinh tử mờ ảo hoa sắc dị hương. Đã thông thấu, nhìn ra trăm cõi hư phù, hư ảnh phù du dù lung linh réo gọi, người khách lữ hành như đã đạt được chút căn cơ. Căn cơ bồi đấp bằng ánh trăng huyền đạo trên đường giao tiếp giữa vạn vật và hư vô. Chiếc cầu ngũ sắc vắt ngang hai bến bờ hữu hình và vô vi, luôn thông thấu một tìm năng cho kẻ đạo hữu phần.
Nhờ vào cung bậc tri âm
cũng còn chỗ gởi chút tâm sự thừa
nắng mưa chẳng đợi giao mùa
hiềm vì phàm-thánh mãi đùa cợt nhau
Bận lòng chi chút hẹn xưa
gió đem ly biệt, gió đưa trùng phùng
từ vô thỉ đến vô cùng
hóa thân với gió chưa từng hoài nghi
Tuy bước lên cầu sinh tử, thiện giả vẫn còn đôi tâm thức bâng khuâng bởi chẳng qua thói tục được đuôi quên đầu nên cõi ngưởi vẫn vấn vương như gió thoảng trên lớp y lam còn vương chút phấn bụi sơ nguyên.Vì vậy, quanh đây gió bãi sương đồng / và ta với một cõi lòng quạnh hiu. Phải chăng, giữa phân thể vật chất hiện hữu vướng nỗi băn khoăn vật lý, là sự cô lẻ trong vũ trụ lưỡng nghi, khiến thiện giả bay phiêu hốt trong chân không hư tưởng? Giây phút trên cầu sinh tử, lành thay chợt thức ngộ được rằng:
Tử sinh đương lúc cận cùng
ngọn tây phong thổi qua vùng si mê
đạp phăng xiềng xích ta đi
ngoài vòng ngoảnh lại nhiều khi giật mình…
Trên cầu lặng lẽ ngọn gió tử sinh, phủ đạo cho hàng hàng lớp lớp thiện giả. Dù nước vẫn lưu chảy mãi thế nầy, nhưng vẫn cuốn không trôi khỏi không-thời gian chiếc bóng ảo diệu của phi thường đạo. Chiếc Bóng Ngàn Trùng khơi lại nỗi chiêm nghiệm lặng lẽ trong suốt quá trình trôi nổi trên đường sinh diệt. Vì vậy, thiện giả vẫn băn khoăn trong tư hướng của trần tục chưa diệt thoát nẻo phù sinh:
Đành liều thuyền dạt sóng trôi
con quay hóa chuyển còn vô số lần
thác thân chưa phú đã bần
chưa sinh đã diệt chưa gần đã xa
………….
Quản gì đầu núi chân mây
đôi bờ phúc-họa từ đây nối liền
ta ôm một nửa buồn phiền
nửa kia đem vãi khắp miền vô ưu
…………..
Du tăng cất bước qua cầu
bỗng dưng sực nhớ mái đầu xuân thu
từ ngày nương bóng chân sư
tóc xanh chẳng biết phiêu du cõi nào
………….
Tạm thời quán trọ qua đêm
bầy chim én cũ không đem xuân về
không hành trang,cũng nặng nề
biết ai mách lối ta về cõi ta
Như thế, tư thế hướng ngoại vẫn còn như sương mù giăng mắc rải rác trong không gian tiềm thức. Chân như dù bàng bạc trên lộ trình đi tìm chân thể, thì sự phân cách khốc liệt giữa bản thể và hiện tượng vẫn giằng co hỗn loạn giữa hữu vi và vô vi. Minh chứng, trước ngưỡng cửa qua cầu sinh tử, thiện giả vẫn nhìn chiếc bóng ngàn trùng, mà rằng:
Chiều nay đứng trước ba đào
hốt nghe tiếng sóng vỗ vào tâm cang
ý lòng chưa kịp giải phân
dư âm ngọn sóng đã tan vào chiều
Trước dư âm ngọn sóng đã tan vào chiều, dư âm mang nhiều tâm thức rao truyền mà thiện giả phủ dầy đặc trên Tử Sinh Ca. Chương Sóng Lòng Chưa Lặng, kết thúc 12 phân khúc Tử Sinh Ca. Nhìn xem tư hướng cuối cùng của một tư tưởng lặng thầm, đành lòng trút hết cho người đến sau:
Sóng xô lớp lớp xa bờ
còn nghe từng đợt reo hò trong ta
Sóng trùng dương sóng đi xa
thanh âm réo gọi thì ra sóng lòng
…………..
Tình nhà xé nát tim gan
từ sơ sinh đã lang thang đến giờ
Tóc xanh rẽ sóng tìm bờ
bạc đầu còn mãi vật vờ giữa khơi
……………
Về đây mất dấu quê làng
trải dài cảnh lạ ngút ngàn chân mây
Nhủ lòng thềm cũ đâu đây
chẳng qua tâm địa bấy nay lạc loài
…………….
Đường trần lắm ngả phân ly
lòng không an định biết đi hướng nào
Thác thân nhầm cõi ba đào
liệu đem sinh tử cấy vào tay ai.
Trong lớp y quan của thi phẩm Tử Sinh Ca, hình thể lục bát là một tiêu biểu năng lực phù ảo trong thơ của Trần Yên Thảo. Yếu tính phát huy chân tướng thực thể sáng tạo cổ phong, chứa đựng mênh mông bản thể sáng láng huyền nhiệm trong thơ…
NGÔ NGUYÊN NGHIỄM
Thư trang Quang Hạnh
Viết xong tháng 6/2019.
……………………………………………………………………………….
*Thi phẩm TỬ SINH CA của Trần Yên Thảo gồm 12 chương:
Giọt Nước Trên Đồng Khô – Du Phương Khúc – Gót Tục – Những Vì Sao Bỏ Ngôi – Lớp Lớp Sóng Đùa – Nước Động Bóng Rung – Góp Nhặt Lời Quê – Nước Tìm Chỗ Thấp – Trăng Tỏ Đường Về – Bước Qua Cầu Sinh Tử – Chiếc Bóng Ngàn Trùng – Sóng Lòng Chưa Lặng.
thơ Tuổi Học Trò trên Tạp chí Tuổi Hoa
của Trần Thị Nguyệt Mai
Ghi chú: Nhắc dến Trần Thị Nguyệt Mai, người ta nhớ ngay đến Trang Văn học Nghệ thuật tranthinguyetmai.wordpress.com với tiêu đề “Xin những tình thân ái/ Còn hoài như hôm nay…” khá phổ biến trong giới cầm bút. “Trang chủ” hiền lành, dễ thương, luôn sẵn lòng làm “Cô cò” (correctrice) giúp sửa morasse bản thảo cho bạn bè, nổi tiếng nghiêm túc, chính xác, ai cũng quý mến.
Lần này, nhờ có anh Hai Trầu Lương Thư Trung vừa làm một cuộc “Trò chuyện với Trần Thị Nguyệt Mai, tác giả các bài thơ trên Bán Nguyệt San Tuổi Hoa Saigon những năm 1970-1975” mới biết Nguyệt Mai còn là một “cây thơ” ở tuổi học trò xa xưa đó. Xin phép giới thiệu nơi đây vài bài thơ tiêu biểu của TTNM. Chân thành cảm tạ anh Lương Thư Trung và anh Vũ Thất.
Trân trọng,
Đỗ Hồng Ngọc.
(1.12.2020)

(nguồn: tuoihoand.blogspot.com)
KHI MÙA XUÂN ĐẾN
BÊN TRỜI THÁNG GIÊNG
Những cành lộc mới đùa trong gió
Bé đứng bên trời Xuân, tháng giêng
Nghe lòng một chút hương hoa cỏ
Xanh ngát hồn thơ trổ ý hiền.
LẬP XUÂN
Có con chim én về mừng tuổi
Nắng lụa trải đường cho bé đi
Anh thấy trong mây trời buổi sáng
Mắt bé màu xanh ngát lưu ly…
SUỐI NGỌT
Tặng me một đóa cúc vàng
Khi mùa Xuân đến dịu dàng trong con
Tình thương mãi đậm tim non
Me là bóng mát, suối nguồn bao dung.
Trần Thị Nguyệt Mai
(Tạp chí Tuổi Hoa số 231, Tết Ất Mão, 1975)
SẦU MƯA THÁNG HẠ
Rồi mùa hạ trở về cùng bóng phượng
Cùng tiếng ve, cùng mưa ướt đầu mùa
Bé nghe lòng bỗng dưng mà xao xuyến
Dội trong hồn vang vọng mấy âm thưa!
Mưa tháng hạ sao hồn mềm quá đỗi
Bé có hay đã tàn hết cuộc vui
Rồi mỗi người một đời sau trôi nổi
Còn lại chăng chút kỷ niệm ngậm ngùi?
Mùa hạ, lỡ tay chào cách biệt
Thì bé ơi mòn mỏi đến bao giờ
Mùa hạ, lỡ gọi người tha thiết
Những cung buồn rụng xuống cõi hồn thơ…
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
(Tạp chí Tuổi Hoa số 224, 1974)
CŨNG LÀ MÙA THU
Khi lá ngoài đường rụng đầy ngõ phố
và bầu trời như thấp xuống – nhiều mây –
mùa thu nào me âu yếm nắm tay
dẫn con gái nón nghiêng che đi học
gió heo may len lén hôn lên tóc
em thẹn thùng nép dưới vạt áo dài
cô bé mang chiếc cặp nhỏ trên vai
và chợt nghĩ mình bây giờ đã lớn!
con đường đi vương đầy sương buổi sớm
những bé như em chúng cũng đến trường
cơ hồ như một niềm vui ngát hương
đang ngự ở trong tim em bé bỏng
ồ trường kia nơi em đang mong ngóng
tí nữa đây me sẽ dẫn em vào
chọn cho con ngồi ngay ở bàn đầu
“me muốn con đầu lớp luôn đó nhé!”
rồi trống trường điểm lên ba tiếng nhẹ
cô giáo bước vào với áo hồng tươi
trên môi cô trang điểm những nụ cười
cô bé thấy thương cô làm sao lạ …
oOo
Và bây giờ khi mùa thu rụng lá
vẫn đến trường lòng vương chút bâng khuâng
cố ngăn đi giòng nước mắt bao lần
em vào lớp, ngôi vị chừ thay đổi
vẫn bảng đen, vẫn phấn còn hương mới
nhưng bàn thầy – chỗ ngồi của em đây
mi mắt sao bỗng dưng lại cay cay
khi nhìn xuống bàn học trò xưa đó
những em bé trước mặt là tập vở
còn thơm mùi giấy trắng thuở ban đầu
nắn nót từng hàng và viết từng câu
bài học mới cô giáo vừa giảng dạy
những gương mặt ban đầu còn ái ngại
len lén nhìn xem cô giáo dữ hiền
(hành động xưa được lặp lại y nguyên)
em bỗng nhớ ngày vàng son thơ ấu …
Trần Thị Nguyệt Mai
(Bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, 1973)
HƯƠNG MÙA ĐÔNG
Đọc “Vòng quanh” – Thơ Đỗ Hồng Ngọc
Một ngày rất xưa, cách đây đã hơn 20 năm, tôi đứng trong hiệu sách Nguyễn Huệ với cuốn sách thật mỏng trên tay có tựa: “Đỗ Hồng Ngọc – Vòng quanh – Thơ” (nhà xuất bản Trẻ 1997). Phải nói ngay rằng tôi không có duyên, cũng không có nợ với… thơ. Cầm sách lên chỉ vì tò mò, bởi tôi rất thích văn Đỗ Hồng Ngọc. Đọc xong vài bài, tôi quyết định khiêng về nhà để đọc cho kỹ. Đọc xong rồi, mỗi lần đọc lại, vẫn tủm tỉm cười.
Như bài Affiche (trang 16) tả cô gái tuyệt trần trên bảng quảng cáo trong hành lang xe điện ngầm ở Paris:
“Có kẻ nào táy máy vẽ chơi
Bôi đen chiếc răng làm cô sún
Có kẻ trời ơi vẽ vời lên rún
Làm cô cựa mình…”
Từ đó về sau, mỗi lần thấy quảng cáo có cô gái đẹp, là tôi lại nhớ tới đoạn thơ này. Một cô gái đẹp răng…sún, lại đang cười mím chi vì…nhột, chà chà, dễ thương tới mức đó làm sao quên được! Bài “Ở bảo tàng sáp Grevin” (trang 60) có chuyện còn ngộ hơn:
“Tưởng người thiệt
Chào, không nói
Tưởng người sáp
Sờ một cái!”
Vỏn vẹn 12 từ, còn ngắn hơn một bài haiku của Nhật, vậy mà thành nguyên một câu chuyện, thậm chí như một bộ phim. Trước mắt tôi có một thi sĩ tha thẩn trong viện bảo tàng, nhìn ngắm tượng và người. Không biết do tượng qúa giống người, hay do người giống…tượng, mà thi sĩ nhìn tượng thành người, nhìn người thành tượng? Suy thêm tí nữa, tượng và người khác nhau ở chỗ có… hồn, cho nên thi sĩ nhìn nhầm như vậy, kể cũng…đúng! Bởi đâu có thiếu tượng có hồn, người lại không có? Thiệt dí dỏm, duyên dáng mà sâu sắc, từ tuy ít mà ý ở ngoài lời.
Bài “Ở Montmartre” (trang 48) tả phố nghệ sĩ ở Paris, nơi nghệ thuật thấm đẫm trong không khí và những con đường lát đá nhấp nhô:
“Con đường là một dòng sông,
Sóng lăn tăn gợn vỗ quanh ghế ngồi…
Ta nhìn xuôi ngược ơ hay
Những làn gạch sóng lắt lay cõi người…”
Có lẽ phải một lần đã tới Montmartre, nhìn các họa sĩ say mê vẽ tranh, nghĩ tới Picasso, Renoir và Van Gogh từng ở đây, rồi nhìn lên nhà thờ Sacré-Cœur hình trái tim trắng muốt ở trên cao, mới cảm được ý tưởng về “sông” và “sóng” của thi sĩ. Cuộc đời như một dòng sông nhiều sóng, sóng to sóng nhỏ, rồi cũng chảy về biển. Dù khó so sánh, nhưng nếu cho tôi chọn, tôi thích hình ảnh dòng sông này hơn là hình ảnh “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi” của nhạc sĩ Trịnh.
Nhân nói tới nhạc, thơ Đỗ Hồng Ngọc có nhạc, họa, lại có văn:
“Ngõ cũ
Ao xưa
Vầng trăng bạc
Lầu văn
Gác tía
Bước chân son.”
(Văn Miếu, trang 42)
Nhạc nằm trong tiết tấu 2-2-3, trong thanh điệu trắc trắc – bằng bằng- bằng bằng trắc của đoạn 1 đối xứng với bằng bằng – trắc trắc – trắc bằng bằng của đoạn 2. Họa tới từ những nét bút rất thoáng vẽ nên cảnh vật, từ bối cảnh bên ngoài “ngõ, ao, trăng” đến mảng hình chính “lầu văn, gác tía” và tâm điểm “bước chân son”. Văn nằm trong ý tưởng ở trong và ở ngoài từ ngữ, người đọc tự thấm và… tự hiểu. Cũng có bài, thi sĩ nói thẳng tưng, kèm theo một nụ cười tinh nghịch:
“Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!”
(Thu, trang 34)
Quạ – quá, vần cũng chỉnh mà nghĩa cũng chỉnh. Sao các nhà soạn sách của chúng ta không đem bài thơ này vào chương trình lớp 1 cải cách nhỉ, khỏi phải khổ sở sửa tới sửa lui truyện của người khác cho mệt óc?
Ngày xưa, Phật giơ cành sen lên, ngài Ca Diếp mỉm cười vì ngài đã ngộ. Tôi, vốn rất không có duyên nợ với thơ, nhờ cành sen “thơ Đỗ Hồng Ngọc” mà ngộ ra một chút về thơ. Mà cũng cùng những bài thơ đó, cái “ngộ” của tôi bây giờ đã khác 20 năm trước. Xin cám ơn thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc!
Minh Lê (Suối Tiên 11/2020)
ĐỌC TUYỂN TẬP
“NHỮNG BÀI VIẾT VỀ THƠ ĐỖ HỒNG NGỌC…”
Nguyên Giác

Đó là một tuyển tập nhiều người viết. Tên đầy đủ của tuyển tập này là “Những Bài Viết Về Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê): Như Không Thôi Đi Được…!” Sách phổ biến trong dạng e-book, chủ yếu để tặng.
Các tác giả trong tuyển tập — Ngô Nguyên Nghiễm, Đỗ Trung Quân, Trần Vấn Lệ, Ý Nhi, Lam Điền, Huỳnh Như Phương, Thu Thủy (Võ Phiến), Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Nguyễn Thánh Ngã, Phat’s Blog, Đỗ Hồng Ngọc, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Lương Thư Trung, Lê Uyển Văn, Thy Ngọc, Tô Thẩm Huy, Huỳnh Ngọc Chiến, Phan Chính, Lê Ngọc Trác, Du Tử Lê, Elena Pucillo Truong, Phan Tấn Hải, Luân Hoán — đưa ra những ghi nhận về thơ Đỗ Nghê, hay dịch môt số bài thơ của họ Đỗ…
Một cách đa dạng, các nhận định nhiều tác giả đã cho thấy một chân dung đầy đủ hơn về bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, cũng là nhà thơ Đỗ Nghê. Trong đó, các nhà phê bình nhìn Đỗ Hồng Ngọc như một người làm thơ và viết văn để hiển lộ ra các tư tưởng Thiền vốn đã ẩn kín trong dòng chảy vô thường của đời sống, nơi người sống phải vật lộn với cái chết trong các bệnh viện, nơi đời sống hé lộ trên chiếc bàn sản khoa, nơi đau khổ không ngưng tiếng khóc nơi các nhà quàn phía sau bệnh viện… và nơi đó, thơ là chiếc thang tựa vào mây để bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc leo từng bước lên trời…
Tuyển tập này thực hiện với hỗ trợ của nhà nghiên cứu Nguyễn Hiền-Đức (thường được bạn hữu thân mật gọi là anh 5 Hiền), và được Đỗ Hồng Ngọc ghi chú là: “’Như Không Thôi Đi Được’ là những bài viết về Thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) do tôi gom góp như một “Tệp tuyển” (Bản thảo) đọc vui trong những ngày tháng “Về thu xếp lại” này, một kỷ niệm rất riêng tư và chỉ mong được chia sẻ cùng những bạn bè thân thiết…”
Nơi đây, xin phép trích lời các nhà văn trong tuyển tập này.
— Ngô Nguyên Nghiễm: Như không thôi đi được…, trích một vấn đáp phỏng vấn:
“Ngô Nguyên Nghiễm: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?
Đỗ Hồng Ngọc: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Thân và tâm đâu có tách rời. Sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một. “Ngũ uẩn giai Không” mà! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái “tạng” nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, người đọc tạp văn tôi lại bảo cứ như thơ…” (trang 9)
— Đỗ Trung Quân: Tựa Giữa Hoàng Hôn Xưa…, nơi đây Đỗ Trung Quân nói tới thơ Đỗ Hồng Ngọc thâm cảm về một Khổ Đế bất tận trong trần gian, trích:
“Cái nỗi buồn rực rỡ, nỗi cô đơn tuyệt đẹp ấy của bất cứ ai như anh – Đỗ Hồng Ngọc. Đời sống vốn nhiều bất trắc đã bớt bất trắc hơn. Khổ đau cũng có thể mọc lên những bông hoa đẹp đẽ. Tuyệt vọng bỗng có vẻ đẹp riêng. Và đời sống vẫn vĩnh cửu ở một chiều không gian khác. Như vậy, cuộc đời và nhà thơ – Ai sẽ phải cám ơn ai vậy?” (trang 13)
— Trần Vấn Lệ: Cảm Nhận Về Thơ Đỗ Hồng Ngọc… nhà thơ họ Trần đọc thơ họ Đỗ và cảm nhận thấy những trận gió Bấc quê nhà thổi trên các trang giấy, trích:
“Thơ Đỗ Hồng Ngọc / Đỗ Nghê không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm… Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…” (trang 14)
— Ý Nhi: Đọc Anh,Tôi Chưa Khi Nào Có Cảm Giác Ngờ Vực… Nhà thơ Ý Nhi nói rằng đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc là cảm nhận các tình cảm rất mực tin cậy. Trích:
“Thơ Đỗ Hồng Ngọc là thơ của sự chân thành. Từ những bài thơ tình cảm viết cho cha mẹ, vợ con, bạn bè đến những bài thơ thế sự viết về đất nước, quê hương, từ những chuyện đời thường đến những chuyện cao siêu, những câu hỏi không lời đáp… Đọc anh, tôi chưa khi nào có cảm giác ngờ vực. Sau căn bệnh ngặt nghèo, Đỗ Hồng Ngọc đã viết bài thơ rất hay Xin cảm ơn. Tôi nghĩ, những độc giả của anh cũng cần nói lời cảm ơn anh, bởi chắc chắn, anh đã góp phần giúp chúng ta thanh lọc tâm hồn mình, giữa đời sống nhiều bụi bặm này.” (trang 15)
— Lam Điền: Chu Hy Xưa Kia Từng Gọi Rằng “Như Không Thôi Đi Được”… Nhà phê bình Lam Điền nhìn ngược về chiều dài hơn nửa thế kỷ làm thơ của Đỗ Hồng Ngọc. Trích:
“…từ những tác phẩm đầu tiên trình làng hồi thập niên 1960-1970, Đỗ Nghê đã có một kiểu duyên ngầm trong những bài thơ tượng thành từ sự bùng phát của cảm xúc hay ông tự chưng cất những suy tư đến cái độ mà Chu Hy xưa kia từng gọi rằng: như không thôi đi được.” (trang 16)
— Huỳnh Như Phương: Đỗ Hồng Ngọc: Thơ Ẩn Hiện Giữa Đời… Nhà nghiên cứu văn học họ Huỳnh nhìn thấy tư tưởng Thiền đã nằm sâu trong thơ họ Đỗ, và dẫn ra 4 dòng thơ rất Thiền. Trích:
“…ý hướng thiền học và cảm xúc tâm linh đã ươm mầm trong thơ Đỗ Hồng Ngọc từ rất sớm. Nhưng phải qua những trải nghiệm nào đó về cuộc đời, người ta mới có thể nghĩ sâu về Tâm kinh như tác giả Nghĩ từ trái tim. Cũng như phải đạt đến một sự hòa hợp nào đó giữa “ngã” và “tha”, người ta mới viết được những câu thơ như Đỗ Hồng Ngọc:
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương.” (trang 24)
— Thu Thủy (Võ Phiến): Thơ Đỗ Nghê… Võ Phiến là một Thái Sơn Bắc Đẩu của văn học, Nơi đây, Võ Phiến nhìn về các trang thơ họ Đỗ, nơi có nhiều hình ảnh bom đạn, chết chóc, nhưng nhà thơ lại có văn phong rất mực từ bi ân cần với cuộc đời. Trích:
“Lời thơ không chút gì cầu kỳ, đọc lên lại nghe có vẻ quen quen như từng gặp ở đâu đó. Thế mà những lời giản dị quen thuộc đó lại làm ta xúc cảm, bâng khuâng. Ấy chính bởi cái vẻ chân thành, cái đôn hậu tỏ từ tấm lòng người thơ. Họ Đỗ nói đến chiến tranh, nói đến bom đạn, đến chết chóc, đủ mọi thứ đáng khiếp đáng hãi; nhưng không một lần nào lời thơ có vẻ ác liệt bạo tàn. Không thể tìm ở đâu ra trên đời này một con người hiền lành hơn.” (trang 29)
— Lữ Kiều Thân Trọng Minh: Vài Dòng Sau Một Tập Thơ… Nhà thơ Lữ Kiều cũng là một bác sĩ, bạn học của nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc. Họ quen từ trường Đại học Y Khoa, cùng viết cho báo trường, cùng chia sẻ các cảm xúc thời quê nhà rất mực sóng gió. Lữ Kiều nói rằng các số báo trong sân đại học khi thiếu thơ họ Đỗ là một trống vắng lạ lùng. Trích:
“Và điều quan trọng là anh làm thơ. Thơ anh cũng giống người anh vậy. Hình như chúng ta chỉ bắt đầu thân nhau, khi cùng làm báo Tình Thương; những bài thơ anh ký Đỗ Nghê xuất hiện trên tờ báo của trường, những bài thơ, thoạt đầu không gây một chú ý nào quan trọng. Nhưng về sau, những số báo thiếu thơ anh, cho tôi cái cảm tưởng trống vắng điều gì đó. Điều gì? Phải chăng là nét đặc thù của thơ anh. Tôi phải diễn đạt thế nào cho đúng?” (trang 31)
— Nguyễn Thánh Ngã: Viết Gửi Những Cụ Già Ở Montreal… Họ Nguyễn viết rằng có những bài thơ của họ Đỗ nghe y hệt kinh, và đặc biệt là bài thơ Đỗ Nghê tặng một em bé sơ sinh nghe tuyệt hảo như một kinh thơ để thai giáo. Trích như sau:
“Đỗ Nghê thi sĩ tên thật là Người Cầm Ống Tiêm. Đối tượng Trẻ Sơ Sinh. Trong cái sát-na rung cảm chàng dám đại diện cho Đời giới thiệu cho “tính bổn thiện” số phận Con người thông qua ngũ uẩn. Bé Sơ Sinh ơi, Ngươi là đứa bé nào ở không- thời- gian Từ Dũ-1965 mà diễm phúc vậy. Mới sinh ra liền được nghe Kinh Bát Nhã? Tôi lăn lộn ba đường sáu nẻo giờ mới được nghe lẫn lộn giữa ngộ -mê dày cộp. Sao có thể hiểu được điều gì. Ngươi mới là được nghe cái nghe tuyệt hảo, cái nghe nguyên vẹn gần như là thai giáo- một thứ kinh thơ bất tuyệt giữa chào đời…
Trân trọng chào em
mời em nhập cuộc
chúng mình cùng chung
số phận
con người…” (trang 50)
— Nguyễn Thị Khánh Minh: Đỗ Hồng Ngọc, Lang Thang Nghìn Dặm Trái Tim… Nhà thơ nữ họ Nguyễn nói rằng các trang sách của họ Đỗ không để đọc một lần, vì trong thơ họ Đỗ là Kinh Phật, là Thiền… Trích:
“Và ngay lúc này, khi tuổi đang vào lúc đi xuống đồi ngắm mặt trời hoàng hôn, qua những đớn đau bệnh tật, tôi tập tành tu dưỡng, đến với Thiền Và Sức Khỏe, để học biết được Thiền định qua cách thở. Đến với Nghĩ Từ Trái Tim, xem thiền giả kia lắng nghe mình ra sao sau khi qua đường ranh sống chết, và trái tim đã mở con đường dẫn người đến Tâm Kinh Bát Nhã. “Ngẫm nghĩ rồi nghe ngóng. Nghiền ngẫm rồi ngập ngừng…”. Tôi hình dung được nỗi miệt mài tìm hiểu nghiêm túc này. Và đó là điều cần để đi vào hành trình gian nan ấy. Cái gian nan tủm tỉm một mình… thiền hành mỗi phút mỗi giây. Cũng như những lúc say đọc Gươm Báu Trao Tay. Viết, luận về kinh với một văn phong như thế thật đã kéo được người đọc ngồi lại với mình để nghe như to nhỏ chuyện trò. Ông dùng hình ảnh trong Chinh Phụ Ngâm, Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh… ví von thanh gươm báu Kim Cang trao cho người thiện tâm để truyền bá đạo giải thoát chặt đứt mọi khổ nạn kiếp người. Với những sách như thế đâu chỉ đọc một lần.” (trang 75)
— Nguyễn Thị Tịnh Thy: Yếu Tố Bất Ngờ Trong Bài Thơ Bông Hồng Cho Mẹ…. Về một bài thơ hay dị thường, và rất ngắn, chỉ 4 dòng, của họ Đỗ. Trích:
“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người. Hay đến mức phải gọi đó là tuyệt tác. Và tuyệt tác này xứng đáng được hiện diện trong tang lễ của những bà mẹ. Bởi vì Bông hồng cho Mẹ là một cách viếng mẹ, khóc mẹ vô cùng đặc biệt – đầy uyên áo nhưng rất đỗi giản đơn. Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…”(trang 85)
— Lê Uyển Văn: Đôi Dòng… nơi đây, nhìn thấy trong thơ họ Đỗ như hoa nở muộn bên trời hanh nắng. Trích:
“Thật sự, không có gì thâm sâu, bí hiểm cả, chỉ là niềm cô đơn thầm kín, nỗi buồn rực rỡ của xưa xa nhưng làm cho đời sống “bớt bất trắc hơn”, “tuyệt vọng bỗng có vẻ đẹp riêng” như bông hoa nở muộn mằn bên trời hanh nắng.” (trang 95)
— Thy Ngọc: Bác Sĩ Nhà Thơ… gọi thơ họ Đỗ là một hồn thơ đích thực. Trích:
“… tôi hiểu sau Giữa hoàng hôn xưa của 1994 này, sau bài Đâu có phải tự nhiên ghi năm 1983 ở cuối tập, sẽ còn những tập thơ tiếp theo, dù chuyên môn của anh đã choán hết ngày, giờ, chỉ mới đọc một tập thơ này đã gặp một tâm hồn thơ đích thực.” (trang 102)
— Hồ Đình Nghiêm: Ngọc Hồng… Nhà văn họ Hồ từ Canada gửi lời ca ngợi thơ họ Đỗ. Trích:
“Và hôm nay, tôi cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc, ngoài việc “cứu nhân độ thế” với vai trò một y sĩ, thì tay trái của anh (tạm gọi vậy) đã không mỏi mòn viết nên những dòng chữ đẹp.” (trang 104)
— Hai Trầu Lương Thư Trung: Tuổi Già Thử Đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”… nhìn thấy đọc thơ họ Đỗ y hệt được thi sĩ nắm tay đi qua một dòng sông đời. Trích:
“Đọc bài thơ “Mới hôm qua thôi”, tác giả dưới con mắt của một vị thầy thuốc và dưới con mắt của một nhà nghiên cứu về đạo Phật, và dưới con mắt của một người thương người cùng chất lãng mạn của một nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê nắm tay chúng ta và anh đã dắt chúng ta đi qua một dòng sông đời trôi qua mấy mươi năm rồi với biết bao gian truân, vinh nhục, được và mất rồi ra chỉ còn là “mênh mông” với “mênh mông…” thôi!!!. Chẳng còn lại gì! Chẳng còn lại chút gì!” (trang 141)
— Tô Thẩm Huy: Thơ Ngắn Đỗ Nghê… Thơ 5 chữ của ho Đỗ nghe như Kinh Kim Cang… Trích:
“Chỉ năm chữ, mà gói cả tư tưởng của Kim Cang Bát Nhã kinh. Năm chữ hiền lành. An nhiên, tự tại. Năm chữ đã biến cái phù du ngắn ngủi của thân phận con người thành vĩnh cửu. Đã biến Thơ Ngắn Đỗ Nghê thành tiếng thơ dằng dặc đến vô cùng.” (trang 152)
— Huỳnh Ngọc Chiến: Một Chút Lá Rơi… Nhà phê bình họ Huỳnh nói rằng thơ họ Đỗ đầy tâm sự. Trích:
“Anh có làm thơ đâu! Anh đang ngồi tâm sự. Với chính mình, với đứa con gái yêu muôn đời vẫn “mãi mãi tuổi đôi mươi”! Những vần thơ bình dị, quá đỗi bình dị kia nghe mênh mang một nỗi đau rưng rứt. Dường như chính những điều bình dị nhất của thơ lại dẫn con người đi vào những cảm xúc mênh mông nhất. Nhưng những nỗi đau, những sự mất mát trong đời có khi là cơ duyên để ta hiểu cuộc đời hơn.”(trang 156)
— Phan Chính: Bên Bờ Mây Lãng Đãng… Thơ Đỗ Hồng Ngọc còn mang theo ánh sáng nhà Phật, trích:
“Anh viết “Nhẹ như không có/ Có mà như không…”, hay là “Thực chẳng dễ dàng/ Sống trong cái chết/ Và chết trong cái sống…”. Chỉ có ở người ngộ được cái giá trị cuộc sống nhân sinh theo triết lý Phật giáo trong cõi vô vi tự tại. Những tập sách Nghĩ từ trái tim, Như thị, Cành mai sân trước, Gió heo may đã về… lại liên tiếp tái bản nhiều lần mà vẫn được đón nhận, là sao? Bởi trong đó không những mang cái tư tưởng Phật học,Thiền học mà sự biểu cảm chân thực của một tâm hồn thơ nên đã dễ dàng chạm đến trái tim của con người. Cũng không thể thoát ly khỏi phiền não trong cuộc sống rộn ràng, Đỗ Nghê bất chợt nhận ra mình “Lá chín vàng/ lá rụng/ về cội/ Em chín vàng/ chắc rụng về anh”. Và cũng không khỏi những vướng bận theo vòng hệ lụy: “Hoa vàng đã rụng đầy sân vắng/ Tình cũng ngùi phai theo tháng năm…”.(trang 160)
— Lê Ngọc Trác: Nắng Vàng Thơm Quê Nhà… Nhà phê bình họ Lê nhìn thấy nắng vàng trên trang giấy họ Đỗ. Trích:
“Chúng tôi nghe “nắng vàng thơm quê nhà” trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Nắng. Gió. Thấm đẫm yêu thương trong cuộc đời này khi mùa xuân đang đến gần với con người và đất trời…” (trang 167)
— Du Tử Lê: Đỗ Hồng Ngọc, Thơ Và Thiền Song Sinh? Có phải thơ họ Đỗ cũng là Thiền:
“Tôi thấy trong Đỗ Nghê không chỉ có một thi sĩ mà, thi sĩ ấy, còn song sinh với một thiền gia nữa. Như thiên/địa, nhật/nguyệt, tuy hai mà, thực ra cũng chỉ là một thôi.” (trang 179)
— Luân Hoán: Đỗ Nghê… Nhà thơ Luân Hoán từ Canada gửi thơ về tặng nhà thơ Đỗ Nghê, trích 2 đoạn trong bài như sau:
“ông anh mang tên thật
lấp lánh ngọc màu hồng
hẳn ông muốn sống mãi
bên cạnh những mỹ nhân.
về ý nghĩa bút hiệu
tôi nghĩ hoài không ra
Nghê là một linh vật
trên đỉnh thờ trong nhà?” (trang 199)
— Phan Tấn Hải: Dịch thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”… Bài thơ của Đỗ Hồng Ngọc chỉ có 4 dòng, ghi hình ảnh ngày Lễ Vu Lan, và nhà báo họ Phan đã dịch sang tiếng Anh. Bản gốc và bản dịch như sau.
Bông hồng cho Mẹ
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…
ENGLISH:
A rose for Mom
I put on myself a white rose
and give Mom a red one
Mom, be sure to put it on a lapel
Grandma is waiting at the other shore of the river…” (trang 191)
……………………………………………………………..
Tất cả các bài trong tuyển tập E-book này đã đăng rải rác trên trang nhà: https://www.dohongngoc.com/ Nơi đây độc giả có thể đọc nhiều hơn, kể cả nhiều bài trong nhiều thể loại.
NG-PTH
.

gởi khánh minh
em bảo vẽ cho em một bức chân dung
chân dung người làm thơ
một người làm thơ nữ
trời đất ơi
làm sao vẽ được chân dung
một người làm thơ nữ
đom đóm hái sao
tôi nhắm mắt lại nhìn em
cho rõ
lần đầu gặp ở trương thìn,
đây khánh minh
rồi làm thinh
tôi thấy em thục nữ,
tại sao mà làm thơ
rồi nhìn thêm lần nữa
oan oan thư cưu
cho đến một hôm nơi ồn ào kia
quanh bè bạn thân quen đâu từ kiếp trước
em tặng mỗi người tập thơ còn ướt
những bài thơ hình hiện muôn đời
như không thôi đi được…
tôi nhắm mắt nhìn em cho rõ
thử hình dung ra cái hình dung
rồi vẽ vào không gian trong
một người làm thơ nữ
khi mở mắt ra
em tan biến
đành ghi vội mấy dòng
tạ lỗi!
đỗ nghê
(9.2014)
SẮC MẦU BAY
Và, Nhà Thơ Đỗ Nghê …
“Làm sao em có thể lấy được bức tranh trong thinh không?”*
Tôi đang là tia nắng
Xin giữ tôi. Gió ơi, bằng sợi mềm mại mùa thu
Hàng cây cọ đang tỏa lời chiếc lá mũi tên
Có thể tôi sẽ là nạn nhân
Tan không hối tiếc. Khuôn mặt màu nắng si dại
Hãy để tôi rơi
Nơi bàn tay đang xòe rộng. Cỏ ngát xanh
Như tôi là con diều ngơi nghỉ
Với đôi mắt trẻ thơ
Đựng một khung trời trong suốt
Đưa tôi về bên triền sông thơ ấu
Khúc khích đuổi bắt
Đom đóm bay đầy trong váy trắng
Ánh sáng xanh ấy tôi nắm được trong tay
Ánh sáng xanh. Ánh mắt bạn bè
Soi tôi gần gũi
Gió ơi. Vẽ cho tôi đường bay
Những vì sao sáng ở rất xa. Đến nỗi vô vọng
Ảo ảnh không một lần chạm được
Chân dung mây những khoảnh khắc hợp tan
Vọng âm hạt nước vỡ
Một ngày mưa Sài Gòn. Rất xa
Như thể mầu của ký ức
Ngôi sao của chúng ta lấp lánh trong tàn cây khuya
Và gió ơi xin du dương
Nhịp của trái tim tôi mơ mộng
Đem đến khu vườn bức tranh kia
Nhỏ xuống hạt lệ
Cho dẫu nơi ấy có là bảng palette thinh không…
Trong âm vang của sương mù
Tôi thấy
Những sắc mầu bay**
nguyễn thị khánh minh
9.2014
*Thơ Đỗ Nghê “…Rồi vẽ vào không gian trong…”
**Thơ Đinh Cường “…những câu thơ đầy sắc màu bay …”
Mới hôm qua thôi
Ban Mai
Chè thưng

gánh chè thưng xưa (hình Internet)
Chè thưng coi ngọt ngào vậy mà lại là món “khó ăn” nhứt cho tôi, trước do cái tên bí hiểm, sau vì quá khứ đầy bí ẩn của nó. Sau hơn hai tháng ăn không ngon ngủ không yên, nhờ anh Google và các vị tiền bối, thêm chút máu trinh thám, tôi cuối cùng cũng hoàn tất một câu chuyện tương đối hợp lý để trình làng.
Nghĩ tới chè Sài Gòn, tôi nhớ ngay đến câu rao hàng dài nhứt, tha thiết và mùi mẫn nhứt mà tôi từng được nghe:
“Ai ăn chè bột khoai bún tàu… đậu xanh nước dừa đường cát…hôn…”
Thực ra vào thập niên 1980 và 1990 thưở tôi ở Sài Gòn, tiếng rao này đã vắng đi nhiều. Và khi bước sang thập kỷ 21, tiếng rao này không còn nữa. Cũng không thấy ai bán món chè có bột khoai – bún tàu – nước dừa nữa. Đó là lý do tôi chọn tiếng rao này để bắt đầu cuộc hành trình đi tìm một món chè xưa đã mất (?) của Sài Gòn.
Nhờ anh Google và thùng sách quý giấu đầu giường, tôi khám phá ra bí ẩn đầu tiên: tên gốc ngắn gọn của món chè này chính là chè tào/ tàu thưng. Xin hầu quý vị vài câu chuyện từ các bậc tiền bối để chứng minh cho sự liên hệ giữa tiếng rao trên và cái tên này.
Trên trang nhà của Giáo sư Trần văn Khê, ông tả lại một buổi đi thuyền trên sông Sầm Giang với hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận vào năm 1939. Thuyền đi từ Vĩnh Kim ra Rạch Gầm.
“Đáp lời mời của thi sĩ Khổng Nghi, hai nhà thơ lớn Xuân Diệu và Huy Cận đến Sầm Giang để cùng chúng tôi thưởng thức một đêm trăng trên sông, có nhạc, có thơ, có người đẹp và có cả những thức ăn đặc sản. Đêm đó có cháo gà xé phay, tráng miệng ngoài trái cây còn có món “tào thưng” (chè thưng gồm có bột khoai, bún tàu, nước dừa, đường cát). …Thuyền trôi đến chỗ nào ưng ý, chúng tôi neo thuyền lại rồi bắt đầu hòa đờn. Lúc nào cũng có người “lắng tai Chung Kỳ”. Rồi thưởng thức món cháo gà xé phay, ăn kèm rau ghém, bên cạnh đó cũng có vài chung rượu đế Vĩnh Kim cho ấm bụng. Chén “tào thưng” làm cho hai thi sĩ Miền Bắc tấm tắc khen ngon.” (Trên sông Sầm Giang đăng 5/6/2013, trang Trần văn Khê)
Sau này gặp lại, nhà thơ Xuân Diệu vẫn nhớ buổi du thuyền đêm đó và viết tặng Giáo sư một bài thơ, trong đó có câu:
“Dưới trăng, mời chén tào thưng,
Mà ba mươi lẻ năm chừng đã qua.”
(bài đã dẫn)
Trong khi đó ở Sài Gòn, nhà văn Minh Hương kể về tiếng rao hàng làm ông day dứt những đêm cô đơn trong tù (ông bị tù khoảng năm 1945-1954):
“…khi thấy nửa vành trăng khuyết treo lơ lửng trên ngọn cây sao, cây dầu. Rồi có tiếng rao lảnh lót ngân vang ngoài đường “Ai ăn chè đậu xanh… bột báng… nước dừa… đường cát không?” (Sách “Nhớ… Sài Gòn”, trang 247).
Minh Hương cũng nhớ “những câu rao hàng rất dài trong đêm vắng” ở đất Sài Gòn những năm sau đó: “Hò …hò…ai ăn chè đậu xanh, bột báng, nấm mèo, bột khoai, đường cát, nước dừa …không?” (Sách “Nhớ… Sài Gòn”, trang 99)
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trong bài “Thơm bàn tay nhỏ” viết về hàng rong Sài Gòn, cũng nhắc tới tiếng rao này:
“Ngày xưa khi Sài Gòn còn vắng, trưa nào cũng nghe tiếng rao lãnh lót ai bột khoai nước dừa bún tàu đường cát … hôn? Phải nói nghe riết thành ghiền. Trưa nào không nghe cũng cảm thấy bứt rứt không biết hôm nay chị bán chè tàu thưng đó có đau ốm gì chăng? “ (Trang nhà Đỗ Hổng Ngọc)
Câu rao này còn rất có duyên với âm nhạc và thơ ca. Văn sĩ kiêm thi sĩ Trúc Giang hồi năm 1950 có viết truyện thơ “Cô Sáu tào thưng”. Nhạc sĩ Thu An thì viết bài vọng cổ “Gánh chè khuya” sau khi cám cảnh cô gái nghèo mười lăm tuổi đi bán chè nuôi mẹ già. Danh ca Út Trà Ôn và Út Bạch Lan ca bài này hay hết chỗ chê, nhứt là giọng cô Út Bạch Lan rao câu “mở hàng” đến động lòng:
“Ai ăn chè bột khoai bún tàu đậu xanh nước dừa đường cát hôn….”
Trong lời bài hát, tên tào thưng đã rút gọn lại thành “chè thưng”:
“Em đi bán chè thưng. Nặng lo chữ hiếu cho tròn”.
Như vậy, chè bột khoai – bún tàu – nước dừa – đường cát, sau đó thêm đậu xanh – bột báng có tên cúng cơm là tào/tàu thưng, sau đó gọi rút gọn là chè thưng. Tới đây tôi tự hỏi: sao lại là tào/tàu thưng mà không phải một cái tên tiếng Việt?
Cụ Sơn Nam, khi nhắc đến các món ăn Nam bộ, đã nhân tiện giải thích cho tôi hai chữ tào/tàu thưng:
“Nên kể thêm các loại chè, như chè khoai môn nước cốt dừa, chè hột sen, chè đậu xanh đường cát (gọi tàu thưng, đậu và đường, tiếng Quảng đông âm lại)” (Nhiều tác giả – Nam bộ xưa và nay, trang 387 sách điện tử)
Tôi vỡ lẽ: tào thưng hay tàu thưng, cũng có chữ tào/ tàu như trong tào phớ, hay tào/tàu hủ. Tào/tàu là đậu, và theo cụ Sơn Nam, thưng là đường. Nhưng chè đậu xanh chính cống của người Hoa chỉ có đậu xanh, không có bột khoai – bún tàu – nước dừa nên tôi lại đi tìm tiếp, nhứt là cái vụ bún tàu trong chè nghe nó kỳ kỳ.
Tôi viết email xin Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc giải thích cho hai chữ bún tàu trong chè thưng. Bác sĩ trả lời:
“Con chịu khó nghe bài vọng cổ này của Út Trà Ôn nhé, trong đó có tiếng rao ngọt ngào của cô gái bán chè Tàu Thưng. Bác còn thiếu ”đậu xanh” nữa mới đầy đủ con ạ. Hình như cái gọi là ”bún tàu” trong chè ở đây không phải “miến” đâu. Nó to bản hơn, dai hơn, rời rạc chớ không cuộn thành tổ như tổ chim đâu. Hồi nhỏ bác cũng hay… ăn chè nên nhớ mang máng đó con ạ!”
Tôi đoán cái Bác Ngọc tả là bột khoai, vậy lúc Bác Ngọc ăn chè (chắc khoảng những năm 60 khi Bác vào Sài Gòn học Y khoa), bún tàu đã…không còn trong chè thưng nữa. Vì sao tiếng rao vẫn còn “bún tàu” như xưa?
Giây phút “A ha!” xảy ra bất ngờ khi tôi đọc “Những bước lang thang” của nhà văn Bình-nguyên Lộc, một cây bút kỳ cựu của Sài Gòn xưa. Cụ Lộc, thua cụ Vương Hồng Sển một giáp và hơn cụ Sơn Nam cũng đúng một giáp, sống hơn 45 năm ở Sài gòn từ đầu những năm 1930. Trong tập “Những bước lang thang”, xuất bản lần đầu vào năm 1966, cụ Lộc tả món “bột khoai” bán rong trên thuyền trong bài “Quà đêm trên sông Ông Lãnh”:
“Đó là thứ quà hỗn hợp và hỗn độn, hình ảnh của những đợt sóng người tràn vào đây khai hoang đất mới từ ba trăm năm nay. Thứ chè ấy gồm cả những món ăn dùng để nấu thức ăn mặn như là bún tàu (miến), nấm mèo (mộc nhĩ), vân vân…Đặc biệt nữa là khi rao quà, họ kể hết các món ấy ra:
Ai…ăn bột khoai, bún tàu…đậu xanh, nước dừa, đường cát…hôn?” (Những bước lang thang, trang 11-12 sách điện tử)
Tôi nghi cụ Lộc ở nhà thường xuyên nấu ăn, vì chỉ có cụ mới có cái nhận xét rất nghề của người hay nấu ăn là có những món mặn trong cái món chè vốn ngọt này. Cụ thật sự “gãi đúng chỗ ngứa” cho tôi khi xác nhận có bún tàu (miến) trong món chè này. Cái tinh tế thứ hai của cụ là nhận xét của một người quan sát bén nhạy: chè này đặc biệt vì khi rao, người bán kể hết các thức có trong chè ra, chứ không rao gói gọn. Cái tinh tế thứ ba, liên tưởng của một nhà văn hóa, rằng đây là món tượng trưng cho “hình ảnh của những đợt sóng người tràn vào đây khai hoang đất mới từ ba trăm năm nay”. Cụ dùng từ vô cùng chính xác: “hỗn hợp” vì là sự kết hợp giữa nguyên liệu của nhiều tộc dân khác nhau cư trú trên đất Sài Gòn – Gia Định khi đó, còn “hỗn độn” vì có nhiều thứ mặn ngọt xen lẫn. Có lẽ, chỉ có dân khai hoang mới dám thử và chế ra một món chè bạo gan như vậy!
Nhưng bạn có để ý không, cụ Lộc không gọi chè thưng mà gọi là món bột khoai. Một người kỹ tính, tinh tế như cụ chắc không gọi bừa tên một món ăn mà cụ nhắc tới với giọng điệu trân trọng như vậy. Cụ làm tôi phải giật mình: hóa ra ngoài cái tên chè thưng, món chè này còn có một cái tên Việt dễ thương chất phác như vậy – chè bột khoai.
Tôi vẫn chưa yên tâm nên lôi một trong các sách bửu bối ra tìm lần nữa. Cuốn “Từ điển văn hóa ẩm thực Việt Nam” ghi:
“Chè thưng: Đậu xanh ngâm mềm, đãi sạch vỏ, hấp chín, ướp với đường. Bột đao hòa với nước dão dừa, nước đường, bắc lên bếp vừa đun vừa khuấy đều tay cho bột chín đều, khi bột chín trong cho đậu xanh, hạt sen (hấp chín, ướp đường), mộc nhĩ (ngâm nở, thái chỉ), nước cốt dừa vào đảo đều. Ăn nguội.” (trang 349-350)
“Chè bột khoai nước dừa: Bột khoai ngâm nước cho nở. Đậu xanh ngâm mềm đai sạch vỏ nấu chín mềm. Lạc ngâm nước, bóc bỏ vỏ lụa, hầm mềm. Cho nước dão dừa vào xoong, bắc lên bếp, bỏ bột báng và bột khoai vào nấu trước cho chín cho tiếp lạc, đậu xanh và đường vào nấu để các thứ ngấm đường, chế nước cốt dừa vào đảo đều. Bắc xuống cho vani vào. Ăn nóng hoặc ăn nguội với đá.” (trang 450)
Theo các tác giả cuốn từ điển này, chè thưng có dạng đặc mà chè bột khoai là dạng lỏng. Cả hai đều có đậu xanh và nước dừa, ngoài ra chè thưng có hạt sen – mộc nhĩ còn chè bột khoai có bột khoai – bột báng – đậu phụng. Tôi nhờ anh Google tra coi bây giờ thiên hạ nấu chè thưng và chè bột khoai ra sao liền thấy xuất hiện thêm một cái tên – chè bà ba. Nhiều người giải thích một cách rất tự tin: chè thưng chính là chè bà ba. Và chè bà ba thì có thêm vô số kể các thứ mới như khoai lang, khoai mì, khoai môn…Tới đây tôi thật sự “tẩu hỏa nhập ma”: giờ biết tin ai? Trong thân tâm tôi vẫn thấy tin tưởng các vị tiền bối, các cụ đều là người đức cao trọng vọng, lời nói đáng tin. Vậy phải giải thích chuyện nguyên liệu một lần nữa “hỗn hợp” và “hỗn độn” như vầy ra sao?
Trước hết phải tìm ra xuất xứ chè bà ba. Theo Wikipedia tiếng Việt và giang hồ đồn đại thì chè này “là món chè được chế biến lại từ chè bột khoai đường cát của bà Ba bán chè nổi tiếng ở chợ Bình Tây (thuộc quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh) cách đây khoảng một phần hai thế kỉ. Từ món chè bột khoai công thức chỉ gồm có nước cốt dừa, đậu xanh cà, bột khoai, khoai lang… bà đã thêm vào đó phổ tai, táo tàu, hạt sen, mộc nhĩ… tổng cộng tất cả từ 9, 10 thứ nguyên liệu mới trong một chén chè tạo nên món chè bà ba.” Có người còn thêm cái tên bà ba là do “bởi món chè này ngon độc đáo, giống như người con gái đẹp miền Tây mặc chiếc áo bà ba mộc mạc mà hấp dẫn vô song”. Ý tưởng này nghe rất nịnh đầm nhưng sự thực chắc không nhiều lắm. Dù sao nó cũng làm tôi táy máy tra thử nguồn gốc “áo bà ba”.
Nhiều người dẫn lời nhà văn Sơn Nam rằng áo bà ba là từ áo truyền thống của người Baba – người Mã lai Hoa thay đổi mà thành. Tiếc thay, không ai nói rõ Sơn Nam viết như vậy trong cuốn sách nào của ông và trang bao nhiêu. “Trong nhà” chưa rõ, đành “ra ngõ” mà hỏi. Sách “Đông Nam Á bách khoa toàn thư” (Southeast Asia – A Historical Encyclopedia from Angkor Wat to East Timor), trang 199-200, cho biết Baba Nyonya là tên nhóm hậu duệ Hoa – Mã lai (cha Hoa, mẹ Mã lai) cư ngụ nhiều nhất tại Melacca, Penang (Mã lai) và Singapore . Các gia đình thuộc tộc này đa phần khá giả và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, thương mại. Một số từ Melacca đã di cư đến Sài gòn mở các điểm chuyển tiền, cho vay và bao thầu nhiều tàu chở hàng giữa Sài Gòn và Singapore.
Rồi tôi thấy món Bubur Cha-cha của người Baba Nyonya với nguyên liệu gần tương tự chè bà ba: khoai lang, khoai mì, khoai môn, bột báng, nước dừa, có khác là họ nấu với đường thốt nốt thay vì đường cát trắng. Nhớ cụ Bình-nguyên Lộc có viết trong cuốn “Lột trần Việt ngữ”, trang 100 (sách điện tử trên trang binhnguyenloc.de), rằng người Việt thời đó gọi người Mã Lai bằng một trong năm từ sau: Miền Dưới, Chà Và, Mã Lai, Bà Lai và Bà Ba. Bà Ba có khả năng lớn là phiên âm của Baba Nyonya nhưng dân ta bỏ bớt chữ sau để gọi cho gọn. Dựa vào chuyện này, tôi mạnh dạn suy luận chè bà ba chính là chè của người Bà Ba do một người Hoa-Mã lai bán ở Sài Gòn. Người này có thể tên là Bà Ba, nhưng không ngẫu nhiên mà “truyền thuyết” nói bà này bán ở chợ Bình Tây. Đừng quên chợ Bình Tây còn được kêu là Chợ Lớn Mới do ông Quách Đàm, một thương gia người Hoa bỏ vốn xây cất vào năm 1928 và dĩ nhiên có rất nhiều người gốc Hoa buôn bán.
Rồi vì chè bà ba, chè thưng và chè bột khoai có nhiều nguyên liệu giống nhau, lại thêm lục tàu xá (chè sáu món của người Hoa, gồm đậu xanh, phổ tai, táo đỏ, hạt sen, nhãn nhục, hoa móng tay hay vỏ quýt), ngưòi Sài Gòn bắt đầu pha trộn theo khẩu vị của riêng mình. Kết quả, Sài Gòn có vô số phiên bản chè thưng và chè bà ba, còn chè bột khoai không hiểu sao ngày càng ít phổ biến.
Tới đây chắc sẽ có người cắc cớ hỏi tôi rằng sao lại đặt tên bài viết là chè thưng. Xin thưa, bởi tôi nghĩ chè thưng thực sự là con đẻ của đất Sài Gòn đa văn hóa, mạnh mẽ và phóng khoáng, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và biến nó thành đặc trưng của riêng mình. Chè thưng bây giờ, không phải là chè tào/tàu thưng ngày xưa, không hoàn toàn là chè bột khoai, cũng không là chè của người Bà Ba, mà là một món chè chính hiệu Sài Gòn. Vàng ươm khoai lang, trắng bóc khoai mì, tím hồng khoai môn, xanh non phổ tai, trong ngần bột báng, vàng nắng đậu xanh, hồng hồng đậu phụng. Mềm dẻo của khoai, dai dai phổ tai – bột khoai – bột báng, sần sật đậu phụng, mềm nhừ đậu xanh, ngọt béo nước dừa. Có món chè nào trên đời đa sắc và đa vị được như vậy không?
Tôi tin chè thưng có thể tự tin cùng bánh mì thịt, nước mắm, phở đại diện “tinh hoa ẩm thực Việt Nam” đi thi đấu trên trường thế giới. Tôi tin một ngày nào đó, đánh vào tự điển Oxford hay tự điển Ẩm thực Larousse hai chữ chè thưng, tôi sẽ vui mừng đọc thấy dòng chữ “Món chè của Việt Nam” và lịch sử đa văn hóa của chè thưng. Tôi tin ở một hội chợ ẩm thực thế giới trong tương lai, gian hàng Việt Nam sẽ có chị gái mặc áo bà ba bán chè thưng, ngồi xổm cất tiếng rao:
“Ai ăn chè bột khoai bún tàu… đậu xanh nước dừa đường cát…hôn…”
Mong lắm thay!
Minh Lê (Suối Tiên, Khánh Hòa)
………………………………………………..
tác giả gởi ngày 17.10. 2020
Khoảnh khắc

Ảnh Lê Hồng Linh
Lê Hồng Linh muốn tôi ghé thăm phòng triển lãm ảnh với chủ đề Thấu Cảm của anh lần này một chút- một chút thôi- và ghi lại đôi dòng cảm nghĩ. Tôi đã ở vào cái tuổi tám mươi, lại chẳng biết gì về nghệ thuật, kỹ thuật nhiếp ảnh, nhất là trong một thế giới toàn cầu hóa, mỗi người đều như sẵn có một cái máy ảnh trong tay, bấm hoài chẳng sợ hết phim như những ngày xa xưa đó!
Thấu cảm (Empathy) tôi hiểu, không phải là đồng cảm, thông cảm… mà là Gaté, gaté, paragaté…vượt qua, qua “bờ bên kia” để mà hiểu cho “thấu”, để mà cảm cho “thấu”, rồi như Quán Thế Âm Bồ-tát nghìn mắt nghìn tay làm một cái gì đó cho cõi nhân sinh.
Thế là tôi bước vào phòng triễn lãm của bạn. Và tôi cảm thấy mình bị shoc. Một nỗi buồn mênh mông xâm nhập hồn tôi. Đất nước tôi, dân tộc tôi đó ư? Sau cuộc chiến tranh đằng đẵng đầy bom đạn chết chóc, tang thương để rồi cũng chỉ là những nỗi buồn mênh mông vậy sao? Hình như nhà nhiếp ảnh muốn bày ra để mọi người thấy và muốn kêu lên để mọi người nghe.
Thấy gì? Thấy ánh mắt buồn bã của một em bé vùng quê không được đến trường. Thấy những bà mẹ quê gồng gánh con như thời khói lửa, bà mẹ chợ đèo con trên xe đạp trong hai chiếc giỏ… Thấy một người đàn ông thân cò lặn lội trên vùng nước đọng, một người đàn ông khác ráng kéo con ngựa qua dòng thác lũ… Và thấy những nụ cười ngơ ngác của già nua…, ánh mắt sợ hãi của bé thơ…
Nghe gì? Nghe một tiếng kêu thương.
Rồi cũng thấy những tà áo dài trắng tinh khôi lướt qua cây cầu khỉ, soi mình xuống dòng kênh, một “con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi…” của ngày xưa, và chiếc xe vua chở ba cô học trò vút bay trong hoa nắng. Chiếc xe vua rồi cũng mất, cây cầu khỉ rồi chẳng còn. Chút kỷ niệm ngọt ngào trong trắng kia làm sao tồn tại trong một thế giới đảo điên, tràn đây vật chất mà thiếu tình người, thiếu hồn nhiên trong sáng…
Tôi thấy dâng lên một nỗi buồn. Sự nghèo khó. Sự cô đơn. Sự bất hạnh… Có thể từ đó mà có sự “thấu cảm”, từ đó mà có ánh mắt bàn tay của Quán Thế Âm chăng? Tôi nghĩ Từ bi là không đủ. Một đống rác khổng lồ sặc sở như núi kia bao giờ sẽ thành hoa? Những người già nua kia rồi về đâu? Những bé thơ hồn nhiên nọ bao giờ sẽ bình minh? Và những người tật nguyền…
Tôi cũng chợt nhận ra cái đẹp ở “Khoảng khắc” dưới ống kính của người nghệ sĩ. Bé sợ hãi chới với níu tay mẹ. Bà cõng bé như trốn chạy với những ngón tay quíu lại một vành đai. Cái ánh mắt của con khỉ ôm chặt lấy em bé như một chỗ dựa khi thiên nhiên bị tàn phá không còn là chốn nương thân… Và chiếc xe vua bay giữa ngàn sao…
Lê Hồng Linh chia sẻ về nghề:
Máy ảnh không phát hiện được cái đẹp.
Chỉ có độ nhạy cảm con người mới nhìn thấy và sáng tạo cái đẹp.
Tâm hồn là loại ống kính tốt nhất mà nhà nhiếp ảnh phải gìn giữ sự trong sáng của nó.
Quả thực, ảnh của Lê Hồng Linh là cái hồn, từ nụ cười đến ánh mắt, từ làn sóng đến cơn mưa… Với tôi, anh là một nhà thơ biết ‘tan vào nhau trong từng khoảnh khắc” khi anh viết những câu thơ cho một bức ảnh:
Anh/ như mây/ như sương
Trôi/ đến núi em/ thành thủy mặc
Tan vào nhau/ trong từng khoảnh khắc
Tuyệt mù
(LHL)
Tôi bỗng nhớ một bài thơ cổ:
Chàng như mây mùa thu
Thiếp như khói trong lò
Cao thấp tuy có khác
Một thả cũng tuyệt mù…
“Một thả”, ấy là “tan vào nhau” đó vậy.
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, Trung thu 2020)
An instant
Lê Hồng Linh asked me to stop by his photography exhibition Empathy for a short visit – just a short visit — and to write some comments. I was eighty years old and knew nothing about the art and technique of photography in a globalized world where everyone likely had a camera on hand, took countless pictures, and never run out of the roll film like ancient days..
I knew that Empathy was neither sympathy nor compassion. It should be Gate Gate Paragate Parasamgate… to cross to the other shore, to completely understand, to thoroughly feel, and to follow the steps of the thousand-armed and thousand-eyed Quán Thế Âm Bodhisattva to make this world a better place..
Thus I stepped into his photography exhibition. And I felt shocked. A vast sorrow soaked up my heart. My country, my people there? After a long deadly war that bombarded and destroyed so much, only a vast sorrow lingered here, didn’t it? It seemed that the photographer wanted his photos to be seen, and his loud cries to be heard..
Seeing what? Seeing the sad eyes of a countryside youth who had no chance to go to school. Seeing a countryside mother who used a shoulder pole to carry her child just like in the wartime. Seeing an urban mother who rode a bike on which her children sat in two baskets.
Seeing a lonely man who waded through backwaters. Seeing another man who tried to pull a horse over a torrential flood. And seeing the dazed smiles of the old people… seeing the fearful eyes of the youths.
Hearing what? Hearing a cry of Empathy.
Then I saw the white flaps of long dresses from the schoolgirls who stepped cautiously over a monkey bridge and looked at their reflections on the water surface of a canal that brought back memories of a “greenish canal of gently flowing water in the afternoon”… Then I saw a cycle rickshaw with three schoolgirls seating rushed wildly amidst the flowering of sunshine. The cycle rickshaws are now gone, so are the monkey bridges. How could the sweet and innocent memories linger in this upside-down world, which is full of materialistic things and lacks of human compassion and sinless innocence?
I felt the arising of sorrow. Poverty. Loneliness. Misery… From there, maybe empathy could arise, and the Quán Thế Âm’s eyes and hands could appear? I thought Compassion was not enough. How long for a huge colorful dumpsite that was as high as a mountain to become a flower field? Where would the old go? When would the young live in the sunrise of their life? And disabled people….
I also suddenly discerned the beauty of An Instant revealed through the lens of the artist. A child fearfully grasped her mother’s hand. With her fingers gripping like a belt, a woman piggybacked her child in a hurry, as fugitives on the run. The light in the eyes of a monkey who held firmly a child as a sort of anchor while all the nature around was destroyed and left nowhere for them to lean on. And the cycle rickshaw that flew among thousands of stars….
Lê Hồng Lĩnh shared his thoughts about photography:
The camera could not point out the beauty.
Only the human sensibility could discern and create the beauty.
The human mind was the best lens that the photographer had to keep it as pure as possible..
In fact, Lê Hồng Linh photos had their own souls – from a smile to the shining eyes, from the river waves to a falling rain… In my mind, he was a poet who knew “how to blend into his love in every instant” when he wrote some poetic lines for a photo:
I / like clouds / like fog
Flew / to you, the mountain / became an ink wash painting
Blending into each other / in every instant
Wonderfully invisible.
(LHL).
I suddenly recalled an ancient poem:
You was like a cloud of autumn
Me, a column of smoke from the chimney
High and low – differently
Once had flown – wonderfully invisible..
“Once had flown”— that implied “blending into each other”.
ĐỖ HỒNG NGỌC
(Saigon, Mid-Autumn 2020)
Translated by NGUYÊN GIÁC PHAN TẤN HẢI
“Ba điều bốn chuyện”
Một bạn trẻ hỏi có “bí quyết” nào dễ nhớ để học Phật cho tốt không?
Có đó. Tôi gọi đó là “Ba điều bốn chuyện”.
Chuyện thứ nhất: Phật không phải là một thần linh, một giáo chủ… uy quyền tối thượng, ban bố ơn phước cho loài người. Phật là một người bình thường như ta, cũng trải qua khổ đau bệnh hoạn già nua và chết chóc như chúng sanh. Nhờ tìm được con đường thoát khổ mà chia sẻ với mọi người với lòng từ bi vô hạn, bởi ai cũng có Phật tính, ai cũng sẽ thành Phật mai hậu. Phật không độc quyền làm Phật một mình. Cho nên Phật là một đạo sư “Chánh đẳng Chánh giác”, một nhà giáo dục, một bậc y vương đáng quý đáng trọng.
Chuyện thứ hai: Phật khuyến khích hãy quay về nương tựa chính mình, đừng chạy vạy tìm kiếm đâu xa. Tự trách nhiệm về cuộc đời mình, chọn con đường mình đi. Không ai vào nước thiên đàng hay địa ngục vĩnh viễn, ai cũng có cơ hội để thay đổi vòng đời mình. Nói khác đi, tạo cho mọi người tự tin vào năng lực của riêng mình và hoàn toàn bình đẳng, không phân biệt.
Chuyện thứ ba: Thở là quan trọng số một của đời sống. Hãy biết thở đúng. Thở đúng để thấy thân tâm nhất như. Và nhìn kỹ vào hơi thở để thấy rõ sự sống chết, sự tạm bợ, sự đổi thay, sự không có cái tôi riêng mình vì thở cóc cần ta, chẳng phải của ta, chẳng phải là ta.
Chuyện thứ tư: Ăn là quan trọng. Cần phải hiểu tại sao ăn, ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn cách nào… Phật mang bình bát đi khất thực vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và ai cho cái gì cũng vui nhận, không đòi hỏi, chẳng từ chối. Mang về vo lại thành một cuộn tròn để ăn một cách chánh niệm gọi là “đoàn thực”. Đủ glucid, protid, lipid, mineral, vitamin… thành ngũ uẩn. Ăn ngũ uẩn để nuôi thân ngũ uẩn. Vẫn là tùy duyên, vô thường, vô ngã. “Ăn chay” là ngoài đoàn thực còn phải chú ý đến các món ăn khác là xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
Đó là bốn chuyện.
Còn ba điều là sao?
Một là phải hiểu “thuật ngữ” Phật học. Không hiểu thuật ngữ thì sẽ bối rối, hiểu lầm, dễ dẫn tới dị đoan mê tín. Khi phải giảng về Phật pháp, tốt nhất là ”vô ngôn”, vì ngôn ngữ tự nó đầy rẫy những cạm bẫy. Thí dụ: “Tam- ma- địa” mới nghe tưởng là vùng đất của ba con ma! Thực ra Tam-ma-địa do phiên âm chữ Samadhi, nghĩa là Chánh định, một thứ định sâu. Chữ Niết-bàn chẳng hạn không phải là cái nơi thiên đàng, cực lạc, mà là chữ phiên âm của Nirvana, “tắt lửa”, nghĩa là không còn tham lam, sân hận, si mê gì nữa. Đã hoàn toàn giải thoát phiền não khổ đau. Ngay cả chữ “chúng sanh” cũng vậy. Cho nên Phật bảo “chúng sanh không phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh- Kim Cang).
Hai là phải hiểu những ẩn dụ, ẩn nghĩa, mật nghĩa… khi đọc kinh sách Phật. Ta thấy trong kinh Pháp Hoa nói đến hóa thành, cùng tử, viên ngọc trong chéo áo… Niệm Quan Thế Âm thì gặp lửa lửa tắt, gặp nước cuốn trôi thì nước cạn, muốn sanh con trai có con trai, con gái có con gái… Tưởng thiệt thì nguy! Lửa ở đây là muốn chỉ lòng sân hận. Sân hận đưa ta vào chín tầng địa ngục. Nước ở đây là lòng tham cuồn cuộn cuốn ta vào hố thẳm không đáy… Con trai là Trí tuệ, con gái là Từ bi…
Ba là học Phật phải Thực hành. Từ từ, không nóng vội. Nóng vội sẽ dẫn tới “tẩu hỏa nhập ma”. Thực hành trong cách thở, cách ăn, cách nghĩ, cách làm. Học Bồ-tát Thường Bất Khinh để luôn kính trọng mọi người, không phân biệt. Học Bồ-tát Dược Vương để luôn chân thành, ai thấy cũng vui ai gặp cũng mừng (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến). Học Bồ-tát Quán Thế Âm để biết thấu cảm, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân đủ hình dạng tùy cơ ứng biến giúp người bất cứ nơi đâu có tiếng kêu khổ đau của trần thế. Đó chẳng phải là những đức tính tôn trọng (respect), chân thành (genuine), thấu cảm (empathy) giúp cho cuộc sống luôn an lạc, hạnh phúc ư?
Đỗ Hồng Ngọc
(9.2020)
Thư gởi bạn xa xôi
(25.9.2020)
Sáng mở email, thấy Bác sĩ Nguyễn Cầm, anh bạn cùng khóa ở Y khoa Đại học đường Saigon với mình (1962-1969) chuyển cho bạn bè một bài viết rất dễ thương của Nguyễn Nhật Ánh: Về giọng nói ở một nơi không có xe lam.
Nguyễn Cầm vui lòng cho mình post lại trên trang này nhé. Cám ơn bạn.
Dịp này mình cũng chia sẻ thêm vài câu chuyện quanh “giọng nói” đặc biệt vùng miền này để tặng ca sĩ Thu Vàng, nhà văn Trúc Hạ, Nguyễn Quang Chơn cùng các bạn ở Hội An nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
.
Về giọng nói ở một nơi không có xe lam
Nguyễn Nhật Ánh
Giọng Quảng phân biệt một cách rõ ràng giữa âm TR và CH, S và X, D và V, R và G… Nhưng âm giữa và âm cuối, người Quảng thường phát âm chệch.
“En không en tét đèn đi ngủ” (Ăn không ăn tắt đèn đi ngủ) có lẽ là câu nói phổ biến nhất nhằm giễu cợt cách phát âm của người Quảng. Người ta còn bảo ở Quảng Nam không có xe lam, xe đạp. Hỏi tại sao, đáp: Tại Quảng Nam chỉ có xe “lôm”, xe “độp”.
Liên quan đến chiếc xe đạp, còn có câu chuyện hài: Người Quảng Nam đi vào một cửa hàng bán phụ tùng xe ở Sài Gòn, cố uốn giọng để phát âm cho chuẩn, oái ăm sao rốt cuộc lại thành: “Bán cho tôi một cái… láp xe độp”.
Người bán sau một hồi gặng hỏi, bực mình: “Lốp xe đạp” thì nói đại là “lốp xe đạp” ngay từ đầu, còn bày đặt… nói lái là “láp xe độp”. Nào có cố tình lái liếc gì đâu, thật oan còn hơn oan Thị Kính! Những câu chuyện như thế, ngẫm ra còn rất nhiều.
Rủ nhau vô núi hái chơm chơm
Nhớ bạn hồi còn học chữ Nơm
Sáng sáng lơn tơn đi nhử cuốc
Chiều chiều xớ rớ đứng câu tơm
Mùa đông tơi lá che mưa bấc
Tiết hạ hiên tranh lộng gió nờm
Nghe chuyện xóm xưa thời khói lửa
Sảng hồn, sấm nổ tưởng đâu bơm!
Nhà thơ trào phúng Tú Rua cũng có một bài tương tự, nhưng trong bài thất ngôn bát cú này “a” biến thành “ô”:
Rứa mới kêu là chất Quảng Nôm
Ăn hòn nói cục chẳng thôm lôm
Có chàng công tử quê Đà Nẽng
Cưới ả Thúy Kiều xứ Phú Côm
Cha vợ đến thăm chào trọ trẹ
Mẹ chồng không hiểu nói cồm rồm
Thêm ông hàng xóm người Hà Nội
Chả hiểu mô tê cũng tọa đồm.
Cả hai bài đều hay.
“Khách đòi mua bánh bèo đem về, con Cúc kêu con Lệ:
– Chị kiếm cho em cái “bô”!
Chữ “cái bao” qua cái giọng nguyên chất của con Cúc biến thành “cái bô” khiến con Lệ thừ ra mất một lúc. Rốt cuộc, tuy không hiểu con Cúc kiếm cái bô làm chi, con Lệ vẫn vào toa lét cầm cái bô đem ra:
– Nè.
Con Cúc ré lên:
– Trời, lấy cái ni đựng bánh bèo cho khách răng được?”
Như vậy, giọng Quảng Nam không chỉ xuất hiện trong những câu chuyện tiếu lâm dân dã, mà còn đi vào cả văn thơ. Ở đây, không thể không để ý đến một điểm đặc biệt: nhà thơ Tường Linh, nhà thơ Tú Rua và tôi đều là… người Quảng Nam. Và tôi e rằng những mẩu chuyện cười về giọng Quảng đa phần đều do người Quảng Nam sáng tác.
Nếu để ý, bạn sẽ thấy trong những bàn trà, cuộc rượu, chính dân Quảng Nam là những người kể một cách sảng khoái nhất những mẩu chuyện cười về giọng Quảng chứ không ai khác. Những người dân của xứ “xe lôm”, “xe độp” đó cũng là những độc giả đón nhận những vần thơ “tự trào” của Tường Linh, Tú Rua một cách vô cùng nồng nhiệt.
Bên cạnh sự thích thú, còn có sự thân thương. Nhất là những người Quảng tha hương, đã bao nhiều năm không được sống trong khung cảnh quê nhà, bây giờ bỗng đọc thấy, bỗng nghe nói chữ “con tơm” thay vì “con tôm”, “cái bô” thay vì “cái bao”, “thôm lôm” thay vì “tham lam” tự nhiên thấy bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ ùa về.
Cái giọng nói mộc mạc, quê kiểng đó là giọng nói của ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, hàng xóm láng giềng mà mình đã quen tai từ nhỏ, ngay từ lúc còn nằm u ơ trong chiếc nôi ru. Chất giọng đó đã ngấm qua bao mưa nắng, trải qua bao bão giông của thiên nhiên và cuộc đời mà hình thành và trụ lại cho đến hôm nay.
Nó gợi lên những vùng đất, những mặt người, những ký ức mà người Quảng xa xứ nào cũng chất chứa trong lòng như một hành trang vô hình. Nó là một giá trị phi vật thể, không phải để tổ chức UNESCO công nhận mà để những người Quảng tự hào như một tấm “căn cước tinh thần” mà mình mang theo suốt cả đời người. Có thể nói, giọng Quảng là một phần của văn hóa Quảng.
Khi nhà thơ Lý Đợi (cũng người Quảng Nam) gửi cho tôi qua email bài Mưa chiều kỷ niệm được hát bằng giọng Quảng, tôi nghe, thoạt đầu thì bật cười, nhưng càng nghe càng xúc động, cuối cùng là rưng rưng nước mắt.
Lúc đó tôi chưa biết người hát là Ánh Tuyết. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần, mường tượng đó là giọng của người chị họ yêu dấu năm xưa, của cô bạn gái ngây thơ thời trung học. Càng nghe càng thấy nhớ và bồi hồi nhận ra cái chân chất trong giọng hát, trong tâm tình người Quảng chân quê.
Ánh Tuyết chưa ra album, những bài hát demo kia đã phát tán trên mạng nhanh như gió. Và tôi đọc thấy biết bao lời chia sẻ đượm thương yêu, trìu mến của người Quảng đang lưu lạc ở khắp nơi trên thế giới. Họ cảm ơn Ánh Tuyết, cảm ơn những ca khúc hát bằng giọng Quảng đã giúp những người Quảng tha hương được một lần thổn thức hoài vọng quê nhà.
Hiển nhiên, giọng Quảng không phải là giọng để chinh phục và phổ biến những ca khúc một cách chính thức, đại trà. Bên cạnh giọng Quảng, những ca khúc trong album Duyên kiếp còn được Ánh Tuyết trình bày bằng giọng Bắc – dành cho những thính giả chưa có “bằng B tiếng Quảng”.
Rõ ràng, Ánh Tuyết thực hiện album này như là một cuộc chơi của người con xứ Quảng. Như các nhà thơ Tường Linh, Tú Rua đã từng chơi những cuộc chơi của mình.
Những cuộc chơi nghiêm túc. Và giàu ý nghĩa, ít ra là với người Quảng Nam!
Nguyễn Nhật Ánh
(https://thanhnien.vn/van-hoa/ve-giong-noi-o-mot-noi-khong-co-xe-lam-439694.html)
………………………………………………………..
Viết thêm:

Nguyễn Nhật Ánh “ngán ngẩm” nhìn dòng người xếp hàng chờ đợi anh ký tên… tại Hội chợ sách năm kia ở Saigon (ảnh ĐHN).
2. Nhà văn Huỳnh Ngọc Chiến kể ở xứ Quảng có ông Dương Quốc Thạnh, biệt hiệu Sơn Hồ, chuyên làm thơ “nói lái” theo thể Đường luật rất hay. Có lần một cặp trai gái yêu nhau chưa cưới mà đã mang bầu mấy tháng. Đàng gái xin cho cưới gấp đàng trai không chịu. Nhà thơ quen biết cả hai bên nên nhà gái nhờ ông thuyết phục. Cuối cùng đám cưới vẫn được diễn ra với cô dâu mang bầu 6 tháng (!). Không khí nặng nề giữa hai họ được giải tỏa hoàn toàn khi nhà thơ – với tư cách chủ hôn- đọc bài thơ:
Ai bàn chi chuyện đã an bài
Trai khiển đồng tình gái triển khai
Cứ sợ cho nên thành cớ sự
Mai than mốt thở lỡ mang thai
Tính từ ngày tháng vương tình tứ
Khai ổ bây giờ báo khổ ai
Cưỡng chúng ông bà nghe cũng chướng
Thôi đành để chúng được thành đôi!
(chuyện kể của Huỳnh Ngọc Chiến).
