Vài hình ảnh: Chuyện Trò về Nếp sống An Lạc
tại Cafe An Nguyên, Quận 8, Tp HCM ngày 9.7.2023







Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
tại Cafe An Nguyên, Quận 8, Tp HCM ngày 9.7.2023







Ghi chú: Nguyên Giác Phan Tấn Hải vừa gởi tôi bản dịch Anh ngữ bài viết Nương Tựa Chính Mình về Thiền Anapanasati (Quán Niệm Hơi Thở) của Phật dạy từ hơn 2500 năm trước. Anh nói cần dịch để các bạn trẻ ngày nay có thể đọc và thực hành một phương pháp Thiền rất khoa học này để được “Thân tâm thường an lạc”. Bài này đã được đăng trên trang Bilingual của Thư viện Hoa Sen.
Đa tạ Nguyên Giác.
Đỗ Hồng Ngọc.
(28.6.2023)
Đỗ Hồng Ngọc
Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm (Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn…” Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà nói không được.
Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen (Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ Dhyana (Sanskrit) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quan sát, là theo dõi và Ana là thở, hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là quán sát hơi thở, nhận thức hơi thở. Đơn giản vậy mà thực ra không giản đơn chút nào. Nó như một chìa khoá căn bản. Phải mở cái cửa này đã rồi các cửa khác mới mở tiếp được. Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ một việc là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ giác, một sự chuyển hoá từ “khí” mà thành “trí”?
Quán sát hơi thở
Thật ra quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp – nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp – nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không” hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy vô ngã thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở chẳng hạn, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà quán sát được cái tâm. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp, khi mệt ta “bở hơi tai”; khi khoẻ ta thở nhẹ nhàng sảng khoái, nhờ đó mà quán sát được cái thân. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quán sát thở, ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi, rồi khi lìa đời cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn. Giữa hai lần thở vào, thở ra đó là những đợt thở… lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ đó lại ta có cuộc rong chơi trong cõi ta bà.
Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hoá cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình, thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận, hơi thở được điều hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Giận dữ, lo âu, sợ hãi vốn tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Vì vậy mà những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức, rã rời. Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng nhưng vẫn còn co cơ, còn chiêm bao. Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ, nhờ đó các tế bào được nghỉ ngơi, toàn thân cảm thấy sảng khoái.
Phổi ta như một cái máy bơm, phình xẹp để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, đó chính là quãng lặng. Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra – trước khi thở vào trở lại – thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng vì không hề tốn năng lượng. Đó chính là giai đoạn “prana”. Pra có nghĩa là trước và ana là thở vào (cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Trong yoga có pranayama, kiểm soát hơi thở. Trong thiền định không còn phải kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở tự kiểm soát. Đến một lúc nào đó hành giả không cảm nhận mình thở nữa. An tịnh. Tan biến.
Thả trôi theo dòng nước
Khi nói đến thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải như thế. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật, người Tây Tạng đều có cách “ngồi” thiền riêng của mình, người Tây phương còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu, buông xả toàn thân là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi thế hơn, vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”.
Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền. Ta dễ có khuynh hướng chiều theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực, và nhất là tuổi tác, do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Giữ lưng thẳng đứng kết hợp với tập thể dục bụng sẽ làm chậm tiến trình lão hoá. Trong thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân, “buông xả” toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hoá cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích luỹ tốt hơn. Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như glucid, lipid, protid… vốn là nguồn tạo năng lượng. Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái.
Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác… phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khoẻ thời đại và bảo vệ môi trường sống của chúng ta hôm nay? Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể thở giùm ai? Ai có thể thiền giùm ai?
Author: Đỗ Hồng Ngọc
Translated by Nguyên Giác
There is a consistent approach throughout the teaching of Buddhist meditation techniques, from the Four Foundations of Mindfulness (Satipatthana) to Mindfulness of the Body (Kayagatasati), to Mindfulness of Breathing (Anapanasati), which is breathing: “Breathing in, you know you are breathing in; breathing out, you know you are breathing out. Breathing in a long breath, you know you are breathing in a long breath; breathing out a short breath, you know that you are breathing out a short breath…” That’s all. But countless things. And nobody can say it fully.
Whether the name is Thiền (in Vietnamese), Chan (in Chinese), or Zen (in Japanese), they are all derived from Dhyana (Sanskrit) or Jhanas (Pali). In etymology, Jha is to look, to observe, and Ana is to breathe, and to be air. So, Jhanas or dhyana is the contemplation of the breath or awareness of the breath. It’s that simple, but it’s not really that simple. It’s like a basic key. This door must be opened before the other doors can be opened. The question is: why and how can the mere act of observing the breath lead to insight, a transformation from ‘qi’ to ‘wisdom’?
Observe the breath
Actually, viewing anything is fine because each of the All is a dharma – and all dharmas are Buddha dharmas – but observing the breath has the conditions for seeing more about “the five aggregates are all emptiness,” which means you perceive the non-self. Here, the non-self is a state rather than an idea or concept. To see the non-self it is best to observe the image of the “self” from the breath, for example, as an object already present within yourself. You always have to breathe. And everywhere you are, you have to breathe.
Breathing is very sensitive to emotions. Before a beautiful scene, we “hold our breath.” When we are terrified or nervous, we breathe in a variety of forms and sizes. As a result, it is sensed as impermanence; as a result, you can examine the mind. Muscle movements are also related to breathing, and when we are tired, we “breathe with the ears”; To observe the body, we breathe comfortably and gently when we are healthy. Furthermore, breathing is both conscious and unconscious: Just as breathing does not require you, neither does the outside of you, nor does any of the self.
Observing the breath, you see that breathing is associated with the life and death of human life. When a baby was born, the baby cried out with a loud scream to suck air into his or her lungs. Then, when a person died, the old person exhaled again, giving back to life all that he or she had borrowed. Between the two cycles of inhalation and exhalation, there are waves of breathing, rolling like small waves, which connect those small waves to have a human life in the realm of samsara.
Breathing can change your mood, your emotions, and your behavior. When you’re seething with anger, you can remember, watch your breath, find it weird and funny, then forget the anger, then the breath will regulate again without ever knowing it – the arousal point in the cerebral cortex is already gone. Anger, anxiety, and fear consume a lot of energy; therefore, at those times, we easily feel exhausted and tired. Sleep is a method of reducing energy expenditure while still having muscular contractions and dreaming. Meditation reduces energy use substantially more than sleep, allowing cells to relax and the entire body to feel rejuvenated.
Our lungs are like a pump, rising and falling to bring air in and out thanks to the change in pressure. There is a moment when the pressures are equal, which is the silence. That silence at the end of exhalation—before breathing in again—is usually long, leisurely, and gentle because it doesn’t use any energy. That is the “prana” stage. Pra means before, and ana means to breathe in (which also means after the exhaling). Prana has been known since ancient times. In yoga, there is pranayama, which controls the breath. In meditation, there is no longer a need to control the breath; the breath is self-controlled. There comes a time when the meditator does not feel himself breathing anymore. Peaceful. Vanishing.
Float with the water
We frequently associate seated meditation with meditation. Then there’s the full lotus stance and the half-lotus posture, which are both incredibly difficult and enigmatic as if they’re just for a certain type of humanity. Meditation really doesn’t have to be like that. You can meditate while walking, standing, lying down, or sitting. The Japanese and Tibetans each have their own method of “sitting” meditation; however, Westerners are even more diverse, as long as they have a soothing and comfortable position in which to let go of the entire body, which is great.
However, sitting cross-legged (full or half-lotus posture) has more benefits because when we stand or walk, the muscles in the front of the legs must contract to support the entire body, whereas the muscles in the front of the legs must contract to support the entire body after stretching. We cause the muscles to change direction when we sit cross-legged: this is the “therapeutic control” technique.
Keeping your spine straight is also a crucial need for meditation. We tend to follow the natural curvature of the spine under the weight of the body due to gravity, especially with age, so it is easy to lead to scoliosis, cervical spine pain, or low back pain. Keeping the back upright, combined with abdominal exercises, will slow down the aging process. In meditation, another very decisive factor is the relaxation of the whole body, the “letting go” of the whole body, which some people liken to floating with the water.
Medicine has proven that the energy consumption in meditation is very low, below the basal metabolic rate, and lower than even during sleep, so that energy is better accumulated. When the body has slacked and muscles have relaxed, resulting in greatly reduced energy consumption, it is also less essential to deliver nutrients through food such as glucose, lipids, and protein… which is a source of energy. If you eat less and still meet your energy needs, your body will be less tired, your cells will be less active, and your spirit will be refreshed.
A life of moderation, contentment, patience, mindfulness, and awareness—can it contribute to solving modern health problems and protecting our living environment today? Don’t waste your time looking anywhere. Come back and rely on yourself. That’s right. After all, who can breathe for whom? Who can meditate for whom?
Nguồn: https://thuvienhoasen.org/
TTCT – Dưới góc nhìn của người thầy thuốc, học Phật để ứng dụng những gì cho sức khỏe con người?
Cuốn sách “khổng lồ”, ông viết nó thế nào ạ? Có tổng hợp từ những cuốn nhỏ trước đây, có cả phần tiếng Anh, vậy phần viết mới nhất là gì?
Đúng là từ năm 2001, cứ mỗi 5 năm tôi ra một cuốn sách, theo các vấn đề lớn đặt ra từ các kinh Phật. Từ Tâm Kinh, tôi viết cuốn Nghĩ từ trái tim để trả lời các câu hỏi đời sống (Why? Tại sao). Từ kinh Kim Cang, tôi viết cuốn Gươm báu trao tay (để trả lời câu hỏi How – Cách nào). Từ kinh Pháp Hoa, tôi viết Ngàn cánh sen xanh biếc (cho câu hỏi What – Cái gì, Who – Ai). Từ kinh Duy Ma Cật, là cuốn Cõi Phật đâu xa (cho câu hỏi Where – Ở đâu). Và từ kinh Hoa Nghiêm, tôi có nhiều bài bổ sung sau này.
Cuốn Tôi học Phật như một tổng tập được phát triển hoàn chỉnh. Và như có một sự dẫn dắt tâm linh, tôi nhận ra kinh Phật có một sự nối kết nhau liên tục. Điều đó giúp làm nên cấu trúc đường dây mạch lạc của cuốn sách, khiến nó trở nên dễ đọc. Tôi cho đó chính là đường dây “phương pháp sư phạm của Phật”.
Trong kho kinh Phật khổng lồ, có rất nhiều khái niệm và từ gốc Hán, ông học cách nào cho dễ nhất?
Tôi tự học. Người “thầy gốc” chính là Thích Ca Mâu Ni Phật. Tất nhiên có các vị thầy khác, ai tôi cũng đọc, như thầy Nhất Hạnh, Thanh Từ, Viên Minh… Tôi học từ rất nhiều thầy, kể cả… tôi. Tôi học ở chính mình, một bác sĩ, vì y khoa là khoa học thực nghiệm.
Tôi học được gì ư? Học cách tiếp cận một cách khoa học. Học được cách trở về nương tựa ở chính mình. Phải thực hành, thực nghiệm trên chính mình rồi mới thấy được điều đúng. Trong kinh Kalama, Phật có nói: “Đừng vội tin ai cả, kể cả tôi. Hãy thực hành đi”. Phương pháp của Phật dạy sinh động trực tiếp theo sự sống của người học, giống như kiểu ngày nay ta nói “Lấy người học làm trung tâm”.
Nhưng ngày nay có hiện tượng người dân kêu ca kinh sách khó hiểu, nhiều người học, giảng khác nhau nên rất khó học?
Mỗi kinh tôi đọc tìm cốt lõi, so sánh với các suy diễn của nhiều người, tìm ra những quan niệm tưởng bí ẩn nhưng mình hiểu được nó giản dị và khoa học.
Thí dụ Bát Nhã Tâm Kinh có 600 cuốn, rút gọn còn vài trăm chữ, và cuối cùng tôi chỉ còn học một chữ “Không”. Dễ hiểu lầm chữ Không này là không có gì, mà thực ra vẫn có. “Có” này không do tự tính mà là do tác động của nhiều yếu tố (duyên sinh).
Tôi được biết đến một “hiện tượng đọc hiếm hoi” với sách của ông. Họ âm thầm ghi chép lại các bài viết của ông thành một tác phẩm đồ sộ rồi… tặng ông. Chuyện đó cụ thể thế nào ạ?
Đó là bạn Nguyễn Hiền Đức sống tại Mỹ. Lúc đầu, tôi tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng anh đã đánh máy lại những cuốn sách của tôi mà anh ưa thích trong suốt nhiều năm. Thời buổi này, lạ thật! Anh nói đó cũng là cách anh học tập theo cách của riêng anh. Và sơ thảo cuốn Tôi học Phật này có phần trợ giúp của anh.
Có phải ông học Phật vì đạo Phật rất gần với y khoa?
Có nhiều ngành nghề nghiên cứu ứng dụng từ đạo Phật. Vì là một thầy thuốc, tôi rất quan tâm đến ứng dụng vào đời sống: Thiền định giúp ta an lạc, trí nhớ sáng suốt, lòng rộng mở (từ bi hỉ xả) có thể chữa được nhiều bệnh thời đại như căng thẳng, lo âu, trầm cảm và nhiều bệnh khác. Tỉnh thức (Thiền) là một phương pháp đối trị hiệu quả.
Càng ngày có nhiều nhà y sinh, tâm lý học hợp tác cùng các nhà sư, dùng những kỹ thuật mới như EEG, PET, fMRI… Sau nữa, tham vấn (counselling) ta học được các đức tính tôn trọng, chân thành, thấu cảm từ Bồ Tát Thường bất khinh, Dược vương, Quán Thế Âm.
Thầy thuốc dù chữa được đau – triệu chứng bệnh – nhưng không chữa được nguyên nhân (khổ là gốc sinh ra đau). Tôi nghĩ, mình học cách Phật chữa khổ. Hiểu được nguyên do của khổ (tham sân si), từ đó biết cách sống. Vừa phải thôi. Quá thì bị.
Vậy bác sĩ học Phật rồi ứng dụng đời sống, có thể rút ra như một công thức, kê một “đơn thuốc” cho người trung bình không học nhiều mà áp dụng được không?
Phật dạy và “cho đơn” rồi đó. Phật là “Y vương” mà. Chữa tham sân si bằng “thuốc”: Giới (tránh sát sinh, trộm cắp, nói dối, tà dâm, nghiện ngập), Định (thiền an lạc, thân tâm sáng suốt) và Tuệ (hiểu biết, hết vô minh). Y khoa chữa cái đau còn đạo Phật chữa được cái khổ, cái nguyên nhân.
Trong y khoa, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có công thức SAFE, trong đó tránh hai thứ là S (Smoking) – không hút thuốc) và A (Alcohol – rượu), làm đúng hai thứ là F (Food – ăn đúng) và E (Exercise – luyện tập).
Thực tế người bệnh chỉ được thầy thuốc “dòm vài phút” gọi là khám rồi kê đơn, vậy “học Phật” rồi nhìn nhận hiện tượng đó thế nào ạ?
Đó chính là chuyện “Tham vấn” tôi nói ở trên, rất cần cho y khoa. Bác sĩ khám kiểu vài phút làm sao tìm hiểu bệnh nhân, nên không hiểu nguồn cơn. Tôi từng biết nhiều trường hợp bà mẹ đang cho con bú tự nhiên mất sữa, đi chữa chạy khắp nơi không khỏi. Tìm hiểu mới biết do chồng đi bồ bịch mặc kệ vợ mới sinh con, bà mẹ tức giận (mà tiết sữa là do hormone trong não tạo ra và co bóp) nay bị tắt, cắt đứt. Tâm ảnh hưởng đến thân.
Trường hợp nữa trong nhi khoa: con gái 7, 8 tuổi rồi bỗng… đái dầm. Cha mẹ đánh đập sỉ vả, em càng bị nặng thêm. Bác sĩ xét nghiệm tìm không ra. Lý do chính là mẹ mới sinh em trai, mừng quá, cả nhà xúm vào phục vụ bỏ bê con chị. Nó sốc. Đái dầm là phản ứng cơ thể muốn gây sự chú ý của ba mẹ. Tham vấn là lắng nghe thấu hiểu để phát hiện nguyên nhân tâm nó ảnh hưởng tới thân bệnh thế nào.
Với thiền, trong sách ông kể về những bài tập hay từ kinh nghiệm của riêng mình. Ông từng trải qua bệnh nặng phải mổ não, đến hôm nay trông vẫn… khá. Hằng ngày ông giữ sức khỏe thế nào?
(Cười). Có bệnh gì không, tôi cũng…không biết nữa. Mỗi ngày tôi đều uống một liều thấp ngừa huyết áp, thiền 30 phút và thể dục 30 phút với động tác…tự chế cho phù hợp với mình. Xương sống như cây tre có vai trò quyết định nên các động tác tập trung vào xương, khớp. Tôi không ăn chay nhưng ăn rau, cá và ít thịt gà. Ăn uống nhẹ nhàng, sáng cà phê, yaourt, trưa ăn cơm đơn giản, chiều ăn nhẹ.
Học thiền thấy mấy lợi ích: thấy an lạc, có sức bền tốt, ăn ngủ, trí nhớ đều tốt hơn.
Vì sao trong nhiều triết thuyết tôn giáo, ông chọn học Phật?
Ngoài những yếu tố quan trọng của đạo Phật áp dụng tốt cho cuộc sống như đã nói trên, tôi có một số lý do cá nhân. Tôi được sinh ra ở Phan Thiết, nhà dưới chân núi Tà Cú có chùa đẹp Linh Sơn Trường Thọ Tự, nơi có ông thầy giỏi chữa khỏi bệnh mắt cho mẹ vua Tự Đức. Tôi hay lên chùa chơi ngắm nhiều cảnh đẹp. Lớn vô Sài Gòn học y khoa, đọc sách nhiều nhưng cũng chỉ để hiểu biết chứ chưa chiêm nghiệm.
Năm 1997 sau một lần bị bệnh nặng, tôi hiểu ra nếu mình “tu” sớm, sống không quá căng thẳng chắc không bị. Học Phật giúp tôi hiểu ra cách khác để an trú trong cuộc đời, bớt bệnh tật phiền não. Hiểu cuộc đời tự nó hiểm nguy bất an bất tuyệt nhưng cũng là hân hoan cực lạc, cho ta tự do khám phá sáng tạo. Hiểu khoa học chuyển hóa cái tâm…
Ông hay tự gọi vui mình là “ông 3 điều 4 chuyện” để làm diễn giả chuyển tải những chuyện cốt yếu theo cách dễ hiểu dễ nhớ cho các bạn trẻ. Cụ thể là gì vậy ạ?
Đó là những điều cần nhớ và dễ nhớ. Phật không là “thần linh ban phát” cho ta lạy lục xin xỏ, không là triết gia, làm phức tạp chuyện đơn giản. Phật là đạo sư chỉ đường cho giác ngộ làm cho con người mạnh lên. Phật nói điều bình thường của con người. Phật khuyến khích đừng tìm đâu xa, hãy dựa vào chính mình, những năng lực bình đẳng. (Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành). Học Phật cần hiểu các thuật ngữ và các ẩn dụ, ẩn nghĩa để tránh mê tín dị đoan.
Và điều quan trọng nhất trong học Phật là phải thực hành.
Một điều dễ nhớ nữa: thở là quan trọng nhất. Gốc tu luyện là thiền và thở. Cùng sống trong vũ trụ như nhau nhưng con người thở khác nhau. Luyện thở hoàn toàn khoa học. Và ăn gì, như thế nào để có đủ năng lượng mà không bệnh tật. Vì thế, sách tôi viết dưới dạng khoa học dễ hiểu, có trải nghiệm để ngẫm ngợi khi cần và chia sẻ với mọi người.
Xin cảm ơn ông.■
(*) NXB Tổng Hợp TP.HCM 2023.
Tiến sĩ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp y khoa Đại học đường Sài Gòn năm 1969.
Ông tu nghiệp y tế công cộng tại ĐH Harvard (Mỹ) và CFES (Pháp) và là tác giả của hơn 40 đầu sách.
Thư gởi bạn xa xôi III
Tôi Học Phật (tiếp theo)





TÔI HỌC PHẬT
(Tiếp theo)





Thư gởi bạn xa xôi I (6/2023)
TÔI HỌC PHẬT
(Tóm tắt)
Lúc này làm biếng, 84 rồi chớ ít gì! Phải vẽ hình, viết chữ to, cho dễ đọc, dễ thấy, dễ nhớ.
Gởi bạn… coi vui. Rảnh thì ngẫm ngợi, thắc mắc nếu có nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.




Hổm rày, tôi đã soạn ra những tấm hình cũ của ông ngoại sắp nhỏ, lăn tăn mãi mà không biết bắt đầu viết về ba mình từ đâu. Tôi nhớ thường nhật, trừ giờ ăn sáng, ăn trưa, nghỉ trưa, vệ sinh cá nhân, ghi chép, xem ti vi, trò chuyện với con cháu hay tưới cây, ông sẽ cặm cụi đọc báo hay cuốn sách nào đó. Lúc Ba xuống Sài Gòn ở chơi nhà tôi hay xuống khám chữa bệnh cũng vậy, mà lúc ông sống ở quê nhà cũng vậy
![]() |
| Ba sắp xếp lại kệ sách giúp con gái |
Từ lúc sức khỏe và tuổi tác không cho phép Ba làm công việc của một kỹ sư nông nghiệp nữa, việc đọc trở thành một phần không thể thiếu trong quỹ thời gian của ông. Ông đọc đều đặn, say mê; mỏi mắt, mỏi lưng, tê chân thì tạm ngưng rồi lại đọc tiếp. Vì Ba cao tuổi, giao tiếp bạn bè ít dần, lại nói “không” với internet, nên đọc cũng là cách giúp Ba khuây khỏa. Nhờ đọc và giữ thói quen ghi chép, thể chất của ông dẫu hao mòn chứ “trí nhớ, sự minh mẫn thì còn ngon lành lắm”. Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khen Ba trong dịp Ba Má tới dự buổi giao lưu với bác sĩ – nhà thơ tuổi bát tuần bút hiệu Đỗ Nghê này tại hội quán Các Bà Mẹ (quận 1, TPHCM).
Ông sinh năm 1938, ở tuổi 85, Ba tôi chính là tấm gương, là “idol” và người truyền cảm hứng cho tôi về sở thích đọc sách. Hồi tôi học phổ thông, Ba đặt báo Khăn Quàng Đỏ, Mực Tím cho tôi hằng tuần. Tôi tin rằng, việc tôi từ năm lớp Năm đã thi học sinh giỏi văn cấp thị xã Buôn Ma Thuột, có thể học lớp chuyên văn suốt cấp II-III rồi viết truyện, làm thơ đăng lung tung, từ tỉnh lẻ khăn gói xuống Sài Gòn làm sinh viên ngành báo chí rồi trở thành phóng viên – biên tập… tất cả là nhờ hưởng gen trội của Ba (và xa hơn là ông nội tôi).
![]() |
| Tác giả và Ba trước Bảo tàng Thiên Văn (Mỹ) |
Kỷ niệm tôi thích nhất hồi nhỏ là được ba chở ra nhà sách ở ngã sáu trung tâm, khi ông có thêm khoản tiền phụ cấp gì đó ngoài lương. Cái yên inox phía sau chiếc xe đạp cũ của ba luôn cẩn thận cột thêm cái áo mưa xếp gọn để tôi ngồi cho êm. Sách hồi đó ba mua cho, tôi còn giữ tới nay, dẫu cũ mèm, rách bìa hay lìa gáy.
Sau này Ba Má có cả chục đứa cháu, mỗi khi đi công tác hay du lịch, ông hay tìm tới nhà sách tại nơi đến, mua sách cho ông rồi chọn sách lịch sử, sách danh nhân, sách khám phá thiên nhiên… làm quà cho mấy đứa cháu nội, ngoại thích đọc hơn là đồ chơi. Ba không quên ghi ngày tháng và lời tặng bằng nét chữ rất đẹp của ông trên trang thứ hai của sách. Về khoản này, tôi cũng học từ ông vì tôi nhận ra, có nét chữ thân thương của người tặng, cuốn sách tự nhiên có hơi ấm và giá trị của nó sẽ càng bền bỉ theo thời gian.
![]() |
| Ba Má cùng cháu ngoại trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
tại hội quán Các Bà Mẹ sau buổi giao lưu về sách của bác sĩ |
Khi đi làm có tiền, tôi cũng thích gửi tặng sách cho ba đọc. Tôi nói đùa với sắp nhỏ: “Ông bà ngoại là cái máy bào chữ”. Song, phải khâm phục là Ba tôi đọc và nhớ rất kỹ chứ không phải kiểu đọc qua loa. Khi ông đọc báo hay tin tức trên ti vi cũng vậy; nên khi nói chuyện cùng ai, về vấn đề gì liên quan, ông đều có thể trích dẫn chính xác hay bình luận kèm quan điểm.
Trêu Ba là cái “máy bào” cho vui, thực sự tôi gửi trong đó cả chút hổ thẹn của đứa con từng gắn bó với nghề viết nhưng có một thời gian dù mua sách chất đầy, tôi không đọc xong cuốn nào cho ra hồn. Sau này, khi không làm công việc biên tập nữa, tôi lại đọc nhanh và thẩm thấu nhiều hơn.
Song nghĩ lại, tôi rất vui vì riêng khoản mua sách cho con cái là tôi không hà tiện. Tôi thích rủ rê, khích lệ con đọc từ lúc mới biết chữ. Tôi sẵn sàng mở hầu bao khi các con đề nghị mua sách. Tất nhiên, ngoài sách báo thì tuổi thơ của tôi còn có vô số bịch chè sương sâm, bánh cam, bắp luộc… Má mua cho mỗi khi đi chợ về hay những món tủ má thường nấu. Nhưng chè bánh của Má thì đã trở thành những ký ức tuổi thơ ngọt ngào, còn sách báo Ba mua thì trở thành một phần tư duy, tâm hồn của chính tôi hôm nay.
Ngô Thị Trâm Anh
(Phunuonline 30.5.2023)
Đôi dòng cảm nhận về
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 18.5.2023)

Tôi vừa nhận được cuốn Nhớ về những ngày tháng cũ của anh Hai Trầu Lương Thư Trung gởi tặng. Lướt qua, giựt mình. Dày gần sáu trăm trang sách, biết bao nhiêu chuyện đời, chuyện nhà, chuyện riêng, chuyện chung… với rất nhiều hình ảnh, đặc biệt những hình ảnh về nông thôn miền Tây Nam bộ xứ mình, gần như là một tự điển… bách khoa miệt vườn!
Nhưng với tôi, mấy dòng này của An Thu viết về cuốn sách của anh Hai Trầu là đã quá đủ:
“ … thật là ngộp thở và sảng sốt… tui đã gặp cái gì đây? Một ông thần, thổ địa… đã đưa tôi về lại quê nhà xưa yêu dấu!… Có thể nhìn lại cả một trời quê nghèo mộc mạc của tui… thiệt là muốn khóc…!”.
Nếu có thể nói gì thêm, thì, những trang ghi chép về “Vài kinh nghiệm sống ở nhà quê” (tr 514)… rất là bất ngờ và thú vị! Không biết những kinh nghiệm này bây giờ AI đã biết chưa?
*Con sùng đít đen thì mưa, đít trắng thì nắng.
*Chim khách kêu trước sân có khách gần uống trà; chim khách kêu phía sau nhà có khách xa ghé thăm và ở lại dùng cơm.
*Chỗ nào chim bồ cắt bay vòng vòng trên trời, bên dưới có chuột.
*Cá nhỏ thì ụp móng, cá lớn thì lên ngớp. Cạn đìa mới biết lóc trê, còn ụp móng biết đâu rô sặt.
*………
Và ngạc nhiên cảm động không kém với tôi là những câu thơ mộc mạc chân tình của Lương Thư Trung về kiếp người, về tuổi già, những câu thơ làm tôi nhớ Đào Tiềm: Đi về sao chẳng về đi/ Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?
Nhớ ngày ấy chồng cày vợ cấy
Dưới lung sâu nôm cá mò cua
Đường đời bao bận gió mưa
Nhớ sao là nhớ giàn dưa mới trồng…
…Bước qua vườn mít mít chào
Hương cau lan tỏa lối vào, hương cau
Chút thơm còn đọng hôm nao
Hai hàng cau lão đứng hoài lối đi
… Đá vốn có từ trong lòng đất
Đất phục sinh, đá cứng theo đời
Mới hay tạo hóa vẽ bày
Có trong trời đất mới hay mình già
… Trong trời đất vạn loài vốn quí.
Người hay quên uổng phí vô cùng.
Bông nào nở được hai lần?
Sông nào được tắm hai lần bến sông?
Tôi ngờ rằng khi anh Hai Trầu Lương Thư Trung viết xong cuốn Nhớ về những ngày tháng cũ thì anh đã tắm bến sông… không chỉ hai lần?
(ĐHN)
Nguyễn Thị Khánh Minh giới thiệu

Mẹ là biểu tượng cho vẻ đẹp trường cửu. Một vẻ đẹp không thể nghĩ bàn. Chỉ có thể thẩm thấu trọn vẹn bằng cảm xúc của trái tim và hạt lệ, để biết rằng, với mẹ, ta đã được hưởng tình thương yêu, bao dung độ lượng đến ngần nào! Chỉ trong vòng tay mẹ, ta mới rung động được với nhịp giao hòa của bao la trời đất, ta mới cảm hết biên giới của ấm áp. Điều ấy, chúng ta sẽ thấy được nơi thơ của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Xuân Thiệp, Đỗ Hồng Ngọc, Pháp Hoan, Nguyễn Đức Cường, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư, Trangđai Glassey Trầnguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trịnh Y Thư. (NTKM).
DU TỬ LÊ
Cõi Mẹ Về
(Trích đoạn)
em đâu biết, tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn ngỡ
như có chuyến xe lửa vừa mới khởi hành
về Hà Đông
nơi mẹ tôi được sinh ra, lớn lên,
rồi theo chồng đi miết.
quê ngoại với tôi tới giờ vẫn còn là niềm bí mật
như những sợi tơ giăng khắp bầu trời
tôi từng vói, mà, chưa lần nắm được.
em đâu biết tôi có những giấc mơ
thấy rõ mẹ về
đắp lại tôi, tấm chăn
vuốt lại tôi, mái tóc…
đã bao năm mất hút sau lưng,
mà, mẹ tôi vẫn không thể tin rằng mái tóc xanh của con bà đã bạc
những đường kẻ dọc, ngang vầng trán tối
đôi mắt nay đã mờ
(đôi mắt trong veo nhìn theo mẹ tôi những ngày họp chợ)
đôi mắt giờ sụp lở nắng, mưa.
mẹ tôi hỏi sao tóc con lại trắng?
những sợi gân nào lấp ló dưới da nhăn?
tôi hỏi bà, lúc rày người có khỏe?
mẹ tôi cười
quết trầu đỏ,
đôi làn môi cắn chỉ
bà vẫn buồn như thuở bố đi luôn…
– Du Tử Lê
(Trích từ tập thơ Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu,
Văn Học Nhân Chứng xuất bản, 1989)
NGUYỄN LƯƠNG VỴ
vâng thưa mẹ con đã về bên mẹ
ngồi bên hiên nhà cũ thấm ân tình
trời xuống thấp đất lên cao nắng xế
chiều u trầm chiều êm như trang kinh
mẹ rất mỏng như không gian rất mỏng
con rất ngây như thời gian rất ngây
và đôi tay rất ấm trong đôi tay
và đôi mắt rất nồng trong đôi mắt
con nhìn mãi chiều thu xa xa lắc
nhìn rất lâu lâu lắm giữa chiều phai
chiều huyễn ảo mẹ đẹp như trăng cài
trên đỉnh núi trên đỉnh trời chói rạng
con nhìn mãi chiều thu xa xanh lắm
tiếng hát xanh xanh đất ấm trời êm
như lá nõn như cành non mướt đêm
mẹ ấp ngực ru con theo dòng sữa
vâng thưa mẹ con đã ngồi bên cửa
bên niềm vui bên nỗi nhớ đong đầy
mây trắng xóa mắt nhòa theo bóng mây
tim bỗng nhói chiều bỗng gầy heo hút
mẹ rất đẹp như đất trời bất tuyệt
như hồn quê như cánh bướm dâng mùa
bông cúc trắng bông cúc vàng đong đưa
nụ cười hiền mẹ vẫn ngồi thinh lặng
con nhìn mãi những chiều xa bay trắng
âm bay nghiêng hơi ấm mẹ trong đời
đời nghiêng ngửa đời ly tan lâu rồi
huyết âm mẹ trong con riu ríu lửa
con nhìn mãi giọt lệ khô chan chứa
biển rèm vang đồng vọng núi mênh mang
ôi thời gian thời gian ôi thời gian
con ôm mẹ giữa chiều ngân giọng sáo
vâng thưa mẹ con lần theo nếp áo
áo sờn vai hai bóng một vuông chiều
chiều rất thẳm chiều rất trầm yêu dấu
như chưa từng… thưa mẹ biết bao nhiêu.
– Nguyễn Lương Vỵ
(Trích từ trường ca Âm Tuyết Đỏ Thời Gian,
Văn Học Press ấn hành năm 2019)
NGUYỄN XUÂN THIỆP
Hỏi thầm giọt mưa. và nói giùm tôi
(Trích đoạn)
Tôi sinh ra dưới cội nghèo.
ngôi nhà ẩn trong xóm cỏ.
mẹ tôi răng đen. mắt hạt nhãn.
thời trẻ tiếng ca xanh dòng sông
mẹ lấy cha. rồi yên phận
nuôi heo. nuôi gà. nuôi con
…
Ơi em bé. hái búp sen mùa hạ
sen thì hồng. mà tay nhỏ xanh xao
em hái sen. chiều nay ra chợ bán
hương hạ nồng. cùng sợi khói nhà sau
…
mẹ già tưới cây chanh bên bờ giậu
để một mai đời ngát lộng hương chanh
mẹ còng lưng. mà trời cao vời vợi
dẫu một ngày. giọt nắng rụng xa cành
…
mai mốt. mẹ qua vùng thảo nguyên
mẹ. ánh trăng vàng trong truyện cổ
lặng soi bên mặt nước hồ gương
đi lang thang qua hàng bia mộ
khi cúi nhìn một cụm hoa lan
thương ôi. mắt nhung xưa. còn mở
– Nguyễn Xuân Thiệp
ĐỖ HỒNG NGỌC
Bông hồng cho Mẹ
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông
– Đỗ Hồng Ngọc
(Bài thơ này nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc, ca sĩ Thu Vàng hát).
PHÁP HOAN
Mẹ tôi kể
Mẹ tôi kể
khi cỏ cây thôi xao động trong vườn
khi con chim ngủ yên trong tổ ấm.
Mẹ kể về những trái bom
giội lên những mái nhà
như táo mùa thu chín rụng.
Mẹ kể về những người lính
nằm chết trên cánh đồng
mạ non mọc ra từ cổ họng.
Mẹ kể về những dòng sông
về đất nước thời tuổi thơ của mẹ
nơi những ký ức vẫn âm thầm ngủ
như trái bom ngủ quên trong vườn
mỗi đêm nằm trên giường
tôi luôn nghe thấy tiếng đập của nó
sâu trong lòng đất đá
bốn mươi bảy năm qua
trong khu vườn những giấc mơ của mẹ.
– Pháp Hoan
(Nguồn: vanviet.info)
NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG
Mẹ là ngôi chùa nhỏ
Con ngồi đây lặng lẽ,
Thương nhớ hoài mùa Xuân.
Con ngồi đây quạnh quẽ,
Riêng Mẹ đã bao lần.
Mẹ là ngôi Chùa nhỏ,
Đón con về nương thân.
Mẹ là đôi mắt tỏ,
Tha cho con lỗi lầm.
Mẹ là Xuân bay qua,
Nuôi đời con khôn lớn.
Mẹ là hương sen ngát,
Về trong mộng hiền lành.
Như bầu trời lồng lộng,
Là mặt đất bao la,
Là mưa rào tuôn xuống,
Cho đường con thắm hoa.
Mẹ là nắng thênh thang,
Bình minh xưa chói rạng.
Là mây chiều lãng mạn,
Những ngày Thơ huy hoàng.
Mẹ là đêm thức giấc,
Đêm xanh biếc ngàn sao.
Là vô cùng đôi mắt,
Có sương mù trên cao.
Mẹ đi suốt mùa Hè,
Qua hối hả mùa Thu,
Và mùa Đông tất tả,
Riêng cho con mùa Xuân.
– Nguyễn Đức Cường
(Trích từ tập thơ Chân Dung)
TRANGĐÀI GLASSEY TRẦNGUYỄN
Mừng tuổi con
khi yêu một người/ là ta được chiêm ngắm dung nhan của Thượng Đế/ mẹ cũng vậy/ trong phút đầu gặp con/ con chào đời/ trời đất thở ra tơ… (Mùa Yêu Con)
mừng Con chưa đầy tuổi
phúc, lộc, thọ, khang, ninh
má hồng xinh hơn mai
môi tươi hơn đào thắm
Con về ươm Xuân lạ
én xếp nhạc cành xa
tình bao kiếp giao hòa
mùa đông thôi ở giá
mùa Xuân còn ngáy ngủ
nằm lún vào má Con
cái đồng tiền thật tròn
mỗi lần con nhóp nhép
lún luôn vào tim Mẹ
tròn giếng sữa cho con
sữa chảy từ trái tim
tỏa ra hai bầu ngực
sân trời mai vàng rực
Mẹ kín một lộc non
mùa Xuân mới cho Con
Mẹ chảy vào trời đất
– TrangĐài Glassey Trầnguyễn
HOÀNG XUÂN SƠN
Tháng 7 nhớ Mẹ
tháng 7 tôi ngồi trong kệ
nghe ra trời đất tụng kinh
lung linh đại thừa bóng mẹ
nhìn vô. chỉ thấy một mình
chỉ thấy sương chiều bạc tóc
buộc một con sông mấy đò
trôi đi ngả nào không biết
chỉ biết mình ngồi co ro
chợt nhớ khi còn quyến luyến
thương làm sao khúc túy ân
say say một hồn vô ngã
chìm trong xứ mẹ ân cần
mà tôi vẫn còn lóng ngóng
lân tuất áo mẹ phương nào
giọt nước mắt chìm trong ngấn
chìm khuất
bóng mẹ
phương
nào…
– Hoàng Xuân Sơn
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Mẹ
Đầy tay mẹ dậy thơ thơm ngát
Đời hồng trong những áng văn chương
Mẹ cười, nhân ái bừng xuân sắc
Bao nỗi đau kia cũng nhẹ thường
– Nguyễn thị Khánh Minh
VŨ HOÀNG THƯ
Ngày Lễ Mẹ
Rách da bật máu thân mình
Mẹ đau quằn quại cho hình con ra
Vá trời thân một Nữ Oa
Oan khiên Mẹ chịu, hải hà Mẹ kham
Thăm Mẹ
mẹ nằm ngó biển xa xăm
trầm hương xin đốt lệ đằm tình thâm
mẹ ơi lỗi hẹn bao lần
mộ phần ngả bạc theo màu tóc phai
– Vũ Hoàng Thư
TRỊNH Y THƯ
Về Mẹ
Mẹ dòng nước mắt chia hai
Mẹ trong huyền sử mẹ ngoài trùng dương
Mẹ từ khung gác miếu đường
Mẹ qua biển lớn thịt xương nát lìa
Mẹ tân khổ
Mẹ đầm đìa
Mẹ chào tay vẫy những chia ly đời
Mẹ giam tủi nhục trong người
Mẹ ôm hơi thở thốt lời từ bi
Mẹ nhìn theo lũ con đi
Mẹ soi ký ức những khi khóc thầm.
– Trịnh Y Thư
……………………………………………….
nguồn: phovanblog. blogspot.com (14.5.2023)
Ngân Hà
(https://bsaonline.vn/nghi-he-de-lam-gi/? 10.05.2023)
tặng bạn tôi, Phạm Văn Nhàn
Đỗ Hồng Ngọc
Nghe nói có đường cao tốc mới từ Sai Gòn về Phan Thiết đi chỉ mất 2 tiếng thay vì 4, 5 tiếng như trước, tôi quyết định “trải nghiệm” cho biết. Chọn ngày Lễ 1/5 cho vắng xe. Quả thật, khởi hành từ nhà mình ở Bàn Cờ lúc 5.15 h sáng thì 7.15 h đã đến Phan Thiết. Cà phê, ăn sáng ở một quán bãi biển rợp bóng dừa quen thuộc xong, chạy vòng ra Mũi Né thăm Đá Ông Địa một chút, rồi trưa về lại Tân Hải ( Tam Tân) quê Ngoại ở La Gi (là quê của cậu Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư, cậu Lê Phương Chi… và những ông cậu khác của mình như cậu Năm Nghê Nhã Ý, cậu Năm Bánh…- nay chẳng còn ai!). Mùa này biển rất đẹp. Ngày hôm sau về Lagi farmstay, nơi yên ả, từ đó ra bãi biển Cocobeach để đi… xe bò thăm Chợ Cam Bình nhộn nhịp…!
Xin gởi vài tấm hình xem vui vậy.

bãi cỏ xanh Vĩnh Thủy, Phan Thiết

Đá Ông Địa. Mũi Né

Không thể không “nhúng” nước biển



“dưới bóng dừa…”


Xe bò đi về phía Chợ Cam Bình. Ở đây hàng ngày có vài chục chiếc xe bò dọc bãi biển trang trí như xe… đám cưới!

Dĩ nhiên không thể không thăm Đập Đá Dựng, phía hữu ngạn… (ảnh Đỗ Hồng Ngọc 2/5/2023)
Vậy đó, một chuyến về thăm quê nhà Phan Thiết, La Gi.
(ĐHN)
……………………………………………………………………………………………
Nếu được, thử nghe Lời Yêu Thương bởi Ý Lan (Jamaica Farewell, lời Việt của Đức Huy).
Thư gởi bạn xa xôi
“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt (tiếp theo)
Hôm đó, mình cũng đã chuẩn bị một ít điều để trình bày với các bạn trong Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt (9.4.2023) về quá trình học Phật của mình để chia sẻ kinh nghiệm nhưng thời gian cập rập quá nên phải hẹn lại một dịp khác, dù Thuần Nhiên và Thảo Nhiên cũng đã chuẩn bị cho một Flipchart sẵn sàng. Xịn được chia sẻ vài hình ảnh cô đọng nơi đây.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc










ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA GIẢI THOÁT
Trần Tuấn Mẫn
Ghi chú: Cư sĩ Trần Tấn Mẫn, nguyên Phó Tổng biên tập Thường trực Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (từ 2005 đến 2020), với gần 20 năm là giảng viên ở các Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM và tại Huế, là Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học VN. Anh nay đã ngoài tuổi 80, gởi đến tặng tôi quyển Bản thảo Tâm Sự Với Ai? và cho biết đây cũng là “tác phẩm cuối cùng của anh”.(Xin nói thêm, anh là con nhà văn Trần Thanh Mại). Tôi xin phép anh cho post lại ở đây bài Đạo đức học của Giải thoát để chia sẻ với bạn bè. Bài này đã đăng trên Tập Văn Phật Đản , số 16,1991.
Đỗ Hồng Ngọc.

Đạo đức học là một bộ phận của triết học nhằm dựa vào lý trí mà thiết lập một sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa điều được làm và điều bị cấm làm, nhằm nêu ra một nguyên tắc tổng quát để xếp loại và đánh giá các hành động. Đạo đức học nhằm nêu lên cứu cánh của mọi hành động hợp lý mà con người cố vươn tới, tức mục đích, lý tưởng của cuộc đời và tìm các phương cách giúp con người tiến tới mục đích lý tưởng ấy.
Khi bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ bản: “Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?”. Câu hỏi kép gồm hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm, bổn phận… Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không? Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế…? Từ đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy nhiên, duy cảm v.v…
Ước vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy những luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng tối cao… Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức học cho mọi người.
Đức Phật dạy: “Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy, này Pahàrada, Pháp và luật của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”. Ngài còn dạy: “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ”. Trong lần chuyển pháp luân đầu tiên tại Benares, giảng về Tứ đế Đức Phật xác định đây là khổ, nêu nguyên nhân của khổ, nói đến sự chấm dứt khổ (giải thoát, Niết bàn) và con đường diệt khổ. Thế là Ngài đã tuyên bố mục đích của mọi hành động của con người và của giáo lý của Ngài là nhằm giải thoát khỏi khổ đau. Đối chiếu ý nghĩa này với định nghĩa chung về đạo đức học đã nêu, ta có thể nói toàn bộ giáo lý của Đức Phật là một giáo lý đạo đức, hay Phật học là đạo đức học, một đạo đức học xây dựng trên giải thoát, do một người đã giải thoát truyền dạy, lấy giải thoát làm cứu cánh, lấy giải thoát làm chuẩn tắc để đánh giá các hành động. Xác định nền tảng giải thoát này là xác định toàn bộ ý nghĩa, đối tượng, mục đích, phương pháp của đạo đức học Phật giáo.
Xác định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia (mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : “Giải thoát là giá trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức.”
Dù Phật giáo không hề muốn bị xếp như một triết thuyết như duy nghiệm, duy lý, duy cảm v.v… nhưng Phật giáo, đạo đức học Phật giáo, không thể không là đối tượng nghiên cứu cho các nhà triết học và không thể tránh khỏi sự sắp xếp phân loại của các nhà nghiên cứu đạo đức. Thế thì hãy tạm gọi đạo đức học Phật giáo là đạo đức học Duy giải thoát mà phương Tây có thể nên gọi bằng một từ triết học mới nào đó, đại loại như “Emancipisme”! Và như vậy, vấn đề muôn thuở của đạo đức học nói chung như lương tâm hay ý thức đạo đức, tức cái khả năng nhận biết giá trị đạo đức của các hành động được đạo đức học Phật giáo gọi là ý thức giải thoát, hay ở mức độ cao gọi là trí giải thoát. Trí giải thoát lại còn được xem là nguồn gốc của lương tâm, của ý thức đạo đức tức là của chính nó, hiểu theo lập luận của E.Kant khi ông gọi nguồn gốc ấy là lý trí thuần túy thực tiễn, cái nhân tố phát khởi những mệnh lệnh quyết định. Nếu Descartes đẩy ý thức đạo đức lên thành các tác phẩm của thượng đế, nếu Spencer đẩy lùi nó vào cái thói quen do di truyền thì đạo đức học Phật giáo gọi nó là dư y của ý thức giải thoát, một thiện nghiệp trong quá khứ và có thể được vun đắp thêm trong hiện tại.
Nói đến giải thoát là nói đến tự do. Thông thường giải thoát được hiểu là trạng thái được sau khi thoát khỏi sự ràng buộc, sự trở ngại, khổ đau, mất tự do; tự do là trạng thái thoải mái, có thể tự mình quyết định hành động của mình, tự mình chọn lựa… Như vậy giải thoát và tự do có thể được xem là đồng nghĩa, nhất là khi ở bình diện tuyệt đối, Giải thoát và Tự do đồng nghĩa với Niết-bàn, là Niết-bàn là Phật. Ở bình diện tương đối của thế gian, giải thoát và tự do chỉ có thể được thực hiện trong giới hạn. Một hành động như tìm nước uống để thỏa mãn cơn khát, làm một việc thiện để đạt được niềm vui tự nội… đều có giá trị giải thoát tương đối. Tự do chọn nghề, tự do nghỉ ngơi… là những tự do tương đối vì người ta không thể tự do lấy của cải của người khác, không thể tự do vượt khỏi những hạn chế của cơ thể để thực hiện những điều không tưởng, không thể tự nhiên mà thoát được sinh, già, bệnh, chết… Cái kinh nghiệm giải thoát có thể thực hiện hàng ngày, qua từng công việc bình thường hoặc sâu đậm hơn, qua thiền định. Niềm vui, niềm hạnh phúc đạt được trong khi làm việc thiện, trong khi thiền định sẽ giúp ta phát triển ý thức đạo đức, đánh giá đúng đắn các hành động và truy tìm những hành động mang lại giải thoát, hạnh phúc.
Trước khi bàn tiếp hãy nhận định về cái thuật ngữ nổi cộm trong đạo đức học, đó là từ hạnh phúc (le bonheur). Người ta dễ dàng chấp nhận rằng mọi hành động đích thực của con người là nhằm mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì? Câu trả lời cũng thường dễ dàng không kém: Hạnh phúc là sự thỏa mãn vật chất và tinh thần! Nhưng những yêu cầu vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân lại khác nhau tùy theo hoàn cảnh, cá tính, thời gian v.v… Có phải những yêu cầu ấy là tiền bạc, sức khỏe, vợ con, sự tiện nghi… và là sự được khen, được yêu, được lao động, được thực hiện lý tưởng được gần gũi Thượng đế…? Nếu thế thì ý nghĩa của hạnh phúc vẫn mãi mãi là mối trnh cãi. Đạo đức học Phật giáo nêu rõ cái kinh nghiệm cơ bản về hạnh phúc là sự lạc thọ, tức sự thọ nhận cái cảm giác an vui, cái hoan hỷ tâm vậy. Đạo đức học Phật giáo đồng nghĩa hạnh phúc với giải thoát, hiểu hạnh phúc là phù hợp với con đường giải thoát. Đến đây, giáo lý vô ngã của Đức Phật đóng vai trò quan trọng trong đạo đức học Phật giáo. Vì vô ngã là bản chất của hết thảy mọi sự vật, là chân lý nên mọi hành động trái với vô ngã (tức hành động hữu ngã) là trái với bản chất của các sự vật, là trái với chân lý, tức là gây khổ đau, trở ngại cho sự giải thoát. Khi ta thực hiện vô ngã thì ta thấy có hạnh phúc, tức thấy có giải thoát. Vậy vô ngã có thể xem là đồng nghĩa với giải thoát. Trong một nghĩa hẹp, hành động vô ngã là một hành động quên mình, vị tha, là từ bi, hỷ xả, mang tinh thần đạo đức xã hội mà mọi người đều xem là thiện hạnh.
Trở lại việc đánh giá hành động: Đạo đức học Phật giáo lấy tiêu chuẩn giải thoát, vô ngã để đánh giá một hành động và cái chủ thể đánh giá là ý thức giải thoát. Do mức độ tu tập, hành trì, ý thức này có thể cao, thấp khác nhau. Lương tâm, ý thức đạo đức hay ý thức giải thoát mang tính tự do trong chính nó và như đã nói nó có thể bị sai lầm, bị yếu kém khiến một cá nhân bị thối thất hay chịu nhận khổ đau. Cho nên sự tu tập mới được đạo đức học Phật giáo đề cao, đấy là ý nghĩa tích cực của đạo đức học Phật giáo. Chúng ta thông cảm với nhận định hơi vội vàng của J.P. Sartre: “Tự do là nguồn gốc độc nhất của giá trị” (La liberté est I’unique source de la valeur), “Kết quả là, tự do của tôi là nền tảng độc nhất của các giá trị, và không có gì. tuyệt đối không có gì khiến tôi phải chấp nhận một giá trị thế này, thế nọ, một thang giá trị thế này, thế nọ”. Hay của S. de Beauvoir: ” Con người thì tự do, nhưng con người tìm thấy luật tắc của mình trong chính sự tự do của mình nữa.” Sự tự do ấy, nếu không phải là tuyệt đối tức cứu cánh giải thoát thì ít ra cũng phải là trạng thái của một người đã đạt nhiều tiến bộ trong tu tập, đang tiến gần đến giải thoát để có thể có nền tảng vững vàng trong sự phán đoán giá trị! Đấy là sự tự do ở một bậc chân tu chứ không phải là tự do ở bất cứ người nào như Sartre và De Beauvoir quan niệm.
Đức Phật là bậc đã đạt trọn vẹn Giải thoát. Ngài vạch con đường giải thoát cho con người. Giáo lý đạo đức của Ngài không phải là tác phẩm của các văn gia đạo đức như La Rochefoucauld, La Bruyère, Vauvenarge… hay của các triết gia đạo đức như Epicure, Aristote, Kant, Max Scheler… Đạo đức học của Ngài có phần lý thuyết toàn hảo nhưng Ngài chú trọng đến phần thực hành mà Ngài đã thực hiện để đạt giải thoát. Một đạo đức học tuyên bố rằng đời là khổ, đây là khổ, tự nhiên bao hàm sự tuyên bố rằng mọi hoạt động con người là nhằm thoát khổ, giải thoát. Đạo đức học ấy là đạo đức học của giải thoát, tích cực, cụ thể và lạc quan. Tích cực vì nó kêu gọi con người lên đường diệt khổ, khuyến khích sự tinh tấn, hành thiện, cụ thể và thực tiễn vì đối tượng giải thoát là con người, là cuộc đời ngay đây và bây giờ; lạc quan vì nó tuyên bố mọi người đều có đầy đủ khả năng giải thoát tối hậu.
Trần Tuấn Mẫn
(Trích Tập Văn Phật Đản , số 16, 1991)
Thư gởi bạn xa xôi,
“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt.
Mình có chút việc riêng, đi Đà Lạt vài ba hôm. Chiều 9.4, mới đến Đà Lạt đã “tranh thủ” ghé thăm Gia đình Hoa Sen với nhóm “thiền ca” của nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh (em nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, phong trào Du ca thuở xưa), cùng Phạm Gia Cẩn, Nguyễn Mậu Pháp (Ngũ Hành Sơn), Trần Quốc Dũng, Bác sĩ Đào, Lê Viết Cảnh, bs Tuệ Hương, Diệu Cát, Thảo Nhiên v.v… Theo yêu cầu của các bạn, dịp này muốn được nghe mình nói một chút về hai cuốn sách mới xuất bản: Tôi Học Phật và Áo Xưa Dù Nhàu.
Áo Xưa Dù Nhàu… là những lời Tri Ân chân thành đến những bậc thầy, bậc đàn anh, bạn bè gần xa đã giúp mình trở thành… mình hôm nay trong việc viết lách… Thời gian trôi nhanh, trí nhớ cùn mòn nếu không ghi chép lại ít nhiều kỷ niệm với Nguyễn Hiến Lê, với Võ Hồng, Nguiễn Ngu Í, Dương Cẩm Chương, Cao Huy Thuần… thì rất đáng tiếc bởi “Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau…” (Hạ Trắng, TCS). Cảm ơn Phanbook nhiều lắm đó nha.
Còn Tôi Học Phật, thì trước hết phải cảm ơn Anh 5 Hiền (Nguyễn Hiền Đức), người cả chục năm kiên trì rị mọ, gò lưng gõ gõ các bài viết về Phật học của mình, rồi tung lên mạng (Thư viên Hoa Sen, 2019) để chia sẻ cùng bạn đạo trong khi mình vẫn còn e dè, muốn giấu nhẹm. Thế rồi, năm 2021, mình biên soạn lại, bổ sung, rồi in nháp một ít bản thảo để “pretesting”, lắng nghe ý kiến các Thầy, các Thiện tri thức. Và sau khi hoàn chỉnh, tháng 3.2023 này, đã được Nhà xuất bản Tổng họp TP.HCM chính thức in ấn và phát hành. Cảm ơn Thanh Thủy, Thi Anh, Mai Quế Vũ… và tất cả.
Trong dịp gặp Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt, mình nói “Tôi Học Phật” theo một cách riêng của mình, một người bác sĩ học với bậc Y vương để tự chữa bệnh cho mình và cho bạn bè đồng bệnh tương lân. Những bài học dưới góc nhìn “khoa học thực nghiệm”, không mê tín dị đoan và chia sẻ chân thành từ những trải nghiệm, thực nghiệm trên bản thân mình suốt hơn hai mươi lăm năm qua.
Dịp này, mình nhắc 2 câu thơ của Sư Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh) tặng cho nhóm Quán Văn do mình đưa đến thăm Sư ở Huyền Không Sơn Thượng ngày 22.3.2023 vừa qua:
Nhẹ nhàng, thanh thản, tự nhiên thôi
Với cả nhân gian một nụ cười…
Và dưới đây là vài hình ảnh buổi gặp gỡ các bạn Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt (ngày 9.4.2023):
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh.

Diệu Cát

Thuần Nhiên, Ngũ Hành Sơn, Phạm Gia Cẩn, Anh Trình…

Lê Viết Cảnh, Tuệ Hương, Mai Bùi (Saigon), Thảo Nhiên.

Diệu Cát, Thoại Anh, Nguyệt (Mỹ), Tâm Nhiên
Sau buổi trò chuyện, Dũng (Kha Nhiên) hát cho mọi người nghe bài Khi Xa Đà Lạt (thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Nguyễn Đức Vinh) với nhiều cảm xúc. Bài thơ này mình viết năm 1966, đã đăng trên tạp chí Mây Hồng thưở đó. Nhạc sĩ Vinh bảo do vậy, anh phải “phổ nhạc” với một điệu… xưa của những năm 70 cho phù hợp… Tiếc mình không biết làm sao đưa clip lên đây cho bạn nghe vui mà nhớ chút Đà Lạt xưa!

Thuần Nhiên đệm đàn cho Kha Nhiên hát… Khi Xa Đà Lạt… tặng các bạn.
Rồi cũng xa thôi những hẹn hò
Những đồi run rẩy dưới mưa tơ
Những thung lũng nắng mềm hơn tóc
Những suối tương tự chảy hững hờ…
(…)
Thôi, những người đi về phố phường
Còn nghe rưng rưng bao niềm thương
Khi xa Đà Lạt, xa Đà Lạt
Hồn cổ sơ làm sao không vương…
(ĐHN, 1966)
Thư gởi bạn xa xôi:
“Về miền trung…” (tiếp theo)
Kể tiếp hả? Lúc này mà bạn chịu đọc, lại còn đòi đọc tiếp nữa là mình mừng lắm rồi đó.
Nhưng, mình cũng chỉ có thể thêm vài hình ảnh coi vui thôi nhe.
Lâu nay mơ một chuyến đi Bạch Mã mà chưa có dịp. Có lần mình viết mấy câu:
Tháng hai hẹn về Bạch Mã
Nhìn em múa kiếm dưới trăng
Cỏ cây giật mình sửng sốt
Sương mù tứ phía giăng giăng…
(ĐN)
Lần này mình theo đoàn Quán Văn của Nguyên Minh và các bạn, với lời mời của Võ sư Nguyễn Văn Dũng và Tịnh Thy đi Bạch Mã một chuyến cho biết.

Vọng Hải Đài trên đỉnh Bạch Mã (internet)


Những bờ tường rêu phủ…

Còn chút quán lá đơn sơ…

Vọng Hải Đài, nơi cao nhất ở núi Bạch Mã (1440m).

Võ sư Nguyễn Văn Dũng và Đỗ Hồng Ngọc bên gốc anh đào. (Bạch Mã, 20.3.2023)

Võ sư Nguyễn Văn Dũng, Đỗ Hồng Ngọc và Tịnh Thy.
Ngày nay Bạch Mã đã có năm ba khách sạn mới chỉnh trang, nhiều điểm tham quan rất đẹp như Thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ… và du khách đã bắt đầu về thăm Bạch Mã.
……………………………………………………………………………….
Thêm vài hình ảnh ở Huyền Không Sơn Thượng
Lần nào đến Huyền Không Sơn Thượng, ngoài được gặp Sư Giới Đức để học hỏi, bao giờ mình cũng ghé thăm một nhà sư trẻ, sư Chơn Quán, ở trong một cái cốc nhỏ giữa hồ, có một cái cầu tre lắc lẻo bắc qua. Sư Chơn Quán trước đây là người phụ trách trang web của HKST giúp Thầy Giới Đức – đã đăng một số bài viết của mình nên đã quen biết nhau – nhưng nay trang web tạm ngưng để tập trung cho Facebook, rộng mở và phù hợp hơn. Facebook ngắn gọn, tương tác nhanh nên tiện lợi hơn Website.
Lần này mình cùng vài người bạn ghé cốc thăm sư Chơn Quán, uống ly trà thơm do chính tay Sư pha chế. Phải nói mình rất thích cách bài trí ở đây, có cái gì đó vừa xa lạ vừa thân quen từ xa xưa lắm…
Xin chia sẻ vài hình ảnh cùng bạn xa xôi nhé.
Thân mến,
Hẹn thư sau.
Đỗ Hồng Ngọc.



