Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Một bức thư của Kiều Minh Mạnh từ Đơn Dương

24/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

ĐA TẠ BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC TẶNG SÁCH THOẢNG HƯƠNG SEN

Kiều Minh Mạnh

(Đơn Dương, Lâm Đồng)

 

hình: Kiều Minh Mạnh

Cứ mỗi lúc nghĩ đến Thiền và Phật, tôi lại nhớ đến một câu chuyện kể về bác sĩ Daisetz Teitaro Suzuki, đọc một lần rồi nhớ mãi: Năm 1964, Suzuki đến Honolulu dự Nghị hội Triết gia Đông Tây lần thứ tư. Các quan chức hàng không đã được lưu ý trước rằng một triết gia Nhật lỗi lạc, người đã trên 90 tuổi, sẽ đến trong một chuyến bay. Tưởng là sẽ đón một ông già lụ khụ, các nhân viên hàng không đã đặt ngay tại chân cầu thang máy bay một chiếc xe lăn. Nhìn thấy sự ưu đãi chu đáo dành cho mình, ông liền ngồi vào xe lăn để được đẩy vào phòng khách như một người… bất lực, dù ông chưa hề bất lực, vẫn đi đứng đàng hoàng trên đôi chân của mình. Hành động ân cần, tử tế, độ lượng của một bậc Thiền sư khiến bao triết gia đông tây đều kính phục tâm Tùy Hỷ của ông.

Bác sĩ Suzuki là một bậc đại tôn sư lại là người của thiên niên kỷ trước, người bình dân chỉ có thể kính nhi viễn chi đối với ông và tư tưởng của ông. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở mình thì khác, có duyên thì ai cũng có thể gặp mặt ngoài đời, còn sách của ông thì có ở mọi hiệu sách, ai cũng đọc được và học được. Học ở ông Đạo làm người, học cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân và người thân, học Phật, học Thiền, học…viết văn, làm thơ nữa!

Tôi “gặp” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhiều năm trước, khi đọc những giải đáp thuộc lĩnh vực y học, sức khỏe và tâm lý học khi ông cùng với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh “Gỡ rối tơ lòng thòng” trên các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ… Rồi đọc sách ông dạy làm mẹ… Rồi phát hiện ra ngôi nhà tinh thần của ông giữa cõi Ta bà, theo ông lõm bõm Học Phật. Có lần tham gia bình luận dưới một bài giảng của ông, nói rằng cũng học cách ông chia sẻ, tập thở, tập thiền. Mà, cái tâm chẳng thể định được, cứ nhắm mắt hít thở một hồi là ý nghĩ đã bay tới cơ quan, tới những công việc cần phải làm và đủ thứ, đành phải phì cười mà bỏ cuộc. Không ngờ nhận được email hồi âm của Bác sĩ: “…Phì cười là tốt lắm!”. Một vị học giả như ông mà vẫn dành thời gian để đọc, trả lời thư và giải đáp những thắc mắc của rất nhiều người trên nhiều lĩnh vực, tôi nghĩ ông đúng là một vị Bác sĩ của tha nhân, thật giàu đức nhẫn nại, ân cần, tử tế, bao dung, rộng lượng. Bao dung là bởi có lần, đọc thấy ông nói đang bị gút hành hạ. Mặc kệ ông là Thầy thuốc, lại còn dạy cho người ta cách chữa bệnh, tôi nhớ đã email cho ông với một mớ lời khuyên bác sĩ phải biết tự chăm sóc cho bản thân. Gửi thư xong rồi mỉm cười. Cũng biết người nhận thư đọc thư cũng sẽ chỉ mỉm cười. Bởi một thân là Dược Vương, lại không khác một Đại Nhạo Thuyết, ông thừa thấu trong thư là lòng quan tâm trắc ẩn. Gặp người khác là nóng mặt rồi đây: có biết ta đây là ai không mà bày đặt “lên lớp”. Thỉnh thoảng gặp dịp nào đó lại gửi đến ông lời thăm hỏi dành cho một vị trưởng bối. Cuối tháng 8 vừa rồi, email chúc mừng sinh nhật của Bác sĩ, than vãn vài câu. Thế là được ông nhờ người gửi tặng cho cuốn sách của ông vừa xuất bản: “Thoảng Hương Sen”. Một tuần sau nhận được sách. Cũng phải giải thích vì sao lại có sự chậm trễ này, khi người chuyển sách đã gửi bằng phương tiện chuyển phát nhanh từ Đà Lạt. Cậu bưu tá gọi điện ngay khi có bưu phẩm, nhưng người nhận đang ở xa, vậy là cậu cứ mang trong túi thư suốt cả tuần, đến khi điện thoại cậu mới mang đến nhà. Rồi đó, nâng niu bưu phẩm nhận được, ngắm nghía chữ viết trên bao thư, chưa vội mở ra đã thấy… thoảng hương sen.

Tôi đọc thấy một chữ Đức và một chữ Chân Thành trong suốt 30 bài viết ngắn tập hợp trong cuốn sách Thoảng Hương Sen của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chữ Đức toát ra từ một người nói và thực hành, cả đời đã tu tập rồi mang sự hiểu biết và tri ngộ của mình mà giác tha. Mỗi đoản văn chứa cả cái Tâm chân thành của người viết dành cho tri âm, những người đang muốn học Phật, muốn tiếp cận với Thiền. Dường như ông không định áp đặt cái biết của mình cho người đọc. Giọng văn tự sự, giản dị như tự mình nói với mình. Ta đọc, ta quan sát, ta thấy vậy và nó là như vậy đó. Còn ai thấy khác thì nó cũng là vậy đó thôi. “Nhạn quá trường không. Ảnh trầm hàn thủy. Nhạn vô di tích chi ý. Thủy vô lưu ảnh chi tâm.” (Thiên Y Nghĩa Hoài). Giữa chốn hồng trần trôi trôi, gió thổi không ngừng. Ai nhìn thấy được xa trước mắt người đó “đắc đạo” vậy.

Đến chùa trong những dịp lễ, chúng ta thấy đông đảo Phật tử. Nhiều người đến để cầu cho tâm an, người đến cầu tài cầu lộc cầu phúc đức cứ như những thứ ấy từ trên trời cao giáng xuống vậy, há miệng mà chờ sung. Có vị tỳ kheo lại bày cho Phật tử mỗi đêm trước điện Phật, cứ quỳ và tụng niệm thật to pháp danh hằng hà sa số Phật, đến nỗi đêm nào cũng khan cả tiếng. Tìm đường đến với Như Lai mà khó vậy sao? Chi bằng, có người đã đốt đuốc tìm thấy đường đi, ta cứ tin người mà đi theo vậy. Lấy Đạo Bồ-tát mà giúp chúng sinh cùng giải thoát, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc như vị Bồ-tát Đại Nhạo Thuyết cứ không ngừng đem những hiểu biết của mình mà gieo duyên lành ra khắp chốn nhân gian vậy. Ai có duyên thì gặp!

Đơn Dương 22.9.2018

(KMM)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Chút duyên với Elena Pucillo Trương

22/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Quán Văn Số 58 ra mắt 9h sáng ngày 23.9.2018 tại Cafe Lọ Lem 345 Nguyễn Trọng Tuyển như thường lệ nhưng lần này đặc biệt giới thiệu Chân dung văn học của Elena Pucillo Trương, cô dâu Ý xứ Bình Định của Trương Văn Dân.

Bài dưới đây là vài nét chấm phá “Elena” dưới cái nhìn của ĐHN, đồng thời giới thiệu một bài thơ ĐHN mà Elena đã dịch sang tiếng Ý cùng một bài viết rất cảm động của Elena “Thư viết cho Mẹ”…

 

Chút duyên với Elena Pucillo Trương

Đỗ Hồng Ngọc

Trong nhóm bạn văn chen chúc ở cái “Chuồng cu” chật chội là Tòa soạn Quán Văn của Nguyên Minh, thấy bóng một mái tóc vàng óng, một nụ cười rạng rỡ, một chút ồn ào vui nhộn… thì không ai khác đó chính là Elena giữa mọi người. Gọi Elena cho gọn, mặc dù khi viết văn thì tên cô đầy đủ là Elena Pucillo Truong. Và, cũng phải nói thêm, với tôi, không có Trương thì không có Elena và không có Elena thì không có Trương. Nhà văn Elena cứ viết tiếng Ý của cô, Trương Văn Dân “không cần đọc” cũng biết cô viết gì, và bản dịch của anh thật bóng bảy, trau chuốt, cứ tưởng như Elena viết bằng tiếng Việt! Cô dâu người Ý của xứ Bình Định, khăn gói theo chồng, nhà văn Trương Văn Dân về Việt Nam, hòa mình rất nhanh với quê hương xứ Việt, với bạn bè văn chương xứ Việt của chồng và nhanh chóng học tiếng Việt, đến nay cô nói tiếng Việt đã khá sõi rồi…

Một lần từ Bình Định vào, cô nói với tôi: Tụi em có mang “mắm ruột” vào cho anh đây!… Tôi nghĩ cô phát âm sai nên đính chánh: Mắm Ruốc chứ, sao lại “mắm ruột”! Nhưng tôi bé cái lầm. Đó là thứ mắm làm bằng ruột cá của xứ Bình Định, khác với xứ Phan Thiết của tôi chỉ có mắm ruốc!

Rồi khi tôi đăng bài thơ Loài người thật vui trên www.dohongngoc.com/web/ thì mấy ngày sau đã có bài dịch sang tiếng Ý của cặp “song thủ hỗ bác” Elena-Trương. Ít lâu sau đó, tôi viết bài thơ Rùng Mình thì Elena kêu lên: Tụi em vừa dịch vừa rùng mình đó anh ơi! Quả thật, hai bạn trẻ Trương Văn Dân và Elena đã vừa dịch bài Rùng Mình vừa rùng mình thiệt!

Gọi là “bạn trẻ” vì có lần hai bạn lật trang cuối tờ Tạp chí Bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức 1971 ra khoe với tôi: Đây nè, hồi mấy anh làm tờ báo này thì Trương Văn Dân là một độc giả trẻ… đã có tên trên mục “Trả lời bạn đọc” nè!

Gần đây, đọc bài Elena viết về Nguyên Minh rất vui. Cô có con mắt tinh đời, nhận xét sâu sắc, tinh tế về người đàn anh có tuổi này, những phút im ắng, trầm ngâm đắm mình trong dĩ vãng vời xa và những lúc sôi nổi nhiệt tình như vừa trẻ lại khi nhắc đến văn chương, báo chí, với niềm đam mê mãnh liệt, “bỏ quên cả người yêu” trên đường hẹn hò. Thú vị, cô nhắc chuyện Nguyên Minh đi Pháp, đi Roma về kiệt sức đến nỗi chị Lan, người vợ hiền cao quý của anh đã phải hầm hai con chim bồ câu cho ăn anh mới tỉnh lại. Đọc xong tôi cứ cười tủm tỉm: sao tới hai con?

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 8.2018)  

……………………………………………………………………………………….

 

RÙNG MÌNH…

                                Tùng địa dũng xuất
                                             (Pháp Hoa)

Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
vì sao núi lửa cứ phun trào?
vì sao băng tan vì sao bão táp…?
vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
vì sao và vì sao?…

 

Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát

 

Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?

 

Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…

 

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)

 

 

BRIVIDI !

Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?

Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???

Ed ora ascolta
Solo un istante……

Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?

E perche’, perche’ ?

Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.

Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân & Elena Pucillo Truong)

……………………………………………………………

 

 Elena Pucillo Truong

Thư viết cho mẹ.

(Nguyên tác : lettera alla madre)

Bản dịch của Trương Văn Dân

Mẹ thương  yêu,

Con thường nghĩ về mẹ nhưng trước đây con chưa viết được gì cho mẹ. Con muốn kể cho mẹ nghe rất nhiều điều, tất cả những gì đã xảy ra với con, về cuộc đời mà con đang sống, dù đôi khi con có cảm giác là mẹ đã biết tất cả rồi. Mẹ luôn có một thứ giác quan thứ sáu, một thứ trực giác bén nhạy để linh cảm về những điều sắp sửa xảy ra. Chỉ tiếc là những linh cảm ấy không giúp mẹ tránh khỏi những khổ đau. Và trong đời, mẹ đã đau khổ biết bao!

Ngay từ lúc còn bé, một cơn sưng màng não đột phát trong vài giờ đã cướp đi người em gái, và sau đó, vì quá đau đớn bà ngoại cũng ra đi.

Kể từ ngày đó mẹ luôn luôn mang theo cái bóp đầm trong đó có hai bức hình đen trắng.

Từ nhiều năm nay trong chiếc ví của con cũng có bức hình trắng đen của mẹ: khuôn mặt mẹ thật đẹp nằm giữa những lọn tóc gợn sóng, hai mắt to màu đen và nụ cười chớm nở trên môi. Lúc đó mẹ chỉ vừa 19 tuổi, trước khi lập gia đình với người yêu và cũng là mối tình đầu và duy nhất của mình. Suốt một đời mẹ chỉ muốn tận tình chăm sóc chồng, thế mà sau ngày cưới chẳng bao lâu, người chồng đã bắt đầu làm khổ mẹ. Niềm an ủi duy nhất của mẹ chính là những đứa con : anh trai và con, đứa con gái mà mẹ muốn giữ, chống lại ước muốn của chồng. Tám năm sau lần sinh nở đầu tiên, chính mẹ đã quyết liệt chống đối để con có thể tiếp tục lớn lên trong bụng mẹ. Thật là khó khăn vì ba muốn mẹ phải phá thai để khỏi bị ràng buộc, nhưng mẹ nhất định không. Mẹ muốn giữ con, và biết chắc là sẽ sinh con gái. Mẹ đã  nhiều lần kể lại cho con nghe là ba đã giận dữ như thế nào: Nếu phải có con, ba chỉ muốn tất cả đều phải là trai!

Thế nhưng, rất nhiều năm về sau, chính ba đã lớn tiếng tuyên bố là người duy nhất mà ba có thể trông cậy và tin tưởng là con, đứa con gái của ba mà trước đây ông muốn bỏ đi !

Thỉnh thoảng con cũng có nghĩ về ba, nhưng trong những giấc mơ, con chỉ mơ thấy mẹ.

Trong những giấc mơ ấy con luôn luôn mơ thấy ngôi nhà mình từng sống. Dường như có lần con từ trường đại học trở về và thấy mẹ đang ngồi cạnh cửa sổ, đôi mắt kính xệ xuống sống mũi, cuí đầu cặm cụi khâu lại ống quần hay kết lại viền khăn trải bàn bị đứt chỉ. Những lần khác con nhìn thấy mẹ đang làm nước sốt cho món mì đút lò. Bao nhiêu lần con đã phụ mẹ để nấu những món mà gia đình thích, thường là ngày chủ nhật vì những ngày khác ba đi làm còn mẹ cũng đi dạy nên có ít thời gian. Nhắc lại, con như nghe trên đầu lưỡi của mình mùi vị thơm ngon của thứ nước sốt rất đặc biệt đó.

Trong các giấc mơ khác con cũng nhìn thấy mẹ, mà là những lúc thật buồn, thật đau khổ, rồi con thức giấc như vừa tỉnh một cơn ác mộng và lòng sầu đau khôn tả. Phải cần vài giây sau con mới định thần được rồi lòng chợt thấy vui vì con được ở  gần bên mẹ. Dù chỉ trong một giấc mơ.

Mẹ ơi, trong những ngày cuối, chao ôi, con thấy mẹ dịu ngọt và mỏng mảnh làm sao! Con biết không phải mẹ khóc vì mình sẽ lìa bỏ cõi đời mà khóc cho những đứa con mà mẹ phải rời xa. Đó không phải là  ý muốn của mẹ, mà là do cái khối u tàn nhẫn đang lớn dần bên trong và  từng ngày cướp đi sức sống.

Sau khi mẹ mất, con luôn giữ những tấm hình của mẹ, lần này là hình màu, trong ảnh mẹ tươi cười và hình như không có nhiều lo âu. Có lẽ chỉ có một chút  màu đen nơi vành mắt là dấu vết của nỗi buồn vì cô độc. Mẹ quá cô độc, nhưng có lẽ tất cả mấy mẹ con mình đều cô độc. Cho đến tận bây giờ con vẫn còn nhớ cái cảm giác bị ruồng bỏ, bị bỏ rơi. Suốt buổi tối cả nhà ngồi quây quần quanh chiếc bàn cơm đã dọn sẵn, im lặng đợi chờ. Nhưng  ba con đã không về trong đêm đó. Và sau đó thì không bao giờ về nữa.

Con không bao giờ muốn nghĩ về những ngày tháng ấy. Ngược lại, con muốn nghĩ rằng giờ này mẹ đang bình an, không còn đau đớn và cuối cùng thanh thản ở một cõi giới khác.

Bây giờ thì con xin báo cho mẹ biết là trong những ngày tới, mẹ sẽ có một cuộc gặp gỡ quan trọng. Đến gặp mẹ là một người đàn bà mà mẹ đã từng gặp rất nhiều năm trước: mẹ của chồng con. Con tin  chắc rằng hai người sẽ trở thành bạn, sẽ kể cho nhau nghe nhiều rất chuyện, về những cuộc đời ở mãi tận phía bên kia trái đất. Bà ấy hay cười và thích nói đùa. Đây là điều mà con đang tưởng tượng: hai người ngồi bên nhau như thể là hai người bạn lâu năm, vui đùa, cười nói. Mẹ chồng của con sẽ nói về Việt Nam, sẽ giải thích về lễ Vu Lan, một ngày lễ Phật Giáo rất đặc biệt dành cho các bà mẹ vì họ giữ một vai trò quan trọng trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Ngày lễ đó cũng là một cơ hội để các con có thể nói lên tình yêu thương và báo đáp lòng hiếu thảo với mẹ, người đã chịu đựng biết  bao đau đớn để sinh con, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng  nên người. Bao nhiêu khó khăn thường nhật mà người mẹ phải vượt qua, kiên nhẫn, hy sinh và xem nhẹ những đớn đau hiện tại  để nuôi hy vọng về một tương lai tốt đẹp.

Mẹ biết không? Sau khi mẹ mất, hằng năm vào lễ Vu Lan con thường đi đến chùa để thắp nhang và  cầu nguyện. Lần nào trước cửa thiền con cũng được chào đón bởi các em học sinh, để gây quỹ giúp chùa hay để làm từ thiện, họ gắn lên áo quan khách những chiếc bông hồng làm bằng vải hay bằng giấy lụa:  Bông hồng màu đỏ tượng trưng cho những ai còn mẹ và màu trắng cho những ai có mẹ đã qua đời. Nhờ màu của những hoa hồng trên áo nên mọi người dễ dàng nhận biết ai là  kẻ may mắn còn mẹ để chúc mừng, ai là người không còn mẹ để chia buồn với họ.

Ngày hôm đó con có bỏ  một ít tiền vào chiếc hộp giấy mà các em mang theo và yêu cầu họ gắn lên áo mình một bông hồng màu trắng và một bông hồng màu đỏ. Cô bé học trò, đã ngạc nhiên khi nhìn thấy một người ngoại quốc đi chùa, nói chút ít tiếng việt, và lại có yêu cầu khác thường nên hơi bối rối. Con vội giải thích với cô ta rằng chiếc hoa hồng màu trắng là cho mẹ ruột của cô, còn hoa hồng màu đỏ là dành cho mẹ của chồng, mà con xem là bà mẹ thứ hai. Ý nghĩ này đến với con thật tự nhiên, vì bà mẹ chồng gầy gò nhưng tính cách rất mạnh mẽ kia luôn quan tâm đến con; Còn đứa con dâu ngoại quốc, có dáng vẻ bên ngoài có lẽ rất khác với những gì bà chờ đợi, nhưng luôn dành cho bà một tình thương và lòng kính mến như chính là con gái. Kính mến và yêu thương thật sự, đến nỗi con thường tránh chữ mẹ chồng ( vì những ý nghĩa mà thông thường người ta hay đem ra chế diễu); Có khi con xem gọi thế là một sự xúc phạm. Mẹ. Là mẹ, thế thôi.

Con không thể nào quên được là sau ngày mẹ mất, người mẹ thứ hai của con đã đem hình của mẹ đặt lên bàn thờ của gia đình và in ra nhiều tấm để gởi đến rất nhiều chùa để cầu nguyện. Đối với con, đó là một  cử chỉ  thân thương có nhiều ý nghĩa mà không lời lẽ nào nói lên được. Mẹ biết không, cho đến hôm nay trong các chùa từ Sài Gòn đến tận miền quê xa như Tây Sơn, Bình Định, mỗi lần tụng kinh các sư thầy đều có cầu nguyện cho mẹ.

xx

Bây giờ thì mẹ và mẹ của chồng con đang ở bên nhau và  ý nghĩ là cả hai đều bình yên đã cho con rất nhiều an ủi. Con sẽ luôn nghĩ đến hai người mẹ và mùa Vu Lan này, giữa các nghi thức cúng kiến, con muốn được đốt một chiếc điện thoại di động bằng giấy theo truyền thống của người Việt Nam để có thể nghe được giọng nói thân thương của mẹ.

Và bắt đầu từ nay, các em bé sẽ gắn lên trên ngực áo của con hai bông hồng trắng.

Con ôm hôn mẹ, thật mạnh.

Con gái của mẹ

Sài gòn 4-2015

 

Elena Pucillo Truong cùng các bạn ở “Chuồng cu” Tòa soạn Quán Văn.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Uncategorized, Vài đoạn hồi ký

Gặp Hai Trầu ở Đường Sách

09/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Gặp Hai Trầu ở Đường Sách Saigon

“Hai Trầu” là bút danh của Lương Thư Trung, một “độc giả” mà cũng là một “tác giả” rất dễ thương với nhiều tác phẩm miệt vườn Nam bộ mà mới nhất lại là cuốn nhận định văn học “Người đọc và Người viết” lý thú – mà nhà phê bình Trần Doãn Nho đã nhận xét (mình nhớ đại khái) rằng Hai Trầu “người đọc” này như một người câu cá thả phất phơ cái phao trên mặt nước mà bên dưới là một lưỡi câu nhọn hoắc… chớ chẳng chơi!

Sáng sớm Hai Trầu phone gọi mình cafe, đi đâu cũng được và mình đề nghị ra Đường Sách, chắc chắn ở đó Hai trầu sẽ được đắm chìm với sách. Anh nói anh về vội, thậm chí chưa cho Phạm Văn Nhàn – người bạn thân thiết gần gũi – biết, dù hôm qua mới gặp nhau. Rồi anh kêu chụp cái hình “hai đứa mình” gởi PVN coi cho giựt mình chơi! Nhàn kêu trời, “cái ông Huyện này trốn đi chơi, chẳng cho ai hay cả!”. Cái ‘xóm’ của Hai Trầu có nhưng người hàng xóm mà anh rất quý mến: Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy, Cái Trọng Ty, và cả nhà thơ Tô Thùy Yên…

 

Hai Trầu Lương Thư Trung và Đỗ Hồng Ngọc (Đường Sách Saigon, 7.9.2018)

Hai Trầu lắc lắc cái máy hình nhỏ xíu trong tay. Đi mấy ngàn cây số mới chụp được cái hình chớ chơi đâu. Anh nói. Rồi nhờ mấy bạn trẻ chung quanh bấm cho mấy cái. Lúc này già quá mạng, hay quên, không biết tại sao.  chắc cũng giống máy vi tính, điện thoại thông minh hết bộ nhớ. Mình nói hình như ta có thể mua thêm bộ nhớ trên đám mây (iCloud) gì đó để mở rộng sức chứa. Cả hai chả ai rành những thứ hiện đại này… nói chuyện trớt quớt. Rồi bỗng nhiên anh gật gù “gặp người hợp thì nói chuyện hoài không thấy chán… “. Chắc anh muốn nói bọn mình cùng lứa, cùng quê mùa với nhau. Dĩ nhiên rồi.

Anh bỗng hỏi thăm Thu Vàng. Mình nói Thu Vàng qua Mỹ ở luôn rồi. “Uổng quá há!” anh kêu lên. Mình giựt mình sao lại “uổng”? Anh nói TV hát hay mà ở đây mình không còn được nghe nữa! Rồi giải thích thêm như về đây mà không gặp được bác sĩ (thỉnh thoảng anh gọi mình là bác sĩ) để đi cafe như vầy thì tôi cũng sẽ thấy uổng hết sức! Nghe cười, thấy cười là an lạc liền! Ôi trời, cái anh Hai này. Hèn chi mà ảnh mê “từ cái mái nhà cái thềm nhà, khóm cây ngọn cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường” (Quốc văn Giáo khoa thư)… Mai đi Châu Đốc, Tân Châu, Long Xuyên… về thăm nhà tôi, nhà bà xã, bà con…

Anh nói Nguyệt Mai dễ thương nha bác sĩ. Cuốn thơ NKD do cô sửa morasse giùm cho đó! Thơ NKD mỉa mai, cười cợt nhưng mà cười hiền à! Lúc này bác sĩ hay đi chùa cũng là dịp để gặp những người hiền đó. Mình gật.

Rồi cùng nói chuyện tai điếc, mắt mờ, chuyện trí nhớ giảm sút, chuyện những bạn bè chung quanh…

Mình gởi tặng anh cuốn Già sao cho sướng. Gởi mấy cuốn Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy…

Rồi hẹn hôm khác. Hai Trầu tuổi Ngọ, nhỏ hơn mình vài tuổi bạn ơi.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Cn 9.9.2018)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

NQC: Sài gòn chiều nay không có mưa

06/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sài gòn chiều nay không có mưa

 

Sài gòn Mưa Đường Sách 8.2018 (ảnh: Do Hong Ngoc)

Nghe nói chiều qua Sài gòn mưa to
Hôm nay tôi vô, Sài gòn nắng nóng làm không muốn ra đường…

Hàng me lô xô. Xe cộ lô nhô
Căn nhà vắng bóng bạn bè, con cái…
Bức tranh họa sĩ Đinh Cường tặng nhà mới San Jose nay con mang về treo trên phòng khách,
Tịch mịch và tĩnh không
Nhớ mông lung
Rót một ly rượu. nghe lòng lắng…

Thêm một ngày qua với mưa và nắng…

Đêm qua tôi ngủ mơ
Một giấc mơ hiền…
Tôi thấy mình bay trong một cõi thần tiên
Có mây màu hồng cuộn dâng như sóng
Nhưng tôi không muốn bay, tôi muốn xuống
Nhưng dưới kia núi đá chập chùng
Lại có những người nhìn tôi nhăm nhe như thách thức
Tôi muốn xuống, muốn xuống dưới kia
Nhưng chẳng có đường…
Tôi hồi hộp nhắm mắt định nhảy

Và, tôi thức dậy
Giấc mơ hiền thoắt hóa giấc mơ hung
Tim tôi đập mạnh. Đêm đã quá nửa chừng…

Đêm đã trôi quá nửa chừng nên khó dỗ lại giấc bình yên
Với đại cuốn sách đầu giường
Lại là cuốn tuyển tập truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc
Mở đại ra. Gặp câu chuyện cô gái mù hái cau. Câu chuyện tôi đã đọc và khóc từ thời thơ ấu trong nguyệt san Hương Quê xưa…

Cô bé trèo cau mưu sinh, cô bé mù
Em phải nhảy tự cành cây cau này sang cành cây cau khác
Phải chính xác, chính xác
Chỉ một lần em bắt hụt tà cau là có tiếng một người rơi tự trên cao…
Tôi đã khóc, ngày ấy còn nhỏ lắm…

Tôi bỗng rùng mình
Mình có leo quá cao trên một cành cao
Trèo lên làm chi cái cõi thần tiên có mây hồng làm thành sóng
Rồi làm sao mà xuống!…

May chỉ là một giấc mơ!

Chiều nay Sài gòn vắng lặng trong tôi
Không có bạn bè hét hô. Mặt đỏ rần rần. nói câu triết lý
Không có khách khứa mời mọc. nói chuyện làm ăn
Không có những người anh, người em đã ngộ. vi vu giữa cõi vô thường
Không có câu ca và giọng hát tiếng đàn…
Tôi chỉ có tôi. Một ly rượu chát
Ly rượu đơn côi và bức tranh tuyệt vời người họa sĩ đã qua đời. tặng…

Họa sĩ thả hồn trên rộn ràng màu sắc
Anh lớn lao. Vẽ gì. Nói gì. Tôi không hiểu!..

Rồi tôi vẫn ngồi lại với tôi, một mình

Sài gòn chiều nay không có mưa!…

Nguyễn Quang Chơn
Sài gòn, 05.9.2018

Kính tặng anh ĐH Ngọc, ĐT Chinh, chị T. Nhung

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Từ một lá thư kỷ niệm…

02/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Từ một lá thư kỷ niệm…

 

Bạn còn nhớ chị Minh Quân chớ phải không? Bà chị nhà văn tánh tình thiệt dễ thương, bụng dạ thẳng như ruột ngựa, nhớ không? Thiệt là tình cờ, mình vừa nhận được một email của Đèn Biển (Võ Quang)- người không xa lạ với Nguyệt Mai- kể về “một lá thư kỷ niệm” do anh Nguyễn Hữu Thuần, thư ký tòa soạn báo Tuổi Hoa năm xưa gởi Đèn Biển, vậy rồi Đèn Biển bỗng trở thành cái “cầu nối” giúp mình gặp lại mấy người con chị Minh Quân, trong đó bé út Minh Vĩnh hôm nào còn bế trên tay Mẹ mà nay đã đọc… Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn! Minh Vĩnh viết: “thật là như giấc mơ”…

Xin phép Đèn Biển, Minh Vĩnh… cho anh Ngọc, cậu Ngọc được chia sẻ chút riêng tư nơi đây với những người bạn xa xưa của mình vậy. Chẳng qua đó cũng là một thứ bệnh của tuổi già thôi!

  • Nhà văn Minh Quân tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Bích Lợi (1928-2009) còn có các bút danh khác là: Lan Vinh, Bửu Lợi…Bài thơ đầu tiên của chị đăng trên tuần báo Dân Chủ vào năm 1951. Truyện ngắn, thơ, bút ký rải rác ở Nhân Loại, Thần Chung, Nữ Lưu, Tuổi Hoa, Phổ Thông, Phụ Nữ Việt Nam, Văn Nghệ TP, Người Lao Động, Kiến Thức Ngày Nay… (theo Internet).

 

Nhà văn Minh Quân và các con. Bé út Minh Vĩnh còn bế trên tay.

Chị nổi tiếng với Những ngày cạn sữa (Giải thưởng Văn bút 1964-1965),

(internet)

(internet)

và nhiều tác phẩm khác như Khi ông cậu quý bị đắm tàu, Trên đường tìm ngọc, Lưới trời, Lữ quán giết người, Máu đào nước lã, Ngục thất giữa rừng già, Những ngày xanh, Vượt đêm dài, Mưa sa mạc, Theo chân thần tượng, Về thăm thầy cũ…

……………………………………………………………………

Đèn Biển gởi Đỗ Hồng Ngọc:

24.8.2018

Em chào anh Ngọc,

Anh khỏe không anh. Nhân hôm kia em có đăng một bài viết về bác Minh Quân, anh Hà Tĩnh (Nguyễn Hữu Thuần), thư ký tòa soạn Tuổi Hoa xưa có vào “còm” kèm theo một lá thư kỷ niệm. Em thấy thư có mấy chi tiết thú vị, trong đó có nhắc đến anh, nên gởi anh hình chụp lá thư, cùng “lời bình” của anh Hà Tĩnh, anh đọc chơi cho biết. Có chuyện này vui: chính nhờ lời giới thiệu cuốn Những Tật Bệnh… trên Tuổi Hoa của anh Hà mà em biết anh, và kiếm mua được cuốn này ở chợ sách Đặng thị Nhu sau 1975. Tiếc là nhỏ cháu mượn đọc rồi quăng đâu mất, nhưng em vẫn còn nhớ sách do La Ngà xuất bản, hình bìa giống bìa Tuổi Ngọc… Chúc anh nhiều sức khỏe!

Lá thư của Nguyễn Hữu Thuần, thư ký tòa soạn Tuổi Hoa:

Nhân Quang Vo (Đèn Biển) nhắc tới tác giả Minh Quân, tôi xin chia sẻ một kỷ niệm – một bút tích của Chị – tôi may mắn còn giữ, được tìm thấy cùng chỗ với mấy bản film tách màu Bìa Tuổi Hoa số Giáng Sinh 229. Thời điểm này chiến sự đang sôi động, tôi chỉ ghé tòa soạn nhận bài vở, thư từ mỗi chiều sau giờ tan sở. Thấy lá thư tôi vội gọi điện cho chị, ngỏ ý nhân tiện muốn được làm quen với BS Đỗ Hồng Ngọc, đang rất nổi trong giới học sinh, sinh viên bấy giờ. Bản thân tôi cũng rất ái mộ cái giọng văn hài hước, nhẹ nhàng mà rất chuyên sâu của ông thầy thuốc trẻ này Chị vui vẻ đồng ý ngay, còn thêm : ” Hay lắm. Ngọc nó dễ thương lắm em ” và hẹn sáng Chủ Nhật chị ghé tòa soạn rồi đi luôn. Tiếc rằng tối thứ 7 đó chúng tôi nhận được lệnh cấm trại 100%, và cuộc hẹn phải bỏ ngõ …

Thủ bút nhà văn Minh Quân
(hình của Nguyễn Hữu Thuần, Tuổi Hoa)

………………………….

Thư ĐHN gởi Đèn Biển (Võ Quang)

“Lúc anh đến chơi nhà chị MQ ở đường Phan Thanh Giản, nay là ĐBP, thì bé Vĩnh cũng còn nhỏ xíu. Lần đó cậu con trai (bé Minh? khoảng 10-12 tuổi) bị đau bụng, nghi Viêm ruột thừa (thời đó gọi Sưng ruột dư), chị MQ sai bé Nguyện, cô con gái thứ hai, xinh như mẹ, đến nhà chở anh đi khám bệnh cho Minh, cô vừa chạy xe vừa hát “Hạ Trắng” của TCS, anh nhớ mãi. Bây giờ các cô, các em đã về đâu cả rồi? Làm sao có buổi nào Đèn Biển về SG tụ họp một bữa cho vui, nhớ mời anh NHT nữa nhé. Anh NHT nay ở đâu, khỏe không?

……………………………………..

Và thư của Minh Vĩnh gởi Đèn Biển:

30.8.2018

“Chao ơi, anh Quang ơi, anh thật là cầu nối tuyệt vời.

Nghe anh nói bs Đỗ Hồng Ngọc vẫn nhớ tụi em làm em mừng quá. Hồi đó tụi em gọi bs là “cậu Ngọc” (mẹ em nhiều “em tinh thần” nên tụi em cũng có nhiều “Cậu”, “Chú” mà không phải bà con ruột thịt)  và rất quý và nể cậu. Cậu là ân nhân của gia đình em, hồi đó mẹ hay “tư vấn” cậu mỗi lần tụi em bệnh và đặc biệt, đúng như cậu kể, mà thật ra là 2 lần lận, cậu đã cứu sống anh Minh em vì định được bệnh khi mà nơi khác chẩn đoán không ra. Một lần là sốt xuất huyết mà y tế phường  không phát hiện ra, đến khi qua giai đoạn nặng, cậu biểu đem ngay vô bệnh viện. Một lần nữa là đau ruột thừa mà bs cũng không biết vì cứ đau âm ỉ, đến lúc gần vỡ…Ở nhà mẹ hay nhắc và khen cậu hoài.

Mấy năm sau này BS quá nổi tiếng, em vẫn “âm thầm” làm fan hâm mộ, mua sách của BS đâu sót quyển nào mà đâu có dịp nào để được gặp, cũng sợ “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Em không ngờ cậu vẫn nhớ được nhiều như vậy. Anh Quang ơi, em cũng muốn được gặp lại cậu lắm. (…)

Em cảm ơn “cầu nối” nhiều nhiều.

Em Bé

……………………………………………………………………

Và, Minh Vĩnh viết cho cậu Ngọc:

31.8.2018

Kính thưa cậu Ngọc,

Con là Minh Vĩnh, con Bé (út) của bà Minh Quân. Cậu cho phép con được gọi là cậu như hồi trước nhe!

Vừa rồi, qua anh Quang Võ (Đèn biển), con được biết cậu còn nhớ tụi con và đồng ý cho con trực tiếp liên hệ với cậu qua email. Con mừng lắm.

Thưa cậu,

Chắc cũng như rất nhiều độc giả của cậu, con đã lớn lên với các cuốn sách của cậu, từ lúc ở tuổi teen đọc “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò”, đến khi lần đầu làm mẹ được mẹ con đưa cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”, khi già đi để tìm đọc “Gió heo may đã về”, “Già ơi…chào bạn”, và đặc biệt là khi bắt đầu thấm triết lý nhà Phật để hiểu được “Nghĩ từ trái tim”, “Thấp thoáng lời kinh”, “Gươm báu trao tay”…

Nhưng con chắc con khác với rất nhiều độc giả âm thầm “ngưỡng mộ” cậu ở chỗ con có lòng biết ơn đặc biệt vì cậu là ân nhân của gia đình con. Mẹ con thường nhắc (mà lúc đó con cũng đủ lớn để nhớ) rằng cậu đã cứu sống anh Minh con hai lần. Một lần khi mới giải phóng, ít ai biết về sốt xuất huyết, cứ đem ra y tế phường, được cho thuốc hạ sốt, đến khi cậu đến và la lên, bắt nhập viện lập tức trong giai đoạn đã đi tiêu ra máu. Một lần nữa là anh Minh bị đau ruột dư mà biểu hiện không quá rõ, chỉ đau âm ỉ, đến khi cậu kêu nhập viện thì đã sắp vỡ…

Đã bao nhiêu năm qua. Con nghĩ là lúc đó mẹ con cũng đã trực tiếp nói lời cảm ơn cậu, nhưng con nghĩ đến lượt tụi con cũng phải nói được lời cảm ơn. Có lẽ cậu đã nhận được rất nhiều những lời cảm ơn, ca ngợi, nhưng tình cảm chân thành thì đâu có bao giờ thiếu chỗ để chứa, cậu nhỉ. Cậu cho phép con, thay mặt cả gia đình con được gửi lời cảm ơn và lòng trân trọng đến cậu, cậu nhé. Con là con của nhà văn nhưng chắc chỉ nhận được gen lặn của mẹ nên không diễn đạt được hết mọi điều và lại nói rất lộn xộn (do con hơi xúc động), nhưng con nghĩ sự chân thành chắc là điều quan trọng hơn, cậu nhỉ.

Anh Đèn biển có nói với con là cậu có hỏi thăm gia đình tụi con ra sao. Chị Quý (lớn nhất nhà) đã đi Canada, anh Minh thì đi Mỹ, Ở VN còn hai chị em: chị Nguyện và con. Con bây giờ cũng đã 55, con đi dạy và mới nghỉ hưu. Con rất mừng khi nghe anh Đèn biển nói có thể bữa nào cậu rảnh, cậu cháu mình, anh Đèn biển có thể hẹn gặp nhau nói chuyện chơi (thật là như giấc mơ!). Con hy vọng sẽ có dịp vui đó.

Con xin tạm dừng thư. Con kính chúc cậu luôn vui khỏe.

Con Minh Vĩnh

………………………………………………………

Tuổi già, hay nhắc chuyện xưa, bạn thông cảm cho vậy nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Ý NHI: Kỷ Niệm Không Có Mưa

24/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Ý NHI: Kỷ Niệm Không Có Mưa

Bạt cho tập “Kỷ niệm không có mưa” (trích)

Vũ Thành Sơn

(…) Kỷ niệm không có mưa ghi chép những kỷ niệm cá nhân của nhà thơ Ý Nhi với nhiều văn nghệ sĩ ở hai miền Nam-Bắc trong và sau khi chiến tranh kết thúc. Ở một khía cạnh nào đó, qua trung gian của tác giả, chúng ta được nhìn ngắm, được “tiếp xúc” với những nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ đó trong đời sống thực trần trụi ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và tất nhiên, có cơ hội để làm một sự đối chiếu thú vị giữa con người nghệ sĩ mang tâm tình, khát vọng, băn khoăn, lo toan hằng ngày với những đứa con tinh thần của họ; Có thể nói tuy tác giả tự đóng khung hồi ức của mình như là một triển lãm chân dung dưới góc nhìn cận cảnh “để bày tỏ lòng biết ơn”, Kỷ niệm không có mưa một cách khách quan đã cung cấp không ít tư liệu văn học quý giá, lý thú cho những độc giả yêu thích văn chương và những nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại và cũng chính điều đó mới thực sự làm nên căn cước của tác phẩm trong tư cách là một chứng cứ của một giai đoạn lịch sử (…).

Kỷ niệm không có mưa,  tác phẩm phi hư cấu đầu tiên của nhà thơ Ý Nhi, hoàn toàn có thể được đọc như một câu chuyện dài với nhiều nhân vật, mỗi nhân vật một tính cách, một số phận, được kể bằng một giọng thì thầm của một người ngồi hồi tưởng bên khung cửa. Nó đem đến cho chúng ta một Ý Nhi khác trong một chân dung nhìn nghiêng; một Ý Nhi kín đáo, rụt rè trong quan hệ xã hội nhưng tinh tế, sắc sảo trong vai trò một độc giả-nhà thơ. Sự hòa quyện bất phân ly, hoặc đôi khi hoán đổi, giữa hai vị trí ấy được thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối của câu chuyện cho cảm giác người nghe cùng với người kể như đang cùng tham dự vào đời sống của chính nhân vật, tạo ra một sự sống động hấp dẫn (..).

Dưới góc nhìn đó, Kỷ niệm không có mưa có một giá trị đích thực, bền vững không thể phủ nhận qua việc cung cấp những chi tiết sống thực. Đó là lý do vì sao chúng ta, những độc giả, có thể dễ dàng bị lôi cuốn vào những câu chuyện, những suy nghĩ, cảm nhận hoàn toàn riêng tư và mang đậm tính giai thoại của một nhà thơ vốn tự nhận là “chỉ thích màu đen”, xa lánh đám đông và thường “tìm một góc để ngồi”.

(VTS)

(trích Bạt cho tập “Kỷ niệm không có mưa” của Ý Nhi, NXB Đà Nẵng 2018)

………………………………………………………………………………………..

Ghi Chú: “Kỷ niệm không có mưa” viết về những kỷ niệm rất riêng tư từ cái nhìn của Ý Nhi, một nhà thơ nữ, tinh tế mà sâu sắc, nhẹ nhàng mà trĩu nặng… Nhờ đó ta được “quen biết” khá nhiều những chuyện đời thường của những nhà văn nhà thơ, họa sĩ  ‘tiền bối’ ở cả ba Miền đất nước. Và “bỗng nhiên” có một bài viết về nhóm bạn của nhà thơ ở giữa Saigon hôm nay, qua chuyện của một “người bận rộn”: Đỗ Hồng Ngọc…

 

Người bận rộn

 

1.

Ở Sài Gòn tôi có một số nhóm bạn để thi thoảng gặp nhau, tào lao dăm điều ba chuyện. Nhóm những người bạn học từ cấp 1, cấp 2, nay đã là các bà nội bà ngoại, tuổi  trên dưới bảy mươi, thường khoe ( hay than van) về con, về cháu, bày nhau thuốc thang, tập tành, cùng nhau nhớ lại “những ngày xưa thân ái”*. Nhóm những nhà văn cùng thế hệ, thường bàn chuyện thế sự, nhóm các bạn viết trẻ để nghe họ nói, họ thông tin những gì mình không biết về đời sống văn học, trong và ngoài nước mà mình không có điều kiện cập nhật …Trong số những nhóm của tôi, có một nhóm đặc biệt là nhóm Lê Ký Thương-Kim Quy, Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Tôn Nữ Hỷ Khương, Tôn Nữ Thu Thủy. Đôi khi có thêm Nguyên Minh. Có lần, lại thêm Dương Nghiễm Mậu, Trương Thìn, Sâm Thương, Hồ Văn Thành, Vũ Trọng Quang…

Từ trái: Cao Kim Quy, Lê Ký Thương, Đỗ Hồng Ngọc, Ý Nhi, Nguyên Minh, Dương Nghiễm Mậu (tại nhà Lê Ký Thương)

 

Từ trái: Vũ Trọng Quang, Lê Ký Thương, Thân Trọng Minh, Ý Nhi, Đỗ Hồng Ngọc, Cái Trọng Ty

Tôi không nhớ tôi “gia nhập” nhóm từ bao giờ, theo cách nào. ( Nhiều anh chị ở đây đã quen thân nhau từ  hơn 40 năm trước, khi cùng tham gia nhóm Ý thức- nhóm của những người trẻ tuổi, đam mê Văn Nghệ, với tư tưởng dấn thân tích cực, chống lại văn nghệ sa-lon, viễn mơ thời ấy). Chỉ nhớ, người chăm lo cho nhóm, chịu trách nhiệm thông tin mọi việc như sức khỏe của ai đó, tin vui của ai đó và nhất là thông tin địa điểm, thời gian gặp nhau, là họa sĩ Lê Ký Thương và vợ, Cao Kim Quy-người phụ nữ Huế lịch thiệp, chu đáo, chí tình và cũng rất cởi mở, thoải mái. Thường thì Kim Quy gọi điện thoại hay gửi meo cho mọi người, thông báo một cuộc gặp. Dù đã nhiều tuổi nhưng mọi người trong nhóm đều còn bận bịu một vài công việc nào đó, ngoài việc lo cho gia đình. Thân Trọng Minh có phòng mạch riêng, chuyên khoa Tim mạch và còn dành thời gian cho việc viết văn, vẽ tranh, mở triển lãm (cùng vợ, HS Thanh Hằng hay cùng bạn bè, HS Đinh Cường), Lê Ký Thương lo phần biên tập cho một tạp chí chuyên ngành, lo vẽ bìa, trình bày sách và làm gốm, vẽ tranh, Tôn Nữ Thu Thủy viết truyện, làm thơ, chồng Thủy, nhạc sĩ Hồ Văn Thành vừa sáng tác vừa đi dạy vừa quản lý Đoàn Xiếc của thành phố…Nhưng người bận rộn nhất chắc chắn là Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc. Trong các thư mời của Kim Quy thường có lời phân trần: em (hay mọi người) định ngày…mà ngày đó anh Ngọc phải ra Huế nói chuyện hoặc anh Ngọc phải ra mắt sách mới ở nhà sách Phương Nam hay anh Ngọc có cuộc giao lưu với thanh niên tại nhà văn hóa X…Tóm lại, Đỗ Hồng Ngọc là người bận rộn nhất trong số những người bận rộn. Và, vì vậy, cuộc nhóm họp thường phụ thuộc vào lịch của ông. Hình như vắng Đỗ Hồng Ngọc cuộc vui giảm độ vui. Chỉ liếc qua lịch tham gia các hoạt động xã hội của Đỗ Hồng Ngọc trong vòng một tháng ( 9/2013, trên trang Du Tử Lê) cũng đủ để hình dung sự bận rộn của ông:

-7/9: Nói chuyện ở chùa Xá Lợi về Vận dụng tư tưởng Kim Cang Bát Nhã trong cuộc sống

-14/9: Tọa đàm khoa học về Bùi Giáng ở Đại học KHXH&NV

-15/9: Dự ra mắt Tạp chí Quán Văn 16 ( chủ đề sông Seine)

-21/9: Dự Tọa đàm về cuốn Ngàn năm Áo Mũ của Trần Quang Đức

-22/9: Dự lễ trao giải Sách hay

-28/9:Dự lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Kim Tuấn

 

2.

Nhưng điều”kinh khủng” nằm ở chỗ khác. Đó là những cuốn sách mang tên tác giả Đỗ Hồng Ngọc. Rất nhiều lần, Kim Quy thông báo, trong cuộc gặp sẽ được người này người khác tặng sách mà người thường có sách để tặng chính là Đỗ Hồng Ngọc. Những khi ông không có sách, mọi người như bị hụt hẫng, thấy có chi đó bất thường.

Đỗ Hồng Ngọc có gần 40 đầu sách, trong đó có 15 cuốn Tạp văn, 9 cuốn viết cho tuổi mới lớn, 4 cuốn viết cho các bà mẹ và 5 tập thơ…Thử điểm qua các tựa đề sách của ông để thấy sự phong phú “không chịu nổi” của nó: Tình người( Thơ), Thơ Đỗ Nghê, Giữa hoàng hôn xưa(Thơ), Vòng quanh( Thơ), Gió heo may đã về (Tùy bút), Già ơi, chào bạn (Tùy bút), Thư cho bé sơ sinh và Những bài thơ khác (Thơ ),

Những người trẻ lạ lùng( Tạp văn), Thiền và sức khỏe( Tạp văn),Chẳng cũng khoái ru (Tạp văn), Nghĩ từ trái tim ( viết về Tâm Kinh Bát Nhã), Thư gửi người bận rộn (Tạp văn), Thầy thuốc và bệnh nhân (Tạp văn), Như ngàn thang thuốc bổ (Tạp văn), Cành mai sân trước (Tạp bút), Như thị (Tạp bút), Ăn vóc học hay(Tạp văn), Gươm báu trao tay (Tạp văn)…Ra nhà sách, thấy sách của Đỗ Hồng Ngọc bày nguyên một dãy, bên những tác giả văn học đang hot ! Nhìn và không thể không tự vấn: sao ông bác sĩ nhà thơ này có thể tạo nên một kỳ tích như vậy.

 

Nhẹ nhàng mà thâm trầm, thông tuệ mà giản dị, nghiêm trang mà dí dỏm, bận rộn mà thanh thản.Những phẩm chất này chan hòa trong những vần thơ, những trang văn của ông, tạo nên một phong cách, một đặc sắc Đỗ Hồng Ngọc. Đọc thơ ông thấm sâu ý nghĩa nhân sinh, thấm sâu chất Thiền, thấm sâu cảm xúc tâm linh. Đọc tản văn của ông, lại như nghe thấy dư vị của thơ qua từng dòng chữ, trang viết. Huỳnh Như Phương có lý khi nhận xét:”…chính những tác phẩm bàn về Y học, Thiền học của ông, với chất thơ bàng bạc trong đó, cũng mang đủ những phẩm chất thi ca, cho nên người đọc không còn phân biệt ở ông đâu là nhà thơ, đâu là Thiền giả và đâu là bác sĩ của tuổi thơ” (Lời bạt tập thơ Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác-NXB Văn Nghệ, 2010 ). Nguyễn Hiến Lê thì cho rằng: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ thì luôn làm cho ta ngạc nhiên một cách thú vị “( Tựa Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò-1972). Trong lúc đó, viết tựa cho cuốn sách Ăn vóc Học hay, Mai Sơn nhận xét:”…Nhưng đối với ông y khoa là một ngành học về con người toàn diện, thân tâm bất nhị, tổng hòa các mối quan hệ con người-tự nhiên-văn hóa. Sức khỏe, dưới con mắt ông, luôn gắn với môi trường sinh thái-xã hội. Ông nhìn con người trục trặc không như một cỗ máy bị trục trặc, mà nhìn trong tương quan với môi trường lớn đang có vấn đề và nó tác động bằng những con đường quanh co đến tình trạng sống của một cá thể. Và lúc đó con người/ bệnh tật hiện ra như một hiện hữu bất ổn. Giải pháp của ông là bớt kỹ thuật và thêm nhân văn khi cứu xét một hay nhiều bệnh cảnh. Có thể thấy ông không đổ hết nguyên nhân gây bệnh cho bệnh nhân của ông. Trong viễn tượng đó ông làm chúng ta nhớ đến Karl Jaspers(1883-1969), triết gia-bác sĩ tâm trị người Đức, với tuyên bố:” Tôi bệnh, vậy tôi hiện hữu”…Tôi không nghĩ rằng một bác sĩ chuyên khoa thuần túy có thể có một cái nhìn như vậy, sự thấu hiểu như vậy đối với bệnh tật của con người. Điều đó chỉ có thể có ở Đỗ Hồng Ngọc và những ai có cùng qua điểm sống, quan điểm hành nghề như ông.

Thỉnh thoảng, trước hoặc sau những trang sách của mình, Đỗ Hồng Ngọc có lời dẫn, lời tâm tình với người đọc, hoặc trực tiếp, hoặc qua các bài trả lời phỏng vấn. Đây là  một “kênh” thông tin đáng tin cậy giúp ta hiểu ông hơn, nhìn rõ “dung mạo” của ông hơn. Khi được hỏi về “sứ mạng” của người viết sách tư vấn  cách sống, cách trị bệnh…ông đã thành thực trả lời:”Không. Chẳng có sứ mệnh gì cả…Hàng ngày trông thấy bao nhiêu là trường hợp trẻ con bị bệnh hoạn tử vong oan ức có thể phòng tránh được, vì thế mà tôi thấy cần phải làm gì đó giúp các bà mẹ. Vậy là tôi viết. Khi nhớ lại những sai lầm của mình ở tuổi mới lớn, tôi viết để chia sẻ cùng các em.Rồi khi tuổi già bóng xế, tôi lại viết cho bạn bè cùng lứa. Thực ra, viết, trước hết là cho mình, tự “chữa bệnh” cho mình cái đã, rồi mới dám chia sẻ với người khác. Giống như người xưa tự nếm thuốc rồi mới dám…kê đơn. Không có cái “sứ mệnh” gì ở đây cả, không có sự rao giảng gì ở đây cả, mà chỉ là sự thì thầm nho nhỏ”( Báo Dược và Mỹ phẩm, Bộ Y tế). Vốn e ngại trước những tuyên bố lớn lối, tôi thực sự cảm phục những lời lẽ chân tình, giản dị này. Lạ thay, chính cái sự “không sứ mệnh “ này lại khiến những dòng thơ, những trang văn của ông- những lời “thì thầm nho nhỏ” của ông  có một hấp lực đặc biệt với người đọc. Đỗ Hồng Ngọc có bạn đọc đủ mọi lứa tuổi, đủ các vùng miền trong nước, ngoài nước. Thơ của ông được dịch ra tiếng Anh, được bạn bè phổ nhạc rồi một ngày nào đó họ gửi cho ông, đem cho ông một niềm vui bất ngờ, tràn đầy. Khi được hỏi vì sao ông được độc giả yêu mến nhiều đến thế, Đỗ Hồng Ngọc đáp:” Tôi chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Viết là cách chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra”. Theo ông:”Một người thầy thuốc khi chữa bệnh cho bệnh nhân, nếu chỉ thấy cái thân bệnh mà không thấy cái tâm bệnh, tức là thấy cái “đau” mà không thấy được cái” khổ” của họ thì không thể chữa thành công”( Báo Văn hóa Phật giáo, số 39, Vu lan 2007)

Trong lịch sử văn học thế giới, có nhiều nhà văn vốn là thầy thuốc, nhiều người nổi tiếng  như Lỗ Tấn, như Tsekhov nhưng khi đã viết văn, họ đoạn tuyệt với nghề cũ. Đó là một sự lựa chọn. Đỗ Hồng Ngọc vì muốn chữa được cả cái đau lẫn cái khổ, cái bệnh lẫn cái hoạn mà vừa hành nghề Y vừa làm thơ vừa viết tản văn. Các nhà xuất bản đón chờ tác phẩm của ông, người đọc đón chờ tác phẩm của ông. Giữa lúc sách chỉ được in dăm ba trăm hay một ngàn bản, sách của Đỗ Hồng Ngọc được tái bản nhiều lần, có cuốn cả chục lần, số lượng lên tới hàng vạn bản (Già ơi…chào bạn được dịch sang tiếng Nhật. Người Nhật gọi sách của Đỗ Hồng Ngọc là”long seller”), quả là một hiện tượng có phần lạ lùng nhưng hữu lý. Đỗ Hồng Ngọc từng bảo:”Sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”. Ông đã sẻ chia và đã được đón nhận. Hạnh phúc đã nhân đôi.

 

3.

Có những người viết văn hay nhưng gặp gỡ thì…chán. Lại có những người văn chương “ thường thường bậc trung” nhưng trò chuyện lại hấp dẫn, vui vẻ. Đỗ Hồng Ngọc là một ca khác. Đọc ông rồi gặp ông, có một cảm giác thật dễ chịu khi mọi điều như hòa quyện với nhau. Văn là người , người là văn vậy.

Đỗ Hồng Ngọc nói:” Tôi vốn ít hay cười. Không hút thuốc, không uống rượu”. Tôi chưa thấy ông hút thuốc hay uống rượu nhưng lại thường thấy ông cười, có điều đó chỉ là một nụ cười nhẹ, ít khi bật thành tiếng. Đỗ Hồng Ngọc không tạo sự cách bức. “Người bận rộn”, khi có dịp ngồi bên bạn bè, luôn là người hay chuyện, vui vẻ, thoải mái, dí dỏm. Có lần cả nhóm đến nhà tôi ăn bún ốc, Đỗ Hồng Ngọc rất khoái khi được ăn tráng miệng bằng món kẹo Dồi, đặc sản của miền Bắc. Ông còn chạy ra đầu ngõ, nơi có một lò nướng bánh tráng, mua về mấy chiếc, cùng mọi người bẻ bánh rôm rả. Lần gặp nào ông cũng nhắc tới món bánh tráng dân dã ấy. Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi nhớ tới Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thời ông làm Bộ trưởng Bộ Y tế ở Hà Nội. Mọi người rất khoái khi truyền nhau câu chuyện ông Bộ trưởng Y tế thường ghé hàng bún Ốc, bún Riêu, bánh Cuốn…bày bán ngay trên vỉa hè.

Ngoài những lần ngồi ở quán Du Miên, Đông Hồ, Khúc ban chiều, nhóm có cái thú tụ tập tại nhà Lê Ký Thương-Kim Quy. Món chủ nhà đãi mọi người thường là xôi đậu xanh, khoai lang luộc, bắp luộc, lạc luộc.  Để hỗ trợ, tôi mang thêm món chuối sáp nấu. Ăn khoai, ăn bắp, ăn chuối, uống cà-phê, sữa đậu nành…và tán chuyện. Chuyện gì nhỉ. Thật khó khi phải nhớ lại những câu chuyện vì đề tài của nó thì mênh mông, ý kiến thì phong phú, lúc đồng thuận, khi tranh cãi. Có điều, bao giờ cũng vui, bao giờ cũng có cảm giác được thư giãn bên những người bạn chân tình.

Từ trái: Thân Trọng Minh, Nguyễn Tường Giang, Đỗ Hồng Ngọc, Ý Nhi, Thu Vàng, Thanh Hằng, Nguyệt Mai, Hoàng Quốc Bảo.

Trong một thư điện tử, Kim Quy viết: em thấy ai trong chúng ta cũng có chút suy nghĩ về tuổi tác. Riêng anh Ngọc thì hình như là không. Kim Quy đã đúng. Đỗ Hồng Ngọc, sau cơn bạo bệnh (bị tai biến, phải mổ sọ để đặt ống dẫn lưu), khi trở lại với đời sống, dường đã một lần giác ngộ. ( có lẽ đây chính là cơn bệnh cần cho mỗi con người như nhà văn N.Dumbatze từng nói đến trong tác phẩm nổi tiếng Quy luật của muôn đời). Việc nghiên cứu đạo Phật, nghiên cứu Thiền lại thêm một lần giúp ông có một cái nhìn đời sống có phần vô vi :”…Dù cuộc sống ngỡ là thực này vẫn chỉ là mộng, huyễn, bào ảnh, sương mai”. Cái khoảnh khắc được sống trở nên quý giá hơn, huyền diệu hơn, đáng trân trọng hơn:” Nhưng với tôi, tôi không hề biết mình đã có tuổi, tích tuổi, lúc nào tôi cũng thấy tôi đã già và lúc nào tôi cũng thấy tôi còn trẻ. Tôi là một thầy thuốc, một bác sĩ nhi khoa, đã hành nghề trên 30 năm. Tôi nhớ mình mới khám chữa bệnh cho một chú bé sơ sinh thì chẳng bao lâu đã thấy chú bé đó mang trên tay một chú bé sơ sinh khác là con của chú để nhờ tôi khám chữa bệnh. Thời gian trôi qua lúc nào đó vậy?…”. Đỗ Hồng Ngọc yêu tuổi trẻ của mình, của người. Ông cũng yêu tuổi già của mình, của người: “Già có cái đẹp của già…thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây, ửng đỏ, mềm mại, thơm tho…”, chẳng cũng khoái ru?. Có lẽ, không có nhiều người biết cám ơn cơn đau của mình như Đỗ Hồng Ngọc: Xin cám ơn, cám ơn/ cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc/ cho ta trở lại với mình/ ta muốn ôm hôn tất cả mọi người/ và ôm hôn ta nữa/ cái đầu trọc lóc bình vôi/ hai lỗ thủng và 18 vết khâu từ ái/ ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở/ lắng nghe sự sống cục cựa trong mình…Khi đứng được hai chân như con người/thật vô cùng hạnh phúc/ khi bước đi những bước con người/ khi còn được nghe được nói/ được cầm cây viết vẽ bâng quơ/ được đọc vài trang báo…Những hòn sỏi bỗng có linh hồn/ những lá cây đong đưa lạ lẫm/ tiếng chim và ánh nắng/ như đã lâu rồi ta mới gặp nhau/ như đã lâu rồi ta mới quen nhau…”.

Đỗ Hồng Ngọc và Ý Nhi trong buổi “Ra mắt” tập thơ “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác…” của Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)… với cà phê và khoai, bắp, chuối, đâu phọng, bánh tráng… tại nhà họa sĩ Lê Ký Thương (2010) trong vòng thân thiết với vài mươi bạn bè…

 

Năm 2010, khi sắp sửa in tập thơ Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Đỗ Hồng Ngọc rủ bạn bè góp mặt cho vui, tôi đã viết:”…Thơ Đỗ Hồng Ngọc là thơ của sự chân thành. Từ những bài thơ tình cảm viết cho cha mẹ, vợ con, bạn bè đến những bài thơ thế sự viết về đất nước, quê hương, từ những chuyện đời thường đến những chuyện cao siêu, những câu hỏi không lời đáp…Đọc anh, tôi chưa khi nào có cảm giác ngờ vực. Sau căn bệnh ngặt nghèo, Đỗ Hồng Ngọc đã viết bài thơ rất hay Xin cảm ơn. Tôi nghĩ, những độc giả của anh cũng cần nói lời cảm ơn anh, bởi chắc chắn, anh đã góp phần giúp chúng ta thanh lọc tâm hồn mình, giữa đời sống nhiều bụi bặm này”.

Một lần nữa, tôi muốn được nói lời cám ơn ông.

 

Sài Gòn 9/2014

Ý Nhi.

* Tên một tập thơ của nhà thơ Phạm Hổ

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Quang Chơn: GIẤC MƠ

21/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giấc mơ

 

“Đố ai nằm ngủ không mơ, biết em nằm ngủ hay mơ, …, nửa đêm anh đến, đứng chờ ngoài hiên…” (PD). Đúng vậy, ai ngủ mà chẳng có mơ. Nhiều người bảo rằng, ngủ không mơ là ngủ sâu, ngủ khoẻ. Ngủ hay mơ là ngủ chập chờn, ngủ yếu!… Riêng tôi, bây giờ, tôi thích những cơn mơ trong giấc ngủ…

Hồi nhỏ tôi hay gặp ác mộng. Khi thì bị bóng đè thở không nỗi, nhìn thấy ba mẹ ngồi bên cạnh, nói cười đó, mà không kêu cứu được, sợ lắm! Khi thì thấy bị kẻ xấu rượt đuổi chạy thất kinh!… làm giấc ngủ chập chờn, sợ hãi…

Bây giờ thì ngược lại, trong giấc ngủ tôi hay thường thấy những người thân, những chuyện lành. Vì vậy, khi ngủ có mơ làm tôi vui và ngủ sâu. Có thức giấc nửa chừng cũng ngủ lại được ngay để chờ giấc mơ khác đến!…

Tuần trước tôi mơ thấy gặp mấy người anh tôi kính trọng, Bửu Ý, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Đức Sơn…Sáng ra nhớ lại giấc mơ, cũng một chút tâm linh, gọi anh Bửu Ý. Anh bắt máy với giọng sang sảng vui. Hỏi anh khoẻ không? Hỏi anh còn uống được không? Anh bảo khoẻ. Trưa ăn cơm uống một chai bia. Chiều một ly rượu vang. Tôi mừng và hẹn anh một hôm nào đó chạy ra Huế thăm và…nhậu…

Gọi anh Ngọc, anh bảo sức khoẻ tàm tạm. Lâu quá không gặp nhau. Anh vẫn nhớ Đà nẵng. Tôi bảo vậy sẽ mời anh ra Đà nẵng một chuyến chơi!…

Mời anh một chuyến chơi. Một ý nghĩ cũng hay bất chợt. Nhưng nghĩ cho cùng, một mình anh đi cũng buồn. Tôi gởi một text message, nói mời luôn mấy anh chị bạn khác như LKT, KQ, TTM, KĐ, HC…

Vài ngày sau thấy anh nhắn tin, mọi người hỏi lý do vì sao Chơn mời vậy, anh đã nói bừa, chắc kỷ niệm ngày cưới đó. Tôi trả lời anh, tại vì em thích. Muốn anh chị em mình cùng du hí một chuyến. Sau, anh nhắn tin xin lỗi, mọi người bận, không đi được! Vậy đó, ở cái tuổi này, dễ gì tụ họp, đi xa. Vả lại, những bậc thức giả, họ hay thắc mắc, cái gì cũng phải có nguyên nhân, giải thích không rõ ràng, thuyết phục, dễ gì họ chịu nghe, chịu làm!…

Gọi anh Sơn Núi không được, tôi làm một bài thơ nhỏ tặng anh đưa lên face book. Hai ngày sau nhận tin anh Võ Chân Cửu với bức hình mới nhất của anh Sơn. Kèm tin: “rất yếu, không đi lại được, chân phù, bác sĩ bảo “đi” bất cứ lúc nào. Ch. sắp xếp lên thăm, biết đâu lần cuối!…”

Vậy đó, những giấc mơ, có cái hay của nó!

Tôi thường hay mơ mình đi học. Lúc thì đến lớp muộn, lúc thì đang trong nội trú, lúc thì ngồi trong lớp thật đông, thầy giảng chẳng hiểu gì. Thức giấc, ngờ ngợ là những giảng đường Đại học Khoa học Sài gòn ngày xưa đông đúc, với bạn bè lạ hoắc…

Tôi cũng hay thấy mình đi học ngang qua một lạch nước, có cái nhà thờ nho nhỏ…. Mới nghiệm rằng, đó là con đường từ nhà đến trường tiểu học Tam Kỳ, nơi tôi đã đi mỗi ngày mưa nắng suốt năm năm…

Tôi cũng hay gặp “con người” trong giấc mơ. Cái kỳ lạ là tôi không hay gặp những người tôi thường chơi hằng ngày, mà gặp những người tôi không hề nghĩ đến, hay những kẻ mà chúng tôi đã tan đàn, xẻ nghé từ lâu, cả những người ganh ghét, thị phi với tôi trong cuộc sống. Nhưng trong giấc mơ, tôi gặp họ vui vẻ, hoà hợp, tự nhiên. Thức giấc tự nghĩ tại sao vậy? Có lẽ trong thực tế hiện hữu, vì cái này cái nọ, khoảng cách “người-người” bị đào sâu. Nhưng tận đáy lòng mình, tôi vẫn yêu thương họ, nên giấc mơ đưa họ đến với tôi cùng nỗi thiện lương!..

Giấc mơ đến rồi đi. Không đọng lại. Có khi sáng ngày cố nhớ nhưng không nhớ được, cũng như những áng mây trên trời. Thuở nhỏ tôi thường thích ngắm mây trời và tưởng tượng, hình dung đủ thứ. Nào ông Phật, nào bà Tiên, nào con cọp, con rồng, và thậm chí dệt nên những câu chuyện trên mây. Rồi mây bay, rồi tan biến…

Bây giờ đêm nào ngủ không có giấc mơ là tôi buồn. Vì bây giờ nhìn trời, nhìn mây, tôi không còn thấy câu chuyện cổ tích nữa, bởi ý thức tôi đã khác, đã dày dạn. Chỉ trong giấc mơ, tôi không làm chủ được ý thức của mình, mà cứ để cho lòng mình thả lỏng dệt giấc mơ, những giấc mơ hiền!…

NQC

20.8.18

……………………………………………………………………………………..
Thư Cao Kim Quy:

Thân gởi Chơn,

Nhân đọc bài viết này, cũng muốn trước hết cảm ơn nhã ý của Chơn định cho bọn này (Q/T) “ăn theo” anh Đỗ Hồng Ngọc mà…chưa thành!

Phàm người ham…”học”  hay hỏi những câu như vì sao, như thế nào… anh Ngoc nhắn tin đột ngột quá nên mình cũng thắc mắc “nguyên nhân” bởi vì mình hiều chuyện gì cũng phai có nguyên nhân. Tuy nhiên mình không ngạc nhiên vì câu trả lời của Chơn “chẳng lý do gì, chỉ là….em thích!”

Bài viet của Chơn khiến mình hieu ngay. Ly do rất rõ ràng đó chứ! Đó là cảm giác có thể mất nhau bất cứ lúc nào, vậy sao không lập tức nghĩ ngay đến chuyện cận kề nhau khi có thể. Giây trước và giây sau mọi chuyện đã có thể vụt thay đổi, và ta chỉ có thể nắm lấy ngay giây phút hiện tại mà thôi! Có ai níu được quá khứ và có ai sở hữu được tương lai. Cái “em thich” của Chơn là một trải nghiệm trong tich tắc khi vừa rời giấc mơ đêm mà cũng là giọt nước tóe ra từ ly nước đầy sau cả một đời suy nghiệm. Mình hiểu và mình hoàn toàn đồng ý những kiểu “em thích” nghe tưởng như bốc đồng của tuổi… trẻ mà thiệt ra là của một con người trầm tĩnh thủng thẳng đi qua hết những buồn vui của đời người.

hãy mừng rằng mình có thể rủ được mà người khác không thể (chưa thể) đáp ứng lời rủ rê đó. Vậy là dù sao minh cũng đã may mắn hơn họ rồi.

Vì bọn mình vẫn còn là “người phàm” nên buồn buồn là đúng rồi, Chơn hỉ. chỉ có anh Ngoc quá siêu nên đã vượt qua được buồn vui đời thường. Bọn mình ráng học theo “thầy” 🙂

…………………………………………………………………………..

 

Thư Đỗ Hồng Ngọc gởi Nguyễn Quang Chơn,

Không phải một mình Cao Kim “thắc mắc” đâu! Cả TTM cũng “ngạc nhiên” nữa. Sao bỗng dưng NQC… nổi hứng mời cả bọn ra chơi Đà Nẵng một chuyến vậy nhỉ? Riêng anh Ngọc thì hiểu NQC quá nên không “suy tư” tí nào. Ở tuổi Chơn mà còn cao hứng vậy là mừng rồi! Thì ra là từ một Giấc mơ. “Giữa đêm thức dậy/ Ngồi ôm tóc dài/ Giật mình lau trắng trong tay” (TCS)…

Hơn ai hết, NQC trải nghiệm mấy phút bên bờ tử sinh khi kịp đặt cái stent dạo nọ rồi đó Cao Kim ạ. Anh Ngọc còn hơn thế, nên hiểu và thương Chơn nhiều. Chơn phone anh Ngọc, gọi Bửu Ý, gọi Sơn Núi… gọi quanh mình… khi vừa ra khỏi cơn mơ.

Rồi Chơn than… thở. Gặp nhau thôi mà đã khó, huống chi “vân tập” đường xa. Làm sao gọi được NXT, TYT, VHT… rồi Thu Vàng, rồi Khánh Minh, rồi Nguyệt Mai…?

Anh Ngọc mới bèn an ủi Chơn: Buồn chi… em ơi! Nó vậy là Nó vậy (Như thị!). Phải có “duyên” mới xong (nghe nói Duyên-Tùng sắp về đó nhe Chơn).

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (Trần Nhân Tông) nhớ không?

ĐHN

(21.8.2018)

 

Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Cao Kim Quy, Thân Trọng Minh, Lê Ký Thương, Phạm Văn Hạng
(Đường Sách 18.8.2018)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Có một ngày “Sinh nhật”

17/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chúc Mừng Sinh Nhật Tháng 8

của Nhà Thơ/ Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2017/08/31/chuc-mung-sinh-nhat-thang-8…

 

Sinh nhật

anh không có ngày sinh nhật
nên mỗi ngày
là sinh nhật của anh

cảm ơn em
nhớ đến anh
ngày sinh nhật!

Đỗ Nghê (ĐHN)

*

Mỗi ngày mỗi mới

(Kính tặng anh ĐHN)

Nếu mỗi ngày
đều là sinh nhật của anh
thì niềm vui không bao giờ tắt

để em bắt gặp
mỗi ngày
mỗi điều mới nơi anh
vẫn là anh

rất mới

nguyệt mai

*

mừng “sinh nhật”

mỗi ngày tôi chọn một niềm vui (*)
nên anh chọn mỗi ngày là “sinh nhật”.

nhớ anh ngày sinh nhật
là nhớ anh mỗi ngày…

duyên

…………………

(*) TCS

*

Niềm vui

(Mừng sinh nhật anh Ngọc)

Vì mỗi ngày anh chia sẻ
Quà vui cho mọi người
Nên mỗi ngày đều là
Sinh nhật của anh

Nên mỗi ngày
Ai cũng nhớ
Sinh nhật của niềm vui…

khánh minh

*

Mừng Tháng “Sinh nhật” bạn mình

Bạn sinh vào tháng Tám mà… chẳng có Ngày Sinh. Hồi đó, hồi chiến tranh, làm khai sinh… khai vậy!

Cho nên bạn nói đúng: Mình Chỉ Có Tháng Sinh! Tháng hay ngày, long lanh của đôi vầng Nhật Nguyệt…

Dòng thời gian mải miết, coi như chẳng có ngày, chẳng có phút, có giây, chẳng có gì bận trí!

(…)

Hôm nay, còn tháng Tám, gửi bạn một lời Mừng. Tôi không thể dửng dưng… vì tôi yêu quý Bạn!

Trần Vấn Lệ

*

sinh nhật

gửi bác sĩ ĐHN

anh vốn
không
có ngày sinh?
tự vòng tròn
một chỗ thình lình ra
tìm điểm mốc
em khéo đùa
sinh là khởi
cơn gió lùa về không

Vũ Hoàng Thư

 

Và, thêm một bài thơ nữa của Vũ Hoàng Thư:

Chúc Mừng Sinh-Nhật-Không-Ngày anh Đỗ Hồng Ngọc!

sinh nhật lại
không
có ngày
từ vô thủy
luân sinh bày cuộc chơi
về vô xứ
phù vân trôi
bồng thinh lặng
mở khơi lời
rất như

Vũ Hoàng Thư
18/8/2018

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Hồ Hoàng Thanh: THƯ GỬI ĐỖ HỒNG NGỌC

28/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 Ghi chú: Gần đây trong lúc lục soạn đống sách vở cũ, tôi bắt gặp cuốn Về Cái Chân Thật Nghệ Thuật của Hồ Hoàng Thanh, NXB Đà Nẵng 2002, trong đó có Thư Gửi Đỗ Hồng Ngọc, tr 352-360, là những cảm nhận của tác giả về tập thơ Giữa Hoàng Hôn Xưa của tôi, NXB Trẻ Tp HCM 1993 ấn hành, với hình bìa Trịnh Công Sơn, tựa Đỗ Trung Quân và Lữ Quỳnh trình bày. May sao, tôi gặp Đèn Biển và Trần Ngọc Hưởng tình cờ ở Đường Sách Saigon ngày hôm kia (26.7.2018), Đèn Biển đã chịu khó gõ lại giùm bức thư sang word, và nhờ vậy mà hôm nay tôi có dịp chia sẻ bài viết này cùng bè bạn thân quen, như một kỷ niệm. Bức thư đã viết từ hơn 20 năm trước rồi chớ ít gì!

Đa tạ Đèn Biển.

(ĐHN)

THƯ GỬI ĐỖ HỒNG NGỌC

Hồ Hoàng Thanh

 

Đà Nẵng, 20/8/1997

Anh Đỗ Hồng Ngọc quý mến,

 

Hôm nhận được thư và sách anh Châu Anh gửi cho, tôi rất ngạc nhiên nhận được tập thơ Giữa hoàng hôn xưa do chính tay tác giả đề tặng. Chỉ có điều xin thưa lại ngay để anh rõ: tôi chẳng phải là nhà văn mà chỉ là một “lều văn”, có biết chút ít gì chỉ là theo kiểu không chuyên mà thôi. Đến hôm nay, nhẩn nha đọc vừa xong lần đầu tập thơ, tôi cầm bút viết cho anh nhằm bày tỏ lời cảm ơn chân thành của một bạn đọc chưa từng quen biết và cũng xin gửi đến anh mấy cảm nhận bước đầu về tập thơ như một món quà đền ơn tri ngộ.

Đọc từng bài, cứ đọc dần, tôi càng cảm thấy ngạc nhiên, một thứ ngạc nhiên đầy thú vị, có phần giống với ý kiến Nguyễn Hiến Lê. Ngạc nhiên về những tứ thơ khá mới lạ từ những sự kiện đời thường, về những mạch thơ, lời thơ dung dị gần như lời nói thường, về những bài thơ hay, về điều gì như một sắc thái riêng của tác giả.

Hình như không phải bất cứ một bác sĩ – thi sĩ nào cũng viết nên được một bức “Thư cho bé sơ sinh” ngộ nghĩnh, ngược đời mà ngậm ngùi, chua xót đến thế. Tứ thơ mới lạ, đầy nghịch lý giữa đời thường. Hầu hết các đoạn thơ đều rất thực mà cũng rất trớ trêu. “Thư cho bé sơ sinh” là một giả tưởng rất phi lý nhằm làm nổi bật lên những điều ngang trái, rất thực trong cái xã hội đảo điên này. Tôi thiết nghĩ, đây là một bài thơ hay.

 

Cũng được viết từ 1965, bài “Lời ru” cũng mang tứ thơ mới vì khá phi lý. Phải chăng những lời ru, lời thủ thỉ ấy chỉ dám ghi vào trang giấy giấu kín (cũng đã “gan góc” lắm rồi) để tự giải thoát cho “hả” bớt phần nào tâm trạng dồn nén, bức bối, câm lặng mà ngay việc thổ lộ ra với vợ con cũng là mạo hiểm. Bởi cái tâm lý không quê hương ấy, cái nỗi lo “gà nhà bôi mặt” giết nhau ấy, nó ngược đời quá quắt lắm, nhưng tiếc thay nó lại là rất thực. Thật mỉa mai, chua xót.

 

Nhà xuất bản TRẺ, 1993. Tranh bìa Trịnh Công Sơn, tựa Đỗ Trung Quân, trình bày Lữ Quỳnh.

 

Mấy bài liền viết về nỗi đau quay quắt mất con, nhất là hai bài “Con đã lớn” và “Tình yêu” chân thực bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. “Con đã lớn” hay vì tứ thơ đã xoáy vào một nghịch huống: đến khi mất con rồi. mới nhận ra được rằng thật sự con đã lớn khôn (không mãi “trẻ nít” như cha mẹ vẫn tưởng). Điều “Ý ngôn tại ngoại” là vì thế, nỗi tiếc nuối con càng cháy lòng! Các kỷ niệm về con sao bình dị mà sống động, mà thiêng liêng! Bài “Tình yêu” lại hay một cách khác. Phải chăng ở đây đã có sự vượt lên trên những kỷ niệm cụ thể, tình cảm ở đây trở thành một hoài bão về một tình yêu bộc lộ tràn đầy, một tình yêu “không bao giờ cũ” và “chẳng sợ dư thừa” bù đắp cho sai lầm về một tình yêu quá kín đáo. Ở đây không chỉ là tình yêu con mà là cái tình yêu (nói chung) đã được khái quát hóa và trừu tượng hóa. Tôi nghĩ đây là bài thơ hay nhất trong cả tập thơ, nếu còn thận trọng, chưa dám gọi là tuyệt tác. Thực ra, đó chính là nỗi lòng đích thực, là sự suy tư về một tình yêu đích đáng nảy ra từ một sai lầm cụ thể về một tình yêu quá kín đáo. Điều đó diễn ra trong tâm tư một nhà thơ nên đã trở thành một bài thơ hay, một bài thơ đích thực.

Viết đến đây, gặp lúc bà xã nhà tôi (vốn là một giáo viên) mang nước sôi lên đổ vào phích xong, tôi thử đưa hai bài thơ này cho đọc và hỏi ngay cảm tưởng. Đọc xong, nhà tôi thốt lên ngắn gọn mà súc tích cảm tưởng của mình: “Hay, hay thật. Rất thật và rất hay!” (nói thêm: vợ chồng tôi đều trải qua nỗi đau mất con).

Bài “Đạo diễn” lại góp thêm một tứ thơ mới lạ. Phải chăng từng chứng kiến nhiều cảnh đóng phim dưới bàn tay đạo diễn, mà sẵn nỗi đau mất con, tác giả lại nảy ra được thứ ao ước đầy giả tưởng mà lại thật lòng, cháy bỏng như vậy.

Bài “Đâu có phải tự nhiên” ở cuối tập thơ mộc mạc và “tự nhiên” đến “dễ thương”. Thú thật với anh, thường khi đến khám bệnh ở Bệnh viện C Đà Nẵng, nhìn thấy các sân cỏ xanh rờn, tôi từng nghĩ bụng: “sao chẳng ai nghĩ đến việc nuôi ít con dê, con bò ở đây vừa để dọn cỏ cho sạch, vừa để lấy sữa cho bệnh nhân nhỉ”. Chỉ thoáng nghĩ vậy thôi chứ chẳng từ đó nảy ra được tứ thơ như anh. Mạch diễn đạt và lời lẽ bài thơ giản dị, hồn nhiên mà rất thi vị. Qua đó nổi bật lên một tâm hồn đẹp: bình dị, hồn hậu, thanh thản, yêu đời, yêu nghề, yêu bệnh nhân, yêu gia đình bởi khéo biết chấp nhận, tự bằng lòng với vị trí xã hội bình thường mà rất cao đạo (nhân đạo) của mình.

Phải chăng mảng thơ trên đây là mảnh đất thân thuộc, phong phú, đầy hấp dẫn mà tác giả càng đi sâu khám phá càng dễ thu hái được nhiều thơ hay? Và phải chăng từ mảng thơ này và các mảng thơ sau, ta có thể nghĩ rằng hầu như phong cách riêng của tác giả là khéo biết khai thác, trộn lẫn cái thực cái hư, cái chân cái giả, cái hợp lý cái phi lý, cái bình dị cái mới lạ tân kỳ, nhờ khéo biết khai thác các nghịch lý, nghịch cảnh ngay từ trong xã hội?

Đương nhiên còn có các mảng thơ khác. Một mảng thơ gần gũi với mảng thơ trên cho thấy thêm đời sống nội tâm của tác giả, một công dân, một trí thức trước thời cuộc. Có thể xếp vào đây các bài “Buổi tiễn đưa”, “Dỗ em”, “Tôi còn nợ”, “Biển xa”, “Mai sau dù có bao giờ”, “Giờ mới nên quen”, “Giới tuyến”, “Gặp lại người bạn cũ”, “Đi cho đỡ nhớ”…

“Buổi tiễn đưa” như một dạng “Tống biệt hành” (Thâm Tâm) mới, mang tâm trạng u uất mới: “Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời Và khí phách thôi một thời trẻ dại”. Hai đoạn thơ cuối bài hay, nhất là đoạn cuối, câu cuối. “Dỗ em” khá ray rứt. “Đi cho đỡ nhớ” ánh lên một niềm vui, một nguồn hy vọng. Nguồn hy vọng ấy, sau giải phóng ít lâu, lại là một thời điểm đầy thử thách. “Tôi còn nợ” là lời hạ quyết tâm “ở lại” bởi những món nợ khó lòng trả xong. Trong “Mai sau dù có bao giờ”, tôi thích hai câu: “Cái nắng Sài Gòn hanh đôi má. Giọt mồ hôi mặn thấy thương ghê”…

Ở mảng thơ “quê nhà”, với những “Mũi Né”, “Trên sông khói sóng”, “Gió bấc”, “Đêm trên biển Lagi”, không hiểu sao tôi thích nhất “Gió bấc”. Ngắn gọn mà súc tích, ý vị. Cũng không hiểu sao tôi lại chú ý bắt gặp thứ gió bấc ấy trong một đoạn thơ “Quê nhà”: “Hái đóa hoa màu biển biếc… Bâng khuâng một mái nhà”, lại thoáng thấy nó trong đoạn đầu “Mũi Né”: “Hình như gió bấc lùa trong tết Những chuyến xe đò giục bước chân”. Ở đoạn 2 bài “Trên sông khói sóng” lại thấy hơi gió đó: “Gió ở đâu về thơm bước khuya”.

Đến mảng thơ tình yêu, gồm hầu hết những bài còn lại, nổi bật lên bài “Có một vì sao”. Tôi thích những câu mặn mòi vị biển Bình Thuận: “Nhưng đêm ở đây… Đêm rất mặn vì đêm xanh bát ngát” và đặc biệt là câu kết “Để anh được làm kẻ chăn cừu khờ dại…”. Bài “Viết tên lên cát” đưa đến “Tên em mênh mông đại dương” mang dáng vẻ khoa trương nhằm nói lên cái rất thực của ý tình. Bài “Giữa hoàng hôn xưa” hay ở đoạn kết “Thiếu em hoàng hậu ngai vàng như không”. Có những bài tứ tuyệt đáng chú ý như “Võ vàng”, “Cố nhân”. “Võ vàng” nhận ra sự tàn phai trong lòng người. Đến “Cố nhân”, sự e ngại đó đã trở thành sự khẳng định một hiện thực đáng buồn. Bài “Lục địa giận hờn” hay ở tứ thơ vũ trụ. “Hành hương” nói lên ước vọng đạt đến một nơi “chỉ có anh và em” lý tưởng…

Cố gắng điểm hết các mảng thơ như vậy cũng chỉ nhằm muốn tìm hiểu được những dáng vẻ đa dạng khác nhau của hồn thơ tác giả và tìm hiểu được phần nào sắc thái riêng của tác giả. Nhưng đương nhiên, chỉ qua lần tiếp xúc buổi đầu, khó mà hiểu được điều gì sâu sắc.

Về mặt hình thức nghệ thuật, qua tập thơ này, tôi cảm nhận được rằng anh vốn am hiểu các thể loại thơ trước nay. Và có những tứ thơ được thể hiện qua những thể quen thuộc, cũng có không ít bài được thể hiện bằng thơ tự do. Nói thật với anh, tôi cũng vốn am hiểu ít nhiều các thể loại thơ lâu nay, nhất là từ cao trào “thơ mới”, tôi cũng có làm thơ và cũng nhận ra được xu thế tiến tới thơ tự do là điều tất yếu. Tôi đã từng viết bài “Xu thế tự do hóa hình thức thơ” đăng trên tạp chí Văn học năm 1978. Nhưng trong thực tế sáng tác, do ảnh hưởng của thói quen, tuy vẫn thường viết theo thể thơ tự do, tôi vẫn chưa dứt khỏi những âm điệu quen thuộc. Tuy về nhận thức tôi vẫn cho rằng thơ tự do là sự chuyển biến nội tại cả về nội dung lẫn hình thức trong quá trình tiến triển của thơ ca Việt Nam (chứ không phải là sự bắt chước thơ tự do của nước ngoài hoặc là sự du nhập máy móc).

Đọc thơ anh, tôi cảm thấy anh làm thơ tự do một cách hồn nhiên phóng khoáng hơn, hầu như không bị ảnh hưởng nặng nề của thói quen cũ trong diễn đạt như tôi, hoặc anh Châu Anh chẳng hạn. Nói rộng ra một chút. Tôi có theo dõi bước tiến trong diễn đạt của một bạn thơ. Đến tập thơ tôi rất thích bởi nhận ra được một bước tiến mạnh bạo theo thơ tự do ở tác giả, khiến tôi muốn viết bài giới thiệu. Nhưng sau đó, qua những tập thơ kế tiếp, tôi lại thấy xu thế đó không được mạnh bạo tiếp tục. Cho hay, ngay với một nhà thơ tài năng, khuynh hướng tự đổi mới đó vẫn chưa thật nhất quán, chắc cũng do ảnh hưởng của thói quen nghiêng về những âm điệu thông dụng. Trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ rằng, còn phải đợi thêm ít lâu nữa, lớp nhà thơ mới ít chịu ảnh hưởng của thói quen sáng tác theo những thể điệu cũ, mới làm cho thơ tự do hồn nhiên, bình dị, phóng khoáng hơn nữa.

Đọc anh qua những bài thơ hay như “Tình yêu”, “Con đã lớn” v.v… tôi càng cảm thấy hầu như anh đã vượt qua được cái ngưỡng cửa khá tai hại của thói quen về âm điệu cũ, viết một cách dễ dàng, tự nhiên, gần như lời nói thường, chẳng ngại dùng đến những từ ngữ “nôm na” mà người  ta thường kiêng kỵ trong thơ: “Trước mộ con còn ướt Ba nói với bè bạn ba rằng…” hoặc không sợ trùng lặp: “Hãy tỏ bày đi Vồ vập đi Âu yếm ồn ào đi” bởi là sự trùng lặp cố ý. Hoặc nói năng chẳng khác gì lời nói thường: “Đút cho con ăn Gạt gẫm cho con há miệng Hù con ông kẹ bà già” (vậy mà rất hay) Hoặc nữa: “Mới ngày nào dẫn con đến trường Bỏ đi không nỡ Những lúc con ốm đau Cả nhà run sợ Con ho mà ba ran lồng ngực Con sốt mà má đắng chát môi”. Ở “Thư cho bé sơ sinh” cũng như vậy, với những đoạn thơ 2, 3, 5 chẳng hạn “Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em” Hoặc nữa ở bài “Tôi còn nợ”: “A! Ông thầy về! Tưởng đi luôn rồi chớ!… Có gì đâu em vì tôi còn nhiều nợ… “. Ở bài “Đạo Diễn” cũng vậy. Tưởng như đó là lời nói thường, viết chữ lại xuống hàng: “Bạn bè ơi sao mà giỏi thế Cứ đóng y như thiệt”.

Người quen với thơ đường luật sẽ khó lòng cho đó là thơ được. Vậy mà “rất thơ” mới lạ chứ. Đương nhiên cũng không nên quá dễ dãi.

Đến đây mới thấy thư viết đã quá dài, mong anh miễn thứ cho, bởi tôi có phần “sa đà” quá. Chẳng qua tôi như người trèo cây, gặp được cây lắm quả, tôi mải mê “khèo” xuống, “khèo” trái chín lẫn trái xanh. Chỉ mong anh thấy dùng được chút ít nào cũng đã thỏa lòng rồi!

Chúc anh và gia quyến mọi sự tốt lành. Mong được trao đổi thư từ với anh những khi anh rảnh rỗi.

 

Kính thơ,

Thanh

 

 BC: Quên nói thêm với anh rằng tập thơ trình bày rất đẹp, tranh bìa của Trịnh Công Sơn rất thơ vừa rất hoàng hôn đẫm màu tím khế, vừa có bóng dáng nữ nhân, chim chóc, đuôi ngựa v.v… mà như một bào thai để tha hồ tưởng tượng.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Có một “Đêm nhạc Thu Vàng”

27/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Có một ĐÊM NHẠC THU VÀNG

 

 

(NXT phovanblog)

 

Tiếng hát Thu Vàng

“Có một con chim lạ đến từ núi xa, ngứa cổ hót chơi”, một câu thơ của Xuân Diệu mà Duyên đã mượn để nói về tiếng hát Thu Vàng hôm nay.

Hãy nghe Hoàng Quốc Bảo viết về tiếng hát Thu Vàng:

“Vàng rơi thu mênh mông. Đó là cái tựa lấy từ câu thơ của Bích Khê, trong bài Tỳ Bà do Phạm Duy phổ nhạc và thực hiện trong thời gian trước khi qua đời. Tác giả đã mời tiếng hát Thu Vàng trình bày. Từ đó tiếng hát thăng hoa, bài thơ thăng hoa. Từ đó nghệ thuật biến định mệnh thành tiếng hát! như một nhận định sắc gọn của Đặng Tiến.

…Và giọng hát Thu Vàng cất lên, người thưởng ngoạn nhận thấy thấp thoáng kết tinh giữa 3 tiếng hát: Có những lúc tình tự lai láng dạt dào của Quỳnh Giao thời xuân trẻ; có nhiều lúc vững chãi, nhẹ nhàng sang cả như Mai Hương; lại lẩn khuất cái kỹ thuật cắn câu nhả chữ, hơi thở nồng nàn, uốn lượn, tràn trề nhựa sống của Thái Thanh, vào cái thời ngọt ngào sung mãn nhất…”

(HQB)

Và với riêng tôi là sự tri ân giọng ca đã hát Mũi Né (nhạc Hoàng Quốc Bảo, thơ Đỗ Hồng Ngọc), Bông hồng cho Mẹ (nhạc Võ Tá Hân, thơ ĐHN) và Sông ơi cứ chảy (nhạc Nguyễn Đức Vinh, thơ ĐHN)… Cùng những chuyến đi với nhóm bạn bè về Hội An, Lagi, Mũi Né… ngày nào.

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………………….

Viết thêm: Đã sắp đến Vu Lan, hãy nghe lại Thu Vàng trong BÔNG HỒNG CHO MẸ:

 

 

Và, SÔNG ƠI CỨ CHẢY, bài thơ tôi viết đã lâu cho La Ngà, đứa con gái đầu lòng, gần đây được Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh phổ nhạc, với tiếng hát Thu Vàng:

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi

25/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Một tuần bận rộn

Tưởng là bớt việc, ai dè càng lu bu, cho nên chậm trễ trả lời câu bạn hỏi đang mần gì mà ít thấy viết dhn.com vậy.

Xin gởi mấy tấm hình này coi chơi thôi nhé, chớ bây giờ viết lách cũng không như xưa rồi. Người bạn trẻ vừa post giúp bài Nói chuyện của mình về Thiền và Sức khỏe trong Tuần lễ Văn hóa Phật giáo năm 2009 ở Nha Trang cũng đã kêu lên sao hồi đó bác trẻ khỏe, phong độ, thần thái… khác với bây giờ nhiều quá vậy! -Bây giờ thấy bác già hơn mười năm trước rồi đó! Tôi đoán em nghĩ vậy mà tức cười.

Có gì đâu! Nhớ hồi “dậy thì” mà coi, mới mấy tháng đã thấy cao nghệu lên, từ một nhóc con thành một cậu thanh niên mắt sáng môi hồng… thì bây giờ sau tuổi 70 cũng phải có một cái gì đó “dậy” lên ngược lại cho đúng “quy trình” chớ phải không?

Tuần rồi bề bộn thiệt. Sáng Thứ tư vẫn là buổi học thường lệ của Nhóm Học Phật bọn mình. NHP đã cùng học với nhau hằng tuần gần 6 năm rồi chớ ít gì. Nay thì đang học kinh Viên Giác.  Không phải gõ mỏ tụng kinh chi đâu. Phân tách từng câu, từng chữ, từng ý ẩn trong câu kinh. Tranh luận sôi nổi, vận dụng vào tình hình thực tế trong đời sống hằng ngày… Trước kinh Viên Giác là Thủ Lăng Nghiêm v.v… cũng đi từng bước căn bản đến “nâng cao” đó thôi… Cho nên học rất vui, rất hào hứng. Thỉnh thoảng còn đi dã ngoại, gặp gỡ thầy, bạn các nơi. Mình nghĩ đây cũng là một cách ‘sinh hoạt’ tốt cho người cao tuổi.

Chiều Thứ sáu, mình còn có buổi trao đổi với các vị sư trẻ đang về chùa Xá Lợi mùa “an cư kiết hạ” này. Đã 3 năm nay, thầy Trụ trì tổ chức cho các vị tu sĩ được dịp “giao lưu, trao đổi, học hỏi…” cùng với các Cư sĩ. Có cư sĩ Minh Ngọc, cư sĩ Trần Đình Sơn và mình, mỗi người chịu trách nhiệm 6 buổi. Minh Ngọc thì bàn về Thiền lâm bảo huấn, Qui Sơn cảnh sách; Trần Đình Sơn thì về Lịch sử Phật giáo và mình thì về Phật học và Đời sống, về sức khỏe thân tâm, về Ăn và Chay, Thở và Thiền, truyền thông hiệu quả v.v… Các buổi này cũng khá là sinh động.

 

 

Thứ bảy hằng tuần, vẫn là buổi sinh hoạt của lớp Phật học & Đời sống. Vậy mà đã gần đến 30 buổi rồi đó bạn ơi. Lúc đầu mình dự kiến làm 20 “show” là đủ. Vậy mà… Sau phần ‘học’ căn bản về Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Duyên Khởi… thì thảo luận về Từ bi hỷ xả, Thiểu dục tri túc… nói chung là ứng dụng Phật học vào Đời sống sao cho hợp thời, trên tinh thần khoa học, hiện đại. Các buổi sinh hoạt đều được em nvquyen quay video clip và đưa lên youtube. Nhiều bạn ở phương xa cũng theo dõi được.

 

“Trà đàm” với Thầy Trí Chơn, Viện chủ Tu viện Khánh An, 22.7.2018.

 

 

 

Chủ nhật 22.7.2018 vừa rồi lại có buổi Trò chuyện về “Ăn và Chay” ở Tu viện Khánh An, quận 12 trong khóa tu “Sống Tỉnh Thức”. Bạn có thể xem trên trang tuvienkhanhan.com nhé.

 

 

 

 

 

 

 

 

Cho nên, tuần rồi là một tuần khá là vất vả đó bạn ơi!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Uncategorized

Thư gởi bạn xa xôi: “ĐÁ NHẢY”

13/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

“ĐÁ NHẢY”

Không ngờ bạn vẫn còn nhớ Đá Nhảy. Hồi ở Phan Thiết, bạn đã từng đi xe đạp đến tận Núi Tà Cú thăm tượng Phật nằm rồi còn chịu khó đi thêm chừng 15 cây số đến tận Kê Gà để ngắm một vùng bờ biển đặc biệt của xứ mình: Đá Nhảy, phải không?

Đá mà cũng biết “nhảy” ư? Chớ gì nữa. Chẳng những biết nhảy mà còn nhảy chồm chồm một cách… như đá nên mới ngày càng sinh sôi nẩy nở bao nhiêu là đá con. Nếu có dịp về thăm, bạn sẽ ngạc nhiên lắm đó.

 

Photo: Do Hong Ngoc

Photo: Đỗ Hồng Ngọc

Photo Đỗ Hồng Ngọc

Bạn thấy Đá nhảy có thua gì Cóc nhảy không? Không phải “Cóc ở trong hang cóc nhảy ra” đâu nhé. Bạn mình, họa sĩ Lê Ký Thương, nghệ danh là Cóc đã… cảm xúc ra câu “đối”: “Cóc nhảy cóc nhảy cóc”. Xuất đối dị đối đối nan phải không? Chữ ‘nhảy cóc’ trước khác với ‘nhảy cóc’ sau!

Đi thơ thẩn trong bãi Đá Nhảy hoang sơ này, mình không thể không vóc lên một vóc những vỏ sò, vỏ ốc… để thấy ra những tảng đá hùng vĩ kia cũng là từ những vỏ sò vỏ ốc này mà hình thành đó thôi…

 

Từ bãi Đá Nhảy đi ngược về hướng Nam chừng chục cây số, có một đồi cát cao gọi là Hòn Lan: “Chiều chiều én liện Hòn Lan/ Nhớ người quân tử thở than đôi lời…”. 

Hòn Lan nổi tiếng với mộ Cô Rô. Tương truyền xưa có một cô gái con nhà nghèo tuổi nhỏ, hàng ngày đi bắt cá dưới mương về cho mẹ nấu ăn, một hôm cô bắt được một con cá rô, bèn cắn chặt giữa hai hàm răng để rảnh tay bắt tiếp, không ngờ cá rô vẫy mạnh tọt vào cổ họng…! Trên đỉnh Hòn Lan ngày nay vẫn còn ngôi mộ đá. Dân làng mỗi người đắp một cục đá nhỏ nay đã thành ngôi mộ khá lớn. Dưới chân Hòn Lan, xưa còn có một hang động, nghe nói ghe thuyền đánh cá thường vào trú ẩn khi có sóng to, gió lớn…

Từ vùng Kê Gà này (xưa là Văn Kê, Thạnh Mỹ), đi về phía ruộng vườn Phong Điền, Hiệp Nghĩa (nay là Tân Thuận, Hàm Thuận Nam) chừng mươi cây số – quê Ngoại mình, có một vùng gọi là Bàu Lời, một vùng quê hẻo lánh đến Google cũng không thấy có tên. Trong thời kháng chiến chống Pháp, đây là vùng tản cư. Mình còn nhớ vì lúc đó gia đình mình đã ở đây vài ba năm (khoảng 1950,1952) lúc mình 10, 11 tuổi. Nhà ở đó có vườn nhỏ, có bàu nước (có tên Bàu Lời?) và một cái giếng rất ngộ, như có mạch nước phun đầy. Sau này, giếng nước bỗng nổi tiếng là Giếng Bà, người người lấy nước về chữa bệnh! Ông già mình đi làm ở Ô Rô (Hòa Đa, Bắc Bình), mình thường theo Mẹ đi bắt còng, mua ruốc tươi về làm mắm ruốc… Nhà trồng bắp trên đồi, gánh nước từ giếng lên tưới mỗi ngày. Thời này mình được đi học, ở trường Gò Ông Nồm, phải đi qua cánh rừng dầu mênh mông. Bây giờ trống trơ trống hoắc. Trường Gò Ông Nồm vì nằm trên Gò Ông Nồm chớ tên thiệt của nó là Trường Nam Bình, dạy tiểu học, tới lớp 5 (lớp nhất) là hết. Mình học lớp 3. Học trò gọi thầy bằng “Anh giáo”! Xung quanh lớp có nhiều hầm trú ẩn chữ V, chữ U để tránh bom. Ngày nào mình cũng ăn cơm vắt bó trong mo cau với cá khô nướng thiệt ngon. Trưa trưa còn leo lên cây vắt vẻo bẻ cơm ăn ngon lành. Có máy bay… bà già bay qua thì nhảy ngay xuống hầm. Học trò nhà quê thời chiến nên 16-17 tuổi học lớp 5 là thường! Bây giờ chỉ còn cậu Hội, dì Lan…; ở Bàu Lời thì còn Nguyễn Văn Mỹ (Lagi)…

Chuyện “vui” còn nhớ là trong lớp lớn (lớp 5) thời đó, có anh Ng (chừng 15 tuổi) viết một bức thư tình cho chị Ch (chừng 13-14?)… Không ngờ chị Ch mang lên trình Thầy. Thầy mang thư ra đọc trong buổi chào cờ hôm sau cho cả trường cùng nghe! Không rõ anh Ng sau đó có bị đuổi học không! Lúc đó mình mới 11 tuổi, chỉ nhớ chút chút vậy.

Nhà cũ (1950): Vườn và Bàu nước (ảnh: Đặng Tình, 2018)

Đây là vài hình ảnh về khu vườn và bàu nước của ngôi nhà xưa của gia đình mình ở Bàu Lời (thời 1950-52) cùng với giếng nước- sau này gọi là “Giếng Bà”… nổi tiếng một thời vì bà con lấy nước giếng về chữa bệnh…(xưa là giếng gạch đã được trùng tu).

“Giếng Bà”… 
(ảnh Đặng Tình, 2018)

Cuối năm 1952, Ba mình mất, cả nhà mấy mẹ con mới bỏ Bàu Lời về Phan Thiết tá túc nơi nhà Cô Hai trong chùa HN… Đã mấy mươi năm chỉ một lần mình về thăm lại Bàu Lời, những hình ảnh xưa nay chỉ còn trong ký ức tuổi thơ…

 

Bạn ơi,

Lúc này mình già dữ rồi. Già tăng tốc. Làm biếng cũng gia tốc. Nên hay dài dòng kể chuyện xưa chẳng ai thèm nghe. Nhưng, thôi kệ. Kỳ này mình về Lagi dự Họp mặt Bà con họ Đỗ, bỗng trở thành người… cao tuổi nhất rồi đó, dù vai vế còn nhỏ hơn nhiều anh chị. Riêng với các chị lớn con Cô Hai là chị Ba Oanh, chị Tư Yến… xưa ở chùa HN Phan Thiết thì mình gần gũi nhất. Chị Ba nay gần 90 chớ ít gì. Chị Tư nổi tiếng “người đẹp” chùa HN nay cũng sắp xỉ! Hồi nhỏ, mình sống trong chùa nhờ hai chị giúp đỡ nhiều lắm, nhất là nhờ Cô Hai và 2 chị mà mình đọc ké gần hết mấy kệ sách trong tiệm cho thuê sách lớn ở Phan Thiết!

 

Họp mặt Bà con họ Đỗ Lagi, 30.6. 2018.
Từ phải hàng ngồi: chị Tư Lâm Hồng Yến, chị Ba Lâm Hồng Oanh…


Anh Đỗ Hồng Thái (cà-vạt) con Bác Năm là “chủ xị” kỳ này. Trong dòng tôc, cứ mỗi năm luân phiên chủ xị. Cũng vui. Có làm học bổng cho các cháu học giỏi, ngoan. Thế hệ F1, ông già mình gồm Cô Hai (mẹ chị Oanh, Yến…); bác Ba Đỗ Đơn Thơ (giỏi văn thơ), bác Tư Đỗ Đơn Bút (giỏi võ) bác Năm Đỗ Đơn Thanh (giỏi thơ Đường, cờ tướng), Ba mình, ông Bảy Đỗ Đơn Trì (chơi violon, đóng kịch), chú Chín Đỗ Đơn Đình (vô địch cờ tướng), chú Mười Đỗ Đơn Chiếu (nhà báo Châu Anh, TKTS báo Đất Tổ Saigon)… Tóm lại, thế hệ F1 mỗi người một vẻ. Mình F2… rồi bây giờ đã thấy có F5, F6 chẳng nhớ nổi. May còn cái gia phả, chưa “bổ sung”… nhờ Đỗ Ái Liên (nhà thơ Đỗ Quyên F2) và các em cháu làm tiếp vậy.

 

 

“trưởng lão” được mời thay mặt BTC trao học bổng!

 

 

 

 

 

 

 

Đến thăm nhà Đỗ Hồng Thái, nghe anh hát Trịnh Công Sơn (1.7.2018):

“Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”

“…tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi… tình yêu mật đắng… tình yêu như biển biển rộng hai vai...”.

Cho nên chưa tới bảy mươi, anh đã sáng sáng lên Bàu Giòi kéo lưới cùng bà con, xin mấy con cá về nấu canh ngót ăn… và chiều chiều lai rai cùng bè bạn!

Xin lỗi bạn, nảy giờ hơi tào lao quá rồi đó. Chỗ nào không ưa, bỏ nhe.

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Phan Chính: “Giếng Nguồn Chung” (*)

05/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Giếng Nguồn Chung” (*)

Có lẽ thời tiết trong khu vực biển này từ cuối giêng đều êm ả, dịu dàng. Mặt biển phẳng lặng không một gợn sóng và trong suốt có thể thấy được lớp cát dưới nước. Biển ngày nào hung hãn nổi sóng, tung bọt trắng xóa đập vào bờ nay lại mượt mà, phẳng lặng của “mặt nước hồ thu”. Phải thức với biển cùng lúc mặt trời vừa nhô lên ở hướng mũi điện Kê Gà mới cảm nhận được sức quyến rũ của một không gian biển trời kỳ diệu. Mặt trời đỏ hửng như chầm chậm lăn tròn không thể lẫn lộn với gam màu nào từng có ở những bức tranh tuyệt tác. Đường chân trời giữa mặt biển khơi xa với vầng mây lấp lánh sắc màu đang tan loãng vào lòng đại dương vô tận.

Từ rất sớm khi mặt trời chưa lên, nhiều người đã rải rác trên bãi cát với những động tác vươn vai, hít thở như sợ cạn đi cái không khí quý giá của ban sớm trong lành. Tôi lẩn trong tốp người dẫm lên bờ nước đang rút, hướng về ngảnh Tam Tân để nghe cái cảm giác của đôi bàn chân trần ngập bởi lớp cát mềm mát rượi. Bãi biển ở đây trải rộng phẳng phiu chạy dọc dài theo đồi cát trắng hoang sơ, đôi chỗ là bãi vỏ chang chép như tấm khảm xà cừ của thiên nhiên thời sơ nguyên còn sót lại. Từ Đồi Dương đi chừng 2 cây số, tôi nhận ra bụi dứa cô đơn đã bị cát bồi lấp đến nửa thân cây trên động cát trắng cuối dự án Khu du lịch Sài Gòn-Hàm Tân xây dở dang trông như ngôi đền cổ hoang phế. Bụi dứa vẫn còn xanh lá nhưng khe nước ngọt ngày xưa chắc chắn chỉ ngầm chảy dưới lớp cát vô tình. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư : “Nằm đây mà ngó lên trời/ Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa/ Nằm đây mà nhớ mơ hồ/ Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…” Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gọi tác giả là cậu ruột, kể rằng năm 1960 cậu Ngu Í về quê Tam Tân cải táng mộ song thân, khi đến Nước Nhỉ nằm nghỉ dưới tàng cây dứa sum suê bóng mát, bên cạnh đống gạch xây giếng đã vỡ vụn mà hồi tưởng thời tuổi thơ và thân phận đời người rồi có những câu thơ lục bát đến bàng hoàng.

Bài thơ viết về Giếng “Nguồn Chung” của Nguiễn Ngu Í trong tập …”QÊ HƯƠNG”… 1969

 

Bìa tập “…QÊ HƯƠNG”…
(Saigon, 1969)

Thuở xưa, người dân La Gi đi lên Tam Tân, Tân Thành hoặc trên đường ra Phan Thiết thì bờ biển là con đường bộ duy nhất. Nguồn nước ngọt chỉ có trong đất liền rừng rú bên kia động cát có nhiều thú dữ, cho nên chỗ mạch Nước Nhỉ này trở nên quý hiếm cho khách bộ hành và họ đã tạo thành giếng nước cạn. Chỉ dùng hai bàn tay bụm nước hay dùng chiếc nón lá múc lên để uống. Được gọi là giếng từ khi nhóm thanh niên Hướng đạo các làng La Gi, Phong Điền, Tam Tân cùng nhau dùng xe bò chở gạch đi xây giếng để giữ mạch nước trong trẻo và đầy tràn hơn. Năm đó vào khoảng 1944 và được đặt tên là giếng Nguồn Chung. Cảnh quan ở đây rất đẹp bởi có đồi cát cao chập chùng đan xen những mảng xanh rau muống biển và hoa nắng cỏ long chong. Giếng nằm cuối dãy rừng dương xanh chạy dài tít tắp đến tận làng chài Tân Long.

Người xưa thấy mạch nước ngọt xuất lộ ngay bờ biển dưới chòm cây dứa um tùm là một hiện tượng lạ lùng vì cạnh đó khi moi xuống lớp cát sâu chỉ toàn là nước mặn của biển cho nên nghĩ có gì đó bí ẩn khác thường. Có người liên tưởng đến Hòn Bà đang sừng sững trên sóng biển mênh mông với huyền thoại ly kỳ lại càng thêm cảm nhận cái hồn thiêng thấp thoáng trong dòng nước ngọt ngào tuôn chảy từ chân động cát trắng. Nay với cách giải thích về địa lý, bên kia động cát có một bàu nước tên gọi Bàu Giòi, nay thuộc xã Tân Tiến (La Gi) tích tụ nguồn nước từ núi Đất, Lồ Ồ chảy xuống và tạo thành mạch nước ngầm xuyên qua động cát trổ ra, đó là giếng Nguồn Chung.

Cũng liên quan đến giếng Nước Nhỉ này, năm 1917 có một chiếc bè chở 6 người tù Côn Đảo vượt biển sau 6 ngày lênh đênh, đói khát tấp vào đây. Nhờ mạch nước ngọt trong chân động cát nhỉ ra mà lấy lại sức, tỉnh táo tìm đường ra xóm Tam Tân. Cũng tại đây họ gặp hương sư Nguyễn Hữu Hoàn, cha của Ngu Í người quê Hà Tĩnh lánh nạn vào Tam Tân và làm nghề dạy học. Nhận ra người đồng hương, ông giáo Hoàn đã cứu thoát khỏi sự truy lùng của hương chức làng, trong số đó có Hy Cao Nguyễn Đình Kiên, tức Tú Kiên là nhà cách mạng trong phong trào Đông Du có những hoạt động ảnh hưởng tốt đến phong trào cách mạng tỉnh Bình Thuận.

Ngày nay, không còn mấy ai nhớ đến con đường “bộ hành” men theo bờ biển để đi lại nữa. Nhưng địa danh Nước Nhỉ vẫn còn dù nằm lẩn khuất dưới một dự án đồ sộ với tên gọi sang trọng hơn. Cái ý nghĩa rất nhân văn khi mạch nước ngọt thiên nhiên ngày nào đã hiện diện một cách khiêm nhường trong đời thường của người dân vùng biển La Gi.

PHAN CHÍNH

(nguồn: báo Bình Thuận)

(*) Tựa www.dohongngoc.com/web/

 

Viết thêm: Đây là bài thơ Đỗ Hồng Ngọc viết tặng Nguiễn Ngu Í, 1990

 

Tác giả: Đỗ Hồng Ngọc (trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê)

 

Bãi biển LaGi. Đi dọc biển về hướng Bắc chừng 2km là khu vực Nước Nhỉ (nơi có Giếng Nguồn Chung).
Tranh: Đỗ Hồng Ngọc (12.1997)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi

25/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Chuyện sách,

Cảm ơn bạn đã gởi cho bài viết giới thiệu về mấy cuốn sách gần đây của mình trên VnExpress. Mình vẫn đọc tờ báo mạng VnExpress hằng ngày nhưng không để ý. Các bài viết tuy ngắn gọn, nhưng khá súc tích, nêu được những điểm cốt lõi của cuốn sách.

Xin chân thành cảm ơn.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

VnExpress Thứ hai, 3/9/2012

Đỗ Hồng Ngọc viết tùy bút về lời Phật dạy

Quyển ‘Thấp thoáng lời kinh’ vừa ra mắt của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gửi gắm nhiều điều ông ‘ngộ’ từ Phật giáo.

Độc giả từng quen thuộc với Đỗ Hồng Ngọc qua các ấn phẩm như: Thư gửi người bận rộn, Nhớ đến một người, Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn… Ở lần ra sách mới, vị bác sĩ viết văn tiếp tục chia sẻ với mọi người những điều ông suy nghiệm và thực hành trên chính cuộc sống của mình khi tiếp cận với Phật giáo.

 “Thấp thoáng lời kinh” viết về những lời Phật dạy dưới dạng như tùy bút. Cuốn sách thể hiện trải nghiệm của một bác sĩ thích đọc sách Phật, thích chiêm nghiệm quan sát cuộc đời dưới cái nhìn tích cực, được viết bằng lời văn nhẹ nhàng, ngôn từ giản dị. Mỗi trang sách mang đến cho bạn đọc cảm xúc về những điều giản đơn, đầy ý nghĩa trong cuộc sống.

Lý giải về việc ra mắt tác phẩm, Đỗ Hồng Ngọc kể: “Vào tuổi bảy mươi, một hôm giữa đêm khuya khoắt, loay hoay, bứt rứt, thấy phải nhanh tay ghi chép lại đôi điều thấp thoáng bấy nay… Sẵn cuốn tập bằng giấy dó trước mặt, rào rào viết không kịp thở, mỗi trang một lõm bõm, như một ghi chú cho riêng mình. Lần kia, người bạn ở tòa báo đòi bài gấp, bí quá, thử trích vài đoạn, ai ngờ bạn kêu tiếp đi, nhiều người đang đợi. Vậy là Thấp thoáng lời kinh xuất hiện… lai rai. Đôi người bạn không quen từ phương xa tình cờ đọc được, khuyên in đi, làm một món quà nhỏ…”

Chính vì sự tình cờ này, Đỗ Hồng Ngọc chỉ dám xem Thấp thoáng lời kinh như là những cảm nhận riêng tư, chủ quan về “đạo và đời” mà ông muốn chia sẻ đến mọi người.

…………………………………………………………………………………………………..

VnExpress Thứ ba, 24/6/2014

Đỗ Hồng Ngọc mỉm cười tự tại với ‘Ghi chép lang thang’

Soạn tâm thế an nhiên khi bước vào tuổi già, nhẹ nhàng đón đợi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống… là điều mà trang viết của vị bác sĩ viết văn đem đến cho độc giả.

Đúng như tên gọi của tập sách, Ghi chép lang thang là tập hợp những bài viết ghi chép những điều mắt thấy, tai nghe, những cảm nhận chân thực, chia sẻ chân thành của Đỗ Hồng Ngọc trên đường “lang thang” với đời, với nghề.

Đó có thể chỉ là một buổi ông tìm kiếm băng đĩa ở một cửa tiệm nào đó để rồi thích thú phát hiện ra những tên gọi mới cho loại nhạc mà mình yêu thích: “Sến Già Nam”, “Sến Già Nữ”. Từ đó tác giả nói dài, nói rộng ra và hoài niệm về những bài hát, những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng một thời mà bây giờ bị giới trẻ đóng mác là “sến”.

Với góc nhìn của một bác sĩ cũng như một người nghiên cứu, người làm văn hóa, tác giả giúp người đọc hiểu được sự quan trọng của việc một sinh linh bé bỏng hình thành trong cơ thể của người mẹ. Việc thay đổi tâm lý, tu tâm dưỡng tính của người mẹ để chuẩn bị đón đứa con sắp chào đời để rồi mới có câu “Con vào dạ, mạ đi tu”.

Tác giả cũng chia sẻ về những kỷ niệm, dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mình, về cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê đã làm thay đổi cuộc sống ông như thế nào. Cuốn sách đó giúp một cậu bé mười lăm tuổi, thất học, phụ mẹ bán hàng xén vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm học hành và trở thành một bác sĩ, một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa của ngày hôm nay. Từ chia sẻ ấy, con đường văn hóa của Nguyễn Hiến Lê được nối dài, “những hạt mầm đã vươn lên”.

Hay đó chỉ là những cảm xúc về vở kịch Thiên Thiên của Việt Linh. Những cảm nhận của bạn đọc cũng như suy nghĩ của tác giả về cuốn Già ơi… Chào bạn! của ông. Hoặc những bài viết thú vị về Thiền, vận dụng “Kim Cang” vào cuộc sống hàng ngày.

Tuổi già và nhận thấy mình già có lẽ là điều không vui vẻ gì so với nhiều người. Nhưng Đỗ Hồng Ngọc lại khác. Ông nhìn trực diện vào tuổi già, viết nhiều về tuổi già, từ những ghi chép ngắn cho đến cả quyển sách về tuổi già. Những bài viết ấy cho thấy một Đỗ Hồng Ngọc chấp nhận mình đã già, hiểu luật sinh tử, phân tích về tuổi già, xét trên nhiều góc độ như y học, văn hóa, tôn giáo… nhưng với cái nhìn hoài niệm của người già nhớ lại những chuyện xưa, người cũ nhưng vẫn hài hước, lạc quan:

“Lá cứ rụng rồi lá cứ xanh. Hoa cứ nở rồi hoa cứ tàn. Trăng cứ tròn rồi trăng cứ khuyết… Cho nên, chỉ già thêm chút nữa, rồi già thêm chút nữa… nữa với mỗi người, thế thôi”.

Ông cũng bắt đầu những chuyến đi, những ghi chép lang thang về cảnh, về người, chuyện mình, chuyện người. Từ La Gi đến Phan Thiết, núi Tà Cú, xuống Vũng Tàu rồi ngược lên Đà Lạt, leo lên Bà Nà rồi về Đà Nẵng, ra Huế, đi Sa Đéc… những chuyến “giang hồ… vặt” của tác giả mang lại cho ông bao nhiêu kỷ niệm.

Cuốn sách còn ghi lại nhiều cảm xúc, suy nghĩ của tác giả về những ngày làm việc, những ngày đang sống của mình. Từ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những ghi chép vội vã về những chuyến đi, những ngày lang thang Sài Gòn để nhớ chuyện cũ, người xưa… mới thấy tác giả đi nhiều, gặp nhiều và “cảm” nhiều chuyện mình, chuyện người.

Tác giả, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Lagi, Hàm Tân, Bình Thuận và hiện sinh sống tại Sài Gòn. Ông nguyên là bác sĩ khoa nhi, bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM, nguyên là giám đốc Trung tâm Truyền thông & Giáo dục Sức khỏe TP HCM. “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị” là lời nhận xét của cố học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết về Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc viết sách dành cho độc giả mọi lứa tuổi. Một số cuốn sách đã xuất bản của ông như: Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Thầy thuốc và bệnh nhân, Viết cho tuổi mới lớn, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Thư gởi người bận rộn, Nghĩ từ trái tim, Nhớ đến một người, Như thị…

…………………………………………………………………………………..

VnExpress Thứ ba, 4/8/2015

Đỗ Hồng Ngọc tiết lộ bí quyết ‘Già sao cho sướng’

Giọng văn dí dỏm của tác giả 76 tuổi mang đến cái nhìn thong dong, mới mẻ về tuổi già. Từ đó mỗi người có thể nhìn lại và mở ra trang mới cho cuộc sống.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là tác giả của nhiều đầu sách chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng và nâng cao giá trị sống. Người trẻ, người già, các bà mẹ… và nhiều đối tượng độc giả có thể tìm thấy trong trang viết của ông nhiều bài học cuộc sống thú vị. Các cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc như: Thấp thoáng lời kinh, Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn, Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Thiền và sức khỏe… luôn khơi mở những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống qua góc nhìn trẻ trung và trí tuệ.

Cuốn sách mới nhất – Già sao cho sướng – tiếp tục đi theo mạch chủ đề về chia sẻ kinh nghiệm sống. “Tôi nay đã 76 tuổi – tuổi ta – có lúc thấy mình cũng hơi già nhưng nhớ lại tuổi Tây thì mình mới 75, hãy còn quá trẻ. Tập sách mỏng này dành cho các bạn U80, những người đã có thể gọi nhau là ‘lão hữu’. Dĩ nhiên, những bạn trẻ dưới tuổi 70 cũng có thể đọc được. Nhưng, thỉnh thoảng mà thấy có bài này bài nọ quen quen thì cũng đừng ngạc nhiên. Già nó lẩm cẩm chút vậy thôi”, ông viết.

Những chia sẻ, trao đổi và kinh nghiệm để có được một tuổi già an nhiên, hạnh phúc của Đỗ Hồng Ngọc mang đến cho độc giả không ở đâu xa, mà chính từ bản thân ông, từ bạn bè, từ những gì ông quan sát, trải nghiệm. Sự sướng hay khổ của tuổi già thực chất là do thái độ sống và cách nhìn nhận của mỗi người. Và Đỗ Hồng Ngọc chọn niềm vui sướng để nói về độ tuổi như “ngọn đèn trước gió”.

Và để có thể thấy “sướng”, thấy hạnh phúc với tuổi tác, không gì khác hơn mỗi người phải biết chấp nhận quy luật của tạo hóa và nương theo quy luật ấy để tìm niềm vui cho cuộc sống mỗi ngày, tạo chất lượng cuộc sống cho bản thân.

Khái niệm chất lượng cuộc sống (Quality of Life) là khái niệm thường được nhắc nhiều đến trong các đầu sách của Đỗ Hồng Ngọc. Đây là một khái niệm quan trọng để mỗi người nhìn lại cuộc sống của mình đang ở thang độ cảm xúc và tình trạng thế nào. Một cuộc sống chất lượng, dù ở tuổi già hay tuổi trẻ, không chỉ phụ thuộc vào số tài sản vật chất mỗi con người sở hữu mà còn được định nghĩa là: “những cảm nhận của cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ”. (WHO, Tổ chức Sức khỏe Thế giới).

Qua những trang viết, phân tích, dẫn chứng và so sánh từ thực tế của Đỗ Hồng Ngọc, độc giả càng cảm nhận tuổi già không phải là sự chấm hết mà là sự khởi đầu cho hành trình mới trong cuộc đời mỗi con người. Tác giả luôn cảm nhận được sự trẻ trung, đầy nhiệt huyết với cuộc đời, công việc ngay cả ở những nhân vật “thất thập cổ lai hy” như: bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương, giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương… Ông hài hước đùa, khi nhìn vào những nhân vật này, ông thấy mình còn “quá trẻ”. Trong cuốn sách Gió heo may đã về của Đỗ Hồng Ngọc, Trịnh Công Sơn từng viết: “Không có già không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là vô lễ”.

Qua cuốn sách của mình, Đỗ Hồng Ngọc chỉ ra: “Nghiên cứu cho thấy tuổi già thường có được hạnh phúc khi:

Biết từ bi với mình, chấp nhận mình, hiểu luật vô thường của cuộc sống;

Có ký ức tốt về tuổi thơ và tuổi thanh xuân;

Được tự tại sắp xếp cuộc sống theo ý riêng, không bị áp đặt;

Duy trì tốt các mối quan hệ gia đình, bè bạn…;

Sức khỏe thể chất tương đối tốt, không mong lúc nào cũng như xưa được;

Tài chánh được tự chủ;

Gần gũi với thiên nhiên,

Giữ ngọn lửa nhiệt tình, niềm an lạc, thanh thản trong tâm hồn”.   

 

(Theo vnexpress.net)

……………………………………………………………………….

Cũng ở trên mạng thấy có nhà sách Khai Tâm giới thiệu một số hình ảnh bìa sách của Đỗ Hồng Ngọc. Cảm ơn nvquyen đã chuyển cho bác Ngọc.

Nghe nói bây giờ mua sách cũng không cần tới nhà sách làm chi cho mệt, chỉ cần bấm bấm mấy cái nút, tự nhiên có sách chạy tới nhà!  Thiệt lạ!

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Chuyến về Phan Rang với Quán Văn: Một vài hình ảnh.

04/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Chuyến về Phan Rang với Quán Văn: Một vài hình ảnh.

Cái xứ nắng như rang mà gió như phan đó đâu có xa lạ gì với bọn mình phải không? Xưa mình không ít lần đến Phan Rang, lên xuống Ga Tháp Chàm, thăm cụm tháp Po Klong Garai, rồi có khi từ đó qua ngã Đa Nhim leo đèo Ngoạn Mục về Đà Lạt; rồi cũng đã nhiều lần ghé Ninh Chữ tắm biển, ăn bánh căn, gặp Võ Tấn Khanh, Phan Hữu Ngọc… nhưng chưa lần nào đến Vĩnh Hy, Núi Chúa… cách thành phố Phan Rang gần 40km về hướng Đông Bắc. Lần này Nguyên Minh và các bạn Quán Văn rủ đi Phan Rang Vĩnh Hy một chuyến, thăm lại “cái nôi” xưa của một thời Gió Mai, Ý Thức ronéo, tiền thân của Ý Thức bán nguyệt san Văn học nghệ thuật ở Saigon sau này, và, có sự nối tiếp đến Quán Văn hôm nay. Nhắc “cái nôi” thì không thể quên nhóm bạn Ngy Hữu, Nguyên Minh, Lữ Kiều… những cậu học trò mê văn chương, làm báo viết tay, rồi từ đó mà tiến lên ronéo, typo, offset… Phải công nhận cái máu mê làm văn làm báo này của ‘đám nhóc’ thời đó thiệt đáng nể. Hãy đọc một đoạn Lữ Kiều viết trên Văn Chương Việt 2010:

“Vậy mà đã 35 năm qua, tưởng như đã quên tờ báo mà nhóm Gió Mai thời 1968 thực hiện. Làm sao không bồi hồi cảm động. Như thể gặp lại người bạn cũ thâm giao. Bạn thì không hề thay đổi, còn ta thì quá đỗi hư hao…

Vậy thì tôi viết về số báo này, như một cột mốc của cuộc sống, chứng nhân của một thời, với tất cả vui buồn, sum họp và chia ly của nó.

Tờ Gió Mai số 4 do Ngy Hữu chủ trương, thực hiện ruột ở Phan Rang tại Roneo Nguyễn của Nguyên Minh, stencil do Ngy Hữu và Nguyên Minh ngồi gõ trên cái máy chữ xách tay Brother của Ngy Hữu và Olympia của Nguyên Minh. Làm sao quên được.

(…) Bìa Gió Mai 4 in màu xanh lá cây. Tôi phải nhờ Mỹ Hiệp Ronéo ở đường Trần Quý Cáp Sài Gòn thực hiện. In roneo mà tưởng như in Typô. Thuở ấy, Mỹ Hiệp Ronéo là tiệm quay ronéo tân tiến nhất, chuyên in bài học cho sinh viên y khoa, mà lúc bấy giờ tôi, Nguyên Thạnh Nguyễn Mậu Hưng và Đỗ Nghê là sinh viên năm cuối, sắp ra trường! 100 trang báo, khổ 20×30, bao nhiêu công phu gõ máy đánh chữ của Ngy Hữu và Nguyên Minh, nhất là phần canh chữ cho ngay mỗi cuối hàng bên phải: thuở đó, làm một tờ báo đẹp về hình thức trong điều kiện thiếu thốn phương tiện vẫn là nỗi đam mê và hãnh diện của Nguyên Minh.

(…)”

(Lữ Kiều: Gió Mai, một thời hoang dại).

Lần này về Phan Rang ngoài các bạn Quán Văn còn có Hồ Sĩ Bình, Phan Trang Hy, Trần Thị Trúc Hạ từ Đà Nẵng và Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế. Nhóm trong Nam ra có Hoàng Kim Oanh, Đoàn Đình Thạch, Nguyên Cẩn, Vũ Trọng Quang, Lương Minh, Hiếu Tân (Hiếu Tân từ Vũng Tàu), và có bạn tận Long Xuyên xa xôi… .  Riêng nhóm U80 của Ý Thức xưa thì có Nguyên Minh, Đỗ Nghê, Châu Văn Thuận, Lữ Kiều, Lê Ký Thương. Quả là bốn biển một nhà. Cái sự văn chương từ ngàn xưa vốn “thốn tâm thiên cổ” là vậy. Chưa gặp chưa biết mà đã quen nhau từ lâu! Phải khen Ngô Thị Mỹ Lệ, người “điều phối” và thiết kế chương trình vừa làm việc vừa du ngoạn cho anh chị em rất giỏi.

Hồ Sĩ Bình người phụ trách Nhà xuất bản Hội Nhà văn VN ở miền Trung, người đã giúp Quán Văn thực hiện các số báo gần đây vừa gặp mình đã kêu: Tôi đọc thơ anh Đỗ Nghê từ trước 75, lúc anh Hoàng Đăng Nhuận mang tập Thơ Đỗ Nghê từ Đà Lạt về Huế, khoảng năm 1974 chi đó, biết anh từ đó rồi!

Đúng vậy. Tập Thơ Đỗ Nghê (1973) là do Lữ Kiều, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba… thực hiện từ Đà Lạt với tranh bìa của Nguyễn Trung, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận trình bày, và… Hoàng Khởi Phong mang từ Đà Lạt về cho Đỗ Nghê lúc đó đang làm việc tại Bệnh viện Nhi Đồng Saigon. Thì ra Hồ Sĩ Bình đã biết nhau từ đó nên Quán Văn 55 kỳ này đăng nguyên vẹn lại bài thơ Tâm sự Lạc Long Quân không bôi xóa chữ nào!… Mình nói cảm ơn bạn, vì thú thực, khi nghe có Hồ Sĩ Bình về dự kỳ này, mình cứ ngỡ sẽ gặp một ông quan lăm lăm cây viết nhọn gạch gạch xóa xóa…

Chỉ có 3 ngày ngắn ngủi ở Phan Rang, Vĩnh Hy nhưng bè bạn đã sống với nhau như một gia đình lớn, chân tình và ấm áp. Cảm ơn Quán Văn, cảm ơn Nguyên Minh, Mỹ Lệ… và tất cả.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Đỗ Nghê)

 

Nguyên Minh và Hồ Sĩ Bình có ‘một phút tâm tình’. Và Lữ Kiều thì “dẫn chuyện gần xa”… với nhiều cảm xúc.

Họp mặt Quán Văn tại Phan Rang ngày 21.5.2018 (Photo: Thanh Hằng)

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ trái: Lữ Kiều (Thân Trọng Minh), Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Mấy bạn… già dậy sớm đợi cà-phê Vĩnh Hy! (22.5.2018)

 

Bình minh ở Vịnh Vĩnh Hy, Phan Rang (ảnh DHN)

 

Từ Vịnh ra Cửa biển…

 

 

Đi thuyền đáy kính để xem… san hô

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuyền đáy kính: nhìn những rặng san hô rất đẹp (ảnh DHN).

 

 

 

 

Cầu treo đi suối Lồ Ồ, Núi Chúa (Đỗ Nghê và Lữ Kiều Thân Trọng Minh)

Cầu treo cao hun hút… Đoàn người vừa đi vừa run, thận trọng từng bước vì có những khoảng ván lót cầu gãy… thỉnh thoảng xe gắn máy chạy qua làm cầu rung bần bật… (ảnh ĐHN)

Suối Lồ Ồ mùa này khô nước. Mùa mưa, suối đổ ào ào như thác, rất đẹp. Bỗng dưng nhớ Văn Cao: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước…” (ảnh ĐHN)

 

Suối Lồ Ồ. Xa xa, giữa các gộp đá, nhiều nhóm bạn trẻ đang cắm trại…

thăm vườn nho

(ảnh ĐHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thăm làng Gốm Bàu Trúc. Cô Ly chuẩn bị biểu diễn thực hiện một cái bình gốm cho đoàn xem. Đặc điểm ở đây là không phải bàn xoay mà người xoay quanh bàn. Mỗi ngày làm được 15 cái. Đất sét lấy từ Sông Quao về phơi khô, trộn cát (tỷ lệ giữ bí mật riêng mỗi gia đình). Mười ngày sau mới nung ở một lò lộ thiên. Các công đoạn nặn gốm đều phải do nữ giới thực hiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chị Ly đi vòng quanh trục để nắn chiếc lọ theo ý mình.

 

 

 

 

Sản phẩm hoàn tất tuyệt vời. Chị Ly người đã có 20 năm làm nghề.                                                                      

Có một Trịnh Công Sơn… nơi đất nước gió lửa (Tứ đại)

Nét u buồn vương vương…

(Làng gốm Bàu Trúc: ảnh ĐHN)

 

 

Tháp Po Klong Garai (ảnh ĐHN)

Từ trái (ngồi) Đỗ Nghê, Hồ Sĩ Bình, Nguyên Minh, Hoài Huyền Thanh, Phan Trang Hy, Nguyên Cẩn, Nguyễn An Bình, Hiếu Tân. (Đứng): Tịnh Thy, Trúc Hạ. (Vĩnh Hy, Phan Rang 23.5.2018). Ghi chú: Lữ Kiều TTM,  Thanh Hằng, Châu Văn Thuận đã từ giả để về Ninh Hòa sớm, họp mặt cùng Lữ Quỳnh và Khuất Đẩu, Huyền Chiêu.

 

Ga Tháp Chàm: nhóm đi Đà Lạt, nhóm về Miền Trung, nhóm về phương Nam…(23.5.2018)

Từ trái: Phan Trang Hy, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Kim Quy, Đỗ Hồng Ngọc, Hoàng Kim Oanh, Vũ Trọng Quang và phu nhân, Hồ Sĩ Bình. (Ga Tháp Chàm, Phan Rang 23.5.2018)

 

 

 

 

 

 

 

 

………………………………………………………………………………

Ghi chú: Lương Minh (nhiếp ảnh gia của đoàn) vừa gởi bổ sung một vài hình ảnh kỷ niệm chuyến về Phan Rang của Quán Văn và các bạn (21-23/5/2018). Cảm ơn Lương Minh.

Vườn Nho (Vĩnh Hy)
ảnh: Luong Minh

Chùa Viên Ngộ (ảnh:Lương Minh)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 11
  • Trang 12
  • Trang 13
  • Trang 14
  • Trang 15
  • Interim pages omitted …
  • Trang 41
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • VU LAN Bông Hồng Cho Mẹ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • đỗ hồng ngọc trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đồng xuân trong Những câu Hỏi – Đáp của Đỗ Hồng Ngọc và Minh Lê NT
  • Đỗ Châu Việt trong Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email