Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Trần Tuấn Mẫn: ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA GIẢI THOÁT

25/04/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

                         ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA GIẢI THOÁT

Trần Tuấn Mẫn 

Ghi chú: Cư sĩ Trần Tấn Mẫn, nguyên Phó Tổng biên tập Thường trực Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo (từ 2005 đến 2020), với gần 20 năm là giảng viên ở các Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM và tại Huế, là Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học VN. Anh nay đã ngoài tuổi 80, gởi đến tặng tôi quyển Bản thảo Tâm Sự Với Ai? và cho biết đây cũng là “tác phẩm cuối cùng của anh”.(Xin nói thêm, anh là con nhà văn Trần Thanh Mại). Tôi xin phép anh cho post lại ở đây bài Đạo đức học của Giải thoát để chia sẻ với bạn bè. Bài này đã đăng trên Tập Văn Phật Đản , số 16,1991.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đạo đức học là một bộ phận của triết học nhằm dựa vào lý trí mà thiết lập một sự phân biệt giữa thiện và ác, giữa điều được làm và điều bị cấm làm, nhằm nêu ra một nguyên tắc tổng quát để xếp loại và đánh giá các hành động. Đạo đức học nhằm nêu lên cứu cánh của mọi hành động hợp lý mà con người cố vươn tới, tức mục đích, lý tưởng của cuộc đời và tìm các phương cách giúp con người tiến tới mục đích lý tưởng ấy.

Khi bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ bản: “Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?”. Câu hỏi kép gồm hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm, bổn phận… Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không? Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế…? Từ đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy nhiên, duy cảm v.v…

Ước vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy những luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng tối cao… Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức học cho mọi người.

Đức Phật dạy: “Ví như nước biển chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy, này Pahàrada, Pháp và luật của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”. Ngài còn dạy: “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ”. Trong lần chuyển pháp luân đầu tiên tại Benares, giảng về Tứ đế Đức Phật xác định đây là khổ, nêu nguyên nhân của khổ, nói đến sự chấm dứt khổ (giải thoát, Niết bàn) và con đường diệt khổ. Thế là Ngài đã tuyên bố mục đích của mọi hành động của con người và của giáo lý của Ngài là nhằm giải thoát khỏi khổ đau. Đối chiếu ý nghĩa này với định nghĩa chung về đạo đức học đã nêu, ta có thể nói toàn bộ giáo lý của Đức Phật là một giáo lý đạo đức, hay Phật học là đạo đức học, một đạo đức học xây dựng trên giải thoát, do một người đã giải thoát truyền dạy, lấy giải thoát làm cứu cánh, lấy giải thoát làm chuẩn tắc để đánh giá các hành động. Xác định nền tảng giải thoát này là xác định toàn bộ ý nghĩa, đối tượng, mục đích, phương pháp của đạo đức học Phật giáo.

Xác định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia (mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : “Giải thoát là giá trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức.”

Dù Phật giáo không hề muốn bị xếp như một triết thuyết như duy nghiệm, duy lý, duy cảm v.v… nhưng Phật giáo, đạo đức học Phật giáo, không thể không là đối tượng nghiên cứu cho các nhà triết học và không thể tránh khỏi sự sắp xếp phân loại của các nhà nghiên cứu đạo đức. Thế thì hãy tạm gọi đạo đức học Phật giáo là đạo đức học Duy giải thoát mà phương Tây có thể nên gọi bằng một từ triết học mới nào đó, đại loại như “Emancipisme”! Và như vậy, vấn đề muôn thuở của đạo đức học nói chung như lương tâm hay ý thức đạo đức, tức cái khả năng nhận biết giá trị đạo đức của các hành động được đạo đức học Phật giáo gọi là ý thức giải thoát, hay ở mức độ cao gọi là trí giải thoát. Trí giải thoát lại còn được xem là nguồn gốc của lương tâm, của ý thức đạo đức tức là của chính nó, hiểu theo lập luận của E.Kant khi ông gọi nguồn gốc ấy là lý trí thuần túy thực tiễn, cái nhân tố phát khởi những mệnh lệnh quyết định. Nếu Descartes đẩy ý thức đạo đức lên thành các tác phẩm của thượng đế, nếu Spencer đẩy lùi nó vào cái thói quen do di truyền thì đạo đức học Phật giáo gọi nó là dư y của ý thức giải thoát, một thiện nghiệp trong quá khứ và có thể được vun đắp thêm trong hiện tại.

Nói đến giải thoát là nói đến tự do. Thông thường giải thoát được hiểu là trạng thái được sau khi thoát khỏi sự ràng buộc, sự trở ngại, khổ đau, mất tự do; tự do là trạng thái thoải mái, có thể tự mình quyết định hành động của mình, tự mình chọn lựa… Như vậy giải thoát và tự do có thể được xem là đồng nghĩa, nhất là khi ở bình diện tuyệt đối, Giải thoát và Tự do đồng nghĩa với Niết-bàn, là Niết-bàn là Phật. Ở bình diện tương đối của thế gian, giải thoát và tự do chỉ có thể được thực hiện trong giới hạn. Một hành động như tìm nước uống để thỏa mãn cơn khát, làm một việc thiện để đạt được niềm vui tự nội… đều có giá trị giải thoát tương đối. Tự do chọn nghề, tự do nghỉ ngơi… là những tự do tương đối vì người ta không thể tự do lấy của cải của người khác, không thể tự do vượt khỏi những hạn chế của cơ thể để thực hiện những điều không tưởng, không thể tự nhiên mà thoát được sinh, già, bệnh, chết… Cái kinh nghiệm giải thoát có thể thực hiện hàng ngày, qua từng công việc bình thường hoặc sâu đậm hơn, qua thiền định. Niềm vui, niềm hạnh phúc đạt được trong khi làm việc thiện, trong khi thiền định sẽ giúp ta phát triển ý thức đạo đức, đánh giá đúng đắn các hành động và truy tìm những hành động mang lại giải thoát, hạnh phúc.

Trước khi bàn tiếp hãy nhận định về cái thuật ngữ nổi cộm trong đạo đức học, đó là từ hạnh phúc (le bonheur). Người ta dễ dàng chấp nhận rằng mọi hành động đích thực của con người là nhằm mưu cầu hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì? Câu trả lời cũng thường dễ dàng không kém: Hạnh phúc là sự thỏa mãn vật chất và tinh thần! Nhưng những yêu cầu vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân lại khác nhau tùy theo hoàn cảnh, cá tính, thời gian v.v… Có phải những yêu cầu ấy là tiền bạc, sức khỏe, vợ con, sự tiện nghi… và là sự được khen, được yêu, được lao động, được thực hiện lý tưởng được gần gũi Thượng đế…? Nếu thế thì ý nghĩa của hạnh phúc vẫn mãi mãi là mối trnh cãi. Đạo đức học Phật giáo nêu rõ cái kinh nghiệm cơ bản về hạnh phúc là sự lạc thọ, tức sự thọ nhận cái cảm giác an vui, cái hoan hỷ tâm vậy. Đạo đức học Phật giáo đồng nghĩa hạnh phúc với giải thoát, hiểu hạnh phúc là phù hợp với con đường giải thoát. Đến đây, giáo lý vô ngã của Đức Phật đóng vai trò quan trọng trong đạo đức học Phật giáo. Vì vô ngã là bản chất của hết thảy mọi sự vật, là chân lý nên mọi hành động trái với vô ngã (tức hành động hữu ngã) là trái với bản chất của các sự vật, là trái với chân lý, tức là gây khổ đau, trở ngại cho sự giải thoát. Khi ta thực hiện vô ngã thì ta thấy có hạnh phúc, tức thấy có giải thoát. Vậy vô ngã có thể xem là đồng nghĩa với giải thoát. Trong một nghĩa hẹp, hành động vô ngã là một hành động quên mình, vị tha, là từ bi, hỷ xả, mang tinh thần đạo đức xã hội mà mọi người đều xem là thiện hạnh.

Trở lại việc đánh giá hành động: Đạo đức học Phật giáo lấy tiêu chuẩn giải thoát, vô ngã để đánh giá một hành động và cái chủ thể đánh giá là ý thức giải thoát. Do mức độ tu tập, hành trì, ý thức này có thể cao, thấp khác nhau. Lương tâm, ý thức đạo đức hay ý thức giải thoát mang tính tự do trong chính nó và như đã nói nó có thể bị sai lầm, bị yếu kém khiến một cá nhân bị thối thất hay chịu nhận khổ đau. Cho nên sự tu tập mới được đạo đức học Phật giáo đề cao, đấy là ý nghĩa tích cực của đạo đức học Phật giáo. Chúng ta thông cảm với nhận định hơi vội vàng của J.P. Sartre: “Tự do là nguồn gốc độc nhất của giá trị” (La liberté est I’unique source de la valeur), “Kết quả là, tự do của tôi là nền tảng độc nhất của các giá trị, và không có gì. tuyệt đối không có gì khiến tôi phải chấp nhận một giá trị thế này, thế nọ, một thang giá trị thế này, thế nọ”. Hay của S. de Beauvoir: ” Con người thì tự do, nhưng con người tìm thấy luật tắc của mình trong chính sự tự do của mình nữa.” Sự tự do ấy, nếu không phải là tuyệt đối tức cứu cánh giải thoát thì ít ra cũng phải là trạng thái của một người đã đạt nhiều tiến bộ trong tu tập, đang tiến gần đến giải thoát để có thể có nền tảng vững vàng trong sự phán đoán giá trị! Đấy là sự tự do ở một bậc chân tu chứ không phải là tự do ở bất cứ người nào như Sartre và De Beauvoir quan niệm.

Đức Phật là bậc đã đạt trọn vẹn Giải thoát. Ngài vạch con đường giải thoát cho con người. Giáo lý đạo đức của Ngài không phải là tác phẩm của các văn gia đạo đức như La Rochefoucauld, La Bruyère, Vauvenarge… hay của các triết gia đạo đức như Epicure, Aristote, Kant, Max Scheler… Đạo đức học của Ngài có phần lý thuyết toàn hảo nhưng Ngài chú trọng đến phần thực hành mà Ngài đã thực hiện để đạt giải thoát. Một đạo đức học tuyên bố rằng đời là khổ, đây là khổ, tự nhiên bao hàm sự tuyên bố rằng mọi hoạt động con người là nhằm thoát khổ, giải thoát. Đạo đức học ấy là đạo đức học của giải thoát, tích cực, cụ thể và lạc quan. Tích cực vì nó kêu gọi con người lên đường diệt khổ, khuyến khích sự tinh tấn, hành thiện, cụ thể và thực tiễn vì đối tượng giải thoát là con người, là cuộc đời ngay đây và bây giờ; lạc quan vì nó tuyên bố mọi người đều có đầy đủ khả năng giải thoát tối hậu.

 

Trần Tuấn Mẫn

(Trích Tập Văn Phật Đản , số 16, 1991)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt.

21/04/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

“Tôi Học Phật” và “Áo Xưa Dù Nhàu” ở… Đà Lạt.

 

Mình có chút việc riêng, đi Đà Lạt vài ba hôm. Chiều 9.4, mới đến Đà Lạt đã “tranh thủ” ghé thăm Gia đình Hoa Sen với nhóm “thiền ca” của nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh (em nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, phong trào Du ca thuở xưa), cùng Phạm Gia Cẩn, Nguyễn Mậu Pháp (Ngũ Hành Sơn), Trần Quốc Dũng, Bác sĩ Đào, Lê Viết Cảnh, bs Tuệ Hương, Diệu Cát, Thảo Nhiên v.v…  Theo yêu cầu của các bạn, dịp này muốn được nghe mình nói một chút về hai cuốn sách mới xuất bản: Tôi Học Phật và Áo Xưa Dù Nhàu.

Áo Xưa Dù Nhàu… là những lời Tri Ân chân thành đến những bậc thầy, bậc đàn anh, bạn bè gần xa đã giúp mình trở thành… mình hôm nay trong việc viết lách… Thời gian trôi nhanh, trí nhớ cùn mòn nếu không ghi chép lại ít nhiều kỷ niệm với Nguyễn Hiến Lê, với Võ Hồng, Nguiễn Ngu Í, Dương Cẩm Chương, Cao Huy Thuần… thì rất đáng tiếc bởi “Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau…” (Hạ Trắng, TCS). Cảm ơn Phanbook nhiều lắm đó nha.

Còn Tôi Học Phật, thì trước hết phải cảm ơn Anh 5 Hiền (Nguyễn Hiền Đức), người cả chục năm kiên trì rị mọ, gò lưng gõ gõ các bài viết về Phật học của mình, rồi tung lên mạng (Thư viên Hoa Sen, 2019) để chia sẻ cùng bạn đạo trong khi mình vẫn còn e dè, muốn giấu nhẹm. Thế rồi, năm 2021, mình biên soạn lại, bổ sung, rồi in nháp một ít bản thảo để “pretesting”, lắng nghe ý kiến các Thầy, các Thiện tri thức. Và sau khi hoàn chỉnh, tháng 3.2023 này, đã được Nhà xuất bản Tổng họp TP.HCM chính thức in ấn và phát hành. Cảm ơn Thanh Thủy, Thi Anh, Mai Quế Vũ… và tất cả.

Trong dịp gặp Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt, mình nói “Tôi Học Phật” theo một cách riêng của mình, một người bác sĩ học với bậc Y vương để tự chữa bệnh cho mình và cho bạn bè đồng bệnh tương lân. Những bài học dưới góc nhìn “khoa học thực nghiệm”, không mê tín dị đoan và chia sẻ chân thành từ những trải nghiệm, thực nghiệm trên bản thân mình suốt hơn hai mươi lăm năm qua.

Dịp này, mình nhắc 2 câu thơ của Sư Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh) tặng cho nhóm Quán Văn do mình đưa đến thăm Sư ở Huyền Không Sơn Thượng ngày 22.3.2023 vừa qua:

Nhẹ nhàng, thanh thản, tự nhiên thôi

Với cả nhân gian một nụ cười…

Và dưới đây là vài hình ảnh buổi gặp gỡ các bạn Gia đình Hoa Sen ở Đà Lạt (ngày 9.4.2023):

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh.

 

Diệu Cát

Thuần Nhiên, Ngũ Hành Sơn, Phạm Gia Cẩn, Anh Trình…

Lê Viết Cảnh, Tuệ Hương, Mai Bùi (Saigon), Thảo Nhiên.

Diệu Cát, Thoại Anh, Nguyệt (Mỹ), Tâm Nhiên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau buổi trò chuyện, Dũng (Kha Nhiên) hát cho mọi người nghe bài Khi Xa Đà Lạt (thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Nguyễn Đức Vinh) với nhiều cảm xúc. Bài thơ này mình viết năm 1966, đã đăng trên tạp chí Mây Hồng thưở đó. Nhạc sĩ Vinh bảo do vậy, anh phải “phổ nhạc” với một điệu… xưa của những năm 70 cho phù hợp… Tiếc mình không biết làm sao đưa clip lên đây cho bạn nghe vui mà nhớ chút Đà Lạt xưa!

Thuần Nhiên đệm đàn cho Kha Nhiên hát… Khi Xa Đà Lạt… tặng các bạn.

Rồi cũng xa thôi những hẹn hò

Những đồi run rẩy dưới mưa tơ

Những thung lũng nắng mềm hơn tóc

Những suối tương tự chảy hững hờ…

(…)

Thôi, những người đi về phố phường

Còn nghe rưng rưng bao niềm thương

Khi xa Đà Lạt, xa Đà Lạt

Hồn cổ sơ làm sao không vương…

(ĐHN, 1966)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Nguyễn Thị Tịnh Thy: BÙI GIÁNG – HƠN MỘT ĐỜI THƠ

31/03/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nguyễn Thị Tịnh Thy:

BÙI GIÁNG – HƠN MỘT ĐỜI THƠ
Tác giả Bửu Ý đặt nhan đề cho cuốn sách là BÙI GIÁNG, MỘT ĐỜI THƠ. Tuy nhiên, những gì mà cuốn sách thể hiện còn hơn cả thế. Bởi vì, qua trang viết của Bửu Ý, Bùi Giáng không chỉ là một nhà thơ, một đời thơ; mà còn là một dịch giả, nhà phê bình văn học, một triết gia.
Viết về Bùi Giáng, nói về Bùi Giáng, kể về Bùi Giáng, thêu dệt về Bùi Giáng thì đã quá nhiều. Vì thế, làm thế nào để thể hiện sự riêng biệt, mới lạ là một thử thách đối với người cầm bút.
Nhà văn Bửu Ý đã chọn hồi ức và tư liệu để vượt qua thử thách ấy và làm thế mạnh cho mình.
Là người có cơ duyên ở gần Bùi Giáng trong những tháng năm tuổi trẻ, Bửu Ý đã kể cho bạn đọc nghe câu chuyện về một chàng thanh niên Bùi Giáng trong cuộc sống đời thường: gần gũi, hiền lành, nhân hậu, trong sáng, liều lĩnh và đa tình nhưng nhút nhát đến mức “yêu trần gian mà chưa dám cầm tay”*.
BÙI GIÁNG, MỘT ĐỜI THƠ là bộ sưu tập tư liệu phong phú và công phu về Bùi Giáng từ báo chí, sách vở. Nếu bạn muốn thực hiện công trình nghiên cứu về Bùi Giáng, cuốn sách là một tài liệu quan trọng, cần thiết cho phần “lịch sử vấn đề” của bạn.
Qua tư liệu, Bửu Ý đã xây dựng nên một chân dung Bùi Giáng sống động: đi đứng, ăn ở, nói năng, viết vẽ, buồn vui, điên tỉnh… Bùi Giáng có những bình luận rất sắc sảo về thơ Nguyễn Du, Quang Dũng, Hồ Dếnh; có những quan tâm đến thời cuộc và phản ứng chính trị đầy trách nhiệm công dân. Và, bên cạnh một Bùi Giáng trào lộng, tưng tửng, còn là một Bùi Giáng có khi da diết đằm sâu:
“Đi về làng xóm năm xưa
Viếng thăm người cũ, người chưa quên người”.
Qua cách xử lý tư liệu, lựa chọn và trích dẫn quan điểm, bình luận cũng như sáng tác của Bùi Giáng, về Bùi Giáng, nhà văn Bửu Ý đã làm sống dậy một Bùi Giáng đa tài đa tình, trí tuệ và minh triết. Đồng thời, từ chân dung và cuộc đời nhân vật, người đọc có thể hình dung được một thời kỳ hoạt động báo chí và học thuật sôi nổi của miền Nam trước 1975.
Cuốn sách mạnh về tư liệu, ít nhận định. Nhưng nhận định nào của tác giả Bửu Ý cũng hay, rất sắc; nó mang lại cho người đọc những kiến thức và kinh nghiệm học thuật, kinh nghiệm văn chương quý báu.
Văn phong của Bửu Ý giản dị nhưng tinh tế, dùng từ rất “đắt”. Ông cũng “vọc chữ”, “cưỡng ngôn”, cà rỡn, tung hứng, tung tẩy không kém gì Bùi Giáng. Mà, một khi văn phong của người nghiên cứu, khảo cứu bắt nhịp được với văn phong của đối tượng được nghiên cứu là tác phẩm đã đạt đến sự thành công.
Có lẽ do quan điểm hoặc do khó khăn riêng, cuốn sách còn thiếu mảng tư liệu học thuật về Bùi Giáng. Dĩ nhiên, nếu chạm đến mảng này, tác giả sẽ phải mất nhiều thời gian và công sức hơn, mà với một người cầm bút U90, đó là điều bất khả.
Với tôi, cuốn sách này gây ấn tượng mạnh ở hai điều:
1/ Khai thác ký ức, viết về kỷ niệm riêng với một người nổi tiếng, nhưng tác giả Bửu Ý đã không phô bày cái tôi của mình – cái tôi đặc quyền sở hữu ký ức. Đó là sự “lịch lãm” của một quý ông trong văn chương. Tuy nhiên, sự đời là vậy, khi bạn biết đặt mình lui sau thì mình sẽ đứng trước, đặt mình ở ngoài thì mình sẽ được vào trong. Tự nhiên nhi nhiên, trong cuốn sách về Bùi Giáng, ta vẫn thấy được một Bửu Ý có tâm, có tài, có công, có trách nhiệm, nghiêm túc mà hóm hỉnh khi mang đến cho người đọc một Bùi Giáng khác lạ, mới mẻ.
2/ Trong tiểu sử Bùi Giáng, nhà văn Bửu Ý đã có một lối viết đúng kiểu Bùi Giáng, mà cũng đúng kiểu “hiện nguỵ” của Bửu Ý:
– 1941: Về Quảng Nam chăn dê
– 1941-1945: Trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế
Tôi thích kiểu viết, câu viết tiểu sử “hiện nguỵ” này: “Trở ra Huế vì nhớ nhung gái Huế”.
Ui chao! Vì câu viết trên, gái Huế này xin lạy các ông ba lạy!
……………………
Bùi Giáng, một đời thơ (Bửu Ý), Nxb. Dân Trí, 2023.
* Thơ của Minh Đức Triều Tâm Ảnh
******
Vài hình ảnh buổi ra mắt sách BÙI GIÁNG- Một Đời Thơ của Bửu Ý tại Huế ngày 22.3.2023

Ra mắt sách Bùi Giáng, Một Dời Thơ của Bửu Ý, (ảnh ĐHN, Huế 22.3.2023)

Từ trái Nguyễn Thị Tịnh Thy, Bửu Ý, Nguyễn Khoa Diệu Hà

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

Ban Mai (QN): Mời người lên xe về miền quá khứ… với Áo Xưa Dù Nhàu…

24/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mời người lên xe về miền quá khứ

BAN MAI

“Mời người lên xe, về miền quá khư” với tác phẩm Áo Xưa Dù Nhàu… của Đỗ Hồng Ngọc tại Hội quán Các Bà Mẹ Tp.HCM ngày 12.2.2023.
Ban Mai (Thanh Thúy. hàng đầu, góc trái).

“Mời người lên xe về miền quá khứ” là buổi trò chuyện về tập sách “Áo xưa dù nhàu” của Bs. Đỗ Hồng Ngọc viết về 18 tác giả là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ mà ông có dịp hạnh ngộ.

Tập sách gồm 309 trang, in khổ nhỏ, bìa sách trang nhã, do NXB Đà Nẵng cấp giấy phép tháng 10.2022. Với những bài viết:

Nguyễn Hiến Lê, “… Để người quân tử… hò ơ…”

Võ Hồng, “Nỗi cô đơn uy nghi”

Cậu tôi, ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, “ người điên thứ thiệt”

Giáo sư Trần Văn Khê, “Đời thường…”

Dương Cẩm Chương, “Kẻ lữ hành không mệt mỏi của đường dài”

Thăm nhà văn Trang Thế Hy, … “thì cứ hỏi cuộc đời”

Thi sĩ Quách Tấn, Đọng bóng chiều

Gặp gỡ với nhà thơ Huyền Chi, Thuyền Viễn Xứ

Tôn Nữ Hỷ Khương, “ Chỉ có tình thương để lại cho đời”

Phạm Thiên Thư, “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân”

Nhớ Tiếng thu giữa Boston

Một hôm, có“chàng Huy Cận”

Võ Phiến, Cuối cùng là sự Mộc mạc

Nguyễn Bắc Sơn… Thy Đạo

Trần Vấn Lệ, may mà còn nhớ thương

Du Tử Lê, “ tung cánh vàng xưa hạc vút bay”

Khánh Minh, Còn chút để dành

Cao Huy Thuần, Người khuân đá

…

Chỉ cần vài nét chấm phá ông đã vẽ nên cái thần của người đối diện, mỗi tác giả khoảng vài mười trang, đặc biệt ông dành nhiều trang sách cho Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư và Nguyễn Hiến Lê.

Đầu sách ông trang trọng giới thiệu học giả Nguyễn Hiến Lê, người ông chịu nhiều ơn như một người thầy. Bs Đỗ Hồng Ngọc từng khẳng định sách “Học làm người” của Nguyễn Hiến Lê có tầm ảnh hưởng to lớn cuộc đời của ông.. “Nhìn lại toàn bộ tác phẩm của ông, không ai chối cãi giá trị của những cuốn Đông Kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương triết học Trung Quốc, Ngữ pháp Việt Nam… và những Chiến tranh và Hoà bình, Sử kí Tư Mã Thiên, Chiến Quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hoá miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ ông viết nhằm mục đích giáo dục thanh niên, hướng dẫn họ trong sự huấn luyện trí, đức. Đó là cuốn Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực…, và nhất là bộ Gương danh nhân của ông”.

Mấy năm trước, nhân chuyến đi về Miền Tây của các thành viên tạp chí Quán Văn ra mắt sách ở An Giang, chuyên đề “Trịnh Bửu Hoài- mùa nước nổi” Bs. Đỗ Hồng Ngọc đã đưa nhóm bạn tìm đến ngôi nhà cũ của học giả Nguyễn Hiến Lê, và đặt cuốn sách “Nguyễn Hiến lê con người và tác phẩm” được tái bản lần hai lên bàn thờ ông như một nén tâm nhang. Học giả Nguyễn Hiến Lê sống trong một ngôi nhà khá lớn, với khu vườn rộng xanh mát nằm trên mặt đường Tôn Đức Thắng, thành phố Long Xuyên. Ngày nay, ông bà đã mất chỉ còn bà Kim Liên, cháu gái vợ ông làm con nuôi gìn giữ ngôi nhà. Bà Kim Liên tiếp chúng tôi thân tình trong thư phòng làm việc của ông, cũng là nơi thờ tự di ảnh ông bà.

Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912, trong một gia đình nhà nho ở tỉnh Sơn Tây nay thuộc Hà Nội. Năm 1934, tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội ông được chuyển vào Nam làm việc và gắn bó đến cuối đời. Người vợ đầu có một con trai qua Pháp học từ nhỏ và định cư ở đó. Trước khi qua Pháp vợ ông đã đi hỏi cưới bà Nguyễn Thị Liệp là giáo viên dạy  trường nữ sinh Long Xuyên cho ông, nói là người sau nhưng thực ra bà Liệp lại là mối tình đầu khi ông vào Nam làm việc. Hai ông bà không có con, nên bà Liệp nhận cháu làm con nuôi. Năm 1984 học giả Nguyễn Hiến Lê qua đời, bà Liệp đi tu. Khi bà mất tro cốt của ông cũng được chôn cất chung trong một cái tháp cùng bà ở khu vườn riêng gia đình.

Thư phòng làm việc của Nguyễn Hiến Lê sạch mát, chỉ có một bàn nhỏ để viết, một tủ sách, một chiếc giường nhỏ để ông ngả lưng, bàn thờ ông đơn sơ. Ông là một học giả uyên bác của miền Nam Việt Nam mà tôi vô cùng kính trọng. Cũng như Bs Đỗ Hồng Ngọc, tôi chịu ơn ông rất nhiều và có lẽ rất nhiều tầng lớp hoa niên thế hệ Miền Nam chúng tôi cũng vậy khi có duyên tiếp cận tủ sách “học làm người” do ông biên soạn hoặc dịch thuật. Ông được mệnh danh là “ lương thức của thời đại”, tầm ảnh hưởng sách của ông rộng khắp các thế hệ thanh niên miền Nam. Ông xuất bản 120 tác phẩm, tác phẩm nào cũng có ích cho đời.

Với Bs Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Hiến Lê là một người thầy lớn của ông, là người khuyên ông theo học ngành Y, ông nói ngày đó nhà ông nghèo, cha mất sớm, ông học giỏi nên được nhảy lớp, và luôn đứng đầu, khi ông thi xong Tú tài II, ông vừa muốn học Văn khoa, Sư Phạm và ngành Y. Nguyễn Hiến Lê khuyên ông: Học Y, giúp gia đình và giúp đời cụ thể, nếu có tâm hồn và năng khiếu thì sau này có thể dạy học và viết Văn theo sở thích. Và về sau Bs. Đỗ Hồng Ngọcđã thực hiện được cả ba.

 “ Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò Đệ Thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác, nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thâỳ của mình, hơn thế, một người thân” (1)

“Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” chỉ là một phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cùng loại y học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải là toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng. Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự” (1)

Chính vì học theo tấm gương của học giả Nguyễn Hiến Lê “một nhà trí thức Việt Nam, ngoài công việc chuyên môn ra, phải phổ biến những kiến thức của mình trong đại chúng thì mới có thể gọi là làm tròn nhiệm vụ trong giai đoạn này được” (2)

Bs. Đỗ Hồng Ngọc đã làm được điều đó, nhờ am hiểu ngành y ông đã phổ biến kiến thức sức khỏe cho cộng đồng với lối việc hóm hỉnh, dí dỏm , làm những vấn đề trầm trọng của người già trở nên nhẹ nhàng,người đọc thỉnh thoảng phải bật cười vì thấy mình ở đó trong những cuốn sách viết về tuổi trung niên như: “Những người trẻ lạ lùng”, “Gió heo may đã về”, “Nghĩ từ trái tim” là những bài viết như vậy.

Đôn hậu, nghiêm túc là con người của BS. Đỗ Hồng Ngọc mà bất cứ ai đã được dịp tiếp xúc đều nhận ra ngay, trãi qua bao thăng trầm của đời người ông thấm nhuần Thiền Phật, những bài ông viết cho giới trẻ, cho tuổi già là những nhắn nhủ của một người làm chuyên môn cho lời khuyên xác đáng để con người biết sống nhẹ nhàng hơn khi đối diện với tuổi xế chiều.

Ngoài học giả Nguyễn Hiến Lê với bài “Để người quân tử … hò ơ”, Bs Đỗ Hồng Ngọc còn dành nhiều trang viết cho Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, người cậu tài hoa của mình “người điên thứ thiệt” người đã thay mẹ mình dắt ông đi học ngày đầu tiên đến trường, vì khi đó ông mồ côi cha, sống trong chùa ở Phan Thiết. Cậu ông về cho ông đi học. “ Bây giờ, mỗi lần nhớ tới cậu, tôi thường tự hỏi, hồi bằng tuổi cậu, tôi có làm được điều gì đó cho ai như cậu đã làm cho tôi không và tự nhiên tôi thấy lòng mình rộng mở, thanh thản, muốn giúp đỡ, chia xẻ”. Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư nhà văn, nhà báo có nhiều bút danh trong đó bút danh Nguiễn Ngu Í (với I ngắn) được nhiều người biết với loạt bài phỏng vấn văn nghệ sĩ nổi tiếng đăng trên tạp chí Bách Khoa thập niên 1960 tài Sài Gòn. Ông có lối viết tiếng Việt riêng, gây nhiều tranh cãi. Ông là bạn cùng lớp, cùng trường Pétrua Ký với Trần Văn Khê, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng. Cuộc đời ông nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không chữa được. Bị điên nhiều lần vào ra Dưỡng trí viện Biên Hòa, ông cùng các bạn điên ra tập thơ “Thơ điên thứ thiệt” trong đó có mấy bài góp mặt của Bùi Giáng. Thời đó, ngoài thuốc men, các bác sĩ ở Dưỡng Trí viện Biên Hòa còn khuyến khích bệnh nhân làm thơ, vẽ tranh, đánh cờ, lao động chân tay… như một liệu pháp chữa trị tâm bệnh. NguIễn Ngu Í có những bài rất cảm động như “ Má ơi con má điên rồi/ má còn trông đứng đợi ngồi mà chi?” hay ông làm câu đối trên bàn thờ ông bà “ Mắt mở đã thâý xiềng nô lệ/ Hồn đi còn mơ gió tự do”…, đọc thơ ông mà thương cho một kiếp người taì hoa, bất đắc chí.

Tập sách “Áo xưa dù nhàu” của Bs Đỗ Hồng Ngọc không phải là những bài phê bình văn học các tác giả, nó là những kỷ niệm, những tâm tình riêng của ông với bạn hữu, người thân mà ông yêu quý, kính trọng, nó như một tài liệu tham khảo trong làng Văn. Người đọc sẽ cảm được mạch văn giản dị, trong một con người đôn hậu, nghiêm túcmà bất cứ ai đã được dịp tiếp xúc đều nhận ra ngay.

Không gian trò chuyện trên căn gác nhỏ ở “Hội quán các bà mẹ” ấm áp thân tình, ông thích một không gian nhỏ để cuộc trò chuyện gần gũi hơn. Trong buổi trò chuyện tôi hỏi cuốn sách viết về những tác giả này ông có chuẩn bị trước tài liệu hay lên đề cương chi tiết cho từng tác giả, ông nói ông không chuẩn bị gì cả, cứ mỗi tác giả những kỷ niệm hình ảnh tự nhiên ùa về và thế là ông viết. Tình cảm của ông dành cho họ đã có sẵn trong tim cứ thế tuôn tràn. Đó là hạnh phúc của người viết cho từng hạnh ngộ. Địa điểm Bs Đỗ Hồng Ngọc chọn khá độc đáo nằm trong con hẻm giữa Đài truyền hình VTV và HTV, số 7 Nguyễn Thị Minh Khai Quận 1. Lọt thỏm giữa trung tâm thành phố sầm uất lại có 1 phiên chợ quê, một tuần nhóm 1 lần dưới gốc cây đa cổ thụ vào sáng chủ nhật do “Hội quán các bà mẹ” tổ chức, tái hiện một chợ quê miền Nam mà người bán mặc áo dài với những mẹt thúng, mẹt rổ, những món ăn, rau trái dân dã, củ chuối, củ mình tinh, mứt vỏ bưởi sấy khô, bánh bột lọc, bánh nậm, bánh ú, bánh thuẫn, lâu rồi mới ăn lại cái bánh cam, vỏ bánh giòn rụm rưới mè, bên trong nhân đậu xanh vừa ngọt vừa bùi, bánh dẻo thơm mùi lá dứa, chén chè đậu xanh nước dừa… Cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc đã cho tôi một buổi sáng chủ nhật thú vịvới ” Mời người lên xe về miền quá khứ”.

 

BAN MAI

18.2.2023

—————-

  • “Áo xưa dù nhau”. Bs Đỗ Hồng Ngọc, NXB Đà Nẵng, 2022, tr 23, 30
  • Lời tựa của Nguyễn Hiến Lê viết cho tập sách “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” của Bs. Đỗ Hồng Ngọc, năm 1971.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Tự-tại Vô-ngại

21/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tự-tại Vô-ngại

(tặng Nguyên Giác Phan Tấn Hải),

Mục tiêu của Kinh Hoa Nghiêm là giúp ta có được cuộc sống an nhiên, tự tại, hạnh phúc ngay ở đây và bây giờ… Một thế giới hoa tạng, rực rỡ xinh đẹp sẽ được thành tựu tùy tâm mình. Cho nên người có khả năng làm chủ chính bản thân mình, người biết sống Tự-tại Vô-ngại là người làm chủ được cả… thế giới (Thế chủ diệu nghiêm) chớ không phải thần thánh từ phương nào!

Học Hoa Nghiêm là để thấy được Lý vô ngại, Sự vô ngại, và nhờ đó mà đạt đến “Sự Sự Vô Ngại” vậy.

Vô ngại là không bị trở ngại, không bị ngăn che, không bị chia cắt, không còn phân biệt, là được thông suốt, thông dung… vì đã thấy được cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, trong mạng lưới trùng trùng duyên khởi, duyên sinh, thấy được “hữu-hóa” (Hoa Nghiêm) đều đến từ trong tánh Không (Bát Nhã), vì không có Tự tánh riêng biệt.

“Lý” mà được hiểu vậy rồi thì cái núi Tu-di to đùng kia có thể nhét vào hạt cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể dung chứa trong một lỗ chân lông. Bát Nhã giúp ta thấy được chân Không, vô tướng. Nhưng Không ở đây không phải là không có. Còn cái có chỉ do duyên sinh mà có, nên được coi là “diệu hữu”, một cái có tuyệt diệu, có khi nó chỉ hiện hữu trong thoáng chốc (vô thường) rồi biến mất làm cho ta ngẩn ngơ! Phải có cái nhìn (thấy biết) “thật tướng” như Phật dạy trong kinh Pháp Hoa: thì mới “ngộ nhập tri kiến Phật”.

Ở Kinh Pháp Hoa, Phật nói có một pháp môn rất hay, có thể giúp các vị Bồ-tát mau thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Pháp môn này gọi là Vô Lượng Nghĩa. “Vô lượng nghĩa này từ một pháp sanh ra, một pháp ấy chính là Vô tướng. Vô tướng ở đây nghĩa là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng nên gọi là thật tướng”. Cái “thật tướng” đó nó mới đẹp làm sao! Nó hiện hữu từ vô tướng, sinh trụ dị diệt trong chốc lát ở nơi “hữu vi” rồi trở  về lại với vô tướng. Kim Cang nói: “Nhất thiết hữu vi pháp/ như mộng, huyễn, bào, ảnh/ như lộ, diệc như điện. Ưng tác Như-thị quán”. Tất cả mọi sự vật hiện tượng ở đời (hữu vi) thì như giấc mộng, như huyễn, như bèo bọt, như ảo ảnh, như sương mai, như điện chớp… Hãy quan sát để thấy như thế. Đừng có bám chấp, đừng có ảo vọng.

Cánh hoa lung linh trước gió, con bướm đầy màu sắc chập chờn, con ong hút mật, con công đang múa, sư tử gầm gừ… tất cả đều từ một “Tạng” mà ra. Chính là Như Lai tạng (tathagata-garbha). Tất cả pháp giới các vị Phật cho đến Thiên, Nhân… Ngạ quỹ cũng đều từ Như Lai tạng mà ra như thế. Bồ tát Phổ Hiền ở trong Tam muội của mình thấy rõ: “Nhất thiết chư Phật tỳ-lô-giá-na Như Lai tạng thân”. Nói khác đi, Thân của các vị Phật, chính là tỳ-lô-giá-na kia , đều từ Như Lai tạng mà ra!

Một lần nọ, Phật hỏi Duy-ma-cật ông quán Như Lai thế nào? Duy-ma-cật trả lời: Tôi quán pháp thân Như Lai, cũng như quán pháp thân Phật và tôi, không khác!

Có điều Phật thì do nghiệp do duyên từ nhiều đời nhiều kiếp, nay thành Đức Phật toàn giác với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, còn tôi… chỉ là một vị được gọi là Bồ-tát ở thành Tỳ-da-ly này, tôi phải tu hành nhiều đời nhiều kiếp nữa! Phật cười: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành! Bởi ai cũng sẵn có Phật tánh, ai cũng có Pháp thân sẵn đó rồi. “Một là tất cả và tất cả là Một” vậy.

Thú vị của Kinh Hoa Nghiêm là ở phẩm “Như Lai hiện tướng”! Như Lai vốn “vô tướng” bỗng “hiện tướng” ra Đức Phật. Để làm gì? Để “cứu khổ” cho muôn loài nên được gọi là Đạo sư, Thiên Nhân Sư.  Có một bài đồng dao của trẻ con: “Một ông Phật hiện ra, ba con Ma biến mất”! 3 con Ma là Ma tham, Ma sân và Ma si. Tham Sân Si mà… biến mất thì Niết-bàn đây rồi chớ đâu! Bằng cách nào? Dễ thôi. Tứ Diệu Đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… từng bước cho đến khi thấy Như Lai vô tướng, thấy được Như Lai tạng, nhìn mọi thứ bằng thật tướng của nó và từ đó… sẽ Ung dung, Tự tại, Sự sự Vô ngại!

Phật lúc nào cũng ở trong Định, ít khi xuất hiện. Nhờ có hai “thị giả” là Bồ-tát Văn Thù trí tuệ cưỡi sư tử một bên và Bồ-tát Phổ Hiền từ bi cưỡi voi sáu ngà một bên thay Phật thuyết giảng. Phật chỉ ngồi yên cười… tủm tỉm, không nói năng chi. Trước khi nhập Niết-bàn Phật dặn dò đệ tử: Xưa nay, ta chẳng nói điều gì, ta chẳng dạy ai điều chi cả! Bởi Phật biết sau này có Internet, có AI các thứ thì họ sẽ nói lung tung rồi đổ thừa Phật!

Thiện Tài Đồng Tử được Di Lặc cho thấy lâu các Tỳ-lô-giá-na (Kinh Avatamsaka =Gandavyuha). Tranh Nepal, thế kỷ 11-12.

 

Thiện Tài đồng từ là chàng thanh niên bỡ ngỡ bước vào đời muốn học Bồ-tát đạo, may gặp Văn Thù chỉ cho con đường và chàng lang thang khắp chốn để học với tất cả mọi người, mọi giới…với lòng khiêm cung, chí thành để cuối cùng gặp Phổ Hiền, học được Tam muội Đại định (Samadhi) mà thấy biết Pháp thân Tỳ-lô-giá-na của mình, quay trở về kho tàng thân xác của chính mình để từ đó “thành Phật” vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

(Tôi học Phật)

(2.2023)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh buổi Trò chuyện về cuốn “ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

18/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Vài hình ảnh về buổi Trò chuyện “ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

Bạn bè nơi xa hỏi thăm buổi Trò chuyện của mình về cuốn sách mới: “Áo Xưa Dù Nhàu…” tại Hội quán Các Bà Mẹ 12.2.2023, trong đó Anh Hai Lấp Vò… cằn nhằn nhiều nhất: sao im re, chả viết “tường thuật” gì cả vậy!

Mình chọn địa điểm Hội quán CBM để thực hiện buổi Trò chuyện thân mật và ấm cúng về cuốn Áo Xưa Dù Nhàu… này vì nó còn giữ được nét quê mùa… “chật chội, nực nội” nên gần gũi và ấm cúng lắm. Nghĩ bụng chắc có chừng vài mươi người bạn thân thiết đến chơi là vui rồi, ai dè đông gấp 4-5 lần nên có người phải bực bội ra về. Rất xin lỗi nhe.

Xin gởi vài tấm hình bạn coi vui như mọi khi, vì lúc này làm biếng viết quá rồi đó.

Cô Thanh Thúy, Hội trưởng Hội quán CBM có đôi lời giới thiệu người không xa lạ là “Nhà thơ-Bac sĩ ĐHN” vốn từ xưa cùng GS Trần Văn Khê đã là “cố vấn” của Hội quán…

 

Sau đó mình phải giải thích tại sao mình chọn địa điểm “nhà quê” này -giữa thành phố có nhiều hội trường máy lạnh rộng rãi- vì ở đây còn có chợ quê, có cây đa cuối hẻm… và giải thích tại sao BTC giới thiệu mình là “nhà thơ-bác sĩ”, vì kinh nghiệm mấy lần ghi 2 chữ “Bác sĩ ĐHN”  thì thính giả chỉ hỏi miết về bệnh tật. Mình nói rõ thêm đã làm thơ từ trước khi làm bác sĩ và mình bèn đọc vài bài thơ… để làm chứng! Vậy đó.

Bạn bè đông thiệt, bất ngờ quá!

Nhạc sĩ Trần Văn Quang “phụ trách” phần âm nhạc hỗ trợ vì “Áo xưa dù nhàu…”,  và anh đã hát Phôi Pha (TCS) bằng giọng trầm ấm của một người bước vào “gió heo may…”

 

 

 

 

 

 

 

 

Đã có rất nhiều cậu hỏi… và không khí trở nên sôi động!

Thu Vân hát “Hạ Trắng”, là bài hát chủ đề của buổi hôm nay, có câu “Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau…” của TCS… rất da diết, sâu lắng…

Ảnh Huỳnh Ly (TT)

 

Nguyễn Nhật Ánh Thy hát “Còn tuổi nào cho em” (TCS). Hát xong cô hỏi “sao con thấy bác có vẻ trầm ngâm vậy?” mình trả lời vì còn tuổi nào cho em đó mà!

 

 

 

 

 

 

 

 

Và đây là một vài comments:

  • Em cảm ơn anh đã mời em “lên xe, về miền quá khứ” của anh để thấy được những bài học giá trị, từ những con người rất đặc biệt. Họ có mặt trong cuộc đời anh, để một phần làm nên một Đỗ Hồng Ngọc hôm nay. Em cũng học được ở anh cách chia sẻ hồn nhiên và sâu sắc, tinh tế và dí dỏm. Em học được cách làm việc rất chuyên tâm của anh, mạch chuyện được viết xuống tờ giấy nhỏ, thỉnh thoảng ghi chú thêm, được anh dẫn dắt cách tự nhiên và nhạy bén. Anh cứ việc là mình vậy thôi, là vui rồi, phải không ạ? (M.Y)

 

  • Lòng biết ơn là một điều tuyệt vời trong cuộc sống. Lòng biết ơn cho ta thêm năng lượng tích cực, vừa biết yêu thương người khác, vừa biết yêu thương mình, lại thêm sức sống và yêu đời.
    Con cũng học được cách yêu thương, quý trọng, nâng niu từng phút giây sống trong hiện tại.
    “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
    Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
    Lợi danh như bóng mây chìm nổi
    Chỉ có tình thương để lại đời”
    Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương
    Con đã đến buổi hội thảo và ra về mang theo nhiều hạnh phúc và nhiều giá trị không đong đếm được.
    Cám ơn Bác.

(Tú Quyên)

Hẹn thư sau.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(18.2.2023)

…………………………………………………………………………………………………….

Áo Xưa Dù Nhàu… và lời tri ân của nhà văn Đỗ Hồng Ngọc

Huỳnh Vy

(Theo https://tuoitre.vn/)

Ở tuổi 83, nhà văn – nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vẫn rất hóm hỉnh trong buổi trò chuyện thân tình cùng độc giả, nhân dịp giới thiệu quyển sách mới: ‘Áo xưa dù nhàu…’.

Trong không gian thân mật tại Hội quán Các bà mẹ trưa ngày 12-2-2023, nhiều bạn bè thân hữu và độc giả thân thiết đã đến chung vui cùng nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trong đó có những độc giả đến từ tận Tiền Giang, Đà Nẵng, Quy Nhơn…

Tri ân những người bạn lớn

Buổi trò chuyện bắt đầu bằng những ca khúc nhạc Trịnh quen thuộc. Cái tên Áo xưa dù nhàu… cũng chính là lời Bạt mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết cho quyển sách Gió heo may đã về của Đỗ Hồng Ngọc năm 1997. Đến nay, lại trở thành tên của quyển sách mới.

Áo xưa dù nhàu… là tập sách khắc họa chân dung 18 nhân vật qua góc nhìn riêng của tác giả Đỗ Hồng Ngọc. Ông cho biết mình không phải chuẩn bị lâu vì những câu chuyện, những kỷ niệm cùng các nhân vật đều nằm sẵn trong tim. Đó là những người thầy, những người bạn lớn trong cuộc đời ông.

Những gì ông kể ra chỉ là một phần nhỏ về họ. Một góc nhìn rất dung dị, gần gũi, thậm chí là hài hước. Cách sắp xếp các nhân vật trong sách cũng đơn giản đi từ già đến trẻ, từ những người đã mất đến vẫn còn sống…

Khi được hỏi về thông điệp của Áo xưa dù nhàu…, tác giả Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ giản dị: “Đó là lời tri ân và gợi nhắc những kỷ niệm xưa. Ví như tôi học cách sống, cách viết của ông Nguyễn Hiến Lê. Còn với cậu tôi, ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, lại là những ký ức khó quên về người đã nắm tay dắt tôi đến trường.

Có rất nhiều kỷ niệm mang đậm tính cá nhân riêng tư như thế, nên thật khó nói thông điệp hay bài học. Tôi nghĩ chỉ cần tri ân những người đã giúp đỡ ta, vậy là tốt rồi!”.

“Nhà” nào cũng quyến rũ

Trong buổi trò chuyện, nhà thơ – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng đùa vui về danh xưng “nhà thơ” của mình. Ông đã làm thơ đăng báo từ lúc 16 – 17 tuổi và có bút danh Đỗ Nghê (ghép từ họ của ba và mẹ) trước khi thi vào trường y và trở thành bác sĩ.

Những ngày đi thực tập đỡ đẻ ở Bệnh viện Từ Dũ, ông viết Thư cho bé sơ sinh – một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông. Hay bài thơ viết cho người mẹ đã mất nhân dịp Vu Lan, một bài thơ ngắn đầy xúc động của ông – cũng từng được nhiều người chia sẻ.

Khi được độc giả hỏi “anh có nhiều nhà” quá: nhà văn, nhà thơ, nhà thiền học, nhà giáo…, sắp tới nếu viết về một “nhà”, anh chọn “nhà” nào?”; tác giả Đỗ Hồng Ngọc cười: “Chắc là Nhà tôi!”.

Nhà văn Nguyên Cẩn bày tỏ sự ngưỡng mộ: “Nhà nào cũng vậy, Đỗ Hồng Ngọc luôn có thể viết đầy dung dị, hài hước, dễ hiểu và đầy quyến rũ”.

Những chân dung được Đỗ Hồng Ngọc “vẽ” lại theo cách riêng

Áo xưa dù nhàu… là tác phẩm mới nhất của nhà văn – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, do Phanbook và NXB Đà Nẵng ấn hành.

Cuốn sách tập hợp những ghi chép về 18 chân dung nhân vật Nguyễn Hiến Lê, Võ Hồng, Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, GS Trần Văn Khê, Dương Cẩm Chương, Trang Thế Hy, Quách Tấn, Huyền Chi, Tôn Nữ Hỷ Khương, Phạm Thiên Thư, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Võ Phiến, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Vấn Lệ, Du Tử Lê, Khánh Minh, Cao Huy Thuần.

Nhà thơ Trần Thị Nguyệt Mai bình về Áo xưa dù nhàu…: “Ngoài là bác sĩ, Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà thơ (Đỗ Nghê), một họa sĩ của những bức ký họa được bạn bè yêu thích.

Nên những chân dung được ông “vẽ” lại theo cách rất riêng, không giống với một ai, bằng đôi mắt của người thầy thuốc yêu nghề, chọn lọc những góc cạnh độc đáo của họa sĩ và trải lòng với tâm cảm của nhà thơ, nên có những bài viết đẹp như thơ…”.

(Tuổi Trẻ online,12.2.2023)

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Hội quán Các Bà Mẹ: THƯ MỜI

09/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Hội Quán Các Bà Mẹ Tp. HCM

Thư Mời:

 

 

 

 

Áo xưa dù nhàu… là tuyển tập 18 bài viết của tác giả Đỗ Hồng Ngọc về 18 chân dung văn nghệ sĩ ở những lĩnh vực chủ yếu là văn chương, âm nhạc và hội họa. Đó có thể là những tên tuổi lớn như Nguyễn Hiến Lê, Trần Văn Khê, Du Tử Lê, Huy Cận… hay những người trong gia đình, người bạn thân quen của tác giả. Điểm chung giữa họ đó là đều có duyên hạnh ngộ với Đỗ Hồng Ngọc trên bước đường văn chương và cuộc đời.
Bằng giọng văn mộc mạc nhưng chan chứa tình cảm và sự trân trọng, Đỗ Hồng Ngọc đã truyền được cảm xúc của mình đến người đọc. Qua cái nhìn của tác giả, ta sẽ không chỉ khám phá được cái hay, cái đẹp của các nhân vật qua từng bài viết mà còn cảm nhận được cái nghĩa, cái tình trong mối quan hệ giữa người thầy thuốc viết văn ấy với bạn bè.

………………………………………………………………………………………………………….

Thân gởi bạn,

Rảnh đến chơi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

9.2.2023

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Thư gởi người bận rộn, Vài đoạn hồi ký

Đọc thơ Khánh Minh: tháng năm là mộng đang đi

05/02/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Đọc Thơ Khánh Minh

tháng năm là mộng đang đi

 

 

Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

Khánh Minh tâm sự: “Với riêng tôi, Lục Bát thân thuộc như hơi thở. Cha mẹ tôi kể thường ru tôi ngủ bằng những câu thơ lục bát. Như thế thì chưa biết nói đã được nhạc Lục Bát ấp ủ trong từng hơi thở đầu đời. Cứ thế mà bén rễ, ăn sâu vào cảm thức, cho đến khi bật ra thành câu thuở chập chững làm thơ…

Và tôi đã cảm nhận rằng Lục Bát, dù mang nét chân phương như ca dao, vè, hay đầm đẫm nét sang cả của một Sáu Tám thâm viễn u u, thì ở mỗi tính cách, Lục Bát vẫn có sức quyến rũ riêng.

Tôi đã gom lại những bài Lục Bát của mình để có được một tặng phẩm nhỏ này như một tri ân Lục Bát, như quả thu được từ hoa lời ru của cha mẹ, như sợi tằm chắt chiu gửi cho Đời cho Người…”

– Nguyễn Thị Khánh Minh

(Santa Ana, một ngày Thu, 2022)

Khánh Minh có lần cho biết, trong bài phòng vấn của Lê Thị Huệ trên gio.o.com  : Tôi vẫn luôn luôn viết từ cảm xúc tức thời của mình, về những điều tôi chợt thấy, hay về những điều ám ảnh và trở đi trở lại trong ý nghĩ mình, và tôi thường diễn đạt theo một thi pháp trong sáng nhất, trong sáng với nghĩa dễ hiểu, không nhiều ẩn dụ. Tôi mong là người đọc thơ tôi cảm được cái Thơ của nó không qua suy nghĩ. Một cái hiểu và cảm tức thì. (gio.o.com).

Nhiều người cho rằng Lục bát thì “dễ làm mà khó hay”, nên phải làm mới, đưa kỹ thuật hàn lâm vào để nâng cao, để có thứ lục bát “đầm đẫm nét sang cả của một Sáu Tám thâm viễn u u” thì tôi chịu thua! Theo tôi, làm mới lục bát đúng là một chuyện không dễ  và… không cần. Nó là một thứ tiếng nói. Tiếng nói Việt. Cho nên cách tân lục bát để “hàn lâm” nó chỉ gây thêm khổ cho cả người thơ và người đọc.

Nhiều bài lục bát hàn lâm, sang cả u u, tôi ráng hiểu, thấy khâm phục, nhưng lạ, sao không thấy hay! Đành cười mình dốt đặc! Hay, với tôi là cái đọng lại, cái ngẩn ngơ sau những câu chữ buột miệng, tình cờ… kiểu như thò tay ngắt một cọng ngò, thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ… Phải, thứ lục bát của ca dao tôi, của tâm hồn tôi. Nó quê mùa, nó chơn chất. Trèo lên cây bưởi hái hoa/Bước xuống vườn cà… nó cứ trơn tuột như vậy, bước xuống vườn cà để làm gì? Để hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay. Ai bảo nó là lục bát. Ai bảo nó không là lục bát. Ba đồng một miếng trầu cay/ Sao anh không hỏi những ngày còn không/ Bây giờ em đã có chồng… Vậy đó. Nó cứ tuồn tuột. Mà nó bứt rứt, mà nó thốn đau, mà nó đay nghiến, mà nó dằn vặt… có khi đến trọn  đời. Với tôi, còn là thứ lục bát con cò mà đi ăn đêm, trông trời trông đất trông mây… toàn là những nỗi đau, nỗi mong, nỗi đợi. Lục bát như vậy nó không cần đi vào sang cả u u, phải vật vã truy tìm, mà nó đi thẳng vào tim với rung động sáu cách…!

tháng năm là mộng đang đi… của Khánh Minh là một tập thơ lục bát lạ, nó vừa “sang cả u u” lại vừa “chơn chất thật thà”, đầy những kỷ niệm nhỏ to với bạn bè khắp chốn. Bởi nó là mộng. Mộng thấy quê nhà là nét dễ mến nhất, “khánh minh” nhất. Mộng thấy biển xanh. Thấy bóng nắng. Thấy cổ tỉnh. “Vằng vặc một tấm lòng/ Giếng xưa trăng rọi bóng” (trạm trạm nhất phiến tâm/ minh nguyệt cổ tỉnh thủy. Nguyễn Du).

Vòng tay mở rất quê nhà

Trông lên đôi mắt đã là quê hương

(2008)

Tôi biết nhà thơ muốn viết đã nhòe quê hương…

(tháng năm là mộng đang đi)

 

Và ta hiểu nỗi cô đơn dằng dặc thế nào trong cảnh sống xa quê của một người có tấm lòng “cổ tỉnh”.

Nói thầm

Gọi thầm

Hát thầm

Luôn luôn như thế

Lặng câm

Một mình

Như cơn sốt nặng làm kinh

Bật lên tiếng gọi thình lình. Giữa đêm

Thì ra vì quá lặng im

Sợ quên. Nên gọi. Để tìm mình thôi

(Nói thầm)

Bỗng nhớ Thanh Tâm Tuyền hơn nửa thế kỷ trước:

Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

Thanh Tâm Tuyền Thanh Tâm Tuyền.

(Tôi không còn cô độc, 1956)

 

Không dừng ở đó, tháng năm là mộng đang đi lại là nỗi tìm về.

 

Về trong tiếng gọi cội nguồn

 Một tâm xao động. Một hồn tịch nhiên

Lắng vào lời của vô biên

Nghe trong ta nở một miền cỏ hoa.

(NHƯ)

Lắng vào lời của vô biên/ Nghe trong ta nở một miền cỏ hoa. Phải rồi. Đó mới chính là Khánh Minh. Là nghe tiếng gọi cội nguồn, là nghe lời nói của vô biên, là đã trở về với Như Lai thực tướng.

 

Thầy Phước Hậu năm xưa (1862-1949) đã ghi nhắc:

“Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Năm nay nghĩ lại chừng quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.”

 

*

Tôi thử đi tìm ca dao trong lục bát Khánh Minh. Có đó.

Vậy mà mình đã quên nhau

Lời ca dao cũ vọng đau tháng ngày

Sẻ chia một thoáng gừng cay

Muối tình phai giữa biển đầy lãng quên

(Gừng cay muối mặn)

Ôi, biển đã hết mặn rồi sao? Gừng đã không còn cay nữa sao?

 

Lúc đầu tôi định chỉ trích vài câu trong Bùa Quê thôi mà không cầm lòng được, đành trích nguyên bài “Lá bùa hộ mệnh” này. Và như vậy tôi mới thấy nhà thơ rõ hơn, ngôn ngữ “bùa mê thuốc lú” rõ hơn.

 

Quen hơi bóng nắng tre xanh

Cho ngơ cho ngẩn khi mình đi xa

Ếm vào chân nỗi nhớ nhà

Đường chông chênh lạ vẫn à ơi quê

Cứ như ai dắt bước về

Chợp con mắt lại bùa mê bóng làng

Hàng cau xanh biếc thời gian

Mầu hoa bí vẫn nở tràn giấc mơ

Bước non bước biển bây giờ

Mênh mông một khoảnh ao xưa, là nguồn

Lá bùa hộ mệnh – quê thơm –

Chở tim đồng nội, che rơm rạ lòng

Biển khơi, nhớ ngụm giếng trong

Nắng mười phương, vẫn hương đòng lúa hoa

Núm quê chiu chắt con xa…

 

(Bùa Quê)

2006

 

Không chỉ vậy, thấm đẫm nơi Khánh Minh còn là cõi Phật, với Nghiệp, với nhân quả, với “mũi tên nào để vết thương/ thôi thì đau, để nhẹ nhàng cái vay”.

 

Mũi tên nào để vết thương

Thôi thì đau, để nhẹ nhàng cái vay

Hạt vơi đong nỗi hạt đầy

Ơn trời, mưa bóng mưa mây thôi mà

Đi đi. Đường hãy còn xa…

(Dặm trường)

Tôi cũng nghĩ vậy. Đi đi. Đường hãy còn xa.

 

(ĐHN)

Nguyên tiêu, Quý Mão

(5.02.2023)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần

20/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần

"Im lặng như lời chia tay" - sách mới của GS.Cao Huy Thuần - Ảnh: HĐ
“Im lặng như lời chia tay” – sách mới của GS.Cao Huy Thuần – Ảnh: HĐ
———————-
20/01/2023 14:41
https://giacngo.vn/doc-im-lang-nhu-loi-chia-tay-cua-cao-huy-thuan-post65521.html
Đỗ Hồng Ngọc
———————-
GNO – Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, thì ta cũng có thể nhận ra cái “thiêng liêng” đó anh à, cái thiêng liêng từ “vô tưóng” – trong Như Lai tạng – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà đó thôi.
  • Anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… dặn để đọc mấy ngày Tết. Tôi nghĩ: chắc là Im Lặng thở dài… đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (Trịnh Công Sơn)? Nhưng không. Cao Huy Thuần không thở dài! Anh nói về “thiêng liêng” về “chia tay mà không biệt ly của cánh hoa rơi”…

Bồng đứa bé mới sanh đỏ hỏn trên tay mà không thấy “thiêng liêng” sao? Đứa bé bỗng nhoẻn miệng cười không vì đâu cả mà không thấy “thiêng liêng” sao?… Người bạn, kêu sáng Mùng Một Tết chợt thấy “thiêng liêng”? Lạ quá. Thiêng liêng đến từ đâu? Thì đến từ thiêng liêng chớ từ đâu nữa! Từ cái nhoẻn miệng cười của đất trời, từ cái đất nước gió lửa run rẩy trong ta vì già nua giữa ngày Mồng Một Tết chớ đâu nữa!

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần ảnh 1
Một trong những minh họa trong “Im lặng như lời chia tay” – Ảnh HĐ chụp lại từ sách

Họa sĩ Poussin (1594-1665), bàn tay run rẩy bệnh hoạn không chịu nghe lời ông nữa, ông phải từ giả bút màu với nỗi buồn chán… Nhưng, bất ngờ, những bức tranh run rẩy của ông về sau được giới phê bình tán thưởng hơn bao giờ hết. Họ phát hiện ra rằng “không phải tay họa sĩ run mà là thời gian run”.

Còn họa sĩ Cézanne (1839-1906) viết “Tôi già và bệnh, nhưng tôi thề sẽ chết trong khi vẽ…”. Danh họa Nhật, Hokusai nói từ năm 73 tuổi mới hiểu cấu trúc của thiên nhiên, bởi vậy, 80 ông sẽ, 90, 100, 110… ông sẽ…

Để rồi cuối cùng, Cao Huy Thuần và người bạn đồng ý “ly cà phê buổi sáng là thiêng liêng”, “cái má núm đồng tiền là thiêng liêng”, “cái răng khễnh là thiêng liêng”… Ôi chao!

Phật dạy có bốn thứ Ma thân thiết với ta. Phiền não ma, Ngũ ấm ma, Thiên ma, Tử ma. Tử ma chính là “thị giả” của ta, gần gũi ta và giúp đỡ ta, gắn với ta từ trong trứng nước. Tưởng là kẻ xấu mà không, hắn rất tử tế, luôn nhắc ta từng chút, nhờ vậy mà ta tránh biết bao tai ương, khổ nạn.

Nhìn lại, có hay không có tái sinh? Có hay không có “kiếp” sau? Có lần khi trò chuyện với Ni sư Trí Hải tôi hỏi một kiếp dài khoảng chừng 10 phút không cô? Cô cười, không trả lời. Có lẽ cô muốn nói… một kiếp dài cỡ một sát-na!

Thầy Tuệ Sỹ trong cuốn Tổng quan về Nghiệp viết: Có hay không có Nghiệp? Có hay không có Tự ngã? Có hay không có Thời gian?…

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả? (Tuệ Sỹ)

Có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, nhân quả. Bằng chứng đâu?

Nhưng, nếu hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?

Ký ức được lưu trữ ở đâu để tạo thành Nghiệp mà truyền đi? Khoa học não bộ trả lời: ở hippocampus (hồi hải mã) trong não. Thế nhưng, khi thân này tan rã, hippocampus và toàn bộ thể viền của não bộ cũng không còn, ký ức được tàng trữ trong thân vật lý này cũng biến mất theo. Phải chăng “ngoài cơ chế vật lý của ký ức, còn có sự tham gia của một yếu tố phi vật chất, không nhất thiết là ý thức, để lấy đó làm cơ sở tiếp cận đến vấn đề nghiệp tích lũy, cho đến trong đời sau được xử lý để cho quả dị thục của nó”? (Tuệ Sỹ).

Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ.

Nhà khoa học cũng bảo: “Có design nhưng không có designer”. Nhưng sao chim bồ câu thì cứ bay ngàn dặm về đưa thư, cá hồi cứ bốn năm lại quay về chốn cũ để sinh đẻ rồi chết? Ngày nay, sinh vật từ hạt đậu đến chuột bọ, khỉ vượn… cũng được can thiệp vào gène để tạo ra những “dị thục” những “quả” bất ngờ, gọi là transgenic.

“Je pense, donc je suis – Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (Descartes). Vậy tôi không tư duy, thì không… có tôi? Phải chăng “vô niệm” thì vô ngã? Trong Tam muội Phổ Hiền (Samadhi) thì quả thấy vô ngã khi tan biến vào vô tướng của Như Lai tạng đó thôi. Cho nên nhìn mọi sự vật bằng cái nhìn Như Thực, cái nhìn “thật tướng vô tướng” thì chân không mà diệu hữu. Từ đó mà lý vô ngại, sự vô ngại, sự sự vô ngại vậy.

Ta cũng có thể bắt chước Descartes nói: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là nếu tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Từ đó, suy ra rằng cái thời tôi… hết thở, ngừng thở, thì tôi vẫn còn đó chứ, sao không? Tôi lúc đó trở lại trong bào thai Mẹ (bào thai Như Lai) chứ? Tôi mới phải mang nghiệp theo để trả quả chứ? …

Tuệ Sỹ nói: Tồn tại trong quá khứ và vị lai là những thực thể vi tế, ẩn áo, không phải tri giác thường nghiệm mà có thể bắt nắm được.

Ta biết ngày nay, thời gian sẽ chảy chậm trong con tàu vũ trụ chạy nhanh. Với một vận tốc nào đó thời gian đứng lại. Cho nên Từ Thức lạc động Thiên thai là chuyện có thực.

Đọc “IM LẶNG, như lời chia tay” của Cao Huy Thuần ảnh 2
Một trang trong “Im lặng như lời chia tay” – Ảnh HĐ chụp lại từ sách

***

Im lặng bông hoa nở. Im lặng bông hoa tàn. Hoa rụng, nhưng mỗi cánh hoa rơi, bao nhiêu chân bướm vẫn còn lưu dấu… Đâu là cách chia tay mà không biệt ly? (Im Lặng). Rồi Cao Huy Thuần dẫn bài thơ Feuille morte (lá chết) của Hermann Hess, tác giả Siddhartha (Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh, Phùng Thăng dịch, Saigon 1966). Anh “phát hiện” một điều thú vị: ngôn ngữ Việt không ai nói “lá chết” mà nói “lá khô”, “lá rụng”. Quét lá rụng, quét lá khô, không ai nói quét lá chết như ngôn ngữ Pháp, Đức. Bởi vì, lá không bao giờ chết. Nó khô, nó rụng, rồi nó tái sinh thành lá búp lá non (Im Lặng).

“Chân lý” ấy do hai con sên của nhà thơ Jacques Prévert trên đường đi dự đám tang một chiếc lá chết, tựa là: “Bài ca hai con sên đi dự đám tang”.

Hai con sên đi đưa

Đám tang chiếc lá chết

Hai cái vỏ thì đen

Hai sừng băng trắng hết…

Hỡi ôi khi chúng đến

Mùa xuân đã đến rồi

Bao nhiêu lá chết xong

Tất cả đều lại sống

Hai bạn sên chúng ta

Ôi buồn ôi thất vọng…

Rồi hai chú sên rủ nhau đi Paris chơi! Mùa hè đã lại đến. Nắng đã rực vàng, tưng bừng ca hát khắp nơi.

Hai chú sên trở về

Với xiết bao cảm xúc

Lòng tràn ngập hân hoan

Và vô biên hạnh phúc…

Ôi, làm sao hai chú sên đi dự đám tang chiếc lá chết buồn xo giữa mùa thu… mà nay lòng lại tràn đầy hân hoan, hạnh phúc? Ấy bởi vì chúng là sên. Chúng “bò như sên”! Bò hết cả mùa đông, chưa kịp đến nơi mà xuân đã về rồi! “Bao nhiêu lá chết xong/ Tất cả đều lại sống…”.

Tiễn mùa thu thì gặp mùa xuân. Tiễn cai chết thì gặp cái sống. Tiễn ảm đạm thì gặp tưng bừng. Hai con sên chia tay mà chẳng biết biệt ly là gì! (Im Lặng)

Cao Huy Thuần nói nhỏ: “chẳng có cả khái niệm”. Phải, chúng chẳng có cả khái niệm. Dĩ nhiên, Cao Huy Thuần đang nói về Kim Cang đó! Khi ta mà biết sống “ly niệm”, khi ta không còn bám chấp vào khái niệm… thì “trí bất đắc hữu vô”, thong dong, tự tại.

Nhớ Huy Cận xưa có 2 câu thơ: Hạnh phúc rất đơn sơ/ Nhịp đời xin bước chậm…

Bước chậm. Chậm như sên càng tốt. Cái tội nghiệp của thời đại này là cái gì cũng tốc độ. Già cũng tốc độ. Để chỉ kịp khi “nhìn lại mình đời đã xanh rêu” (Trịnh Công Sơn).

Hình như có một nhà văn Pháp nào đó nói về chuyện đi bộ (promenade): đi không phải để đến, đi lang thang, dừng lại chỗ này chỗ nọ, ngắm hạt sương mai lấp lánh, nghe tiếng chim hót líu lo, tiếng dế mèn đang gọi người yêu, những cọng cỏ non vươn mình dưới nắng sớm… Thiệt khác với…Marathon!

Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, thì ta cũng có thể nhận ra cái “thiêng liêng” đó anh à, cái thiêng liêng từ “vô tưóng” – trong Như Lai tạng – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà đó thôi.

Trước mắt, hãy nhấp một ly cà phê thiêng liêng buổi sáng đã nhé.

Năm mới. Tháng Giêng. Mồng Một Tết.

Còn nguyên vẹn cả một mùa Xuân…

(Nguyễn Bính).

 

(28 Tết Quý Mão, 2023)

Đỗ Hồng Ngọc/Báo Giác Ngộ

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thích Phước An: GIÓ BẤC CUỐI NĂM

19/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

GIÓ BẤC CUỐI NĂM

Thích Phước An

(Chùa Hải Đức, Nha Trang)

 

Trong một lá thư viết cách đây hơn một năm (2021) gởi cho bác sĩ, nhà thơ

Đỗ Hồng Ngọc, GS Cao Huy Thuần đã nhắc đến Mark Epstein, là một bác sĩ

nổi tiếng của Mỹ, đã từng cộng tác trong ngành chuyên môn về phân tâm học

với Freud với Jung. Từ môi trường này, Epstein đã bắt gặp được tư tưởng Phật giáo,

ông say mê Phật giáo đến độ phải lặn lội qua Tây Tạng để học Phật. Và rồi cuối cùng

ông đã nổi tiếng cả hai, nghĩa là vừa là một bác sĩ giỏi lại vừa là một nhà Phật học uyên thâm,

và Giáo sư Cao Huy Thuần đã cho rằng, việc đó chẳng có gì lạ,

vì theo lời ông “Đức Phật của chúng ta đã chẳng phải là một thầy thuốc đó hay sao?”

Nhưng vì sao Đức Phật lại được tôn xưng là Y Vương? Và Ngài đã có

phương thuốc gì hay để chữa bệnh cho chúng sanh mà một thầy thuốc lỗi lạc như

Epstein phải rời thế giới văn minh tiến bộ của Tây Phương để lặn lội đến Tây

Tạng, một quốc gia sống biệt lập trên núi cao nhất thế giới, và gần như không bận

tậm gì mấy đến nền văn minh hiện đại của nhân loại để nghiên cứu Phật Giáo?

“Thầy thuốc chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được cái

bệnh mà không chữa được cái hoạn.

Phật là bậc Y Vương, giúp chúng sanh giải thoát mọi khổ đau, ách nạn.

Tại sao ta không học Phật?”

Đó là lời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc được đặt trang trọng nơi trang đầu của tác

phẩm, có đầu đề rất khiêm tốn là Tôi Học Phật, dày khoảng 800 trang.

Chính vì thế, chúng ta thấy trong các bộ kinh Đại Thừa thì bác sĩ Đỗ Hồng

Ngọc có vẻ đã say mê nhất là Kinh Kim Cang. Vì sao? Nơi trang 211 tác phầm Tôi Học

Phật, bác sĩ đồng thời cũng là nhà nghiên cứu Phật học đã cho biết lý do vì sao ông

lại say mê Kinh Kim Cang:

“Hơn 2600 năm trước, Tu Bồ Đề – một đại đệ tử của Đức Phật , người “Giải

Không Đệ Nhất” đã đặt một câu hỏi có lẽ còn vang vọng đến ngày nay, giữa thời

đại toàn cầu hóa, thế giới phẳng này “Làm thế nào để an trụ tâm? Làm thế nào để

hàng phục tâm?” (Vân hà ưng trụ, Vân hà hàng phục kỳ tâm?) và câu trả lời của

Đức Phật hết sức giản dị “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là “ Đừng có trụ

vào đâu cả mà sanh cái tâm”

Trong Kinh Trung A Hàm, một bộ kinh quan trọng của Phật giáo Nguyên Thủy,

Đức Phật cũng đã giải thích rõ ràng hơn cho các các Tỳ Kheo – đệ tử của Ngài về

cách an trụ và hàng phục cái Tâm:

“Này các Tỳ Kheo, Tâm dẫn thế gian đi, Tâm bị nhiễm trước, Tâm sinh khởi mà tự

tại. Này các Tỳ Kheo, chính nó dẫn thế gian đi, chính nó làm nhiễm trước và cũng

chính nó khởi tự tại. Này các Tỳ Kheo, Đa Văn Thánh đệ tử không để Tâm dẫn đi,

không để Tâm nhiễm trước, không để Tâm tự tại. Này các Tỳ Kheo, không vâng

theo sự tự tại của Tâm mà Tâm tùy theo tự tại của Đa Văn Thánh đệ tử.”

Không còn hồ nghi gì nữa, chính cái nghề thầy thuốc đã ảnh hưởng sâu sắc

đến việc nghiên cứu Phật học của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, và chính ông cũng đã thừa

nhận như vậy, nơi trang 215 trong bài Vận Dụng Kinh Kim Cang “là một thầy

thuốc, tôi đâu dám lạm bàn những chuyện “thậm thâm vi diệu khác” – nghĩa là ông

chỉ muốn mọi người đọc ông rồi đem áp dụng vào đời sống hàng ngày, như chính

bản thân ông cũng đã làm như vậy để khởi đầu “ hàng phục” cái Tâm của mình,

như bài thơ có tên là Thiền Tập ông đã cho chúng ta biết :

Thả lòng toàn thân / Như treo móc áo / Ngồi xếp bằng tròn / Vai nghiêng lưng sổ /

Dõi theo hơi thở / Như mượn từ xa / Khi vào khi ra / Khi sâu khi cạn

Nhà thơ khuyên chúng ta cứ nỗ lực như vậy, một lúc nào đó sẽ đạt được kết quả:

Thân tâm thanh tịnh / Không còn ý tưởng / Chằng có thời gian / Hạt bụi lang

thang / Dính vào hơi thở / Duyên sinh vô ngã / Ngũ uẩn giai không / Từ đó thong dong/ Thỏng tay vào chợ.

 

Trong lời ngỏ mở đầu cho tác phẩm của mình, Đỗ Hồng Ngọc đã cho biết lý

do tại sao ông phải học Phật, và đặt biệt là vì sao ông phải bỏ thời gian, công sức

ngồi ghi lại những cảm xúc của bản thân về Phật học, vì theo tác giả “thuốc men

chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên

ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa lớp lớp bên trong”. Trong khi đó,

theo Đỗ Hồng Ngọc “thời đại của chúng ta , con người dùng khối óc quá nhiều,

nhiều đến nỗi người ta luôn luôn ở trong tình trạng “muốn điên cái đầu”, và thực

vậy bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử , ma túy, stress,… ngày càng gia tăng

trong xã hội mà người ta luôn luôn bị quay cuồng, luôn luôn chạy đua với tốc độ,

tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt… Có lẽ đã đến lúc nghe lại tiếng nói của trái tim.

Tác giả Tôi Học Phật không quên nhắc lại bài thơ nổi tiếng của Quách Thoại

ở đầu thế kỷ XX, một hôm bất chợt nghe được “lời em ca thiên thu” từ một bông

hoa dại đứng bên bờ rào đã khiến cho thi nhân phải sụp lạy cúi đầu. Theo tác giả

Tôi Học Phật, lời ca đó không phải phát xuất từ bông hoa vô tri, vô giác của đóa

hoa kia, mà nó đã được phát ra từ trái tim sâu thẳm của thi nhân.

Tập sách nghiên cứu về Phật học của ông cũng như vậy, ông đơn giản chỉ muốn

giúp chúng ta nghe lại tiếng hát thiên thu từ trái tim mà từ lâu ta đã vô tình đánh

mất giữa một xã hội chỉ biết đề cao khối óc, nghĩa là chỉ biết tính toán hơn thua mà

thôi .

Từ tiếng thở dài xót xa của ông đối với thời đại ông đang sống, thời đại của

khối óc mà bỏ quên trái tim yêu thương đó, khiến tôi chợt nhớ lại những bài thơ

mà Đỗ Hồng Ngọc đã sáng tác vào khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, lúc ông

còn trẻ, còn hoài bão nhiều cho quê hương đất nước. Ở đây tôi chỉ đề cập đến Quê

Nhà, nơi ông đã chào đời mà thôi :

 

Anh thương nhớ quá làm sao nói

Gọi tên em vang động gốc cây già

(Quê Nhà)

 

Thi nhân ngậm ngùi nhớ lại những mùa xuân của tuổi thơ mà bây giờ đã quá xa

xôi:

 

Mùa Xuân mừng tuổi thơm tho áo 

Nắng cũng vàng phai ngày cũng xa

(Quê Nhà)

 

Khi xuân về Tết đến thì bông cúc, bông mai được trưng bày rực rỡ nơi các thành

phố giàu sang như Sài Gòn chẳng hạn, vậy mà tuyệt nhiên nhà thơ của chúng ta

không hề thấy Tết:

 

Đi giữa Sài Gòn

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

(Gió Bấc)

 

Chỉ khi được trở lại quê nhà, nghe được gió Bấc thổi thì đối với ông mới thực sự

thấy được cái hồn của Tết :

 

Một sáng về quê

Chợt nghe gió Bấc

Ô hay Xuân về

Vỡ òa ngực biếc

(Gió Bấc)

 

Bởi vậy, cứ đến những ngày cuối tháng Chạp thì thi nhân chúng ta lại náo

nức muốn bỏ lại phố phường chật chội sau lưng lên đường trở về lại quê nhà. Nơi

đó có ngọn gió Bấc của mùa Xuân đang thổi như chờ đợi người con xa xứ:

 

Hình như gió Bấc lùa trong Tết

Những chuyến xe đò giục bước chân

 

(Mũi Né)

 

Chắc chắn có nhiều người ngạc nhiên, tại sao một bác sĩ có đời sống khuôn

thước, mẫu mực như Đỗ Hồng Ngọc mà lại có thể trở thành một nhà thơ? Điều này

đã được ông tâm sự với Ngô Nguyên Nghiễm trong tác phẩm Đồng Hành Cùng

Tôi xuất bản năm 2010. Xin được trích ra đây như lời kết cho bài viết ngắn này:

 

“Ai bảo Y khoa là cái Thực và thi ca là cái Huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là

nghệ thuật! Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã rung cảm đến tận tâm cang

đó sao.”

 

(TPA)

Nha Trang, những ngày cuối năm 2022

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Minh Anh: “Mời người lên xe, về miền quá khứ…”   

09/01/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Mời người lên xe, về miền quá khứ…

 NGƯỜI ĐÔ THỊ:  11:54 | Thứ hai, 09/01/2023

https://nguoidothi.net.vn/moi-nguoi-len-xe-ve-mien-qua-khu-38056.html

Minh Anh

Đỗ Hồng Ngọc dành ra nhiều trang viết về những văn – nghệ sĩ đã lui từ lâu vào trong quá khứ, và việc ông làm như đang phủi đi lớp bụi trần gian, để làm lộ ra một thứ “vàng mười” như đúng bản chất…

Độc giả trong nước chắc hẳn đã từng quen thuộc với bác sĩ, nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc qua số lượng tác phẩm đồ sộ. Mới đây ông đã giới thiệu tập ghi chép – chân dung về những “người hiền” của nền văn chương, thi ca, nghệ thuật nước nhà, mang tên “Áo xưa dù nhàu…”

Mượn một câu hát từ bài Hạ Trắng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Áo xưa dù nhàu/ Cũng xin bạc đầu/ Gọi mãi tên nhau…”, đây là tác phẩm điểm lại, cũng như “ôn cố tri tân” những gương mặt cũ, không chỉ của mỗi tác giả mà còn là của rất nhiều thế hệ người đọc. Có người đã khuất, có người còn đó, tựu trung lại một cuộc hành trình “gọi mãi tên nhau”.

Gồm 18 chân dung văn học trải dài từ Nguyễn Hiến Lê, Quách Tấn, Trần Văn Khê cho đến Trang Thế Hy, Cao Huy Thuần, Du Tử Lê… Đỗ Hồng Ngọc có cách ghi chép rất riêng, khai thác được những khía cạnh mà trước đến nay độc giả rất ít nhận thấy, và cũng phần nào mang tính chuyên môn của ông. Đó là, như một câu giễu trong bài Để người quân tử… hò ơ… về Nguyễn Hiến Lê, là cách phê bình “bệnh-lý-học”.

Những người thầy đầu tiên

Trong tập sách này, một Nguyễn Hiến Lê nặng lòng với Hà Nội, với sắc nước hương trời, với sương lam nhè nhẹ… đã được hiện ra. Ngoài cương vị là một học giả, Đỗ Hồng Ngọc cũng chia sẻ lại những trải nghiệm của mình khi được “đồng hành” cùng ông, lấy hình bóng ông làm động lực chính cho con đường sự nghiệp của mình.

Bác sĩ, nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc.

Một gương mặt khác cũng đóng góp thành công lớn cho tác giả là Ngu Í Nguiễn hay Nguyễn Hữu Ngư. Nếu trong tác phẩm gần đây của Nguyễn Trương Quý người ta biết ông cũng từng có thời hoạt động sôi nổi với Lưu Hữu Phước cũng như nhóm Hoàng Mai Lưu, thì trong bài Người điên thứ thiệt, một nhà thơ “điên” với những tiếng thét uất hận, cõi lòng thổn thức và nhiều hờn căm đã được kể ra.

Cả hai chân dung đều là những người nặng lòng cùng với nghệ thuật. Bên cạnh khát khao “toàn tâm toàn lực cung cấp món ăn tinh thần cho bạn đọc”, Đỗ Hồng Ngọc cũng tiết lộ rằng với Nguyễn Hiến Lê thì “trước tác đã được xây dựng một phần trên bệnh tật của ông”, đó là căn bệnh dạ dày kinh niên liên tục tái đi tái lại, để từ đó ta thêm yêu quý một con người lớn của văn hóa nước nhà.

Những câu chuyện vãn, các chuyện “trà dư tửu hậu” cũng được ông kể vô cùng gần gũi và lắm chân thành. Đó là một Trang Thế Hy – “ông già khó tính”, “người tình thoáng chốc của văn chương”, nhưng khi đến nhà trong bộ pyjama vẫn nói với nhau về Francoise Sagan, về Cao Hành Kiện.

Đó cũng còn là họa sĩ Dương Cẩm Chương, hậu duệ của nhà yêu nước Dương Bá Trạc và “định mệnh” có phần tương đồng với chính tác giả, khi y nghiệp gắn liền học nghiệp và còn nuôi mãi khát vọng vươn tới cái đẹp thanh cao.

Hành trình tìm lại

Đỗ Hồng Ngọc cũng dành ra nhiều trang viết về những văn – nghệ sĩ đã lui từ lâu vào trong quá khứ, và việc ông làm như đang phủi đi lớp bụi trần gian, để làm lộ ra một thứ “vàng mười” như đúng bản chất. Đó là Võ Hồng, nhà văn mà mỗi lần đọc lại thấy lòng lành hẳn ra. Đó là con người với nỗi “cô đơn uy nghi”, cũng như thi sĩ Quách Tấn, người giờ đã quên những chuyện mới đây, nhưng vẫn ghi khắc lại những chuyện xưa cũ, với tính kỹ càng cũng như nghiêm khắc trong sáng tạo văn chương.

Ông cũng mải miết đi tìm những chân dung khác, những người từ bỏ hào quang để lùi vào sâu trang viết của mình. Đó là nhà thơ Huyền Chi – người đứng đằng sau bài ca phổ thơ Thuyền viễn xứ của Phạm Duy và lý do vì sao bà chưa một lần thật sự xuất hiện ra trước công chúng. Đó cũng là “nhà thơ” Võ Phiến, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn hay Cao Huy Thuần… những người mà nghệ thuật viết đã hòa cùng với thiền học, làm nên tác phẩm có nhiều chiều sâu.

Đó cũng là chân dung khác, như cuộc gặp gỡ giáo sư Trần Văn Khê ở tận nước Pháp, với dáng vẻ tự nhiên, nếp sống mộc mạc và đầy chân tình. Ở căn chung cư trên tầng 9 ấy, dù bị bao vây bởi đủ thứ bệnh nhưng ông vẫn đầy xúc cảm.

Và bởi chỉ có “tình thương để lại đời”, nên những nhà thơ như Tôn Nữ Hỷ Khương hay Khánh Minh cũng đã xuất hiện trong tập sách này, với thơ cũng như hơi thở, không cố gắng, không lên gân, không chứng tỏ, không màu mè…

Bìa cuốn Áo xưa dù nhàu…


Đỗ Hồng Ngọc với tính hóm hỉnh cũng kể những chuyện vô cùng thú vị, như cố “giải chữ” của Phạm Thiên Thư, hay tìm một Huy Cận khác trong cuộc gặp gỡ tình cờ. Rốt cuộc thì “tha” trong câu “Mười con hạc trắng về tha” là có nghĩa gì? Và liệu ta có bao giờ biết đến có một Huy Cận có lúc bẽn lẽn, có lúc quạu quọ nhưng cũng là một con người hoàn toàn khác biệt mỗi khi bình thơ, đắm mình vào trong dòng chảy thơ ca?

Những ghi chép của Đỗ Hồng Ngọc chứa đựng cả bầu thương mến dành cho người hiền trong cõi đời này. Đó là những câu chữ gần gũi mà không thiếu đi những cảm xúc riêng. Đọc Đỗ Hồng Ngọc ta còn u sầu bởi mùa thu Boston, với bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư là dùng để nghe, hay để thấy Du Tử Lê trong nhiều dáng vẻ, từ hoang mang, khắc khoải cho đến mềm yếu, đam mê và rất lãng mạn.

Tập sách cũng chứa đựng nhiều những tư liệu quý, là những bức ảnh, là những bức họa được ký họa nhanh đôi khi trên mẫu giấy ăn, đôi khi trên chiếc phong bì… nhưng lại có đủ chiều sâu để ta nhìn thấy những “con người cũ” trong góc nhìn mới, riêng tư hơn nhưng cũng độc đáo hơn.

Với Áo xưa dù nhàu…, tác giả Đỗ Hồng Ngọc đã đưa chúng ta “đi lại từ đầu” trong cuộc gặp gỡ với những yếu nhân, những con người lớn của đất nước mình. Từ đó có những câu chuyện, có những bài học cùng nhiều triết lý giản đơn trong cuộc đời này. Bởi đời như một “chiếc lá thu phai”, nên hãy thả mình để “thu xếp lại” và rồi để còn “gọi mãi tên nhau”.

Minh Anh

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

“ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

13/12/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

“ÁO XƯA DÙ NHÀU…”

ĐỖ HỒNG NGỌC

 

“ÁO XƯA DÙ NHÀU…”
Đỗ Hồng Ngọc
(tháng 12.2022)

 

Đỗ Hồng Ngọc với Áo xưa dù nhàu…

Trần Thị Nguyệt Mai

 

Được biết những năm sau này, tác giả Đỗ Hồng Ngọc chọn “về thu xếp lại” khi một “chiều hôm thức dậy / ngồi ôm tóc dài / chập chờn lau trắng trong tay”.[1]

Áo xưa dù nhàu… là tựa tác phẩm mới nhất của ông do Phanbook xuất bản với mười tám chân dung:

 

  1. Nguyễn Hiến Lê, “… để cho người quân tử… hò ơ…”
  2. Võ Hồng, “nỗi cô đơn uy nghi”
  3. Cậu tôi, Ông Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, “người điên thứ thiệt”
  4. Giáo Sư Trần Văn Khê, “Đời thường…”
  5. Dương Cẩm Chương, “Kẻ lữ hành không mệt mỏi của đường dài”
  6. Thăm nhà văn Trang Thế Hy “… thì cứ hỏi cuộc đời”
  7. Thi sĩ Quách Tấn, “đọng bóng chiều”
  8. Gặp gỡ với Nhà thơ Huyền Chi của Thuyền viễn xứ
  9. Tôn Nữ Hỷ Khương, “Chỉ có tình thương để lại đời”
  10. Phạm Thiên Thư, “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân”
  11. Nhớ Tiếng thu giữa Boston
  12. Một hôm, “có chàng Huy Cận”
  13. Võ Phiến, “Cuối cùng là sự Mộc mạc”
  14. Nguyễn Bắc Sơn… “Thy Đạo”
  15. Trần Vấn Lệ “may mà còn nhớ thương”
  16. Du Tử Lê “tung cánh vàng xưa hạc vút bay”
  17. Khánh Minh “còn chút để dành”
  18. Cao Huy Thuần, “Người khuân đá”

 

Ngoài là bác sĩ, Đỗ Hồng Ngọc còn là một nhà thơ (Đỗ Nghê), một họa sĩ của những bức ký họa được bạn bè yêu thích. Nên những chân dung được ông “vẽ” lại theo cách rất riêng không giống với một ai (unique), bằng đôi mắt của người thầy thuốc yêu nghề, chọn lọc những góc cạnh độc đáo của họa sĩ và trải lòng với tâm cảm của nhà thơ, nên có những bài viết đẹp như thơ mà “Nhớ Tiếng thu giữa Boston” là một.

 

Với học giả Nguyễn Hiến Lê, người đã viết nên những tác phẩm “kinh điển” làm kim chỉ nam cho tác giả từ thuở thiếu niên (Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Rèn nghị lực…) thì “Các nhà phê bình sau này nhắc đến sự nghiệp ông mà quên không nói đến sức khỏe ông là một điều thiếu sót lớn! Thực không ai ngờ rằng một người viết hàng trăm tác phẩm như vậy lại là một người đau yếu liên miên… Nhiều lúc tôi ngờ rằng sự nghiệp trước tác của ông một phần xây dựng từ những bệnh tật của ông. Mắc bệnh đau bao tử, một thứ bệnh đòi hỏi phải sống, phải làm việc có tiết độ, ông chú trọng nhiều đến tổ chức, viết Tổ chức công việc theo khoa học, Tổ chức gia đình, v.v… Để có thể tự chữa thứ bệnh tâm thể (Psychosomatique) đó của mình, ông viết Sống 365 ngày một năm, Sống theo sở thích, Chấp nhận cuộc đời, v.v… Những lúc buồn phiền, lo lắng, ông viết Quẳng gánh lo đi, Trút nỗi sợ đi, Xây dựng hạnh phúc… Những lúc bệnh bớt, thấy khỏe khoắn, hăng hái trở lại, ông viết Thẳng tiến trên đường đời, Tương lai trong tay ta… Và khi mệt mỏi, căng thẳng ông xả hơi bằng Tô Đông Pha, Sống Đẹp…”.

Nhà văn Võ Hồng được ông diễn tả: “Quạnh hiu. Hoang vắng. Cô đơn. Không muốn ‘độc cư’ mà thành độc cư. Với một tâm hồn vô cùng nhạy cảm, ông héo hắt dần với tháng năm”.

Còn “Jáo sư, kí jả kông chuiên ngiệb” (Giáo sư, ký giả không chuyên nghiệp, theo danh thiếp, viết bằng lối chữ của ông) Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư, là cậu và cũng là người đã đưa tác giả lần đầu tiên đến trường học: “Tôi thấy cậu ốm nhom, tóc hớt ngắn, quần rộng thùng thình, sơ-mi sạch sẽ nhưng nhàu nhè, chỉ có đôi mắt là sáng rực sau cặp kiếng cận tròn, gọng đồi mồi. Bộ ria mép che bớt cái miệng với hàm răng hơi hô, nhưng nhờ hay cười nên cũng có duyên, mũi hơi quặp, chịu đựng cặp mắt kiếng khá nặng, tay thì ôm một chồng sách báo, đi nghiêng nghiêng tất tả”.

Giáo sư Trần Văn Khê khi 89 tuổi: “Ông hãy còn rất trẻ, nhiệt tình, năng động và làm việc không ngừng. Ông nói ông vẫn luôn rung động trước ‘cái đẹp’. Tôi chắc ông hẳn tủm tỉm cười, bắt chước Nguyễn Công Trứ: ‘Bảy mươi năm trước, qua mới… mười chín tuổi!’. Bởi ông vẫn nói cười rổn rảng, trí nhớ vẫn tuyệt vời, sẵn sàng bay đi khắp nơi để thuyết trình, để ca hát, để ngâm thơ… Thực ra thì ông có đủ các thứ bệnh trên đời, nhưng ông biết sống chung ‘hòa hợp’ với nó. Nào phổi, nào thận, nào tim, nào huyết áp, nào khớp, nào tiểu đường… thứ nào cũng có, từ hồi còn nhỏ đến bây giờ. Bệnh tật sống chung với ông làm như hai bên dựa vào nhau, cộng sinh với nhau để ‘hai bên cùng hưởng lợi’! Tôi tưởng các nhà y học có thể làm một nghiên cứu về ông, để biết thế nào là chất lượng cuộc sống của một bệnh nhân. Có lẽ nó khác xa với cách đánh giá của thầy thuốc nếu chỉ dựa vào các xét nghiệm vô hồn!”

Viết về bác sĩ / họa sĩ Dương Cẩm Chương, “Ông vẫn miệt mài đi, miệt mài vẽ, vẫn viết thư và vẫn làm thơ ở tuổi 93 như thế. Sức khỏe vẫn dẻo dai. Trí nhớ vẫn tuyệt vời. Thật lạ lùng! Như không hề có tuổi. Trái tim vẫn luôn xao động, luôn đắm đuối, say mê, luôn yêu người, yêu đời, yêu thiên nhiên”.

Còn nhà văn Trang Thế Hy thì “Ốm nhom ốm nhách trong bộ pyjama lụa lùng nhùng đặc sệt Nam bộ. Tóc bạc lênh đênh chuồi về phía sau, dồn cái trán rộng về phía trước, miệng móm mém, mũi cao, thẳng, mắt sâu và sắc như một thiền sư khổ hạnh”. Đặc biệt cách ông hút thuốc, “Nhưng lần này tôi bỗng thấy mê một người hút thuốc lá. Mê thiệt. Thấy cái cách ông ngậm điếu thuốc chếch qua một bên khóe miệng, thấy cái cách ông khum khum đôi bàn tay ấp ủ ngọn lửa như một bông hoa tự dưng thấy lòng xao xuyến. Một người gần 90 tuổi, ghiền thuốc lá từ ngày còn trẻ, ngồi bên cạnh mình, nhẹ nhàng rút một điếu, nâng niu đưa lên miệng, rồi ân cần xoay xoay chiếc hộp quẹt trong tay chuẩn bị bật lửa… có cái gì đó như một nghi lễ tôn giáo, khiến tôi chỉ biết ngồi im, lặng ngắm, không dám hó hé”.

Tả nhà thơ Quách Tấn, “Cái gọng kính trễ xuống sống mũi, đôi mắt sâu sâu như cũng mỉm cười sau hai lưỡng quyền cao, nhưng chưa cao bằng cái trán rộng và càng rộng nhờ cái đầu sói, tóc điểm sương”.

Còn với nhà thơ Huyền Chi, “Cô đẹp quá. Sao thời đó, một người phụ nữ 7 con, 35 tuổi mà dịu dàng, đoan trang, tươi mát đến vậy, khiến ngay cả nhà văn Nguyễn Đông Thức cũng kêu lên: ‘Giá mà hồi đó, sanh sớm nửa thế kỷ được gặp cô cũng không thể không mê!’”.

Đặc biệt với Nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, không một lời tả nhan sắc, nhưng tác giả đã dùng chính thơ của cô để thể hiện (thơ là người, có phải vậy không?):

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui / Chuyện đời như nước chảy hoa trôi / Lợi danh như bóng mây chìm nổi / Chỉ có tình thương để lại đời…”.

Ta có thể hình dung đó là người có nụ cười tịnh lạc, tình yêu thương luôn rộng mở với tha nhân.

***

Nhưng tôi thích nhất ông diễn tả nhà thơ Huy Cận. Khi mới gặp thì: “Bảy giờ rưỡi tối, cậu Lê Phương Chi đến với một ông già lùn mập, trông giống như Bất Giới hòa thượng, ì ạch leo lên cầu thang”. Đến khi được hỏi, “Huy Cận biết yêu vào lúc mấy tuổi”: “Một ông già Tết này đã 78, bụ bẫm, tay chân ngắn ngủn, mũi hỉnh, trán dẹt, môi dưới dài hơn môi trên, tóc lưa thưa bạc, cổ có nọng, bụng to quá cỡ, quần chật cứng, túi phình như con cá phồng mang, thắt cái cà vạt hơi chật, to bản, đánh một vòng cung quanh bụng, ngồi dựa ngửa trên ghế salon không thoải mái lắm. Ông phì cười vì câu hỏi ngộ nghĩnh của Lê Phương Chi. Và nụ cười làm ông bỗng có vẻ gì trẻ thơ ngơ ngác như chàng Huy Cận thuở nào. Tôi chăm chú nghe. “Đâu hồi tám tuổi”, ông nói. “Tám tuổi à?”. “Phải, nhưng đó chỉ là mối tình bâng quơ thôi mà”. “Nhưng người đó là ai vậy? Bây giờ người đó ở đâu?”. Lê Phương Chi tấn công tới tấp. “À, một cô gái quê, ở nông thôn…”. Tôi lại giật mình nghe Lê Phương Chi hỏi: “À, còn mối tình của Huy Cận và Xuân Diệu? Có phải là…”. “Không không, Tô Hoài viết bậy đó”. Huy Cận có vẻ quạu. “Tôi với Xuân Diệu là tình bạn thân thiết, không phải tình trai, đồng tính luyến ái chi đâu”. Tôi lại quan sát ông. Cái ông già cũng ngộ. Lúc bẽn lẽn, lúc quạu quọ khá dễ thương dù ngó bên ngoài thấy ông giống Bất Giới hòa thượng, nhưng trong ông như lại có Nghi Lâm tiểu sư muội.” Rồi khi đọc bài thơ Huế ơi của Đỗ Nghê, “ông lại ư ử. Hay. Câu này hay. ‘Một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người’… ‘Một ngày Vỹ Dạ trăng soi, một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người’. Ngày thì trăng không soi được rồi, mà tại sao lại biếc người? Không phải chỉ là cái quán cà phê bên dòng nước xanh um bóng cây kia mà chính là, à phải rồi, chính là con thuyền ai đó có ‘chở trăng về kịp tối nay’ và vườn của ai kia lá có còn mướt ‘xanh như ngọc’. Vâng, xanh nên biếc và người nên ngọc. Ông Huy Cận này ghê thiệt. Quả là danh bất hư truyền. Ông đọc và cảm nhận thơ tinh tế không thể tưởng. Mới vừa thấy ông là Bất Giới hòa thượng đó bỗng đã thành Nghi Lâm tiểu sư muội, rồi bây giờ lại là Lệnh Hồ huynh đệ, chỉ dùng kiếm ý mà không cần kiếm chiêu”.

***

Rồi còn có biết bao điều được tác giả chia sẻ rất thú vị.

Chẳng hạn: “Phong thái ông (Nguyễn Hiến Lê) là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn… Ông không thích đổi thay… Quen biết ông mới thấy ít có ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông ‘thao thao bất tuyệt’ thì cứ việc nói đến tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai”.

Hay “Cuộc đời cậu (Nguiễn Ngu Í) nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có những đợt cậu nằm Dưỡng trí viện Biên Hòa dài ngày, tưởng đã không qua khỏi. Có lần cậu nằm giữa xa lộ cho xe Mỹ cán, nhưng xe chở thẳng vào Biên Hòa. Có lần trốn viện, bắt đom đóm làm đèn đi trong đêm vì thời điểm giới nghiêm. Cậu làm thơ thật nhanh, thật dễ dàng ngay trong lúc lên cơn. Cậu chủ biên tập Thơ điên thứ thiệt như để phản đối những người giả điên thời đó. Rồi xuất bản tập Qê hương để nói về quê mẹ và nơi chôn nhau cắt rún của mình ở Tam Tân…”. Với mong muốn lúc rời khỏi cõi đời: “Cậu ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục lủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để cậu được nhìn trời mây nước cho thỏa thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho ‘Ngư về với Cá’.”

Hoặc thi sĩ Quách Tấn chia sẻ: “Nhiều bài tôi ấp ủ hằng chục năm. Bài Đêm khuya nghe quạ kêu 12 năm, bài Ấp ủ 15 năm. Trong một bài mà có một chữ không đạt là tôi bỏ. Tản Đà có lần định sửa một chữ trong một bài thơ của tôi mà không tìm ra chữ nào ổn, trong ba năm, đành thôi… Tôi dịch thơ chữ Hớn của Nguyễn Du và Thái Thuận, thi sĩ đời Lê Thánh Tôn… Có ai ngờ là Nguyễn Du đã từng sống lữ thực hằng chục năm? Có ai ngờ con Nguyễn Du đói, Nguyễn Du đau trong nhiều năm mà không có thuốc men? Ngay cả vấn đề Nguyễn Du có phải là trung thần của nhà Lê không cũng cần phải đặt lại. Những điều này trong các tập thơ chữ Hớn của ông có nói rõ. Về Nguyễn Trãi và Thái Thuận cũng có lắm điều lý thú bất ngờ”.

Đặc biệt, Nhà văn Trang Thế Hy nói về “tóc bánh bèo” (mà có lẽ ngày nay hiếm người biết) trong bài thơ Đắng và Ngọt thật cảm động của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với tựa Quán bên đường: “‘À, mà ‘tóc bánh bèo’ là tóc làm sao anh Tư? Có phải ba vá không?’. ‘Không, không phải ba vá. Tóc bánh bèo, này Tùng’ – ông bỗng gọi – ‘Tùng biết tóc bánh bèo không?’ Tùng nói: ‘Dạ có phải cạo trọc, để lại một chùm đằng sau ót, tròn tròn…’. Ông cầm cái chén lên, vo vo theo miệng chén bảo: ‘Đúng rồi, cạo trọc, để lại một miếng tròn như vầy, nhưng ở giữa phải có một chùm tóc như cái nhưn bánh bèo vậy!’”.

***

Nơi đây chỉ xin chỉ trích một số ít chân dung và chia sẻ để bạn còn tự khám phá khi đọc sách. “Mai sau dù có bao giờ…” vẫn sẽ còn đây những kỷ niệm của một thời. Như trong bài Hạ trắng của Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly thật da diết: ‘Đời xin có nhau / Dài cho mãi sau / Nắng không gọi sầu / Áo xưa dù nhàu / Cũng xin bạc đầu / Gọi mãi tên nhau…’. Vâng, một ngày áo không còn thẳng nếp, vạn vật đổi thay, nhớ thuở xưa xa, vẫn mong “của tin gọi một chút này làm ghi”…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

Đầu Thu – 03/10/2022

[1] Trịnh Công Sơn – Chiếc lá thu phai.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Nếu không ra ngoài được thì hãy đi… vào trong

11/12/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Nếu không ra ngoài được thì hãy đi… vào trong

THANH HƯƠNG
Báo Lao Động Cuối Tuần
Chủ nhật, 11/12/2022 08:04 (GMT+7)
https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/neu-khong-ra-ngoai-duoc-thi-hay-di-vao-trong-1125524.ldo
***
Trong cuốn sách “Buông”, ngoài những trải nghiệm về chuyện học Phật của bản thân, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn chia sẻ với độc giả về vai trò của thiền định như là phương tiện rốt ráo giúp mọi người biết “dừng lại”, “thôi đi”, giúp ta nhận ra những “điên đảo mộng tưởng”, để từ đó biết sống cân bằng hơn, có sức khỏe tốt hơn, thảnh thơi và hạnh phúc hơn.
Nếu không ra ngoài được thì hãy đi... vào trong
Tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Ảnh: Nhật vật cung cấp

Trong đời sống thường ngày, chúng ta cũng có thể có những phút “giác ngộ” – đời là vô thường, là bóng câu qua cửa sổ, là bọt bèo, là giấc mộng… Nhưng ta chỉ giật mình “ngộ” một chút rồi quên, rồi “trôi lăn” theo những tham sân si, những quấn quýt chằng chịt vô cùng hấp dẫn không sao thoát nổi.

Một góc nhìn hài hước, độc đáo của Đỗ Hồng Ngọc

Trong bức thư Giáo sư Cao Huy Thuần gửi cho tác giả Đỗ Hồng Ngọc trích ở đầu tác phẩm “Buông” có viết: “Tiên học Phật, hậu học cái gì cũng được…”. Nhận xét hóm hỉnh này đã khái quát tinh thần chung của cả cuốn sách, đó chính là tâm an lạc là điều thiết yếu cần phải có trước tiên, những cái khác tự khắc sẽ đến sau.

Với “Buông”, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã giải thích ngắn gọn những vấn đề phức tạp bằng cách tiếp cận hài hước, dí dỏm nhưng đem lại cho người đọc nhiều bất ngờ. Điều này thể hiện rõ nhất qua bài thơ viết ngay đầu sách là “Biết rồi còn hỏi!”:

“Tôi ngồi trước tượng Phật

Viết lăng nhăng mỗi ngày

Để khi nào bí thì hỏi 

Phật tủm tỉm cười

Biết rồi còn hỏi!”

Chỉ với 5 câu thơ ngắn gọn, trực tiếp vào thẳng vấn đề, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã có thể gửi gắm một thông điệp rất ý nghĩa là: Câu trả lời đã có sẵn trong mỗi người, không phải ở một đấng tối cao nào. “Viết lăng nhăng” ở đây không phải là xem nhẹ những gì mình viết mà là không đặt nặng những vấn đề bên lề, những kết quả hay hào quang có thể đến từ việc viết. Viết không phải để làm việc. Viết là để vui, cũng như bất cứ hoạt động an dưỡng tinh thần nào khác.

Dung lượng ngắn gọn, truyền tải được nhiều thông điệp ý nghĩa

Cũng trong bài thơ “Biết rồi còn hỏi!” ở ngay khổ tiếp theo, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn nhìn thấy một vấn đề phổ quát khác vốn là nguyên cớ gây ra cơn phiền muộn cho nhiều người. Với góc nhìn độc đáo, ông nhận ra bài học cuộc đời ở ngay chính tấm biển hiệu mà có lẽ nhiều người qua đường chẳng mấy ai chú ý:

“Sáng ra đường phố

Từng bước như đi dạo

Không thấy nở hoa sen

Ngước mắt nhìn lên

Một tấm biển to chữ đỏ

Đồ ngu cao cấp

Cửa hàng Fashion

Rơi dấu hỏi…” 

Phát hiện này của ông có thể khiến người đọc dễ dàng bật cười nhưng đồng thời cũng nhận ra được thông điệp ngầm ẩn rằng: Vật chất chỉ là chuyện phù du. Tất cả những bài viết còn lại trong “Buông” cũng đều ngắn gọn như thế với tinh thần “ý tại ngôn ngoại” vốn kiệm lời của thiền.

Do đó, dù “Buông” là tập hợp 15 bài viết xen kẽ thơ của tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, nhưng sách tổng cộng chỉ có 141 trang, thích hợp cho cả người bận rộn đọc giữa những khoảng thời gian nhàn rỗi hiếm hoi.

Sách “Buông” do Nhà xuất bản Thế giới và Phương Nam Book liên kết phát hành. Ảnh: Phương Nam Book

Sách “Buông” do Nhà xuất bản Thế giới và Phương Nam Book liên kết phát hành. Ảnh: Phương Nam Book

Cách tiếp cận đa dạng về thiền

Ở tác phẩm “Buông”, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng có một bài viết ghi lại những suy tư vào thời kỳ dịch bệnh căng thẳng trong năm vừa qua. Trước tình cảnh không thể đi ra ngoài vì giãn cách, ông điềm nhiên nhận thấy có một giải pháp rất đơn giản mà hiệu quả là: “Nếu không ra ngoài được thì hãy đi… vào trong”.

Thoạt tiên, người đọc có thể bật cười nhưng sau đó phải gật gù trước cách ông dùng thiền để giải thích và mở rộng vấn đề. Thông qua đó, ông cho rằng, nếu ta có thể sống với tâm tĩnh lặng thì dù bên ngoài có biến động thế nào, ta vẫn sẽ an nhiên tự tại.

Không chỉ có góc nhìn hóm hỉnh, với nền tảng kiến thức sâu rộng, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn có thể giải thích một vấn đề ông đưa ra bằng nhiều hướng tiếp cận đa dạng, phong phú. Đặc biệt, ông vừa bộc lộ quan điểm bản thân, vừa tổng hợp được cả những quan điểm từ cổ chí kim để giới thiệu đến độc giả.

Ví dụ, trong bài viết “Mùa Cô-vi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/ Kham nhẫn/ Tri túc”, ông vừa trích dẫn bài kệ của Trần Nhân Tông, vừa nêu ra liệu pháp dùng thiền để chữa trị cho căn bệnh thời đại ngày nay là S.A.D (viết tắt của Stress: căng thẳng; Anxiety: lo âu; Depression: trầm cảm). Chính vì vậy, những ý kiến của ông trong mỗi bài viết đều mang tính thuyết phục cao mà đọc vẫn nhẹ nhàng dưới cách diễn đạt hài hước.

Một điểm đặc biệt nữa trong cuốn sách “Buông” chính là những tranh minh họa của họa sĩ Lê Ký Thương. Ông từng có thời gian dài sống ở chùa, ăn chay trường nên vô cùng thấm nhuần tinh thần thiền và Phật giáo. Chính vì vậy, toàn bộ tranh minh họa Lê Ký Thương vẽ cho “Buông” với những đường nét tròn, cách điệu đơn giản, tạo cảm giác thư thái, nhẹ nhõm khi ngắm nhìn đã truyền tải trọn vẹn tinh thần mà tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc muốn gửi gắm đến độc giả qua cuốn sách này.

………………………………………………………………………………………

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Ông tốt nghiệp tiến sĩ y khoa quốc gia, Y khoa Đại học đường Sài Gòn năm 1969. Ông đã xuất bản hơn 30 tác phẩm với nhiều chủ đề như viết cho tuổi mới lớn, viết cho các bà mẹ, tùy bút, tạp văn, thơ… Nhiều tác phẩm của ông được công chúng yêu thích gồm “Già ơi chào bạn”, “Gió heo may đã về”, “Thư gửi người bận rộn”…

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

Phan Chính: ĐỖ HỒNG NGỌC, Thơ mãi với đời và bảng lảng trên những trang văn

04/12/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

Thơ mãi với đời và bảng lảng trên những trang văn
______________________.
*PHAN CHÍNH
Văn Nghệ Bình Thuận, số 230, 11-12/2022
          Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, sinh năm 1940 tại La Gi, tỉnh Bình Thuận. Từ nhỏ theo học trường Phan Bội Châu (Phan Thiết). Tốt nghiệp Tiến sĩ y khoa quốc gia Đại học đường Sài Gòn (1969). Từng tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe CFES tại Pháp (1997)- Nguyên Giảng viên thỉnh giảng Đại học Y khoa Sài Gòn và Trưởng bộ môn Khoa học hành vi- Giáo dục sức khỏe Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
            Với những tác phẩm Văn học, Y học, Phật học,Thiền định và đặc biệt về thơ của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc từ hơn 60 năm qua đã khẳng định tên tuổi của anh. Đó cũng là niềm tự hào với vùng đất đã sản sinh ra một tài năng, một phẩm chất trong sáng tạo nghệ thuật…
_________________________________
            Dù Đỗ Nghê hay Đỗ Hồng Ngọc đến nay với bút danh này cũng đã đặt dấu ấn qua 6 tác phẩm thơ trên chặng đường văn chương 60 năm, vẫn chưa biết mỏi. Nhưng chỉ có 6 tập thơ sao? Khi so với số lượng trên 60 đầu sách của Đỗ Hồng Ngọc ở nhiều thể loại tùy bút, tản văn, Y học, Phật học, Thiền học… đang có được một số đông “công chúng” nể trọng, đón nhận. Rất dễ nhận ra thơ và âm hưởng từ thơ của anh dường như luôn khắc khoải, đeo đẳng theo từng trang chữ.
             Cho nên nhiều nhà nghiên cứu, bạn văn viết về các tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc không ít phân vân, anh là một nhà thơ hay một thầy thuốc…Cách đây gần 30 năm, Đỗ Trung Quân khi đọc tập thơ Giữa Hoàng Hôn Xưa (1993) đã viết: “Có một chàng thi sĩ một hôm vì lẽ gì đó bỏ đi làm thầy thuốc. Mười năm…hai mươi năm…anh cặm cuội chăm sóc, chữa lành, làm dịu nỗi đau của trẻ thơ; anh buồn vui cùng nỗi buồn vui của những người làm cha làm mẹ”. Hay theo nhà nghiên cứu văn hóa Gs.Cao Huy Thuần cảm nhận qua tập tạp bút Buông (2022) về Thiền trong Phật học, đã thốt lên: “Tôi cũng lấy từ “tổng quan về nghiệp” của Tuệ Sỹ mà ra: Thơ đến với anh từ trước khi anh làm thơ. Thơ là tiếng nói trong tận cùng thâm cung bí sử của tư tưởng. Cái gì mà tư tưởng không nói nên lời được thì phải diễn tả bằng thơ”. Thơ có một vị trí duyên nợ và chung thủy trong đời sống của Đỗ Hồng Ngọc.
            *Đến với Thơ …
             Tính từ những bài thơ khởi đầu với bút hiệu Đỗ Nghê đăng trên các tạp chí có giá trị văn học trước năm 1975, như Bách Khoa, Mai, Tình Thương, Ý Thức… và đến sau này với tên thật Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN) đã đủ phác họa con đường Thơ của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc với một ý thức sáng tạo và một phong cách nghệ thuật riêng cho mình.
              Anh kể, bài thơ đầu tay được đăng trên tạp chí Bách Khoa vào năm 1960. Lúc ấy còn rất trẻ, chỉ dám ký tên tắt vì muốn giấu không cho người cậu biết – vì nhà văn Ngu Í đang làm trong báo này- Nhưng khi cậu biết ĐHN có bài thơ đăng ở Bách Khoa lại tỏ ra vui và khuyến khích. Và tiếp đó là thơ trên báo Mai năm 1965 và các báo, giai phẩm ở Sài Gòn. Lâu quá…và anh chỉ nhớ những bài thơ tình, tuổi học trò (xin trích): “Những bước chân mềm trên cát thơm/ Em đi sa mạc rợn trong hồn/ Buổi chiều lên đọng hai vành mắt/ Màu áo hôm nào làm sao quên”. Hay như : “Em đến nắng vàng theo tóc xanh/ Tôi nghe xa vắng vạn ân tình/ Có gì vướng víu trong hơi thở/ Ơi những ngày xưa của chúng mình”(báo Mai). Và còn nữa, một chút gì lãng mạn ở tuổi chớm yêu: “Lúc đó trời xanh xanh cao thêm/ Biển dăng tay rộng thuyền lênh đênh/ Em đi cúi mặt thẹn trong tóc/ Cát trắng hôn tròn bước bước em”… Ngồi lại bây giờ, người đọc ở lứa tuổi trên 70- 80, với nét mặt đạo mạo, tay run, chậm chạp qua tròng kính tuổi già mà đọc lại những câu thơ mộng mơ, đẹp hồn nhiên thuở ấy, mới giật mình. Bởi người già hay nhớ, hay cứ lặp lại bao nhiêu lần, “hồi ấy, hồi xưa…”, quá thương sao!
           Có lần Đỗ Hồng Ngọc viết một truyện ngắn duy nhất lấy tựa Người Thứ Hai, ký Đỗ Nghê, cảm xúc từ bối cảnh bệnh viện và thấp thoáng bóng quê nhà La Gi, được đăng trên báo Mai năm1965. Được đăng nhưng cũng không mấy ưng ý. Có lẽ thơ mới cuốn hút được tâm hồn nhạy cảm của anh, như anh đã thật lòng bộc bạch: “Tôi không có khả năng “hư cấu” nên không viết được truyện dầu truyện ngắn, tiểu thuyết như các bạn mình”. Vì vậy từ đó, anh đã dồn hết cho thơ với một tâm hồn chất ngất mà không phải chịu tiết chế nào chi phối đến sự rung động, cảm xúc chân thật của mình. Với những bài thơ buồn, mộng tưởng ở tuổi 17- 18 thời sinh viên được anh chọn lọc đưa vào tập thơ Tình Người sau này.
            Năm 1967, Đỗ Nghê với tác phẩm thơ đầu tay Tình Người. Đến năm 1973, tuy gặp khó khăn về xuất bản, nhưng bạn bè anh in bằng ronéo tập Thơ Đỗ Nghê lưu hành trong giới văn chương. Lứa tuổi bấy giờ, sống giữa đô thị miền Nam luôn ngột ngạt, bất an “bên trời lận đận” và khát khao một quê hương thanh bình. Trong bối cảnh đó với bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” viết một mạch ngay tại bệnh viện Từ Dũ năm 1965 khi anh chỉ là sinh viên trường Y thực tập ca đỡ đẻ đầu tiên. Bài thơ này ắp đầy sự rung cảm về thân phận kiếp người, nỗi hân hoan trong tiếng thở và trở thành đề tài của một thời nặng nề những ám ảnh, phiêu tán ngay trên quê hương mình. Anh viết:
               “Khi em cất tiếng chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…”- “Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ”. Rồi bằng thái độ ấm áp để nhắn nhủ với bé sơ sinh: “Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận/ Con người”. Hình ảnh bàn tay một thầy thuốc trẻ nhân hậu, nhẹ nhàng, trong lòng với bao nỗi miên man tâm trạng. Đỗ Hồng Ngọc đã nhiều lần kể lại sự ra đời bài thơ với quanh đó cũng có thể coi là giai thoại thú vị khó quên.
            Cánh cửa mở cho Đỗ Hồng Ngọc đến với Thơ cũng rất tự nhiên, lặng lẽ không như nhiều người cứ tưởng bên anh có người cậu ruột là nhà văn -nhà báo Nguiễn Ngu Í sẽ có ảnh hưởng đến con đường sáng tác của anh. Dù Ngu Í trước hết là một nhà thơ. Thực ra tuổi thơ ĐHN sớm mồ côi cha, với đàn em cùng tựa vào vai bà mẹ góa tảo tần ở vùng đất Hàm Tân- La Gi sau chiến tranh. Nhưng anh là người hiếu học, thông minh biết vượt lên hoàn cảnh. Trở ra Phan Thiết trọ nhà bà cô ở chùa Hải Nam và học trường Phan Bội Châu một thời gian, rồi vào Sài Gòn từ đó. Anh rất ham học, nổi tiếng học nhảy lớp, bỏ Đệ Tứ (lớp 9 bây giờ) để học dồn Đệ Tam- Đệ Nhị (10-11), thi Tú Tài I và năm sau thi Tú Tài II (Toàn phần) đậu, thời đó tỷ lệ đậu khoảng 10%, gay lắm. Con đường thênh thang, anh thẳng vào Y khoa đại học đường Sài Gòn.
            Anh kể, người cậu Nguiễn Ngu Í đã dẫn dắt anh đến trường và cho anh cơ hội tiếp cận với những sách báo, đặc biệt là các cuốn sách khai tâm của Nguyễn Hiến Lê như Kim chỉ nam của học sinh, Gương danh nhân, Gương can đảm, Gương kiên nhẫn…Cạnh đó, còn có người chú ruột, nhà văn Châu Anh (Đỗ Đơn Chiếu), nhà báo Lê Phương Chi (gọi bằng cậu) cũng đang là cây bút có quan hệ trong giới ở Sài Gòn lại không ngờ Đỗ Hồng Ngọc đang âm thầm, nắn nót với những câu thơ vừa viết khá tròn trịa. Bài học một bên nhưng bản thảo thơ cũng một bên… Đến khi anh có bài thơ đăng trên các báo Bách khoa, Mai, Tình thương (tạp chí của Sinh viên Trường Đại học Y khoa – anh cũng là thành viên Ban biên tập gồm Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…) với bút danh Đỗ Nghê, mấy ông cậu, ông chú càng thêm bất ngờ…Nhưng có lẽ đến năm1969 tốt nghiệp bằng Tiến sĩ y khoa quốc gia, anh mới có rộng thời gian để đứng cùng nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…), một tạp chí văn học sang trọng, quy tụ nhiều cây bút trẻ nổi tiếng bấy giờ. Diện mạo thơ Đỗ Nghê được định hình và được giới văn chương, người đọc đón nhận bởi giọng thơ đầy hoài niệm, thâm trầm nhưng đau đáu, thương xót mà không rên rỉ…Đó mới thực là một tâm hồn thơ lãng mạn và giàu suy cảm. Mỗi khi trở lại quê nhà, anh đã trải lòng với thời tuổi thơ đầy nỗi nhớ:“Năm năm không về thăm Phan Thiết/ Năm năm đã hẹn trăm lần về/ Nghe nói người xưa chừng lỡ bước/ Nghe nói lòng ta chừng chưa nguôi…”(Trên sông khói sóng- Đỗ Nghê,1971). Khoảng năm 1972 trong một bài viết, học giả Nguyễn Hiến Lê đã có dòng nhận xét về Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Như nhà thơ Du Tử Lê nói: “Đỗ Hồng Ngọc – thơ như một hạnh phúc” và nhà thơ tiếp: “Nhưng dù các bài viết về cõi- giới văn chương của ông, thâm trầm hay nhẹ nhàng, đơn giản thì, tự thân những bài viết ấy, cũng đã thắp sáng những thành tựu, hiểu theo nghĩa “hạnh phúc” mà Đỗ Hồng Ngọc đã đạt được” (trong Như không thôi đi được- 2017).
            *Khôn nguôi nỗi nhớ
            Tâm hồn thơ là dòng sông thơ mộng nhưng nỗi nhớ luôn đọng lại ở những ghềnh đá, khúc chảy quặn mình.Với Đỗ Hồng Ngọc cảm xúc đó đã không phải lệ thuộc hình thức thể hiện mà người đọc vẫn nhận ra ý nghĩa sâu xa trong ngôn ngữ hình tượng, tác giả âm ỉ giữ cho mình. Bài thơ ngắn với tựa Bông Hồng Cho Mẹ:
              Con cài bông hoa trắng
              Dành cho mẹ đóa hồng
              Mẹ nhớ gài lên ngực
              Ngoại chờ bên kia sông…
                                    (Vu Lan 2012)
            Qua thấu cảm của nhạc sĩ Võ Tá Hân chuyển thành giai điệu lung linh, nghe rấm rứt đến thắt lòng. Nỗi nhớ tinh khôi mà cũng là nỗi nhớ nghẹn ngào. Thế mà lời thơ dung dị như thủ thỉ, đâu đó vẫn bên mẹ bên ngoại còn trên cõi đời ngày nào…Bài thơ này bỗng dưng gặp duyên với “thay lời muốn nói” cho những ai không còn mẹ khi mùa Vu Lan- mùa báo hiếu, bảng lảng đang về.
             Đỗ Hồng Ngọc nghĩ về Mẹ cũng là nhớ về đất quê của mẹ một thời cơ cực trong chiến tranh: “Nhớ bước chân trâu nhớ giàn bông bí/ Nhớ cây khế ngọt nhớ trái dừa xanh/ Nhớ tiếng mẹ già nhớ đàn con trẻ”…Nhưng sự thay đổi với không khí thị thành, cuộc sống dường như đảo lộn, mà vẫn nhớ : “Nhớ người hàng xóm lâu nay còn lạ/ Nhớ những người thương nhớ luôn người người ghét/ Thấy ai cũng tội nghiệp/ Như ta…”. Trong lòng chẳng bận chút sân si mà để nhớ, vì “Thấy ai cũng tội nghiệp/ Như ta”. Khi nhớ về quê nhà, cái thời trai trẻ của Đỗ Hồng Ngọc vẫn ám ảnh với cảnh điêu linh: “Mảnh đất thân cha nắng sáng đan vườn/ Nghe da thịt đã bao lần thối rữa” (Đỗ Nghê-1964).
            Trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê xuất bản năm 2017, viết về Mẹ đã qua đời (2011): “Mẹ tôi có nụ cười lạ lắm! Lúc nào bà cũng nhìn tôi mà cười. Không nói, lúc tôi có vẻ vội vã chào lẻn đi đâu đó, bà cười cười tha thứ/ Vậy hả con (… )/ Mẹ tôi vẫn cười như thế/ suốt ba năm trên bàn thờ!”. Câu thơ cuối thật sự làm cho ta ngỡ ngàng. Bất chợt lúc nào đó, nhìn lên di ảnh mẹ ta xưa nhà mình, mới thấy nét mặt đôn hậu, độ lượng đến xao lòng.
             Với Con – điều không may đưa đến sự mất mát rất lớn với Đỗ Hồng Ngọc đó là cái chết của con gái Đỗ Châu La Ngà, sinh viên năm thứ 3 trường Y do bị tai nạn trên đường cùng bạn học đi làm công tác xã hội hồi năm 1990. Chắc chắn trong anh phải ghìm nén nỗi đau…dù anh đã từng ngộ ra: “Cuộc sống tự nó là nỗi hiểm nguy và sự bất an, sự chuyển động bất tuyệt, và tự nó cũng là nỗi hân hoan, là niềm cực lạc. Thật là tuyệt khi ý thức cuộc sống là vô thường, luôn thay đổi, chuyển động…(…) để rồi tuyệt vọng, thất vọng vì không được như ý” (trong Nghĩ Từ Trái Tim -ĐHN, 2003). Tuy biết vậy, là quy luật của đời người nhưng ĐHN vẫn ngậm ngùi, chia đôi giọt lệ, một nửa giữ trong lòng, một nửa thành câu thơ xa xót: “Ba dạy con/ Mỗi ngày/ Một chút/ Không bài học nào/ Như ba đã học/ Từ con: Nỗi mất”- (La Ngà 5). Lại nói cùng con: “Mỗi năm/ Mỗi người/ Thêm một tuổi/ Chỉ mình con/ Mãi mãi/ Tuổi đôi mươi!” (La Ngà 3)…
              *Tác phẩm thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc
              Với 6 tập thơ đã xuất bản: Tình Người (1967), Thơ Đỗ Nghê (1973), Giữa Hoàng Hôn Xưa (1977), Thư Cho Bé Sơ Sinh &Những Bài Thơ Khác (2010), Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)…Có thể coi 2 tập đầu mang bút danh Đỗ Nghê xuất bản trước năm 1975 là cuộc khởi đầu cho chặng đường thơ Đỗ Hồng Ngọc với phong cách ngôn ngữ thơ dung dị mà tinh tế, giữa cảnh bao trùm bởi ảo ảnh thân phận, quê hương…Tính thời đại có sự chi phối đến trái tim và tác phẩm của người làm thơ nhưng thái độ ở anh biểu hiện mỗi con đường với cái tạng riêng. Với thơ Đỗ Hồng Ngọc người đọc dễ nhận ra tinh thần trầm tỉnh, ung dung nhưng không thôi nỗi trăn trở. Nhà văn Lữ Kiều -Thân Trọng Minh là đồng nghiệp, người bạn thân từ thời tạp chí văn chương Ý Thức, đã nhận xét về ĐHN: “Tôi không nhầm- những bài “Niềm tin chưa mất”, “Bông hồng cho tuổi thơ” đã xác nhận với tôi điều đó. Phải rồi, anh là kẻ yêu cuộc đời này, dù bất hòa với nó”. Xin được trích vài dòng trong bài thơ Niềm Tin Chưa Mất”: “Bởi còn có những buổi mai/ Những buổi chiều buổi trưa buổi tối/ Bản tin thời tiết cho 24 giờ sắp tới/ Vịnh Bắc phần có nhiều mây/ Và mưa giông rải rác/ Gió Đông đông nam từ 10 đến 15 gút…/ Duyên hải Trung phần từ mũi Dinh đến mũi Cà Mau/ Nghe rạt rào chữ S…”.(Đỗ Nghê-1967).
            Khó mà xếp thứ tự các tập thơ của Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản để có một “khái niệm” cho mỗi chặng đường thơ của anh. Tập thơ Giữa Hoàng Hôn Xưa – thời Đỗ Hồng Ngọc với những câu thơ dẫu mang nỗi cô đơn nhưng thật an nhiên, dịu dàng: “Rồi thôi rồi chỉ một lần/ Áo vàng em mặc mùa xuân gọi về/ Thời gian sông nước trôi đi/ Tóc phai sợi nhỏ thương hoài ngàn năm” hay mượt mà hơn: “…Nhớ em qua đó/ Mà hồn như mơ/ Mây trời phiêu lãng/ Ngàn năm hững hờ…”. Chắc chắn với tâm trạng phiêu bồng, mà anh viết lên cái đẹp hồn nhiên như vậy là giữa những tháng ngày thanh xuân của mình.
          Tập Giữa Hoàng Hôn Xưa (1993) đánh dấu biểu cảm nỗi niềm qua ngôn ngữ thơ với nhiều ẩn dụ hơn. Anh đứng giữa đám đông của thời đại nhưng vẫn chọn một thái độ trong thơ của mình một lối riêng, một cách tự tại và nhịp thở của mình. Nhưng đến Vòng Quanh (1997), cách tập trước 4 năm, Đỗ Hồng Ngọc không những vòng quanh về mặt địa lý mà với Hà Nội, Đà Lạt, Chiang Mai, đó đây… như Một ngày ở Huế:“Một ngày lăng tẩm cung vua, Một ngày đi sớm về trưa một ngày/ Một ngày Vỹ Dạ trăng soi/ Một ngày Đập Đá nghiêng vai biếc người/ Một ngày Thiên Mụ câu thề/ Đông Ba Gia Hội chưa về kịp thăm/ Một ngày Từ Hiếu băn khoăn/ Đồi sương dốc dựng té lăn cù rồi/ Một ngày sông nước thuyền trôi/ Tam Giang sóng vỗ đâu hồi còn thơ/ Một ngày ngày xửa ngày xưa/ Một ngày ở Huế…đã vừa trăm năm”. Đỗ Hồng Ngọc ít làm thể thơ lục bát, nhưng đây là bài thơ hay đã cho người đọc một cảm xúc giai điệu đầy chất Huế, những hình ảnh trong bài thơ trở nên kỳ diệu với nét trầm mặc trong cổ kính rêu phong. Rồi các địa danh Boston, Paris, Australia… của những quốc gia anh đã có dịp đi tu nghiệp, hội thảo khoa học, du lịch với góc nhìn khám phá, khác hẳn bao lữ khách nhàn du. Như đã gợi cho ta Mùa Đông Boston” : “Còn cây/ Trơ lại/ Với cành/ Với linh hồn lá/ Ngập ngừng/ Trút qua”- Bài thơ từng đó câu chữ thôi…Hay khi anh đến Bảo tàng sáp Grévin (Paris)! “Tưởng người thiệt/ Chào, không nói/ Tưởng người sáp/ Sờ một cái!”- Đã biết những danh tài được tôn vinh, nặn tượng bằng sáp mà sao còn “tưởng là” người sáp? Trình độ mỹ thuật hay cái hồn của Grévin…Cái độ trầm tích trong những bài thơ ngắn, rất ngắn mà mang đến bao điều để nghĩ ngợi, liên tưởng.
            Trong các tập thơ Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản, có lẽ đầy đặn nhất đó là tập Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác, gần 230 trang. Trong đó cũng có nhiều bài đã xuất hiện trên một số tạp chí văn học và các tập thơ trước. Có thể anh muốn “khuôn” lại để có một bầu trời thơ của mình và cho mình. Sắc độ thơ của mỗi thời kỳ tuy có chút khác về ngôn ngữ thể hiện. Nhưng ĐHN vẫn giữ cái riêng trước sau của mình sự thanh cao của giá trị nhân văn, tình cảm chân thành. Theo anh từng nói về nỗi nhớ: “Đã bao lâu ta không sống với mình/ Ta có ta mà quên ta phứt”. Và thế là với Đỗ Hồng Ngọc không bao giờ rời xa thơ.
             Người bạn văn một thời cùng học trường Phan Bội Châu (Phan Thiết) với anh, nhà thơ Trần Vấn Lệ đã viết:“Thơ Đỗ Hồng Ngọc/ Đỗ Nghê không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm… Gió Bấc đang thổi ở ngoài quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…”. Có lẽ ai cũng đồng cảm với những nét khắc họa về Đỗ Hồng Ngọc như thế này.
            Với tập thơ có tựa Thơ Ngắn Đỗ Nghê của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc đã phát hành cuối năm 2017 là tập thơ mới nhất- Đúng nghĩa với hình thức là “ngắn”, ngắn có bài vỏn vẹn 3 câu 6 từ, như bài Trái Đất (Giữa đêm/ Thức giấc/ Giữa ngày…). Ừ nhỉ, đêm ở Việt Nam và ngày ở Mỹ. Cách nhau chẵn chòi nửa vòng trái đất, nhưng với một bài thơ ngắn mà làm cho ta chợt nghĩ…biết bao điều, thật là thú vị. Đơn giản nhưng tinh tế trong đó. Cho nên anh thấy “Vũ trụ chừng nhỏ lại/ Còn chút xíu trong ta!” (Vũ trụ). Nhà báo Lam Điền sau khi đọc tập thơ ngắn Đỗ Nghê, viết: “Đỗ Nghê đã có một kiểu duyên ngầm trong những bài thơ tượng thanh từ sự bùng phát của cảm xúc hay ông tự chưng cất những suy tư đến cái độ mà Chu Hy xưa kia từng gọi rằng: như không thôi đi được”.(trong tập Như Không Thôi Đi Được -Nhiều tác giả).
           Ngay từ cái bìa tên tác giả Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, anh nhắc lại một bút hiệu Thơ thời ban đầu cách đây 60 năm mà sao lại Thơ Ngắn Đỗ Nghê, mặc dù trong tập nhiều bài lâu nay đích danh Đỗ Hồng Ngọc? Nay mới rõ hơn, thời mới “chạm duyên” với thơ, anh e dè không dám nói tên nên kết hợp hai họ cha (Đỗ), họ mẹ (Nghê) thành Đỗ Nghê. Khổ nỗi có người cứ nhầm bút danh Đồ Nghệ (ông Đồ xứ Nghệ) nên thôi, để đúng tên thật Đỗ Hồng Ngọc khi tốt nghiệp bác sĩ ra trường.Vậy mà cũng khó tránh khỏi, có người chê: “Bác sĩ mà bày đặt làm thơ”! Mà mấy ai biết bác sĩ đã làm thơ từ tuổi 17- 18, lúc chưa là bác sĩ. Cho nên tập thơ ngắn phải nhắc lại Đỗ Nghê của một thời và Đỗ Hồng Ngọc bây giờ là vậy.
             Nhà nghiên cứu văn học Huỳnh Như Phương nhận xét về thơ Đỗ Hồng Ngọc: “Ông không xem thơ như mục đích tự thân, cũng không xem thơ như một công cụ, mà để thơ tựa vào cuộc đời, tựa vào tình người. Câu thơ của ông chan hòa, giản dị, như tự bật ra từ trái tim, và khi thấy lòng mình đã lên tiếng vừa đủ, thì thơ ông nhẹ nhàng rút lui hay ẩn mình trong khói sóng”.
           *Vẫn thơ… thấm vào những trang văn
           Ngoài thơ, Đỗ Hồng Ngọc là bút danh trên gần 60 tập văn với nhiều thể loại. Tập sách về Y học, dưới tên Bs.Đỗ Hồng Ngọc có tựa Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” (1972), tức chỉ mới 3 năm sau ngày tốt nghiệp bác sĩ. Tập sách thứ 2 cùng thể loại Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974). Đặc biệt các tập này còn tái bản nhiều lần với số lượng hàng nghìn bản in…Những tập sách về y học vốn đòi hỏi kiến thức chuyên môn trong ứng dụng rất phức tạp, Nhưng với cách viết, diễn giải của Bs.Đỗ Hồng Ngọc, người có một tâm hồn thơ văn nên luôn dễ dàng được tiếp nhận. Theo Bs.Đỗ Hồng Ngọc sức khỏe con người có mối quan hệ “thân tâm bất nhị”, chịu sự tác động từ môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội…
           Tình cờ thôi, người viết được xem trên trang Trang nhà của Bs.Đỗ Hồng Ngọc, những lượt mail của một “bạn đọc” từ xa, ngưỡng mộ những tập thơ, văn của anh phải nói là nhiệt tình, quý giá. Người ấy chỉ khiêm tốn ghi tên Hai Trầu/ Lương Thư Trung, cũng đam mê chuyện văn chương và Đỗ Hồng Ngọc. Anh Hai Trầu có một bản thống kê hầu hết các tác phẩm của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản mà chính tác giả cũng không nhớ hết. Điều càng ngạc nhiên truyện ngắn đầu tay Người Thứ Hai của Đỗ Nghê trên báo Mai đã in từ năm nào, làm cho tác giả Đỗ Nghê cũng phải ngạc nhiên…Cũng là người phương xa -Nguyễn Thị Khánh Minh từ Santa Ana (Mỹ) với những trang biểu lộ sự quý mến, cảm xúc qua những tập thơ và những trang văn trong tạp bút, tản văn, y học… Trường hợp khác, với một người bạn xa mà Đỗ Hồng Ngọc chưa một lần gặp đã biên soạn 3 cuốn (bản thảo) Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc dầy cả ngàn trang A4 gửi tặng, là một tập hợp gần như cả hành trình viết lách của anh. Đó là nhà báo Nguyễn Hiền Đức, trước 1975 có thời làm Thư ký tòa soạn tạp chí Tư Tưởng Đại học Vạn Hạnh…Đúng là hữu duyên!
              Những tác phẩm tản văn, tùy bút của Đỗ Hồng Ngọc không những về kiến thức y học mà ở đó còn là những trang văn có giá trị văn học, tạo được hấp dẫn đối với người đọc từ những tên tập sách Gió heo may đã về, Già ơi…Chào bạn! Những người trẻ lạ lùng… Những sách về Phật học, về Thiền như Nghĩ từ trái tim, Gươm báu trao tay, Thiền và sức khỏe, Tôi học Phật…Có những tập tái bản nhiều lần, cho thấy độ hút từ người đọc, đủ lứa tuổi. Với những tập sách về Sức khỏe – đời sống, về Phật học (về Tâm kinh, Thiền định…) theo cách luận giải của Bs.Đỗ Hồng Ngọc đã dẫn dắt người đọc dễ hiểu, nhẹ nhàng bởi những thuật ngữ, ẩn dụ đậm chất thơ. Hình thức các tác phẩm của ĐHN với khổ hình vuông như tờ Ý Thức ngày xưa và có những tựa bài từ lời ca khúc của người bạn thân- nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và đôi ba trang phụ bản do anh ký họa bằng bút kim rất có hồn, đã thêm phần mượt mà cho trang chữ.
            Đỗ Hồng Ngọc dù luôn nhận mình là “Người học Phật”, một cách nói khiêm nhường. Nếu có dịp hãy gõ lên “YouTube-dohongngoc” có đến hàng chục đề tài mà Đỗ Hồng Ngọc được mời đăng đàn pháp thoại ở các thiền viện, nhà chùa về Sức khỏe và Phật giáo, về Thở và thiền, về Ăn và chay… Không những với đối tượng tu sĩ, phật tử mà còn có những buổi đàm đạo cùng các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ mới thấy năng lượng sống và sự am hiểu thấu đáo của “người học Phật” như Đỗ Hồng Ngọc. Trong một clip, với chương trình Hoa Mặt Trời do chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn) tổ chức, khung cảnh trang nghiêm ở một giảng đường rộng, đông đảo có đến 3 ngàn người để nghe Bs.Đỗ Hồng Ngọc nói về cái duyên học Phật của chính mình, những căn bệnh tham sân si đời người, niềm hạnh phúc của anh khi “ngộ” ra sau ca mổ sọ não và thế nào là sống an nhiên…
         Cuộc hành trình sáng tạo và chia sẻ của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc quả là sinh động và đích thực chân dung Đỗ Hồng Ngọc- một người thông tuệ, nặng tình như lời giới thiệu trên đặc san Văn hóa Phật giáo (2021)/ Viên Giác Tùng Thư, Hannover Đức Quốc:“Ngoài vai trò là bác sĩ, nhà giáo ông còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm đa dạng và rất được đọc giả yêu thích”.
Phan Chính (La-Gi).
Ghi chú:
Thơ Phan Chính:
Giọt sương (1983); Giữa truông đời (1997); Biển trắng như lòng ta thức đợi (2006); Bảng lảng gió giêng (2016); An nhiên (2021)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Tâm Nhiên: TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ 

27/11/2022 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TINH THẦN BẤT NHỊ TRONG THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ

Tâm Nhiên

 
Đỗ Nghê là bút hiệu của Đỗ Hồng Ngọc. Anh sinh năm 1940 tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tốt nghiệp Tiến sỹ Y khoa Quốc gia, Sài Gòn (1969) là bác sỹ chuyên khoa Nhi.
Ngoài việc là giảng viên tại Đại học Y khoa, anh còn là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Viết nhiều thể loại đa dạng, đặc biệt gần đây, anh viết chuyên sâu về Phật học, Thiền học với các tác phẩm giá trị, được rất nhiều độc giả mến mộ, ưa thích.

Bình đạm mà thiết tha với thi ca, Đỗ Nghê đã xuất bản 6 thi phẩm, tập mới nhất gần đây là Thơ ngắn Đỗ Nghê, do Văn Hóa-Văn Nghệ xuất bản 2017. Mở đầu tập thơ là bài Trái đất:

Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…

Bài thơ được viết tại Boston, Hoa Kỳ (1993). Giữa đêm bên Mỹ là đúng giữa ngày ở Việt Nam. Một cái nhìn toàn diện trái đất đang xoay quanh mặt trời. Chỗ này tối thì chỗ kia sáng, tùy theo thời tiết, nhân duyên, địa phương mỗi nơi mà thấy mỗi khác đó thôi. Thấy được như vậy là hiểu lý Bất nhị, dung thông Sóng là nước:

Sóng
Quằn quại
Thét gào
 
Không nhớ
Mình
Là nước

Nước tức là sóng, sóng tức là nước, thanh âm Tâm kinh đồng vọng đâu đây: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị…” 
Khi hiểu được như thế rồi thì không ai phải mất công đi hỏi nước từ đâu đến hay nước trôi về nơi đâu nữa:

Nước vẫn muôn đời
Không đi chẳng đến
Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu?
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu?

Thi nhân bỗng nhiên thấy ra ngay cả thân xác tứ đại giả hợp của mình cũng chính là Đất:

Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất

Đó là cái thấy bằng con mắt Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi: “Tất cả là một, một là tất cả.” Hòa trong vô thủy vô chung, vô cùng vô tận giữa thiên hà, vũ trụ càn khôn, con người là một sinh thể nhỏ bé thì bận tâm chi chuyện Có không:

Chắt ra cho hết
Giọt hơi cuối cùng
Thả mình như lá
Rơi vào hư không
 
Tràn vào khắp ngả
Đất trời mênh mông
Nhẹ như không có
Có mà như không…

Suốt mất nghìn năm qua, vô số các triết gia, đạo sỹ khắp Đông Tây kim cổ đều luận thuyết, triết lý om sòm về có không, sống chết, đến đi, được mất, chân vọng, thật giả, hơn thua, đúng sai, phải trái, tốt xấu, trí ngu, phàm thánh, tỉnh điên, thiện ác, mê ngộ…mà chẳng ai chấp nhận ai, chẳng đưa đến mọt kết luận nào cả.

Kể từ khi cư sỹ Duy Ma Cật tuyên bố lý Bất nhị thì thiên hạ ồ lên một tiếng bàng hoàng. Họ bừng sáng ra, bước đi trên con đường Trung đạo, vào ra giữa có và không một cách tự do tự tại, thong dong.

Không và có…tuy hai mà một, cùng viên dung vô ngại trong lý sự huyền đồng Chân Không Diệu Hữu. Diệu Hữu là thấy ngay trong bất cứ sự vật gì cũng đều vi diệu, như thấy hơi Thở:

Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…

Phải chăng, đó là hơi thở sát na thường trụ vĩnh hằng của một con người hoát nhiên bừng chứng Ngộ:

Tham chẳng còn
Sân cũng hết
Si đã tuyệt
 
Niết bàn
Tịch diệt
Để mà chi?

Một câu hỏi nêu ra quá bất ngờ, bức bách. Trả lời đi, trả lời đi… Vô ngôn là hồi đáp tối thượng nhất. Phủi tay, cất bước rỗng rang Thiền:

Thực chẳng dễ dàng
Sống trong cái chết
Và chết trong cái sống…

Chết trong cái sống là chết đi hết những danh từ, khái niệm mà mình thường vướng kẹt, mắc dính, chết đi cái ngã chấp thâm căn cố đế, chết đi sự nô lệ vào danh lợi, tài sắc, thần tượng, tôn giáo, tổ quốc…

Không chấp trước vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì thênh thang, phóng khoáng, tiêu dao du chơi giữa vô thường. Tuy giữa vô thường nhưng vẫn Chân thường, đó là niềm hân hoan sáng tạo của Đỗ Nghê, một thi nhân đã đến tận đầu nguồn nếm được giọt nước trong ngần của mạch suối Tào Khê.

Để rồi trở về nhập cuộc, hòa điệu chịu chơi với bụi cát trần gian, thõng tay vào chợ, cười vang giọng cười hào sảng như Duy Ma Cật ngay giữa cái Đang là, luôn luôn mới lạ và mới lạ…


(Thị xã La-Gi 19. 11. 2022)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 7
  • Trang 8
  • Trang 9
  • Trang 10
  • Trang 11
  • Interim pages omitted …
  • Trang 58
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email