TIÊU DAO ĐỖ HỒNG NGỌC
Tâm Nhiên


Tâm Nhiên và Đỗ Hồng Ngọc tại La-Gi, 19.11.2022
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
TIÊU DAO ĐỖ HỒNG NGỌC
Tâm Nhiên


Tâm Nhiên và Đỗ Hồng Ngọc tại La-Gi, 19.11.2022
Giai phẩm THƯ QUÁN BẢN THẢO
Những Nhà Văn Nhà Thơ Sống và Viết
ở Phan Thiết, Bình Thuận

Sưu tập & biên soạn: Phạm Văn Nhàn
Kỹ thuật, trình bày: Trần Hoài Thư
Sửa lỗi: Ngọc Bút
Sách dày 352 trang
Thư Ấn Quán xuất bản 2022
Địa chỉ liên lạc: tranhoaithu16@gmail.com
Danh sách:
1) Vũ Anh Khanh 2) Bích Khê 3) Nguiễn Ngu Í 4) Hoài Khanh 5) Huyền Chi
6) Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) 7) Phạm Văn Nhàn 8) Từ Thế Mộng 9) Nguyễn Lệ Tuân
10) Huỳnh Hữu Võ 11) Tô Duy Thạch 12) Nguyễn Thị Minh Ngọc 13) Phạm Cao Hoàng
14) Nguyễn Thị Liên Tâm 15) Lê Nguyên Ngữ 16) Y Uyên 17) Nguyễn Như Mây
18) Nguyễn Dương Quang 19) Nguyễn Bắc Sơn 20) Lê Trọng Nghĩa (Đinh Quý Nhưỡng)
21) Nguyễn Nghiệp Nhượng 22) Phan Bá Thụy Dương 23) Trần Vấn Lệ
24) Chu Trầm Nguyên Minh 25) Cái Trọng Ty 26) Thiếu Khanh
27) Trần Văn Sơn 28) Đoàn Thạch Biền 29) Đài Nguyên Vu (Tôn Thất Trâm)
Chân thành cảm ơn anh Trần Hoài Thư và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/page/3/
Rất cảm ơn Nguyễn Văn Quyền đã gởi video clip Buổi Trò chuyện về “Một nếp sống An Lạc: Thở và Thiền, Ăn và Chay” tại Chùa Quảng Đức La-Gi ngày 16.10.2022.
Xin chia sẻ cùng các Cô bác, anh chị em quê nhà và Bạn bè những nơi xa không có dịp tham dự trực tiếp buổi Trò chuyện này. Do hệ thống âm thanh của chùa gặp trở ngại nên cũng có “trục trặc” đôi chút, mong thông cảm.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn Thầy Đức Thành trụ trì Chùa Quảng Đức La-Gi, thầy Minh Chánh chùa Quảng Hạnh và Nhóm Phật tử chùa Khánh An lần đầu theo bác Ngọc về thăm La-Gi quê nhà.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Cảm nhận của Thầy Đức Thành, trụ trì Chùa Quảng Đức, La-Gi.
TỪ TRÁI TIM ĐẾN TRÁI TIM
Đi qua một đoạn đường dài,
Dừng chân ngoảnh lại, nắng phai ít nhiều.
Tình thương kết nối thương yêu,
Tâm trong tâm ấy, nói điều an vui.
Nhân duyên hội đủ, ngày 21/9/ Nhâm Dần (16/10/2022), chùa Quảng Đức, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, được kết nối duyên lành, đón tiếp Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc (người con La Gi) về thăm chùa, thăm quê hương và chia sẻ với bà con Phật tử về những gì mà Bác sĩ, đi qua…và “truyền lại” cho mọi người: về sức khoẻ y khoa, cười, thở và thiền hành.
Có quý vị “cao niên” như: các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, thầy cô giáo và các em nhỏ…
Có thể “đầy đủ” thành phần… lớp đi trước, lớp kế thừa…
Buổi chia sẻ của Bác sĩ , mang lại sự hữu ích mọi người, trong niềm hoan hỷ…chạm nhau từ lúc ban đầu, thân nhau từ lúc buông sầu bi tâm.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, đã tặng cho đời gần 60 đầu sách…. 60 tác phẩm, viết về nhiều lĩnh vực, đề cập nhiều vấn đề khác nhau.
Xin trân trọng cảm ơn Bác sĩ, quý vị trong đoàn, cảm ơn quý vị trí thức, các nhà thơ, nhà văn, nhà giáo… CLB Hướng Đạo, cùng toàn thể quý vị.
Hy vọng, trong thời gian gần nhất, sẽ được đón những tấm lòng của quý vị về ngôi chùa thân thương, mang tính “lịch sử” của Phật giáo nơi này.
Ngưỡng nguyện sự an lạc lan tỏa khắp muôn nơi.
P/s: tổ truyền thông Quảng Đức, xin lưu lại những ân tình… trong niềm hoan hỷ vô biên.



“3 điều 4 chuyện” để… Học Phật
Đỗ Hồng Ngọc
Trong vài buổi trò chuyện với bè bạn quanh cuốn BUÔNG của mình, có bạn cho rằng hình như hơi cao quá, có cách nào đơn giản giúp dễ nhớ hơn không?
Trước hết, theo kinh nghiệm riêng, tôi nghĩ cần nhớ “3 điều 4 chuyện” như sau:.
3 ĐIỀU là:
Phải hiểu “thuật ngữ” Phật học. Không hiểu thuật ngữ thì sẽ bối rối, hiểu lầm, dễ dẫn tới dị đoan mê tín nữa. Thí dụ: “Tam- ma- địa” mới nghe tưởng là vùng đất của ba con ma! Thực ra Tam-ma-địa do phiên âm chữ Samadhi, nghĩa là Chánh định, một thứ định sâu. Chữ Niết-bàn chẳng hạn không phải là cái nơi thiên đàng, cực lạc, mà là chữ phiên âm của Nirvana, “tắt lửa”, nghĩa là không còn tham lam, sân hận, si mê (Dứt Tham Sân Si). Đã hoàn toàn giải thoát phiền não khổ đau. Ngay cả chữ “chúng sanh” cũng vậy. Cho nên Phật bảo “chúng sanh không phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh- kinh Kim Cang)…
Hai là phải hiểu những ẩn dụ, ẩn nghĩa, mật nghĩa… khi đọc kinh sách Phật. Thí dụ niệm Quan Thế Âm thì gặp lửa lửa tắt, gặp nước cuốn trôi thì nước sẽ cạn, muốn sanh con trai có con trai, con gái có con gái… Tưởng thiệt thì nguy! Lửa ở đây là lòng sân hận. Sân hận đưa ta vào chín tầng địa ngục. Nước ở đây là lòng tham cuồn cuộn cuốn ta vào hố thẳm không đáy… Con trai là Trí tuệ, con gái là Từ bi…
Ba là phải Thực hành. Từ từ, không nóng vội. Nóng vội sẽ dẫn tới “tẩu hỏa nhập ma”. Thực hành trong cách thở, cách ăn, cách nghĩ, cách làm. Học Bồ-tát Thường Bất Khinh để luôn kính trọng mọi người; học Bồ-tát Dược Vương để luôn chân thành, ai thấy cũng vui ai gặp cũng mừng (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến); học Bồ-tát Quán Thế Âm để biết thấu cảm, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân đủ hình dạng tùy cơ ứng biến giúp người bất cứ nơi đâu có tiếng kêu khổ đau của trần thế. Đó chẳng phải là những đức tính tôn trọng (respect), chân thành (genuine), thấu cảm (empathy) giúp cho cuộc sống luôn an lạc, hạnh phúc ư?
4 CHUYỆN là:
Thứ nhất: Phật không phải là một thần linh, một giáo chủ… uy quyền tối thượng, ban bố ơn phước cho loài người. Nhờ tìm được con đường thoát khổ, Phật chia sẻ với mọi người với lòng từ bi vô hạn, bởi ai cũng có Phật tính, ai cũng sẽ thành Phật. Phật không độc quyền làm Phật một mình. Cho nên Phật là một đạo sư, một nhà giáo dục, một bậc y vương đáng kính đáng trọng.
Thứ hai: Phật khuyến khích hãy quay về nương tựa chính mình, đừng chạy vạy tìm kiếm đâu xa. Tự trách nhiệm về cuộc đời mình, chọn con đường mình đi. Không ai vào… niết bàn hay địa ngục vĩnh viễn, ai cũng có cơ hội để thay đổi lối sống, vòng đời của mình. Nói khác đi, tạo cho mọi người tự tin vào năng lực của riêng mình và hoàn toàn bình đẳng, không phân biệt.
Thứ ba: Thở là quan trọng số một của đời sống. Hãy biết thở đúng. Thở đúng để thấy thân tâm nhất như. Và nhìn kỹ vào hơi thở để thấy rõ sự sống chết, sự tạm bợ, sự đổi thay, sự không có cái tôi riêng mình vì thở cóc cần ta, chẳng phải của ta, chẳng phải là ta.
Thứ tư: Ăn là quan trọng. Cần phải hiểu tại sao ăn, ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn cách nào… Phật mang bình bát đi khất thực vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và ai cho cái gì cũng vui nhận, không đòi hỏi, chẳng từ chối. Mang về vo lại thành một cuộn tròn để ăn một cách chánh niệm gọi là “đoàn thực”. “Ăn chay” là ngoài đoàn thực còn phải chú ý đến các món ăn khác cho tâm hồn là xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
(ĐHN)
BUÔNG… hổng dễ!
Không phải là buổi Ra Mắt Sách… mà chỉ là một buổi họp mặt gia đình gồm ít bà con gần gũi và ít bạn bè thân thiết của gia chủ: Kim Quy và Lê Ký Thương tại nhà hai bạn. Cũng có đậu phộng luộc, sữa đậu nành, nước cam, càphê… như thường lệ.
Họa sĩ Lê Ký Thương bệnh mấy tháng nay, phải ngồi xe lăn nên việc tổ chức “ra mắt” Buông nho nhỏ ấm cúng tại nhà là… cần thiết. Lý do: chính anh là người minh họa “độc đáo” cho cuốn sách này của mình!
Gọi là “độc đáo” vì họa sĩ LKT không biết trước ĐHN sẽ viết cái gì, về đề tài gì mà đã vẽ sẵn hai chục bức minh họa chính xác mới là lạ! Số là sau khi tập hợp 15 bài cho cuốn Buông, mình “lục soạn” trong “kho” của bạn, chọn ra các tranh phù hợp cho từng đề tài là xong. Ấy cũng nhờ thân thiết với nhau hơn 50 năm rồi mới “thần giao cách cảm” vậy!
Mình nói đôi lời rằng buổi Ra Mắt “Buông” hôm nay chủ yếu để các bạn coi hình minh họa của LKT là chính chớ không cần coi nội dung chi đâu nha. Tuy vậy, sau đó, có một buổi thảo luận chung quanh chuyện Buông dễ hay không dễ này. Có mấy cháu tuổi 30, bạn của O Mai (con gia chủ) tranh luận cũng sôi nổi.
Bất ngờ có Bác sĩ Phạm Kiêm Yến cùng dự buổi này, sau đó đã viết một bức thư cho tác giả ĐHN, mời bạn cùng xem nha.

Từ trái: Minh, Yến, Đạm, Ngọc Vân (hai bạn thiết của nữ gia chủ Kim Quy từ ngày còn thơ ở Nha Trang); ĐHN và Sơn. (Nhà LKT 2.10.2022)

hàng trước: Quýnh, Tống, Minh hàng sau: Lê Ký Thương, Thoại Uyên và các cháu bạn O Mai: Ngọc, Hà, Hiền…

Nghĩ Về BUÔNG
Thưa anh Đỗ Hồng Ngọc,
Em bắt đầu đọc sách của anh cách đây hơn 10 năm. Khởi đầu là những quyển anh viết cho tuổi già hay mấp mé già, như Già Ơi… Chào Bạn; Những Người Trẻ Lạ Lùng; Già Sao Cho Sướng? … với giọng văn nhẹ nhàng, dí dỏm và được anh bonus rất nhiều ca từ của Trịnh Công Sơn. Sau đó, em có duyên may được đọc quyển Nghĩ Từ Trái Tim anh viết về kinh Bát Nhã. Với em, đó là quyển sách làm “thay đổi cuộc đời” bởi vì nhờ quyển đó, em bắt đầu có một cái nhìn hoàn toàn khác trước đối với Phật pháp. Em tin là không chỉ với Nghĩ Từ Trái Tim, nhiều quyển sách khác của anh viết về học Phật như Thấp Thoáng Lời Kinh, Gươm Báu Trao Tay, Ngàn Cánh Sen Xanh Biếc… có thể đã giúp cho nhiều bạn trẻ khác được khai thị như em trước đây.
Buông là quyển sách mới nhất của anh mà em vừa đọc. Vì sao cần Buông? Để sống thảnh thơi, an lạc và hạnh phúc! Thật là một thông điệp quá tuyệt vời! Em đã dành hẳn một cuối tuần thong thả, đọc Buông thật chậm để có thể thấu hiểu đạt mức tốt nhất nội dung anh muốn gửi gắm. Vẫn với văn phong nhẹ nhàng, gần gũi, anh đã tâm tình, kể lể và hướng dẫn độc giả của anh, trong đó có em., tự điều trị khỏi những căn bệnh phần hồn như cách một bác sĩ chu đáo, tận tụy chỉ dẫn bệnh nhân điều trị những căn bệnh phần xác vậy.
Quyển Buông có 15 bài viết. Khởi đầu là bài thơ Biết Rồi Còn Hỏi! Đó là một bài thơ tự sự, trong đó mối liên hệ của anh với Phật là mối quan hệ gần gũi, như Cha, như bạn, như tri kỷ… khiến em rất cảm động. Anh viết:
“Tôi ngồi trước tượng Phật
Viết lăng nhăng mỗi ngày
Để khi nào bí thì hỏi”
Trời ơi, phải thân thiết cỡ nào mới “khi nào bí thì hỏi…” được chứ! Phật với anh không là tượng đài trên cao để kính bái, để vọng ngưỡng; mà Phật chính là một người bạn thâm giao, người đồng hành, người hướng dẫn của anh. Anh thật là hạnh phúc!
Anh tỉ tê:
“Đâu cần trốn ra khỏi cổng thành
Xóm nghèo nơi tôi ở
Bên phải là nhà bảo sanh
Bên trái là bệnh viện
Đằng kia lớp dưỡng sinh
Đằng nọ nhà quàn vô lượng thọ…”
Sinh, lão, bệnh, tử… vòng đau khổ của kiếp người hiện tiền trước mắt anh mỗi ngày trong chính ngay khu phố anh đang cư ngụ, đâu cần phải vượt cổng thành mới thấy như ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa từng làm! Này tiếng khóc oe oe của em bé mới chào đời trong nhà bảo sanh đồng thanh với tiếng rên rỉ vì bệnh hoạn của bệnh nhân trong một bệnh viện gần đó. Từ phòng tập dưỡng sinh dành cho người cao tuổi, con đường đi đến nhà quàn vô lượng thọ cũng chẳng mấy xa. Anh “quán” hết lẽ nhân sinh và lòng anh từ bi biết mấy, khi anh sợ Phật buồn.
“Tôi nhắc Phật đừng buồn
Không được quạu quọ, không được cau có
Không được nhăn nhó…”
Dĩ nhiên Phật phải “thấy biết” rồi, nên
“Phật cười
Phải! Nó vậy đó.”
Anh Nguyễn Tường Bách từng viết trong quyển Mùi Hương Trầm một câu em rất tâm đắc, có lẽ vì nó thể hiện đúng tâm tình của em. Đại ý là “Con đường đến với Phật của người bình dân rất dễ dàng vì họ có Phật trong tim. Xảy ra bất cứ khó khăn bất trắc nào họ đều niệm Phật vì danh Phật ở sẵn trên môi họ! Còn với người khoa học, điều gì họ cũng muốn được thực chứng, được thấy, được biết, nên Phật luôn cách xa họ.” Giờ thì em biết, điều đó chỉ đúng với nhà khoa học nào đó thôi chứ với người “đại ngộ” như anh thì… không kể!
Vì Buông là quyển sách dạy… buông, mà buông quan trọng nhất là buông suy nghĩ, nên anh dành nhiều bài cho Thiền và hướng dẫn cách thở bụng. Khi Thiền mọi người sẽ chỉ nên làm mỗi một việc là “dõi theo” hơi thở, dõi theo chứ không phải theo dõi nha. Khi đó thân lo thở, tâm lo dõi theo hơi thở vào ra nhịp nhàng và suy tưởng về hơi thở ấy thì trí còn rảnh rang đâu mà nghĩ chuyện lung tung, ngoài chuyện phải “thôi đi” những “đảo điên mộng tưởng”. Thế là buông!
Anh cũng kể lại một kỷ niệm thú vị với thầy Thích Thanh Từ và chữ BUÔNG mà thầy đã cho anh sau buổi nói chuyện, cùng việc phân tích bài thơ Mộng của thầy:
“Gá thân mộng,
Dạo cảnh mộng.
Mộng tan rồi,
Cười vỡ mộng.
Ghi lời mộng,
Nhắn khách mộng.
Biết được mộng,
Tỉnh cơn mộng.”
Sau tất cả những thứ là mộng, là tạm bợ, là huyễn hoặc kia, anh kết luận:
“Tỉnh cơn mộng chính là BUÔNG đó vậy!”
Như cách anh thường tâm tình, trong Buông, anh tâm sự về chuyến Về thăm đất Phật ở Nepal. Anh được viếng Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền Diệu ở Lâm Tỳ Ni. Em cũng được đọc quyển Khi Hồng Hạc Bay Về, thầy Huyền Diệu kể về thời kỳ đầu xây dựng chùa với nhiều khó khăn, nên em vui được nghe về Việt Nam Phật Quốc tự như nghe tin của một người thân quen. Ở Lâm Tỳ Ni còn gốc cây Bồ đề, nơi hoàng hậu sinh hạ thái tử Tất Đạt Đa. Qua miêu tả kiểu “bệnh nghề nghiệp” của anh, đó là một cuộc chuyển dạ do động thai, được thực hiện mổ lấy thai Cesarien đường hông trong điều kiện không đảm bảo tiệt trùng, nên hoàng hậu bị nhiễm khuẩn hậu sản và một tuần sau Người qua đời, để lại thái tử Tất Đạt Đa cho em gái, là dì ruột của thái tử, chăm sóc. Lâm Tì Ny là một trong “tứ động tâm” mà Phật tử nào cũng muốn một lần trong đời được đến viếng: Phật đản sanh, Phật thành đạo, Phật chuyển pháp luân và Phật nhập Niết bàn. Nhưng hôm ấy, vườn Lâm Tì Ny nơi Phật đản sinh mà anh đến viếng, anh chỉ thấy… náo nhiệt do nhiều khách hành hương thăm viếng chứ không thấy động tâm. Chỉ đến khi bắt gặp chiếc lá bồ đề khô rơi lẻ loi trên đụn gạch xưa, vốn là di tích những nấm mồ của các đệ tử Phật từ vài ngàn năm trước, anh mới rưng rưng xúc động! Suy đến cùng, mọi vật chất trên thế gian này đều trở về cát bụi, về cùng đất và lại là đất ngàn năm trường cửu. Em cũng rưng rưng đồng cảm cùng anh khi nhận ra lẽ vô thường trong điều vĩnh cửu ấy. Bao nhiêu chiếc lá đã rụng xuống quanh cội bồ đề này, bao nhiêu lớp đất đã trôi đi rồi đã lại tích tụ ở đây, để ngày hôm đó anh được đặt bàn chân mình trên lớp đất ngàn năm ấy, cầm trên tay mình chiếc lá được nuôi dưỡng từ thân cây ấy. Cũng như những đám mây trên bầu trời kia không còn là mây của ngàn xưa, những con sóng vỗ trên đại dương bao la kia đâu còn là con sóng thủa hồng hoang nữa, nhưng mây sóng ấy, nước ấy vẫn luôn tồn tại. Vô thường cũng đó mà hằng thường cũng đó mà thôi!
Tản mạn trong Buông, anh kể về chuyến du lịch Úc châu, nơi anh đến thăm một Bệnh viện ung bướu ở Melbourne. Ở đó anh không thể phân biệt được ai là bác sĩ, ai là điều dưỡng hay bệnh nhân vì tất cả mọi người đều ăn mặc như nhau, không áo blouse, không khẩu trang, không bảng tên, mũ mão. Đúng là bài học Thường Bất Khinh sống động đúng với tinh thần tôn trọng và không phân biệt. Em lại nghĩ đến tăng đoàn của Phật, ai cũng một y, một bát và bình đẳng như nhau với mái đầu đã cùng xuống tóc, không còn vết tích gì để phân biệt các giai tầng xã hội khác nhau trong một xã hội phân biệt giai cấp như Ấn độ thời ấy. Mới thấy, dù ở thời đại nào, không gian nào, tôn giáo nào, người ta cũng đều tìm được cách thể hiện sự tôn trọng và bình đẳng, nếu người ta muốn!
Anh có đề cập đến việc độc cư, “biết sống một mình”. Em rất tâm đắc với chủ đề này, vì từ lâu em cũng quen sống và thích sống một mình. Kham nhẫn (kham là chịu; nhẫn là nhịn) cũng là một chủ đề hay, mà hay nhất là câu hỏi của anh dành cho độc giả: “Kham nhẫn với giận với hờn còn dễ hơn kham nhẫn với nhớ với thương, phải không?”. Câu hỏi chính nó đã là một câu trả lời rồi, phải không anh? Thiểu dục tri túc cũng là một cách Buông vì biết đủ là biết sống không cầu thị quá nhiều vật chất và những thứ ngoại lai không cần thiết.
Thật ra BUÔNG không phải là quyển sách dễ đọc và dễ hiểu, ít nhất là với một người hiểu biết cạn cợt như em. Có lẽ qua thời gian, việc tu học của anh đã ngày càng tinh tấn, nên các điển tích anh nhắc đến và thâm ý sâu sắc trong các bài viết của anh đã nâng tầm cao hơn các quyển sách khác em từng đọc trước đây. Có những bài em đọc đi đọc lại, mà không hiểu, chưa hiểu. Hi vọng sau một thời gian, em có thể đọc lại lần nữa và sẽ thấy vỡ òa nhiều điều mới. Còn bây giờ, sau khi khép lại quyển Buông, em lại nhớ lời anh dặn dò trong Nghĩ Từ Trái Tim, hãy “hành thâm Bát Nhã ba đa mật…” Phật là một nhà giáo dục, một bậc y vương, Phật đã chẩn bệnh cho chúng ta, kê toa cho chúng ta. Nhưng chính chúng ta phải biết quay về nương tựa chính mình, biết thực hành lời Phật dạy, phải “tu” thì mới mong “thấy biết”, mới mong có “chánh trí Bát nhã”, đúng không anh?
Cảm ơn anh vì quyển Buông, cũng như quyển Nghĩ Từ Trái Tim và các quyển sách khác của anh mà em đã có cơ duyên đọc. Những quyển sách này như “mưa lâu thấm đất” đã từng chút một gột rửa lớp bồ hóng bụi bẩn bám lâu ngày trong tâm hồn còn nhiều chấp kiến, nhiều tham sân si của em. Em hi vọng em sẽ có cơ hội được tham vấn anh nhiều hơn để được nghe anh giải thích về bao điều em còn thắc mắc, trong một lá thư khác. Em chúc anh nhiều sức khỏe và giữ vững phong độ phát hành sách, bởi vì như em thấy, viết sách là cách anh tâm tình với độc giả cũng như anh thủ thỉ với Phật mỗi ngày, phải không anh?
Hậu bối của anh,
Phạm Kiêm Yến.
………………………………………………
Chú thích: Phạm Kiêm Yến là bác sĩ đã về hưu, chưa buông.
Làm sao biết cha mẹ đã… già?
Đỗ Hồng Ngọc
Cha mẹ thường nhìn đứa con 50 tuổi đầu của mình như một đứa con nít, còn đứa con lúc nào cũng nhìn cha mẹ như một người… lớn, chớ không thấy cha mẹ đã già!
Mà già đến nhanh lắm! Cho nên muốn biết cha mẹ đã… già chưa thì chỉ còn có cách
quan sát họ đã có những dấu hiệu tâm sinh lý và những vấn đề về sức khỏe của tuổi
già chưa mà thôi. Biết sớm thì tốt, nhưng biết để quan tâm chăm sóc, can thiệp kịp
thời thôi chớ không phải để “dán nhãn” cho họ đã già nua, lỗi thời, rồi không để họ
còn được tự chủ, độc lập gì nữa cả!
Trước hết quan sát… cái bề ngoài của họ. Họ có lơ là chuyện ăn mặc thái quá
không? Có “mặc kệ” sao cũng được mọi thứ về chăm sóc bản thân mình không? Trí
nhớ còn tốt không hay đã bắt đầu lẩm cẩm, quên trước quên sau, nhắc đi nhắc lại
hoài một chuyện? Có loay hoay tìm kiếng lão, kêu mất kiếng dù đang đeo trên mắt
không? Có nghễnh ngãng nghiêng tai bên này bên kia để nghe cho rõ hơn không? Có
kêu TiVi mờ, báo chí sao in chữ ngày càng nhỏ khó đọc không? Có dễ trợt, dễ té,
bước đi chầm chậm, lê chân trên mặt đất để dễ bị vấp không? Có kêu đau lưng nhức
mỏi thường xuyên không? Có bỏ quên chìa khóa, điện thoại nơi này nơi kia tìm
kiếm vất vả không? Có thỉnh thoảng quên tắt lò ga, quên khoá cửa… không?
Chờ đến lúc họ không nhớ con cháu đứa nào là đứa nào, quên cả đường đi lối về và
quên cả tên vợ tên chồng thì tình trạng đã quá nặng!
Rồi để ý coi họ ăn uống có còn biết ngon không? Họ ngủ có dễ không hay trằn trọc
loay hoay suốt đêm? Họ có còn ham đi đây đi đó, cà phê cà pháo với bạn bè không?
Có còn mê coi đá banh, tennis… như xưa không? Có ôm TiVi suốt ngày rồi nhầm
tưởng cảnh tượng trong phim ảnh là sự thật ngoài đời không?
Rồi để ý coi họ có bắt đầu thở hào hễn nặng nhọc… khi leo cầu thang trong nhà
không? Họ có bắt đầu đái đêm nhiều lần hay dễ bị dị ứng khi ăn một món đồ ăn
quen thuộc không? Họ có bị bón thường xuyên không?…
Tóm lại, quan sát kỹ một chút sẽ thấy những thay đổi và tốc độ thay đổi ngày càng
nhanh của một người già. Và, có “kế hoạch già” cho họ là một cách báo hiếu tốt đẹp
nhất!
(Bs Đỗ Hồng Ngọc).
Thư gởi bạn xa xôi (8.2022)
Mình mới đi mấy ngày về Lagi, dự một buổi Họp Mặt “bỏ túi” với bà con, bạn bè, nhân mùa Vu Lan, và gởi tặng Bông Hồng Cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật do Quỹ Ấn tống Hoa Sen, Chùa Xá Lợi thực hiện. Dịp này mình cũng Trò chuyện một chút về đề tài Thở để chữa bệnh, nhằm chia sẻ cho mọi người một phương pháp giản dị mà hiệu quả, góp phần Nâng cao sức khỏe cho bà con miệt biển này.
Chắc bạn đã đọc bài của nhà báo, nhà thơ Phan Chính, đang sống tại Lagi trên baobinhthuan.com.vn 12/08/2022 hôm nay rồi phải không? Mình cũng đã post lại trên dohongngoc.com để chia sẻ cùng thân hữu. Ở đây mình chỉ “chèn” một ít hình ảnh coi vui.

Bãi cỏ xanh ở Lagi Farmstay Cam Bình là nơi mình rất thích, chọn làm chỗ họp mặt cho kỳ này đó. Ngán ngẩm nơi nơi bê tông cốt thép ở các Resort, khách sạn thời thượng rồi! Ở đây nghe ếch kêu, chàng hiu nhảy, bò ụm à… rất vui…




Các… ca sĩ “cây nhà lá vườn” chuẩn bị…
Có 3 bài hát đã được hát trong buổi này. Bông hồng cho Mẹ của Đỗ Hồng Ngọc, Mẹ ta trả nhớ về không của Đỗ Trung Quân và Ca Dao Mẹ của Trịnh Công Sơn.

Lagi… với các nhà thơ, nhà văn như Phan Chính, Cao Hoàng Trầm, Lương Bút, Dũng Nguyên…. Lagi từ xa xưa, vốn đã có truyền thống thi ca, đã có một La-Gi Thi-Xã từ trước 1945, với khá đông nhà thơ sinh hoạt…

Khán thính giả đặt nhưng câu hỏi về “Thở để chữa bệnh”…

và nêu cảm tưởng về buổi Họp Mặt khá đặc biệt này!

Và… về Lagi không thể không ngắm nhìn Hòn Bà xa xa kia… để nhớ tuổi thơ bắt còng gió, cuốn bánh tráng ruốc tươi với ớt xanh cay xé họng…

Và sau buổi làm việc, không gì vui hơn, ngâm nước biển mặn, rồi dạo chơi với xe bò trên bãi biển và đọc sách… Mình đã không quên mang theo cuốn sách mới BUÔNG như để nhắc nhở…
Dưới đây là vài bài viết thấy trên Facebook.
Mình không có Fb nên các bạn gởi hình cho coi vậy.


Thân mến,
Hẹn thư sau nhe,
Do Hong Ngọc.
MÙA VU LAN VỚI BÔNG HỒNG CHO MẸ !
*PHAN CHÍNH
(https://baobinhthuan.com.vn/mua-vu-lan-voi-bong-hong-cho-me-100068.html)
Đây là một buổi họp mặt thân tình, trao đổi về giá trị hiếu đễ, đời người, mà không quá nặng nề với từ ngữ triết luận cao siêu, với tôi hiếm gặp, nhưng thấy lòng nhẹ nhàng và thấu cảm. Đó là cuộc hội ngộ tại Lagi Farmstay (khu du lịch Cam Bình, thị xã La Gi) vào sáng ngày 8/8/2022 – Đơn giản với khu vườn đầy cây xanh, vài căn phòng nghỉ cấu trúc thanh thoát nằm bên chiếc ao đầy sen và cá kiểng… Thế mà “hội trường” từ một quầy bar và các loại băng gỗ, ghế bàn cà phê… được bày biện khá đẹp mắt, đã đông người đến dự từ sớm hơn giờ mời.
Buổi họp mặt “ngẫu hứng” của nhà thơ- bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, là người con của quê hương La Gi kết hợp về thăm quê nhân mùa Vu Lan và gặp gỡ những người thân, những anh em văn nghệ sĩ địa phương. Không những quanh quẩn khu vực trung tâm thị xã mà còn nhiều người từ xã Tân Thuận (Hàm Thuận Nam) là quê mẹ của anh cũng kịp đến. Với khoảng hơn 70 người có mặt trong một không khí thân mật, ấm áp và gần như suốt buổi trao đổi vẫn giữ được cái không gian vừa lắng đọng vừa chân tình. Bs Đỗ HồngNgọc bày tỏ – và đúng với thực tế ở những buổi nói chuyện về Thiền, về học Phật của anh- vẫn giữ cho mình thái độ cởi mở, bình dị, mang tính minh triết dẫu bao nhiêu người cũng đều đáng vui, cũng là chia sẻ…
Dù đề tài Bs. Đỗ Hồng Ngọc nói về “Thiền tập” đối với tuổi “Gió heo may đã về” và kể cả đối tượng bạn trẻ của thập niên 80 thế kỷ 20 quá quen ở báo Mực Tím ngày nào, thật sự là cuộc hội ngộ rất hồn nhiên. Cũng là điều đáng nghe để cảm nhận, bởi ý thức về “thân bệnh” có mối quan hệ với hành động hiếu hạnh, tri ân trong mùa Vu Lan như thế nào. Bs Đỗ Hồng Ngọc, như một thói quen khi ở vai “diễn giả” không bao giờ khệ nệ trang giấy, đề cương, tài liệu… mà có duyên biến hóa, liên hệ rất sinh động các vấn đề. Cái tư chất của một nhà thơ (với bút danh Đỗ Nghê- trước 1975)… luôn được chuyển tải một cách nhẹ nhàng với một phong cách ngôn ngữ đầy ấn tượng, cảm thông.
Dẫn dắt từ 4 câu thơ “Bông hồng cho Mẹ” của bs. Đỗ Hồng Ngọc viết trong mùa Vu Lan năm 2012- sau một năm ngày mẹ mất. Bs Đỗ Hồng Ngọc đến chùa cũng nhận được một đóa bông màu trắng (dành cho người không còn Mẹ), chợt anh rưng rưng nhớ: “Con cài bông hoa trắng/ Dành cho mẹ đóa hồng/ Mẹ nhớ gài lên ngực/ Ngoại chờ bên kia sông…” vì tin rằng mẹ mình sẽ gặp Ngoại, nên Mẹ phải mang đóa bông hồng. Bởi ý nghĩa Vu Lan- mùa báo hiếu, là sự tưởng nhớ công đức bậc sinh thành và tổ tiên theo truyền thống Phật giáo từ ngàn xưa.
Trong cuộc gặp gỡ này Bs.Đỗ Hồng Ngọc đã ra mắt và ghi tặng mọi người tập sách “Bông hồng cho mẹ & Những cảm nhận học Phật”, gồm 37 bài, dày 270 trang (do Chùa Phật học Xá Lợi ấn tống). Trong đó có nhiều đề tài anh đã từng viết trên nhiều tạp chí về văn hóa Phật giáo.Trên Youtube “bs. do hong ngoc”, anh với tư cách người “học Phật” mang đến nhiều khóa tu, một số tự viện ở thành phố Hồ Chí Minh những câu chuyện về Phật học và đời sống qua lăng kính của nhà khoa học, nhà thơ… Anh kể, sau một cơn bệnh thập tử nhất sinh, vượt qua cuộc đại phẫu sọ não, anh bắt đầu nghiền ngẫm về triết lý sống an nhiên của Phật giáo bằng tâm thế của một người “học Phật”. Anh với kiến thức y học căn bản của một Tiến sĩ y khoa quốc gia của Y khoa Đại học đường Sài Gòn (1969) và trải nghiệm nhiều năm là Giám đốc trung tâm Truyền thông và Giáo dục sức khỏe Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, cho nên anh khéo biểu đạt, biện giải từ tinh thần Thiền định, không theo cách nghĩ là phải ngồi yên một chỗ, buông xả, đến với “Thiền và Thở” mà anh dẫn dắt được người nghe với nhiều thi vị, khi coi đó là cách “điều khiển” sự thở. Anh kể chuyện bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, từng tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa ở Pháp năm 1941, do mắc bệnh lao phổi và phải qua bao ngặt nghèo trong cứu chữa, chịu mổ 7 lần và chỉ còn 2/3 lá phổi trái. Các chuyên gia y khoa dự đoán chỉ sống chừng hai năm thôi…Vậy mà bác sĩ Nguyễn Khắc Viện sống dài hơi thêm 50 năm, để lại nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm về y học, tư tưởng sống thanh niên. Có thể coi Bs Nguyễn Khắc Viện là “tiền bối” về phương pháp Thở Bụng mang lại điều kỳ diệu cho những người quan tâm đến sức khỏe sau này. Nhưng với Bs Đỗ Hồng Ngọc đã vừa ứng dụng Thở bụng vừa kết hợp Thiền định một cách khoa học, đơn giản và phù hợp với điều kiện cuộc sống của mỗi người.
Với người La Gi, giới học sinh, sinh viên và lứa tuổi đã trưởng thành rất ngưỡng mộ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Cha mất sớm, mẹ tảo tần nuôi các con khôn lớn đã in sâu trong tâm hồn anh về một người mẹ bất tử trong đời. Ai cũng coi anh là một tấm gương thời trẻ, ở hoàn cảnh làng quê sau chiến tranh, nghèo khó nhưng đã vươn mình trong học tập và thành đạt. Ngôi trường Phan Bội Châu- Phan Thiết là bước đầu đưa anh kịp vào trường Đai học y khoa Sài Gòn rất sớm. Nhưng điều đáng ngạc nhiên, nể phục ở anh là đến nay, dưới tên Đỗ Hồng Ngọc có trên 50 đầu sách về các lĩnh vực Y học, Thiền học, Phật học và nhiều tập thơ, tập tạp bút văn học thuộc loại “hot” nhất, với một văn phong rất riêng, sắc sảo, trẻ trung…Càng quý anh ở cái tình quê hương, họ tộc luôn thấm đậm, nồng hậu mà trong sáng tác đã đong đầy nỗi nhớ thương. Tôi nhớ mấy câu thơ trong bài “Trên sông khói sóng” của Đỗ Nghê/Đỗ Hồng Ngọc-1971: “Người về Mường Mán về Sông Pha/ Người ra Mũi Né về Đại Nẫm/ Thương giọt chuông chiều Lạc Đạo xa”…Với bác sĩ- nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc luôn nặng tình như thế!
(Phan Chính)
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc:
Hãy nhớ mẹ ngay phút giây này, dù mẹ ở kề bên hay xa xôi…
(https://www.phunuonline.com.vn/bac-si-do-hong-ngoc-hay-nho-me-ngay-phut-giay-nay-du-me-o-ke-ben-hay-xa-xoi-a1470115.html)
PNO – Đó là một buổi tiệc cảm xúc với những ký ức về mẹ trong buổi giới thiệu sách “Bông hồng cho mẹ và những cảm nhận học Phật” của tác giả Đỗ Hồng Ngọc.
Những ký ức về mẹ luôn làm lòng người thổn thức. Dù người con có được lớn lên trong vòng tay mẹ hay không, dù mẹ vẫn còn ở nhân gian hay đã về chốn suối vàng, tiếng Mẹ không khỏi khiến ta rưng rưng khi nhắc về.
Bởi thế, vào mùa Vu lan này, buổi giới thiệu sách Bông hồng cho mẹ và những cảm nhận học Phật của tác giả Đỗ Hồng Ngọc tại Hội quán Các Bà Mẹ (Q.1, TPHCM) bỗng trở thành cuộc hội ngộ cảm xúc của những người con. Người tóc bạc, kẻ đầu xanh cùng thả hồn theo tiếng đàn lời ca, cùng trò chuyện về nghề về đời, về sống vui sống khỏe, cùng tập thiền và thở.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhắc lại những kỷ niệm trong mái nhà xưa ở miền quê Phan Thiết (Bình Thuận). Cha ông mất trong rừng, do bị bệnh mà không được thuốc thang, nên ở tuổi 12 thời điểm đó, ông nguyện lớn lên sẽ làm nghề y.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đa tài cũng đã sớm bén duyên với nghiệp văn thơ. Hồn thơ thức dậy ngay khi ông đỡ đẻ, săn sóc em bé sơ sinh, kê thuốc cho bệnh nhi… tạo nên những vần thơ độc lạ riêng có ở nhà thơ áo blouse trắng.
Năm 2012, giỗ đầu của mẹ cũng vào mùa Vu lan, ông viết bài thơ Bông hồng cho mẹ: “Con cài bông hoa trắng/ Dành cho mẹ đóa hồng/ Mẹ nhớ gài lên ngực/ Ngoại chờ bên kia sông”.
Nỗi đau mất mẹ qua lời thơ của thi sĩ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc trở nên nhẹ nhàng như áng mây, như cơn gió. Mẹ xa con để mà gần ngoại, tưởng chừng không có mất mát, không có chia ly chỉ có tình thương xuyên thế hệ, lưu chuyển ấm nồng trong cõi vô thường. Ông giải thích đơn giản về bút danh của mình: Đỗ là họ cha, Nghê là họ mẹ.
![]() |
| Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – nhà thơ Đỗ Nghê (áo xanh nhạt) trong vòng tay bạn bè, người hâm mộ |
Chị Kim Anh (Q.Tân Phú, TPHCM) chia sẻ: “Lúc mẹ mới mất, tôi rất nhớ mẹ, cứ nặng lòng day dứt về chuyện mình đã vô tâm, về những việc chưa làm kịp cho mẹ. Nhưng giờ tôi đã hiểu mình cần làm nhiều việc tốt cho gia đình, giúp đỡ trẻ em nghèo được đi học như thuở sinh thời mẹ vẫn làm thì ở nơi xa, mẹ sẽ thỏa lòng. Và điều quan trọng nhất là phải biết yêu thương bản thân, sống thật khỏe mạnh, hạnh phúc. Mẹ cũng chỉ mong con gái cưng của mẹ được như thế”.
Vì công việc bận rộn nên anh Hoàng Quân (Q.7, TPHCM) ít về thăm cha mẹ ở quê, cũng ít gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han, chỉ gọi khi thực sự cần thiết. Gửi tiền về cho cha mẹ, anh chỉ cần chuyển khoản cho đứa cháu. Một hôm anh gọi điện thoại, đứa cháu bắt máy. Đang lấy quần áo ở ngoài sân vì trời đổ mưa, mẹ hớt hơ hớt hải chạy vào và vấp té. Mẹ vội vã vì nghĩ chắc có chuyện gì anh mới gọi về và vì sợ con mình phải đợi lâu, con làm gì có dư thời gian.
Nhắc lại chuyện này, đôi mắt anh đỏ hoe. Anh bộc bạch: “Thời nay, câu nói cửa miệng là “bận rộn quá” đã thành quen. Thực ra ai mà chẳng có 24 giờ mỗi ngày, chỉ có điều là mình ưu tiên điều gì mà thôi. Và tại sao mẹ không nằm trong sự ưu tiên đó? Chính mẹ là người đưa mình đến thế giới này để mà tiếp cận những mối quan hệ, những cơ hội, những vui sướng, vinh quang, nói chung để mà… bận rộn”.
Một lần trò chuyện trong dịp ra mắt sách Những thằng già nhớ mẹ của Vũ Thế Thành, thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã cuộn trào cảm xúc và viết lên bài thơ Gởi người bạn trẻ: “Người bạn trẻ ơi! Đừng bao giờ như chúng tôi, những thằng già nhớ mẹ/ Hãy nhớ mẹ ngay phút giây này/ Dù mẹ ở kề bên hay xa xôi…”. Những “phút giây này”, những “kề bên”, “xa xôi” đưa chúng ta trở về với cội nguồn thân yêu và tình gia đình thiêng liêng.
Tô Diệu Hiền

Anh Đỗ,
Thư anh đến trong lúc tôi đang đọc quyển sách của Mark Epstein, nhan đề là “Advice not given”. Đây là quyển sách thứ ba của cùng tác giả mà tôi đọc, toàn là xếp vào hạng best-sellers ở Mỹ. Epstein là bác sĩ tâm thần nổi tiếng. Nổi tiếng vì là thầy thuốc giỏi. Và nổi tiếng là nhà Phật học uyên thâm. Có gì lạ đâu, phải không anh Đỗ? Đức Phật của chúng ta đã chẳng là thầy thuốc đó sao! Lặn lội trong chuyên môn phân tâm học với Freud, với Jung, ông chợt thấy đức Phật, ông lặn lội qua Tây Tạng “học Phật”, học cả với các danh sư ở Mỹ, và ông đem đạo Phật áp dụng vào chuyên môn của ông, rốt cuộc ông nổi tiếng cả hai, cả cách trị liệu tâm thần, cả tư tưởng Phật giáo. Ông sống với đạo Phật trong chuyên môn, ông sống với đạo Phật trong đời thường, càng sống ông càng hiểu thêm đạo Phật, ông đem hiểu biết đó vun trồng trên đất Mỹ cho hợp với thủy thổ xa lạ, và đạo Phật bây giờ sáng trên thủy thổ ấy, anh Đỗ à, tôi cho rằng đích thị hai chữ “học Phật” là như vậy.
Hay thật, anh đâu có biết ông ấy, ông ấy đâu có biết anh, vậy mà tay trong tay, anh đi cùng đường và cùng “học Phật” như thế. Lý tưởng, hành động, cuộc đời, cao đẹp thay là ông thầy thuốc tương chao!
Anh Đỗ, bây giờ tôi hỏi anh câu này nhé, vì anh với tôi đều đã đọc “Tổng Quan về Nghiệp” của Thầy Tuệ Sỹ: Anh “học Phật” trước hay học Y trước? Chắc anh sẽ trả lời: hiển nhiên là học Y. Nhưng mà, nghĩ thêm chút nữa, cái gì xúi anh học Y? Cái gì xúi anh thích Y? Cái gì xúi anh thành ông bác sĩ như thế, lúi húi hành nghề rồi lúi húi dùi mài kinh kệ? “Cái đó”, tôi chắc là anh có trước khi học Y. “Cái đó”, tôi cũng chắc là ông Epstein có trước khi thành danh với bác sĩ tâm thần. “Cái đó”, chính là cái xúi anh đến với Phật mà anh không biết đó thôi, anh đến với Phật trước khi học Y. Anh “học Phật” từ lâu rồi, từ kiếp nảo kiếp nao, để bây giờ thành danh với… Đỗ Hồng Ngọc. Cho nên tôi nói: “Tiên học Phật, hậu học…”. Hậu học cái gì cũng được, cái gì cũng thành danh, ít nhất là thành danh con người.
Nhưng tôi chưa nói hết: anh đâu phải chỉ là ông thầy thuốc, cái danh của Đỗ Hồng Ngọc còn là con người thơ. Cũng vậy, tôi cũng lấy từ “Tổng Quan…” mà ra: thơ đến với anh từ trước khi anh làm thơ. Thơ là tiếng nói trong tận cùng thâm cung bí sử của tư tưởng. Cái gì mà tư tưởng không nói nên lời được thì phải diễn tả bằng thơ. Thơ đời Lý đời Trần là như vậy. Và thơ đó, chắc anh đã đọc không phải chỉ ở trong kiếp này. Cho nên bây giờ hồn anh nhập vào thơ của Thầy Tuệ Sỹ. Cho nên bây giờ anh thấy Phật trong thơ. Cho nên bây giờ một tay anh bốc thuốc, một tay anh viết thơ, thuốc thơm mùi thơ, thơ thơm mùi thuốc.
Còn có chuyện này nữa, hơi khó nói. Tôi thấy thấp thoáng có một người thứ ba nữa nấp sau hai con người kia. Thấp thoáng thôi, đây đó, kín đáo, chỉ nghe tiếng cười cười, tinh tế lắm mới nghe. Chẳng hạn khi anh nói chuyện ngồi thiền. Tất cả đều nghiêm trang, tôi chỉ trích mấy câu cuối:
Hơi thở xẹp xì
Thân tâm an tịnh
Không còn ý tưởng
Chẳng có thời gian
Hạt bụi lang thang
Dính vào hơi thở
Duyên sinh vô ngã
Ngủ uẩn giai không
Từ đó thong dong
Thõng tay vào chợ.
Rất nghiêm chỉnh, kể cả lúc anh vô chợ mà chẳng để mua gì, vì hai tay thõng thế kia thì làm thế nào móc túi lấy tiền? Thế rồi anh cắt nghĩa: “Mặt hồ tĩnh lặng thì không cần ghi bóng con hạc bay qua, không cần biết hạc vàng hay hạc đỏ, hạc trống hay hạc mái…” Ối giời, hạc vàng thì chỉ bay trên lầu Hoàng Hạc trong thơ Đường, đâu có bay trên mặt hồ Sài Gòn hay Phan Thiết? Bạn tôi nhầm với con vạc “như cánh vạc bay” rồi chăng? Không phải đâu. Nhà thơ nghĩ ra hai chữ “trống mái” rồi nhà thơ khoái chí vừa hạ bút vừa cười cười, hạc hay vạc thì có gì đáng quan tâm?. Ấy là bụng để ngoài da, con người thứ ba “anh linh phát tiết ra ngoài” đấy nhé. Có ai đa tài mà chẳng đa… tình?
Tôi “học Phật”, ngồi thiền với anh, thỉnh thoảng thấy tâm có hơi lộn xộn như thế, chắc anh cũng cười cười mà thông cảm nhau. Nhưng, nói nghiêm chỉnh nhé, con người thứ ba là cái duyên của anh. Chữ nghĩa mà không có duyên thì buồn lắm. Cho nên thỉnh thoảng anh cứ cho anh chàng thứ ba ấy cười cười một chút như thế, và mọi người sẽ cùng vui mà “học Phật” với anh.
Thân mến,
Cao Huy Thuần
(Oct 29, 2021)
MỤC LỤC
Thay lời tựa: Thư Cao Huy Thuần gởi Đỗ Hồng Ngọc
1. Biết rồi còn hỏi! 13
2. “BUÔNG” 17
3. Ngoài hư không có dấu chim bay? 25
4. Sáng, trưa, chiều, tối… 33
5. Thiền và Trí thức 43
6. “Ba điều bốn chuyện” 55
7. Mùa Cô-vi: Nhắc chuyện Độc cư/ Thiền định/
Kham nhẫn/ Tri túc

8. Nói thêm về Thở Bụng 69
9. Con đường an tịnh 79
10. Phật cười dưới trăng… 93
11. Học cùng “Từ Huyền Thoại tới Tâm Kinh”
của Nguyên Giác 97
12. Về thăm đất Phật, Nepal 107
13. Úc du và vài bài học hay 115
14. Mười hạnh Phổ Hiền 119
15. “Bốn lời nguyện rộng lớn” 135
Vì thế, có lần mình viết cho một người bạn trẻ ở phương xa mấy câu khi hỏi Ngày Sinh Nhật:
Anh không có Ngày Sinh Nhật
Nên mỗi ngày là Sinh Nhật của anh
Cảm ơn em
Nhớ đến anh
Ngày Sinh Nhật…
Ai dè có người Minh Lê, nhớ “Tháng Sinh Nhật” của mình, từ nơi xa xôi gởi một món quà nhỏ.
Mình thấy không nhỏ tí nào. Giấu biệt. Ai dè blog tranthinguyetmai “xin những tình thân ái/ còn hoài như hôm nay”, đưa lên mạng…
(nguồn https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2022/08/02/nhe-hang-bui-tran/)
Có nhiều cách lý giải việc ra đời một sinh mạng mới, từ sinh học đến triết học, chỉ riêng Bác sĩ – Thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết:
“Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình.”
(Thở) (1)
Hợp lý và dễ hiểu hết sức: có thở mới có sự sống mà. Nhưng nhà thơ lại kín đáo “dính” vô một chút bụi để thành “của mình”, làm chi vậy? Thì “của mình” là cái “ngã” theo cách nói của Phật đó. Cái “ngã” này nó xúi mình “tham – sân – si”, “ngã” càng nhiều thì “bụi” càng dày, hơi thở càng mệt mỏi.
Mà không phải ai cũng biết mình đang tích “bụi” đâu nghen, nhứt là cái thời son trẻ “chân son bước giữa bụi hồng không hay” (Qua trường) (2) Từ tuổi thanh niên nhiều ước mơ và hy vọng, rồi sang tuổi trung niên thành đam mê và tham vọng. Tới một lúc nào đó, bụi trĩu vai người, giựt mình nhìn lại, bỗng thấy mình:
“Một gùi đầy ắp chân không
Lênh đênh xuống núi giữa mênh mông người…”
(Chân không) (3)
Đã “chân không” mà lại “đầy ắp” mới hay! Chắc tác giả vừa viết vừa cười tủm tỉm: ai hiểu sao tùy… hỉ. Người chưa thấy mình đang tích “bụi” thì cái “chân không” đó nặng trĩu những thứ vô thường như tiền tài danh lợi. Người biết mình đang tích “bụi” thì cảm được lượng “bụi” mình đang mang ngày nào đó sẽ hóa “chân không”. Còn người đã “ngộ” thì gùi trên vai nhẹ hẫng, “tâm không” luôn rồi.
Gùi nặng thì lưng còng, chân loạng choạng, nên “lênh đênh” giữa hồng trần một cách trôi nổi, không biết đi về đâu, “giữa mênh mông người” bỗng thấy lẻ loi. Gùi nhẹ thì lưng thẳng và chân cũng nhẹ, cứ thong thả mà “lênh đênh xuống núi”, “giữa mênh mông người” vẫn thấy an vui. Chỉ hai câu thơ mà “tùy người, tùy tâm” có thể hiểu ba cách khác nhau.
Nếu nói trạng thái tâm đắc cuối cùng là “tâm không”, không có cái gì là “của mình”, vậy mình tồn tại trong cuộc đời này làm cái gì? Lý do đây:
“Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”
(Thở) (4)
Hơi thở “của mình” trong hiện tại sẽ được tiếp nối bằng những hiển hiện “mình” trong tương lai, nghìn năm sau và lâu hơn thế nữa. Nên giờ mình phải sống cho đẹp, cho vui để “mình” trong tương lai sống càng đẹp, càng vui.
Thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn có những câu thơ dễ hiểu mà không dễ để… hiểu khiến người đọc phải chịu khó nghĩ và ngẫm. Lại như câu này:
“Mới hay năm tháng phôi pha
Mỗi đêm là mỗi giao thừa… thiệt vui!”
(Tuổi Tôi) (5)
Hồi nhỏ đón giao thừa mỗi năm một lần, giờ qua “năm tháng phôi pha” lại đón giao thừa mỗi… đêm. Thời gian với cuộc đời đã ngắn lại, nên mỗi ngày mới đều đáng vui đáng quý. Nhưng tôi nghi tác giả lại đang “tùy hỉ” ở đây, bởi cũng có thể hiểu rằng khi biết “năm tháng” sẽ “phôi pha” thì sẽ biết trân quý mỗi 24 giờ đang tới.
Trở lại chuyện hơi thở. Bởi thi sĩ cũng là Bác sĩ nên không nỡ để người đọc bơ vơ trong chốn bụi trần mà từ tốn chỉ vẽ cách thở:
“Thả lỏng toàn thân
Như treo móc áo
Ngồi xếp bằng tròn
Vai ngang lưng sổ
Dõi theo hơi thở
Như mượn từ xa
Khi vào khi ra
Khi sâu khi cạn
Chú tâm quãng lặng”
(Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa) (6)
Tác giả khiêm tốn nói đây chỉ là một bài vè “tập thở” nhưng trong thực tế làm được như vậy là dư sức có “thân tâm an tịnh” (6) Hơi thở giờ đây đã sạch bụi rồi!
Càng đọc Đỗ Hồng Ngọc, tôi càng thấy nụ cười tủm tỉm của Anh nhẹ và sâu hơn. Xin tặng Anh một “chân dung” từ một người không có tài vẽ, cũng không có tài làm thơ:
Có một người
Cười tủm tỉm chữa bịnh
Cười tủm tỉm mà làm thơ
Cười tủm tỉm học Phật
Nụ cười anh
Nhẹ hẫng bụi trần.
Minh Lê
(31/7/2022)
Ghi chú:
(1), (2), (3), (4), (5) Thơ Đỗ Hồng Ngọc, trích từ “Thơ gởi bạn xa xôi (4): Lục bát” 9/2/2022, dohongngoc.com https://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/thu-goi-ban-xa-xoi-4-luc-bat/
(6) trích từ “Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?” 25/1/2017, dohongngoc.com https://www.dohongngoc.com/web/o-noi-xa-thay-thuoc/thay-thuoc-va-benh-nhan/tha-long-toan-tha-long-chua/
Hội quán Các Bà Mẹ:
Giao lưu với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về cuốn “Bông Hồng Cho Mẹ & Những Cảm Nhận Học Phật”
Ngày 17.7.2022
Cảm ơn Ng. Văn Quyền đã thực hiện một clip thật dễ thương cho buổi Trò chuyện thân mật giữa Đỗ Hồng Ngọc và các bà mẹ, các thân hữu tại Hội Quán Các Bà Mẹ, số 7 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1, Tp HCM, ngày 17.7.2022.
Địa điểm nằm trong khung cảnh một Chợ quê, dưới bóng cây đa cổ thụ, giữa lòng Saigon ồn ào náo nhiệt trong một buổi sáng Chủ nhật, quả là không dễ tìm! Lại còn cái căn gác nhỏ, ọp ẹp, chật chội, không cả ghế ngồi… Nhiều bạn đến trễ, không lên gác được phải bỏ về, cằn nhằn mãi…
Hội quán CBM thì nói có chỗ khang trang, rộng rãi, bề thế hơn… nhưng lỗi tại bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cứ đòi lấy một chỗ quê mùa, cũ kỹ, như chỗ một Bà Mẹ Quê ngày xa xưa đó vậy.
Mong thông cảm.
Đỗ Hồng Ngọc.
Đỗ Hồng Ngọc
Trần Vấn Lệ ở Mỹ, về Việt Nam chơi mấy hôm! Ái chà. Không dễ đâu nha. Anh chàng thi sĩ từng đòi “một đi không trở lại” mà lần này quyết về thăm “người ta ở bển…”, nơi Cồn Thới Sơn sông nước Tiền Giang một chuyến. Lại vừa có tập thơ Dã Quỳ Thương Nhớ ra mắt! Rồi làm một vòng lên Dalat, đến Dran, về Phan Thiết… rất vui.
Về Đàlat, không khóc mà nước mắt cứ chảy, Lệ nói. Đã ở đó 32 năm mà! Rồi về Tiền Giang, qua Cồn Thới Sơn thăm… người xưa, chỉ để vuốt mái tóc bạc phơ của nàng (một cái)… Còn về Phan Thiết thì chỉ kịp thăm mồ mả ông bà!

May Mà Còn Nhớ Thương
Thơ Trần Vấn Lệ Gửi bạn tôi,
Bây giờ Phan Thiết mình dọc bờ sông phượng đỏ. Ngọc ơi sao mình nhớ ngày xưa thuở học trò…
Ngày xưa ôi ngày xưa khi cây cầu đúc gãy, đò xé dòng nước chảy, hoa phượng trôi theo đò…
Mấy mươi năm không chờ, con sông đó chừ khác: ba cây cầu được bắc…mà một người đi xa…
Mỗi năm một mùa hoa không bao giờ thay đổi, hoa phượng tàn, rơi, nổi, con sông đỏ ráng chiều…
Bạn mình cứ nhắc hoài – chuyện thời gian, hoa phượng. Lòng mình thật đau đớn: Tại sao mình bỏ quê?
Ngày xưa mỗi độ Hè, mình ra bờ sông hứng, hoa phượng bay trong nắng, lòng mình như nắng trong…
Hồi đó, Ngọc nửa chừng bỏ trường và xa bạn, mãi đến năm chin tám mình mới tìm lại nhau!
Thời gian qua thật mau, năm mươi năm thiếu chút, tưởng người còn người mất…té ra hai đứa còn!
Mình đang ở đầu non, đang trông về cuối biển: Phan Thiết mình hiển hiện, Ngọc tóc bạc gió đùa…
Đang cũng vào mùa Hè, mình thấy thêm hoa phượng, đỏ rực trong trời nắng…mà tím hườm trong mơ!
Ngọc ơi, một chút thơ gửi về cho Ngọc ngó – mình, con thuyền chưa đỗ, mình, con thuyền còn trôi…
Mình đang rất xa xôi. Ngọc cũng không gần gũi. Phận người, con dế nhũi…May mà còn nhớ thương!
Trần Vấn Lệ viết ngày về thăm lại quê hương:
Năm 2016 tôi có chuyến về thăm gia đình ở Phan Thiết, tôi có gặp Đỗ Hồng Ngọc bằng-da-bằng-thịt tại Sài Gòn ngay lúc tôi vừa rời phi trường Tân Sơn Nhứt để về khách sạn. Ôi bạn tôi…giống tôi: Già! Xa nhau từ năm 1955 đến năm 2016 mới gặp lại, ai còn sống mà không già khú đế? Tay bắt mặt mừng, và khách sáo như không khách sáo: Cả hai đều ứa nước mắt. Cả hai đều gọi tên nhau như…hổi nhỏ: Ồ Ngọc! Ồ Lệ! Rồi, trước khi cầm đũa bữa cơm trưa, hai đứa mặc kệ lu bù người khách mời của BS Đỗ Hồng Ngọc, hai đứa chúng tôi nhắc lại một vài chuyện của thời tí hon: Trong lớp mìnhcó hai thằng trùng họ trùng tên, chỉ khác có tên lót là Đỗ Hồng Ngọc và Đỗ Hoàng Ngọc. Đỗ Hồng Ngọc biến mất khỏi trường Trung Học Phan Bội Châu Phan Thiết từ niên khóa 1955-1956 trở đi…biền biệt. Năm 1989, tôi mới thấy lại cái tên Đỗ Hồng Ngọc trên báo trong nước. Nay, hội ngộ Đỗ Hồng Ngọc thật tình…cứ ngỡ mình gặp ma! Thời gian như nước chảy qua, tại sao con người hay đi ngược lại nhỉ? Tìm gì trong quá khứ? Những nụ cười thắm tươi? Những giọt lệ đoanh tròng? Ôi, tìm gì cũng được…cốt là thấy cái bóng cái hình của cố nhân!
Trong chuyến về của tôi sau hai mươi bảy năm “trời ơi đất hỡi”, Đỗ Hồng Ngọc ký tặng cho tôi tập Tùy Bút mới nhất, Một Hôm Gặp Lại.
Đây là một cuốn sách khá dày của Đỗ Hồng Ngọc, 300 trang, khổ sách, vuông vắn, dễ thương. Tôi từng “mê” tùy bút của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng. Có nhiều năm rất chờ mong tác phẩm mới của Võ Phiến về Tùy Bút. Nay đọc Một Hôm Gặp Lại…của Đỗ Hồng Ngọc tôi thấy Tùy Bút là một thể văn đẹp, mềm mại, tao nhã không khác gì Thơ! Xưa, xưa lắm Phạm Đình Hổ có cuốn Vũ Trung Tùy Bút…mô tả, cô đọng, hâm nóng chỉ vài ba giọt mưa trên tàu lá chuối mà đã ấm cả lòng người. Bậy giờ đọc Một Hôm Gặp Lại của Đỗ Hồng Ngọc, xếp sách mấy lần, gần hai năm tròn trịa, vẫn nghe lòng nao nao, êm ru và diệu vợi…
Còn tôi, mỗi khi viết cho Trần Vấn Lệ không bao giờ quên nhắc Phan Thiết, lần nào đi ngang núi Tà Cú, dãy Ba Hòn, lang thang bên bờ sông Cà Ty (sông Mương Mán) … không thể không nhớ Hoài Khanh, nhà thơ xứ mình. Nhất là khi đi ngang Ba Hòn mình thường nhẩm câu thơ của Hoài Khanh “Người đi để dãy Ba Hòn chơ vơ” và cái Bưng Cò Ke ở ngay dưới chân dãy núi đó . Thế nhưng, nhớ lần ghé thăm Hoài Khanh ở Biên Hòa, anh đính chánh “Người đi nhớ dãy Ba Hòn trơ vơ” chứ!
Hoài Khanh sinh ra và lớn lên ở Đức Nghĩa, Phan Thiết. Nhà anh cách chỗ chùa mình ở không xa. Anh lứa lớn, đã phiêu bạt… giang hồ tự thuở nào, lúc mình còn cắp sách đến trường tiểu học bên bờ sông Cà Ty! Anh vào Saigon, làm thơ, làm báo và một mình dựng nên Nhà xuất bản Ca Dao nổi tiếng một thời. Và thơ Hoài Khanh thì thời tụi mình không ai không thuộc ít nhiều. Trong bài thơ Đức Nghĩa, Hoài Khanh viết:
Biển mang niềm nhớ đi hoang
Gió Trường Sơn luyến mây ngàn Tà Dôn
Ôi sương Núi Cú lạnh hồn
Người đi nhớ dẫy Ba Hòn trơ vơ
Cành dương cát trắng hững hờ
Nhìn nhau thuở ấy bây giờ nhớ nhau.
Hoài Khanh
Vậy đó. Nói tới Phan Thiết là vậy đó. Biển. Cát trắng. Đồi dương. Mây ngàn. Tà Dôn. Tà Cú. Ba Hòn…Tình cờ gặp Phạm Gia Cẩn, ở Úc về, là học sinh đệ thất Phan Bội Châu Phan Thiết 1956, sau bọn mình 2 lớp. Cẩn nhận ra mình, anh em bèn kéo vào quán café ngồi nhắc ngôi trường Phan Bội Châu cũ – là chỗ trường Tiến Đức ngày xưa bọn mình đã học ở đường Trần Hưng Đạo- trước khi dời qua trường mới sau này… Rồi nhắc Phan Đổng Lý, Trần Vấn Lệ, Phan Bá Thụy Dương… và những con đường làm mình không thể không kêu lên:
Ơi những con đường ta đã đi
Gia Long Đồng Khánh mượt xuân thì
Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh
Gió ở đâu về thơm bước khuya…
(Đỗ Hồng Ngọc, Trên sông khói sóng 1970)
Núi Tà Cú, bạn nhớ không? Bọn mình ở Phan Thiết ngày xưa Mùng 2 Tết thường đi xe đò hay xe đạp lên Núi Cú chơi. Ôi nam thanh nữ tú. Đường bộ leo suốt vài giờ không thấy mệt. Riêng mình, nhà bà Ngoại ở ngay dưới chân núi Cú nên từ hồi 4,5 tuổi đã được các cậu cõng lên núi cùng Bamá, có khi ở luôn mấy ngày liền, ăn tương chao cũng đã quen.
Bây giờ Tà Cú đã có cáp treo. Trong đoàn có nhà văn Elena, người Ý, vợ nhà văn Trương Văn Dân cứ nhứt định “Tà Cu, Tà Cu” dù đã học tiếng Việt mấy năm vẫn chưa phát âm đúng!
Tà là “núi”, vùng này mình có Tà Cú, Tà Dôn, Tà Đặng, Tà Lài, Tà Bao… Cũng như La là “sông”, có La Gi, La Gàn, La Ngà, La Ngâu v.v… (tiếng Chăm).
Tà Cú nổi tiếng với tượng Phật nằm, dài 49m, được xây dựng từ năm 1960 đến nay vẫn là một thắng cảnh tuyệt đẹp. Nguiễn Ngu Í đã có mấy câu thơ về Tà Cú:
Nhè nhẹ sương bông ôm núi lịm
Êm đềm cây cỏ đắm trong mơ
Tiếng chuông đâu bỗng rung lòng đá
Ngó xuống trần ai thấy mịt mờ…
(Nguien Ngu I, 1945)
Hãy đọc Trần Vấn Lệ qua ngòi bút Kiều Minh Mạnh, người xư Dran dịp ra mắt tập thơ Dã Quỳ Thương Nhớ:
“Ông là người con của Phan Thiết- Bình Thuận. Nhưng là một người đã ở trọ Đà Lạt suốt 31 năm thì thành phố sương mù đối với Trần Vấn Lệ chắc chắn không chỉ “là nơi đất ở”, như ông đã tâm sự: “… Mình coi Đà Lạt như Cha Mẹ. Cha Mẹ đổi thay nét mặt, thân hình…nhưng không đổi thay tấm lòng…”. “Ai đã lên Đà Lạt, quả thật không muốn về…Tôi nhớ quá rừng thông, xanh xanh từng dốc núi. Nhớ cả con dế nhũi, chạy dưới gốc dã quỳ. Đà Lạt- tôi ở đây, mấy mươi năm khôn lớn…”
Hơn 15 năm làm thầy giáo: “Đà Lạt tôi thắm thiết, thời tôi dạy học trò, có em thơm như ngo, có em hiền như liễu…” Chắc chỉ có thầy giáo nhà thơ thì mới cảm nhận học trò mình “thơm như ngo, hiền như liễu”. Ngo và liễu ở Đà Lạt thì nhiều lắm…mà sao lại không “thơm như thông” mà lại “thơm như ngo” nhỉ? Ngo được chẻ ra từ thân cây thông, là những đoạn thân đọng nhiều tinh dầu nhất, người ta dùng nhóm lửa.
Trong màu vàng thủy chung nhưng đầy tiếc nuối xuyên suốt Dã Quỳ Thương Nhớ, có một địa danh thi nhân thường nhắc đến bên cạnh Đà Lạt, đó là Dran- Đơn Dương: “Chiếc xe đò Đà Lạt xuống dốc về Dran, đường xe lửa nghiến răng chỉ còn trong ký ức. Lạy trời em đừng mất…vì còn hoa quỳ kia”…(TVL).
Thơ Trần Vấn Lệ như văn xuôi nhưng có vần có điệu. Nhiều bài chẳng có dấu câu khiến người đọc phải tự tìm ngắt điệu, có người tưởng đó là lỗi của biên tập in ấn, đọc đến bài gần cuối mới vỡ lẽ. Thơ ông lạ, nhưng ông làm thơ dễ dàng như hơi thở, câu từ bình dị, cấu tứ giản đơn, dễ tìm được sự đồng cảm. Trần Vấn Lệ suy nghĩ bằng thơ, hoài niệm thành thơ, khóc cười cũng nên thơ…” (KMM).

Trần Vấn Lệ và Đỗ Hồng Ngọc (Saigon, 2016)
Cũng nên thêm một bài thơ nữa kiểu Trần Vấn Lệ:
Mỗi Bước Em Mùa Xuân
Tôi không biết bây giờ bãi biển Phan Thiết sao; nhưng tôi nhớ hồi nào…bãi biển Phan Thiết đẹp bởi em không mang dép, em đi hai chân trần, mỗi bước em, mùa Xuân gờn gợn như làn sóng…
Buổi chiều không gió lộng, tóc em vẫn bềnh bồng. Nắng hoàng hôn cửa sông (con sông Cà Ty đó), em trong manh áo gió, lồng lộng môt hình dung. Em là đóa hoa hồng, tôi bồng mà được nhỉ, hôn bao nhiêu cho phỉ…cho trọn lòng nhớ nhung…
Em đuổi những con còng / vòng quanh bàn chân ngọc. Em đã quên mái tóc / thổi ngược về phía tôi. Em em à em ơi…ngày đầu đời tôi biết mình yêu người ta thiệt (hồi đó tuổi hai mươi).
…Rồi thì lặn mặt trời. Rồi em về, bỏ biển. Những con còng đau điếng cũng lội về biển sâu. Em biết tôi đứng đâu cúi đầu thương nhớ lắm? Bãi biển Phan Thiết ấm…còn hương thừa tóc em…
Nhiều năm tôi lênh đênh trên rừng và trên núi. Biển Phan Thiết vời vợi thấy ngang đường chân mây. Nhiều năm tôi ở đây, nghẹn ngào đời viễn xứ, biển Phan Thiết…ai đó, có còn đi đuổi còng? Tôi hỏi và tôi không nghe một lời vọng lại. Tôi biết đời tang hải. Tôi hiểu chữ đổi đời. Nhưng tôi nhớ một người tóc thề thơm gió biển!
Như…con còng đau điếng, tôi làm bài thơ này… Đó, là chiều hôm nay / lòng tôi đây yêu quý. Tôi nhớ về tới Huế, ôi ai đó tóc thề…
Trần Vấn Lệ
Bài thơ viết về sông Cà Ty Phan Thiết mà bỗng nhớ tới sông Hương khiến cho tôn nữ thu dung cũng phải kêu lên:
Nỗi nhớ từ Phan Thiết
Lang thang về sông Hương
Bởi con còng …đau điếng
Ngậm hoài một vết thương !( tntd)
Lần nọ, Trần Vấn Lệ nghe tôi có dịp về Mỹ Tho bèn nhắn:
Người ta ở bển…
bạn có qua cồn Thới Sơn
người ta ở bển…
(Trần Vấn Lệ)
bạn nhắn nhờ thăm người ta ở bển
cồn Thới Sơn giữa dòng Mekong
ta lặn lội trăm lần tìm kiếm
ngược xuôi khắp ngã chằng chịt bóng dừa xanh.
sông rạch quanh co lách con thuyền nhỏ
bập bềnh sóng nước phương Nam
bạn dặn người ta mười bảy
tóc chải mượt dầu dừa
môi thơm mùi kẹo
nước da trắng muốt
nhờ tắm nước dừa xiêm
ta lang thang kiếm tìm
gặp ai cũng hỏi
những cô gái Thới Sơn
má hồng hây hẩy
lắc đầu quầy quậy
hổng quen!
cho đến một hôm trời cũng chiều lòng
có một cô răng khểnh,
bẻ gảy sừng trâu,
rất xinh
đúng là người xưa của bạn
nàng nhìn ta đôi mắt long lanh
khi ta nhắc tên,
nàng ôm chầm lấy ta rồi kêu to
ngoại ơi ngoại ơi…
trần vấn lệ
ổng dìa nè!
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 22.01.2015)
Khi đọc tập thơ “Thư cho Bé Sơ Sinh & Những bài thơ khác” của Đỗ Hồng Ngọc / Đỗ Nghê (2010), Trần Vấn Lệ viết: “… VUI VÌ NGHE TRÁI TIM MÌNH ĐẬP”, bởi vì “Thơ ông không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm…Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…”.
Khuất Đẩu ở Nha Trang bảo bài viết rất lạ. Mới nghe như có vẻ cà rỡn, bông lơn. Nhưng càng nghe càng thấy người viết cũng vào hạng thượng thừa. Viết như chơi, như giỡn, mà bóc tách được cái ẩn tàng của thi sĩ tình yêu. Xa cách đến vậy mà cũng gần nhau đến vậy. Điều ấy chỉ có văn chương mới làm được. Lại nữa, trong số hiếm hoi ấy có một người luôn tự nhận mình không phải là nhà thơ mà làm được như Đỗ Nghê.
(Nha Trang, 10.1.2010)
Còn cô giáo Lê Uyển Văn ở Trà Vinh thì bảo: Em đọc liền một mạch bài viết dài 9 trang này. Lòng rung lên theo chữ, nghẹn ngào theo chữ. Hạnh phúc vì tìm thấy trong bài viết đó những suy nghĩ của mình nhưng ở một tầm cao hơn, sâu rộng hơn, đáng ngả mũ kính trọng vì cái tâm, cái tài của người viết. Em thích nhiều đoạn lắm, nhưng đoạn này mới tuyệt vời làm sao! “Thơ Đỗ Hồng Ngoc / Đỗ Nghê không rườm rà, không làm duyên làm dáng, không lập dị. Thơ ông là Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào. Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm… Gió Bấc đang thổi ở quê nhà, ngày Xuân đang đến không riêng ai…” Cái hình ảnh úp một quyển sách nào đó của anh lên ngực mà nghe ấm quả rất thực, và em tin nó thực với nhiều người. Ngoài kia, có chút lạnh, em hôm nay có chút buồn, buồn cho một đồng nghiệp trẻ sắp qua đời vì bệnh nan y, nhưng đọc bài viết này, em nghe ấm lắm! Em xin cảm ơn rất nhiều vì sự chia sẻ bài viết này. (Trà Vinh 1.2010).
Nói cách nào khác, phải chăng cái chất muối mặn, cái mùi gió Bấc thoảng hương của xứ sở Phan Thiết kia đã làm cho bọn họ gần nhau đến vậy?
(ĐHN, Saigon 7.2022)
………………………………………………………………………………………
Viết thêm:
Nhắc nhóm bạn lớp Đệ thất 1954 (lớp 6 bây giờ) Trường Phan Bội Châu Phan Thiết không thể không nhớ Phan Bá Thụy Dương (Thụy sỹ), Trần Vấn Lệ (Mỹ), Phan Đổng Lý (Úc), Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc (VN)… rải rác khắp chân trời góc biển, mãi 60 năm sau ngơ ngác gặp nhau cứ ngỡ là… ma như TVL nói, nhưng chỉ ngơ ngác rồi mày tao mi tớ một lúc thì vẫn là một… bầy học sinh non choẹt như hồi nào chẳng khác!
Một người bạn trong nhóm mới gởi lại tôi bài viết khi cả bọn có dịp gặp nhau sau 60 năm xa cách:
“Không biết Phan Đổng Lý đã “gieo trồng” mầm thơ thế nào mà bây giờ tuổi trên 70 bỗng nổi hứng làm thơ “vịnh” bạn bè, mà bài nào cũng… hay, cũng bộc lộ “bản sắc” của từng đứa!
… chỉ bằng vài nét chấm phá đã cho thấy một Phan Bá Thụy Dương tài hoa, khinh bạc:
… Trích tiên tại thế, vấy bụi trần hụp lặn kiếp đam mê!
Nay quỳnh tương đối ẩm, mai hương sắc giao kề
Lỡ ngồi ôm góc núi, mỉm môi cười nhân thế
Ánh dương quang rực rỡ, sao lại lạc đường về?
rồi Trần Vấn Lệ, thấy ngay một chàng thi sĩ hào hoa “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”:
Ta vốn mịt mờ đường về bến cũ
Nên thuyền tình lơ lửng mãi dòng sông
Ta nào phải kẽ thả mồi bắt bóng
Mệnh an bài nên tình kiếp long đong…
Riêng bài thứ ba, dành cho Đỗ Hồng Ngọc, không biết “thần giao cách cảm” thế nào, có lẽ PĐL nhớ Đỗ Hồng Ngọc qua bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” bèn “vịnh”
HÀNH Y
(Viết cho Đỗ Hồng Ngọc)
Là một kẻ phụng thừa y đạo
Mang huyết tâm trả nợ nhân sinh
Nhìn thai nhi tượng hình trong bụng mẹ
Ta thấy được gì trong cõi u minh
Tiếng u oa, em chừng vừa tỉnh giấc
Mang vào đời chút âm vọng bi ai
Mắt ngấn lệ em nhìn quanh ngơ ngác
Nợ tiền thân có trĩu nặng bờ vai
Ta nhìn em lòng bâng khuâng thương cảm
Mai đây rồi xuôi ngược biết về đâu
Đường vạn lý ta chúc em nhẹ bước
Có hoa vàng nắng rải, ngợp trăng sao
Ta nào phải kẻ bi quan yếm thế
Chỉ xót thương cho tuổi trẻ bạc phần
Vòng tay ta đã bao lần ôm ấp
Những mãnh đời, ôi, ngắn ngủi mệnh căn!
Ta chọn hành y, cứu nhân độ thế
Ta độ được gì, đã cứu được ai!
Đêm chập chờn ta nằm đợi ban mai
Ngày thoi thóp ta lại chờ đêm xuống
Ta đã lớn lên giữa thời lửa loạn
Gió bụi mịt mù Nam Bắc phân ranh
Tim quặn thắt trước cảnh đời tang tóc
Hồn đớn đau cho thân phận Lạc Hồng
Ta vẫn biết hữu sinh thì hữu diệt
Nhưng đầu xanh nào đã tội tình gì
Một chữ Nghiệp có vơi niềm oán khí
Một hồi Kinh có dịu nỗi sầu bi
Ta đã một lần rong chơi địa phủ
Cầu Nại Hà, nhìn sóng gợn lăn tăn
Tâm tĩnh lặng giữa hai bờ sinh tử
Hồn nổi trôi theo con nước bập bềnh
Một kiếp nhân sinh chưa tròn cuộc nợ
Ngày tiếp ngày cười khóc với thế nhân
Lấy đạo tâm làm thế đạo tu thân
Mang y đạo vào luân hồi chuyển thế .
Phan Đổng-Lý
(Melbourne Feb. 2013)
Ấn tượng nhất với Phan Đổng Lý là cái tính bộc trực, đôi khi có vẻ như “ngổ ngáo” mà trong lòng tràn đầy cảm xúc. PĐL thường kể chuyện hồi đi học, anh rất ghét thầy Hiệu trưởng “ gặp mặt thì làm ngơ” nhưng với cô con gái của Thầy thì anh “mê mẩn ngó theo”. Cái đó anh gọi là “Thù cha mà không ghét con”! Cô bé đó vào trường sau bọn mình vài năm thì phải, nay chắc cũng đã 70 nhưng kiểu này gặp lại, có khi PĐL vẫn còn ngó theo mải miết chớ chẳng chơi!…”
(www.dohongngoc.com, 2013)
Chuyện còn dài. Hồi sau sẽ rõ.
Đỗ Hồng Ngọc.
(31.7.2022)
……………………………………………………….
Tg Anh Hai Trầu, Lương Thư Trung
Anh đã hỏi, không dám không trả lời. Tôi gởi anh và nhóm bạn bè Phan Bội Châu Phan Thiết cũ đọc vài bài thơ “trời ơi” này cho vui nhe.
ĐHN
PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG
Phan Bá Thụy Dương tên thật là Phan Bá Dương. Sinh năm 1940 tại quận Tuy Phong, Bình Thuận.
Khởi viết từ 1958 với các bút hiệu Thùy Dương, Người Áo Xanh, Vương Hầu… và từ năm 1966 về sau là Phan Bá Thụy Dương.
“Chủ nhân” trang Văn Hữu Vườn Tao Ngộ. Viết rất nhiều báo, làm Nhà xuất bản in sách cho thiên hạ, và thiên hạ in giùm lại cho một tập thơ duy nhất: Lời Gọi Cỏ May (2012).
(ĐHN)
……………………………………………………………………..
Lời Gọi Cỏ May của Phan Bá Thụy Dương
Đỗ Hồng Ngọc
Phan Bá Thụy Dương, tên thật Phan Bá Dương, sinh năm 1940 tại Tuy Phong, Bình Thuận, cùng học chung lớp Đệ thất A1 trường Phan Bội Châu Phan Thiết năm 1954 với Trần Vấn Lệ, Phan Đổng Lý, Huỳnh Ngọc Hùng, Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc…
Bọn tôi “thất lạc” nhau mấy chục năm, người góc biển kẻ chân trời, năm nay bỗng gặp lại nhau- tình cờ cũng là dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập trường Phan Bội Châu, Phan Thiết – đứa nào đứa nấy ngớ ra, đầu bạc răng long, ú ú ớ ớ rồi mày mày tao tao tíu tít như những cậu học trò nhỏ nghich ngợm ngày xưa bên bờ sông Cà Ty và bãi biển Thương Chánh!
Phan Bá Thụy Dương viết văn làm báo sớm, từ năm 1958 với nhiều bút hiệu, thân quen nhiều người trong giới văn nghệ sĩ. Anh là một người “khoái hoạt”, vui tính, náo nhiệt, chuyện trên trời dưới đất gì cũng biết nên ai gặp cũng vui. Anh làm sách cho nhiều tác giả mà quên làm cho mình cuốn nào. Mãi nay bạn bè hối thúc quá mới in một cuốn “tuyển tập thơ văn Lời Gọi Cỏ May” cho vui. Lời gọi cỏ may có nhiều bài thơ cảm động, anh em bè bạn viết cho nhau.
Thơ Phan Bá Thụy Dương phải nói là hay, khoái hoạt mà khinh bạt… Thử đọc một đoạn trong liên khúc vô thường:
liên khúc vô thường
ném công án, vất kinh thư bất ngộ
theo đường trăng-
trăng khi tỏ khi lu
tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
giòng sinh mệnh
chừng nhuộm màu chướng khí
bến nhân gian ai quán niệm vô thường
hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương
trên vách núi chân dung in mờ tỏ
…….
(LGCM, tr 4)
PHAN BÁ THUỴ DƯƠNG
Nói Với Thiền Khách
Gởi ĐỗHồngNgọc, TrầnThiệnHiệp
Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm
Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời
Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi
Xin nhẹ bước trên lối mòn tỉnh lặng
Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn
Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn
Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân
Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi
Có phải người đang quay về bến đợi
Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong
Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông
Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió
Chim thức giấc cất lời ru thanh nhã
Người phong trần qua mấy độ truân chuyên
Thấy gì chưa tự ngã với uyên nguyên
Hay ngần ngại chia xa lòng thung lũng
Từ tiềm thức đã lạc quên long trượng
Đâu đây chừng thấp thoáng ánh vô ưu
Thiền khách này, thiền khách đã về chưa
Xin trả lại cho ta quê, tình cũ.
………………………………………………………………..
Phan Đổng Lý “vẽ” PBTD:
Nhớ Phan Bá Thụy Dương
Nhớ đến bạn già mà lòng ta ngán ngẩm
Nặng nhẹ bao lần như đàn khảy tai trâu
Miệng phập phì phèo, nặc nồng mùi khói tỏa
Mắt mở mơ màng, trầm mặc cuộc bể dâu!
Mải miết rong chơi trăm đường thành ngỏ cụt
(…)
Trời xanh chơi ác
Tuổi thơ ngổ ngáo, già lại ngu ngơ
Trầm thân vào chốn bụi mờ
Bạc đầu lưu lãng làm thơ gọi tình
(…)
Trần Vấn Lệ
Gửi Theo Phan Bá Thụy Dương
Bạn đã về chưa? Bạn đã về?
Đến nơi chưa vậy mà im khe!
Hỏi ai, chẳng biết ai han hỏi
Đợi bạn, không nghe bạn nói gì…
Tôi độ rày sao hay tức thở
Bạn hồn nhiên nhỉ vẫn ham đi
Tuổi người, chớp mắt, tôi thường chớp
Chắc khó có ngày ngó lại quê…
Đỗ Hồng Ngọc
(họa lại mấy vần)
Về đi! Sao bạn chẳng đi về?
Khế ngọt sim rừng đợi: nín khe
Bè bạn ấu thời còn mấy đứa
Người thơ cơm áo chớ lo gì!
Ruộng vườn hoang rậm thôi, đừng nhắc
Sông nước gập ghềnh mặc, bỏ đi
Áo ngoại vẫn phơi ngoài giậu trúc
Cơi trầu thơm mãi chút hồn quê…
Sg 16.9.2012
(www.dohongngoc.com)
………………………………………….
………………………………………….
Trang dutule.com, ngày 3 tháng 9-2010 có một tin ngộ:
“ Đỗ Hồng Ngọc và, puzzle… thơ!”
Tháng 10 năm 2009, Cơ sở H.T. Productions ấn hành thi phẩm “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới.”
Bằng vào tình bạn có với nhau tự những năm đầu thập niên 1960 ở Saigòn, nhà thơ Đỗ Nghê (Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,) đã nhặt một số câu trong nhiều bài năm chữ khác nhau của Du Tử Lê, sắp lại theo kiểu…những mảnh puzzle, thành một bài thơ khác. Khá dài. Gửi ngược lại cho bạn.
Tác giả “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” cho biết, ông thích lắm, cuộc đùa nghịch mang tính văn chương và, ý nghĩa này.
Hôm nay, chúng tôi xin gửi tới quý thân hữu trang nhà dutule.com tác phẩm “phối hợp nghệ thuật” của nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhan đề “năm chữ du tử lê và,”. Như một món quà tinh thần nhỏ, trong lãnh vực chữ nghĩa của hai tác giả hiện đang sống ở hai đầu… trái đất.
Trân trọng.
______
Xin được nói rõ thêm một chút.
Cuối năm ngoái, Lữ Quỳnh mang về tôi tập thơ “năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới” với những minh họa rất thơ của Đinh Cường, có kèm cả CD do chính Du Tử Lê đọc. Anh ghi: “gửi người thầy thuốc – nhà thơ dễ thương nhất nước, Đỗ Hồng Ngọc”.
Tôi lần giở. Ngạc nhiên thấy có mấy dòng “căn dặn” độc giả: “… Xin đừng đọc quá 3 bài thơ năm chữ, và không nhiều hơn 1 bài, ở những thể loại thơ khác của tôi, trong mỗi lần đọc. Trân trọng. DTL”.
Tôi cười. Đúng là dutule! Rõ ràng nhà thơ đã tự “chẩn đoán” ra cái bệnh của thơ mình. Anh biết nếu độc giả mà đọc một lèo nhiều bài thơ 5 chữ của anh thế nào cũng mắc nghẹn, phát ách, hoặc… tẩu hỏa nhập ma! Nhiều năm nay, đọc thơ Du Tử Lê đôi khi tôi cũng “phát ách” như thế. Nào phẩy, nào chấm, nào gạch ngang, gạch dọc… Dĩ nhiên nó đều mang những thông điệp, những ý nghĩa. Nhưng… phát ách! Làm như cứ phải nhập “vô lượng nghĩa xứ định” trước khi đọc vậy! Tôi bèn thử nghe CD xem sao. Ô kìa, trong CD lại khác hẳn. Anh đọc thơ trơn tru bằng thứ chất giọng truyền cảm của mình như ngày nào. Thì ra khi đọc, anh đọc theo cái nghĩa. Khi viết, anh viết theo cái ngữ.
Tôi vốn thích thơ dutule vì cái tình, hình ảnh, nhạc điệu, nhất là cái “tứ” rất riêng của anh. Lần này, vì bị anh “cấm” không cho đọc quá 3 bài thơ năm chữ của anh, tôi bèn lật xem thử cái Mục lục trước. Và ơ hay! Tôi phát hiện ra một bài thơ năm chữ rất dutule ở đây. Chính cái Mục Lục đó với tôi, đã là một bài thơ năm chữ, có thể còn là một bài hay nhất trong tập thơ này. Tôi tủm tỉm cười, chép lại và gởi cho bạn xem anh có nhận ra là bài thơ nào, tự đâu, bao giờ không. Anh rất vui, đúng là thơ dutule nhưng đã… không nhận ra bài thơ “trời ơi” này đã từ cái Mục lục ghép thành!
(dưới đây là bài “thơ” do Đỗ Nghê ghép từ tựa các bài thơ 5 chữ trong Mục Lục tập thơ DTL)
năm chữ du tử lê và,
trở giấc cùng hư vô,
chưa ai từng có mặt,
chúng ta những đứa trẻ
cần quá đi tình yêu.
bão đi qua bàn tay,
sương, chiều, trên môi đấy,
tôi: được người cứu chuộc,
gai lũy thừa vết xước,
nuôi tôi lời hứa, dối,
môi nhỏ nhắn nỗi buồn,
những ngón tay biệt, ly,
trong tiếng cười quặt quẹo,
tâm chất đầy phế liệu,
xúc xiểm tôi, mùi hương,
trăng khuyết chiều hóa trị,
môi nhỏ nhắn nỗi buồn,
tín cẩn tôi: nỗi đau
chúng ta ngoài thế giới
nhận mũi đinh tuyệt vọng,
niết bàn nanh chó sói,
dutule
Dĩ nhiên, đúng như anh nói, chỉ là một chuyện đùa vui trong chỗ bạn bè.
______
Phải nói dutule “lừng lẫy” với thơ đã từ lâu, xứng đáng ngồi một mình một vuôn chiếu (luân hoán), nhưng với tôi, có một điều muốn nói riêng với bạn: du tử lê khổ quá, với thơ!
Mà không phải mình tôi đâu. Đọc Nguyễn Vy Khanh coi. Ông có những nhận xét thấu đáo. (https://luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%2016-4-03.htm)
Du Tử Lê đã liên tục thử nghiệm, canh tân, suốt cuộc đời làm thơ và có vẻ không lùi bước! Ông muốn làm mới ngôn ngữ, biến hóa cấu trúc, cách đặt câu, chấm câu, làm mới cách diễn tả thơ (và văn) trên trang giấy, đem thị giác mới đến với thơ.
Du Tử Lê cho rằng đời sống hiện nay như những mảnh vụn, nên xử dụng những dấu chấm, phẩy để cắt vụn câu thơ…. Dùng dấu gạch chéo slash / để cho phép người đọc đổi vị trí chữ theo ý riêng, làm nhịp đi của câu thơ được ngắt lại; tính và chiều đi tới của câu thơ được cởi bỏ để thơ có tự do chuyển động hai chiều và (…), người đọc tự do đổi vị trí các chữ hoặc nhóm chữ đứng trước gạch chéo đến một vị trí khác trong câu thơ nếu muốn (…) thay thế giới tự (preposition) với thí dụ “Rừng / tôi / sâu / thở / nốt chân trời” trong đó ba chữ Tôi / Sâu / Thở có thể đổi vị trí để thành những câu và ý nghĩa khác câu nguyên bản. Rồi “chẻ chữ để thêm nghĩa”: “Sương, trần thân mây chia, ly / nhập chung nỗi chết : sầu khô, héo về” ( Chấm Dứt Luân Hồi : Em Bước Ra). “Và, ngày cù sương: bay lên / nắng thâu phế liệu; em truyền nhiễm, thơ / (…) và chiều cù ta: chìm, rơi / ai /vai / bồ tát / tim / ngồi ghế sau” (Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà).
(…)
Tôi thấy thương dutule! Tự nhiên làm khổ mình với thơ! Khi về Việt Nam năm 2009, anh vạch bụng, chìa tôi xem vết mổ K đại tràng với cái túi đeo lủng lẳng bên hông… Tôi nhìn khí sắc anh nói không sao đâu. Rồi tôi nghĩ thơ anh phải chăng cũng ít nhiều bị ảnh hưởng với những “buổi chiều hóa trị”, và cái tủi lủng lẳng kia… Những lần sau, tôi cùng Du Tử Lê, Vũ Hoàng, Phạm Chu Sa ngồi cafe quán cốc, cũng có nhắc một chút về chuyện… “mần” thơ. Chàng có vẻ lắng nghe. Những lần sau nữa, với Thân Trọng Minh, Hạnh Tuyền và vài thân hữu, chúng tôi chỉ nói chuyên món ăn… quán Lục Tỉnh dưới cơn mưa mùa hạ…
Tôi thấy thơ dutule tự nó đã hay từ trong cốt cách, từ trong tiếng Mẹ của anh, không cần “phu chữ” thịt bắp vai u…
Bởi thơ đi thẳng vào tâm hồn người mà tâm hồn vốn… “vô tướng” (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, Kim Cang kinh)…
Vốn nhà quê thứ thiệt, tôi ưa những câu thơ như thò tay ngắt một cọng ngò/ thương anh đứt ruột giả đò ngó lơ, hoặc trèo lên cây bưởi hái hoa… nó chân chất, mà thiệt ra đàng sau đó là cả một mênh mông của chân không diệu hữu…
Hơn nửa thế kỷ trước, Đỗ Nghê là người giới thiệu Thơ Du Tử Lê, trên tập san Tin Sách do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam xuất bản, bộ mới, số 38, tháng 5-1965, tập thơ đầu tay của anh, do chính tác giả tự xuất bản.
. Chúng tôi chưa hề quen biết nhau. Tôi viết bằng tâm cảm của một người yêu thơ.
Tôi chưa biết Du tử Lê, nhưng đọc thơ anh tôi thấy như quen đã từ lâu, rất gần gũi (…). Du tử Lê đến bằng bước chân ca dao, ngọt ngào, tình tứ, bằng một tâm hồn yếu đuối, đam mê và rất nhiều dằn vặt, xót xa về quê hương, về số kiếp…
tôi còn tiếng nói
tôi còn linh hồn
tôi còn dĩ vãng
tôi còn quê hương
tôi còn lịch sử
tôi còn là tôi
(tuyên ngôn)
(…) Thơ Du tử Lê giản dị mà không thiếu truyền cảm vì đã nói lên ý nghĩ thực: không cầu kỳ, không ngạo nghễ, kiêu sa như phần đông những nhà làm thơ thời thượng.
Bắt đầu một ngày
Con người múa may
…..
Kết thúc một ngày
Con người thua cay…
(Một ngày của con người)
(…) Bên cạnh một Du tử Lê đầy hoang mang, khắc khoải, thao thức đó, còn có một Du tử Lê mềm yếu, đam mê, lãng mạn. Ở đây Du tử Lê cũng trung thành với kỹ thuật của anh. Không có những cầu kỳ, bí hiểm, sáo ngữ mà là những lời ca dao (…)
* tình tôi đam mê hồn tôi yếu đuối
ánh mắt nụ cười em đã giết tôi…
* mai em có con tay bế tay bồng
mai em yêu con, mai em thương chồng
tôi chỉ xin em một lần kể lại
chuyện em sang sông: có tôi đau lòng
(thư cho em)
Và cái nhìn đầy triết lý bi quan:
cầm bằng bãi gió mây qua
đôi chân nhỏ dại lỡ sa vào đời
cầm bằng nước mắt trôi xuôi
tiếng đâu thê thảm ru dài không gian
(Cầm bằng)
(Đỗ Nghê- Tin sách Bộ mới, số 38, tháng 5-1965 trang 9-11)
Không biết Du Tử Lê bây giờ khi đọc lại những dòng này thấy sao, có ngượng, có thấy hồi xưa mình… ngây thơ quá, thơ gì mà thiệt thà quá! Lúc đó bọn tôi đều mới ngoài hai mươi!
Những năm gần đây, khi có dịp gặp lại nhau ở Saigon, Du Tử Lê thường nhắc: Thời đó, một nhà thơ trẻ, có tập thơ đầu tay bao giờ cũng bị… đập, vậy mà Đỗ Nghê đã viết những lời trang trọng. Còn tôi, tôi cũng nói với bạn rằng tôi nghĩ thơ là tấc lòng, “thốn tâm thiên cổ”, cái còn lại là cái tình. Chẳng hạn, với tôi, khi nhắc Du Tử Lê tôi chỉ còn nhớ “Như loài chim bói cá. Trên cọc nhọn trăm năm. Tôi tìm đời đánh mất… Thụy ơi, và tình ơi…” (Khúc thụy du, DTL) hay gần đây “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển / Đời lưu vong không cả một ngôi mồ / Vùi đất lạ thịt xương e khó rã / Hồn không đi, sao trở lại quê nhà” (DTL). Nhiều câu chữ, chấm, phẩy, cấu trúc nọ kia tôi không nhớ đâu, mà cũng chẳng cần nhớ, nhưng cái tình trong thụy ơi và tình ơi hay hãy đem tôi ra biển thì tôi không thể nào quên.
Tôi bỗng nhớ trên Tạp chí Thơ, có một bài viết về thơ “tương tác”, rằng với hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
“Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?”
có thể đọc theo lối ngắt dòng, ngắt chữ thành:
Em ơi /
Bình rượu khô /
Lửa tắt.
Vắng em /
Say với ai /
Rồi đời!
Nhớ năm 1973 thì phải, dutule ôm thằng con nhỏ chạy vào bệnh viện Nhi đồng tìm tôi ở phòng Cấp cứu. Thằng nhỏ bị bệnh Bạch hầu (Dipthérie) nặng, màng giả (fausse membrane) đã lan rộng, chặn nghẹt cổ họng làm hết thở! Bé lập tức được đặt ống nội khí quản giúp thở, làm hô hấp nhân tạo và chích huyết thanh, vaccin, cùng kháng sinh các thứ…
Rồi một tối nọ, anh gọi tôi khẩn cấp: Đỗ Nghê đến “cứu” mình với! Thì ra có một nữ độc giả ái mộ thơ Du Tử Lê đang ngồi đợi anh ở quán café H, Đakao. Anh kẹt vì một lý do gì đó không biết, nhờ tôi tới “cứu bồ”. Tôi xách xe đến gặp cô nàng trò truyện… suốt buổi về thơ Du Tử Lê! Mấy chục năm sau, gặp lại Du Tử Lê và phu nhân của anh về thăm quê hương hóa ra là nàng… Chính là cô gái mê thơ dutule tôi đã gặp năm xưa ở quán café!
Có người nói anh có số đào hoa! Có người nói anh có cái giọng khiến con kiến… trong hang cũng phải bò ra! Tôi không biết. Với tôi, anh vẫn vậy. Nhỏ nhẹ. Dễ thương. Lãng mạn. Sâu sắc.
Năm 2017, bỗng có bài viết trên dutule.com về thơ đỗ hồng ngọc/ đỗ nghê, như là một lời trần tình, một trao đổi những nghĩ suy về thơ và “mần” thơ của chúng tôi:
Đỗ Hồng Ngọc, thơ như một hạnh phúc?
dutule.com 21.11. 2017
Du Tử Lê
Nhiều độc giả (kể cả một số người có làm thơ), nói với tôi rằng, biết làm thơ và làm được thơ là một hạnh phúc! Tôi nghĩ khác.
Với tôi, trừ những người đến với thi ca như một thời thượng, làm dáng, hoặc, một cuộc du ngoạn ngắn hạn thì; làm thơ là một lao động (tinh thần,) vất vả. Một thao tác trí tuệ ngặt nghèo. Thường khi bất lực. Đuối sức. Với tôi, đó là một cuộc chạy đua việt dã không đích đến. Không bạn đồng hành. Khi đối diện với bài thơ thì, chỉ có mình y, cùng lắm là… chiếc bóng.
Ngoài ra, tôi chưa thấy một cá nhân bình thường, không bị một khuyết tật tinh thần nào, lại ở được bền lâu, với thi ca. Tôi cũng chưa thấy một cá nhân thỏa mãn mọi lãnh vực trong đời thường, có thể tạo được một hôn phối tốt đẹp với thi ca. Tại sao?
Xin thưa, vì căn bản, thi ca là đỉnh ngọn chênh vênh, nhọn, sắc nhất của định mệnh bất toàn.
Vì căn bản, thi ca là cõi trú đầu tiên và, cuối cùng của những tâm hồn bất an.
Những sinh phần liu điu, cần sự cân bằng sinh-thái-tinh-thần…
Hiểu như thế, với tôi, nhà thơ trước nhất, là người thợ đào bới để làm mới những con chữ đã cũ, hoặc hình ảnh, chân dung những mảnh đời đã mất. Khi tìm được những hầm mỏ chữ, nghĩa, những “trầm tích” gặp được ở độ sâu đủ thì, tôi cho, đó là lúc nhà thơ sức thả mình, rớt xuống. Y hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình.) Y hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu), với địch thủ trên cơ: Định mệnh. Y san bằng mọi bất toàn. Y cân bằng sinh-thái-thân-tâm. Nhưng, đau đớn thay, đó cũng là lúc, y thấy tận cùng vẫn là thất bại, hiểu theo nghĩa nào đấy – – Để rồi y lại khởi sự một lên đường khác (?)
Trên hành trình chữ nghĩa, ở đôi ba giao lộ, tôi may mắn được gặp một số bằng hữu. Những thi sĩ. Trong đó, có Đỗ Hồng Ngọc. Thi sĩ.
Tôi không chủ quan nghĩ rằng, Đỗ Hồng Ngọc, sẽ sẵn sàng chia sẻ những quan điểm của tôi về thi ca và, đời sống: Chữ nghĩa và sự bất toàn. Khuyết tật và định mệnh.
Nhưng, là người dõi theo hành trình văn chương của Đỗ Hồng Ngọc, trên dưới sáu mươi năm qua – – Từ những bài thơ đầu đời, tới những bài thơ mới nhất trong thi phẩm “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” (của năm 2017), tôi nghĩ, Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, thi sĩ, không chỉ muốn hoàn tất cuộc đua việt-dã-trí-tuệ (một mình). Ông cũng không chỉ muốn hoàn tất trận đánh sinh, tử (dài lâu,) với địch thủ trên cơ, định mệnh. Mà, ông còn muốn trả ơn người, tạ ơn đời bằng chính những lao tác tinh thần, song song với những lao động đời thường, với tư cách một bác sĩ, của ông nữa.
Ở quá xa, tôi không thể tìm đến ông (như ngày nào), để ngả mũ chào ông: Một thi sĩ. Tôi viết xuống, những dòng chữ này, như một lời xin lỗi, thi sĩ.
Hôm nay, giữa thập niên 2010s của một thiên niên kỷ khác, tôi lại thấy tôi sẽ rất không phải với họ Đỗ, nếu không sớm nói với Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc rằng, cá nhân tôi, cũng rất biết ơn ông với những trang văn xuôi đẹp như thơ, ông gửi cho người, cho đời. Thí dụ “Gió heo may đã về”. Thí dụ “Già ơi…Chào bạn”. Thí dụ “Nghĩ từ trái tim”. Thí dụ mới đây: “Ghi chép lang thang”… và nhiều nữa!
Tôi thích lắm tựa đề của tác phẩm của họ Đỗ. Ông gọi đó là những “Ghi chép lang thang”, đúng nghĩa… lang thang – – Nơi trang 287 và 288 của tác phẩm này, khi phải trả lời câu hỏi của độc giả Lê Uyển Văn, tác giả giải thích, ghi chép lang thang, thực ra là những ghi chép không đầu không đuôi, kiểu “cà kê dê ngỗng” trong lúc lang thang nơi này hay nơi khác. Ông chợt nghĩ, chợt nghe, chợt nhớ… một điều gì đó có khi chỉ là mùi khoai nướng, có khi chỉ là mùi dĩa bánh căn, mùi cá khô đuối xúc hột vịt…, thậm chí mùi phân trâu bò trên đường làng cũ, nhưng cũng có khi là một câu nói đanh thép của nhà vua trong bảo tàng viện với hàng trăm chiếc… thuyền thúng giăng ngang bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng một ngày lộng gió…
Cũng trong 2 trang sách vừa kể, với bản chất khiêm cung, luôn chọn vị trí cách xa ánh đèn sân khấu tiền trường, giấu mặt trước những lời khen dù chân thật của đám đông, Đỗ Hồng Ngọc đã viết thêm:
Tác phẩm “Ghi chép lang thang” của ông, không phải là chuyện ‘văn chương chi sự’ mà, chỉ là những ghi chép riêng tư cho đừng quên với người tuổi tác.
Thế rồi thế giới bỗng nhiên phẳng, người người trong nháy mắt có thể tâm tình trao đổi cùng nhau, bèn cùng mò mẫm mà “tung” lên cho bạn bè gần xa khắng khít nhau hơn. Ghi chép lang thang như vậy cũng chỉ là những cảm xúc bất chợt, không tính toán, không… hư cấu. Mà thực ra ‘ghi chép’ cũng chẳng phải là “ghi chép”… Ông nói:
“… Có khi viết lách lăng nhăng dòm trông giống bài thơ mà không biết có phải thơ không, hoặc có khi ngoằn ngoèo như một phác thảo… mà không biết phải họa không”…
Sau này, được đọc nhiều bài biết của bằng hữu về cõi giới văn chương Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy dường như quan điểm của tôi về văn chương của Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, có nhiều phần nghịch với quan điểm của nhiều tác giả khác.
Thí dụ nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, khi viết về thế giới thi ca Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc, trong bài tựa đề “Khói trời phương đông”, đã ghi nhận rằng, Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, từ những bài tùy bút cho đến thơ, họ Đỗ luôn trân trọng với chữ nghĩa. Ông không hề đùa cợt với chữ nghĩa, “lên gân” cho mọi sự vật… Ông cẩn thận quan sát những hiện tượng quanh mình, trong chính cuộc đời mình y như người thầy thuốc chẩn đoán căn bệnh cho bệnh nhân. Bởi vì căn bản ông là một thầy thuốc yêu nghề, có lương tâm.
Ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của họ Đỗ về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới chợt thấy ra…Nó vẫn có đấy nhưng ta không nhìn thấy, không nghĩ ra được nhỉ?
Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhấn mạnh rằng, những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, nhưng qua ngòi bút của Đỗ Hồng Ngọc, chúng được “hóa giải, đã giúp ta từ bỏ thói quen nhìn, nghĩ đời sống quanh ta, một cách hạn hẹp… bất cập – Để từ đó, ta có được cái nhìn cởi mở, thênh thang, không thiên kiến…”
Tôi cũng không quên mới đây, nhà thơ Phạm Chu Sa đã ghi nhận một cách chi tiết, chân tình về Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc. Nhưng dù các bài viết về cõi-giới văn chương của ông, thâm trầm hay nhẹ nhàng, đơn giản thì, tự thân những bài viết ấy, cũng đã thắp sáng những thành tựu, hiểu theo nghĩa “hạnh phúc” mà Đỗ Hồng Ngọc đã đạt được.
Nhà thơ Phạm Chu Sa cho rằng, nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ-nhà văn, nhưng Phạm Chu Sa cho biết, ông vẫn thích gọi Đỗ Hồng Ngọc là “thi sĩ hơn là bác sĩ,” bởi vì Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.
Phạm Chu Sa kể rằng Đỗ Hồng Ngọc làm thơ và có thơ in từ thời sinh viên – tập “Tình Người” (xuất bản năm 1967), ký bút hiệu Đỗ Nghê. Mấy năm sau khi ra trường là “Thơ Đỗ Nghê” (in năm 1973). Tập thơ đã gây được tiếng vang trong văn đàn thuở đó. Sau này ông trích một số bài trong hai tập thơ trên in lại trong các tập thơ “Giữa Hoàng Hôn Xưa” (1993), “Thư Cho Bé Sơ Sinh và Những Bài Thơ Khác” (2010).
Bài thơ làm tựa chính “Thư Cho Bé Sơ Sinh…” Đỗ Hồng Ngọc viết năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa thực tập tại bệnh viện Từ Dũ: “Khi em cất tiếng khóc chào đời/ Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười/ Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao kẻ cười người khóc/ Trong cùng một cảnh ngộ nghe em…/ Khi anh cắt rún cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ… Thôi trân trọng chào em/ Mời em nhập cuộc/ Chúng mình cùng chung/ Số phận con người” (Một bài thơ đặc biệt vì dường như chưa nhà thơ nào viết về đề tài này).
(…) Để chấm dứt bài viết của mình, nhà thơ Phạm Chu Sa khẳng định: “Tôi nghĩ sau này người ta có thể quên một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhưng người ta không quên Đỗ Hồng Ngọc thi sĩ.”
Không chỉ Nguyễn Lệ Uyên hay Phạm Chu Sa mà còn nhiều bằng hữu khác, ghi nhận về tiếng thơ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc như một thành tựu tốt đẹp, dẫn người đọc tới kết luận những người làm thơ, được nhiều người ưa thích, là những người có được cho họ niềm hạnh phúc tinh khiết trong cuộc sống thực tế chấp chới những khổ đau, bất toàn này.
Đa số bằng hữu của họ Đỗ cho rằng về hạnh phúc có được từ thơ, của Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi thấy cảm nhận của tôi về những “lao động” thi ca của những người làm thơ có phần không đúng. Ít nhất cũng đối với Đỗ Nghê.
Tôi càng thấy sự “cường điệu hóa” (?) của tôi về hành trình của thi ca của Đỗ Nghê trong quá khứ là những nhận định thiếu cơ sở – tiêu biểu là thi phẩm mới nhất, có tên “Thơ Ngắn / Đỗ Nghê” của ông.
Tôi không muốn nói về những bài thơ ngắn của họ Đỗ, có xu hướng thơ Haiku của Nhật bản: Ngợi ca thiên nhiên hoặc tương tác giữa con người và vũ trụ,… đã hiện diện khá nhiều trong thi phẩm mới nhất của ông.
Người đọc sẽ rất khó tìm thấy những bày tỏ bi quan, hoặc than thở, “vật vã” trong thơ Đỗ Nghê, nhất là với thi phẩm “Thơ Ngắn/Đỗ Nghê” mới ấn hành những ngày cuối năm 2017 này. Ngay cả khi tác giả viết về phần thịt, xương đã mất, như:
“Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…”
(Bài “La Ngà 3” – 1990)
Hoặc tương quan với kẻ khác:
“Khi nhìn nhau xa lạ
Là rất đỗi thân quen
Khi nói năng vô nghĩa
Là thác reo trong hồn.”
(Bài “Không Tên”)
“Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh.”
(Bài “Lá”)
Hay ảnh hưởng của thiên nhiên, vũ trụ lớn vào vũ trụ nhỏ là cá nhân con người:
“Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo”
(Bài “Tuyết” – Boston, 1993)
“Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!”
(Bài “Thu” – Boston, 1993)
“Nước xanh như ngọc
Sâu đến tận trời
Vốc lên một vốc
Ơi mùa Xuân ơi!”
(Bài “Tuyền Lâm”)
Ngay cả khi nhớ tới và viết về đứa con đã mất của mình, một tai họa khủng khiếp, ai cũng tưởng, Đỗ Nghê sẽ không thể vượt qua được. Nhưng, tâm thái của một hành giả: Hiểu thấu sống, chết… cách gì cũng không ra khỏi lẽ vô thường, họ Đỗ đã nhìn sự việc như một bài học tự nhiên đời sống mà thôi:
“Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con
Nỗi mất!”
(Bài “La Ngà 5” – 1990)
Hoặc về người mẹ đã qua đời mình, ông vẫn có cái thanh tịnh lạc quan, của một tâm thức không còn trụ, bám vào mất còn:
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…”
(Bài “Bông Hồng Cho Mẹ” – 2012)
Hoặc:
“Mẹ tôi cứ vẫn cười cười như thế
suốt ba năm trên bàn thờ!”
(Trích “Nụ Cười Của Mẹ” – 2014)
Tôi cho những phong thái kể trên của Đỗ Nghê là phong thái của một hành giả đã khu trừ được cái tâm nhiễu loạn, nguồn gốc của cái “tôi,” để thong dong dạo chơi giữa vườn đời…
Tôi thấy trong Đỗ Nghê không chỉ có một thi sĩ mà, thi sĩ ấy, còn song sinh với một thiền gia nữa. Như thiên/địa, nhật/nguyệt, tuy hai mà, thực ra cũng chỉ là một thôi. (Du Tử Lê)
Ngày 7.10.2019 Du Tử Lê qua đời tại Mỹ. Không ai đưa anh ra biển, nhưng dẫu sao anh cũng đã trở về quê mẹ.
Tôi đang ở Úc, chỉ kịp viết gởi về bạn mấy câu:
Rồi cũng về thôi du tử ơi
Bao năm lưu lạc xứ con người
Một hôm sực nhớ về quê mẹ
Tung cánh vàng xưa hạc vút bay…
Đỗ Hồng Ngọc
(2019).
Vài cảm nghĩ nhân đọc
“Bông hồng cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật”
của Bs. Đỗ Hồng Ngọc
Cách đây khoảng hai tuần, tôi nhận được cuốn sách này vào buổi học Phật chiều thư Bảy hàng tuần ở lớp Phật học & Đời sống (PH&ĐS) tại Chùa Phật học Xá Lợi. Nhìn thấy bác “khệ nệ” xách giỏ sách để phân phát cho các Phật tử “thấy mà thương”.
Tôi không có cơ duyên được bác chữa bệnh khi còn nhỏ và cũng không có nhiều cơ hội đọc thơ của bác, nhưng lại có may mắn được học Phật với bác một thời gian đủ để hiểu những vấn đề cơ bản trong Phật học. Một nhân duyên thiện lành.
Lần đầu tiên tôi biết đến bác, không phải được diện kiến dung nhan mà qua cuốn sách “Thiền và sức khỏe”. Nhớ lúc đó mỗi lần chở con đi học thêm Anh văn tại các trung tâm ngoại ngữ tôi thường mang theo nó để đọc trong khi chờ đợi con tan lớp. Một cuốn sách hấp dẫn.
Cơ duyên đưa đẩy tôi đến lớp PH&ĐS (lúc đó lớp chưa mang tên này) tại chùa XL cũng nhờ … bác. Nhớ lại buổi chiều hôm đó tôi có tham dự một buổi nói chuyện của bác về Thiền tại giảng đường Chánh Trí, khi kết thúc đi ra tình cờ thấy một tờ thông báo về lớp Phật học, thế là tìm hiểu và tham gia cho đến bây giờ. Một khởi đầu lạ lùng.
Đọc các bài viết của bác, một đặc điểm nổi bật mà tôi cảm nhận được là thường có lồng thêm những kiến thức về y học, tâm lý học và xã hội học như là một phương tiện khoa học nhằm minh họa, chứng minh thêm cho nội dung bài viết. Nhờ vậy ngoài nội dung bài viết, độc giả cũng có thêm những hiểu biết cơ bản của các lãnh vực trên. Một đặc điểm khác là bác viết những chủ đề về Phật học không bị lạc vào cách kiến giải hàn lâm, rắc rối mà rất đời thường, gần gũi, dễ nhớ nhưng cũng không lạc khỏi ý kinh. Lối viết như chơi với văn phong nhẹ nhàng, đôi lúc dí dõm nhưng cũng rất sâu sắc. Một cách viết thú vị.
Hãy cùng nhau đi dạo qua vài bài bác viết trong cuốn sách bác vừa tặng.
Trong bài “Cha mẹ và con cái”, bác đã đưa ra hình ảnh về tấm lòng bao la của cha mẹ đối với con cái từ khi con còn là một bào thai trong bụng mẹ cho đến khi con trưởng thành để nói về Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi Hỷ, Xả), bốn đức tính cao đẹp mà giáo lý nhà Phật thường hay đề cập. Thật là sống động, trực quan và gần gũi biết bao, đọc là cảm nhận được ngay. Bác kết luận: “Từ – Bi – Hỷ – Xả chính là cách mà cha mẹ đã dành cho con cái suốt cả cuộc đời đó vậy.”
Khi bắt đầu tìm hiểu về Thiền, tôi có thắc mắc “Tại sao lại dùng hơi thở làm đề mục chú tâm, quan sát mà không là một đối tượng khác? Tôi nghĩ đơn giản đối tượng nào cũng được vì mục đích là dừng cái tâm lăng xăng như con khỉ, con ngựa là được”. Trong bài “Thiền và Thở”, tôi đã thấy câu trả lời: “Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy ‘ngũ uẩn giai không’ hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái. Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là quán sát từ “ngã”, từ hơi thở là tốt nhất, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình. […] Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! […] Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín thở”. Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Và nhờ đó mà thấy vô thường. Nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp. Khi mệt, ta mệt “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! […] Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt”. Rỏ ràng cho thắc mắc của tôi rồi.
Trong bài“Trời cao đất rộng một mình tôi đi“, một kiến thức cơ bản về y học mà tôi học được: “Loài người có trí thông minh vượt trội là nhờ vỏ não phát triển, với hàng trăm tỷ tế bào thần kinh, hàng trăm nghìn tỷ tỷ các mối nối… dày đặc nhưng sự điều hành hô hấp của ta lại không nằm ở vỏ não. Nó nằm ở hành tủy, dưới vỏ não. Các trung khu hô hấp nằm ở đó, điều hành sự thở. Vì thế mà dù vỏ não không hoạt động (ngủ, hôn mê…) thì sự thở (hô hấp) vẫn được duy trì. Khi tập trung (sati) vào hơi thở là ta đã giải phóng cho vỏ não được nghỉ ngơi! ‘Tâm an’ nhờ đó”. Thực tế cho thấy khi quan sát một em bé đang ngủ say, ý thức không hoạt động nhưng cái bụng của bé vẫn phình lên, xẹp xuống đó thôi! Hơi thở vẫn vào ra đó thôi! Trong tình trạng vô thức này mình không làm chủ được hơi thở, nó như ở ngoài ta. Đó là vô ngã.
Trong nhà Phật, khái niệm sanh tử luân hồi nhằm để chỉ sự sống chết cứ xoay vần, nối tiếp nơi một chúng sanh, tức là một chúng sanh sau khi chết sẽ trở lại thế giới dưới một hình hài khác theo một trong sáu đường: thiên, nhân, Atula, ngạ quỷ, súc sanh và địa ngục. Nếu chỉ hiểu sống chết một cách đơn thuần theo kiểu thế gian thì chúng ta chỉ còn cách là tin như thế mà không thế thấy hoặc cảm nhận được gì. Trong bài “Luân hồi sanh tử”, Bác đã chỉ cho ta thấy: “Luân hồi sanh tử còn là tiến trình tâm trong mỗi sát-na. Từ sáng đến chiều, từ trưa đến tối ta đã… lang thang sáu nẻo biết bao lần. Hết thiên, nhân lại đến atula rồi ngạ quỷ súc sanh địa ngục xà quần không ngưng nghỉ. Sáng bảnh mắt ra, người sảng khoái, lâng lâng, quần là áo lượt có thua gì… tiên nhân đâu, vậy mà trưa nghe một cú điện thoại từ đâu đó bỗng đùng đùng nổi giận, đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột, lọt tõm vào địa ngục… Chỉ một thoáng thôi, đã từ thiên đàng rơi xuống địa ngục, từ thiên nhân thành Atula, ngạ quỹ… Một thoáng thôi, tiến trình tâm đã trải qua muôn ngàn kiếp rồi vậy!“. À thì ra thế, trong một thời gian ngắn thôi tâm ta cũng đã luân hồi sanh tử biết bao nhiêu lần: tâm bình thường là đang ở cõi người, tâm vui như đang ở cõi thiên, tâm sân như đang đọa địa ngục, …rồi lại lặp đi lặp lại cứ như thế.
Là con người sống trong thế gian này, cũng có lúc chúng ta tự hỏi: “Ta từ đâu đến, sinh ra đời để làm gì và chết sẽ đi về đâu? “Ở đây không bàn về chuyện tâm linh sâu xa, có thể trả lời đơn giản theo kiểu thế gian: “Ta từ bụng mẹ chui ra, sinh ra đời để sống như bao nhiêu người khác và chết sẽ trở về với cát bụi. Thế là hết cuộc đời!”. Đây là hành trình của một đời người, sanh ra để mà chết và hành trình này đã được diễn giải rất rỏ, pha lẫn đôi chút dí dỏm trong bài “Chọn những nụ cười”: “Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. […]Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. […] Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. [..]. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra. Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngả, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xăm, rồi lồm cồm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là “mẹ Như Lai”, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa”. Rồi bác nhận xét: “Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy”.Đến đây lại nhớ nhà thơ Bùi Giáng: “Ta cứ ngỡ trần gian là cõi thực/ Thế cho nên tất bật tới bây giờ”.
“Độc cư”, một bài viết khác của bác. Độc cư có phải là sống một mình, không có ai chung quanh? Hãy xem bác diễn giải: “Ở một mình, ăn một mình, đi một mình, ngủ một mình mà đầu óc quẩn quanh biết bao hình bóng, biết bao câu chuyện, nhớ tiếc dĩ vãng, mơ tưởng tương lai thì không thật độc cư ! Dĩ vãng qua rồi. Quấn quít với nó mãi thì gánh nặng đeo mang bao giờ đặt xuống ? Tương lai chưa tới, Que sera sera. Biết ra sao ngày sau. Chuyện ngày mai của ngày mai. What will be will be. Tướng như vậy, tánh như vậy…bổn mạt cứu cánh nó như vậy…Vậy phải chăng an trú trong hiện tại, sống “hiện sinh” xả láng?Hiện sinh kiểu đó cũng chẳng phải hiện sinh chút nào! Độc cư không chỉ rời xa dĩ vãng, không đắm đuối tương lai mà hiện tại cũng phải nhìn bằng con mắt khác. Mắt tuệ: vô thường, khổ, không, duyên sinh, vô ngã…Độc cư và Thiền định không hai. Độc cư thứ thiệt thì nghe ngóng được vận hành của Như Lai trong từng sát na, là sống với Như Lai, sống cùng Như Lai, sống như lai. Và như vậy, người ta có thể sống ‘độc cư’ bất cứ ở đâu, giữa chợ đời, trong gia đình, dưới gốc cây, nơi rừng thẩm, … Cho nên càng sớm “độc cư” thì càng không cảm thấy cô đơn…”. Như vậy sống độc cư không phải là sống một mình mà sống an trú vững chải trong giây phút hiện tại và ý thức được những gì đang xảy ra trong hiện tại, không mắc kẹt vào quá khứ và cũng không bay bổng đến tương lai, nhờ vậy tâm không phóng dật và quay về bên trong chính mình.
Con người được cấu tạo bởi năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và tưởng là một uẩn trong năm uẩn. Tưởng là sự nhận thức, nhận biết qua giác quan, nó còn được gọi là tri giác. Tưởng cũng giống như cặp mắt kính ta đeo để nhìn sự vật, nếu đeo mắt kính màu gì thì sẽ cảnh vật giống như màu đó. Chúng ta đau khổ hay hạnh phúc đều do cái tưởng này. Vậy muốn chấm dứt khổ đau, ta phải biết sửa đổi cách nhận thức của mình, tức là sửa lại cách tưởng của mình, tập bỏ dần những cặp mắt kính màu để nhìn trực tiếp sự vật. Trong bài “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, bác có viết: “Có tưởng là bắt đầu sinh sự. Tưởng vô vàn. Tưởng vô tận. Muốn thiên đàng có thiên đàng. Muốn điạ ngục có địa ngục. Cho nên tu là tu Tâm. ‘Nhất thiết duy tâm tạo’. Tất cả là do tâm bày vẽ ra. Phật từ thời Hoa Nghiêm đã nói rõ như thế. Hạnh phúc khổ đau từ đó. So sánh hơn thua, chém giết nhau từ đó. Tiếng Việt ta còn hay hơn: Tướng và Tưởng, chỉ khác nhau có mỗi cái dấu sắc, dấu hỏi… Mà đã ngàn trùng cách xa!”.
Tưởng cũng được nhắc đến trong bài “Quán Thế Âm Bồ Tát”: “Nỗi sợ của con người là ghê gớm nhất. Sợ chết, sợ khổ, sợ nghèo, sợ xấu xí, sợ bệnh hoạn, sợ già nua… Cho nên làm cho con người ta hết sợ là đủ để mang lại hạnh phúc, đủ để ‘cứu vớt chúng sanh’. Nhưng vì đâu mà người ta sợ? Vì tưởng. Tưởng nên mới thấy sợi dây thành con rắn. Tưởng nên mới cho cái gì của mình cũng nhất thiên hạ. Tưởng nên vô thường mà thấy là thường, vô ngã mà thấy là ngã… Tưởng là của ta, là ta, là tự ngã của ta nên mới tính chuyện gồm thâu lục quốc, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử…”. Rồi tác giả chỉ ra thuốc đặc trị cái tưởng: ” ‘Một lòng xưng danh’ Quán Thế Âm Bồ tát, lập tức vô lượng vô số khổ não sẽ được xóa mất ngay vì Quán Thế Âm là vị Bồ-tát có khả năng “nghe được tiếng kêu của trần thế!” với lòng đại từ đại bi, sẵn sàng ra tay cứu độ. Có thể được ư ? Có thể được. Vì vỏ não ta một lúc không thể có hai ý tưởng cùng tồn tại. Các ý tưởng có thể nối tiếp nhau, dắt dây nhau, niệm này vừa dứt niệm kia đã sanh, chen chúc nhau thì có, nhưng cùng lúc thì không. Nếu đã ‘một lòng’ thực sự ‘xưng danh’ Quán Thế Âm thì không thể cùng lúc ‘xưng danh’ vị Bồ tát nào khác hay ý tưởng nào khác. Cái khó là ‘một lòng’, tức ‘nhất tâm’: nhất tâm bất loạn. Gọi tên, xưng danh Quán Thế Âm bởi vì chỉ có Quán Thế Âm mới có nghìn mắt nghìn tay, mới có nước cam lồ rưới tắt tất cả tham sân si của chúng sanh, mới có khả năng giúp ta hết sợ hãi với một pháp thí tuyệt diệu: vô úy thí!”. Tại sao hay như vậy? linh như vậy? Bác đã chỉ ra ẩn dụ, ẩn nghĩa trong đoạn trên:“Thì ra Quán Thế Âm Bồ tát chẳng phải ai xa lạ: Ngài chính là Quán Tự tại Bồ tát. ‘Quán Tự tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách’! Một khi ‘Sắc tức thị Không/ Không tức thị Sắc’ thì lửa sao còn làm cháy được, nước sao còn làm trôi được, gió sao còn thổi bay được, dao gậy xiềng xích sao còn hung hăng được? Và tham sân si cũng đã không tồn tại nữa rồi, đã gaté, gaté, paragaté, parasamgaté rồi, đã “đáo bỉ ngạn”, đã qua bờ bên kia rồi… thì còn sợ hãi điều chi? “Vô úy thí” là vậy!”
Trong kinh Pháp Hoa, ngoài Bồ tát Quán Thế Âm kinh còn nói đến một vị Bồ tát khác cũng rất thú vị, có một pháp tu khá đơn giản và lạ kỳ. Hãy nghe bác nói đến pháp tu của Ngài trong bài viết “Thường Bất Khinh Bồ tát”: “Thường là luôn luôn, bất là không và khinh là coi nhẹ- Thường Bất Khinh là không bao giờ coi nhẹ, không bao giờ khinh người, nói khác đi luôn tôn trọng người, bất cứ là ai, ở đâu, không phân biệt. Bởi vì dưới mắt Thường Bất Khinh, ai cũng sẵn có Phật tri kiến, Phật tánh đó rồi, chẳng qua vì không thấy biết mà không rõ được sự thực, nên không tìm ra hạnh phúc đích thực của kiếp người mà quằn quại trong nỗi khổ đau, bất hạnh. […] ông chỉ làm mỗi việc: chắp tay xá lạy mọi người, bất kể là ai và nói với họ rằng : Tôi không dám coi thường ngài. Ngài chính là một vị Phật tương lai. Ngài sẽ thành Phật ! Nghe ông nói, ai cũng chưng hửng. Phật ư ? Thành Phật tương lai ư ? Còn lâu ! Giỡn chơi sao chớ. Chế giễu hả? Và người ta đánh đuổi ông, nguyền rủa ông, ném đá vào ông. Mặc kệ, ông vẫn kiên trì, không một chút nao lòng, vẫn cứ mỗi một câu nói đó : Tôi không dám khinh ngài, ngài sẽ là một vị Phật tương lai, ngài sẽ thành Phật. Nghe một lần hai lần thì nổi giận, nghe trăm lần ngàn lần thì giật mình, ngạc nhiên và sửng sốt. Rồi nhìn ngắm lại mình. Ủa, mà cũng dám lắm chớ. Ai cũng có hạt giống Phật mà, chịu khó tưới tẩm có ngày dám mọc lên một cây Bồ đề lắm chớ. Phật là chúng sanh đã giác ngộ còn chúng sanh là Phật sẽ thành đó thôi. Và từ đó, lòng tự tin trỗi dậy. Tín thì tấn, rồi niệm, rồi định rồi huệ. Con đường tất yếu nó vậy“.Liên hệ đến giao tiếp truyền thông giữa người với người trong cuộc sốngbácnhận xét: “Tôn trọng, đức tính thứ nhất để thiết lập truyền thông hiệu quả giữa người với người. Thiếu tôn trọng thì truyền thông lập tức gẫy đổ. Tôn trọng phải xuất phát từ lòng thành, nếu không chỉ là sự giả vờ, đóng kịch, không qua mắt được ai.Thường Bất Khinh bằng tất cả lòng thành nên mới nhẫn nhục và tinh tấn đến vậy”. Chúng ta thử áp dụng pháp tu của Ngài khi bị ai xúc phạm, ghét bỏ hay thậm chí muốn hãm hại xem sao!
Dân gian có câu: “Một trăm lần nghe không bằng một lần thấy” hay có thể suy ra “một trăm lần đọc về từ bi không bằng một lần thấy hành động từ bi nơi vị thầy”. Một vị thầy trong đạo dạy ta giáo lý qua khẩu giáo và giới đức qua thân giáo, chính thân giáo, tức hành động, nhân cách, giới phẩm và đức hạnh của vị thầy mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo. Đây một bài học không lời. Hãy đọc đoạn bác viết trong bài “Với kinh Kim Cang Bát Nhã”: “Cái điều bỡ ngỡ và chưng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng được đọc, được nghe những lời hay ý đẹp, những khuôn vàng thước ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn mặc áo, ôm bình bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hàng ngàn người, cả các vị Đại Bồ tát, A la hán, các vị ‘chức sắc’ và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo huấn sâu xa thì Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm bình bát, vào thành khất thực. Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi ung dung trở lại ‘hội trường’, bày ra ăn, ăn xong, thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩa là… nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ […]. Bỗng dưng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông như mọi người bỗng ông đứng phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: ‘Thật là tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xưa nay chưa từng có! Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo trao truyền, khéo léo gởi gắm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay!’ Lúc đó thì quả thực mới bùng nổ bài học vừa được truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó thì sự chưng hửng đã trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, nãy giờ không để ý, không theo dõi kỹ bài giảng không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những người không để ý quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc”.Rồi bác nhận xét rằng:“Phật có cách dạy riêng của ngài: Không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một phương pháp giáo dục rất mới mà bây giờ người ta gọi là “demonstration”, tức biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại. Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trước, nói sau. Hoặc cũng chẳng cần nói”.
Saigon 17/07/2022
Dương Minh Trí
(Thành viên lớp Phật Học & Đời Sống)
