Video Podcast: Già sao cho sướng? Để có một tuổi già hạnh phúc
Dựa theo một bài viết trong cuốn Già Sao Cho Sướng? của Bs Đỗ Hồng Ngọc.
Video Podcast thực hiện bởi Phùng Minh Bảo (15.9.2025)

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Video Podcast: Già sao cho sướng? Để có một tuổi già hạnh phúc
Dựa theo một bài viết trong cuốn Già Sao Cho Sướng? của Bs Đỗ Hồng Ngọc.
Video Podcast thực hiện bởi Phùng Minh Bảo (15.9.2025)

Phùng Minh Bảo thực hiện 14.9.2025: Video Podcast “Đừng tiếc nuối quá khứ”
Từ bài viết của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trên website www.dohongngoc com
Chân thành cám ơn Hoạ sĩ Hà Thảo và nhóm các bạn TFS đã có một “phóng sự” ngắn gọn, súc tích. ĐHN
VU LAN và Bông Hồng Cho Mẹ
Nguyễn Thị Khánh Minh: “Ngoại chờ bên kia sông”
“Lại đến mùa Vu Lan. Những đoá hồng đỏ hạnh phúc bung nở vành môi vẽ một vòng xum vầy thỏ thẻ Mẹ Ơi. Những đoá hồng trắng ngân đọng nước mắt lung linh đôi bờ xa vắng âm vang tiếng gọi Mẹ Ơi. Trong niềm, vừa hân hoan vừa cảm động, tôi nhớ đến bài thơ về Mẹ mà khi đọc nhịp tim tôi như bị nghẹn,
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đoá hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông
(Bông Hồng Cho Mẹ, Đỗ Hồng Ngọc)
Thử xem. Đọc. Nghe. Rồi hít vào một hơi thở sâu, im vắng, thì mình như nghe được tiếng nước mắt đang vỡ ra… Vỡ bung như ngọn sóng xanh lấp lánh biển pha lê. Vỡ tung như ngọn pháo hoa rơi vô vàn sợi ánh sáng trong đêm. Những cái vỡ, không tan mà thăng hoa, phải chăng đó là tận cùng của Đẹp? Như hạt nước mắt này, nó bung bung. Ánh lên bóng của Ngoại đang đứng bên kia sông, bên kia là bên của miên viễn không còn sinh tử? Và Mẹ, Mẹ đang từ cõi chết đi vào cõi sống ấy để lọt vào vòng ôm ấm áp của Ngoại. Mẹ đi từ nụ hồng đỏ nở duyên trùng phùng Ngoại. Ý thơ mầu nhiệm làm sao.
Tôi thấy không nói nên lời được để tả cho chính xác cảm giác của mình về sự mênh mang “ý tại ngôn ngoại” trong sâu thẳm bài thơ này. Về cái rất không nghĩa của Mất Còn. Đến với tôi là ý niệm con đường sinh tử đang xóa đi dưới cảm xúc của đứa con, -là Đỗ Hồng Ngọc đây-, người chiêm nghiệm sống chết thật là như không, đóa hồng trắng người đang đeo là một thực tại, đóa hồng đỏ đang rưng rưng trên áo Mẹ kia, là áo nghĩa của thực. Tất cả đều ở thì đang, không còn hôm qua ngày mai phút tàn giây tới. Sinh mệnh không khởi đi và chấm hết bằng hai đầu tiếng khóc nữa. Là Đây. Là Đang. Một thực tại sống động xóa hết biên giới không gian và thời gian. Hình dung Mẹ, trong hơi thở hắt ra bỗng trong suốt nhẹ nhàng đứng lên, trong ngày hội tưng bừng của Tình Mẫu Tử, cúi nhìn bàn tay đứa con run run cài lên ngực áo mình một đóa hồng đỏ, và Mẹ phất phới đi trong nôn nao cho kịp giờ hẹn với Ngoại. Ôi ta mất mẹ và ôi Mẹ vừa có Ngoại. Vô biên lâng lâng nỗi Còn Mất… Huyễn ảo vô cùng khiến những giây tơ vi tế nhất trong cảm xúc ta bị đánh động.
Ngoại Chờ Bên Kia Sông, tôi viết hoa vì mỗi mỗi chữ của câu thơ này là khởi đề dẫn đến chiêm nghiệm ảo hóa về sinh tử. Và toàn bài thơ là tấm tình trong vắt ban sơ của người con, rất nhỏ, mà cũng đã rất già. Bởi rất nhỏ thì mới yêu thương Mẹ được hồn nhiên như thế. Và phải chăng, rất già mới có thể biến yêu thương ngây thơ thành một tình yêu vượt qua được đau đớn của chia lìa sinh tử, như thế.
Cảm ơn Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho tôi biết thêm một nhịp đập thương yêu nữa của Hiếu Tử, cho tôi từ bây giờ đã có thể chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một lúc nào đó phải xa Mẹ. Không phải là một cái xa hẳn rồi, mất hẳn rồi như tôi vẫn thường nghĩ nữa. Trong hạt nước mắt rơi lại thấp thoáng nụ cười, nhìn Mẹ của ta lại cài hoa hồng đỏ về bên Ngoại. Ôi! Cái không nói của Ngoại Chờ Bên Kia Sông đã lấp đầy cảm xúc và ý nghĩ của tôi đến thế!
Và lúc này đây, còn được thấy mẹ ra vào thì hãy thỏ thẻ bên vai mẹ rằng,
… mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng… (thơ Đỗ Trung Quân)
Trong hoan hỷ địa mẫu tử, tôi đọc thầm cho riêng mình, gửi đến các con tôi,
… tận cùng hạt lệ mẹ
là nước mắt con rơi
tận cùng tiếng cười mẹ
là nụ cười con vừa mở
và con ơi
tận cùng hư vô mẹ
sẽ một ánh nhìn theo con. trở lại
(thơ NTKM)
Santa Ana, Mùa Vu Lan
Tô Thẩm Huy
“Bài thơ ngắn, vỏn vẹn 20 chữ, mà thâm thúy, ảo diệu vô cùng. Đọc lên điếng cả hồn.
Phải chép lại ra đây.
Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đoá hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực,
Ngoại chờ bên kia sông
Rõ ràng Nguyễn Thị Khánh Minh đã cảm bài thơ đến vô cùng, đến “tận cùng của đẹp”, tận cùng của ý nghĩa sinh tử kiếp người, không khởi đầu, không chấm dứt. Thời gian tan biến mất. Thơ tuyệt, mà người cảm thơ cũng quá tuyệt. Thật là may mắn có được người đồng điệu như thế.
Bài phổ nhạc hay, hai giai điệu khác nhau mà hòa hợp, hỗ tương lẫn nhau. Tuy thế, cảm xúc khi đọc bài thơ nó đến ào ạt, như cùng một lúc nó trào dâng, bủa vây tứ phía, làm bàng hoàng, run rẩy khắp cả châu thân. Cảm xúc từ bài nhạc nó đến khoan thai, từ tốn, êm đềm”.
Nguyễn Thị Tịnh Thy: “Yếu tố bất ngờ trong bài thơ bông hồng cho mẹ”:
“Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ – thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người… Bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn bốn câu, hai mươi chữ nhưng đủ để khiến người đọc có nhiều phức cảm buồn vui, thấu đạt lẽ sinh tử, cảm ngộ điều được mất… để có thể tỉnh thức, an nhiên trước sự nghiệt ngã của quy luật sinh ly tử biệt.
(…)
Viết về cái chết, về nỗi đau tử biệt nhẹ nhàng như thế, nhà thơ đã thấm nhuần triết lý của nhà Phật. “Vô thường”, “sắc không”, “tứ khổ”, “diệt khổ”, “từ ái”… được chất chứa trong từng câu chữ giản dị tưởng chừng như không còn là thơ, không phải là thơ. Mặc dù bài thơ đậm chất triết lý, nhưng chất triết lý ấy đến một cách đơn giản, không trau chuốt gọt giũa, không cao đàm khoát luận. Mọi cảm xúc, tình cảm trong bài thơ vừa như có, vừa như không; vừa rất nặng, vừa rất nhẹ; vừa hiện thực, vừa kỳ ảo. Tất cả đều tùy thuộc vào cách mà mỗi người cảm nhận về cái chết, về tình mẫu tử, về lẽ tử sinh. Sâu sắc và đa nghĩa như thế, Bông hồng cho Mẹ là cả một chân trời nghệ thuật mà ở đó, mọi đường nét nghệ thuật dường như tan biến trong tình cảm sâu nặng của người con đối với mẹ, để rồi lan tỏa đến người đọc. Khiến cho người đang nằm có thể bước đi, khiến cõi chết trở thành cõi sống, khiến âm dương cách biệt trở nên gần lại, đậm chất nghệ thuật nhưng không thấy dấu hiệu của nghệ thuật…”
(đặc san Liễu Quán, số 12, Vu Lan 2017).
Mùa Vu Lan này, xin gởi bạn đôi dòng về bài thơ Bông Hồng Cho Mẹ như một lời chúc mừng đến bạn, người đã rất sướng vui, tự hào, khi còn được cài một bông hồng đỏ thắm trên ngực áo của mình!
“Rồi một chiều nào đó anh về, nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu… rồi nói nói với Mẹ rằng…Me ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?…” (Phạm Thế Mỹ, Bông hồng cài áo. Thơ Nhất Hạnh).
ĐHN
Chủ nhật, 10/08/2025
Trong cuốn sách mới “Chuyện hồi đó”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chia sẻ kỉ niệm của những ngày phụ trách chuyên mục Phòng mạch Mực Tím từ những số báo đầu tiên.
Sáng ngày 10-8, tại Đường sách TP. Hồ Chí Minh, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – bác sĩ đầu tiên của chuyên mục Phòng mạch Mực Tím đã gặp gỡ độc giả mọi lứa tuổi và giới thiệu cuốn sách mới nhất của mình với tên gọi Chuyện hồi đó.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ về con đường nghề nghiệp mình đã chọn –
Ảnh: NAM KHA
Bằng giọng văn thủ thỉ, dung dị, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông đã từng đặt chân đến, những người đã từng gặp gỡ và trò chuyện, những điều đã được học và truyền dạy…
Tất cả đều là những kiến thức, trải nghiệm có giá trị truyền động lực và cảm hứng cho độc giả, đặc biệt là giới trẻ đang lựa chọn và theo đuổi đam mê nghề nghiệp.
Trong sách, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhắc đến kỉ niệm những ngày phụ trách chuyên mục Phòng mạch Mực Tím từ số báo đầu tiên.
Cuốn sách mới của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa ra mắt độc giả – Ảnh: PHANBOOK

“Bác nhận được vô số thắc mắc, vô số câu hỏi. Mỗi lần chỉ có thể chọn ra mươi câu để trả lời chung, còn thỉnh thoảng trả lời thư riêng cho các em nữa khi có vấn đề khó nói trên báo. Chẳng bao lâu… thư về gom lại cả bao bố! Thời đó chưa có internet, toàn là thư tay mới dễ thương làm sao!” – Bác nhớ lại.
Bí quyết “chinh phục trái tim” độc giả tuổi mới lớn của bác là luôn viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” để bạn đọc có thể thấy mình trong đó, như được trò chuyện, trao đổi trực tiếp.
Bài thơ mà bác sĩ đã sáng tác dành tặng báo Mực Tím nhân dịp sinh nhật tuổi 15, năm 2003
– Ảnh: NVCC
Trong dịp kỉ niệm 15 báo Mực Tím, Phòng Mạch Mực Tím do bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc phụ trách đã được đông đảo độc giả bình chọn là trang mục hấp dẫn, bổ ích. Và bác đã sáng tác một bài thơ để tặng lại toà soạn rất dễ thương.
Sau này khi có tuổi hơn, bác lại tiếp tục “chinh phục” ba mẹ, ông bà của các bạn độc giả bằng những cuốn sách tâm tình, chia sẻ như: Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Nghĩ từ trái tim, Già ơi… chào bạn…
NAM KHA
(https://muctim.tuoitre.vn/nghe-bac-si-dau-tien-cua-phong-mach-muc-tim)
Nguyễn Văn Quyền:
Cám ơn Nguyễn Văn Quyền đã thực hiện Video Clip này.
Đỗ Hồng Ngọc.
(21.8.2025)
Ghi chú: Đây là LỜI NGỎ cho cuốn Nếp Sống An Lạc của tôi, xuất bản năm 2016. Tôi bất ngờ mới nhận được từ Vy Trầnkim (em ruột ca sĩ Hà Thanh) gởi về hỏi có phải bài của anh không? Lại chèn rất nhiều hình ảnh và đặc biệt cả bài Thoi Tơ, thơ Nguyễn Bính, nhạc Đức Quỳnh qua tiếng hát Ý Lan.
Xin gởi bạn đọc lại vui nhe.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc
(21.8.2025)
Nếp sống an lạc – Đỗ Hồng Ngọc
An lạc không phải là hạnh phúc, sảng khoái, hài lòng, vui sướng… nhất thời, trái lại nó như dòng suối mát tưới tẩm ở bên trong. An lạc là một trạng thái hỷ lạc tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác.
An lạc là một trạng thái hỷ lạc tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác.An lạc thường đến từ tuệ giác, đưa đến sự tự tại, ung dung, cân bằng cả về vật chất lẫn tinh thần.
Một người trúng số độc đắc, một thí sinh hoa hậu đoạt vương miện, một người có tên trên bảng vàng, có thể đang cảm nhận rất hạnh phúc, rất sướng vui… nhưng chẳng bao lâu sự bất an sẽ dồn dập đến, nỗi khốn khổ sẽ kề bên…Một người thực sự an lạc chẳng thấy có hào hứng rộn rã bộc phá tầm ĩ nào cả; chẳng có đám đông vỗ tay với những tiếng hò reo, chẳng có vòng nguyệt quế, mà chỉ có sự lặng im, nhiều khi một mình, âm thầm, lặng lẽ. Nụ cười đến tự bên trong, nụ cười của toàn thân, của từng tế bào, không ở đầu môi khóe miệng…
Cho nên an lạc không dễ. Nó đòi hỏi sự kham nhẫn, tri túc, và cả Từ, Bi, Hỷ, Xả.
Nhiều khi phải qua cái tuổi nào đó, thấm đẫm một chút cuộc đời, nghe được cái tiếng kêu ‘trần thế’ thì mới nhận ra sự thiết yếu của tự tại. Nhưng đợi đến lúc “nhìn lại mình đời đã xanh rêu” (Trịnh Công Sơn) thì thường đã trễ.Bởi người ta có thể an lạc ở đây và bây giờ.
Ta hay chúc nhau “Thân tâm thường an lạc” như một ước vọng. Phải, an lạc thì phải cả thân và tâm. Thân tâm nhất như. Tâm có an thì thân mới lạc. Tâm có lạc thì thân mới an. Mà đời thì vô thường. Làm sao thấy thường trong vô thường đây. Trừ phi thấy Thực tướng, thấy Chơn Như…
Mấy năm gần đây, tôi thường được mời nói chuyện về “Một nếp sống an lạc” nơi này nơi khác. Có khi ở một ngôi chùa, có khi ở một trung tâm mục vụ, có khi ở một hội quán, câu lạc bộ doanh nhân, một nhóm bạn trẻ, hoặc cùng các bậc trí thức ở một quán café thân quen… Những buổi chuyện trò đó, với tôi, đều là một cơ hội để học hỏi, giao lưu, chia sẻ. Lời lẽ do vậy mà nhiều khi rề rà, cà kê… chớ không mạch lạc, khúc chiết.Có một số buổi được thu âm, ghi hình. Thế rồi một hôm, có bạn đề nghị hay là ta gom mấy bài nói chuyện này lại, chọn ra một ít rồi in thành tập sách chia sẻ với mọi người cũng hay! Nhưng nghe thì thoáng qua, trực tiếp, còn in sách thì không dễ tí nào. Nói thì cà kê, rề rà được, lại còn có những phụ trợ như chiếu slides, vẽ viết lên fl ipchart, có ‘body language” (ngôn ngữ hình thể) diễn tả… trong truyền thông trực tiếp, bây giờ phải làm sao?Dù vậy, người bạn cũng đã gom được 31 bài có thu băng, ra đĩa gì đó, cả trên mạng, chọn ra mấy bài có chung chủ đề “Nếp sống An lạc” rồi nhờ ‘’phiên tả’’, rồi biên tập… Tôi yêu cầu làm sao giữ được giọng điệu trò chuyện cà kê, kể cả tiếng địa phương, kể cả chuyện tếu táo của mình… để người đọc như đang nghe trực tiếp thì tốt. Tóm lại, đây là một cuốn sách “nói’’ chớ không phải sách viết. Người đọc thì… nghe chớ không phải xem.Hôm rồi, ngồi với một người bạn trẻ trong một quán café nhỏ, chúng tôi bàn với nhau về hai chữ “An lạc”. An lạc có phải là well-being, là bien-être
không? hay An lạc là eudaimonia, một tiếng cổ Hy Lạp thời Aristote gồm “eu” (“good”) và “daimon” (“spirit”), một đức hạnh, đòi hỏi có sự rèn tập? Phải chăng đó cũng chính là điều Phật đã dạy trong “An lạc hạnh”, một phẩm của kinh Pháp Hoa hơn hai ngàn năm trăm năm trước: biết sống trong Hành xứ và thân cận xứ, biết an trụ trong pháp Không, trong Tùy hỷ, trong đại Từ đại Bi?
Thử “chiết tự” từ Hán Việt xem sao, thì ra An là ‘dưới mái nhà có người con gái’, còn Lạc là ‘ngôi nhà tràn đầy ánh sáng, có vườn cây xanh mát, có tiếng hát, tiếng đàn, tiếng dệt cửi, quay tơ…’:.Rồi cùng mà cười. “Em lo gì trời gió/ em lo gì trời mưa…/ em cứ yêu đời đi/ như lúc ta còn thơ/ rồi để anh làm thơ/ và để em dệt tơ…” . (Thoi tơ, thơ Nguyễn Bính, nhạc Đức Quỳnh)
.
Đỗ Hồng Ngọc
Thu Giang:
(https://vnexpress.net/do-hong-ngoc-ke-chuyen-hoi-do-4925525.html)
Tên sách Chuyện hồi đó xuất phát từ ý niệm đời người như một vở kịch ba hồi. “Chuyện hồi đó” là hồi thứ ba, sau thơ ấu và trung niên. “Khi người ta bắt đầu thường nhắc chuyện hồi đó thì người ta đã già”, ông viết.
Không theo lối viết hồi ký truyền thống, cuốn sách là chuỗi những cuộc trò chuyện, nơi tác giả dẫn dắt người đọc từ ký ức tuổi thơ tại quê nhà La Gi, Lâm Đồng (Bình Thuận cũ) qua hành trình theo học và hành nghề y, rồi đến con đường nghiên cứu, ứng dụng đạo Phật vào đời sống.

Với hơn 30 năm tìm hiểu và thực hành Phật pháp, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho biết con đường này đã giúp ông giữ được sự an nhiên trước tuổi già, bệnh tật và những biến động của cuộc sống.
Những chiêm nghiệm ấy không chỉ đến từ sách vở hay thiền đường, mà còn từ những trải nghiệm cá nhân của tác giả. Ông từng nhiều lần đối mặt với bệnh tình “thập tử nhất sinh”, trong đó có ca phẫu thuật sọ não khi tuổi đã xế chiều. Nhờ giữ tinh thần lạc quan trong giây phút nguy kịch, ông vượt qua bệnh tật và kể lại trải nghiệm “bác sĩ mà cũng bệnh” bằng giọng văn hóm hỉnh. “Trách móc điều chi? Để làm chi? Ngay cả bệnh tật, nhiều khi cũng có ích”, ông viết.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc trong buổi giao lưu và ra mắt sách “Chuyện hồi đó”. Ảnh: Phanbook
Từ góc nhìn giao thoa giữa y học và Phật học, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đưa ra nhiều lời khuyên thực tiễn về chăm sóc sức khỏe trong sách. Ông đề cao lợi ích của thiền, đồng thời nhấn mạnh việc điều trị song song thể chất và “tâm bệnh” – vấn đề phổ biến nhưng thường bị bỏ sót trong quá trình chữa trị.
Trong buổi giao lưu ngày 10/8 tại Đường Sách TP HCM, tác giả Đỗ Hồng Ngọc cho biết thông điệp trung tâm của cuốn sách là lời nhắc nhở mỗi người tìm về chính mình. Ông nói: “Khi quay trở lại với chính mình, con người sẽ tìm thấy sự an lạc”. Theo tác giả, quá trình này không phải là quay lưng với thế giới bên ngoài, mà là học cách lắng nghe nội tâm giữa những xô bồ, biến động của đời sống hiện đại.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc (giữa) trong buổi giao lưu và ra mắt sách “Chuyện hồi đó”. Ảnh: Phanbook
Tại sự kiện ra mắt sách, độc giả Hoàng Kim Oanh nhận xét: “Chuyện hồi đó cho chúng tôi những giây phút được lắng lại với đứa trẻ trong mình”. Hòa thượng Thích Thiện Đạo – một độc giả – cho rằng cuốn sách mới kế thừa “cái nhìn an lạc và xuyên suốt” có trong nhiều tác phẩm trước đó của Đỗ Hồng Ngọc.
Bác sĩ, tác giả Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Phan Thiết (Lâm Đồng), hiện sống tại TP HCM. Ông từng là bác sĩ khoa Nhi Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM, sau đó giữ chức giám đốc Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe TP HCM.
Ông đã xuất bản hơn 60 đầu sách, được xem là một trong những người tiên phong viết về sức khỏe cộng đồng và kỹ năng sống. Trong số đó, nhiều tập tản văn như Gió heo may đã về, Khi người ta lớn, Thư gửi các bà mẹ sinh con đầu lòng được nhiều độc giả yêu thích.
Thu Giang
Bác sĩ – tác giả Đỗ Hồng Ngọc vừa ra mắt quyển sách “Chuyện hồi đó”, tập hợp những câu chuyện bình dị thấm đẫm chiêm nghiệm qua hành trình sống cùng văn học, y học và Phật học.
Ở tuổi 86, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vẫn duy trì sự minh mẫn khi chia sẻ những câu chuyện từ thời sinh viên y khoa đến hành trình văn chương kéo dài hơn 6 thập kỷ. Cuốn Chuyện hồi đó không theo định dạng hồi ký thông thường mà tập hợp những trải nghiệm được chắt lọc qua 7 chương, từ “Một chút tôi” đến “Con đường an lạc”.
Cuốn Chuyện hồi đó không viết theo lối hồi ký thông thường mà tập hợp những câu chuyện được chắt lọc qua 7 chương: “Một chút tôi”, “Nghề và nghiệp”, “Dạy để học”, “Đi để học”, “Chút văn chương chữ nghĩa”, “Những gần gũi thân thiết” và “Con đường an lạc”.
Xuyên suốt tác phẩm là triết lý về nghề thầy thuốc mà tác giả theo đuổi: “Trong tên gọi “người thầy thuốc” có 3 phần – người có nhân đạo, thầy có nhân đức, thuốc có nhân thuật. Ba yếu tố này hợp lại thành y đức”. Đây cũng chính là kim chỉ nam giúp ông vượt qua những thử thách trong nghề y, từ việc chọn chuyên khoa nhi vì “thích trẻ em” đến những kỷ niệm đỡ đẻ thời sinh viên.
Tại buổi giao lưu, tác giả cũng chia sẻ về mối liên hệ giữa y học và văn chương trong hành trình của mình. Từ bài thơ Thư cho bé sơ sinh viết năm 1965 sau ca đỡ đẻ đầu tiên, đến những tác phẩm về Phật học sau tai biến não năm 1997, mỗi giai đoạn đều đánh dấu sự trưởng thành về tâm hồn và trí tuệ.
“Mỗi người phải trở lại chính mình. Nếu biết quay về chính mình, sẽ thấy sự an lạc, hạnh phúc hơn, chứ không phải tìm kiếm bên ngoài” – tác giả nhấn mạnh thông điệp chính của cuốn sách.
Cuốn sách được viết bằng giọng văn thủ thỉ, dung dị như một buổi thưởng trà cùng bạn bè tri kỷ. Tác giả đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông từng đặt chân, những người đã gặp gỡ và những điều được học, truyền dạy.
Đặc biệt, tác phẩm không chỉ là những hồi ức tuổi thơ mà còn có những chia sẻ mang tính “truyền trao kinh nghiệm” và không ít câu chuyện từng được bạn bè, đồng nghiệp, báo chí viết tặng tác giả, nay được sắp xếp thành một hồi ức liền mạch.

| Quang cảnh buổi ra mắt sách Chuyện hồi đó hôm 10/8 tại Đường sách TP.HCM. |
Tất cả đều là những kiến thức, trải nghiệm có giá trị truyền động lực và cảm hứng cho độc giả, đặc biệt là giới trẻ đang lựa chọn và theo đuổi đam mê nghề nghiệp. Cuốn sách như một hành trình nhìn lại những điều đã trao đi và nhận được, là món quà dành tặng cho chính tác giả và những người thân quý đã đồng hành suốt nhiều năm qua.
Tại buổi ra mắt sách, nhiều khách mời đã chia sẻ cảm nghĩ về tác phẩm. Các đồng nghiệp, bạn bè lâu năm đánh giá cao giá trị nhân văn trong từng câu chuyện, khẳng định đây là tác phẩm mang tính định hướng cho những ai đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Đặc biệt, nhiều độc giả trẻ tuổi bày tỏ việc tác phẩm đã tạo động lực để họ trân trọng hơn các mối quan hệ gia đình và tìm lại những giá trị đích thực trong cuộc sống.
Nguyên Hoài
Znews (12.08.2025)
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thuyết trình về “Thiền và sức khỏe” tại Tu viện Khánh An
Tuệ An

Lâu ngày gặp lại Thầy Trí Chơn, Viện chủ…

Trò chuyện cùng các hành giả khoá tu “xuất gia gieo duyên”… với sự tham dự của quý thầy giáo thọ.

Sau buổi thuyết giảng ở Pháp đường chánh niệm, đã cùng các vị giáo thọ trẻ thăm hồ sen Khánh An, nơi mái chòi tranh quen thuộc mà tôi rất thích từ nhiều năm trước nơi này.

Tiếp tục trò chuyện thân tình cùng quý thầy trẻ trong một không gian yên ả giữa hồ sen ngát hương…

(ảnh Đỗ Hồng Ngọc, 12.8.2025)
Thư gởi bạn xa xôi:
Thật bất ngờ. Buổi Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của mình ở Đường Sách Saigon không ngờ mà đông vui đến vậy.
Tin thời tiết doạ sắp có bão, nhưng may quá, vẫn nắng đẹp.
Rất nhiều bạn bè y khoa của mình, Thân Trọng Minh, Nguyễn Chấn Hùng, Võ Văn Thành, Trương Xuân Liễu, Định, Hải Sơn, Quốc Việt, Trương Trọng Hoàng, Hải Ngươn… Ls Ngô Tiến Nhân, Cô Mỹ Yến SIY, Và các điều dưỡng ở Bệnh viện Nhi Đồng Saigon những năm 1960s thuở đó. Các “bạn đạo” trong Lớp Phật học & Đời sống, Nhóm học Phật chùa Xá Lợi… Hòa thượng Thích Thiện Đạo, Ni cô Phước Ngọc (đệ tử Ni Sư Trí Hải)… Các bạn văn: Ban Mai từ Quy Nhơn, Hồ Đắc Thiếu Anh, Hoàng Kim Oanh, Trương Văn Dân với Elena… và các bạn Quán Văn ở Sg,… các nhà báo Ngân Hà, Hồng Vân… Rồi những bạn từ các nơi xa, Đà Lạt, Vũng Tàu, Tuy Hoà, Đà Nẵng… cùng các độc giả nhiều thế hệ…
Thật vui phải không? Mình chỉ có thể nói lời chân thành cám ơn tất cả nơi đây.
Mình đã 86 tuổi rồi, hai chân đã bắt đầu lỏng lẽo, tay bắt mặt mừng… mà không sao tránh khỏi thiếu sót.
Tha cho nó đi nhe.
Chia sẻ vài hình ảnh coi vui thôi.
Đỗ Hồng Ngọc.




Bs Nguyễn Chấn Hùng… Gs chuyên khoa đầu ngành về Ung Thư, hào hứng nhảy lên sân khấu giành làm MC kể chuyện… Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên Gs nên viết Y học thường thức… như Đỗ Hồng Ngọc mới phổ cập được cho mọi người…!

Bs Thân Trọng Minh, chuyên khoa tim mạch, cùng khoá với mình ở Y khoa Đai học đường Saigon (1962-1969) là kịch tác gia, nhà văn với bút danh Lữ Kiều, người đã làm bìa tập Thơ TÌNH NGƯỜI của Đỗ Nghê, năm 1967, nhắc chuyện hồi đó…

Ls Ngô Tiến Nhân, trong Nhóm học Phật cùng mình ở Chùa Xá Lợi 10 năm nay nói về “Cách học Phật” của ĐHN.

Hoàng Kim Oanh, nhóm Quán Văn của Nguyên Minh… nhà văn, nhà báo,
nhà giáo…

Cô Ngọc Ngyuễn, đệ tử của cô Nguyễn Thị Oanh năm xưa, nói về những buổi học với Thầy Ngọc về Chăm sóc Sức khoẻ Ban đầu ở Khoa Công Tác Xã Hội, Đại học Mở Bán Công Thành phố HCM những năm 80s.

BS Vũ Hải Sơn cho biết anh là Sinh viên Y khoa cùng lớp vói Đỗ Châu La Ngà…

Các Cô Võ Kim Sa, Cầm, Nhung, Dung, Gấm… điều dưỡng cùng làm việc với ĐHN o BV Nhi Đồng Saigon trước 75 (sau này là BVNĐ 1 Tp HCM).

Hoà Thượng Thích Thiện Đạo… Viện chủ chùa Phi Lai Tuy Hoà, Phú Yên và chùa Phi Lai Đồng Nai.
Thân mến,
ĐHN
(11.8.2025)
Chủ nhật 10/08/2025:

CHUYỆN HỒI ĐÓ
của Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC
Tôi đã nhận được tập sách này đã một tháng nay do Bs. Ngọc riêng gởi, góc trang bìa sau ghi rõ Bản thảo 2025-Sách tặng, dày 930 trang. Tôi rất ngạc nhiên sao lại dừng ở chỗ “Bản thảo” nhưng vui vì thấy có lý, khi vừa nhận tin nhắn là sáng CN 10/8 này tại Đường Sách TP/HCM tổ chức ra mắt tập sách này và có buổi giao lưu của chính tác giả. Tôi càng tin mình nghĩ đúng, vì trước đó tôi đã coi đây với một nội dung không khác gì một tác phẩm Văn học đích thực. Và đúng vậy, Phanbook và Nxb Phụ Nữ nhạy bén đã thuyết phục được anh để chuyển qua xuất bản chính thức, dù còn 460 trang, để giới thiệu đến mọi người từng yêu mến Bs. Đỗ Hồng Ngọc qua trên 60 đầu sách đã xuất bản.
Đọc ở “Lời Ngỏ”, anh viết: “Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói… chuyện “Hồi đó”. Và tiếp “mà chuyện gì Hồi Đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ”. Ồ, vậy là cái tựa tập sách Chuyện Hồi Đó không phải là Tập Hồi Ký, quá tinh tế, sâu sắc dù có nói về cuộc đời mình. Bs. ĐHN muốn tránh đặt “loại” cho tập sách này là Hồi ký đang lan tràn hiện nay… Anh coi đây là chuyện của mình -cũng đáng kể, đáng viết lại- Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay vậy. Cách phân trần dí dỏm nhưng đúng với tính cách khiêm nhường, chân thật của anh.
Tập sách (sơ thảo) gồm 7 chương và phần Phụ lục… Nội dung đã phản ánh những “cái đáng nhớ”, đáng trân trọng về bản thân, gia đình, bè bạn, quê hương… Những dấu ấn qua các tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu y học, Phật học… Đặc biệt, ở tập sách này đã hội tụ được những anh tài, trí thức học giả, nhà văn nổi tiếng đã nói về tác phẩm của anh… hiếm lắm!
Có thể nói Chuyện Hồi Đó, theo anh là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, già khú, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè… hãy coi đây là một ghi chép (ký) theo thời gian. Bs. Ngọc vẫn băn khoăn dù danh chánh ngôn thuận tập sách đã có nhà xuất bàn làm bà đỡ là vui và tập sách xứng đáng với tư cách một tác phẩm, một công trình của một đời văn, một đời không mệt mỏi cho hoạt động khoa học…
*PHAN CHÍNH
La Gi – 6/8/2025
(Nhân ngày Ra Mắt Sách 10.8.2025 tại Đường Sách Tp.HCM)
Và đôi khi chúng ta chọn kể lại chuyện hồi đó không phải để níu giữ thời gian, mà như một cách để tri ân những điều đã nhận, những người đã tin yêu và đồng hành.
Và hôm nay, một buổi sáng cuối tuần đẹp trời chúng ta có dịp cùng nhau gặp gỡ và lắng nghe một vị bác sĩ, một người thầy, một nhà văn, người hành thiền đã đi qua hơn 85 năm cuộc đời kể về rất nhiều câu chuyện hồi đó đầy giá trị.
Bên cạnh đó, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn là một cái tên quen thuộc với bạn đọc qua các đầu sách về sức khỏe, giáo dục, đời sống tinh thần như: Viết cho những bà mẹ sinh con đầu lòng, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Già sao cho sướng? để có một tuổi già hạnh phúc; Thiền và sức khỏe; Một ngày kia … đến bờ; Buông; Khi người ta lớn; Ăn vóc học hay… Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chinh phục được mọi giới, mọi lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, sinh viên y khoa, các vị phụ huynh đến quý vị lão niên không chỉ bởi nội dung sách đa dạng mà trong cách viết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, chân thành tạo cảm giác dễ chịu như một người bạn đang đối thoại trực tiếp với người đọc.
Ở tuổi 85, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc một lần nữa trở lại cùng độc giả với tác phẩm mang tên Chuyện hồi đó. Cuốn sách không viết theo lối hồi ký thông thường, mà tập hợp những câu chuyện bình dị, thấm đẫm chiêm nghiệm được chắt lọc qua năm tháng tác giả sống cùng văn học, y học, Phật học và thiền định.
Trong cuốn sách này, ông dành hẳn một phần để nói về chuyện học nhưng không theo cách thông thường. Bác viết “Dạy để học” và “Đi để học”. Hai cụm từ tưởng như đơn giản, mà thật ra là cả một quá trình khám phá: vì sao dạy lại là để học? Và bác đã “đi để học” như thế nào trong hành trình làm nghề của mình?
Có lẽ, ở ngã rẽ chọn ngành nghề ban đầu, người ta đều ít nhiều mang theo một chút mơ hồ, một chút tò mò, có người chọn nghề vì đam mê, có người vì hoàn cảnh, cũng có người chỉ nhận ra ý nghĩa của con đường mình đi sau rất nhiều năm đã bước. Vậy ngày đó bác đã chọn và học ngành y ra sao? Có khó khăn gì hay không? Và vì sao bác lại chọn khoa Nhi?
Những tác phẩm của bác luôn cho thấy mối liên hệ bền chặt giữa nghề y và đời sống tinh thần. Vậy tất cả những trang viết về văn chương, thơ ca, những bài học từ Thiền… có mối liên hệ như thế nào với nghề y của bác?
Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng ít nhất một lần tự hỏi: Giữa cuộc sống bộn bề và nhiều bất an này có hay không một con đường dẫn tới an lạc? Là một người đã có quãng thời gian dài chiêm nghiệm từ y học đến Phật học, vậy theo bác liệu có một con đường an lạc thật sự? Và trong nhịp sống hối hả ngày nay, bác nghĩ bước đầu tiên mỗi người có thể làm gì để tìm được sự an lạc, không chỉ cho thân mà còn cho tâm?
Hiện nay có một cụm từ thường hay được nhắc đến đó là “chữa lành”, đặc biệt là đối với người trẻ – những người thường xuyên đối diện với rất nhiều áp lực và cần tìm kiếm các phương pháp “chữa lành” để hồi phục lại năng lượng cũng như tinh thần. Vậy theo bác có thể giúp “chữa lành” cho người trẻ được hay không?
Là một người đã tự học, nghiên cứu, chiêm nghiệm và chia sẻ về đạo Phật rất nhiều. Vậy nếu trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa biết về đạo Phật, bác sẽ có lời khuyên như thế nào?
Những ai đã biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đều biết từ xưa đến tận bây giờ bác vẫn luôn cần mẫn và dành hết tâm huyết cho cả y học lẫn văn chương và Phật pháp. Vậy bác có thể chia sẻ bí quyết để có thể cân bằng được nhiều việc như vậy không ạ?
Thảo Nguyên (theo Phanbook).
……………………………………
(Ghi chú: Vincent Ngô ở Úc về, hẹn Cafe với tôi ở Press Coffee Tp.HCM ngày 20.7.2025, lúc sách chưa kịp ra mắt. Buổi trò chuyện có ghi hình. Và anh mới gởi tôi clip video đặc biệt này do anh dàn dựng, thực hiện nhân dịp có buổi Ra Mắt Sách tại Đường Sách ngày 10.8.2025).
Cảm tạ Vincent Ngô.
Và xin chia sẻ đến bạn bè.
Đỗ Hồng Ngọc.
Thư gởi bạn xa xôi,
Minh Lê, người bạn trẻ xa xôi vừa gởi cho một bài mới viết còn nóng:
Đọc lại “Thư gởi người bận rộn”.
Vui ghê! Hơn 15 năm rồi đó, kể từ ngày cuốn Thư Gởi Người Bận Rộn ra mắt, và đã được tái bản liên tục nhiều lần. Rồi im re. Thời đã khác. Thế đã khác. Người “bận rộn” đã khác, hay chẳng còn ai bận rộn nữa! Ai cũng vui thú an nhàn rồi chăng?
Mình gởi thêm cho bạn một đoạn Lời Ngỏ của cuốn sách xưa và kèm bài “Chữ Nhàn” coi lại cho vui nha.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.

Tài bản lần thứ tư, 2010
Minh Lê (NT)
Bạn thân mến,
Bắt chước Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi cũng thầm tưởng tượng ra hình ảnh một doanh nhân trung niên, hay thanh niên vì thời nay người trẻ lập nghiệp sớm khá nhiều, hiểu biết và đam mê kinh doanh nên rất là bận rộn. Nhiệm vụ của tôi là “bán” được cho bạn cuốn Thư gởi người bận rộn của ông bác sĩ kiêm văn sĩ trên.
Chắc bạn đang cười mỉm, “Đã bảo bận rộn thì sao có thì giờ đọc thư?” Vậy là bạn bị trúng ngay cái bẫy của ông bác sĩ luôn cười tủm tỉm kia rồi, vì hai bài đầu tiên trong Thư viết về “nhàn” và “không có thì giờ”. Ổng không phải doanh nhân, nhưng đã từng cực kỳ bận rộn tới một ngày ổng… vô cấp cứu, nên coi bộ ổng dễ dàng “đi guốc trong bụng” những người bận rộn. Ổng “đi guốc” kiểu nào, thì bạn đọc đi rồi coi đúng không nha.
Chưa hết đâu, ông bác sĩ còn bàn luận sang chuyện khó nói như rối loạn dương cương, và vài bệnh thời đại như mất ngủ, bệnh giả (sợ bệnh quá mà sinh bệnh), v.v. Ổng còn đi lo chuyện trời ơi như lo người bận rộn “không ăn vì đói, vì ngon, vì vui mà vì để giao tiếp, để làm việc, để tranh luận, thương thảo” (bài “Hột mít lùi tro”) Rồi ổng lo người bận rộn không có thì giờ gần gũi con, cho con đầy đủ vật chất nhưng để mặc con tự lớn thành… con hư hồi nào không hay. (“Cũng không phải là chuyện dễ!”)
Và dĩ nhiên, ổng là bác sĩ nên tránh sao khỏi chuyện… kê toa thuốc. Toa gì đây? Bạn nhớ đọc bài “Cái rún của vũ trụ…” và “Êm chậm sâu đều…” nha. Ông bác sĩ nói về một chuyện đơn giản nhứt, thiết thân nhứt mỗi ngày mà ta thường dễ dàng quên béng đi mất. Quà tặng kèm là bài “Khúc khích trên lưng…”. Cười rất quan trọng đó, hỡi người bạn doanh nhân của tôi ơi, hãy tự hỏi mình xem mỗi ngày bạn cười một cách thoải mái và chân thật được bao nhiêu lần?
Ai lo lắng chuyện khó nói thì đọc “Bò, tại sao điên?” và “Rối loạn…”, có lẽ cả “Thầy trò Đường tăng…”. Đọc “Bò, tại sao điên?”, tôi không thể không cười khúc khích một mình. Thừa nhận, tôi đang “cười trên nỗi đau của người khác”, nhưng muôn sự là tại ông bác sĩ nói chuyện “tế nhị” một cách quá hài hước và dí dỏm. “Rối loạn…” và “Thầy trò Đường tăng” là hai khía cạnh khác nhau của vấn đề, lúc “không được” thì cần làm gì và lúc “được quá” cũng nên nhớ gì.
Muốn trị “bệnh giả”, đọc “Tùy hỷ!”, “Chích một phát!”, “Những người biết quá nhiều…”, “Safe”. Thông tin về bệnh tật và thuốc giờ tràn lan trên mạng, ngoài khía cạnh tích cực cũng làm nhiều người tự lo lắng, nghi mình bị bệnh này kia. Đi khám bệnh dĩ nhiên lòi ra một đống bệnh, trong đó đa số là “bệnh thời đại” như mỡ máu, tiểu đường, huyết áp cao, v.v. Vậy là uống thuốc, ăn kiêng, lo lắng triền miên. Người bận rộn ngày nay không thiếu tiền để lo cho sức khỏe, nhưng lo cách nào cho đúng và làm sao phòng chữa bệnh đúng cách thì sao không thử nghe ông Bác sĩ?
Làm cha mẹ thời nay là việc khá đau đầu so với vài chục năm trước. “Cũng không phải là chuyện dễ” bàn chuyện “mê đắm thần tượng” của tuổi mới lớn. “Canh cánh bên lòng” cố vấn về giáo dục giới tính cho con. “Nói “không” hổng dễ!” phân tích tâm lý con trẻ trước những cám dỗ và thói quen xấu. Vừa là người cha vừa có kinh nghiệm làm truyền thông giáo dục sức khỏe nhiều năm, người viết cứ vậy tâm sự với người đọc một cách nhẹ nhàng mà thấm thía.
Ông Bác sĩ còn “tài lanh” nhắc nhẹ bạn về cách chăm sóc cha mẹ ở tuổi già bằng “Một bông hồng cho những ai…” và “Chẳng cũng khoái ư?” Ai quan tâm tới vấn đề này nên đọc thêm cuốn Gió heo may đã về và Già ơi chào bạn, cả hai cuốn này tôi đều đã giới thiệu với bạn trước đây rồi đó.
Thực ra Thư gởi người bận rộn không chỉ dành cho doanh nhân, mà còn cho cả người rảnh rỗi. Ờ, rảnh quá nên mới quan tâm chuyện “Cắt nghĩa tình yêu?”, từ “làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Xuân Diệu) của vài chục năm trước, tới “tình bạn là tô hủ tiếu, tình yêu là tô bún riêu” của một tác giả hiện đại không biết tên. Đến “Chời ơi! áo dzài…” bình loạn về lễ hội áo dài ở Huế, “Đứa con của nàng Kiều” nghe mà… giật mình, và nhiều bài khác.
Cuối cùng, tôi cực kỳ tâm đắc với nhận xét của Bác sĩ về doanh nhân trong bài “Những người lãng mạn”: “Khác với nhà thơ lãng mạn để mà lãng mạn, nhà doanh nghiệp có khả năng biến lãng mạn thành hiện thực”. Đúng vậy, một doanh nhân có đam mê, có nghị lực, “biết làm ăn mà cũng biết hưởng nhàn, biết giữ gìn sức khỏe, không xa hoa lãng phí, không kiêu căng ngạo mạn, lại có lòng thương người, giúp đời” (“Giấy ngắn tình dài…”) ắt sẽ là người vừa đọc “Thư” vừa cười tủm tỉm, trách ông bác sĩ khéo lo xa… Nhưng trước hết, bạn phải có sách để đọc đã, đúng không?
Thân mến,
Minh Lê
………………………………………………………..
Trích Thay lời ngỏ Thư gởi người bận rộn
Tôi là một kẻ làm biếng, lại hành cái nghề mà ông tổ là cụ Hải thựơng Lãn ông, ông già lười ở làng Hải Thương, vậy mà bỗng trở thành một người bận rộn lúc nào không hay!
Số là ông bạn nhà báo của tôi, ông Trần Trọng Thức, một hôm gõ cửa bảo: “Nghe nói ông sắp về hưu, rỗi rãnh, viết cái gì đó cho báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cho vui đi”!
Nghe “doanh nhân” tôi đã hoảng vì cái sự bận rộn của họ. Biết ý, ông cười: Đây là “Doanh nhân cuối tuần”, không phải chuyện làm ăn đâu! Viết cái gì cũng đựơc, miễn là cà kê dê ngỗng.có hơi hướm sức khỏe một chút… là đựơc! Tôi bèn tra tự điển: cà kê, có nghĩa là dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác, còn dê ngỗng thì ai cũng biết! Thôi thì nể bạn…
Tôi nhớ André Maurois, người mà tôi rất mến mộ đã từng víết Lettres à l’inconnue (Thư gởi người đàn bà không quen biết, Bản dịch Nguyễn Hiến Lê) bằng cách tưởng tượng ra một người phụ nữ xinh đẹp, tuổi khoảng ba mươi, có nhan sắc, thông minh và nhạy cảm… để ông viết mỗi tuần một bức thư gởi cho người trong… mộng, trao đổi về mọi thứ chuyện trên đời. Tôi thử bắt chước tạo ra cái mục Thư gởi người bận rộn, lấy ý từ chữ “business”, là ‘bận rộn’ xem sao. Và tôi cũng tưởng tượng ra người bận rộn của tôi. Nghĩ gì viết đó. Cà kê dê ngỗng mà. Nhưng viết chỉ được ít lâu thì hết chuyện.
Nhớ hồi xưa có đọc một cái truyện ngắn đâu đó kể một người cô đơn, cả đời không ai thèm viết thư cho mình, thấy bạn bè ai cũng có thư đọc mà giận, bèn mỗi ngày tự viết cho mình một bức, đem ra bưu điện gởi về địa chỉ với tên mình đàng hoàng, rồi cũng ung dung mở thư ra đọc, tủm tỉm cười một mình khoái trá…Tôi lại bắt chước anh ta mỗi tuần viết cho mình một bức thư như vậy. Chẳng ngờ đựơc độc giả khen, nói cà kê dê ngỗng mà coi cũng được! Từ đó tôi trở thành một ngừơi bận rộn…Thứ Tư nào cũng phải nộp cho tòa sọan một bức thư bất kể trời mưa hay nắng! Mà độc giả mới dễ thương làm sao…
………………….
Chữ “NHÀN”
Chữ NHÀN là chữ làm sao! Nguyễn Công Trứ đã kêu lên như vậy, từ mấy trăm năm trước. Kêu chứ không phải hỏi. Bởi vì trước đó ông đã giải thích rõ ràng rồi: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì “náo”, còn trăng vào cửa sau thì “nhàn”. Thế thôi! Không biết ai là người đầu tiên đã nghĩ ra một định nghĩa đơn giản mà thâm thúy đến vậy qua cách viết tượng hình của chữ Hán: giữa chữ môn mà có chữ thị thì thành náo, còn giữa chữ môn mà có chữ nguyệt thì thành nhàn. Thời buổi “thị trường” toàn cầu hóa như chúng ta đang sống hiện nay thì chợ ở tứ phía, ở ngay trong nhà cũng có chợ chen vào, cho nên không dễ mà tìm một chút ánh trăng qua cửa sổ! Ở các nước Âu Mỹ, workmania là một thứ bệnh “điên vì mê làm việc” đến nỗi tình trạng tâm thần, tự tử, tim mạch… ngày càng tăng. Ở Châu Á, bệnh karoshi chẳng hạn, một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức, làm như điên, đến nỗi sinh nhiều biến chứng và gây cả tử vong như chúng ta từng nghe thấy ở một số doanh nhân Nhật và đang lan ra nhiều nước. Liên Hiệp Quốc đưa “quyền nhàn tản” vào trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền để khuyến khích người ta nghỉ ngơi mà chả ai thèm nghe! Nghe sao được, nhàn hay không là ở mỗi người chứ. Bắt người ta làm việc, cưỡng bức lao động thì dễ chớ ai nỡ bắt người ta nhàn, khi người ta muốn được “bận rộn”!
Thực ra nhàn cũng có nhiều cách: có cách nhàn nhã, có cách nhàn hùng hục. Nhàn nào cũng tốt, miễn là đừng quá. Nguyễn Công Trứ ưa kiểu nhàn “Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưỡng.” Một đôi dì “đeo” thì sợ khó mà đủng đỉnh, khó mà ngất ngưỡng. Rồi ông còn ganh tị với Tô Đông Pha, đời Tống, hơn ngàn năm trước: “Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất. Để ông Tô riêng một thú thanh tao!” Chẳng qua là ông Tô đi chơi thuyền trên sông, ngắm trăng với vài người bạn, đánh cờ, làm thơ xướng họa, dĩ nhiên là cũng có vài… người mẫu đi theo mài mực, rót trà! Ta bây giờ thỉnh thoảng cũng đi thuyền rồng trên sông Hương, có đàn có sáo…, có tiếng ca tiếng hát náo nhiệt, thuyền ngược thuyền xuôi tấp nập đó thôi. Nhưng cài nhàn của ta là nhàn ồn, không phải nhàn nhã! Sau một ngày vất vả, “người bận rộn” nào cũng sẵn sàng xách vợt ra sân làm vài ván tennis. Cởi veston cà vạt ra, mặc áo pull quần short vào, chạy ngược chạy xuôi hùng hục, toát mồ hôi hột, chẳng phải cũng là nhàn ư? Nhưng cái đó là nhàn… hùng hục. Nhàn nhã là phải có “nguyệt lai môn hạ” kìa. Vì thế mà Trịnh Công Sơn mới có bài Nguyệt ca rất dễ thương: “Từ khi trăng là nguyệt cho tôi bóng mát thật là”. “Thật là” sao thì anh không nói rõ nhưng chắc chắn anh đã có được sự nhàn nhã “thật là”, chẳng thua gì ông Tô ngày xưa. Nhưng sau đó anh thật thà thú thiệt: “Từ khi trăng là nguyệt, tôi như từng cánh diều vui. Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời!” Thì ra cũng tại em thôi. Tại em là nguyệt mà trăng của tôi đã biến thành những mặt trời nóng bức, nhễ nhại, vất vả, bận rộn đó thôi. Lúc đó hẳn nhạc sĩ cũng đã kêu lên: chữ nhàn là chữ làm sao!
Đỗ Hồng Ngọc
(2010)
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”… Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v… qua những phương tiện truyền thông khác. Cũng nên thêm, trong mục “Chuyện trò trên dutule.com”, tác giả Đỗ Hồng Ngọc là người có nhiều độc giả tham gia, đặt nhiều câu hỏi nhất, kéo dài với con số kỷ lục 24 kỳ và số lượt người vào đọc mỗi kỳ dao động trong khoảng từ 4.273 đến 7.500 (tính cho đến ngày 12-3-2024). Cuộc đời của ông cũng rất thú vị. Từ một đứa trẻ sinh ra trong thời loạn lạc, phải tản cư đến nhiều nơi không có trường học, cha bị bệnh mất sớm… Ông rất may mắn được người cậu (nhà văn Nguiễn Ngu Í) giúp đến trường và tình cờ sở hữu được cuốn sách “Kim chỉ nam của học sinh” của học giả Nguyễn Hiến Lê bày bán “xôn” trên lề đường. Vốn rất thông minh, lại thêm ý chí và nghị lực, ông quyết tâm thực hành những điều trong sách để có thể học nhảy lớp theo kịp các bạn cùng trang lứa và thi đậu các kỳ thi…
Bài viết này chỉ là những mảnh ghép đó đây góp nhặt từ sách báo hoặc trên các trang mạng hầu giúp bạn đọc được biết thêm về một tác giả mà mình yêu mến. Hy vọng hành trình đến với cuộc đời của ông sẽ tạo cảm hứng và động lực cho những bạn trẻ muốn vươn lên và tiến xa (the sky is the limit).
CHÂN DUNG TỰ HỌA
Đỗ Hồng Ngọc là tên thật và cũng là bút hiệu. Trước năm 1975, ông dùng bút hiệu Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ) khi sáng tác. Bút hiệu Giang Hồng Vân chỉ được dùng một lần khi viết bài Dẫn nhập cho tập “Qê hương” của Nguiễn Ngu Í. Khi viết về y học, ông dùng tên thật Đỗ Hồng Ngọc, thậm chí ghi rõ Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, theo nguyên tắc, để chịu trách nhiệm chuyên môn về những bài viết của mình. Trả lời phỏng vấn của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm (2010) về câu hỏi, “Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt Y học rồi Phật học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc?” Ông cho biết, “Không phải ‘rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê’ đâu. Chỉ là ‘rửa tay gác kiếm tạm thời’ thôi! Thời đó có quá nhiều ‘Ông Đồ xứ Nghệ’, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi để tránh nhầm lẫn. Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao?”
Ông viết sách dành cho mọi người ở mọi lứa tuổi và được biết đến với nhiều tư cách: bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà tư vấn tâm lý…
Đỗ Hồng Ngọc tự nhận xét về mình: “Tôi vốn ít hay cười. Ngay từ nhỏ, người ta đã gọi tôi là “một ông cụ non”, vì lúc nào cũng có vẻ đạo mạo, nghiêm túc quá. Sau này ra hành nghề, làm một người thầy thuốc, một người dạy học, tôi như càng nghiêm túc, đạo mạo hơn. Tại cái tạng, biết sao! Thấy bạn bè vui vẻ, khoái hoạt… tôi cũng thích lắm mà không làm sao bắt chước được. Chỉ đôi khi đọc sách có chỗ nào dí dỏm thâm trầm kín đáo một chút, tôi mới tủm tỉm cười một mình. Tôi cũng không biết hút thuốc, không uống rượu, không bia bọt, thường chỉ ‘phá mồi’ trong những bữa họp mặt đông vui làm bạn bè vừa thương vừa giận! Cũng tại cái tạng thôi.”
(Trích Lời ngỏ Như Ngàn Thang Thuốc Bổ)
“Đó là một người có cái tên rất ‘đàn bà’ nhưng lại là một người đàn ông thứ thiệt. Hồi tôi giữ mục Phòng mạch Mực Tím trên báo Mực Tím dành cho tuổi mới lớn, nhiều em viết thư: Thưa cô, em có điều này rất bí mật, không dám nói với ai…
Thứ hai, đó là một ông già mà nhiều người tưởng hãy còn trẻ lắm, nhờ tóc chưa bạc nhiều và viết lách lăng nhăng làm cho người ta cười…
Thứ ba, đó là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ, vì toàn nói chuyện làm sao cho người ta biết tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe mình, ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…”
(Trích Phụ lục Biết Ơn Mình)
TUỔI THƠ TRONG THỜI LOẠN
Cha ông tên Đỗ Đơn Trì và mẹ là bà Nghê Thị Như, nhưng khi đi làm thẻ căn cước, người làm hộ tịch ghi bừa là họ Lê. Ngày còn nhỏ, ông thường được nghe mẹ đọc truyện Kiều, ca dao, hát ru…
Ông tâm sự, “mình chỉ có ‘Tháng Sinh Nhựt’ (!). Vì bà Má nói tuổi thì Canh Thìn (1940), sanh tháng 8, ở nhà bảo sanh Cô mụ Bé, dưới chân cầu sắt Phan Thiết, ngày thì Bà không nhớ, giờ thì hình như… sáng sớm, vì thế tử vi coi cũng không được! Tản cư trong rừng bảy năm, về thành trễ học, phải làm lại Thế vì Khai sanh 1943 (con Dê) để vào lớp. Tóm lại tuổi thì vừa Rồng vừa Dê.”
“Lúc 5 tuổi, tôi cùng gia đình từ La Gi (Bình Tuy, nay là Bình Thuận) tản cư lên rừng ở vùng Láng Găng, Bưng Riềng (Xuyên Mộc, Bà Rịa – Vũng Tàu). Bị sốt rét triền miên, kiết lỵ, suy dinh dưỡng… đủ thứ.
Lúc 10 -11 tuổi (khoảng 1950), tôi ở nhà Ngoại đi học trường Gò Ông Nồm (gần Gò Đình bây giờ). Xung quanh lớp học, có đào nhiều hầm chữ U, chữ V, chữ Z để khi có máy bay đến thì tất cả nhào xuống hầm tránh bom… Ngày ngày đi học chân trần trên bờ ruộng, có mấy gốc mù u rậm rịt nghe nói có ma cũng ớn. Hàng ngày chỉ mang theo lủng lẳng cơm bó trong mo cau, kèm với con cá khô nướng. Buổi trưa cả bọn tắm ở mấy cái mương lớn, rồi đi móc đất sét vò thành mấy viên bi, bỏ vào lò gạch gần đó, đợi ít ngày thì viên bi chín cứng, màu sắc khá đẹp. Thời đó, bắn bi với đánh chõng là thú vui duy nhất của đám học trò. Các anh chị lớn, 15, 16 tuổi cũng học chung. Chỉ có tới lớp Ba là hết.”
Người bạn cùng quê – nhà văn Nguyễn Hiệp – cũng chia sẻ, “Trường Gò Ông Nồm, đó là ngôi trường nhỏ vài ba lớp tiểu học, được cất sơ sài trong thời kháng chiến, trên gò đất cao thuộc thôn Hiệp Trí, xã Tân Hiệp, quận lỵ Hàm Tân (nay thuộc xã Tân Thuận, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận), nơi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có những buổi học đầu tiên trong đời. Ngày nay trường không còn nữa nhưng thỉnh thoảng những người thân trong nhà cứ nhắc câu chuyện đôi giày của cậu bé Ngọc như một giai thoại đáng yêu của tuổi học trò miền quê. Chuyện rằng: Bé Ngọc được mẹ đi Phan Thiết mua cho đôi giày vải mới, cậu quý lắm, cứ ngắm hoài không chán. Sáng hôm sau, Ngọc mang đôi giày mới đến lớp với niềm vui thích hân hoan trong lòng, nhưng khi gần vào đến sân trường, nhìn chân các bạn hầu hết là mang guốc gỗ hoặc không giày dép gì cả, bé Ngọc dừng lại hồi lâu, nghĩ rằng mình mang giày mới mà các bạn thì không ai có, sợ các bạn buồn, Ngọc cởi giày đem giấu trong lùm cây và đi chân trần vào lớp cho giống các bạn. Chuyện của con nít, không có gì lớn lao, nhưng quả thực nó là tín hiệu nhạy cảm, tinh tế đầu tiên được biểu lộ của tâm hồn một con người biết thật sự quan tâm, thật sự yêu thương những người sống quanh mình.”
Ý CHÍ VÀ NGHỊ LỰC VƯƠN LÊN
Theo lời ĐHN, cha ông bị bệnh lao mất khi tản cư ở rừng Bàu Lời vì thiếu thầy, thiếu thuốc khi ông mới 12 tuổi (1952). Ông theo mẹ về tá túc trong một ngôi chùa với người cô bị tật nguyền. Lúc đó ông chỉ cân nặng 25kg, da xanh mét, lá lách sưng to, mỗi ngày phải đi nhà thương thí để chích thuốc. Riết rồi ghiền cái mùi nhà thương. Và cũng từ lúc đó ông có ý muốn học Y khoa.
Ông kể, “Thế rồi, một hôm cậu Ngu Í điên của tôi đến thăm. Người ta nói ông điên vì ngộ chữ dù ở quê tôi ông là người hay chữ nhất, được bà con rất quý trọng. Thấy tôi 12 tuổi rồi mà học hành ấm ớ trong rừng, ông dẫn tôi tới trường tiểu học của một người bạn gửi cho học miễn phí. Ông còn tặng tôi một đống sách báo từ Sài Gòn mang về. Tôi mê tít. Mới đầu, nhà trường cho tôi vào học thử lớp 3. Vài tháng sau nói tôi học được cho lên lớp nhì (lớp 4 bây giờ). Vài tháng sau nữa cho tôi vào thẳng lớp nhất (lớp 5). Trường tư, trong một ngôi chùa, nếu học giỏi thì được miễn phí. Tôi học giỏi. Cuối năm nhất lớp, chở phần thưởng về chùa bằng… xe xích lô! Cô tôi khen ngợi thưởng cho 10 đồng, đủ ăn năm chén chè sâm bổ lượng với mấy người bạn thân!
Tôi thi đậu cao vào đệ thất (lớp 6) Phan Bội Châu. Hằng ngày vừa đi học, vừa lo cơm nước cho mẹ tôi bán hàng ngoài chợ. Thế rồi, giữa chừng lại bỏ học vì cả gia đình dời về quê cũ La Gi. Tỉnh mới thành lập, chưa có trường trung học. Tôi thất học, phụ bán hàng xén với mẹ ở chợ La Gi. Ba năm sau mới có lớp đệ thất đầu tiên trong một ngôi nhà thờ. Nhớ lại hồi nhỏ học nhảy tưng bừng của mình, tôi tính chuyện học nhảy tiếp. Nhân một chuyến theo xe chở cá nước đá về Sài Gòn bổ hàng cho mẹ, tôi lang thang lề đường nơi bán sách cũ, vớ được cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của tác giả Nguyễn Hiến Lê. Tôi đọc thấy trúng ý mình quá, bèn đánh bạo viết thư hỏi ý kiến ông nói muốn học nhảy có nên không. Ông trả lời ngay: “Cháu có thể học nhảy được, vì đọc thư thấy sức cháu có thể học lớp đệ tứ (lớp 9) rồi đó”. Tôi bèn lập chương trình học nhảy.
Thi đậu ngay Trung học đệ nhất cấp, lại nhảy tiếp bỏ đệ tam, đậu tú tài I rồi tú tài II. Khi đó tôi băn khoăn trước ngã ba đường giữa học y, học sư phạm hay học văn khoa. Cái nào cũng thích. Ông Nguyễn Hiến Lê lần nữa khuyên nên học y để giúp gia đình, giúp đời, nếu học giỏi có thể dạy học và nếu có tâm hồn vẫn có thể viết lách được. Đã có nhiều nhà văn là bác sĩ như Chekhov, Cronin, Sommerset Maugham… Tôi đã làm đúng như thế. Tôi học y nhưng ghi danh học thêm văn khoa, xã hội học, những ngành tôi thích. Những năm này tôi đã vào Sài Gòn ‘du học’, ở nhà trọ, ăn cơm tháng trong khu ổ chuột Bàn Cờ (Q.3) và thường xuyên đến thăm ông Nguyễn Hiến Lê. Ông luôn động viên, khuyến khích việc học của tôi. Khi báo Bách Khoa ra số đặc biệt kỷ niệm 100 đầu sách của ông, tôi viết bài ‘Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi’. Ông nói đây là ‘món quà’ quý nhất của ông. Ông đã coi tôi như một người học trò ‘chân truyền’ rồi vậy.”
NHỮNG NGƯỜI CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN
Trong một trả lời phỏng vấn, ĐHN cho biết: “Chính là nhờ mẹ tôi luôn động viên khuyến khích – bà là người rất có ý chí – lại nhờ cậu tôi là nhà văn Nguiễn Ngu Í dẫn đến trường và nhất là nhờ những cuốn sách quý giá của ông Nguyễn Hiến Lê đã ảnh hưởng lớn đến tôi như Kim chỉ nam của học sinh, Gương danh nhân, Gương can đảm, Gương kiên nhẫn… Tuổi thơ tôi gặp nhiều khó khăn nhưng may mắn là luôn có những tấm gương tốt quanh mình để tôi noi theo.”
Về nhà văn Nguiễn Ngu Í, tên thật Nguyễn Hữu Ngư (1921-1979), ĐHN chia sẻ:
Mẹ tôi và ông là chị em cô cậu ruột. Mẹ ông họ Nghê nên ông còn có bút danh là Ngê Bá Lí, với cách viết “đặc biệt” của ông. Tôi gọi ông bằng cậu, gần gũi và thân thiết. Cha tôi mất sớm, mẹ con tôi về trú ngụ ở nhà cô tôi trong một ngôi chùa nhỏ ở Phan Thiết, lúc đó ông đang làm báo ở Saigon về thăm, thấy tôi thất học bèn dẫn tôi tới gởi vào trường tiểu học của bạn ông là cô Hồ thị Tiểu Sính (con ông Hồ Tá Bang) để tôi được đi học lại. Sau này khi vào Saigon học, tôi gần như sống hằng ngày bên ông.
Ông viết văn, làm báo, có nhiều bút hiệu: Trinh Nguiên, Tân Fong Hiệb (ghép địa danh quê nhà Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa), Ngê Bá Lí, Trần Hồng Hừng, Ki Gob Jó Cì, Fạm Hoàn Mĩ… Bút danh Nguiễn Ngu Í được nhiều người biết đến, nổi tiếng là một ký giả chuyên phỏng vấn các vấn đề văn học nghệ thuật cho tạp chí Bách Khoa thập niên 1960s tại Sài Gòn.
Ông có lối viết tiếng Việt rất đặc biệt, rất riêng, gây ít nhiều tranh cãi, ít nhiều khó chịu cho người đọc, nhưng vẫn có cái lý riêng của ông. Thí dụ ông thấy không hợp lý khi ta viết NGA, nhưng lại NGHE (ông sửa lại NGE), GA nhưng GHE (ông sửa lại GE…).
Ông có một vài tác phẩm về sử, đặc biệt về Quang Trung và về Hồ Quý Ly trong thời gian dạy sử ở vài trường trung học, ký Fạm Hoàn Mĩ; ông cũng có vài cuốn tiểu thuyết như “Suối Bùn Reo”, “Khi người chết có mặt”, v.v… Nhưng tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Sống và Viết với …”, do Ngèi xanh xuất bản (1966), tập hợp các bài phỏng vấn trên báo Bách Khoa với các nhà văn nổi tiếng đương thời Nhất Linh, Đông Hồ, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường, Sơn Nam, Doãn Quốc Sỹ… (sau này Xuân Thu in lại ở nước ngoài). Ông cũng chuẩn bị ra mắt các cuốn “Sống và Vẽ với…” phỏng vấn các họa sĩ, và “Sống và Đàn với…” phỏng vấn các nhạc sĩ. Tiếc thay ý nguyện chưa tròn. Ngoài ra ông còn có một tập thơ “Có những bài thơ”, do Trí Đăng xuất bản, 1973.
Trong thời gian nằm ở Dưỡng trí viện Biên Hòa vì bệnh thần kinh, ông cùng các “bạn điên” có ra một tập thơ, lấy tên là “Thơ điên thứ thiệt” rất thú vị, do ông làm chủ biên (có mấy bài của Bùi Giáng). Thời đó, ngoài thuốc men, các bác sĩ ở Dưỡng trí viện Biên Hòa còn khuyến khích bệnh nhân làm thơ, vẽ tranh, đánh cờ, lao động tay chân, v.v… như một liệu pháp chữa trị tâm bệnh. Khi được hỏi vì sao gọi là “Thơ điên thứ thiệt”, thì ông cười bảo vì lúc này có nhiều người làm thơ giả điên quá!
Ông thường xuyên ra vào các nhà thương điên Biên Hòa và Chợ Quán:
Cũng tưởng một đi không trở lại
Nào ngờ duyên nợ lại dằng dai
Bỗng nhiên sực tỉnh nằm trong “khám”
Khám của lòng ai, ai của ai…
(Bài thơ tái ngộ Dưỡng trí viện, 1966)
Trong một bài thơ khác, ông viết:
Ta đi lang thang
Ta nói tàng tàng
Ta cười nghinh ngang
Ta chửi đàng hoàng
…
(Bài thơ tự giết, 1966)
“Chửi đàng hoàng” quả không phải là chuyện dễ, nhưng với ông thì ông làm được. Hỏi chửi ai? Ông nói: “Chửi cả và thiên hạ, trong đó có mình!”
Ông có nhiều bài thơ hay. Bài thơ viết cho Mẹ rất cảm động:
Má ơi con má điên rồi
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi…
Năm 1960, một lần tôi có dịp đi với ông trên bãi biển từ La Gi về Ngảnh Tam Tân (Bình Thuận) đến Nước Nhỉ, ông dừng chân nghỉ và nằm lim dim trên đống cát gạch vụn, dưới bóng mát của các bụi dứa gai um tùm nhìn lên trời mây… Một lúc ông gọi tôi đến và đọc cho nghe bài thơ vừa làm xong. Tôi còn nhớ mấy câu:
Nằm đây mà ngó lên trời
Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa
Nằm đây mà nhớ mơ hồ
Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…
Thì ra ông nhớ mấy người bạn cũ, trong đó có Ba tôi, đã cùng nhau xây cái giếng Nguồn Chung ở Nước Nhỉ này cho khách bộ hành qua đường nghỉ ngơi, uống bụm nước ngọt, nhỉ ra từ động cát, giữa trưa nắng gắt trên đường dọc biển mênh mông đầy nắng và gió.
Cuộc đời ông nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có lần ông nằm giữa xa lộ Biên Hòa cho xe Mỹ cán, nhưng họ kịp dừng, chở thẳng vào nhà thương điên. Có lần ông trốn viện, bắt đom đóm làm đèn đi trong giờ giới nghiêm cũng bị bắt lại…
Trước đó, hình như ông biết trước cái chết của mình, viết một bức thư như là một di chúc cho vợ ông. Ông ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục thủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để được nhìn trời mây nước cho thỏa thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho “Ngư về với Cá”. Thế nhưng ông chết với lửa. Ông được hỏa táng ở An dưỡng địa Phú Lâm và đưa về đặt kề ông bà và dì Nga ở Ngảnh Tam Tân. Tôi nhớ hai câu thơ từ lâu của ông:
Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi
Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi.
Ông là bạn cùng lớp, cùng trường Pétrus Ký với Trần văn Khê, Lưu Hữu Phước… Gia đình có làm một tập tư liệu về ông: Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư, qua ký ức người thân, do mợ tôi, bà Nguyễn Thị Thoại Dung thực hiện (1996), gồm các bài viết của Bà Tùng Long, Trần Văn Khê, Lê Ngộ Châu, Lê Phương Chi, Phan Chính, Hoàng Hương Trang, Hồ Trường An, Trần Huiền Ân, Tô Dương Hiệp, Đỗ Đơn Chiếu, Phan Khắc Khoan, Đỗ Hồng Ngọc…
Sau này, khi về La Gi – Tam Tân, tôi có một bài thơ viết cho ông:
Đêm trên biển La Gi
(tặng cậu tôi, Nguiễn Ngu Í)
Sóng cuốn từng luồng trăng lại trăng
Đêm Hòn Bà dỗ giấc ai nồng
Phẳng lì bãi cát buồn hiu ngóng
Cao vút hàng dương quạnh quẽ trông
Đá cũ mòn rêu hoài đá Ngảnh
Nguồn xưa cạn nước vẫn Nguồn Chung
Về đâu mái tóc xanh ngày ấy
Câu hỏi ngàn năm có chạnh lòng… (ĐHN 1990)
Còn về học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), trả lời câu hỏi của ông Hai Trầu trên trang dutule.com (2013), ĐHN cho biết, “Tôi may mắn được quen biết với ông NHL từ năm 1957 đến năm ông mất, 1984. Suốt thời gian đó, tôi thường gặp ông, khi trực tiếp khi thư từ qua lại. Đến nay tôi vẫn còn giữ nhiều thư viết tay của ông như một kỷ niệm. Tôi học được ở ông lối sống và lối viết. Ông là tấm gương nghị lực, gương tự học, chọn con đường làm văn hóa suốt đời mình.
Câu ‘châm ngôn’ của ông là ‘Viết để học và học để viết’. Tôi chịu lắm. Chỉ có cách đó mình mới học được nhiều, học được sâu. Tôi bây giờ còn đi dạy và vẫn nghĩ: ‘Dạy để học và học để dạy’.
Ấy là bắt chước ông đó.
… Tôi vẫn luôn nghĩ ông là một ‘người hiền’ – người hiền Nam bộ, dù sinh ở đất Bắc. Khiêm tốn, giản dị, chính trực. Ông sống tri túc, kham nhẫn, hết lòng vì sự nghiệp “trồng người”. Năm 1986, hai năm sau ngày ông mất, báo Thanh Niên nhờ tôi viết một bài về ông. Đó là bài đầu tiên viết về NHL sau 1975. Tôi đặt tựa là ‘NHL, nhà giáo dục’, nhưng tòa soạn sửa thành ‘NHL, một tấm gương kiên nhẫn’. Tôi nghĩ ông xứng đáng được gọi là ‘Nhà giáo dục’. Anh biết không, thật bất ngờ khi sách của ông bây giờ được rất nhiều bạn trẻ ở miền Bắc đọc, nghiền ngẫm, ứng dụng. Họ thực hiện các tủ sách Nguyễn Hiến Lê, trao đổi cho nhau…”
Trong bài viết “Nguyễn Hiến Lê và tôi” (tạp chí Bách Khoa số 426 ngày 24-4-1975), ĐHN cũng nhắc đến, “Quen biết ông mới thấy ít ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông ‘thao thao bất tuyệt’ thì cứ việc nói đến tiếng Việt, nói về tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai. Còn nhớ khi bọn sinh viên chúng tôi vận động chuyển ngữ Việt tại trường Y khoa, ông đã hỗ trợ bằng những bài báo nẩy lửa. Lúc đó giọng không còn cái vẻ nghiêm túc, hiền lành, điềm đạm thường ngày nữa mà sôi nổi, gay gắt, phẫn nộ, đầy khích động.
Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi, ‘Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò’, chỉ là phần bổ túc cho cuốn ‘Kim chỉ nam của học sinh’. Sau tôi viết thêm một cuốn khác, cũng loại y học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.
Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự.
Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông Kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương triết học Trung Quốc, Ngữ pháp Việt Nam… và những Chiến tranh và hòa bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hóa miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực… Và nhất là bộ Gương danh nhân của ông.
Cuộc đời ông quả thật là một tác phẩm lớn. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi cũng đã khác; nên tuy không được may mắn học với ông một ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!”
NGHỀ
Nghe theo lời khuyên của học giả Nguyễn Hiến Lê, ĐHN đã nộp đơn và trúng tuyển kỳ thi vào Lớp Dự bị Y khoa (APM) năm 1962. Bên cạnh đó, ông cũng ghi danh ở Văn Khoa và về sau học thêm Xã Hội Học ở Đại học Vạn Hạnh. Theo chương trình thời đó, Y khoa học 7 năm, sinh viên năm thứ ba được đi thực tập tại các bệnh viện. Ra trường phải thi tốt nghiệp, đậu bốn môn Bệnh lý (Nội, Ngoại, Sản, Nhi) thì được gọi là bác sĩ và hành nghề bác sĩ, sau khi đã đăng ký vào Y sĩ đoàn và thực hiện đúng Nghĩa vụ luận Y khoa. Sau đó, những ai làm luận án và bảo vệ thành công thì được nhận Văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia (Doctorat en Médecine, Diplôme d’Etat). Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã đậu kỳ thi tốt nghiệp năm 1969 và trình luận án Tiến sĩ, đề tài “Bệnh Sốt rét cấp tính ở Trẻ em” vào năm 1970 với Hội đồng Giám khảo gồm GS Phan Đình Tuân, GS Nguyễn Văn Út và GS Nguyễn Thế Minh…
Ông là Bác sĩ chuyên khoa Nhi. Nguyên nội trú ủy nhiệm Bệnh viện Nhi Đồng Sàigòn (1968-1969), Trưởng phòng cấp cứu Nhi (1973-1975), sau 1975 là Trưởng khu Phòng khám Cấp Cứu BV Nhi Đồng 1 TP. HCM (từ 1975-1985), Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe TP. HCM (1985-2005), Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại CFES, Pháp (1997), Giảng viên thỉnh giảng Bộ môn Nhi, Đại học Y dược TP. HCM (1981-1995), Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (1995- 2014). Từ 2014 là cố vấn Bộ môn Y Đức – Khoa học hành vi, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. HCM. Hiện nghỉ hưu ở Sài Gòn.
ĐHN chia sẻ, “Ngay từ khi còn là một sinh viên y khoa, đi thực tập ở Bệnh viện Nhi Đồng, tôi đã mê trẻ con để trở thành một bác sĩ nhi khoa. Khám chữa bệnh cho trẻ con có cái thú là chúng không… biết nói, thỉnh thoảng còn giật kiếng cận và ống nghe của mình, lúc cao hứng còn… tè vào mặt mình. Thú vị nữa là chỉ cần bẵng đi một thời gian, đã thấy chú nhóc bệnh nhi dạo nọ bế trên tay một… chú nhóc khác – là con của chú – đến nhờ khám chữa bệnh tiếp!”
Nói về nghề thầy thuốc, Bs ĐHN cho biết, “Tôi nghĩ y đức không chưa đủ. Còn phải có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn nữa. Không nên tách bạch bởi hai cái là một. Nói y đức suông mà không có tay nghề thì… hại người ta nhiều hơn, làm người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn. Người thầy thuốc phải quan tâm cả cái đau và cái khổ của con người. Y đức không đơn giản, không phải là một khẩu hiệu, phải được học tập và rèn luyện xuyên suốt quá trình học y khoa và hành nghề.
Tôi không cảm thấy có bước chuyển nào cả khi bước vào tuổi hưu. Y khoa vốn là một nghề độc lập. Người thầy thuốc có thể làm việc suốt đời nếu còn đủ sức khỏe. Nghề văn cũng vậy, là một nghề tự chủ, có thể làm việc suốt đời, nếu còn thấy hứng thú. Tôi rất hoan nghênh các bạn trẻ muốn theo nghề y. Đây là một ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội. Nhưng chọn học y là chọn con đường gian nan, tiếp xúc thường trực với những nỗi đau, nỗi khổ của kiếp người (sinh, lão, bệnh, tử)… Phải thật sự yêu nghề và có năng lực. Nói chung, học y cần có lý tưởng nhân đạo, một “tiếng gọi sâu thẳm” (vocation) của nghề nghiệp. Nếu học y để mong đầu tư… làm giàu trên bệnh nhân thì không nên! Thật ra, học y cũng rất thú vị, nhiều thử thách, đòi hỏi trách nhiệm cao. Người bác sĩ luôn đứng trước lương tâm của mình. Hạnh phúc rất lớn khi thấy mình sống hữu ích cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Cứu sống một mạng người bằng lập năm bảy kiểng chùa, phải không?
VÀ NGHIỆP
ĐHN chia sẻ, “Tôi mê văn thơ từ hồi nhỏ, đọc gần hết tủ sách trong một tiệm cho mướn sách ở Phan Thiết. Cô Hai tôi (đi xe lửa trúng mìn, bị gãy cả hai chân) cư ngụ trong một ngôi chùa nhỏ, thường kêu tôi đi mướn sách về cho cô đọc, nhưng lại cấm tôi đọc vì con nít đọc truyện không tốt, mê, bỏ học. Mỗi lần đi mướn truyện, tôi lén đọc hết dọc đường đi, có khi ngồi gốc cây đọc xong mới về. Tôi còn ghi chép tóm tắt nội dung, các nhận xét của mình vào một cuốn vở.
Tôi nhớ những bài văn của mình hồi học lớp Nhứt (lớp 5) thường được thầy khen và đọc trước lớp. Rồi cậu tôi là ông Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư làm báo ở Saigon về thăm, cho một đống sách báo, tranh ảnh. Tôi mê tít.
Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…), rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…).
Năm 1967, đang là sinh viên Y, tôi in tập thơ đầu tay Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng Quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (2010) …
Tôi không viết ‘chuyên nghiệp’ được như Nguyễn Hiến Lê, tôi chỉ viết khi có hứng. Bây giờ có máy vi tính cũng tiện. Khi hứng đến, tôi cứ viết ào ào rồi để đó, năm bảy ngày sau cho nó ‘hoai’ đi mới ‘chỉnh’ lại đôi chút. Tuy nhiên, khi báo đặt bài gấp thì cũng viết ngay được. Lâu lâu gom lại có thể in thành một cuốn sách như Thư gởi người bận rộn, Chẳng cũng khoái ru, Nhớ đến một người, … Tôi không viết được truyện, vì không có khả năng… hư cấu!”
Đến nay, họ Đỗ có khoảng 60 đầu sách thuộc ba tủ sách Văn học, Y học, và Phật học được xuất bản, trong đó vài cuốn được dịch ra ngoại ngữ. Có thể nói nhờ có văn chương mà sách Y học và Phật học của ông dễ đi vào lòng người, được độc giả ưa chuộng.
Riêng về phần thơ, với người viết, thơ Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc không bí hiểm, kiểu cách hoặc màu mè… Những từ, những chữ rất đời thường được ông khéo léo đặt vào đúng vị trí nên thành “đắc địa”, rất tuyệt, khiến người đọc có thể cảm được cái không khí, cái thời tiết được nhắc đến trong bài thơ nên rất thích và rất thấm. Chẳng hạn:
Đi giữa Sài Gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết
Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay xuân về
Vỡ òa ngực biếc!
(ĐHN – Gió bấc)
Hay là:
Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố Tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo
(ĐHN – Tuyết)
Người viết rất đồng thuận với nhà thơ Trịnh Y Thư, “Thơ ông là tiếng nói, tiếng nói thầm thì nhưng trong veo và có sức mạnh chuyển tải cảm xúc, biểu hiệu cho một tâm hồn thơ giàu suy cảm. Nhờ thấm đẫm Thiền vị, thơ Đỗ Nghê thắt buộc sự hiện hữu của con người vào thế giới xung quanh, và quan trọng hơn, tìm ra được quan hệ hài hòa giữa sự hiện hữu ấy với thế giới.”
VÀ CŨNG CÓ MỘT “HỌA SĨ” ĐỖ HỒNG NGỌC
Có lẽ ít người biết ĐHN vẽ tranh, trừ nhóm bạn của ông. Những tranh bút sắt ông vẽ rất “tới” như Đà Lạt, Quê Nhà, Tà Cú, Phan Thiết, Harvard Square… Ông cũng vẽ những phác thảo chân dung bạn bè: Thầy Tuệ Sỹ, Đinh Cường, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Nguyễn Lệ Uyên, Trần Vấn Lệ… Và cả những bức chân dung rất thú vị khi “len lén” quan sát những nhân vật mà ông có dịp gặp gỡ đã được kể lại trong “Áo Xưa Dù Nhàu…” như nhà thơ Huy Cận (1996), Giáo sư Trần Văn Khê (1997).
Còn nhớ năm 2014, khi biết tôi về thăm nhà lúc cuối năm, họa sĩ Đinh Cường “bỏ nhỏ”: “Khi nào về Sài Gòn nhớ nói Ngọc vẽ cho một bức…” Tôi chỉ trả lời: “Em không dám đâu…” vì nghĩ tới Khánh Minh… Thời đó, anh Ngọc toàn vẽ các bạn nam, chưa người nữ nào có hân hạnh được anh vẽ. Một bữa, chị KM nói anh Ngọc vẽ cho một bức chân dung, nhưng anh thoái thác bằng một bài thơ:
thục nữ
gởi khánh minh
em bảo vẽ cho em một bức chân dung
chân dung người làm thơ
một người làm thơ nữ
trời đất ơi
làm sao vẽ được chân dung
một người làm thơ nữ
đom đóm hái sao
tôi nhắm mắt lại nhìn em
cho rõ
lần đầu gặp ở trương thìn,
đây khánh minh
rồi làm thinh
tôi thấy em thục nữ,
tại sao mà làm thơ
rồi nhìn thêm lần nữa
oan oan thư cưu
cho đến một hôm nơi ồn ào kia
quanh bè bạn thân quen đâu từ kiếp trước
em tặng mỗi người tập thơ còn ướt
những bài thơ hình hiện muôn đời
như không thôi đi được…
tôi nhắm mắt nhìn em cho rõ
thử hình dung ra cái hình dung
rồi vẽ vào không gian trong
một người làm thơ nữ
khi mở mắt ra
em tan biến
đành ghi vội mấy dòng
tạ lỗi!
Đỗ Hồng Ngọc
(9.2014)
Nhưng cuối cùng, chị KM đã đạt được ước mơ có một bức phác thảo chân dung do anh Ngọc vẽ vì cảm bài thơ “Sắc Màu Bay” của chị.
Nghĩ mình kém cỏi, không thể nào làm thơ hay được, nên tôi chọn im lặng… Chẳng ngờ, anh Đinh Cường nói với anh Ngọc sao đó, nên rốt cuộc tôi cũng được một bức phác thảo anh vẽ tặng. Vui ơi là vui! Anh Đinh Cường khen bức đó lắm “nét là tài hoa hồn là người”… Sau này, anh Ngọc còn vẽ cho chị Duyên và Thu Vàng nữa…
BÀI THƠ “THƯ CHO BÉ SƠ SINH”
Giáo sư Huỳnh Như Phương nhận xét, “… Với bài ‘Thư cho bé sơ sinh’, ngòi bút Đỗ Nghê không chỉ tranh đấu cho hòa bình như một lẽ phải đương nhiên, mà còn suy ngẫm về thân phận con người trong một thời buổi nhiễu nhương và phả hơi ấm tình yêu con người trong một cấu trúc ngôn ngữ hiện đại. Thật kỳ lạ, ở tuổi 25, Đỗ Hồng Ngọc đã tự đặt cho mình một cột mốc thơ ca mà chính ông không dễ gì vượt qua. Ni sư Giải Nghiêm ở Canada có lý khi cho rằng nhiều bài thơ và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc về sau này dường như là một sự nối dài ‘Thư cho bé sơ sinh’.
‘Thư cho bé sơ sinh’ còn đặc trưng cho thơ Đỗ Hồng Ngọc ở điểm này: tác giả khai thác nhiều khía cạnh tương phản của đời sống: tiếng khóc và nụ cười, màu sáng và màu tối, thực chất và nhãn hiệu, cái bé bỏng nhỏ nhoi và cuộc đời rộng lớn; nhưng không đẩy nó vào thế đối lập mà đưa những tương phản đó thành những hợp thể. Phải chăng đây cũng là dấu ấn của lý tưởng hòa hợp trong thơ ông sau này, khi ông viết những bài thơ mang hơi thở thế sự hay mang tâm thức thiền học.”
Trường hợp sáng tác bài thơ này được Bác sĩ ĐHN chia sẻ:
“Bài thơ ‘Thư cho bé sơ sinh’ tôi viết năm 1965, trong một đêm trực ở Bệnh viện Từ Dũ, sau một ca đỡ đẻ đầu tiên trong đời của một sinh viên y khoa thực tập. Hồi đó, phải học đến năm thứ ba y khoa chúng tôi mới được phép đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 ‘ca’ sanh thường, không bệnh lý. Tối tối, chúng tôi túc trực ở phòng nhận bệnh để ‘bắt ca’. Một hôm, tôi bắt được ca ‘4 cm’, nghĩa là ca mà cổ tử cung đã nở gần trọn, sắp sanh. Tôi đưa sản phụ lên phòng sanh, thăm khám, làm vệ sinh các thứ, theo dõi cơn co tử cung, ghi chép cẩn thận vào hồ sơ bệnh án rồi ngồi bên trò chuyện cho sản phụ quên đau. Tôi nghĩ đến mẹ mình, đến những giọt mồ hôi của biết bao bà mẹ chờ sanh khác. Đến gần sáng thì cơn đau đã rột. ‘Lúng túng’ một cách lành nghề, tôi cũng đã đỡ được ca đầu tiên mẹ tròn con vuông! Lòng lâng lâng tôi đẩy xe cho hai mẹ con về phòng, rồi viết bản ‘phúc trình’. Trời đã hửng sáng. Bên ngoài khung kính cửa phòng sanh, Sài Gòn tấp nập và hừng hực không khí ngột ngạt những ngày tháng này của năm 1965.
Đột nhiên, một cảm xúc trào dâng, tôi viết liền một mạch ngay sau phần bệnh án một bài thơ nhỏ:
Thư cho bé sơ sinh
Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em
Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen
Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ
Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến
Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút đó
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu
Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng, với hoang mang,
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em
Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…
Đỗ Nghê
(Đỗ Hồng Ngọc, Bv Từ Dũ, 1965)
Sáng hôm sau, giáo sư HNM đọc bản phúc trình của tôi, gọi tôi vào rầy: ‘Đỡ đẻ không lo đỡ đẻ, lo làm thơ!’. Chẳng ngờ bài thơ viết vội trong đêm trực đã phổ biến nhanh trong giới sinh viên và nữ hộ sinh thời đó. Không biết ai đã viết lên bảng đen! Bài thơ được đăng trên báo Tình Thương, rồi in lại trong tập thơ ‘Tình Người’ của tôi, năm 1967.
Số phận bài thơ khá ly kỳ. Năm 1973, Bác sĩ Lương Phán đăng lại ‘Thư cho bé sơ sinh’ trong một tạp chí y học do ông phụ trách, và đã trả nhuận bút rất hậu! Tôi nhớ thời đó thơ ít khi được trả nhuận bút. Ngay cả báo Bách Khoa cũng chỉ trả trung bình 50 đồng cho một bài thơ, nhưng bác sĩ Lương Phán đã trả tôi… 5000 đồng! Ông nói, ‘vì tôi rất thích bài thơ này’. Điều cảm động là sau ngày đất nước thống nhất, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu (sinh ở Phnom-Penh 1935 và mất ở Saigon 1998, tốt nghiệp nhạc viện Paris, còn có bút danh là Phạm Trọng) chống nạng đến thăm tôi – trước đó chúng tôi chưa từng quen biết nhau – nói chỉ để tặng cho tác giả thơ bài hát ‘Thư cho bé sơ sinh’ mà anh đã phổ nhạc từ trong nhà tù nhờ đọc được cuốn tạp chí y học của bác sĩ Lương Phán. Anh nói anh viết bài này là để dành riêng cho ca sĩ Thái Thanh hát! Và cũng từ đó nhạc sĩ đã rất thân thiết với tôi. Chúng tôi vẫn thường gặp nhau luôn, nhất là mỗi khi anh có bài hát mới, thường kêu tôi tới để hát cho nghe! Anh luôn ‘mày tao’ rất dễ thương, vì anh lớn hơn bọn tôi đến mấy tuổi!
Còn chú bé – hay cô bé? – sơ sinh của tôi lúc đó thì nay đã gần 40 rồi còn gì! Biết đâu cũng đang là một người “bận rộn”, chẳng có thì giờ để đọc những dòng chữ này. Dầu vậy, tôi vẫn rất muốn nói cảm ơn em!
Khoảng năm 1995 tôi có dịp làm việc với ba vị bác sĩ, là giảng viên của Trường Trung học Y tế tỉnh Phú Thọ ở miền Bắc lần đầu vào Saigon. Trong lúc chuyện trò, có người tình cờ nhắc bài thơ ‘Thư cho bé sơ sinh’ của tôi thời sinh viên thì thầy Nguyễn Hồng Hải, một trong ba vị bác sĩ đến từ Phú Thọ bỗng chồm lên, ôm lấy tôi, mừng rỡ: ‘Thế ra anh là tác giả bài thơ đó ư?’.
Rồi thầy đọc liền một mạch. Thầy nói gần 20 năm nay, năm nào dạy lớp nữ hộ sinh ở Phú Thọ, thầy đều đọc cho họ nghe bài thơ mà thầy không biết tác giả là ai, chỉ nói ‘khuyết danh’ thôi. Gần đây, tôi tình cờ phát hiện trên mạng, có một bản dịch sang tiếng Anh bài ‘Thư cho bé sơ sinh’ của Phát (Phat’s blog), một người không quen biết, với những lời bình thật sâu sắc!”
NHỊP CẦU Ô THƯỚC
Nhà văn Trần Hoài Thư chia sẻ, “Tôi có được cơ duyên gần gũi với nhà thơ họ Đỗ này trong một thời gian khi tôi làm lính vùng hai. Cứ mỗi lần đi phép, tôi hay chọn SG để về. Có hai nơi để tôi qua đêm. Đó là cái cabin của vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức & Bé Ký và căn lầu của Đỗ Nghê tại một hẻm gần khu Bàn Cờ.
Và những lần rảnh rỗi, Đỗ Nghê vẫn hay chở tôi bằng chiếc Vespa đi rong chơi các phố SG, hoặc có khi đêm đêm hai đứa ghé tại một quán bánh cuốn lộ thiên ở đầu hẻm. Một chàng bác sĩ luôn luôn chỉnh tề chững chạc, miệng hay nở nụ cười, với đôi kính trắng, dáng người phốp pháp, đi đứng thì ung dung, nói năng từ tốn, không bao giờ chửi thề, hiền như bụt… lại làm bạn với một tên lính bụi đời, phóng đãng, thì quả là chuyện lạ, khiến một số bạn bè ngạc nhiên không ít.
Làm sao họ biết có một thứ chung như keo kết dính chúng tôi. Đó là lòng yêu mến nghệ thuật, thi ca chảy trong máu huyết.
Bằng chứng? Hãy nhìn quanh ông: bạn bè toàn là nhà văn, nhà thơ.
Với mẫu người như vậy, nào ai biết ông đã lập một kỳ công là xây cái nhịp cầu Ô Thước ngay tại con đường Phan Đình Phùng SG gần tòa soạn Bách Khoa để giúp một chàng Ngưu Lang từ chót vót Trường Sơn và nàng Chức Nữ ở mút tận đồng bằng châu thổ gặp nhau! Cái cầu ấy được thực hiện bằng chiếc Vespa mà ông đã làm tài xế để thả chàng xuống trước tòa soạn, rồi sau đó dzọt lẹ!”
ĐHN cũng kể: Trần Hoài Thư từ xa về, ở tạm nhà tôi mấy hôm để tôi đưa đến Tòa soạn Bách Khoa “coi mắt” người trong mộng đã hò hẹn qua thư. Nàng ở tận miền Tây, mê THT qua thơ văn… Hai người chưa hề biết mặt nhau. Suốt mấy ngày, THT đi vào đi ra nôn nao lắm. Tôi đưa anh đi bằng cái xe Vespa cà tàng của tôi nơi này nơi khác, lúc café, lúc bánh cuốn nóng đầu hẻm cho vui, nhưng anh không vui mấy mà có vẻ lo lo. Đi phép có mấy ngày. Thời chiến. Bách Khoa có Lê Ngộ Châu như ông mai, môi giới cho hai trẻ…
Hôm đó đúng hẹn với Y, người trong mộng tại báo Bách Khoa, tôi thấy anh hồi hộp lắm, ăn mặc có chút chải chuốt hơn như chàng rể đi coi mắt vợ. Tôi lấy xe Vespa cà tàng của mình đưa anh đến BK và lén bỏ đi ngay cho họ tự do tâm tình mà không có mặt mình. Ai dè lát sau THT về nhà, tiu nghỉu, đầy vẻ thất vọng vì nàng không đến như lời ước hẹn mà cũng không một lời giải thích. Ngay sáng sớm hôm sau, anh “cuốn gói” lên đường, trong một nỗi tuyệt vọng rã rời chưa bao giờ tôi thấy ở một chàng trai “giang hồ” đầy khí phách nơi gió cát như vậy. Tôi không dám có một lời khuyên. Đành đưa anh lên đường và hai bạn vào một quán café góc phố trên con đường Phan Đình Phùng xóm Bàn Cờ quen thuộc.
Tôi nhìn anh rít thuốc lá như nuốt hết khói vào trong. Thời chiến. Mùa hè đỏ lửa. Tôi biết anh đi không chắc trở lại. Bỗng dưng tôi viết rất nhanh:
Ta cũng muốn ngâm tràn câu tống biệt
Đưa người đi tiếng sóng ở trong lòng
Nhưng khói thuốc đã cay sè đôi mắt
Có ai còn thổi sáo trên sông…
Trời buổi sáng mù sương lớp lớp
Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời
Và khí phách thôi một thời trẻ dại
Ta nói gì cho bớt chút chia ly…
Rồi đột nhiên không cầm lòng được, tôi bỗng viết tiếp:
Người yêu thương cũng vội vàng lỗi hẹn
Còn gì không hay một thoáng chiêm bao
Ơi cánh chim của mùa xuân lỡ đến
Khoảng trời xanh còn chất ngất xôn xao
Ta bè bạn dám đâu lời can gián
Một giờ yêu cũng đủ một đời vui
Hãy tin tưởng có hôm nào trở lại
Cho trời xanh và mây trắng đẹp đôi…
Rồi tôi quay trở lại với dòng thơ “tống biệt” của mình:
Đưa người ta nâng ly cà phê nhỏ
Rồi quan san rồi bụi đỏ người đi
Rồi khói súng người tập tành nỗi chết
Ta trở về hiu hắt đường khuya
Ta đã nói gì hình như chưa nói
Những dặn dò những hứa hẹn bâng quơ
Rồi người bước đường hoang lạnh quá
Ta đứng nhìn nghe ngày tháng đong đưa…
(Đỗ Nghê, 1972)
Khi in tập Thơ Đỗ Nghê năm 1974 – (Ý Thức xuất bản, ronéo, dành tặng bạn bè anh em – do Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba … thực hiện ở Đà Lạt với hình bìa tranh Nguyễn Trung do Hoàng Đăng Nhuận trình bày, rồi Hoàng Khởi Phong mang xe chở sách về tận Saigon cho Đỗ Nghê) thì tôi đã đăng nguyên 6 khổ của bài Buổi tiễn đưa này, thế nhưng 20 năm sau, khi in lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa, tôi cắt bỏ hai khổ giữa, vì nghĩ đây là chuyện rất riêng tư, không nên nhắc, có thể khiến THT buồn! Vả lại, bài thơ cắt gọn sẽ cô đọng hơn.
May thay, tôi còn giữ được bản thảo do Lữ Kiều gởi lại cho. Chuột gậm, mối nhấm, nhưng có hề gì! Bản thảo đánh máy trên giấy pelure mỏng, máy chữ Olivetti, cắt dán, phết keo phía sau thời đó trông cứ tưởng như bài thơ bị xóa.
Không đâu, keo hồ đó thôi, phải không Trần Hoài Thư?
ĐỖ CHÂU LA NGÀ
La Ngà là con sông lớn chảy qua La Gi quê nhà của Đỗ Hồng Ngọc. Theo Wikipedia, sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ven khu vực thành phố Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai. Đó cũng là tên người con gái đầu lòng của ông đã mất năm 1990 vì tai nạn giao thông trong một chuyến đi công tác xã hội tại Bình Chánh với các bạn ở trường Y.
Câu chuyện được Bác sĩ / Nhà văn Minh Ngọc, người bạn cùng lớp với Đỗ Châu La Ngà, hiện ở Nữu Ước, Hoa Kỳ, là Clinical Assistant Professor khoa Gây mê, Chăm sóc chu phẫu và Thuốc giảm đau tại Trường Y khoa NYU Grossman Long Island, chia sẻ trong tùy bút “Người Bạn Trong Mơ” sau đây:
“Đỗ Châu La Ngà, con gái đầu lòng của BS. Đỗ Hồng Ngọc, là bạn cùng lớp với tôi hai năm đầu sinh viên. Lúc đó BS. Đỗ Hồng Ngọc phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Sở Y Tế, ông bà dạy con rất nghiêm theo nề nếp gia đình trí thức hồi xưa nên Ngà giản dị hồn nhiên, bạn bè ai cũng thương mến. Tôi bây giờ gần nửa đời, gặp gỡ không biết bao nhiêu người, vẫn thấy hiếm có ai như Ngà, luôn luôn nở nụ cười tươi tắn trên môi, hòa nhã ôn tồn với mọi người, không hề thấy Ngà cao giọng hay lớn tiếng, giận hờn trách móc ai.
Lúc đó chúng tôi chuẩn bị lên năm thứ ba. Nghỉ hè, các lớp được phân công trực đêm ở trường. Đêm đó lớp tôi trực, cũng đủ trò như mọi khi, ăn uống, cười giỡn, kể chuyện ma, đánh bài, đàn hát. Đám con gái ngồi bàn tán chuyện mua sách giáo khoa vì đã lâu trường chưa tái bản nên rất khó tìm. Tôi khoe vừa mua được ở tiệm sách cũ gần trường Dự bị Đại học, Ngà biết tiệm đó nhưng không hiểu sao một mực bắt tôi hứa phải đi mua sách với Ngà, tôi hứa để hai ba bữa nữa rồi đi. Sáng, chúng tôi thu dọn đồ đạc đi về, Ngà ngồi một mình trên băng đá trước phòng bảo vệ đọc cuốn “Kiến và chim bồ câu” của Leo Tolstoy. Tôi hỏi sao chưa về, Ngà cười nói Ngà chờ đoàn công tác xã hội của trường. Tôi nói vậy đi vui nghe, rồi tôi về nhà ngủ.

Buổi chiều trời mưa dông nên sập tối sớm, tôi mới ngủ dậy thì nghe đám con trai trong lớp kêu cửa inh ỏi. Chị tôi ra mở cửa và lấy nước cho rửa chân. Kim Minh thấy mặt tôi nói liền: “Bà thay đồ đi với tụi tui. La Ngà chết rồi!”. Tôi nói: “Giỡn gì kỳ vậy?”. Mân và Thái Minh kể sáng hôm đó Ngà đi theo đoàn công tác xã hội lên trường khuyết tật ở Bình Chánh. Ngà đạp xe đi song song với Thúy Nga, tới Phú Lâm thì bị chiếc xe buýt từ phía sau tông trúng. Lúc đó đường vắng không có xe, anh trưởng đoàn phải kêu chiếc xích lô chở Ngà về Chợ Rẫy, một nhóm chạy về nhà báo tin cho ba mẹ Ngà. BS. Đỗ Hồng Ngọc chạy tới phòng cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy thì Ngà đã tắt thở trên đường đến bệnh viện, ông đứng khóc ròng. Ngà bị thương tích quá nặng.
Tôi vào hỏi ba má tôi, chắc mặt tôi thất thần lắm nên ba má tôi khuyên để hôm sau hãy đi, sợ tôi xúc động quá (tôi vốn bị loạn nhịp tim nhanh, supraventricular tachycardia). Chiều hôm sau tôi đến, đã có một nhóm bạn trong lớp. Ngà nằm trên chiếc giường trong phòng khách, mặc chiếc áo trắng quen thuộc, thanh thản như ngủ say. Chúng tôi lên thăm căn phòng xinh xắn của Ngà, những cuốn nhật ký, sổ tay chép thơ dán ảnh trang trí, Ngà cũng có làm thơ nữa mà chúng tôi không biết. Ngày đưa tang Ngà lên nghĩa trang nằm bên bờ sông La Ngà quê nội, trời mưa dầm sụt sùi. Chúng tôi nhìn tấm ảnh Ngà tươi cười lồng trên bia mộ mà không cầm được nước mắt, nụ cười và đôi mắt tinh nghịch sau cặp kính đó vĩnh viễn chúng tôi không bao giờ còn thấy được nữa.
Sau ngày đưa tang Ngà, đêm nào ngủ mơ tôi cũng thấy Ngà mặc chiếc áo trắng, năn nỉ đi mua sách với Ngà đi. Má tôi bàn hay là đem cuốn sách đốt cho Ngà rồi khấn cho Ngà siêu thoát.
Chưa kịp làm thì cuốn sách của tôi tự nhiên biến mất tìm không ra, rồi tôi cũng không thấy Ngà nữa.
Ngày Ngà mất, BS. Đỗ Hồng Ngọc làm một bài thơ với những câu cuối như sau:
Cô học trò Minh Khai
– Gia Long của mẹ –
Cô sinh viên trường thuốc
– Tuổi trẻ của ba –
Con đã lớn lúc nào ba má không hay biết
Cứ tưởng con còn nhỏ xíu thôi
Đến khi con mất đi rồi
Mới biết con đã lớn!”
Minh Ngọc
Tháng 10/2018
Đó là vết cứa sâu thẳm trong tim, nỗi đau âm ỉ vô cùng, và sự mất mát quá lớn mà bậc cha mẹ phải gánh chịu, dù vẫn nhận biết: “Cuộc sống tự nó là nỗi hiểm nguy và sự bất an, sự chuyển động bất tuyệt, và tự nó cũng là nỗi hân hoan, là niềm cực lạc. Thật là tuyệt khi ý thức cuộc sống là vô thường, luôn thay đổi, chuyển động… để rồi tuyệt vọng, thất vọng vì không được như ý”.
Đã bao nhiêu năm qua nhưng không lúc nào ông quên người con yêu với nụ cười hiền dịu, tươi tắn. Những bài thơ ông viết cho La Ngà là những bài thơ xót xa nhất, xúc động nhất, không thể ngăn được dòng lệ tiếc thương.
Tình yêu
Trước mộ con còn ướt
Ba nói với bè bạn ba rằng
Hãy yêu thương con mình cách khác
Đừng như ba
Giấu kín trong lòng
Bởi tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa
Ba đã sai lầm bao nhiêu
Hãy tỏ bày đi
Vồ vập đi
Âu yếm ồn ào đi
Tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa
Ba đã sai lầm bao nhiêu
Vì cứ chờ cứ đợi
Có biết đâu
Đời như mây nổi
Như gió thổi
Như chiêm bao
Ơi bài học tự thuở nào
Sao bây giờ mới hiểu
Muốn vồ vập con hôm nay
Muốn âu yếm con mãi mãi
Thì đã muộn rồi
Có bao giờ thừa thãi
Tình yêu? (ĐHN 1990)
La Ngà 5
Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con:
Nỗi mất! (ĐHN – 1990)
Ngày giỗ con, ông viết bài thơ “Giỗ một dòng sông” se sắt được nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh ở Đà Lạt phổ thành bài nhạc “Sông ơi cứ chảy…” vào mùa Giáng sinh 2017 như một khúc réquiem cho nước mắt lặng lẽ trôi ngược vào tim.
Giỗ một dòng sông
Sông ơi cứ chảy
Cứ chảy về trời
Cứ về biển khơi
Cứ làm suối ngọt
Cứ làm thác cao
Cứ đổ ầm ào
Cứ làm gió nổi
Cứ làm mây trôi…
Sông ơi cứ chảy
Chảy khắp châu thân
Chảy tràn ra mắt
Chảy vùi bên tai
Dòng sông không tắt
Dòng sông chảy hoài… (ĐHN)
MỘT NGÀY CỦA BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC
Trò Chuyện với Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc (Nhà thơ Đỗ Nghê) kỳ 23 – 30.9.2013
(Nguồn: dutule.com)
Sáng thức dậy, không cần biết mấy giờ. Trừ những ngày phải đi dạy học còn thì cứ ngủ… thẳng giấc. Ngủ cần thiết cho tuổi già lắm. À, mà già chưa nhỉ thì không biết. Vệ sinh cá nhân các thứ xong,… ngồi thiền chừng 30 phút, tựa lưng vào giường, lim dim nhìn vào vách (diện bích?) vì nhà chật quá. Chỉ theo phương pháp thiền “quán niệm hơi thở” (Anapanasati) vì đây là một phương pháp thiền có cơ sở khoa học, sinh học, đáng tin cậy nhất, dưới cái nhìn của một bác sĩ, không có chuyện thần bí, mê tín dị đoan ở đây. Mươi năm nay, ngày nào cũng vậy, đã thành một thói quen, thiếu thì thấy… thiếu! Tiếp đó là thể dục, cũng chừng 30 phút, với những động tác tự “sáng chế” riêng phù hợp với thể chất mình, sức khỏe, tuổi tác mình. Phật dạy “hãy quay về nương tựa chính mình” là vậy. Bởi nếu có thầy dạy cho thì thầy thường ép mình phải theo cách của thầy. Chỉ nên nắm lấy nguyên tắc thôi! Nhờ thiền và thể dục đều đều như vậy mà mươi năm nay không bị đau lưng, nhức mỏi như trước, làm việc dẻo dai hơn và không phải dùng nhiều thuốc. Chỉ dùng mỗi một thứ để ổn định huyết áp sau cái vụ stroke phải mổ năm xưa.
Từ những trải nghiệm bản thân này, tôi cũng vừa cho in cuốn “Thiền và Sức khỏe” để chia sẻ kinh nghiệm cùng bè bạn gần xa, nhất là những người có tuổi hay ốm đau, phiền muộn.
Tắm rửa xong thì tự pha cho mình một ly café filtre, với yaourt thay vì sữa đặc có đường (trừ những ngày đi dạy hoặc đi “nói chuyện sức khỏe” đâu đó thì tăng cường một gói mì gói cho đủ calo). Café-yaourt ư? Phải. Cũng tự chế ra vậy thôi, vì yaourt tốt hơn sữa đặc! Nhớ André Maurois kể, một hôm ngồi café vỉa hè Paris, đang dùng muỗng lách cách khuấy tách café sữa thì đột nhiên “ngộ” ra một điều thú vị: Thì ra cái dải Ngân hà (la Voie lactée) vĩ đại kia hình thành chỉ do ai đó tình cờ hí hoáy khuấy tách café sữa khiến dòng sữa vỡ ra thành những dải tinh vân xoay vần trong vũ trụ…
Lúc này tôi vẫn còn dạy chút ít ở Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Saigon, ít thôi, lai rai thôi. Đi dạy thì có cái thú được gặp sinh viên và nhớ lại thuở đôi mươi của mình. Tôi dạy kiến thức chút chút, những điều cốt lõi thôi, còn thì dành thì giờ kể chuyện xưa nay, đông tây kim cổ cho các em nghe, để từ đó rút ra bài học về cách sống, cách học, cách hành nghề sau này… Mấy năm nay tôi cũng ít trực tiếp khám bệnh, vì đã có đứa con “nối nghiệp”. Chẳng bao lâu nữa, tôi nghĩ mình cũng sẽ như người bắn cung thiện xạ nọ không còn biết cây cung, mũi tên là cái chi chi! Trái lại, tôi thường được mời đi đây đó để “nói chuyện sức khỏe” (health talk), với các đề tài như Thở để chữa bệnh, Thiền và sức khỏe, Một nếp sống hạnh phúc, Một tuổi già hạnh phúc, Cân bằng cuộc sống, Stress trong đời sống hằng ngày v.v… Mỗi buổi đi nói chuyện như vậy, với tôi, là một cơ hội để giao lưu và học hỏi.
Sau đó rồi thì ngồi vào máy vi tính. Trả lời “meo”. Đọc chút báo mạng. Có hứng thì lọc cọc gõ chút gì đó, sai be bét cũng mặc, đợi ít lâu cho nó “hoai” đi rồi sửa dần. Có cái vi tính cũng hay. Không khổ sở như hồi máy đánh chữ! Lại tiện lợi gởi “meo”, gởi hình trong nháy mắt. Ở Việt Nam, người ta đùa: “Dân ta phải biết sử ta / Ai mà không biết thì tra Google!”…
Từ ngày về hưu rồi thì thứ Bảy và Chủ nhật mới là ngày… làm việc thực sự! Lu bu nhất mấy ngày đó. Đi dự đám cưới đủ mệt. Thỉnh thoảng dạo cảnh chùa. Có dịp thì lang thang đây đó, lên rừng xuống biển, về quê. Tôi vẫn thường ngồi tán gẫu với bạn bè ở các quán café vắng vẻ, nơi bờ ao, bờ hồ, còn chút thiên nhiên… Nhớ lần ngồi café với Nguyễn Tường Bách ở Đức về, nói chuyện trên trời dưới đất, từ Big Bang đến Niết Bàn các thứ, lúc ra về Bách nói ai mà nghe mình nói chuyện sáng nay chắc nghĩ bọn mình điên!
Bây giờ đọc ít thôi. Mắt kém. Đọc trên mạng nhiều hơn sách báo vì có thể phóng to lên được. Lạ, từ ngày nghiền ngẫm kinh sách Phật, thấy cũng mê như đọc kiếm hiệp!
Xưa viết cho nhiều báo, nay gần như chỉ viết cho Văn hóa Phật giáo, Giác Ngộ, Từ Quang…
Nhớ năm đó nhóm bạn Ý Thức ngồi café cùng Nguyễn Mộng Giác, Giác bảo viết như Đỗ Nghê mà hay đó, hỏi tại sao, đáp tại vì Đỗ Nghê viết về “sanh lão bệnh tử”… của kiếp người! Lúc đó Giác vừa mới mổ gan về thăm anh em. Nhớ Jean Paul Sartre bảo cuốn La Nausée của ông không có ý nghĩa gì trước một em bé sắp chết đói ở Châu Phi! Lúc đó ông chỉ mong có một ổ bánh mì!
Cũng tại cái “nghiệp” thầy thuốc của tôi thôi! Nó thế. Tôi không có khả năng “hư cấu” nên không viết được truyện dài truyện ngắn tiểu thuyết như các bạn mình. Thơ tôi bây giờ cũng đặc quánh lại, có khi chỉ vài câu như khi viết mấy câu cho Mẹ trong ngày Vu Lan năm ngoái:
Con cài bông hoa trắng
Dành tặng mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…
Hoặc một bài cho tình xa:
Lá chín vàng
Lá rụng về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh…
Đại khái vậy. Không biết có phải là thơ không nữa!
Nhắc lại, giấc ngủ rất quan trọng. Phải ngủ đủ. Khoảng 7-8 tiếng một đêm ở tuổi này. Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ, không thì thôi. Bài viết “Có một nghệ thuật ngủ” của tôi được nhiều bạn bè chia sẻ. Nhà văn Hồ Anh Thái ở Hà Nội bảo đã photocopy ra khá nhiều để gởi cho bạn bè vì lúc này nhiều người mất ngủ quá! Trên thế giới thì thuốc ngủ vẫn là thuốc bán nhiều nhất! Tuổi càng cao, càng cần ngủ, như pin điện thoại xài lâu, sạc phải càng lâu. Ăn thì rất đơn giản thôi. Có gì ăn nấy. Tôi thường tự chế biến thức ăn cho mình, theo ý mình. Càng ngày tôi càng học tốt hơn hạnh sống “độc cư”, “kham nhẫn / tri túc”.
QUỸ THỜI GIAN
Hình như tôi không có ý niệm có một “quỹ thời gian” nào đó, bởi tôi không thể biết trước tôi có bao nhiêu, đã xài hết bao nhiêu, còn lại bao nhiêu để… lên kế hoạch. Bùi Giáng có câu “Một đời lận đận đo rồi đếm / Gối mỏi người đi đứng lại ngồi” nhớ không?
Tôi sống có vẻ hồn nhiên quá chăng? Lúc Mẹ tôi còn sống bà hay bảo tôi ngu hạng nhất, nhưng tôi cãi, chỉ ngu hạng nhì hay hạng ba thôi! Bà đành cười trừ!
“Xưa nay hiếm” là cái thời của Khổng Tử. Mới mấy hôm trước đây, tôi làm “em xi” (MC) cho một buổi “giao lưu” của những người cao tuổi, có bác sĩ-họa sĩ Dương Cẩm Chương, 103 tuổi, giáo sư nhạc sĩ Trần Văn Khê, 93 tuổi; nhà giáo Đàm Lê Đức, 83 tuổi, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương. Với họ, tôi hãy còn quá trẻ! Kinh nghiệm là khi mình có tuổi, nên thường xuyên gặp gỡ những người cao tuổi hơn để lúc nào mình cũng “quá trẻ” như vậy! Nhớ nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang năm xưa kể vào năm tuổi 70 của ông, người ta làm một buổi họp mặt long trọng mừng thầy Võ Hồng, ai cũng phát biểu chúc mừng thầy “cổ lai hy”. Khi đứng lên đáp từ, ông trịnh trọng đưa tay sờ vào cổ mình và nói thất thập cổ lai hy, rồi lần tay xuống ngực lục thập ngực lai hy, ngũ thập bụng lai hy… và tứ thập… làm mọi người la hoảng và cười vỡ một trận!
Lâu lâu gặp bạn cũ tôi giật mình thấy bạn già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi tôi… vẫn như xưa! Dĩ nhiên, lúc đó bạn tôi cũng thấy tôi già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi bạn vẫn như xưa. Thì ra, đó là một diễm phúc của cuộc sống! Không ai ngờ mình già cả. Nguyên Sa bảo “người ta chỉ có thể đo đếm được tuổi mình qua ánh mắt cố nhân”. Mà lạ, khi gặp lại “cố nhân”, bạn bè hồi niên thiếu, ôn lại chuyện xưa một lát, bỗng thấy mình nhỏ xíu lại, như không hề có thời gian. Mà thật, không hề có thời gian. Cái đồng hồ, cái ngày tháng nọ kia, chẳng qua là những giả định, vui thôi! Khi tôi viết những dòng này, thì tôi đang ở giữa trưa ngày thứ bảy trong khi bạn đang ở nửa khuya ngày thứ sáu! Cho nên Phật dạy: đừng bám vào ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thì mới “thoát” được. Thế nhưng, tuổi già sinh học thì có. Một lần nọ, một chị còn khá trẻ bồng đứa bé đến tôi khám bệnh. Đứa bé la khóc om sòm, chị dỗ: “Nín đi, nín cho ông ngoại khám con!”. Thì ra tôi đã đến ông ngoại rồi mà không hay. Tôi hỏi theo thói quen: Chị là gì của cháu? “Dạ, bà ngoại”. Chị trả lời ngon ơ. Rồi bỗng đâm ra bẽn lẽn. Tôi phải đánh trống lảng ngay! Nhưng chuyện đó xưa rồi, hai mươi năm trước rồi. Mới đây, tôi gặp lại một người quen cũ quê nhà, hơn nửa thế kỷ chưa gặp. Nàng nhắc chuyện đi câu cá, hái chùm ruột đến trèo động cát như mới ngày nào. Đột nhiên nàng nói bây giờ em đã có cháu gọi bằng bà Cố!
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn viết: “Về thu xếp lại/ Ngày trong nếp ngày/ Vội vàng thêm những lúc yêu người… Cuồng phong cánh mỏi/…” mà tôi đã trích dẫn trong cuốn Gió heo may đã về (1997), nhưng khi gởi tặng cho anh bạn nhạc sĩ Miên Đức Thắng lúc đó đang ở Đức, anh phone phản đối: làm gì có chuyện vội vàng thêm những lúc yêu người! Tôi hiểu, anh vẫn đang còn rất… ung dung, từ tốn kia mà!
Phần tôi, đôi khi cũng thấy mình cần về thu xếp lại/ ngày trong nếp ngày mà… không dễ.
Bừa bãi quen rồi. Lười biếng quen rồi. Xung quanh chỗ ngồi là một chồng sách ngổn ngang, cao nghệu, rất mất trật tự, nhưng có ai lỡ tử tế sắp xếp lại thế nào tôi cũng la toáng lên! Mất trật tự mà tôi biết cái nào nằm ở đâu!
Còn “làm những việc mình thích” ư? Đương nhiên rồi. Nhân sinh quý thích chí. Không cần phải đợi “cổ lai hy” mới vậy. Phải làm những việc mình thích ngay bây giờ đi! Bởi già dẫn tới già cả, già khú đế mau lắm đó!
THI SĨ – BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một trong những tên tuổi rất quen thuộc những ngày này. Một bạn trẻ đã vào “còm” trên trang nhà của ông thật cảm động:
“Ngôn từ không thể diễn đạt hết sự biết ơn của con (hay của mọi độc giả). Trang nhà của Bác, nơi trở về của con. “Như không thôi đi được”, phải ghé qua, dạo qua, canh xem bài mới, đọc chầm chậm, thưởng thức, như sợ hết món ngon. Nghiền ngẫm, ứng dụng, tự nhắc nhở, và luôn thấy mình quá may mắn!!
Chúng con như có GPS dẫn đường, một đại lộ sáng sủa, với 26 “cửa hàng” là những hàng hiệu, chất lượng miễn bàn, an tâm, bình yên, thong dong mà well-being và well dying.”
– Đồng Xuân viết – 23/01/2024 lúc 6:34 sáng
Dù là Đỗ Hồng Ngọc hay Đỗ Nghê, ông đều được nhiều người yêu quý. Nói về ông, học giả Nguyễn Hiến Lê nhận định, “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị.”
Còn với nhà thơ Phạm Chu Sa, “Nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ – nhà văn. Nhưng tôi vẫn thích gọi anh là thi sĩ – bác sĩ bởi Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.”
Trần Thị Nguyệt Mai
Tháng 3/2024
(Nguồn: bienkhoi.com Số 107 Tháng 7.2025)
Tham khảo:
1) Trang nhà Đỗ Hồng Ngọc
2) Trang nhà Du Tử Lê
3) Thư Viện Hoa Sen và các trang mạng khác
4) Sách báo Đỗ Hồng Ngọc
5) Tạp chí Thư Quán Bản Thảo
——-
* “Có người hỏi rằng: Thơ tại sao mà làm ra? Ta giả nhời rằng: Người ta đẻ ra mà tĩnh, là tính Giời cho nguyên như thế; cảm ở vật ngoài mà mới động, thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ; đã có nghĩ phải có nói; đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ.” (Chu Hy, Bài tựa Thi tập truyện 詩集傳, Tản Đà dịch)
Vanvn- Cách đây hơn mười năm trên không gian mạng xuất hiện bài viết “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”?, và mới đây nhiều trang cá nhân facebook dẫn lại. Bài viết ký tên Bs.ngoc làm nhiều người nhầm lẫn là của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, gây phiền phức cho ông. Ngoài ra, tên ông còn bị kẻ xấu gán ghép vào quảng cáo thuốc chữa tiểu đường, xương khớp rồi họ dùng cả manchette Báo Thanh Niên gắn vào đấy.

Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ nổi tiếng, có uy tín lớn. Ông sinh năm 1940 ở Phan Thiết, học tập và làm việc tại Sài Gòn từ trước năm 1975 đến nay. Ông còn là tác giả của nhiều cuốn sách về y học, tâm lý học được đông đảo bạn đọc yêu mến, đồng thời ông còn là nhà thơ với bút danh Đỗ Nghê.
Là một trí thức chuẩn mực, một con người hiền lành, nên văn phong trong bài viết “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”? hoàn toàn không phải là tính cách và diễn ngôn của Bác sĩ – nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc. Ngay cả tác giả bài viết là bsngoc cũng đã đính chính trên trang cá nhân http://bsngoc.wordpress.com rằng, bài viết trên không phải của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, mong mọi người đừng hiểu nhầm.
Bài viết trên có toàn văn như sau:
““Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”?
Tác giả: bsngoc (http://bsngoc.wordpress.com)
(bị nhầm là của Bs Đỗ Hồng Ngọc lan toả trên mạng).
“PGS-TS-BS” – đó là viết tắt của “Phó giáo sư – Tiến sĩ’ – Bác sĩ”. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh, đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.
Ngày nay, cái bằng tiến sĩ như là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass để leo lên vị trí trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường Y.

Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê.
“Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không ‘làm’ một cái”? Anh bạn tôi hỏi.
Tôi ngạc nhiên về chuyện “làm một cái”. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu.
“Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu”.
Anh bạn tôi cười lớn nói: “Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi”.
Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ.
Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai.

Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới.
Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết.
Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày.
Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD,10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu.
Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền?
Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ.
Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta. Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền.
Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân
cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này.
Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hè Ngọc.
bsngoc
