Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nguyễn Hiền-Đức: Nhớ Huỳnh Ngọc Chiến

07/06/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhớ HUỲNH NGỌC CHIẾN

Nguyễn Hiền-Đức

Ghi chú: Sáng nay 7.6.2021, mở hộp thư ra đã thấy ngay bài viết Nhớ Huỳnh Ngọc Chiến của 5 Hiền (Nguyễn Hiền-Đức) với mấy dòng tâm tình như sau:

“5 Hiền đang cặm cụi và rị mọ làm Tuyển tập Tưởng Niệm Huỳnh Ngọc Chiến. Xin được trích ra mấy bài để mong Cả Nhà đọc và gõ 3 tiếng chuông tiễn biệt Huỳnh Ngọc Chiến. Làm sao mà không nhớ, không tiếc một người như Huỳnh Ngọc Chiến cho được!”

Đa tạ 5 Hiền. Và xin được sẻ chia cùng bè bạn.

(ĐHN)

 

HUỲNH NGỌC CHIẾN
VIẾT VỀ
BÙI GIÁNG, TRỊNH CÔNG SƠN,
ĐỖ HỒNG NGỌC, TRẦN XUÂN KIÊM

(Trích từ tập Tưởng Niệm Huỳnh Ngọc Chiến
do Nguyễn Hiền-Đức thực hiện)

 

ĐÔI LỜI VỀ BÙI GIÁNG

HUỲNH NGỌC CHIẾN

Bùi Giáng là một hiện tượng kỳ lạ nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, nên viết về ông, dù ca ngợi hay công kích, đối với tôi, gần như là điều bất khả. Tập tiểu luận này − tạm gọi thế − chỉ gồm những bài tôi viết về ông, được đăng rải rác, thường là vào các dịp kỷ niệm ngày ông mất, theo yêu cầu của một vài tờ báo mà tôi cộng tác. Viết theo lối lai rai, ngẫu nhĩ tình cờ. Và chỉ có thể viết được như thế thôi. Hình như chưa một ai, trong số những người viết về Bùi Giáng mà tôi được đọc, có thể lường hết được sự hoằng viễn của ông, trong thi ca và tư tưởng, để có thể thấy ông trác việt đến độ nào mà có một tác phẩm tương xứng về ông. Tập tiểu luận này, do đó, chỉ là những cảm nhận mang rất nhiều tính cách riêng tư để sẻ chia với những người có cùng cảm nhận như tôi, khi đọc Bùi Giáng. Và xin bạn đọc hãy nguyên lượng có cái sự vụ rất riêng tư đó.
Khi đọc một tác phẩm biên khảo về triết học hay văn học, tôi thường không bận tâm nhiều chi đến những thứ ngôn ngữ “đao to búa lớn” với các thuật ngữ rối rắm trong đó, mà muốn tìm đâu là cái riêng biệt của tác giả. Chỉ cái riêng đó đối với tôi mới thực sự có giá trị. Bởi vậy, tôi rất dững dưng đối với những loại sách biên khảo theo thể lệ giáo khoa của các giáo sư, học giả, vì hầu như cuốn nào cũng được viết theo một khuôn sáo na ná như nhau, và cũng đều vô vị, nhàn nhạt như nhau, cho dù lý luận có thể rất thuyết phục, lời lẽ có thể rất hùng hồn. Bởi chúng chỉ thuần là sản phẩm của lý tính, nên đều vô hồn và thiếu sức sống như nhau. Một người có đôi chút thông minh chỉ cần thông thạo vài ngoại ngữ, và chịu khó đọc sách triết theo kiểu sinh viên trả bài trong các kỳ thi là có thể cho ra đời được một tác phẩm loại đó rồi. Các học giả xưa nay hầu như đều chỉ viết về triết học, mà ít ai sống cùng triết học. Mà đọc sách triết học là để sống cùng triết học, và dùng nó để tìm một căn cơ an thân lập mệnh, chứ đâu phải để biến nó thành một thứ trang sức tinh thần. Trừ một vài nhân vật thông tuệ, phần lớn học giả đều viết sách triết học hoặc văn học giống như người đang tập lái xe hoặc lái xe chưa vững, hai tay lúc nào cũng phải giữ chặt vô−lăng, và đôi mắt phải đăm đăm nhìn theo lộ trình quy định. Ngồi lên những cỗ xe đó, có nhắm mắt ta cũng có thể hình dung họ sẽ đưa ta đến nơi nào. Cho nên đến khi tình cờ được đọc Bùi Giáng, tôi thấy choáng ngợp như được ngồi trên cỗ xe của một tay đua loại “chịu chơi” siêu hạng đang chạy trên những xa lộ thênh thang không biết đâu là lộ giới. Choáng ngợp nhưng kỳ diệu. Và cuốn hút. Đúng là : “Đùng đùng gió dục mây vần, Cỗ xe triết học tuyệt trần như bay.” (xin cụ Tố Như lượng thứ cho!)
Đọc sách của ông, từ những cuốn tiểu luận ban đầu mang tính giáo khoa như : Một Vài Nhận Xét Về Truyện Kiều, Bà Huyện Thanh Quan, v.v… cho đến những tác phẩm triết học của ông về sau như : Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại, Con Đường Ngã Ba, Lễ Hội Tháng Ba, v.v… tôi như kẻ đang chèo ghe trong sông, rạch, đột nhiên bị lạc ra biển lớn. Những loại tư tưởng mà tôi được đọc, lâu nay vốn nằm chết khô trong mạng lưới lý luận vô hồn của các cuốn sách biên khảo, giờ đây được diễn đạt theo phong cách phiêu bồng thù thắng của một kẻ đang “kỵ kình du Hãn Mạn” trên đại dương ngôn ngữ thượng thừa vô biên vô tế. Đọc ông, tôi có cảm giác được giải thoát, như một người bị nhốt lâu ngày trong nhà tù, nay được tự do hô hấp những làn hơi thật thâm trường, giữa biển trời lộng gió. Cảm giác đó giống như khi tôi đọc tác phẩm của đại sư Vivekanada. Từ đó, những con châu chấu, chuồn chuồn của ông đã âm thầm nhiếp dẫn tôi từng với đi theo dòng ẩn lưu chảy ngầm qua tất cả những tác phẩm của ông, và nối kết cả với những cuốn kinh, cuốn sách mà tôi đọc tản mạn đó đây.
Suốt đời, tôi vẫn luôn xem Bùi Giáng là một trong người thầy vĩ đại đã dẫn dắt mình vào cõi thi ca, tư tưởng bằng phong cách hoằng viễn của một Vivekananda hoặc một Khổng Tử. Ông đã khai mở những phương trời tư tưởng lồng lộng của Shakespeare, Khổng Tử, Heidegger, Nerval, Camus, đặc biệt là Nguyễn Du, v.v…, những phương trời mà nếu không có ông thì những người thuộc thế hệ của tôi khó lòng cảm nhận được. Rất nhiều điều tôi viết lai rai lâu nay đều khởi nguồn cảm hứng từ vài trang kinh Phật hoặc vài trang sách của ông.
Tôi có một cảm nhận hơi cực đoan, là những triết gia nào hoặc những người biên khảo về triết học nào mà không đồng thời là nhà thơ, hoặc không có một cảm nhận thâm thúy về thi ca, thì sách vở của họ luôn khô khan và cũng chẳng giúp được gì nhiều cho ta. Lý trí và lý luận dẫu có xây dựng nên được những cung điện duy lý nguy nga đồ sộ, thì những cung điện đó cũng sẽ đổ nhào qua một câu nói đơn sơ :
Nếu ta không thực hiện nổi cỗi nguồn trường mộng ở nội tâm, thì không bao giờ triết học tiếp xúc được với căn cơ chân chính của nó, dù ta có líu lo trong học hiệu phù hoa với bao nhiêu giọng điệu. (Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại, tập 1, tr.147)
Nếu triết học mà “không tiếp xúc được với căn cơ chân chính của nó” thì có đọc sách mòn hai con mắt, ta vẫn cứ “mang nhiên vô sở đắc”. Phong thái hoằng viễn cùng tư tưởng phóng dật thênh thang và dụng ngữ phi thường của Bùi Giáng là phương pháp giúp ta nuôi dưỡng “cỗi nguồn trường mộng ở nội tâm” để không bối rối trước muôn ngàn giọng điệu líu lo của học hiệu phù hoa vốn dẫy đầy trong môi trường học thuật cổ kim. Những giọng điệu “líu lo trong học hiệu phù hoa” đó giống như những chiêu thức của Đan Thanh tiên sinh hay Ngốc Bút Ông của Mai Hoa Sơn Trang, tung hoành hoa mỹ, làm khiếp đảm những kẻ sơ cơ, nhưng chỉ cần một chiêu kiếm nhẹ nhàng của Lệnh Hồ Xung là tất cả đều biến thành phế vật. Giống như mọi sở tri uyên bác của Hương Nghiêm đều rụng rơi lả tả trước một câu hỏi đơn giản của tổ Quy Sơn, để rồi về sau mới có cơ hội đốn ngộ khi nghe tiếng sỏi chạm vào thân trúc. Những trang sách của Bùi Giáng là chiêu kiếm của Lệnh Hồ Xung, là câu hỏi của Quy Sơn.
Tập tiểu luận này, ra đời vào thời điểm hiện nay, hẳn có đôi chút lạc lõng, khi mà người ta thường nói đến Bùi Giáng, không phải để bàn về thi ca, tư tưởng − là cái ông cần chia sẻ − mà để tán nhảm về cái gọi là “giai thoại Bùi Giáng” − vốn là những thứ mà ông đã gọi một cách khinh bỉ là những “mẩu giẻ rách”.[1] Những cái gọi là “giai thoại” đó đã xúc phạm ông quá nhiều, nhưng ít ai chịu nghĩ đến. Khi ông còn sống, đã có những người viết một số bài nhảm nhí rồi ký tên Bùi Giáng[2]. Khi ông mất, còn có một số người đọc một vài bài thơ ông, hay một vài trang sách của ông, rồi bắt chước “lập ngôn kiểu Bùi Giáng” bằng những thứ ngôn ngữ đại cà sa được cóp nhặt bừa bãi từ các tác phẩm của ông. Thật chẳng khác gì cái tình trạng mà ngày xưa, trong lời tựa cho Kinh Lăng Già, Tô Tử Chiêm đã gọi là “Dư ba mạt lưu, vô sở bất chí.” Lại thêm một vài ông giáo sư giảng dạy triết học đem những thứ kiến thức hàn lâm trường trại ra để chê bai Bùi Giáng. Có lẽ vì họ xem những gì ông viết đều không đúng với cái khuôn khổ của triết học nhà trường theo mẫu mực mà họ được đạo tạo. Mà xét ra, ông có bị chê cũng phải, vì “bất tiếu bất túc dĩ vi đạo”. Những chiêu thức vô chiêu của môn Độc Cô Cửu Kiếm còn khiến đại tông sư võ học như Nhâm Ngã Hành phải ngỡ ngàng, nói chi đến những cao thủ cỡ Dư Thương Hải hay Phong Bất Bình? Đọc sách của các học giả, ta có cảm tưởng giống như Lệnh Hồ Xung học kiếm với Nhạc Bất Quần, phải rập khuôn theo từng chiêu thức mẫu, chẳng khác những con robot đã được lập trình. Đọc Bùi Giáng, ta lại có cảm tưởng giống như Lệnh Hồ Xung học kiếm với Phong Thanh Dương. Kiếm chiêu tùy thuận mà ứng, cứ mặc tình thu phát toàn tùy tâm niệm. Kiếm trong tay Nhạc Bất Quần chỉ là kiếm, kiếm trong tay Phong Thanh Dương là con thần long biến hóa. Triết học trong tác phẩm của các giáo sư, học giả chỉ là cái xác chết khô được ướp bằng đủ loại ngôn ngữ hoa mỹ của tinh thần duy lý, triết học trong tác phẩm Bùi Giáng là con thần long đã điểm nhãn. Đọc những lời chê bai công kích của họ, chắc ở cõi bên kia ông cũng đang bượch cười, như cụ Tản Đà. Ta hãy gác qua sự vụ đó mà hãy tập xách dép theo ông đi bắt châu chấu, chuồn chuồn giữa thảo nguyên bao la của tư tưởng, để cùng Tăng Điểm “dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi quy. 浴乎沂,風乎舞雩,詠而歸。” Đọc Bùi Giáng, bỗng dưng ta muốn xa lánh cõi học thuật trường trại sáo mòn mà chỉ thích rủ nhau “tắm sông Nghi, hóng gió nền Vũ Vu, rồi ca hát mà về.” là vậy. Chỉ những tay tài tử tuyệt thế như Bùi Giáng, Lý Bạch, Omar Khayyam, Tô Đông Pha v.v… mới đem lại cho ta cảm giác mênh mang phiêu dật đó mà thôi.
Ta thử nghe Bùi Giáng nói về Heidegger :
.. nói về bọn thiên tài tư tưởng trong cõi nôm na triết học, thì cổ kim chỉ có ông Heidegger mà thôi. Nhưng nếu căn cứ vào những thứ gì lâu nay ta đọc và hiểu về sách vở ông ấy viết ra, thì không sao hiểu rõ ông cụ già ấy trác việt đến trình độ nào….. Heidegger khoác nhẹ một nửa bàn tay đủ lật nhào hai ngàn năm rưỡi tư tưởng triết học Tây phương, và dựng lên một cõi gì chưa có danh hiệu chỉ định. (Con Đường Ngã Ba, tr.47).
Bùi Giáng cũng vậy. Ông đã khoác nhẹ một nửa bàn tay đủ đẩy toàn bộ những công trình biên khảo sách triết học theo thể lệ giáo khoa vào trong bóng tối, và đem Truyện Kiều dựng thành một tòa Tân Thanh lặng lẽ giữa cõi tư tưởng hiện đại để mở rộng tâm thức nhân gian. Tôi linh cảm rằng ông chính là hóa thân của Tố Như đi về giữa trận đồ tư tưởng hiện đại để dùng Truyện Kiều dìu dắt phương Đông đi vào cuộc đối thoại với phương Tây qua Heidegger. Cho nên “nếu căn cứ vào những thứ gì lâu nay ta đọc và hiểu về sách vở Bùi Trung Niên Thi Sỹ viết ra, thì không sao hiểu rõ ông cụ già ấy trác việt đến trình độ nào.”
Khởi đầu với Mưa Nguồn, thơ Bùi Giáng đã tự thành một cõi riêng biệt phiêu bồng. Nhưng ông làm thơ là để phụng bồi cho ngôn ngữ[3], và viết sách về triết học chỉ là để quãng diễn tư tưởng cho những kẻ đăng đường. Cũng như Heidegger, sau một thời gian viết những pho sách đồ sộ để lận đận lý luận với các triết gia phương Tây, lại âm thầm quay về chú giải thơ Hoelderlin. Và điều vô cùng may mắn là Bùi Giáng đã tặng cho chúng ta một bản dịch giải vô tiền khoáng hậu những lời chú giải đó qua Lời Cố Quận và Lễ Hội Tháng Ba , bằng ngôn ngữ du hý thượng thừa. Đó là tặng vật kỳ diệu trong cuộc hôn phối giữa Thi Ca và Tư Tưởng. Khi nghe những bản symphony của Beethoven, piano sonata của Mozart hay violin concerto của Paganini, nocturne của Chopin, đôi khi ta có cảm giác như chúng không phải là âm nhạc của thế gian này, mà như đến từ một cõi khác. Đọc Lời Cố Quận và Lễ Hội Tháng Ba, ta cũng có cảm giác đó. Âm nhạc đó, ngôn ngữ đó hoàn toàn không có dấu tích của sự dụng tâm, mà dường như chúng vọng đến từ một cõi khác. Cõi khác đó có thể là cõi ngoài của một “Giác Duyên vâng dặn ân cần, Tạ từ thoắt đã rời chân cõi ngoài”. Các tay tài tử tài hoa tuyệt tục đó như những con thần long phiêu hốt, ngẫu nhiên ghé về trần gian, đem thơ nhạc làm tặng vật cho cõi người ta rồi phiêu nhiên nhi khứ, như Phong Thanh Dương xuất hiện bất ngờ để truyền Độc Cô Cửu Kiếm cho Lệnh Hồ Xung, rồi tiếp tục cuộc chơi ở cõi ngoài.[4] Cõi ngoài đó là nơi chốn để Khổng Tử “dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi quy.” cùng Tăng Điểm, để Trang Tử rong chơi cùng cánh bướm với “Trang Sinh hiểu mộng vi hồ điệp”, để Tô Đông Pha “Nghi thượng dĩ thành Tăng Điểm phục” với cõi thơ hãn hữu cổ kim, để Bùi Giáng du hý phiêu bồng với “Anh điên mà dzui dzẻ thập thành, Còn chúng tôi tỉnh mà đành buồn thiu” trong cõi Thái Bình Điên Quốc, nên mọi lời công kích hay ngợi ca họ cũng đều như những nhát kiếm chém vào hư không, và mọi thứ lý luận bác học nhì nhằng cũng chẳng khác nào giấc mơ tiêu lộc.
Gần đây, Thư viện Huệ Quang đã làm một công việc đáng trân trọng là cho in lại hầu hết những tác phẩm quan trọng của ông, những tác phẩm gần như đã “tuyệt tích giang hồ” mà nhiều người mong đợi từ lâu. Đó là dấu hiệu đáng mừng của Tư Tưởng đang phục sinh, trong một thời buổi mà Heidegger gọi là : “Điều đáng suy tư nhất trong thời đại đòi hỏi phải suy tư của chúng ta, đó là chúng ta chưa hề biết suy tư! ”
Ta thử nghe ông nói về Heidegger:
Nếu bây giờ chúng ta thử bỏ ra khoảng chín mươi chín năm đọc lại Heidegger, ắt là chúng ta sẽ dần dà nhận thấy rằng: cái hạt giống mong manh mà Heidegger đã gieo vào mảnh đất Siêu Hình Học Âu Châu, cái hạt giống bé bỏng đó quả thật đã manh nha mọi thứ cây cối đồ sộ, mà về sau thiên hạ sẽ thi đua nhau về leo trèo hái ngắt mọi thứ hoa quả và có thể tưởng lầm rằng hoa quả ấy là của riêng mình trồng trọt ra, chứ chẳng phải của ông Heidegger hoặc Martin gì ráo! (Thi Ca Tư Tưởng, tr.42−43).
Ta có thể dùng những lời đó để nói về chính Bùi Giáng :
Nếu bây giờ chúng ta thử bỏ ra khoảng chín mươi chín năm đọc lại Bùi Giáng, ắt là chúng ta sẽ dần dà nhận thấy rằng: cái hạt giống mong manh mà Bùi Giáng đã gieo vào mảnh đất thi ca tư tưởng Việt Nam, cái hạt giống bé bỏng đó quả thật đã manh nha mọi thứ cây cối đồ sộ, mà về sau thiên hạ sẽ thi đua nhau về leo trèo hái ngắt mọi thứ hoa quả, và có thể tưởng lầm rằng hoa quả ấy là của riêng mình trồng trọt ra, chứ chẳng phải của ông Giáng, hoặc ông Bùi gì ráo!
Bùi Giáng đã khai mở một thông đạo dị thường cho tư tưởng để giúp ta đón nhận được nhiều dư hưởng mênh mông khác từ bốn phương vọng lại, nếu ta thực hiện được “cỗi nguồn trường mộng ở nội tâm” bằng những suy niệm chân thành. Đọc ông, ta thấy tất cả những tư tưởng kim cổ Đông Tây, vốn tưởng chừng như “rạc rời vó ngựa quá quan” trong các cuốn sách biên khảo, đều được quy về một mối, qua những lời bàn lúc thì trầm ổn, lúc thì phiêu hốt, lúc thì bỡn cợt bông đùa, lúc thì bàng bạc chất thơ; giống như kiếm pháp vô chiêu của Ðộc Cô Cầu Bại, tưởng chừng như không có khuôn khổ nhất định nhưng lại thâu hóa được tất cả kiếm pháp trong thiên hạ vào một mối để biến thành những chiêu thức của chính nó. Bùi Giáng đã thổi hồn vào những trang sách bằng trí tuệ phi thường, nên đọc ông, nhiều lúc ta có cảm giác như đang tận hưởng buổi đại yến của âm nhạc trong những bản symphony của Beethoven, dưới bàn tay điều khiển của nhạc trưởng Karajan. Trong giàn nhạc vĩ đại đó, mỗi nhạc cụ đều chơi theo giai điệu riêng, nhưng tất cả đều được kết hợp hòa hài trong bản Giao Hưởng Tư Tưởng Vĩ Đại. Những viên sỏi, hòn đá tầm thường trong tay ông cũng dễ dàng biến thành châu ngọc. Thế nhưng :
Định mệnh của những tư tưởng hoằng viễn xưa nay, vẫn mãi mãi là như thế. Những kẻ gieo giống chả bao giờ thấy cây mọc, chẳng bao giờ thấy đâm hoa kết quả, chẳng bao giờ thu hoạch mùa màng. Họ chỉ phụng bồi cho cuộc gieo hạt, và hơn nữa, phụng bồi cho cuộc soạn sửa gieo hạt mà thôi. (ibid.)
Bùi Giáng “chỉ phụng bồi cho cuộc gieo hạt, và hơn nữa, phụng bồi cho cuộc soạn sửa gieo hạt”, đó cũng là thể điệu hoằng viễn “thuật nhi bất tác” của Khổng Tử, hay “chung thân ngôn vị thường ngôn” của Trang Tử. Và tập tiểu luận này cũng liều lĩnh thử gieo thử một vài hạt mầm xuống những luống đất màu mỡ mà ông đã khai phá cho cuộc gieo hạt, như một niềm thâm tạ. Và mong chờ nhiều hạt mầm khác phong phú hơn nữa sẽ gieo xuống, trong mai hậu.
Đầu xuân 2018
________________________________________
[1] Cf. “Nói một đường, bạn bè nghe ra một lối. Rồi giận, rồi cười, rồi chế giễu, rồi ngợi khen. Rồi sau rốt chạy ra bốn ngõ kể lại cho nhau nghe những cái mẩu giẻ rách ta gọi là mẩu “giai thoại” về họ, lúc để chế giễu, lúc để ngợi ca.” (Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại, tập 1, tr.339). Xin xem thêm bài “Bùi Giáng và nỗi đau hội thoại” trong tập tiểu luận này.
[2] Xem Lễ Hội Tháng Ba, tr. 91.
[3] Cf. “Khi lịch hành đến cuối đường, tư tưởng sẽ biến thành thơ nhạc mênh mông, còn ngôn ngữ đứng trước hiểm hoạ lập ngôn sẽ tự thân biến thành chi ngôn trong những nếp gấp riêng biệt thượng thừa của nó để tựu thành cái vô ngôn, cái l’impensé trong tư tưởng.” (Huỳnh Ngọc Chiến, Trúc Thanh Tập, tr.84, nxb Thời Đại, Sài Gòn, 2011)
[4] Xin xem truyện ngắn Người Tử Sinh, ở cuối tập tiểu luận này.

NGÃ BA NGÔN NGỮ

HUỲNH NGỌC CHIẾN

(Kỷ niệm 10 năm ngày mất của thi sĩ Bùi Giáng 7.10.1998 – 7.10.2008)
Điều suy tư của một nhà tư tưởng chỉ được vượt qua khi mà phần vô ngôn,
phần vô suy tư trong tư tưởng của ông ta
được trả về chân lý sơ nguyên của nó[i].
(M. Heidegger, Was heißt Denken?)

Với nhan đề bài viết này, tôi không muốn góp thêm một “ngã ba” nữa cho cuốn Con đường ngã ba vốn chứa quá nhiều “ngã ba” của Bùi Giáng, nghĩa là cái Dreiweg của Heidegger, theo kiểu “họa xà thiêm túc”, mà chỉ muốn ghi lại một vài suy tưởng nho nhỏ khi đọc sách của hai tác gia này. Tôi vốn là kẻ ngoại đạo về triết học, nên chỉ thích đọc sách thuộc lĩnh vực này theo thể điệu ngẫu nhĩ lai rai của một layman.
Mọi trang sách triết học nếu không chạm đến ta trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn để làm nó rung động với những cảm xúc vi tế nhất; cũng như mọi kiến thức, dù là kiến thức hàn lâm uyên bác được thu thập từ những tư tưởng gia vĩ đại cổ kim đi nữa, nếu nó không đem lại cho ta một tâm thức bình yên để sống giữa cõi đời, và một tinh thần vô úy để một mình đối diện với cái chết, thì suy cho cùng đó cũng chỉ là những thứ hý luận phù phiếm và vô nghĩa, chỉ dùng để giải trí chơi giữa cõi Ta Bà.
Tôi có một người bạn thân suốt đời không hề đọc sách, song mỗi lần trò chuyện cùng anh, tôi lại thấy lý thú và học hỏi được rất nhiều điều, vì trong những gì anh nói, tôi đều nghe ra hơi thở thực sự của cuộc sống. Đây là điều chúng ta hiếm khi tìm thấy trong các sách biên khảo về triết học. Trong đó, tất cả đều được phu diễn một cách rất ư là công phu trên bề mặt ngữ nghĩa, hết tham chiếu chỗ này lại tham khảo chốn nọ. Song khi đọc, sao ta vẫn thấy cảm thấy dửng dưng, ngay cả khi chúng đề cập đến những vấn đề thiết thân của cõi nhân sinh. Đơn giản chỉ vì đó chỉ là những thứ kiến thức phù hoa, và những suy tư lạnh lùng vô hồn của lý trí, mà thiếu đi tiếng nói đằm thắm của tâm tình. Ta có cảm tưởng như đang nghe Thúy Vân thay mặt Thúy Kiều ngồi kể lể và phân tích chuyện đời dâu bể! Dù có đầm đìa nước mắt đi nữa thì nó vẫn hời hợt và vô vị.
Chỉ có những trang sách của các tác gia có suy tư chân thành và tư tưởng phóng dật thênh thang mới có thể làm rung động được lòng người, vì họ đã truyền được tâm lực và trí lực vào ngòi bút. Bút lực đó mang một dạng năng lượng tế vi, tương tự như khái niệm “Ojas” trong tư tưởng Ấn Độ[ii]. Đây là một điều mà chúng ta dễ dàng nhận thấy trong các trang kinh Phật cũng như các tác phẩm của Trần Trọng Kim, Kim Định, Bùi Giáng, Krishnamurti, Vivekananda, Nietzsche, Trang Tử, Whitman, Heidegger v.v… Chính những tác gia này mới cho ta thấy sức mạnh của ngôn ngữ.
Đọc Bùi Giáng, ta dễ dàng nhận thấy bút lực cuồn cuộn của một người đã rong chơi du hý trong cõi ngữ ngôn để lần ra đầu mối “nhất dĩ quán chi” xuyến suốt mọi bờ bến tư tưởng kim cổ Đông Tây. Ông là người duy nhất đã thực hiện được một cuộc phục hoạt trùng tân (Widerholung) đối với Nguyễn Du, như Heidegger đã làm với các triết gia tiền Socrates, theo tinh thần:
“Chúng ta hiểu phục hoạt trùng tân một vấn đề căn cơ là sự mở phơi những khả tính uyên nguyên của nó, những khả tính mà từ lâu đã bị chìm khuất trong quên lãng. Thông qua việc triển khai này, vấn đề căn cơ đó sẽ chuyển dời bình diện, và do đó, sẽ được giữ gìn phần nội hàm đáng được đặt thành vấn thoại. Tuy nhiên giữ gìn một vấn đề có nghĩa là để nó được tự do và đánh thức được sức mạnh nội tại, sức mạnh có khả năng biến nó thành vấn thoại trong căn cơ của Hiện Tinh Thể (Wesen) của nó”.[iii]
Có ai đã làm được điều đó như Bùi Giáng đã làm với Nguyễn Du? Những phần vô ngôn thăm thẳm nào của Nguyễn Du đã được Bùi Giáng khơi dậy trong tinh thần tân thanh tái tạo và buộc chúng ta phải đọc lại Nguyễn Du bằng đôi mắt khác? Và từ đó nhận ra chân dung của Heidegger và Khổng Tử?
Bùi Giáng đã làm điều kỳ diệu nào khi dùng ngôn ngữ Truyện Kiều để bắc nhịp cầu nối liền hai bờ cõi Đông Tây, nối liền hai dòng ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt nhau là Đức ngữ và Việt ngữ? Để hiểu hết được sự hoằng viễn của Bùi Giáng, khi cưỡng bức ngôn ngữ để triển khai phần vô ngôn trong tư tưởng, ta hãy suy tư xem giữa ngôn ngữ Tây phương và tiếng Việt có mối hòa thanh tương ứng nào không?
Ta hãy thử xem câu đầu tiên của Đạo đức kinh là “Đạo khả đạo phi thường Đạo 道可道非常道” khi được dịch ra ngôn ngữ phương Tây thì nó lóng ca lóng cóng như thế nào? Tôi xin trích một số câu tiêu biểu:
1. Der Sinn, der sich aussprechen läßt, ist nicht der ewige Sinn (Richard Wilhelm).
2. Quand on La nomme la Voie n’est plus la Voie (không rõ người dịch).
3. TAO called TAO is not TAO (Stephen Addiss, Stanley Lombardo: 1993).
4. Nature can never be completely described, for such a description of Nature would have to duplicate Nature (Archie J. Bahm: 1958).
5. The Way that can be described is not the absolute Way (Sanderson Beck: 1996).
6. The Way (Dao) that can be “Wayed” is not the constant Way (Alexander J. Beecroft).
7. The Tao that can be expressed is not the eternal Tao (Alexander J Beecroft).
8. There are ways but the Way is uncharted (R. B. Blakney: 1955).
9. Existence is beyond the power of words to define (Witter Bynner: 1944).
10. The way that can be told is hardly an eternal, absolute, unvarying one (Tormod Byrn: 1997).
11. The Tao that can be told of is not the eternal Tao (Wing-tsit Chan: 1963).
12. Tao that can be spoken of, Is not the Everlasting Tao (Ellen M. Chen: 1989).
13. The Tao that can be followed is not the eternal Tao (Charles Muller).
14. The Tao that can be trodden is not the enduring and unchanging Tao (James Legge).
Tôi nêu một loạt các câu văn dịch để bạn đọc xem kỹ và hãy tự hỏi: liệu người phương Tây, qua các bản dịch đó, có nắm được tinh thần câu văn mở đầu của Đạo đức kinh như người Trung Quốc hoặc người Việt chúng ta? Hay là các chữ “Sinn”, “La Voie”, “sich aussprechen läßt”,“Tao”, “can be Wayed”,“can be trodden”, “can be spoken of”,“can be followed”… trong các câu văn dịch đó, đối với người Tây phương đều lớ ngớ như cảnh gà con mất mẹ? Vậy mà chúng ta cứ hồn nhiên cho rằng như thế là dịch sát! Chỉ một chữ “Đạo” đơn giản thôi đã khiến người phương Tây lúng ta lúng túng đến thế, thì còn có thể bàn gì đến toàn văn, hay cõi đạo Đông phương?
Bây giờ hãy thử trở lại với một câu văn của Heidegger. Ngôn ngữ của Heidegger cực kỳ phong phú và khó dịch. Mảnh đất siêu hình học đầy gai góc của mấy ngàn năm của Tây phương không cho phép ông lập ngôn đạm nhiên như những bậc chân nhân Đông phương, nên ông phải đem thiên tài ra cưỡng bức ngôn ngữ Đức để làm mở phơi, hiển lộ được cái Hiện Tinh Thể (Wesen) của ngữ ngôn. Chỉ riêng một từ Dasein của ông cũng đã đẩy các ngôn ngữ Âu châu vào chỗ bế tắc. Các cách dịch l’Être–là, Being–There, l’Être-le-Là rõ ràng đều không ổn thỏa.
Chúng ta thử dịch một câu đơn giản và quen thuộc của Heidegger ra Việt ngữ. Câu đó như vầy: “Die Sprache ist das Haus des Seins: Ngôn ngữ là ngôi nhà của Hữu Tính”[iv]. Đây là câu nói nổi tiếng của Heidegger trong trang đầu tiên của tác phẩm Brief über den Humanismus (Thư về chủ nghĩa nhân bản), thường được trích dẫn rất nhiều trong các bài biên khảo về ông, kèm theo đủ thứ các kiến thức minh giải hàn lâm. Câu nói đó có nghĩa là gì? Thực chất, trên bình diện văn phạm, chúng ta có thể hiểu và dịch nôm na là: “Ngôn ngữ LÀ ngôi nhà của CÁI LÀ” (với LÀ thứ nhất là động từ LÀ đã chia, còn CÁI LÀ sau là động từ LÀ nguyên mẫu!) Như vậy, với câu “Die Sprache ist das Haus des Seins”thì người đọc sẽ đón nhận và hiểu nó như thế nào trong bản Việt ngữ? Liệu họ có cảm nhận được gì không, hay rốt cuộc cũng chẳng khác gì người phương Tây lắng nghe Đạo đức kinh, nghĩa là cũng chỉ có thể nắm một đống khái niệm ù ù cạc cạc và suy diễn theo những sở tri tích lũy trong trí não? Trong câu nói đó của Heidegger, cho dù ta có dịch chữ Sein là Tính, Tính thể, Tồn lưu, Chân tính, Hữu thể, Tồn thể, Hằng thể, Vĩnh thể, Thường thể, Tồn tại, Tồn hữu, Hữu tính v.v… và dù có nỗ lực “giải minh”,“thông diễn” câu nói đó bằng vô số kiến thức hàn lâm thì tất cả cũng đều cùn nhụt và bế tắc như nhau. Vì đó đơn thuần chỉ là sự thay đổi từ này bằng từ khác, dù ta có truy đến tận gốc của từ nguyên để cho rằng từ này sát nghĩa hơn hơn từ kia.
Rõ ràng từ “Ngôn ngữ” trong câu nói đó của Heidegger không thể chỉ cho mọi ngôn ngữ bất kỳ nào, cho dẫu đó là ngôn ngữ Âu châu. Các bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp “Language is the place for Be[ing]” hay “La langue est la maison de l’Être” nghe vẫn lạc lõng và rời rạc. Có phải rằng từ “Ngôn ngữ” trong câu nói đó chỉ có thể là tiếng Đức hoặc tiếng Hy Lạp mà thôi? Có phải nó mang một điểm đặc dị thù thắng nào như chữ “Đạo” trong tiếng Trung Quốc?
Giữa chữ Đạo 道 và các chữ Voie, Tao, Way, Path có khoảng cách bất khả tư nghì nào mà người phương Tây khó lòng thể hội? Nó có giống với khoảng cách giữa tiếng Đức và tiếng Việt? Đặc biệt là tiếng Đức của Heidegger? Nếu cho rằng dịch chỉ đơn thuần là đi tìm sự tương phối giữa những chữ tương đương về ý nghĩa và kết hợp chúng lại với nhau theo các quy luật về ngữ pháp, thì tại sao chữ Weg trong tác phẩm về sau của Heidegger lại mang một tố chất và âm hưởng mênh mang nào mà ta khó lòng cảm nhận qua các chữ Path, Way, Chemin trong các bản dịch Anh, Pháp ngữ, mà lại cảm thấy nó gần như chữ Đạo phương Đông? Và tại sao Heidegger lại khẳng định chỉ ngôn ngữ Hy Lạp, và chỉ có ngôn ngữ Hy Lạp thôi mới là logos[v], và vì sao ông cho rằng chỉ có tiếng Đức mới nói lên được Hữu Tính (Sein) còn mọi ngôn ngữ khác đều chỉ nói về Hữu Tính? “The German language speaks Being, while all the others merely speak of Being.[vi] Toàn bộ sự khác biệt nằm ở chữ VỀ (of). Các ngôn ngữ Âu châu, những đứa con cùng cha khác mẹ của tiếng Đức, còn bế tắc như thế trước một chữ Sein trong Đức ngữ, thì thử hỏi đứa con ngoại tộc là tiếng Việt sẽ làm thế nào để dìu được cái phần hồn của Sein vào trong Việt ngữ? Hiểu được điểm đó thì chúng ta mới có thể hiểu được sự cưỡng bức ngôn ngữ của Bùi Giáng khi ông dịch các tác phẩm triết học phương Tây, đặc biệt là Heidegger. Cũng như Heidegger, Bùi Giáng là người thâm cảm được sự bế tắc của ngôn ngữ quy ước khi diễn đạt cảnh giới của nội tâm. Nếu Hegel buộc triết học phải nói bằng tiếng Đức thì Bùi Giáng buộc triết học phải nói bằng tiếng Việt, và hơn thế nữa là nói bằng thơ lục bát Việt Nam!
Heidegger đạm nhiên bảo:
“Không bao giờ và trong bất kỳ ngôn ngữ nào, điều được diễn tả lại là cái cần được nói ra” (Nie ist das Gesprochene und in keiner Sprache das Gesagte. – Aus der Erfahrung des Denkens).
Bùi Giáng thơ mộng hơn:
“Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói hết nghiệp nghề người điên”
Trong kinh điển Phật giáo, đức Phật không ngớt nhắc nhở các môn đồ rằng ngôn thuyết không bao giờ diễn đạt được Thực Tướng, tức Đệ nhất nghĩa đế.
Thử hỏi, về mặt ngôn ngữ, sự chi phối của các chữ Sein (Be, Être) và Seiende (Being, Étant) trên dòng triết học Âu châu có giống như thể cách của chữ Là, chữ Đạo đối với người phương Đông? Rõ ràng điều này hoàn toàn không có. Thậm chí ý nghĩa của Sein/Seiende trong tiếng Đức cũng không hoàn toàn tương đồng với Be/Being trong tiếng Anh hoặc Être/Étant trong tiếng Pháp. Ngay cả các nhà nghiên cứu ở phương Tây như F. H. Heinemann vẫn phải tự hỏi:
“Liệu sự phân biệt giữa Sein và Seiende có thật sự … mang một ý nghĩa quan trọng … có tính căn cơ, hay chỉ dựa trên một điểm đặc thù ngẫu nhiên trong tiếng Đức? Nó không thể được dịch sang tiếng Anh một cách chính xác đã đành, mà dịch sang tiếng Pháp cũng rất khó khăn”.[vii]
Nêu hai ví dụ đơn giản về chữ Đạo và chữ Sein như thế để làm gì? Để thấy rằng muốn bắt được nhịp cầu từ ngôn ngữ này qua một ngôn ngữ khác, từ một cõi suy tư này sang cõi suy tư khác thì con đường tư tưởng của chúng ta phải chuyển dời bình diện, chứ không thể bám cứng một cách nô lệ và máy móc vào chữ nghĩa, nếu muốn vượt qua được lớp vỏ ngôn ngữ để đến được với phần tinh mật bên trong. Suốt mất ngàn năm qua, câu nói “Bất dĩ từ hại ý” của Mạnh Tử vẫn đồng vọng như một lời cảnh tỉnh.
Làm thế nào để ngôn ngữ thực sự là ngôi nhà cho Hữu Tính, để Die Sprache thực sự là das Haus des Seins? Chỉ còn cách lắng nghe và chiêm nghiệm ngôn ngữ trong viễn tượng thơ. Phải khơi rộng dòng thơ để dìu hồn Hữu Tính đi vào trong xoang điệu của tân thanh để lắng nghe được phần vô ngôn trong ngôn ngữ. Đó là chỗ mà Bùi Giáng đã nối bước Nguyễn Du để thực hiện trong tất cả các tác phẩm của ông. Theo tôi, đó mới thực sự là tinh thần của cái gọi là “hermeunetics”. Đem thơ Nguyễn Du làm phương tiện nhiếp dẫn người đọc vào cuộc đối thoại với Heidegger, Bùi Giáng đã thực hiện một cuộc “Wiederholung” tuyệt trù vô tỷ đối với Truyện Kiều. Chỉ có trực giác thiên tài của một nhà thơ mới có thể đưa ông đi vào trong cảnh giới bất khả tư nghì đó để làm “băng nhân” cho cuộc hôn phối kỳ diệu giữa hai bờ cõi Đông Tây.
“Nếu ta không thực hiện nổi cỗi nguồn trường mộng ở nội tâm, thì không bao giờ triết học tiếp xúc được với căn cơ chân chính của nó, dù ta có líu lo trong học hiệu phù hoa với bao nhiêu giọng điệu”.[viii]
Chính nhờ “Cõi nguồn trường mộng ở nội tâm” đó mà ông thừa thãi thông tuệ để nhiếp dẫn triết học Heidegger về hội thoại với Tố Như. Đoạn gặp gỡ giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, khi Kiều đi tìm lại cành thoa, được ông minh diễn như cuộc đối thoại hy hữu giữa Sein và Dasein, đã nói lên được phần vô ngôn thăm thẳm nào trong tư tưởng Tố Như và của Heidegger?[ix]
Theo chân Bùi Giáng đi ra từ cõi rừng huyền bí Đông phương, chúng ta sẽ không còn bỡ ngỡ nhiều chi lắm trước ngôn ngữ kỳ bí của Heidegger. Vì Heidegger bảo tất cả tác phẩm của mình chỉ là sự chuẩn bị cho phương Tây có đủ tư cách để mở được cuộc hội thoại với phương Đông trong mai hậu.
Các nhà nghiên cứu đôi khi chỉ trích cách dịch của Bùi Giáng một cách khắt khe mà có khi nào họ tự hỏi: ngôn ngữ Việt đòi hỏi nguyên tác phải chuyển dịch theo yêu sách nào để cái phần vô ngôn tinh mật, hay cái Ungedachte trong suy tư, mới lọt được vào cái Nghe của người đọc? Nền Phật học Trung Quốc với Thiền tông há chẳng phải là “bản dịch” tuyệt diệu của Phật giáo Ấn Độ đó hay sao? Thử đối chiếu các bản dịch của Bùi Giáng về Heidegger với nguyên tác, người đọc có thể cảm nhận được sự sáng tạo phi phàm của ông, dù đôi khi ông có đùa rỡn quá trớn qua lối hý lộng ngữ ngôn. Song đó cũng chỉ là yêu sách của lập ngôn, bởi vì “Điều suy tư của một nhà tư tưởng chỉ được vượt qua khi mà phần vô ngôn, phần vô suy tư trong tư tưởng của ông ta được trả về chân lý sơ nguyên của nó”.
Mai sau, nếu còn một chút gì đáng kể trong những trang viết về Heidegger bằng tiếng Việt thì đó chỉ có thể là những trang sách của Bùi Giáng mà thôi.
Sài Gòn 07.2008
________________________________________
[i] Das Gedachte eines Denkers läßt sich nur so verwinden, daß das Ungedachte in seinem Gedachten auf seine änfangliche Wahrheit zurückverlegt wird. (M. Heidegger, Was heißt Denken? Max Niemeyer Verlag Tübingen, 1954, t.22)
[ii] The Yogis claim that of all the energies that are in the human body the highest is what they call “Ojas”. Now this Ojas is stored up in the brain, and the more Ojas is in a man’s head, the more powerful he is, the more intellectual, the more spiritually strong. One man may speak beautiful language and beautiful thoughts, but they do not impress people; another man speaks neither beautiful language nor beautiful thoughts, yet his words charm. Every movement of his is powerful. That is the power of Ojas. (Vivekananda, Raja Yoga).
[iii] Unter der Wiederholung eines Grundproblems verstehen wir die Erschließung seiner ursprünglichen, bislang verborgenen Möglichkeiten, durch deren Ausarbeitung es verwandelt und so erst in seinem Problemgehalt bewahrt wird. Ein Problem bewahren, heißt aber, es in denjenigen inneren Kräften frei und wach halten, die es als Problem im Grunde seines Wesens ermöglichen (M.Heidegger, Kant und das Problem der Metaphysik, Frankfurt am Main: Vittorio Klostermann, 1973, t. 198.) Lâu nay, các bản Anh ngữ dịch “Wiederholung” là Retrieve; Retrieval, Repitition, Recovery hoặc bản Pháp ngữ dịch là Répetition đều không thể diễn tả được hết nội dung của thuật ngữ này. Nhà thơ Bùi Giáng dịch là “trùng phục thu hồi ”, tôi cũng chưa thật thỏa mãn, dù tôi vô cùng kính phục dụng ngữ phi thường của ông. Tôi đề nghị dịch chữ Wiederholung là “phục hoạt trùng tân” 復活重新 nghĩa là làm sống dậy và làm mới lại một nội dung cũ theo tinh thần tái tạo của hai chữ “tân thanh”.
Wesen của Heidegger thường được dịch sang tiếng Anh là “Essence”, hoặc dịch theo nghĩa “coming to presence”. Tôi dùng “Hiện Tinh Thể ” để dịch Wesen vì đối với Heidegger, Wesen là phần tinh mật, chỉ cái đương thể (whatness) trì tồn trong sự hiển lộ tinh anh.
[iv] Tôi dùng từ “Hữu Tính” hoặc “Tính” để dịch Sein (Being, Être). Dịch là “Hữu Tính” khi Sein mang nghĩa đối lập lại Không Tính (trong tinh thần Phật giáo) hay Vô Thể (Nitchs, Nothingness, Néant), còn dịch là Tính khi Sein mang nghĩa đối lập với Thể; và dùng từ Hữu Thể, Hiện Thể, Vạn Hữu để dịch Seiende (Beings, Étants).
[v] … die griechische Sprache keine bloße Sprache ist wie die uns bekannten europäischen Sprachen. Die griechische Sprache, und sie allein, is logos (… ngôn ngữ Hy Lạp không chỉ đơn thuần là một ngôn ngữ quen thuộc với chúng ta như các ngôn ngữ Âu châu khác. Ngôn ngữ Hy Lạp, và chỉ có ngôn ngữ Hy Lạp, mới là Logos – Heidegger, Was ist das – die Philosophie?, Gunther Neske Pfullingen, 1956, t.12).
[vi] http://www.brainyquote.com/quotes/quotes/m/martinheid395938.html
[vii] Is the distinction between Sein (to be) and Seiendem (being) really of….basic importance … or is it based on a chance peculiarity of the German language? It cannot be properly translated into English, and only with difficulty into French.” (trích theo Julius Seelye Bixler, The Failure of Martin Heidegger, The Harvard Theological Review, Vol. 56, No. 2. (Apr., 1963), t. 121-143).
[viii] Bùi Giáng, Martin Heidegger & Tư tưởng hiện đại, Tập 1, 1962, t.147.
[ix] Bùi Giáng, Thúy Vân và Tam Hợp đạo cô, NXB Võ Tánh, Sài Gòn, 1969, các tr. 13-23.

TỪ PHUSIS HEIDEGGER
ĐẾN “TỒN LƯU” BÙI GIÁNG

HUỲNH NGỌC CHIẾN

C’est seulement dans la mot, dans la langue, que les choses deviennent et sont. C’est pourquoi aussi le mauvais usage de la langue dans la simple bavardage, dans les slogans de la phrasésologie, nous fait perdre la relation authentique aux choses. (Chỉ trong từ, trong ngôn ngữ mà sự vật mới trở thành và hiện hữu. Cũng vì lẽ đó mà sự lạm dụng ngôn ngữ trong cuộc ba hoa thuyết thoại thuần tuý và trong các khẩu hiệu ngữ cú giảng bình khiến ta đánh mất đi mối tương quan chân thực với sự vật )[1]

Nếu cô nàng Thiên Nhiên muốn cảm tạ người đã đem hết thiên tài bạt tuỵ của mình ra để phụng hiến cho nàng, trả lại cho nàng cái chân dung sơ thuỷ, cái bản lai diện mục, vốn đã lắm phen bị triết học kinh viện nhà trường bôi cho lem luốc, thì có lẽ nàng phải ngỏ lời thâm tạ Martin Heidegger, một triết gia – nghệ sĩ kì ảo ở thế kỉ 20. Tôi chưa đọc ông nhiều chi cho lắm. Thế hệ chúng tôi phần lớn không thể tìm được và không thể đọc nổi sách ông trong nguyên tác Ðức văn nên đành phải đọc lai rai qua các bản dịch Pháp văn như Introduction à la Métaphysique, L’Être et Le Temps v..v.. Và chủ yếu chúng tôi vẫn phải tìm chân dung ông qua các tác phẩm, dịch phẩm của Bùi Giáng: Lễ hội tháng ba, Lời cố quận, Ðường đi trong rừng, Sương Bình nguyên, Trăng Châu thổ, Sương tỳ hải… và đặc biệt là cuốn Martin Heidegger và Tư tưởng hiện đại. Nhưng cần gì phải đọc nhiều? Ðến với các tác phẩm thiên tài bằng cả tấm lòng và bằng suy tư chân thành, ta sẽ nhận ra nhiều dư hưởng mênh mông khác. Ði sâu vào một tức là đi thẳm vào mười. Nhất tức nhất thiết là vậy.
Bùi Giáng là một trong những người tiên phong đã dày công dẫn nhập triết học Heidegger vào nền văn hoá Việt nam bằng các công trình biên khảo cũng như các dịch phẩm tuyệt diệu của mình. Và chỉ duy Bùi Giáng là người đủ công lực thượng thừa, đủ thông tuệ để nhiếp dẫn triết học Bà-la-mật Heidegger từ cõi nguyên thuỷ sơ khai Hy Lạp tiếp cận với suối nguồn uyên nguyên của triết học phương Ðông. Ngôn ngữ Bùi Giáng khơi dẫn được những vùng sương bóng mênh mông của nền triết học phương Ðông vốn bị lãng quên quá lâu qua mấy ngàn năm suy tư duy lí. Ông đã dịch và diễn giải Heidegger theo một phong cách cực kì tài hoa bằng ngôn ngữ riêng biệt đầy sáng tạo mà tôi tin rằng, trong tương lai, bất kì người nào muốn tìm hiểu triết học Heidegger đều phải lấy đó làm kim chỉ nam! Do những hạn chế về khuôn khổ của bài viết cũng như kiến thức của người viết, nên tôi chỉ xin dựa vào vài trang của Heidegger trong cuốn Introduction à la Métaphysique (Siêu hình học nhập môn) để cố gắng khơi dẫn được mối tương quan giữa Phusis (fusis) của Heidegger và Tồn Lưu của Bùi Giáng theo những suy niệm riêng của mình.
Kể từ L’Être et le Temps về sau, trong các phẩm của mình, ông Heidegger thường dành nhiều trang sâu thẳm để khôi phục lại chân dung uyên nguyên của Thiên Nhiên (fusis- phusis). Và để hé mở cho chúng ta cái gương mặt thật của nàng, ông già nước Ðức tuyệt vời đó đã khổ công dọn dẹp sạch hết mọi gai góc um tùm của mấy ngàn năm triết học phương Tây.
Từ buổi khai mở sơ thuỷ và có tính quyết định của triết học phương Tây nơi người Hy lạp, qua đó việc tra vấn về hiện thể như là thế trong toàn thể, cuộc vấn thoại về vạn hữu như nhiên khởi đầu cuộc lịch hành chân chính của nó, mở đầu buổi khai đoan chân thực, thì trong giai đọan đó hiện thể được gọi là fusis (Phusis).
A l’époque du premier ef décisif déploiment de la philosophie occidentale chez les Grecs, par lequel le questionner sur l’étant comme tel en totalité prit son véritable depart, on nomait l’etant fusis. p21.
fusis chỉ sự trì ngự của cái mở phơi, khai lộ, và cái trì cửu tại tồn bởi sự trì ngự đó. Trong cuộc trì ngự kia, cuộc trì ngự kéo dài trong giữa lòng vạn hữu mở phơi, ta còn thấy bao hàm cả ý nghĩa của biến dịch và bất biến (hắng thể lưu tồn) hiểu theo nghĩa hẹp của sự trì cửu bất động.
fusis désigne la perdominance de ce qui s’épanouit, et le demeurer (Wahren) per-dominé (durchwaltet) par cette perdominance. Dans cette perdominance qui perdure dans l’épanouissment se trouve inclus aussi bien le “devenir” que “l’être” au sens restreint de persistance immobile p.23.
Người Hy lạp đã không khởi đầu bằng cách y cứ vào các hiện tượng tự nhiên để thể hội fusis mà trái lại chính nhờ y cứ vào nền tảng của một thể nghiệm căn cơ trầm tư thơ mộng về Tồn Lưu mà họ thấy khai mở trước mắt họ cái mà họ gọi là Phusis fusis.
Les Grec n’ont pas commencé par apprendrre des phénomènes naturels ce que c’est la fusis , mais inverssement: c’est sur la base d’une experience fondamentale poétique et pensante (dichtend-denkend) de l’être, que s’est ouvert à eux ce qu’ils ont du nommer fusis. p.22
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
(Thôi Hiệu – Tản Ðà)
Vũ trụ đã được người xưa quan chiêm trong viễn tượng mênh mông, như là sự đấu tranh và hoà điệu vĩnh cửu giữa hai thế lực đối kháng của hai nguyên lí âm và dương, và con người Tại thể (Dasein) đứng ra làm băng nhân cho cuộc hôn phối giữa đất trời theo thể điệu Tam tài.
Trăng lên trong lúc đang chiều
Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
(Huy Cận)
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
(Kiều – Nguyễn Du)
Ðó là linh hồn Phusis mở phơi, và tâm hồn kẻ tài hoa mở rộng để đón nhận những viễn tượng kì diệu của Thiên Nhiên trong bóng vàng khói biếc, trong ngọn triều lên. Tại phương Tây, chính Ki tô giáo đã đem bi kịch của linh hồn thay thế cho sự trầm tư về thiên nhiên và vũ trụ, đến độ Albert Camus phải than thở: “Kể từ Dostoievski về sau, chúng ta luống công tìm kiếm phong cảnh thiên nhiên trong văn chương lớn của Âu châu”[2].
Khi ngôn ngữ La tinh dịch từ Hy lạp Phusis thành Natura thì ý nghiã nguyên thuỷ của nó đã bị đánh mất hoàn toàn. Natura trong ngôn ngữ La tinh có nghiã là “sinh ra”, “sự sản sinh”. Và chính trong cuộc diễn dịch ra ngôn ngữ La tinh đó, người ta đã làm chuyển hướng nội dung nguyên thuỷ của từ trong tiếng Hy lạp khiến cho sức mạnh hoán gọi chân chính mang tính triết lí cuả nó đã bị phá vỡ.
On utilise la traduction latine natura, ce qui signifie proprement “naitre”, “naissance”. Mais, par cette traduction latine, on s’est déjà détourné du contenu originaire du mot grec fusis, l’authentique force d’appelation philosophique du mot grec est détruite. p21.
Cuộc diễn dịch từ tiếng Hy lạp sang La tinh tưởng chừng như vô hại đó lại khởi đầu cho một tiến trình khép kín co ro trong vỏ ốc, tiến trình tha hoá xa lạ với tố chất cấu thành nên tinh thể tinh yếu uyên nguyên trong triết học Hy lạp.
Cette traduction du grec n’est indiférente ni anodine, c’est au contraire la première étape du processcus de fermeture et d’anéliation de ce qui constitue l’essence orginaire de la philosophique grec. p22
Cách diễn dịch đầy tai hại từ tiếng Hy lạp ra La tinh đó (không chỉ mỗi một từ fusis mà còn rất nhiều từ thiết yếu khác của nền triết học Hy Lạp ban sơ) về sau này lại chi phối Ki tô giáo và thời Trung cổ Ki tô giáo. Rồi triết học hiện đại phương Tây dùng các khái niệm đó để suy diễn và lãnh hội buổi ban sơ của triết học phương Tây, và cứ ngỡ rằng mình đã vượt xa tổ tiên, và cái cỗi nguồn ban sơ huyền bí kia được xem như cái gì đó đã bị bỏ qua lại đàng sau từ lâu lắm!
La traduction romaine fit ensuite autorité pour la christianisme et le Moyen Age chrétien….. Ce commencement est considéré comme quelque choses que les gens d’aujourd’hui sont censés avoir dépassé et laissé depuis longtemps derrière eux p21.
Cái suối nguồn Hy lạp uyên nguyên thăm thẳm kia đã bị sương giăng u ám không còn ai nhìn rõ chân dung, luôn ngóng vọng về cõi ban sơ phương Ðông để tìm chút hoà âm vọng hưởng. Mãi đến nửa cuối thế kỉ 20, triết gia Heidegger mới chậm rãi chỉ ra sự sai lầm tai hại của mấy ngàn năm triết học phương Tây và nỗ lực mở ra một cuộc hội thoại chân chính với phương Ðông. Trong khi đó tại phương Ðông, trừ một vài nhân cách đặc biệt, các thức giả, do choáng váng trước nền khoa học phương Tây, lại vội vã vất bỏ tất cả kho tàng minh triết phương Ðông, hối hả chạy theo các trào lưu triết học vong bản phương Tây và cứ cho rằng mình tiên tiến lắm!
Quay về với phương Ðông, bàn về thiên nhiên, bàn về lẽ biến hoá của vũ trụ, có lẽ không gì bằng kinh Dịch. Bản thân chữ Dịch 易, gồm hai chữ nhật 日 và nguyệt 月 (dạng biến thể) ghép lại. Chữ nhật (mặt trời) tượng trưng cho sự bất biến và nguyệt (mặt trăng) tượng trưng cho sự biến dịch, đổi thay. Cho nên trong chữ Dịch ngoài nghĩa là biến dịch, thay đổi vẫn hàm ý sự bất biến nữa. Trong thiên nhiên, giữa lòng thác đổ của vạn hữu, giữa dòng sinh sinh hoá hoá vô tận của Thệ giả như tư phù! Bất xả trú dạ (Khổng Tử), vẫn có một cái làm chủ tể cho mọi biến dịch, làm nền tảng cho mọi thay đổi của sum la vạn tượng như là pháp tắc thường hằng. Nói theo ngôn ngữ Phật giáo thì trong lưu chuyển giới vẫn tồn tại một Niết bàn giới thường hằng bất biến[3].
Và Phusis lại chính là Être, nhờ đó mà vạn hữu trở nên quán sát được và và duy trì được khả năng có thể quán sát đó. La fusis est l’être même, grâce auquel l’étant devient observable et reste observable. p.22
Être (Sein, Being) thường được dịch là Hữu thể, Chân tính, Tính thể, Hằng thể v.v.. nhưng các từ đó thường bị ngộ giải theo các phạm trù triết học phương Tây, nên vẫn thiếu sắc thái linh động cần thiết để diễn tả được những gì hàm ẩn trong Être. Có lẽ Tồn Lưu là từ hay nhất để diễn dịch khái niệm này. Tồn có nghĩa là tồn tại, nhưng độc đáo nhất vẫn là chữ Lưu. Viết Tồn Lưu theo tiếng Hán thì lại không đúng như nghiã trong tiếng Việt. Nếu viết lưu theo nghĩa lưu chuyển, lưu động, luân lưu thì chỉ sự trôi chảy, chuyển động, linh hoạt, nếu viết theo nghiã lưu trụ, lưu thủ thì lại hiểu theo nghĩa tồn lập, trì tồn (demeurer). Trong tiếng Hán chỉ có thể viết được chữ Lưu bằng một trong hai cách. Bản thân chữ Lưu trong từ Tồn Lưu tiếng Việt lại hàm hỗn mang được ý nghĩa của cả hai í trên. Ấy chính là nội dung của Dịch, của fusis vậy.
Ông Suzuki khi bàn về thế giới Hoa Nghiêm sự sự vô ngại pháp giới, một thế giới chỉ có thể kiến chiếu bằng trực giác tâm linh, đã nói:
” Trực giác tâm linh…. là thời gian mà cũng là không gian, nó động với thời gian động, nó trụ với không gian trụ; lúc nào nó cũng chớp nhoáng, cũng thoát trôi, cũng “chuyển” mà không hề lìa chỗ ban sơ, vẫn “hằng”…. Hằng mà chuyển: chừng như nó đứng im một chổ, vĩnh viễn trụ ở hiện tiền mà vẫn lưu chuyển không ngừng, từng phút trong giờ từng giây trong phút”[4].
Nhìn trên một bình diện khác, đoạn văn trên của ông Suzuki xem như một đoạn chú giải về fusis của Heidegger và Tồn Lưu của Bùi Giáng!
Chính ông Bùi Giáng cũng nói:
“Ngoài tiếng Tồn Lưu ra quả thật tôi chẳng thể nào gẫm ra một tiếng nào thơ ngây khác khả dĩ nhiếp dẫn được một dòng tương ứng giữa hai bờ hai cõi hai vũ trụ hai thời gian… Tiếng nào khác thảy thảy đều vướng vào một cái khối ù lì nào đó. Thực thể, Tồn thể, Thể tính, Chân tính… vân vân… đều không lung linh bài động ôn tồn cho một dòng phi tuyền khả dĩ thành tựu một cuộc Trùng Phúc Qui Hồi có tính khơi dẫn một mạch ngầm đã bị vùi lấp từ trên hai ngàn năm” [5]
Từ Phusis trong buổi bình minh tư tưởng Hy lạp đến Tồn Lưu của Bùi Giáng có khoảng cách của mấy ngàn năm triết học, nhưng chúng lại tương ứng một cách vô cùng tinh diệu và khai mở lại một thông đạo để thế hệ mai sau có thể tìm về với cõi Hi Lạp Sơ Nguyên và Ðông Phương Sơ Thủy.
Tái bút: Tôi viết bài này do cảm hứng về hai chữ Tồn Lưu khi gần đây đọc lại tập Sa mạc trường ca của Bùi Giáng. Tôi xin ghi lại bài thơ mà tôi ngẫu hứng làm sau khi đọc xong tác phẩm, để mong cùng bạn đọc chia sẻ cảm hứng khi cơ duyên run rủi tìm đọc được những tác phẩm của Bùi Giáng cùng những bài viết về ông trong khắp cõi bể dâu.
Cảm ứng Sa Mạc Trường Ca 感應沙漠長歌
Lao tâm khổ tứ mịch Lưu Tồn, 勞心苦思覓流存,
Lão chí phương tri tổng thị không.[6] 老至方知總是空.
Huy thủ thi thành lưu diệu ngữ, 揮手詩成留妙語,
Trường ca sa mạc nhậm phiêu bồng. 長歌沙漠任飄蓬.
Bình nguyên cô nguyệt ưng hồi chiếu, 平原孤月應回照,
Châu thổ hàn sương quyện lữ hồn. [7] 州土寒霜倦旅魂.
Tiếu mạo tại thiên nan vấn tấn, 笑貌在天難問訊,
Bệnh Duy Ma Cật tiện vô ngôn. 病惟魔詰便無言.
________________________________________

[1] Introduction à la Métaphysique, p.22. Tất cả các đoạn Pháp văn trong bài viết ngắn này đều được trích dẫn từ cuốn Introduction à la Métaphysique của Heidegger, qua bản dịch của G.Kahn, NXB Epiméthé, 1958. Các đoạn văn trích đó đều được dịch và diễn giải đầy đủ thông qua các đoạn văn khơi dẫn.
[2] Sương tỳ hải, NXB An Tiêm, tr.46
[3] Ðại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Kimura Taiken, Thích Quảng Ðộ dịch, Tu thư Vạn hạnh 1969, tr. 200
[4] Cốt tuỷ của đạo Phật, Suzuki, Trúc Thiên dịch, nxb An Tiêm, 1968, tr. 120
[5] Thuý Vân và Tam hợp đạo cô, nxb Quế Sơn, 1969, tr.63
[6] Thơ Bùi Giáng : Báo đêm thao thức thật thà, Sưu tầm chân lý té ra tầm ruồng
[7] Sương bình nguyên và Trăng châu thổ là tên hai tác phẩm đặc dị của Bùi Giáng bàn về thi ca và tư tưởng.

 

NẮNG CHIÊM BAO

Kỷ niệm 6 năm ngày mất
TRỊNH CÔNG SƠN –
(1.4.2001 – 1.4.2007)

HUỲNH NGỌC CHIẾN

Hôm nay tôi lại viết về anh, không phải để viết về một nhạc sĩ được đời hết lời xưng tụng, mà chỉ ghi lại những cảm xúc mơ hồ chợt đến chợt đi để, qua âm nhạc của anh, nhớ lại những thương yêu ngậm ngùi cùng tình yêu của một thời đã mất. Tôi yêu nhạc anh chỉ vì nó đã gắn liền với những tháng ngày thương yêu đẹp nhất trong đời.
Thời gian qua, nước dưới chân cầu cứ chảy, và con người ngậm ngùi bao xiết, khi “nhìn lại mình đời đã xanh rêu”. Thời gian và tình yêu! Thời gian và vĩnh cửu! “Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại”. Ngày tháng nào? Vienne la nuit sonne l’heure, Les jours s’en vont je demeure! (G.Appolinaire). Đêm đã về, tiếng chuông đã ngân vang, ngày tháng cứ trôi đi và ta còn ở lại. Ở lại với những kỷ niệm đã thành tượng giữa thời gian. Và những kỷ niệm đó sẽ mãi mãi thắp sáng trong tâm hồn con người ngọn lửa tinh khiết thiêng liêng mà thời gian trôi qua, bão giông đời vẫn không làm cho tắt được. Nghe lại nhạc anh, tôi như thấy lại một thời hoa nắng đã trôi vào cõi “xa lắc muôn trùng”, nơi mà tuổi trẻ của chúng tôi, một thời, cứ trôi bồng bềnh như những đám mây vô định. Với tình yêu và thân phận làm người.
Nói về nhạc anh, đúng hơn là ca từ của anh, là người ta nói đến nắng, như nói về thơ Hàn Mặc Tử là người ta nói đến trăng. Nắng và Trăng. Nắng mênh mông của nhạc và Trăng huyền ảo của thơ. Tôi cũng muốn nói đến nắng, nhưng không phải là nắng của “Nắng thủy tinh”, của “Như cánh vạc bay” hay của “Hạ trắng”…vì tôi cảm nhận được rằng những nắng đó, trong ca từ của anh, không thể và không bao giờ là nắng thực, mà chỉ là một thứ ánh sáng ảo huyền trong cõi mộng. Nắng chiêm bao!
“Từng người tình bỏ ta đi như những giòng sông nhỏ, ôi những giòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa”. Tôi dù chưa từng được nghe một lời thề hẹn, những vẫn thấy được bao mất mát ngậm ngùi, khi có những “dòng sông nhỏ” cứ trôi qua đời mình để rồi khuất chìm trong những bờ bến xa xôi.
“Môi nào hãy còn thơm cho ta phơi cuộc tình, tóc nào hãy còn xanh cho ta chút bình yên”. Thuở đó, còn bao mái tóc xanh và những nụ môi hồng, nhưng không cho tôi “chút bình yên” nào cả, mà chỉ đem lại bao nhiêu là hoang mang bối rối, bao nhiêu là cuống quít ngại ngần. Phương trời xưa sao lại có quá nhiều gió lạnh, khiến sương đêm cứ phủ ướt bờ vai của kẻ lang thang trong những đêm rất khuya của một thị trấn buồn tênh, để đi tìm hoài một bóng hình đã biền biệt, như ”bóng chim cuối đèo”. “Đôi khi nắng qua phố xưa làm tôi nhớ, đôi khi có mưa giữa khuya, hồn tôi bỗng vu vơ”. Con phố xưa vẫn còn đó. Như hình tượng cây đa bến đò trong tiếng ca dao. “Đôi khi nắng qua phố xưa làm tôi nhớ, đôi khi bỗng nghe bước chân về đâu đó của em”. Bước chân nào? Không có bước chân nào ngoài chính tiếng bước chân tôi cứ từng đêm lại vang âm thầm trên những con phố nhỏ. Và những bước chân đó cứ vang vọng mãi trong tôi như những kỷ niệm dấu yêu của một thời trẻ dại.
“Đôi khi ta lắng nghe ta, nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá, hồn ta gió cát phù du bay về”. Gió khuya rất lạnh, làm giá buốt thêm nỗi cô đơn. Thuở vào đời, khi yêu một người, dường như tôi không thật sự yêu một con người, mà yêu hình bóng do chính tôi tạo ra về người đó. Tôi chỉ muốn, qua tình yêu, chạy trốn nỗi cô đơn của thời mới lớn và đi tìm sự thăng hoa để hướng trái tim của tuổi thanh xuân về với Vô Biên và Tuyệt Đích. Em là biểu tượng của ngàn đời xa vắng, em là tiếng ca đã biền biệt muôn trùng, để rồi hóa thân thành khói thành mây, thành hòn đá cuội nằm lẻ loi bên dòng sông vu vơ chảy, rồi hóa thành “sợi tóc nào bay trong trí nhớ nhỏ nhoi”. Đã có những sợi tóc nào bay trong trí nhớ mơ hồ? Và tôi đã tìm được điều này trong ca từ của anh. “Sợi tóc em bồng, trôi nhanh trôi nhanh, ôi giòng nước hiền, ngày chủ nhật buồn …”. Tất cả đều bồng bềnh hư ảo, như giai điệu của một phúc âm buồn. “Gọi nắng cho tóc em dài đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn lòng hoa bướm say …. Gọi em cho nắng chết trên sông dài”. Con sông quê tôi cũng dài lắm, và đã bao chiều tôi say đắm ngồi nhìn bóng chiều chết lịm trên những hàng sưa để nghe ”Xin đứng yên trong chiều lao xao từng bóng hoàng hôn, Xin đứng yên trong chiều treo tình trên chiếc đinh không ….”. Ánh chiều tím thoi thóp trên những cánh sưa vàng, trông mênh mông và ảo huyền như tình yêu của tuổi trẻ. Tình yêu, trong âm nhạc anh, đã biến cõi đời thành một cõi mộng huyền ảo, mà mãi đến hôm nay, tôi vẫn đi với mái tóc nhuốm sương mà vẫn không tìm được bờ bến nơi đâu.
Một đêm, lang thang trên phố khuya về, tôi hát nhạc anh để tìm Tình Yêu trong tiếng Guitar, và ghi vào nhật ký ở tuổi 16 : “Không có tình yêu, cuộc đời bỗng như sa mạc và ta như tên du tử run sợ trước những cơn thịnh nộ của đất trời”! Ơi, thương và nhớ biết bao nhiêu là cái tuổi 16 thần tiên vụng dại. Rồi nằm mộng thấy mình như tan đi trong cõi hư không ngập tràn ánh nắng. Nắng đó không “hồng như đôi môi em”, màu nắng đó cũng không phải là “màu mắt em” mà là một màu nắng rất lung linh huyền ảo. Và từ đó, tôi nghe đời mình như cứ mãi trôi đi trong màu nắng ấy, một màu nắng rất dịu dàng và rất buồn giữa một cõi chiêm bao!

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

HUỲNH NGỌC CHIẾN

Trước 1975, là một bác sĩ nhi khoa, nhưng anh vẫn nổi tiếng với tư cách là thi sĩ : nhà thơ Đỗ Nghê. Những thập niên sau 1975, anh lại được biết đến như vị thầy của nhiều bác sĩ. Nhưng giờ đây, khi nhắc đến tên anh thì một Đỗ Hồng Ngọc thuộc loại “trưởng lão” của y khoa miền Nam dường như có phần lu mờ dưới một Đỗ Hồng Ngọc – nhà nghiên cứu Phật giáo, đặc biệt là Thiền! Tạo vật hà như đồng tử hý!
Không biết vào thời điểm nào và do cơ duyên nào mà anh gác việc chẩn đoán thân bệnh của nhi đồng để chuyển sang chẩn đoán tâm bệnh cho thiên hạ. Từ y đàn anh bước sang văn đàn nhẹ nhàng như môn Yến Song Phi của Hồng Thất Công. Những bài viết của anh nhanh chóng nổi tiếng trên văn đàn, và ảnh hưởng của chúng cũng nhanh chóng lan rộng khiến người đọc quên đi mất một nhà thơ Đỗ Nghê hay một bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Chưa bao giờ câu “le style, c’est homme” lại đúng như thế đối với Đỗ Hồng Ngọc. Với anh, văn đúng là người. Ở ngoài đời, anh trầm ổn túc mục, nhưng lại bình dị, giống như văn anh vậy. Loại văn chương đó luôn mang hơi thở nhẹ nhàng của cuộc sống, tức cái “bình thường tâm thị đạo” của thiền sư Nam Tuyền, mà anh luôn muôn biểu đạt trong các tác phẩm của mình. Tất cả những gì anh viết đều là những điều sở đắc từ trải nghiệm của bản thân nên luôn có Cái Riêng của một Đỗ Hồng Ngọc. Mà trong văn chương nghệ thuật thì chính Cái Riêng đó mới thực sự giá trị, và là cái làm cho một tác giả luôn được là mình. Nói một cách khệnh khạng thì đó là cái “sở dĩ vi” của một tác giả.
Tôi với anh có chút duyên thơ ca. Nên mỗi khi đọc xong mỗi cuốn sách anh tặng, hoặc đọc một bài viết nào đó của anh là tôi hay làm thơ để đùa. Sau khi đọc cuốn Gươm Báu Trao Tay bàn về Kinh Kim Cương của anh, tôi gởi hai bài để đùa anh:
Tưởng đã ưng vô sở trụ,
Rong chơi tâm ý siêu nhiên,
Em phô xác thân tứ đại,
Hoang mang rớt cả gậy Thiền.

*
Mấy pho ngữ lục Thiền tông,
Đọc mòn con mắt cũng không thấy Thiền.
Nhìn em xỏa tóc bên hiên,
Khiến ta đại ngộ, hoát nhiên, mới kỳ!
Tôi bảo có thể anh đã “ưng vô sở trụ”, có thể tâm ý đã du hý phiêu bồng, còn tôi thì đành chấp nhận “hoang mang rớt cả gậy Thiền.” Anh đọc xong, cười tôi ba lơn.
Khi nhận được cuốn “Nghĩ Từ Trái Tim” của anh tặng, tôi viết một bài đăng báo Giác Ngộ, chọc anh là “một người không xuất thân từ chốn thiền môn, quanh năm không hề rau dưa kinh kệ, mà lại ‘dám’ theo chân chư Tổ để khám phá thêm những ẩn ngữ của Tâm kinh!”, rồi làm câu thơ đùa :
Chắc chi thiên hạ đời nay,
Mà đem Bát Nhã làm rầy Tâm Kinh?
Đọc bài Hãy Từ Bi Với Chính Mình của anh, tôi lại làm thơ đùa :
Anh từ bi với chính mình,
Em từ bi với cuộc tình ngẫu nhiên.
Anh bày thiên hạ tu thiền,
Em vui với cõi thiền quyên phiêu bồng.
Dám xin hỏi bác Đỗ Hồng
Ngọc! Thiền so với má hồng đâu hơn?
Anh làm hai câu trả lời :
Bởi anh không được như em,
Nên lòng ấm ức muộn phiền bấy lâu!
Có lẽ đó là một trong những lần hiếm hoi mà anh làm thơ đùa. Anh ít đùa bởi có lẽ do anh mắc một “khuyết điểm” trầm trọng là không hề biết nhậu! Uống cà phê với anh giống như ngồi bàn Dịch Cân Kinh với Phương Chứng đại sư của Tiếu Ngạo Giang Hồ! Bởi vậy, chắc suốt đời, tôi không thể nào có dịp cùng anh Lai Rai Chén Rượu Giang Hồ.
Hôm 05-07-2020, anh ra mắt cuốn Để Làm Gì tại văn phòng nhà xuất bản Tổng Hợp TP.HCM, tôi và một người bạn có đến dự. Khi được mời phát biểu, tôi toan nhắc lại câu : “Dám xin hỏi bác Đỗ Hồng, Ngọc! Thiền so với má hồng đâu hơn?” để “làm khó” anh chơi, nhưng lại thôi, vì nghĩ đây là vấn đề “lưu hành nội bộ”, nên chuyển qua đề tài khác!
Và có lẽ cho đến tận bữa nay, anh vẫn còn nợ tôi một câu trả lời cho thiệt chuẩn. Mà câu trả lời đó phải là một bài thơ của nhà thơ Đỗ Nghê viết giùm cho nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Ngọc!

Huỳnh Ngọc Chiến
21.7.2020

 

TẢN MẠN CÙNG “NGHĨ TỪ TRÁI TIM”
VỚI ĐỖ HỒNG NGỌC

HUỲNH NGỌC CHIẾN

Thật khó lòng tưởng tượng khối năng lượng khổng lồ được giải phóng từ hai quả bom nguyên tử kinh người tại Hiroshima và Nagasaki lại bắt nguồn từ công thức vật lý chỉ có vỏn vẹn năm ký tự E=mc2. Cũng thế, thật khó lòng tưởng tượng toàn bộ khối kinh sách đồ sộ trong hệ tư tưởng Bát nhã Phật giáo, nói về trí huệ siêu việt thượng thừa thù thắng làm kinh động tất cả tam thiên đại thiên thế giới, lại bắt nguồn và được khoáng diễn từ một chữ KHÔNG, rồi lại được cô đọng trong bài Tâm kinh chỉ vỏn vẹn có 260 chữ. Đủ thấy bản thân mỗi chữ trong Tâm kinh đều hàm ẩn một dạng năng lượng khổng lồ E=mc2 như thế nào rồi! Diệu dụng của chữ KHÔNG thật vô bờ bến.
“Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc; sắc tức thị Không, Không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp Không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố Không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh-tận, nãi chí vô lão-tử, diệc vô lão-tử-tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc”.
Toàn bộ thế giới vật lý và tâm lý với lục căn, lục trần, lục thức, cho đến thuyết Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên nền tảng của Phật giáo đều bị quét sạch trong cơn lốc phủ định toàn triệt của hai chữ BẤT và VÔ. Bởi vậy, không ngạc nhiên gì khi chư Phật không ngớt khuyến cáo thính chúng đừng sợ hãi khi nghe thuyết giảng kinh Bát Nhã. Không kinh hãi sao được khi mà mọi chỗ an tâm lập mệnh, mọi sở trú của con người đều bị phủ định vì “Tứ đại giai không, ngũ uẩn phi hữu” và con người dễ có cảm giác như bị rơi tõm vào cõi hư không mù mịt giữa cõi Ta bà?
Thế nhưng, phủ định toàn triệt là thể cách vi diệu để đưa đến sự khẳng định toàn triệt trong cảnh giới tự do tuyệt đối. Tuy Chân Không mà lại là Diệu Hữu. Có lẽ để hậu thế dễ tiếp cận hơn với tư tưởng KHÔNG, nên toàn bộ kho tàng kinh sách Bát Nha khổng lồ, đặc biệt là 600 cuốn Đại Bát Nhã, đã được cô đọng trong bản Tâm kinh. Chung quanh Tâm kinh vẫn luôn là những huyền thoại với những năng lực siêu nhiên cùng với bước chân hành hương của nhà chiêm bái vĩ đại Huyền Trang, hiểu theo nghĩa nó là “đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư”. Tâm kinh vẫn mãi mãi là một huyền án đối với những ai quan tâm đến Phật học và luôn chờ những lời chú sớ. Trong tác phẩm “Thiếu Thất lục môn”, mà theo tương truyền là của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, có chú giải về bản Tâm kinh này, với cửa thứ nhất là “Tâm kinh tụng”. Muốn vào được động Thiếu Thất phải lọt qua cửa ải Tâm kinh. Song bản chú giải “Tâm kinh tụng” theo kiểu bình tụng trong “Thiếu Thất lục môn” cũng khó hiểu như nguyên bản cần được chú giải bởi vì chư Tổ giải minh Tâm kinh từ cảnh giới giải thoát bất khả tư nghì của mình, khiến những độc giả sơ cơ như chúng ta khó lòng tiếp cận. Đó là cách đem ẩn ngữ trùm thêm lên ẩn ngữ, khiến cho nó càng “huyền chi hựu huyền”, nên xưa nay nhiều Phật tử thường chỉ học thuộc lòng suông Tâm kinh với thái độ “kính nhi viễn chi ”. Nói đúng ra là chư Tổ không muốn phu diễn (vulgariser) nội dung Tâm kinh bằng ngôn ngữ quy ước trong thế giới khái niệm. Các ngài không chú giải Tâm kinh mà chỉ ghi lại kinh nghiệm thực chứng của mình từ Tâm kinh bằng những lời bình tụng, cũng như người xưa thích “chú giải” một bài thơ bằng cách làm một bài thơ khác! Đây là thể cách thường thấy trong lịch sử văn hóa phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc.
Chỉ khi nào đạt đến cảnh giới của chư Tổ, chúng ta mới mong chia sẻ kinh nghiệm của các ngài qua các lời bình tụng đó, vì trong thực tế lắm khi do sự bất toàn của ngôn ngữ quy ước, lời bình chú dễ vướng vào vấn nạn “démystifier pour mieux mystifier” , theo Dominique Duvivier, nghĩa là muốn giải thích rõ ràng một sự việc thì ta lại càng làm cho nó trở nên khó hiểu. Theo cách nói của ngôn ngữ Thiền tông, đó là “Tuyết thượng gia sương” (Trên tuyết lạnh lại đổ thêm sương).
Trong giới Thiền tông, dường như chỉ có Thiền sư Động Sơn Lương Giới, khai tổ tông Tào Động, mới đặt ra nghi vấn về nội dung Tâm kinh. Ngữ lục Thiền tông ghi lại rằng thuở nhỏ, sư theo thầy tụng Tâm kinh đến câu “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ”, sư chợt lấy tay sờ lên mặt mà hỏi thầy:
– Con có đầy đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, cớ sao trong kinh nói là không?
Vị bổn sư lấy làm kinh ngạc, bảo:
– Ta chẳng phải thầy của ngươi.
Và giới thiệu sư đến núi Ngũ Tiết làm lễ xuất gia với Thiền sư Linh Mặc.
Câu hỏi của Thiền sư Lương Giới là cách trì tụng Tâm kinh đúng nghĩa, vì sư không muốn nắm bắt huyền nghĩa Tâm kinh bằng khái niệm. Hôm nay, có một người không xuất thân từ chốn thiền môn, quanh năm không hề rau dưa kinh kệ, mà lại “dám” theo chân chư Tổ để khám phá thêm những ẩn ngữ của Tâm kinh. Đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với tác phẩm “Nghĩ từ trái tim” qua lời tự bạch:
“Tác giả viết cuốn này là để tự chữa bệnh cho mình và cũng giúp cho vài bạn bè trang lứa, đồng bệnh tương lân. Cái nhìn về Tâm kinh trong Nghĩ từ trái tim là cái nhìn của một người thầy thuốc, một bác sĩ, có thể rất khác với những người khác và mong được chia sẻ” (Lời cuối sách).
Có lẽ nhờ vậy mà người đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi những suy nghĩ nhẹ nhàng không nặng về học thuật. Tâm kinh, qua cái nhìn của một thầy thuốc với những kinh nghiệm hành trì thực sự, bỗng nhiên trở nên nhẹ nhàng dễ hiểu. Nó hòa nhập và mang hơi thở bình dị của cuộc sống đời thường một cách thật dễ dàng. Theo lời tâm sự trong sách, tác giả đã “ngộ” ra Tâm kinh sau một cơn đau thập tử nhất sinh. Do thân bệnh mà thấy được tâm bệnh. Nhờ chữa bệnh của thân mà chữa luôn được bệnh của tâm. Quả là một cơ duyên hy hữu để thể nghiệm được cảnh giới “Tuyệt hậu tái tô” trong cõi “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan phùng”. Tôi cảm nhận được rất rõ điều này khi đã một lần tìm về cõi Sinh từ cõi Tử. Lúc đó, chỉ có những gì giúp ta một mình đối diện với cái chết bằng tinh thần vô úy mới thực sự có ý nghĩa, ngoài ra ta sẽ thấy tất cả mọi thứ trên đời đều vô nghĩa và phù phiếm. Tâm kinh có lẽ là một hành trang cần có cho chúng ta trên đường về cõi Chết, một khi ta cảm nhận được rằng “vô lão-tử diệc vô lão-tử-tận”. Tôi tin rằng tác giả “Nghĩ từ trái tim” phải có những kinh nghiệm nhất định khi trì tụng Tâm kinh mới có thể viết được những trang sách bình dị mà sâu sắc đó.
“Tâm kinh ở đây là một loại” chân kinh” cần phải được rèn luyện, thực tập, thực hành, thực chứng… chớ không lý thuyết suông, không để học hỏi tụng niệm thuộc lòng…” (tr.19).
Mọi thứ văn chương biên khảo với tất cả các ngôn ngữ quy ước đều phù phiếm và bất lực, một khi nó không dựa trên kinh nghiệm thực. Huống gì là lời bình giải cho bản Tâm kinh. Lúc đó kiến thức sẽ nhường bước cho kinh nghiệm và sự hành trì. Tôi ghi nhận điều này qua bài viết “Ngã ba ngôn ngữ”, và biết bài viết của chính mình vẫn chứa quá nhiều yếu tố bất toàn về ngôn ngữ, nên đã có lần nói với anh: “Có lẽ mọi ngôn ngữ quy ước đều bế tắc. Có khi viết nghiêm túc một cách cà rỡn như Bùi Giáng hoặc viết nhẹ nhàng như anh mà lại hóa hay”. Nghĩa là cứ viết bằng sự cảm nhận những điều tưởng chừng huyền mật từ hơi thở bình dị của cuộc sống đời thường. Tác giả Đỗ Hồng Ngọc phần nào đã làm được điều này, theo cách của riêng anh.
Đọc Tâm kinh, “hành thâm Bát nhã” suy cho cùng cũng chỉ là cách học tập để an trú trong cõi đời bằng một thể cách khác. Cực lạc cũng là đây mà A-tỳ-địa-ngục cũng chính là đây. Thử hỏi trong đời có gì xấu xí bằng hình ảnh ngọ ngoạy của con sâu, và có gì đẹp bằng hình ảnh phất phới bay của con bướm màu sặc sỡ? Nhưng hai con chỉ là một từ trong bản chất. Đó là điều huyền mật nhất giữa trần gian. Sinh tử hòa nhập với Niết bàn, tội lỗi trộn lẫn với thanh cao, giác ngộ ẩn tàng trong vô minh, bóng tối chan hòa cùng ánh sáng, tất cả đều chỉ là một. Đáo bỉ ngạn là vượt qua sông để đến với bờ bến bên kia. Bên kia là Bồ đề, là giác ngộ. Nhưng đến bờ bến bên kia là để trở lại bên này, và:
“… làm cách nào thực hiện được Tâm kinh trong đời sống hàng ngày của một người bình thường, giúp họ thay đổi thái độ, có cái nhìn mới mẻ về cuộc sống, về cõi người, về vũ trụ và nhờ đó thấy cuộc sống đẹp hơn, quý giá hơn, sống có trách nhiệm hơn với thiên nhiên, với đời, với người, với bản thân…; làm việc hiệu quả và năng suất cao hơn, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi thành viên… (tr.34-35)”.
Cuốn “Nghĩ từ trái tim” được tái bản đến lần thứ tám, một điều cực kỳ hiếm hoi đối với một cuốn sách dạng biên khảo, khi mà cái học thực dụng thô thiển đã biến sự đơn bạc về tình cảm, sự hời hợt trong tư duy trở thành một nét đặc trưng đau xót trong xã hội hiện nay. Nhưng khi đọc xong thì tôi hiểu. Văn chương thực chưa chắc đã hay, nhưng văn chương muốn hay thì phải thực. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không suy nghĩ từ khối óc mà “nghĩ từ trái tim”. Tất cả những gì anh viết đều là những điều cảm nhận từ kinh nghiệm hành trì của bản thân, cũng như từ những suy tư bình dị và chân thành của trái tim. Mà những gì phát xuất từ trái tim chân thực đều dễ dàng đi vào tận trong sâu thẳm lòng người.

Huỳnh Ngọc Chiến
Nguồn: Trang Nhà Huỳnh Ngọc Chiến

 

MỘT CHÚT LÁ RƠI

HUỲNH NGỌC CHIẾN

Từng ngày, từng ngày qua, chúng ta như một lữ khách đi trong cõi đời, thỉnh thoảng ghi vội vàng và vắn tắt những điều nho nhỏ và bình dị giữa cuộc sống : một đứa bé chào đời, một cuộc gặp gỡ tình cờ, một chiếc lá rơi, một cuộc chia ly, một nỗi buồn bất chợt. … Ghi lại như một một vài ký chú nho nhỏ trong một trang nhật ký. Như một dấu mốc vu vơ nào đó trên con đường đời, rất dài mà cũng có thể là rất ngắn. Và những dòng chữ không cần dụng công đó –ngay trong cả những dòng thơ ghi lại những điều thương nhớ ngậm ngùi – lại vang lên giai điệu nhẹ nhàng của thơ ca, nhẹ nhàng như hơi thở, vì nó mang rất nhiều hơi thở của cuộc sống.
Đọc tập thơ “Thư cho bé sơ sinh” của bác sĩ Đỗ HồngNgọc, tôi có cảm giác đó. Như đọc một tập nhật ký bằng thơ, qua lối viết bình dị với những con chữ rơi nhẹ nhàng. Như bông tuyết:
Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố Tàu

Gió co
Ro lạnh
Phố đìu hiu
Theo (Tuyết)
Đó là tuyết rơi trong đôi mắt của một người muốn mơ màng nhìn đời qua một trang cổ tích:
Em đi lạc
Giữa đường quen
Còn anh
Đi lạc
Giữa
Ngàn năm
Xưa …(Đi lạc)
Tuyết rơi hay lá rơi?
Lá chín vàng
Lá rụng
Về cội

Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh …(Lá)
Nhưng những vần thơ anh viết cho đứa con gái đã nằm xuống đã khiến tim tôi nghe đau nhói :
Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi

Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi …
Biết bao nhiêu ngậm ngùi trong những câu thơ đó? Chỉ một mình con mãi mãi tuổi đôi mươi! Một phần đời của người cha đã chôn vùi trong lòng đất, và trong nước mắt, nấm mồ con còn tươi mãi tuổi thanh xuân.
Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Nỗi mất!
Anh có làm thơ đâu? Anh đang ngồi tâm sự. Với chính mình, với đứa có gái yêu muôn đời vẫn “mãi mãi tuổi đôi mươi! Những vần thơ bình dị, quá đỗi bình dị kia nghe mênh mang một nỗi đau rưng rức. Dường như chính những điều bình dị nhất của thơ lại dẫn con người đi vào những cảm xúc mênh mông nhất. Nhưng những nỗi đau, những sự mất mát trong đời có khi là cơ duyên để ta hiểu cuộc đời hơn. Sau một lần nằm bệnh, có lẽ anh đã nhận thấy cuộc đời mang một gương mặt khác, nghe ra cuộc đời đang vang một giai điệu khác, và chợt:
Thấy ai cũng tội nghiệp
Như ta
Đã bao lâu ta không sống với mình
Ta có ta mà quên ta phứt
(Xin cám ơn, cám ơn)
Cơn bệnh, nỗi đau sẽ đến và đi. Như giấc mơ. Để khi tỉnh lại sẽ thấy đời tươi hơn, lá thắm hơn, con người đáng yêu hơn. Để rồi nguyện sẽ :
Chắt ra cho hết
Giọt hơi cuối cùng
Thả mình như lá
Rơi vào hư không
Tràn vào khắp ngã
Đất trời mênh mông
Nhẹ như không có
Có mà như không!
(Có không)
Vì đã hiểu ra rằng :
Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
(Thở)
Chiếc lá kia sẽ rụng. Hơi thở ta sẽ tàn. Cửa tử sẽ khép lại, chôn dấu tất cả những nỗi buồn, xóa đi dấu vết một quãng đời. Nhưng cửa sinh sẽ mở một chân trời khác trong tiếng khóc chào đời :
Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người
(Thư cho bé sơ sinh)
Anh hay tôi, tất cả chúng ta rồi sẽ phải lìa bỏ cuộc chơi cùng tất cả những buồn vui cay đắng, để người khác nhập cuộc theo dòng chảy bất tận của cuộc sống vô tận vô biên. Và có lẽ khi “cùng chung số phận con người” thì hãy nhìn cuộc đời như chiếc lá rơi lặng lẽ trên dòng nước xanh rêu, trước một gian nhà thủy tạ, bên tách cà phê, buổi sáng!
Sài Gòn 2007
Tái bút : Bs Đỗ Hồng Ngọc tặng tôi mấy tập thơ, khi ngồi uống cà phê cùng anh trong gian nhà thủy tạ của quán Đông Hồ, cuối đường Cao Thắng, Một buổi chiều anh alo , cười, bảo : “HNC đọc thấy thích thì viết vài lời đăng báo cho vui.”. Ban đầu, tôi lưỡng lự vì quá bận nên chưa có thời giờ đọc kỹ. Nửa đêm, mở ra đọc, đến bài thơ anh viết cho đưa con gái đã mất :
Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi …
Tôi thấy ứa nước mắt vì mình cũng có hai đứa con gái, nên cảm nhận được nỗi đau đớn đó. Bèn thức khuya viết bài này, Sáng hôm sau gởi đăng báo Văn Hóa Phật giáo.

(04.2020)

 

TRẦN XUÂN KIÊM

HUỲNH NGỌC CHIẾN

Anh là một thi sĩ tài hoa mà uyên bác, thuộc nòi Tô Mạn Thù của miền Nam. Không biết trong đời anh có một Tuyết Mai hay một Tĩnh Tử nào như Tô Mạn Thù hay không để anh có thể viết nên những dòng thơ cháy bỏng tâm can.
Về thăm nhà cũ ở Blao
Đêm qua mưa lũ ta về
Đứng im như tượng bên hè nhà xưa
Một hồn rũ rượi trong mưa
Nhớ ơi ngọc trắng ngày chưa cát lầm
Cỏ cây vườn cũ lạnh căm
Quỳ hôn còn thấy xa xăm dáng người
Bài thơ Thuở xa người của anh cũng quá nổi tiếng, và đã được Bùi trung niên ngợi ca hết mực, nên tôi chẳng thể nói được gì hơn, chỉ biết trích ra đây.
Thuở xa người
Một sớm người đi theo mây bay,
Ta say nằm lạnh suốt đêm dài.
Tỉnh ra thấy cụm hoa đầu ngõ,
Ta vẫn còn hay nỗi tàn phai?

Nửa đêm tỉnh dậy thấy sao rơi,
Ta nghĩ người đang ở cuối trời.
Ơi những đám mây còn lãng tử,
Xin để hồn chùng trong đêm khơi.

Ôi má người từ nay thôi hồng,
Gió cũng trầm thương tóc thôi hong.
Mai sau thoảng nhớ mây vườn cũ,
Ta yêu người bằng mối tình không.
Đôi lúc tôi muốn phổ nhạc hai bài thơ này, nhưng mỗi lần uống rượu say, cầm cây guitar, đọc lên lại thấy ngậm ngùi khôn tả, đành phải để tơ chùng theo “hồn chùng trong đêm khơi.”
Bản dịch Zarathustra đã nói như thế của anh từ năm 1972 đến nay vẫn như một tòa cổ lâu sừng sững giữa nền văn học miền Nam. Nó khơi dẫn được những dòng ẩn lưu trong tiếng Đức, giúp người đọc hồn nhiên thể hội được mạch ngầm thơ mộng bàng bạc trong ngôn ngữ của Nietzsche.
Có một lần tôi cùng anh và các anh Lê Nguyên Đại, Nguyễn Khắc Nhượng đi nhậu ở một quán trên đường Nguyễn Thông, quận 3. Gần tàn, bỗng cô chủ quán đến tại bàn góp vui, hát bản Tình Anh Bán Chiếu. Tiếng hát của cô chủ quán đêm hôm đó nghe sao buồn như tiếng đàn tỳ bà trên bên Tầm Dương. Hôm đó không hiểu sao tôi lại ngẫu hứng đệm guitar theo được để cô hát trọn bài. Hát xong, tự nhiên cô ngồi khóc. Tiếng khóc không lớn nhưng nghe não nùng hơn tiếng đàn “trùng khai yến” của người thương phụ thổn thức cùng vị quan Tư Mã Giang Châu. Tiếng khóc như muốn thố lộ hết những nỗi niềm ai oán. Tôi nghe mà lặng cả người. Hôm sau, anh Kiêm sáng tác bài thơ Ca nhân xuất thần.
Ca nhân
Một chàng tóc trắng bó đuôi ngựa
Hát Boléro, nhạc Trịnh, Phạm Duy
Một chàng râu đen ngồi im lìm
Mộ nàng thiếu nữ chôn trong tim

Một chàng mường tượng anh bán chiếu
Ngu ngơ ngốc nghếch tình đơn phương
Một chàng lầm lì ngồi nốc rượu
Chuyện tình thoang thoảng tựa làn hương

Ca nhân môi thắm thơm mùi cỏ
Ánh mắt thê lương thả giọng buồn
Tiếng đàn đau nhói theo lời hát
Miệng bỗng thèm nâng ly rượu suông

Quanh bàn là những tay bạt mạng
Chưa từng đặt bước đến phương Nam
Chỉ ta vài bận qua Phụng Hiệp
Theo bảy dòng kinh cuộn cát lầm

Lần trước nghe ca tình đứt ruột
Lần nầy môi ngọt thả lời đau
Trong những lòng ly nay đã cạn
Trùng trùng tâm sự của ngàn sau

Ca nhân, ca nhân, sao nàng khóc,
Tình anh bán chiếu có gì đâu?!
Hai chữ “ca nhân” nghe sao mà hay đến vậy? Chỉ hai chữ đó thôi cũng đủ làm bừng sáng những dòng đầu trong Gentajali của Tagore.
When thou commandest me to sing it seems that my heart would break with pride; and I look to thy face, and tears come to my eyes …
Khi người ban lệnh cho tôi ca hát, điều đó tựa hồ như khiến trái tôi như vỡ toang vì kiêu hãnh; tôi nhìn lên gương mặt người và những dòng lệ dâng trào lên đôi mắt. …
Cô chủ quán “ca nhân” với điệu buồn Tình Anh Bán Chiếu đã ban lệnh cho nhà thơ cất tiếng khiến lòng anh như vỡ toang vì kiêu hãnh! Những dòng lệ không trào lên mắt anh mà dâng trào trong đôi mắt của ca nhân. Như hoàng hậu Gertrude đem những đóa hoa xinh đẹp rắc lên nấm mộ của nàng Ophelia kiều diễm, Sweets to sweet!, nhà thơ Trần Xuân Kiêm cũng muốn làm “ca nhân” đem những lời thơ tuyệt diễm tặng cho một “ca nhân” ai kia với những giọt nước mắt trĩu nặng tâm tư trong cõi phong trần.
Lần trước nghe ca, tình đứt ruột
Lần nầy môi ngọt thả lời đau
Trong những lòng ly nay đã cạn
Trùng trùng tâm sự của ngàn sau

Ca nhân, ca nhân, sao nàng khóc,
Tình anh bán chiếu có gì đâu?!

….
Ôi má người từ nay thôi hồng,
Gió cũng trầm hương tóc thôi hong.
Mai sau thoảng nhớ mây vườn cũ,
Ta yêu người bằng mối tình không.
….
Một hồn rũ rượi trong mưa
Nhớ ơi ngọc trắng ngày chưa cát lầm
Dường như tôi trích dẫn lộn lời ? Không hề gì. Ta vẫn như nghe ra một dòng ẩn lưu ngầm lưu chuyển trong mạch thơ để mang tâm tình nối kết những bờ bến xa xôi.
Có lần tôi đi chơi bằng ghe nhỏ trên con sông ở một vùng quê hẻo lánh miền Tây Nam bộ, nghe người bạn hát cải lương có câu : “Má ơi đừng gã con xa, Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.”, tự nhiên thấy thấm thía hai chữ “sinh ly” và nghe trong lòng chua xót rưng rưng. Ai thường chê cải lương là “sến”, là … “cải lương”, xin hãy một lần về miền Tây, ngồi trên chiếc ghe trôi theo con sông nhỏ ở một vùng quê, nghe người dân miền Tây uống rượu gạo, hát cải lương, nghe tiếng chim bìm bịp kêu ven sông thì sẽ hiểu thế nào là nỗi buồn sông nước, thấm thía thế nào là “trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.” Hôm đó, nghe lại bản Tình Anh Bán Chiếu , tôi tưởng chừng như còn thả hồn trôi theo chiếc ghe nhỏ trên sông nước. Đến bây giờ, đã hơn 4 năm qua, cảm giác tiếng đàn, tiếng hát đêm hôm đó vẫn còn mãi trong tôi. Tình anh bán chiếu giờ về đâu? Ta yêu người bằng mối tình không.
Năm 1972, nhà xuất bản An Tiêm của Thầy Thanh Tuệ xuất bản tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, do cố thi sĩ Quách Tấn dịch, với nhan đề Tố Như Thi. Bìa do anh Thi Vũ trình bày, có hình một bàn tay phụ nữ trắng ngần tuyệt đẹp, khiến người đọc không khỏi liên tưởng đến bàn tay kỳ lạ trong tác phẩm Tố Thủ Kiếp của Ngọa Long Sinh. Gần đây, anh Trần Xuân Kiêm mới cho tôi hay đó là bàn tay của ni cô Trí Hải, người đã đi vào thế giới thi ca của Bùi Giáng qua hình tượng “Mẫu thân Phùng Khánh”. Tôi bình sinh không có duyên để được gặp ni cô Trí Hải, nhưng qua thơ ca Bùi Trung niên và hình ảnh bàn tay, tôi hình dung được đó là một ni cô có dung nhan tuyệt tục, một Viên Tính của Hồ Phỉ hay một Alissa của Jerome. Chẳng trách họ Bùi suốt đời điên đảo thần hồn.
Tôi cảm hứng làm một bài thơ :
Kiến ni cô tố thủ,
Tâm ý hà mang mang.
Điên đảo vô sở trụ,
Hựu huống đối ngọc nhan!
見妮姑素手,
心意何茫茫。
顛倒無所住,
又況對玉顏。
Anh Kiêm đọc xong, bỡn: “Bài thơ này của Huỳnh Ngọc Chiến nên đem đốt vào hư không! Thiện tay! Thiện tai!”
Tôi không muốn đốt bài trên, mà muốn đốt bài Ca nhân của anh để thả bay bàng bạc trong tiếng khóc của một cô chủ quán xa lạ trong cõi người ta, và trên sông nước miền Nam giữa tiếng bìm bịp kêu chiều.
04.2020
(Mùa cô- vi)

 

04.2020

(Mùa cô- vi)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email