LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG
(Kết thúc mùa WORLD CUP 2014)
Kinh Xáng Bốn Tổng ngày 17 tháng 07 năm 2014
Cháu Thái Lý,
(…) Giờ trở lại với vùng kinh xáng Bốn Tổng của chú dưới này với vụ lúa Hè Thu thì đã cắt gặt xong khá lâu rồi, lúa năm nay cũng hơi trúng trúng , đổ đồng khoảng 50 giạ/một công tầm cắt. Thời buổi bây giờ người nhà quê làm ruộng hổng giống như hồi đời trước cháu à! Lúa làm có trúng đó, nhưng hổng có nhà nào ví bồ để dự phòng có lúa ăn mãn năm như thời của chú. Họ kêu công cắt xong, gom lúa bông, suốt ra hột còn tươi rói vậy rồi kêu lái tới cân ký tính tiền liền (…) Thôi thì sống vào thời nào thì mình cũng phải theo cách làm của thời ấy vậy! Chứ biết sao bây giờ!
Cháu Thái Lý,
Cùng với màu xanh của cánh đồng lúa mới xuống giống được vài tuần, chú bắt đầu đọc hai quyển sách của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gởi tặng do nhà văn Phạm Văn Nhàn hôm trước ghé qua kinh xáng chơi có trao lại. Đó là cuốn “Nhớ Đến Một Người” và “Thơ Đỗ Hồng Ngọc” (tức Đỗ Nghê) với tựa “Thư Cho Bé Sơ Sinh và Những Bài Thơ Khác”
Với cuốn sách thứ nhứt,“Nhớ Đến Một Người”, là một tập hợp các bài viết về 42 nhân vật trong giới văn nhân nghệ sĩ mà tác giả có dịp gặp hoặc giao tiếp rất thân thiết. Khởi đầu với nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê và kết thúc với nhà văn, nhà báo Nguiễn Ngu Í, cũng là cậu của tác giả. Với 211 trang sách, qua cách dùng chữ giản dị mà ân cần, lời văn gọn mà trong sáng, đôi chỗ tác giả làm cho người đọc không thể không cười khi ông chấm phá vài nét dí dỏm như làm cho câu văn có duyên thêm cùng với tấm lòng “xao xuyến” khi nhắc qua từng người, tác giả đã giới thiệu cùng bạn đọc về những nét đặc sắc của từng nhân vật mà tác giả không thể nào quên.
Đặc biệt, trong tập sách này của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, chú để ý hai bài viết về nhà văn Nguyễn Hiến Lê vì chú rất mê đọc văn của Nguyễn Hiến Lê từ hồi còn đi học tới giờ; thứ đến là bài viết về nhà văn, nhà báo Nguiễn Ngu Í vì chú mê cách hỏi trong cuốn “Sống và Viết” của ông; và bài viết về nhà văn Võ Hồng. Sở dĩ chú nói vậy là vì hồi còn trẻ, có bận chú phải lưu lạc ra tới ngoài Nha Trang, chú có biết nhà văn Võ Hồng và có ghé thăm ông mấy lần. Mỗi lần như vậy ông cứ cầm ở lại nói chuyện hoài không muốn mình về. Có lẽ vì ông sống một mình ít người nói chuyện và phần khác vì hồi đó chú và các bạn của chú rất mê văn của Võ Hồng. Ở Nha Trang hồi mấy năm 1970 có hai người nổi tiếng trên văn đàn, đó là nhà văn Võ Hồng và thi sĩ Quách Tấn. Thi sĩ Quách Tấn thì chú hổng quen nhưng chú rất mê mấy cuốn Nươc Non Bình Định, và Xứ Trầm Hương của ông và mãi khi về già mấy năm vừa qua chú lại được đọc những lá thư trao đổi giữa thi sĩ Quách Tấn với nhà văn Nguyễn Hiến Lê với tựa sách “Những bức thư đầm ấm”, do Quách Giao là con trai của thi sĩ Quách Tấn sưu tầm.
Đó là nói về cuốn sách trên, một cuốn sách rất vui khi tác giả viết về người này người khác, còn cuốn thơ của thi sĩ Đỗ Nghê (bút hiệu của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khi làm thơ), thì dường như ngược lại với niềm vui vừa rồi. Ở đó, có lẽ vì từ xưa đến nay thơ luôn luôn đi kèm với nỗi buồn. Không phải vậy sao những Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, rồi truyện Kiều và nhiều bài thơ như Hai Sắc Hoa Tigôn, Màu Tím Hoa Sim… đều chan chứa những nỗi buồn và nó âm thầm đi vào hồn nhiều người qua nhiều thế hệ trải dài chưa biết bao giờ mới dứt. Thơ của nhà thơ Đỗ Nghê cũng không ra ngoài cái ước lệ ấy. Ngay như bài thơ đầu “Thư cho bé sơ sinh” mà tác giả lấy tên làm tựa sách , theo lẽ là một bài thơ vui, nhưng ở đó cũng có những câu báo trước những nỗi buồn. Chẳng hạn như:
“Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nhe em”
…
“Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen”
…
“Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.”
…
“Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu.”
(Thư cho bé sơ sinh, Từ Dũ, 1965)
Rồi đến bài “Buổi tiễn đưa” tác giả đề tặng nhà văn Trần Hoài Thư lại là một nỗi buồn đưa tiễn thời chiến tranh giữa mùa Hè đỏ lửa 1972:
“Ta nói gì hình như chưa nói
Những dặn dò những hứa hẹn bâng quơ
Rồi người bước đường hoang lạnh quá
Ta đứng nhìn nghe ngày tháng đong đưa.”
(1972)
Cháu Thái Lý,
Là người đọc sách nhiều, chắc cháu cũng đồng ý với chú là nhà thơ nào cũng lãng mạn, cũng có chút hồn nghệ sĩ, không nhiều thì ít, phải hông cháu? Nhưng với nhà thơ Đỗ Nghê cái lãng mạn có chừng mực và cái hồn nghệ sĩ ở ông có lẽ cũng bị giới hạn bởi cái nghề bác sĩ mà ông đã chọn cho mình. Thế nên, thơ của tác giả không quá ướt át, cũng không quá bộc trực khô cằn mà ở đó chan chứa biết bao những nỗi niềm về người, về mình qua những vần thơ thật đơn giản mà lắng đọng, những chữ dùng không quá nặng hư từ mà hàm chứa biết bao điều, và đặc biệt bài thơ “Trái đất” tác giả chỉ dùng có sáu chữ mà nói lên được cái bao la của vũ trụ:
“Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày.”
(Trái đất, Boston 93)
Nhờ tác giả ghi “Boston, 93”, người đọc mới biết tác giả làm bài thơ ấy ở bên kia đại dương với đêm bên ấy thì là ngày bên này và chính tác giả là người trằn trọc giữa canh khuya không ngủ được có lẽ vì nhớ quê nhà. Có lẽ tâm cảm của tác giả là vậy, nhưng chúng ta đi xa thêm một chút nữa thì sẽ thấy vũ trụ này có thể chưa phải là vũ trụ khi thiếu vắng con người. Do đó “thức giấc” là một hiện hữu của con người và chính con người mới biết “giữa đêm” và “giữa ngày”. Thành ra, theo chú thì đây là bài thơ ngắn và lạ nhưng lại rất gần với tuổi già như chú.
Tập thơ dày 241 trang, chia làm bốn phần, phần nào cũng buồn nhưng có lẽ phần III là buốn nhứt khi tác giả viết về một dòng sông với tên gọi “La Ngà”. Ở đó người đọc bắt gặp nỗi lòng của người cha khi nhớ về đứa con mang tên dòng sông ấy. Chú không dám đọc hết các bài thơ trong phần này vì buồn quá là buồn, nhưng mình biết phải làm gì chia sẻ cùng tác giả đây và chỉ còn hy vọng thời gian rồi cũng qua nhanh để những vần thơ buồn tê tái ấy nhẹ dần trong ký ức …
Cháu Thái Lý thân mến,
Kết thúc một mùa World Cup 2014 với niềm vui của người thắng và nỗi buồn của những đội thua, chú tin rồi cũng qua mau như dòng thời gian qua nhanh vậy. Chú thấy câu thơ của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nói với bé sơ sinh vậy mà khớp với hoàn cảnh của các đội banh kỳ World Cup vừa rồi:
“Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em”
(…)
Thân mến,
Hai Trầu
Đỗ Hồng Ngọc “reply”: Rất cảm ơn anh Hai Trầu, mãn mùa World Cup rồi mới ung dung trở lại với “văn chương”. Tôi cũng mê đá banh như anh mà bây giờ người ta gọi là ăn bóng đá ngủ bóng đá. Cái khác là bây giờ tôi không còn ra sân hò hét nữa mà di chuyển sân banh về nhà. Sân banh của tôi giờ có máy lạnh, ngồi coi một mình, đá theo yêu cầu, tùy hứng của mình. Đang đá, tôi kêu ngưng, buồn ngủ rồi, họ ngưng. Sáng hôm sau, họ đá tiếp…
Tôi thấy tội nghiệp Brazil. Cũng tại ông trọng tài Nhựt bắt sai trái pénalty đầu tiên làm Brazil mang tiếng, từ đó họ xúm lại “tận diệt” Brazil! Anh coi, cầu thủ lên đầu gối làm gãy xương sống Neymar lại ở trong đội chơi đẹp, lãnh giải fair play! Lỗi Silva đáng lẽ phạt bên ngoài vòng cấm thì cho Robben đá phạt đền. Một trái việt vị thì cho thắng. Rồi một trái Oscar đáng được phạt đền thì lại bị thẻ vàng! Một trái thắng hợp lệ của Fred thì cho chơi bằng tay… Tóm lại Brazil bị trù! Chẳng qua cũng tại cái nghiệp! Nghĩ lại, mừng cho Neymar. Cả cái xứ Ba Tây đặt trách nhiệm lên lưng anh, nên anh đành phải gãy lưng thôi!
Với bóng đá hiện nay tôi thấy chỉ cần đá với thủ môn và dàn hậu vệ cũng đủ rồi. Tôi sợ “về lâu về dài” chỉ toàn robot đá banh! Họ huấn luyện cầu thủ như robot!
Cảm ơn anh đã phân tách bài “Trái đất” thiệt hay! Đúng vậy đó. “…nhưng chúng ta đi xa thêm một chút nữa thì sẽ thấy vũ trụ này có thể chưa phải là vũ trụ khi thiếu vắng con người. Do đó “thức giấc” là một hiện hữu của con người và chính con người mới biết “giữa đêm” và “giữa ngày”.
Cảm ơn anh Hai nhe.
(ĐHN)

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 18 tháng 7 năm 2014
Thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Đọc những nhận xét của Bác sĩ về Ba Tây, tui thấy quá xác đáng và đúng là “Brazil bị trù” và hay nhứt là câu: “Chẳng qua cũng tại cái nghiệp! Nghĩ lại, mừng cho Neymar. Cả cái xứ Ba Tây đặt trách nhiệm lên lưng anh, nên anh đành phải gãy lưng thôi!” Nhớ lại cú lên gối vào lưng của Neymar tui còn ớn thần hồn.
Giờ xin trở lại một chút về cuốn sách “Để nhớ một người”, tui thấy Bác sĩ rất thương mấy ông già Miền Nam như Trần Văn Khê, như Trang Thế Hy… Đặc biệt Bác sĩ có lối kết rất ngắn gọn mà mở ra nhiều hướng nhìn tùy thiện duyên của mỗi người đọc nhưng nói chung là rất hiền và sắc nét như người nhà quê thường sắc thang thuốc bắc : “sắc ba chén nước còn lại tám phân” vậy.
Xin cảm ơn Bác sĩ có lời khen ngợi và kính chúc bác sĩ luôn có nhiều sức khỏe, an vui và hạnh phúc.
Kính thư,
Hai Trầu
Xin ghi thêm ý kiến của Thái Lý trong thư hồi âm LTTKX của HT, có nhắc qua về cách viết của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc như sau:
(….)
“Nói về bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tiếc là cháu phải về Châu Đốc ngay, phải nhờ đứa em gửi sách cho chú nên không gặp được. Cháu có đọc một số sách của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, có thể nói chú ấy là người đã “chuyển thể” rất thành công từ lĩnh vực y học sang văn học, chú là chuyên gia chữa bệnh bằng văn học (theo cách nói của vài người), sách của chú đọc rất vui, dí dỏm và bổ ích, chú viết cho mọi lứa tuổi và từ người già đến trẻ đều thích. “Nhớ Đến Một Người”, dù chưa đọc nhưng như chú giới thiệu sơ qua, chắc chắn rất thú vị. Cũng cần phải nói thêm chú ấy quả là đa tài, vì bên cạnh viết văn chú còn làm thơ (từ lúc còn là sinh viên), những bài thơ thật dung dị, gần gũi và đầy ắp tình cảm vui buồn mà cháu đã từng đọc.” (…) (TL)
Cảm ơn anh Hai Trầu và Thái Lý nhiều lắm.
Anh hai trầu kính mến ! Tôi là bùi tấn quy . Quê phú yên . Đã có lần ngưỡng mộ anh về truyện cầu khỉ anh viết . Lâu quá rồi vì mãi việc lo cho con gái út đang học ĐHYD huế không liên lạc được với anh . Nay thấy chút thanh thản mà nhớ cái giọng văn của anh qua : tâm sự của cây cầu khỉ . Mong anh gửi cho một vài mẫu chuyện tương tợ để tôi thả hồn vào sông nước nam bộ và cũng cảm nhận những rung động thật sự nhiều cung bậc khi đọc văn anh . Đến được kinh xáng bốn tổng để gặp được anh hai trầu là mơ ước dài hạn của tôi . Chúc anh thân tâm an lạc . Văn phong cốt cách Hai Trầu . ( Nếu anh ăn trầu tôi cũng sẽ thử )
Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và anh Bùi Tấn Quy,
Trước hết, xin chân thành đa tạ Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chuyển cho Hai trầu lời thăm hỏi của anh Bùi Tấn Quy. Thứ đến, rất cảm ơn anh Bùi Tấn Quy có lời thăm hỏi và nhã ý của anh dành cho HT qua câu chuyện của cây cầu khỉ hồi đó, cũng hơi lâu rồi!
Nay, có lẽ tui hơi mỏi vì tuổi già một phần, và một phần nữa là sao bây giờ cũng it viết gì nhe anh Quy nên lụt nghề rồi! Do vậy mà dạo này cũng hơi làm biếng quá mạng nhe anh Quy!
Nhắc tới Phú Yên của anh, tui lại nhớ cây cầu bắc ngang sông Đà Rằng, cầu khá dài, và con sông Đà Rằng này nó có lúc chảy ngang qua Phú Bổn trước khi xuống Tuy Hòa, nơi chỗ Phú Bổn hồi đó tui nhớ dường như đoạn sông này có cái tên rất đẹp và thơ mộng: “Bến Mộng” thì phải, vì lâu quá tui quên tên rồi nhưng nhớ lần đó về Phú Bổn mà nghe mấy cô gái Thượng ở đây vừa đẹp lại nói tiếng Tây thì tui rất nễ vì họ nói tiếng Tây rất giòn!
Còn kinh xáng Bốn Tổng là con kinh dài từ tuốt miệt dưới chảy qua vùng Định Mỹ (Núi Sập) rồi chạy tuốt lên vùng Cần Đăng, ngọn Mặc Cần Dưng , thuộc tổng Định Thành (Long Xuyên) là quê ngoại của tui mà hồi mấy năm loan lạc, tía má tui mới bồng chống gia đình tản cư về bên ngoại mười mấy năm trời! Hồi đó cả vùng này cá tôm ôi thôi là cá; hổng biết làm gì cho hết nhứt là vào những ngày nước cỏ trên đồng tràn ra sông vào các tháng 10, tháng 11 âm lịch, cá tôm bị nước làm cay mắt cũng theo nước mà nổi đầu lúc nhúc, từng bầy từng bầy, đặc nước!
Nay thì, sông nước cá mú gì cũng theo thời mà “cạn dòng” như bác sĩ Ngô Thế Vinh mưới mấy năm trước đã cảnh báo “Cửu Long cạn dòng…”; thành ra cái gì cũng hồi đó, hồi đó hết nhe anh; còn bây giờ thì hổng còn dấu vết gì của một thời trù phú ấy, kể cả cầu khỉ, ghe xuồng gì gì cũng thuộc về dĩ vãng rồi vậy!
Vài hàng kính tin anh hay và một lần nữa xin chân thành cảm ơn anh và Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lúc nào cũng thương mến và nhắc HT.
Kính chúc hai anh cùng quý quyến sức khỏe dồi dào, và vạn sự vui vẻ, hạnh phúc.
Kính thư,
HT