Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Ý NHI: Kỷ Niệm Không Có Mưa

24/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Ý NHI: Kỷ Niệm Không Có Mưa

Bạt cho tập “Kỷ niệm không có mưa” (trích)

Vũ Thành Sơn

(…) Kỷ niệm không có mưa ghi chép những kỷ niệm cá nhân của nhà thơ Ý Nhi với nhiều văn nghệ sĩ ở hai miền Nam-Bắc trong và sau khi chiến tranh kết thúc. Ở một khía cạnh nào đó, qua trung gian của tác giả, chúng ta được nhìn ngắm, được “tiếp xúc” với những nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ đó trong đời sống thực trần trụi ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và tất nhiên, có cơ hội để làm một sự đối chiếu thú vị giữa con người nghệ sĩ mang tâm tình, khát vọng, băn khoăn, lo toan hằng ngày với những đứa con tinh thần của họ; Có thể nói tuy tác giả tự đóng khung hồi ức của mình như là một triển lãm chân dung dưới góc nhìn cận cảnh “để bày tỏ lòng biết ơn”, Kỷ niệm không có mưa một cách khách quan đã cung cấp không ít tư liệu văn học quý giá, lý thú cho những độc giả yêu thích văn chương và những nhà nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại và cũng chính điều đó mới thực sự làm nên căn cước của tác phẩm trong tư cách là một chứng cứ của một giai đoạn lịch sử (…).

Kỷ niệm không có mưa,  tác phẩm phi hư cấu đầu tiên của nhà thơ Ý Nhi, hoàn toàn có thể được đọc như một câu chuyện dài với nhiều nhân vật, mỗi nhân vật một tính cách, một số phận, được kể bằng một giọng thì thầm của một người ngồi hồi tưởng bên khung cửa. Nó đem đến cho chúng ta một Ý Nhi khác trong một chân dung nhìn nghiêng; một Ý Nhi kín đáo, rụt rè trong quan hệ xã hội nhưng tinh tế, sắc sảo trong vai trò một độc giả-nhà thơ. Sự hòa quyện bất phân ly, hoặc đôi khi hoán đổi, giữa hai vị trí ấy được thực hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối của câu chuyện cho cảm giác người nghe cùng với người kể như đang cùng tham dự vào đời sống của chính nhân vật, tạo ra một sự sống động hấp dẫn (..).

Dưới góc nhìn đó, Kỷ niệm không có mưa có một giá trị đích thực, bền vững không thể phủ nhận qua việc cung cấp những chi tiết sống thực. Đó là lý do vì sao chúng ta, những độc giả, có thể dễ dàng bị lôi cuốn vào những câu chuyện, những suy nghĩ, cảm nhận hoàn toàn riêng tư và mang đậm tính giai thoại của một nhà thơ vốn tự nhận là “chỉ thích màu đen”, xa lánh đám đông và thường “tìm một góc để ngồi”.

(VTS)

(trích Bạt cho tập “Kỷ niệm không có mưa” của Ý Nhi, NXB Đà Nẵng 2018)

………………………………………………………………………………………..

Ghi Chú: “Kỷ niệm không có mưa” viết về những kỷ niệm rất riêng tư từ cái nhìn của Ý Nhi, một nhà thơ nữ, tinh tế mà sâu sắc, nhẹ nhàng mà trĩu nặng… Nhờ đó ta được “quen biết” khá nhiều những chuyện đời thường của những nhà văn nhà thơ, họa sĩ  ‘tiền bối’ ở cả ba Miền đất nước. Và “bỗng nhiên” có một bài viết về nhóm bạn của nhà thơ ở giữa Saigon hôm nay, qua chuyện của một “người bận rộn”: Đỗ Hồng Ngọc…

 

Người bận rộn

 

1.

Ở Sài Gòn tôi có một số nhóm bạn để thi thoảng gặp nhau, tào lao dăm điều ba chuyện. Nhóm những người bạn học từ cấp 1, cấp 2, nay đã là các bà nội bà ngoại, tuổi  trên dưới bảy mươi, thường khoe ( hay than van) về con, về cháu, bày nhau thuốc thang, tập tành, cùng nhau nhớ lại “những ngày xưa thân ái”*. Nhóm những nhà văn cùng thế hệ, thường bàn chuyện thế sự, nhóm các bạn viết trẻ để nghe họ nói, họ thông tin những gì mình không biết về đời sống văn học, trong và ngoài nước mà mình không có điều kiện cập nhật …Trong số những nhóm của tôi, có một nhóm đặc biệt là nhóm Lê Ký Thương-Kim Quy, Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Tôn Nữ Hỷ Khương, Tôn Nữ Thu Thủy. Đôi khi có thêm Nguyên Minh. Có lần, lại thêm Dương Nghiễm Mậu, Trương Thìn, Sâm Thương, Hồ Văn Thành, Vũ Trọng Quang…

Từ trái: Cao Kim Quy, Lê Ký Thương, Đỗ Hồng Ngọc, Ý Nhi, Nguyên Minh, Dương Nghiễm Mậu (tại nhà Lê Ký Thương)

 

Từ trái: Vũ Trọng Quang, Lê Ký Thương, Thân Trọng Minh, Ý Nhi, Đỗ Hồng Ngọc, Cái Trọng Ty

Tôi không nhớ tôi “gia nhập” nhóm từ bao giờ, theo cách nào. ( Nhiều anh chị ở đây đã quen thân nhau từ  hơn 40 năm trước, khi cùng tham gia nhóm Ý thức- nhóm của những người trẻ tuổi, đam mê Văn Nghệ, với tư tưởng dấn thân tích cực, chống lại văn nghệ sa-lon, viễn mơ thời ấy). Chỉ nhớ, người chăm lo cho nhóm, chịu trách nhiệm thông tin mọi việc như sức khỏe của ai đó, tin vui của ai đó và nhất là thông tin địa điểm, thời gian gặp nhau, là họa sĩ Lê Ký Thương và vợ, Cao Kim Quy-người phụ nữ Huế lịch thiệp, chu đáo, chí tình và cũng rất cởi mở, thoải mái. Thường thì Kim Quy gọi điện thoại hay gửi meo cho mọi người, thông báo một cuộc gặp. Dù đã nhiều tuổi nhưng mọi người trong nhóm đều còn bận bịu một vài công việc nào đó, ngoài việc lo cho gia đình. Thân Trọng Minh có phòng mạch riêng, chuyên khoa Tim mạch và còn dành thời gian cho việc viết văn, vẽ tranh, mở triển lãm (cùng vợ, HS Thanh Hằng hay cùng bạn bè, HS Đinh Cường), Lê Ký Thương lo phần biên tập cho một tạp chí chuyên ngành, lo vẽ bìa, trình bày sách và làm gốm, vẽ tranh, Tôn Nữ Thu Thủy viết truyện, làm thơ, chồng Thủy, nhạc sĩ Hồ Văn Thành vừa sáng tác vừa đi dạy vừa quản lý Đoàn Xiếc của thành phố…Nhưng người bận rộn nhất chắc chắn là Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc. Trong các thư mời của Kim Quy thường có lời phân trần: em (hay mọi người) định ngày…mà ngày đó anh Ngọc phải ra Huế nói chuyện hoặc anh Ngọc phải ra mắt sách mới ở nhà sách Phương Nam hay anh Ngọc có cuộc giao lưu với thanh niên tại nhà văn hóa X…Tóm lại, Đỗ Hồng Ngọc là người bận rộn nhất trong số những người bận rộn. Và, vì vậy, cuộc nhóm họp thường phụ thuộc vào lịch của ông. Hình như vắng Đỗ Hồng Ngọc cuộc vui giảm độ vui. Chỉ liếc qua lịch tham gia các hoạt động xã hội của Đỗ Hồng Ngọc trong vòng một tháng ( 9/2013, trên trang Du Tử Lê) cũng đủ để hình dung sự bận rộn của ông:

-7/9: Nói chuyện ở chùa Xá Lợi về Vận dụng tư tưởng Kim Cang Bát Nhã trong cuộc sống

-14/9: Tọa đàm khoa học về Bùi Giáng ở Đại học KHXH&NV

-15/9: Dự ra mắt Tạp chí Quán Văn 16 ( chủ đề sông Seine)

-21/9: Dự Tọa đàm về cuốn Ngàn năm Áo Mũ của Trần Quang Đức

-22/9: Dự lễ trao giải Sách hay

-28/9:Dự lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Kim Tuấn

 

2.

Nhưng điều”kinh khủng” nằm ở chỗ khác. Đó là những cuốn sách mang tên tác giả Đỗ Hồng Ngọc. Rất nhiều lần, Kim Quy thông báo, trong cuộc gặp sẽ được người này người khác tặng sách mà người thường có sách để tặng chính là Đỗ Hồng Ngọc. Những khi ông không có sách, mọi người như bị hụt hẫng, thấy có chi đó bất thường.

Đỗ Hồng Ngọc có gần 40 đầu sách, trong đó có 15 cuốn Tạp văn, 9 cuốn viết cho tuổi mới lớn, 4 cuốn viết cho các bà mẹ và 5 tập thơ…Thử điểm qua các tựa đề sách của ông để thấy sự phong phú “không chịu nổi” của nó: Tình người( Thơ), Thơ Đỗ Nghê, Giữa hoàng hôn xưa(Thơ), Vòng quanh( Thơ), Gió heo may đã về (Tùy bút), Già ơi, chào bạn (Tùy bút), Thư cho bé sơ sinh và Những bài thơ khác (Thơ ),

Những người trẻ lạ lùng( Tạp văn), Thiền và sức khỏe( Tạp văn),Chẳng cũng khoái ru (Tạp văn), Nghĩ từ trái tim ( viết về Tâm Kinh Bát Nhã), Thư gửi người bận rộn (Tạp văn), Thầy thuốc và bệnh nhân (Tạp văn), Như ngàn thang thuốc bổ (Tạp văn), Cành mai sân trước (Tạp bút), Như thị (Tạp bút), Ăn vóc học hay(Tạp văn), Gươm báu trao tay (Tạp văn)…Ra nhà sách, thấy sách của Đỗ Hồng Ngọc bày nguyên một dãy, bên những tác giả văn học đang hot ! Nhìn và không thể không tự vấn: sao ông bác sĩ nhà thơ này có thể tạo nên một kỳ tích như vậy.

 

Nhẹ nhàng mà thâm trầm, thông tuệ mà giản dị, nghiêm trang mà dí dỏm, bận rộn mà thanh thản.Những phẩm chất này chan hòa trong những vần thơ, những trang văn của ông, tạo nên một phong cách, một đặc sắc Đỗ Hồng Ngọc. Đọc thơ ông thấm sâu ý nghĩa nhân sinh, thấm sâu chất Thiền, thấm sâu cảm xúc tâm linh. Đọc tản văn của ông, lại như nghe thấy dư vị của thơ qua từng dòng chữ, trang viết. Huỳnh Như Phương có lý khi nhận xét:”…chính những tác phẩm bàn về Y học, Thiền học của ông, với chất thơ bàng bạc trong đó, cũng mang đủ những phẩm chất thi ca, cho nên người đọc không còn phân biệt ở ông đâu là nhà thơ, đâu là Thiền giả và đâu là bác sĩ của tuổi thơ” (Lời bạt tập thơ Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác-NXB Văn Nghệ, 2010 ). Nguyễn Hiến Lê thì cho rằng: “Một bác sĩ mà là một thi sĩ thì luôn làm cho ta ngạc nhiên một cách thú vị “( Tựa Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò-1972). Trong lúc đó, viết tựa cho cuốn sách Ăn vóc Học hay, Mai Sơn nhận xét:”…Nhưng đối với ông y khoa là một ngành học về con người toàn diện, thân tâm bất nhị, tổng hòa các mối quan hệ con người-tự nhiên-văn hóa. Sức khỏe, dưới con mắt ông, luôn gắn với môi trường sinh thái-xã hội. Ông nhìn con người trục trặc không như một cỗ máy bị trục trặc, mà nhìn trong tương quan với môi trường lớn đang có vấn đề và nó tác động bằng những con đường quanh co đến tình trạng sống của một cá thể. Và lúc đó con người/ bệnh tật hiện ra như một hiện hữu bất ổn. Giải pháp của ông là bớt kỹ thuật và thêm nhân văn khi cứu xét một hay nhiều bệnh cảnh. Có thể thấy ông không đổ hết nguyên nhân gây bệnh cho bệnh nhân của ông. Trong viễn tượng đó ông làm chúng ta nhớ đến Karl Jaspers(1883-1969), triết gia-bác sĩ tâm trị người Đức, với tuyên bố:” Tôi bệnh, vậy tôi hiện hữu”…Tôi không nghĩ rằng một bác sĩ chuyên khoa thuần túy có thể có một cái nhìn như vậy, sự thấu hiểu như vậy đối với bệnh tật của con người. Điều đó chỉ có thể có ở Đỗ Hồng Ngọc và những ai có cùng qua điểm sống, quan điểm hành nghề như ông.

Thỉnh thoảng, trước hoặc sau những trang sách của mình, Đỗ Hồng Ngọc có lời dẫn, lời tâm tình với người đọc, hoặc trực tiếp, hoặc qua các bài trả lời phỏng vấn. Đây là  một “kênh” thông tin đáng tin cậy giúp ta hiểu ông hơn, nhìn rõ “dung mạo” của ông hơn. Khi được hỏi về “sứ mạng” của người viết sách tư vấn  cách sống, cách trị bệnh…ông đã thành thực trả lời:”Không. Chẳng có sứ mệnh gì cả…Hàng ngày trông thấy bao nhiêu là trường hợp trẻ con bị bệnh hoạn tử vong oan ức có thể phòng tránh được, vì thế mà tôi thấy cần phải làm gì đó giúp các bà mẹ. Vậy là tôi viết. Khi nhớ lại những sai lầm của mình ở tuổi mới lớn, tôi viết để chia sẻ cùng các em.Rồi khi tuổi già bóng xế, tôi lại viết cho bạn bè cùng lứa. Thực ra, viết, trước hết là cho mình, tự “chữa bệnh” cho mình cái đã, rồi mới dám chia sẻ với người khác. Giống như người xưa tự nếm thuốc rồi mới dám…kê đơn. Không có cái “sứ mệnh” gì ở đây cả, không có sự rao giảng gì ở đây cả, mà chỉ là sự thì thầm nho nhỏ”( Báo Dược và Mỹ phẩm, Bộ Y tế). Vốn e ngại trước những tuyên bố lớn lối, tôi thực sự cảm phục những lời lẽ chân tình, giản dị này. Lạ thay, chính cái sự “không sứ mệnh “ này lại khiến những dòng thơ, những trang văn của ông- những lời “thì thầm nho nhỏ” của ông  có một hấp lực đặc biệt với người đọc. Đỗ Hồng Ngọc có bạn đọc đủ mọi lứa tuổi, đủ các vùng miền trong nước, ngoài nước. Thơ của ông được dịch ra tiếng Anh, được bạn bè phổ nhạc rồi một ngày nào đó họ gửi cho ông, đem cho ông một niềm vui bất ngờ, tràn đầy. Khi được hỏi vì sao ông được độc giả yêu mến nhiều đến thế, Đỗ Hồng Ngọc đáp:” Tôi chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Viết là cách chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra”. Theo ông:”Một người thầy thuốc khi chữa bệnh cho bệnh nhân, nếu chỉ thấy cái thân bệnh mà không thấy cái tâm bệnh, tức là thấy cái “đau” mà không thấy được cái” khổ” của họ thì không thể chữa thành công”( Báo Văn hóa Phật giáo, số 39, Vu lan 2007)

Trong lịch sử văn học thế giới, có nhiều nhà văn vốn là thầy thuốc, nhiều người nổi tiếng  như Lỗ Tấn, như Tsekhov nhưng khi đã viết văn, họ đoạn tuyệt với nghề cũ. Đó là một sự lựa chọn. Đỗ Hồng Ngọc vì muốn chữa được cả cái đau lẫn cái khổ, cái bệnh lẫn cái hoạn mà vừa hành nghề Y vừa làm thơ vừa viết tản văn. Các nhà xuất bản đón chờ tác phẩm của ông, người đọc đón chờ tác phẩm của ông. Giữa lúc sách chỉ được in dăm ba trăm hay một ngàn bản, sách của Đỗ Hồng Ngọc được tái bản nhiều lần, có cuốn cả chục lần, số lượng lên tới hàng vạn bản (Già ơi…chào bạn được dịch sang tiếng Nhật. Người Nhật gọi sách của Đỗ Hồng Ngọc là”long seller”), quả là một hiện tượng có phần lạ lùng nhưng hữu lý. Đỗ Hồng Ngọc từng bảo:”Sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”. Ông đã sẻ chia và đã được đón nhận. Hạnh phúc đã nhân đôi.

 

3.

Có những người viết văn hay nhưng gặp gỡ thì…chán. Lại có những người văn chương “ thường thường bậc trung” nhưng trò chuyện lại hấp dẫn, vui vẻ. Đỗ Hồng Ngọc là một ca khác. Đọc ông rồi gặp ông, có một cảm giác thật dễ chịu khi mọi điều như hòa quyện với nhau. Văn là người , người là văn vậy.

Đỗ Hồng Ngọc nói:” Tôi vốn ít hay cười. Không hút thuốc, không uống rượu”. Tôi chưa thấy ông hút thuốc hay uống rượu nhưng lại thường thấy ông cười, có điều đó chỉ là một nụ cười nhẹ, ít khi bật thành tiếng. Đỗ Hồng Ngọc không tạo sự cách bức. “Người bận rộn”, khi có dịp ngồi bên bạn bè, luôn là người hay chuyện, vui vẻ, thoải mái, dí dỏm. Có lần cả nhóm đến nhà tôi ăn bún ốc, Đỗ Hồng Ngọc rất khoái khi được ăn tráng miệng bằng món kẹo Dồi, đặc sản của miền Bắc. Ông còn chạy ra đầu ngõ, nơi có một lò nướng bánh tráng, mua về mấy chiếc, cùng mọi người bẻ bánh rôm rả. Lần gặp nào ông cũng nhắc tới món bánh tráng dân dã ấy. Đỗ Hồng Ngọc khiến tôi nhớ tới Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thời ông làm Bộ trưởng Bộ Y tế ở Hà Nội. Mọi người rất khoái khi truyền nhau câu chuyện ông Bộ trưởng Y tế thường ghé hàng bún Ốc, bún Riêu, bánh Cuốn…bày bán ngay trên vỉa hè.

Ngoài những lần ngồi ở quán Du Miên, Đông Hồ, Khúc ban chiều, nhóm có cái thú tụ tập tại nhà Lê Ký Thương-Kim Quy. Món chủ nhà đãi mọi người thường là xôi đậu xanh, khoai lang luộc, bắp luộc, lạc luộc.  Để hỗ trợ, tôi mang thêm món chuối sáp nấu. Ăn khoai, ăn bắp, ăn chuối, uống cà-phê, sữa đậu nành…và tán chuyện. Chuyện gì nhỉ. Thật khó khi phải nhớ lại những câu chuyện vì đề tài của nó thì mênh mông, ý kiến thì phong phú, lúc đồng thuận, khi tranh cãi. Có điều, bao giờ cũng vui, bao giờ cũng có cảm giác được thư giãn bên những người bạn chân tình.

Từ trái: Thân Trọng Minh, Nguyễn Tường Giang, Đỗ Hồng Ngọc, Ý Nhi, Thu Vàng, Thanh Hằng, Nguyệt Mai, Hoàng Quốc Bảo.

Trong một thư điện tử, Kim Quy viết: em thấy ai trong chúng ta cũng có chút suy nghĩ về tuổi tác. Riêng anh Ngọc thì hình như là không. Kim Quy đã đúng. Đỗ Hồng Ngọc, sau cơn bạo bệnh (bị tai biến, phải mổ sọ để đặt ống dẫn lưu), khi trở lại với đời sống, dường đã một lần giác ngộ. ( có lẽ đây chính là cơn bệnh cần cho mỗi con người như nhà văn N.Dumbatze từng nói đến trong tác phẩm nổi tiếng Quy luật của muôn đời). Việc nghiên cứu đạo Phật, nghiên cứu Thiền lại thêm một lần giúp ông có một cái nhìn đời sống có phần vô vi :”…Dù cuộc sống ngỡ là thực này vẫn chỉ là mộng, huyễn, bào ảnh, sương mai”. Cái khoảnh khắc được sống trở nên quý giá hơn, huyền diệu hơn, đáng trân trọng hơn:” Nhưng với tôi, tôi không hề biết mình đã có tuổi, tích tuổi, lúc nào tôi cũng thấy tôi đã già và lúc nào tôi cũng thấy tôi còn trẻ. Tôi là một thầy thuốc, một bác sĩ nhi khoa, đã hành nghề trên 30 năm. Tôi nhớ mình mới khám chữa bệnh cho một chú bé sơ sinh thì chẳng bao lâu đã thấy chú bé đó mang trên tay một chú bé sơ sinh khác là con của chú để nhờ tôi khám chữa bệnh. Thời gian trôi qua lúc nào đó vậy?…”. Đỗ Hồng Ngọc yêu tuổi trẻ của mình, của người. Ông cũng yêu tuổi già của mình, của người: “Già có cái đẹp của già…thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây, ửng đỏ, mềm mại, thơm tho…”, chẳng cũng khoái ru?. Có lẽ, không có nhiều người biết cám ơn cơn đau của mình như Đỗ Hồng Ngọc: Xin cám ơn, cám ơn/ cơn bệnh ngặt nghèo quật ta kịp lúc/ cho ta trở lại với mình/ ta muốn ôm hôn tất cả mọi người/ và ôm hôn ta nữa/ cái đầu trọc lóc bình vôi/ hai lỗ thủng và 18 vết khâu từ ái/ ta ngạc nhiên lắng nghe mình thở/ lắng nghe sự sống cục cựa trong mình…Khi đứng được hai chân như con người/thật vô cùng hạnh phúc/ khi bước đi những bước con người/ khi còn được nghe được nói/ được cầm cây viết vẽ bâng quơ/ được đọc vài trang báo…Những hòn sỏi bỗng có linh hồn/ những lá cây đong đưa lạ lẫm/ tiếng chim và ánh nắng/ như đã lâu rồi ta mới gặp nhau/ như đã lâu rồi ta mới quen nhau…”.

Đỗ Hồng Ngọc và Ý Nhi trong buổi “Ra mắt” tập thơ “Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác…” của Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc)… với cà phê và khoai, bắp, chuối, đâu phọng, bánh tráng… tại nhà họa sĩ Lê Ký Thương (2010) trong vòng thân thiết với vài mươi bạn bè…

 

Năm 2010, khi sắp sửa in tập thơ Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Đỗ Hồng Ngọc rủ bạn bè góp mặt cho vui, tôi đã viết:”…Thơ Đỗ Hồng Ngọc là thơ của sự chân thành. Từ những bài thơ tình cảm viết cho cha mẹ, vợ con, bạn bè đến những bài thơ thế sự viết về đất nước, quê hương, từ những chuyện đời thường đến những chuyện cao siêu, những câu hỏi không lời đáp…Đọc anh, tôi chưa khi nào có cảm giác ngờ vực. Sau căn bệnh ngặt nghèo, Đỗ Hồng Ngọc đã viết bài thơ rất hay Xin cảm ơn. Tôi nghĩ, những độc giả của anh cũng cần nói lời cảm ơn anh, bởi chắc chắn, anh đã góp phần giúp chúng ta thanh lọc tâm hồn mình, giữa đời sống nhiều bụi bặm này”.

Một lần nữa, tôi muốn được nói lời cám ơn ông.

 

Sài Gòn 9/2014

Ý Nhi.

* Tên một tập thơ của nhà thơ Phạm Hổ

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Lê Ký Thương: SÀI GÒN-SÁCH

23/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sài Gòn – Sách

Lê Ký Thương

Sài Gòn bây giờ có nhiều nhà sách lớn, luôn luôn đông khách. Sách đủ thể loại, phong phú, đa dạng. Đó là địa chỉ thường đến của những người nhận sách là bạn đồng hành của mình – từ em bé đến người già, người của thành phố hay khách vãng lai, người Việt sống ở nước ngoài về thăm quê hương, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam hay chỉ là khách du lịch… Những nhà sách lớn ở trung tâm thành phố còn là nơi dành cho khách dạo chơi một vòng, hưởng chút hơi lạnh cho thư thái tâm hồn khi bị cái nóng ở nhà hay đường phố làm mệt người, khó chịu.

Xưa nay, tôi có thú vui đến nhà sách để nhìn ngắm và chọn mua những quyển sách văn học mới xuất bản mà mình ưa thích được bày bán trang trọng trên kệ. Bắt gặp một quyển sách trình bày đẹp từ bìa đến ruột, nội dung hợp với sở thích của mình, tôi luôn có cảm giác như vừa gặp người bạn tri âm, không thể cầm lòng mà không mời về nhà để hàn huyên tâm sự.

Nhưng cái quyến rũ tôi hơn chính là mùi colophan của những trang sách mới ngày trước. Mỗi lần vào Nhà sách Khai Trí (bây giờ là Nhà sách Sài Gòn 2) hay Nhà sách Liên Châu (bên hông Nhà thờ Đức Bà, đối diện với Bưu Điện Thành phố) chuyên bán loại sách livre de poche, là tôi cầm ngay quyển sách mới đưa trước mũi hít một hơi thật sâu để tận hưởng mùi hương của sách như tận hưởng mùi hương của người tình.

Nhà xuất bản bây giờ thì nhiều và những người làm sách tư nhân hay các Công ty Văn hóa liên kết với nhà xuất bản nhiều gấp bội. Nhưng liệu có mấy nhà xuất bản (nhà nước) – nơi biên tập và cấp giấy phép xuất bản “bảo đảm bằng vàng” được thương hiệu của mình? Thỉnh thoảng báo chí lại phát hiện ra một hai quyển sách trông rất sang và rất đẹp của một nhà xuất bản tầm cỡ nhưng “hồn Trương Ba da hàng thịt”! Sách mà cũng có đồ giả, đồ dỏm như rượu bia, thuốc lá, bột giặt trong nền kinh tế thị trường thì đáng buồn nôn thật!

Trước 1975 ở miền Nam, mỗi lần bước vào hiệu sách, chỉ cần nhìn thấy tên nhà xuất bản như Yểm Yểm Thư Trang, Thanh Tâm, Nam Chi Tùng Thư, Khai Trí, Cảo Thơm, Thời Mới, Tuổi Hoa, Nguyễn Đình Vượng, Lá Bối, An Tiêm, Trình Bầy… là người mua an tâm, không sợ mua lầm hàng kém chất lượng. Mỗi nhà xuất bản đều có mục đích và tôn chỉ hoạt động, không có chuyện vàng thau lẫn lộn.

Theo tôi, hai nhà xuất bản hoạt động mạnh có tiếng vang, gây được nhiều thiện cảm và uy tín nhiều nhất với người đọc, người viết, người dịch là Lá Bối và An Tiêm. Người điều hành hai nhà xuất bản này lại là hai tu sĩ Phật giáo. Những người mê sách nào chẳng có những quyển sách giá trị như: Xứ Trầm hương (Quách Tấn), Sử ký Tư Mã Thiên(Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch), Anna Karénnine (Léon Tolstoi – Nguyễn Minh Hoàng dịch), Chiến tranh và Hòa bình (Léon Tolstoi – Nguyễn Hiến Lê dịch) và những tác phẩm khác của các nhà văn như Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân… của nhà Lá Bối. An Tiêm thì xuất bản “sách đời” nhiều hơn, đa số là những kiệt tác văn học nước ngoài với những dịch giả uy tín, như Anh em nhà Karamazov (Dostoievski, Trương Đình Cử dịch), Kim các tự (Yukio Mishima, Đỗ Khánh Hoan dịch), Câu chuyện dòng sông (Hermann Hesse, Phùng Khánh dịch), Người đàn bà trong cồn cát (Kobo Abé, Trùng Dương dịch), Tố Như thi (thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Quách Tấn dịch)… và những tác phẩm của Đại sư Suzuki mà nổi tiếng là bộ Thiền Luận (ba tập).

Sách thời đó xếp chữ chì, in typô. Thợ xếp chữ ở các nhà in thường chỉ có trình độ văn hóa cấp 2 bây giờ, học ở trường nửa buổi, học việc nửa buổi, nên những trang bài vỗ bản đầu tiên luôn luôn bị bỏ dòng, nhảy chữ và chi chít lỗi chính tả (morasse), vì thế nhà in nào cũng có “thầy cò” (correcteur). Thầy cò là một nghề được các nhà in trọng vọng. Nhờ vậy sách của nhà xuất bản uy tín hiếm có lỗi chính tả, nếu có thì luôn luôn có bản đính chính kèm theo lời xin lỗi tác giả và bạn đọc. Điều này không những thể hiện tính nghiêm cẩn mà còn là đạo đức của người làm sách.

Nhà in có kiểu chữ đẹp nhất hồi đó là Kim Lai Ấn quán, mà chủ nhân chẳng ai khác chính là cụ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Bây giờ, tuy rất quen thuộc với những kiểu chữ vi tính, nhưng khi xem lại những quyển sách in ở nhà in này, chẳng hạn như cuốn Giai thoại làng Nho của chính cụ Lãng Nhân, tôi vẫn còn mê kiểu chữ đó.

Một trong những người nổi tiếng làm sách đẹp, sách giá trị ở Sài Gòn trước 1975 là ông Thanh Tuệ, chủ nhà xuất bản An Tiêm. Ông là một “con người chịu chơi” như chàng Alexis Zorba trong lãnh vực làm sách, là người đầu tiên xuất bản tập thơ Mưa nguồn của “trung niên thi sĩ” Bùi Giáng và Đêm nguyệt động của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (Sao Trên Rừng).

Tôi nhớ vào khoảng 1964, khi ông Thanh Tuệ đang trên đường đi đến nhà in chăm sóc tập thơ Đêm nguyệt động thì bị tai nạn xe phải nằm bệnh viện. Sau đó, xuất hiện một mẩu tin trên tạp chí Văn với cái tít thật hay: “Đêm nguyệt động… động thầy Thanh Tuệ”. Nếu ai có cơ duyên đọc tập thơ này sẽ biết thầy Thanh Tuệ “chịu chơi” đến cỡ nào!

Sau 1975 ông Thanh Tuệ hoàn tục và lập gia đình. Năm 1981 ông cùng gia đình sang Pháp định cư, nhưng cái máu mê làm sách đẹp sách hay vẫn không thay đổi được. Đầu năm 1990, sau khi ổn định cuộc sống gia đình, ông làm sách trở lại. Làm sách Việt bên Tây ít người đọc, ông sang Mỹ hợp tác với những người Việt làm sách có uy tín, in và phát hành ngay trên đất Mỹ. Mới đây, trung tuần tháng 8, ông lại sang Mỹ để gặp các thân hữu bàn việc kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Nhà xuất bản An Tiêm, không ngờ bệnh siêu vi gan C tái phát và mất ngay tại bệnh viện bang California. Vĩnh biệt một người tài hoa mê làm sách đẹp!

Tôi đã từng mê sách của An Tiêm. Cách đây hai năm, tôi và vài người bạn có dịp gặp lại ông Thanh Tuệ khi ông về Việt Nam thăm người thân. Gặp nhau, ông chỉ toàn nói chuyện sách đẹp, sách hay. Với ông, việc xuất bản một quyển sách cũng đồng nghĩa với việc tạo ra một tác phẩm mỹ thuật.

Nói đến một quyển sách đẹp, thiết nghĩ phải kể đến tài của người trình bày bìa. Câu thành ngữ “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” có lẽ không thể buộc vào một quyển sách được. Trước 1975, ở Sài Gòn có những họa sĩ trình bày bìa sách nổi tiếng như Đinh Cường, Nguyễn Trung, Hoàng Ngọc Biên, Hồ Thành Đức… Họa sĩ Đinh Cường chuyên trình bày bìa cho các nhà xuất bản Lá Bối và An Tiêm. Họa sĩ Hoàng Ngọc Biên là người đầu tiên ở miền Nam được cử đi học ngành đồ họa ở Mỹ, làm việc ở Trung tâm Học liệu, chuyên trình bày bìa sách của cơ quan này và Nhà xuất bản Trình Bầy. Mỗi họa sĩ đều có style trình bày riêng, nhìn vào bìa sách là ta biết ngay, không lẫn được.

Hơn mười năm qua, công nghệ chế bản và in thâm nhập vào nước ta, cụ thể là Sài Gòn – cái nôi của ngành này – ngày càng hiện đại hơn, nên các phương tiện này đã hỗ trợ cho các ấn phẩm mang tính mỹ thuật cao. So với một quyển sách in bây giờ với một quyển sách in trước “thời mở cửa” khác nhau khá xa. Nhiều tác phẩm, nhất là tác phẩm văn học dịch, được tái bản trông hết  sức “quyền quý cao sang”. Ngẫm ra vẫn “con người đó”, vẫn mang tâm hồn đó, nhưng được “make up” có nghề, có lương tâm, làm tôn vẻ đẹp thì dễ lay động trái tim của đối tượng hơn là “mặc áo vải thô, đi chân đất”.

Nhiều người quan tâm đến sách có tâm trạng băn khoăn chỉ sợ trong thế giới nghe nhìn ngày nay, e rằng sách in một ngày nào đó không còn chỗ đứng. Nhưng tôi không nghĩ mối lo đó sẽ thành sự thực khi mà thế giới vẫn còn có người mê sách in đẹp và những người làm sách đẹp.

Lê Ký Thương
Sài Gòn, 2004

(Nguồn: https:\\tranthinguyetmai.wordpress.com)

 

Từ phải: Lê Ký Thương, Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc
(Đường Sách Saigon, 2018)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi.

21/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Tháng tám, bỗng bộn bề…

Không biết do đâu mà Nguyệt Mai sực nhớ… mình có một ngày sinh trong tháng 8 (không biết ngày nào), bèn post mấy bài thơ nho nhỏ “Happy Birthday”… trên tranthinguyetmai blogspot thiệt dễ thương. Bất ngờ có thêm 2 bài thơ ngắn… hậu hiện đại của nhà thơ Vũ Hoàng Thư. Rất ngắn mà rất dài. Đến nỗi mình phải trả lời bằng mấy câu:

cảm ơn vũ hoàng thư

thả vần thơ tuyệt mù

đã nghe tràn bát nhã

đã nghe đầy chơn như… 

Quả thật thơ hậu hiện đại, tân hình thức… của VHT thì mình giở nón bái phục. VHT cũng là một người dịch Haiku rất hay nữa!

Lại cám ơn Thu Vàng, giữa mùa Vu Lan, đã hát Bông Hồng Cho Mẹ ‘rất cảm động’ (KM) dưới mái chùa Thiền Quang bên đó. Nhờ cử “phóng viên đặc biệt” Khánh Minh “bám sát” mà nhất cử nhất động của Thu Vàng bên xứ Huê Kỳ bạn bè xa xôi đều biết.

Như đã nói với bạn, mình không có ‘ngày sinh nhật’ vì bà Má chỉ nhớ tháng, tháng 8, chớ không nhớ ngày. Vì vậy mà ngày nào của tháng 8 cũng là ngày sinh nhật của mình cả đó thôi. Trần Vấn Lệ, dân Phan Thiết, hơn ai hết biết rõ điều đó. Thời của chiến tranh mà! Sau những năm tháng tản cư trong rừng thẳm, đến khi ông Già mất đi, mẹ con mình mới dắt díu nhau về TP, đùm đậu trong chùa với Cô Hai, mình còn mang theo cái lá lách to đùng, da xanh mét như tàu lá vì sốt rét, suy dinh dưỡng nặng (12 tuổi mà nặng 25kg…)! Thế rồi làm lại Thế vì khai sanh. Thế rồi học nhảy lớp… cho kịp bạn bè.

Năm nay, mình về Lagi đầu tháng, ghé Bà Rịa, thăm gia đình bác xã Rung (đều đã mất), thăm các chị Nhuộm, Riêng (nay đã có tên khác!)… con bác Xã. Đã 70 năm rồi chớ ít gì. Hồi đó mình lên 8, BaMe gởi vào rừng Khỉ, ở nhờ nhà bác Xã để tránh khủng bố và… đi học. Khu vực này trong rừng sâu mà có cái nhà thờ nhỏ, một lớp học nhỏ chừng vài chục học trò đủ cỡ và một ông thầy rất… dữ! Học trò không thuộc bài, đánh roi mây. Bắt nằm lên bục, rồi kêu một em học trò khác lên đánh… thay thầy. Có lần mình được thầy kêu lên bắt đánh 3 roi một bạn khác. Mình thấy tội nghiệp, đánh nhẹ hều. Thầy bắt nằm xuống cho bạn kia đánh lại! Không biết có bạn nào lứa mình còn nhớ kiểu trừng phạt này không! Một lần khác, mình bị bắt quỳ xơ mít chỉ vì tinh nghịch gõ thước cộp cộp lên bàn cho học trò im lặng khi thầy đến lớp trễ (học trò ồn quá mà!)! Gần lớp có một cái suối khá sâu, buổi trưa học trò trần truồng ùm ùm nhảy xuống tắm… Vậy đó, 70 năm gặp lại, kể nghe những chuyện xưa, chẳng cũng khoái ru?

Trên đường về Lagi, ghé lại Cam Bình. Ôi chao, đã thành một cái chợ, đông đúc quá lúc nào đó vậy. Chợ nổi tiếng hải sản tươi, rẻ và rất ngon. Nhưng mình chỉ đặc biệt quan tâm đến những chiếc xe bò cải tiến thành xe… du lịch trên bãi biển. Lúc nước lớn, bò bì bõm lội kéo xe thấy thương!

 

Cam Bình, Lagi 8.2018 (photo ĐHN)

Rồi mình đi ngã Hồ Tôm về Lagi. Hồ Tôm có tên vậy vì là một cái hồ mênh mông đầy… tôm cá. Xưa, dân quanh vùng chỉ cần giăng lưới một lúc là cá tôm đầy thúng. Lúc ở Hồ Tôm, mình đã lên 10. Cũng đi bắt còng gió, làm bẫy bắt cua… Đến mùa mưa, lũ về, hồ bị phá vỡ, nước tràn ra biển. Đó là lúc đem rổ ra xúc tôm…

Lagi thời đó đã ‘tiêu thổ kháng chiến’, đốt sạch, không còn gì. Hồ Tôm bấy giờ thỉnh thoảng Tây vẫn còn bố và dân tản cư… lại chạy vào rừng sâu hoặc chui núp dưới động cát lớn. “Ghe Tây” lâu lâu còn nã đại bác vào, máy bay còn vần vũ thỉnh thoảng ném bom. Rừng sâu thì cọp dữ. Con chú LB bị cọp bắt, chỉ còn tìm thấy nửa thân người. Chú V thì bị bom cắt mất một chân… Ôi, đáng lẽ không nên nhắc lại. Nhưng bạn biết rồi đó, già thì hay nhắc chuyện xưa!

Trên đường về Tam Tân, quê hương cậu Nguiễn Ngu Í, đi ngang Bàu Giòi, chỗ Nước Nhỉ, năm 1945 có xây gạch cái giếng Nguồn Chung do cậu Ngu Í cùng các thanh niên thời đó – có ông già mình tham gia- cho bà con đi dọc biển có chỗ nghỉ ngơi, uống nước ngọt (nước nhỉ trong động cát ra). Năm 1960 cậu Ngu Í và mình về đó, còn thấy đống gạch vụn dưới mấy bụi dứa um tùm, nay thì cả đống gạch vụn cũng không còn.

Ghé Dốc Trâu ăn cơm trưa. Không thấy trâu đâu, chỉ thấy thúng chai (nay gọi là thuyền thúng) ngổn ngang trên bãi biển. Mùa đang động.

Dốc Trâu, Bàu Giòi Lagi 8.2018 (photo CP)

Về ngang Phan Thiết, chỉ kịp ghé ăn chè… Mộng Cầm rồi ra thẳng Mũi Né. Biển lạnh. Vắng. Tắm hồ cũng được lắm. Mình vẫn thích MNB vì có khung cảnh yên bình, biển mênh mông và bãi cỏ xanh mượt.

Cà-phê một mình ở MNB. Nhớ lần trước đã về đây với Thân Trọng Minh, Thanh Hằng, Thu Vàng, Kim Quy, Lê Ký Thương… những người bạn thiết.

 

Biển vắng.

 

 

 

 

 

Một quán cơm dọc biển. Từ đó nhìn ra Hòn Rùa. Nhà thơ Khánh Minh xem hình bảo đẹp quá, cành bàng như trùm khắp cả biển trời…
(photo: ĐHN, 8.2018)

Rồi ghé thăm chùa Linh Long, trò chuyện với Sư Bổn Toàn, tặng ít sách báo Phật giáo cho chùa. Ghé qua bệnh viện khu vực thăm tình hình bà con, rồi chạy lòng vòng khu phố cổ. Ăn tối ở VP quen thuộc, từ 20 năm trước đã đưa các bạn Trung tâm truyền thông & Giáo dục sức khỏe đến nghỉ một đêm, đốt lửa trại, và sáng sớm hôm sau leo đồi cát đỏ mênh mông… Mới thôi.

Như đã nói, tháng 8 lu bu thiệt. Về Thành phố tối thứ năm 9.8, phải gởi bài gấp cho Trần Tuấn Mẫn, kịp Văn hóa Phật giáo; sáng thứ sáu 10.8 là buổi “bế giảng” lớp Tu sĩ an cư chùa Xá Lợi; sáng thứ bảy 11.8 là buổi làm việc với Nguyễn Trí Dũng ở Vườn Minh Trân, chương trình Văn hoá Việt Nhật; CN 12.8 lại là buổi Nói chuyện (Talk) với Thanh niên về “Khởi Nghiệp”, chương trình của Nhạc sĩ Dương Thụ… Đúng là lu bu, lu bù cái tháng 8 này!

“Bế giảng” Lớp dành cho các Tu sĩ về An cư kiết hạ tại chùa Xá Lơi 2018. Thầy Đồng Bổn trụ trì, từ 3 năm nay đã có sáng kiến tạo khóa Giao lưu giữa các Tu sĩ và Cư sĩ để cùng trao đổi, chia sẻ, học hỏi… (Chùa Xá Lợi, 10.8.2018)

 

 

Vườn Minh Trân, Nguyễn Trí Dũng. CLB Văn hóa Việt-Nhật , mời nói chuyện về Người Cao Tuổi ngày 11.8.2018

 

 

 

 

 

 

 

Buổi trò chuyện với các bạn trẻ về “Khởi nghiệp”… tại CT Cafe7 ngày 12.8.2018

 

 

 

 

 

 

 

 

Vậy đó. Cũng tại bạn hỏi đã làm gì “tháng sinh nhật” này nên mình mới dài dòng kể chuyện. Chán, thì bỏ qua nhé.

Thân mến

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Quang Chơn: GIẤC MƠ

21/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giấc mơ

 

“Đố ai nằm ngủ không mơ, biết em nằm ngủ hay mơ, …, nửa đêm anh đến, đứng chờ ngoài hiên…” (PD). Đúng vậy, ai ngủ mà chẳng có mơ. Nhiều người bảo rằng, ngủ không mơ là ngủ sâu, ngủ khoẻ. Ngủ hay mơ là ngủ chập chờn, ngủ yếu!… Riêng tôi, bây giờ, tôi thích những cơn mơ trong giấc ngủ…

Hồi nhỏ tôi hay gặp ác mộng. Khi thì bị bóng đè thở không nỗi, nhìn thấy ba mẹ ngồi bên cạnh, nói cười đó, mà không kêu cứu được, sợ lắm! Khi thì thấy bị kẻ xấu rượt đuổi chạy thất kinh!… làm giấc ngủ chập chờn, sợ hãi…

Bây giờ thì ngược lại, trong giấc ngủ tôi hay thường thấy những người thân, những chuyện lành. Vì vậy, khi ngủ có mơ làm tôi vui và ngủ sâu. Có thức giấc nửa chừng cũng ngủ lại được ngay để chờ giấc mơ khác đến!…

Tuần trước tôi mơ thấy gặp mấy người anh tôi kính trọng, Bửu Ý, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Đức Sơn…Sáng ra nhớ lại giấc mơ, cũng một chút tâm linh, gọi anh Bửu Ý. Anh bắt máy với giọng sang sảng vui. Hỏi anh khoẻ không? Hỏi anh còn uống được không? Anh bảo khoẻ. Trưa ăn cơm uống một chai bia. Chiều một ly rượu vang. Tôi mừng và hẹn anh một hôm nào đó chạy ra Huế thăm và…nhậu…

Gọi anh Ngọc, anh bảo sức khoẻ tàm tạm. Lâu quá không gặp nhau. Anh vẫn nhớ Đà nẵng. Tôi bảo vậy sẽ mời anh ra Đà nẵng một chuyến chơi!…

Mời anh một chuyến chơi. Một ý nghĩ cũng hay bất chợt. Nhưng nghĩ cho cùng, một mình anh đi cũng buồn. Tôi gởi một text message, nói mời luôn mấy anh chị bạn khác như LKT, KQ, TTM, KĐ, HC…

Vài ngày sau thấy anh nhắn tin, mọi người hỏi lý do vì sao Chơn mời vậy, anh đã nói bừa, chắc kỷ niệm ngày cưới đó. Tôi trả lời anh, tại vì em thích. Muốn anh chị em mình cùng du hí một chuyến. Sau, anh nhắn tin xin lỗi, mọi người bận, không đi được! Vậy đó, ở cái tuổi này, dễ gì tụ họp, đi xa. Vả lại, những bậc thức giả, họ hay thắc mắc, cái gì cũng phải có nguyên nhân, giải thích không rõ ràng, thuyết phục, dễ gì họ chịu nghe, chịu làm!…

Gọi anh Sơn Núi không được, tôi làm một bài thơ nhỏ tặng anh đưa lên face book. Hai ngày sau nhận tin anh Võ Chân Cửu với bức hình mới nhất của anh Sơn. Kèm tin: “rất yếu, không đi lại được, chân phù, bác sĩ bảo “đi” bất cứ lúc nào. Ch. sắp xếp lên thăm, biết đâu lần cuối!…”

Vậy đó, những giấc mơ, có cái hay của nó!

Tôi thường hay mơ mình đi học. Lúc thì đến lớp muộn, lúc thì đang trong nội trú, lúc thì ngồi trong lớp thật đông, thầy giảng chẳng hiểu gì. Thức giấc, ngờ ngợ là những giảng đường Đại học Khoa học Sài gòn ngày xưa đông đúc, với bạn bè lạ hoắc…

Tôi cũng hay thấy mình đi học ngang qua một lạch nước, có cái nhà thờ nho nhỏ…. Mới nghiệm rằng, đó là con đường từ nhà đến trường tiểu học Tam Kỳ, nơi tôi đã đi mỗi ngày mưa nắng suốt năm năm…

Tôi cũng hay gặp “con người” trong giấc mơ. Cái kỳ lạ là tôi không hay gặp những người tôi thường chơi hằng ngày, mà gặp những người tôi không hề nghĩ đến, hay những kẻ mà chúng tôi đã tan đàn, xẻ nghé từ lâu, cả những người ganh ghét, thị phi với tôi trong cuộc sống. Nhưng trong giấc mơ, tôi gặp họ vui vẻ, hoà hợp, tự nhiên. Thức giấc tự nghĩ tại sao vậy? Có lẽ trong thực tế hiện hữu, vì cái này cái nọ, khoảng cách “người-người” bị đào sâu. Nhưng tận đáy lòng mình, tôi vẫn yêu thương họ, nên giấc mơ đưa họ đến với tôi cùng nỗi thiện lương!..

Giấc mơ đến rồi đi. Không đọng lại. Có khi sáng ngày cố nhớ nhưng không nhớ được, cũng như những áng mây trên trời. Thuở nhỏ tôi thường thích ngắm mây trời và tưởng tượng, hình dung đủ thứ. Nào ông Phật, nào bà Tiên, nào con cọp, con rồng, và thậm chí dệt nên những câu chuyện trên mây. Rồi mây bay, rồi tan biến…

Bây giờ đêm nào ngủ không có giấc mơ là tôi buồn. Vì bây giờ nhìn trời, nhìn mây, tôi không còn thấy câu chuyện cổ tích nữa, bởi ý thức tôi đã khác, đã dày dạn. Chỉ trong giấc mơ, tôi không làm chủ được ý thức của mình, mà cứ để cho lòng mình thả lỏng dệt giấc mơ, những giấc mơ hiền!…

NQC

20.8.18

……………………………………………………………………………………..
Thư Cao Kim Quy:

Thân gởi Chơn,

Nhân đọc bài viết này, cũng muốn trước hết cảm ơn nhã ý của Chơn định cho bọn này (Q/T) “ăn theo” anh Đỗ Hồng Ngọc mà…chưa thành!

Phàm người ham…”học”  hay hỏi những câu như vì sao, như thế nào… anh Ngoc nhắn tin đột ngột quá nên mình cũng thắc mắc “nguyên nhân” bởi vì mình hiều chuyện gì cũng phai có nguyên nhân. Tuy nhiên mình không ngạc nhiên vì câu trả lời của Chơn “chẳng lý do gì, chỉ là….em thích!”

Bài viet của Chơn khiến mình hieu ngay. Ly do rất rõ ràng đó chứ! Đó là cảm giác có thể mất nhau bất cứ lúc nào, vậy sao không lập tức nghĩ ngay đến chuyện cận kề nhau khi có thể. Giây trước và giây sau mọi chuyện đã có thể vụt thay đổi, và ta chỉ có thể nắm lấy ngay giây phút hiện tại mà thôi! Có ai níu được quá khứ và có ai sở hữu được tương lai. Cái “em thich” của Chơn là một trải nghiệm trong tich tắc khi vừa rời giấc mơ đêm mà cũng là giọt nước tóe ra từ ly nước đầy sau cả một đời suy nghiệm. Mình hiểu và mình hoàn toàn đồng ý những kiểu “em thích” nghe tưởng như bốc đồng của tuổi… trẻ mà thiệt ra là của một con người trầm tĩnh thủng thẳng đi qua hết những buồn vui của đời người.

hãy mừng rằng mình có thể rủ được mà người khác không thể (chưa thể) đáp ứng lời rủ rê đó. Vậy là dù sao minh cũng đã may mắn hơn họ rồi.

Vì bọn mình vẫn còn là “người phàm” nên buồn buồn là đúng rồi, Chơn hỉ. chỉ có anh Ngoc quá siêu nên đã vượt qua được buồn vui đời thường. Bọn mình ráng học theo “thầy” 🙂

…………………………………………………………………………..

 

Thư Đỗ Hồng Ngọc gởi Nguyễn Quang Chơn,

Không phải một mình Cao Kim “thắc mắc” đâu! Cả TTM cũng “ngạc nhiên” nữa. Sao bỗng dưng NQC… nổi hứng mời cả bọn ra chơi Đà Nẵng một chuyến vậy nhỉ? Riêng anh Ngọc thì hiểu NQC quá nên không “suy tư” tí nào. Ở tuổi Chơn mà còn cao hứng vậy là mừng rồi! Thì ra là từ một Giấc mơ. “Giữa đêm thức dậy/ Ngồi ôm tóc dài/ Giật mình lau trắng trong tay” (TCS)…

Hơn ai hết, NQC trải nghiệm mấy phút bên bờ tử sinh khi kịp đặt cái stent dạo nọ rồi đó Cao Kim ạ. Anh Ngọc còn hơn thế, nên hiểu và thương Chơn nhiều. Chơn phone anh Ngọc, gọi Bửu Ý, gọi Sơn Núi… gọi quanh mình… khi vừa ra khỏi cơn mơ.

Rồi Chơn than… thở. Gặp nhau thôi mà đã khó, huống chi “vân tập” đường xa. Làm sao gọi được NXT, TYT, VHT… rồi Thu Vàng, rồi Khánh Minh, rồi Nguyệt Mai…?

Anh Ngọc mới bèn an ủi Chơn: Buồn chi… em ơi! Nó vậy là Nó vậy (Như thị!). Phải có “duyên” mới xong (nghe nói Duyên-Tùng sắp về đó nhe Chơn).

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (Trần Nhân Tông) nhớ không?

ĐHN

(21.8.2018)

 

Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Cao Kim Quy, Thân Trọng Minh, Lê Ký Thương, Phạm Văn Hạng
(Đường Sách 18.8.2018)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Tháng tám: sinh-nhật-không-ngày

21/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sinh nhật

anh không có ngày sinh nhật
nên mỗi ngày
là sinh nhật của anh

cảm ơn em
nhớ đến anh
ngày sinh nhật!

Đỗ Hồng Ngọc

 

Chúc Mừng Sinh-Nhật-Không-Ngày anh Đỗ Hồng Ngọc!

gửi bác sĩ ĐHN

anh vốn
không
có ngày sinh?
tự vòng tròn
một chỗ thình lình ra
tìm điểm mốc
em khéo đùa
sinh là khởi
cơn gió lùa về không

Vũ Hoàng Thư

 

Chúc Mừng Sinh-Nhật-Không-Ngày anh Đỗ Hồng Ngọc!

sinh nhật lại
không
có ngày
từ vô thủy
luân sinh bày cuộc chơi
về vô xứ
phù vân trôi
bồng thinh lặng
mở khơi lời
rất như

Vũ Hoàng Thư
18/8/2018

 

Đỗ Hồng Ngọc gởi Vũ Hoàng Thư

cảm ơn vũ hoàng thư

thả vần thơ tuyệt mù

đã nghe tràn bát nhã

đã nghe đầy chơn như…

ĐHN

(20.8.2018)

………………………………………..

Thu Vàng viết tiếp

Cảm ơn chàng Đỗ, Vũ
“Thả vần thơ tuyệt mù”
Cõi Phật như hiển hiện
Bát Nhã với Chơn Như.

Thu Vàng


Mừng Sinh Nhật Đỗ Hồng Ngọc

Khi bắt đầu tháng Tám, tôi nhớ Sinh Nhật chàng… không-biết-ngày, thì khoan, gửi lời mừng cuối tháng!

Và, bây giờ cuối tháng, gửi về lời từ xa: Chúc lòng chàng nở hoa, chúc đời chàng kết trái, trái bòng hay trái bưởi… trái gì cũng Tình Thân!

Chàng như mình, hết Xuân, cũng hết rồi tuổi Hạ, chẳng ai còn Ba Má, hỏi ai biết ngày sinh?

Xưa, trong thời chiến tranh, làm giấy tờ cho có! Nhiều người dân mắc nợ / một chút xíu thật thà…

Rồi ngày tháng trôi qua, cái thật thà vô nghĩa! Nhà nước nào chịu xía chuyện-sinh-tử-của-dân?

Kể từ năm Bốn Lăm đến Bảy Lăm, Chạy! Chạy! Ngày sinh có để đấy, năm sinh có cho vui

Tất cả đều trời ơi! Khóc, cười, cơn dâu bể! Gặp thế thời, thời thế… Không ra đời, hay hơn?

Bạn ơi, xin đừng buồn, mình chỉ tào lao giỡn… nếu mình đi quá trớn, cho mình lòng khoan dung…

*
Cầm như hái bưởi bòng đem ném sông ném biển, cầm như con bướm liệng quanh áo nàng tiểu thơ…

Gửi về bạn giấc mơ tự dưng mà thấp thoáng.
Sài Gòn đang tháng Tám, lá me bay đường me…

Trần Vấn Lệ

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Có một ngày “Sinh nhật”

17/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chúc Mừng Sinh Nhật Tháng 8

của Nhà Thơ/ Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2017/08/31/chuc-mung-sinh-nhat-thang-8…

 

Sinh nhật

anh không có ngày sinh nhật
nên mỗi ngày
là sinh nhật của anh

cảm ơn em
nhớ đến anh
ngày sinh nhật!

Đỗ Nghê (ĐHN)

*

Mỗi ngày mỗi mới

(Kính tặng anh ĐHN)

Nếu mỗi ngày
đều là sinh nhật của anh
thì niềm vui không bao giờ tắt

để em bắt gặp
mỗi ngày
mỗi điều mới nơi anh
vẫn là anh

rất mới

nguyệt mai

*

mừng “sinh nhật”

mỗi ngày tôi chọn một niềm vui (*)
nên anh chọn mỗi ngày là “sinh nhật”.

nhớ anh ngày sinh nhật
là nhớ anh mỗi ngày…

duyên

…………………

(*) TCS

*

Niềm vui

(Mừng sinh nhật anh Ngọc)

Vì mỗi ngày anh chia sẻ
Quà vui cho mọi người
Nên mỗi ngày đều là
Sinh nhật của anh

Nên mỗi ngày
Ai cũng nhớ
Sinh nhật của niềm vui…

khánh minh

*

Mừng Tháng “Sinh nhật” bạn mình

Bạn sinh vào tháng Tám mà… chẳng có Ngày Sinh. Hồi đó, hồi chiến tranh, làm khai sinh… khai vậy!

Cho nên bạn nói đúng: Mình Chỉ Có Tháng Sinh! Tháng hay ngày, long lanh của đôi vầng Nhật Nguyệt…

Dòng thời gian mải miết, coi như chẳng có ngày, chẳng có phút, có giây, chẳng có gì bận trí!

(…)

Hôm nay, còn tháng Tám, gửi bạn một lời Mừng. Tôi không thể dửng dưng… vì tôi yêu quý Bạn!

Trần Vấn Lệ

*

sinh nhật

gửi bác sĩ ĐHN

anh vốn
không
có ngày sinh?
tự vòng tròn
một chỗ thình lình ra
tìm điểm mốc
em khéo đùa
sinh là khởi
cơn gió lùa về không

Vũ Hoàng Thư

 

Và, thêm một bài thơ nữa của Vũ Hoàng Thư:

Chúc Mừng Sinh-Nhật-Không-Ngày anh Đỗ Hồng Ngọc!

sinh nhật lại
không
có ngày
từ vô thủy
luân sinh bày cuộc chơi
về vô xứ
phù vân trôi
bồng thinh lặng
mở khơi lời
rất như

Vũ Hoàng Thư
18/8/2018

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Hồ Hoàng Thanh: THƯ GỬI ĐỖ HỒNG NGỌC

28/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 Ghi chú: Gần đây trong lúc lục soạn đống sách vở cũ, tôi bắt gặp cuốn Về Cái Chân Thật Nghệ Thuật của Hồ Hoàng Thanh, NXB Đà Nẵng 2002, trong đó có Thư Gửi Đỗ Hồng Ngọc, tr 352-360, là những cảm nhận của tác giả về tập thơ Giữa Hoàng Hôn Xưa của tôi, NXB Trẻ Tp HCM 1993 ấn hành, với hình bìa Trịnh Công Sơn, tựa Đỗ Trung Quân và Lữ Quỳnh trình bày. May sao, tôi gặp Đèn Biển và Trần Ngọc Hưởng tình cờ ở Đường Sách Saigon ngày hôm kia (26.7.2018), Đèn Biển đã chịu khó gõ lại giùm bức thư sang word, và nhờ vậy mà hôm nay tôi có dịp chia sẻ bài viết này cùng bè bạn thân quen, như một kỷ niệm. Bức thư đã viết từ hơn 20 năm trước rồi chớ ít gì!

Đa tạ Đèn Biển.

(ĐHN)

THƯ GỬI ĐỖ HỒNG NGỌC

Hồ Hoàng Thanh

 

Đà Nẵng, 20/8/1997

Anh Đỗ Hồng Ngọc quý mến,

 

Hôm nhận được thư và sách anh Châu Anh gửi cho, tôi rất ngạc nhiên nhận được tập thơ Giữa hoàng hôn xưa do chính tay tác giả đề tặng. Chỉ có điều xin thưa lại ngay để anh rõ: tôi chẳng phải là nhà văn mà chỉ là một “lều văn”, có biết chút ít gì chỉ là theo kiểu không chuyên mà thôi. Đến hôm nay, nhẩn nha đọc vừa xong lần đầu tập thơ, tôi cầm bút viết cho anh nhằm bày tỏ lời cảm ơn chân thành của một bạn đọc chưa từng quen biết và cũng xin gửi đến anh mấy cảm nhận bước đầu về tập thơ như một món quà đền ơn tri ngộ.

Đọc từng bài, cứ đọc dần, tôi càng cảm thấy ngạc nhiên, một thứ ngạc nhiên đầy thú vị, có phần giống với ý kiến Nguyễn Hiến Lê. Ngạc nhiên về những tứ thơ khá mới lạ từ những sự kiện đời thường, về những mạch thơ, lời thơ dung dị gần như lời nói thường, về những bài thơ hay, về điều gì như một sắc thái riêng của tác giả.

Hình như không phải bất cứ một bác sĩ – thi sĩ nào cũng viết nên được một bức “Thư cho bé sơ sinh” ngộ nghĩnh, ngược đời mà ngậm ngùi, chua xót đến thế. Tứ thơ mới lạ, đầy nghịch lý giữa đời thường. Hầu hết các đoạn thơ đều rất thực mà cũng rất trớ trêu. “Thư cho bé sơ sinh” là một giả tưởng rất phi lý nhằm làm nổi bật lên những điều ngang trái, rất thực trong cái xã hội đảo điên này. Tôi thiết nghĩ, đây là một bài thơ hay.

 

Cũng được viết từ 1965, bài “Lời ru” cũng mang tứ thơ mới vì khá phi lý. Phải chăng những lời ru, lời thủ thỉ ấy chỉ dám ghi vào trang giấy giấu kín (cũng đã “gan góc” lắm rồi) để tự giải thoát cho “hả” bớt phần nào tâm trạng dồn nén, bức bối, câm lặng mà ngay việc thổ lộ ra với vợ con cũng là mạo hiểm. Bởi cái tâm lý không quê hương ấy, cái nỗi lo “gà nhà bôi mặt” giết nhau ấy, nó ngược đời quá quắt lắm, nhưng tiếc thay nó lại là rất thực. Thật mỉa mai, chua xót.

 

Nhà xuất bản TRẺ, 1993. Tranh bìa Trịnh Công Sơn, tựa Đỗ Trung Quân, trình bày Lữ Quỳnh.

 

Mấy bài liền viết về nỗi đau quay quắt mất con, nhất là hai bài “Con đã lớn” và “Tình yêu” chân thực bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. “Con đã lớn” hay vì tứ thơ đã xoáy vào một nghịch huống: đến khi mất con rồi. mới nhận ra được rằng thật sự con đã lớn khôn (không mãi “trẻ nít” như cha mẹ vẫn tưởng). Điều “Ý ngôn tại ngoại” là vì thế, nỗi tiếc nuối con càng cháy lòng! Các kỷ niệm về con sao bình dị mà sống động, mà thiêng liêng! Bài “Tình yêu” lại hay một cách khác. Phải chăng ở đây đã có sự vượt lên trên những kỷ niệm cụ thể, tình cảm ở đây trở thành một hoài bão về một tình yêu bộc lộ tràn đầy, một tình yêu “không bao giờ cũ” và “chẳng sợ dư thừa” bù đắp cho sai lầm về một tình yêu quá kín đáo. Ở đây không chỉ là tình yêu con mà là cái tình yêu (nói chung) đã được khái quát hóa và trừu tượng hóa. Tôi nghĩ đây là bài thơ hay nhất trong cả tập thơ, nếu còn thận trọng, chưa dám gọi là tuyệt tác. Thực ra, đó chính là nỗi lòng đích thực, là sự suy tư về một tình yêu đích đáng nảy ra từ một sai lầm cụ thể về một tình yêu quá kín đáo. Điều đó diễn ra trong tâm tư một nhà thơ nên đã trở thành một bài thơ hay, một bài thơ đích thực.

Viết đến đây, gặp lúc bà xã nhà tôi (vốn là một giáo viên) mang nước sôi lên đổ vào phích xong, tôi thử đưa hai bài thơ này cho đọc và hỏi ngay cảm tưởng. Đọc xong, nhà tôi thốt lên ngắn gọn mà súc tích cảm tưởng của mình: “Hay, hay thật. Rất thật và rất hay!” (nói thêm: vợ chồng tôi đều trải qua nỗi đau mất con).

Bài “Đạo diễn” lại góp thêm một tứ thơ mới lạ. Phải chăng từng chứng kiến nhiều cảnh đóng phim dưới bàn tay đạo diễn, mà sẵn nỗi đau mất con, tác giả lại nảy ra được thứ ao ước đầy giả tưởng mà lại thật lòng, cháy bỏng như vậy.

Bài “Đâu có phải tự nhiên” ở cuối tập thơ mộc mạc và “tự nhiên” đến “dễ thương”. Thú thật với anh, thường khi đến khám bệnh ở Bệnh viện C Đà Nẵng, nhìn thấy các sân cỏ xanh rờn, tôi từng nghĩ bụng: “sao chẳng ai nghĩ đến việc nuôi ít con dê, con bò ở đây vừa để dọn cỏ cho sạch, vừa để lấy sữa cho bệnh nhân nhỉ”. Chỉ thoáng nghĩ vậy thôi chứ chẳng từ đó nảy ra được tứ thơ như anh. Mạch diễn đạt và lời lẽ bài thơ giản dị, hồn nhiên mà rất thi vị. Qua đó nổi bật lên một tâm hồn đẹp: bình dị, hồn hậu, thanh thản, yêu đời, yêu nghề, yêu bệnh nhân, yêu gia đình bởi khéo biết chấp nhận, tự bằng lòng với vị trí xã hội bình thường mà rất cao đạo (nhân đạo) của mình.

Phải chăng mảng thơ trên đây là mảnh đất thân thuộc, phong phú, đầy hấp dẫn mà tác giả càng đi sâu khám phá càng dễ thu hái được nhiều thơ hay? Và phải chăng từ mảng thơ này và các mảng thơ sau, ta có thể nghĩ rằng hầu như phong cách riêng của tác giả là khéo biết khai thác, trộn lẫn cái thực cái hư, cái chân cái giả, cái hợp lý cái phi lý, cái bình dị cái mới lạ tân kỳ, nhờ khéo biết khai thác các nghịch lý, nghịch cảnh ngay từ trong xã hội?

Đương nhiên còn có các mảng thơ khác. Một mảng thơ gần gũi với mảng thơ trên cho thấy thêm đời sống nội tâm của tác giả, một công dân, một trí thức trước thời cuộc. Có thể xếp vào đây các bài “Buổi tiễn đưa”, “Dỗ em”, “Tôi còn nợ”, “Biển xa”, “Mai sau dù có bao giờ”, “Giờ mới nên quen”, “Giới tuyến”, “Gặp lại người bạn cũ”, “Đi cho đỡ nhớ”…

“Buổi tiễn đưa” như một dạng “Tống biệt hành” (Thâm Tâm) mới, mang tâm trạng u uất mới: “Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời Và khí phách thôi một thời trẻ dại”. Hai đoạn thơ cuối bài hay, nhất là đoạn cuối, câu cuối. “Dỗ em” khá ray rứt. “Đi cho đỡ nhớ” ánh lên một niềm vui, một nguồn hy vọng. Nguồn hy vọng ấy, sau giải phóng ít lâu, lại là một thời điểm đầy thử thách. “Tôi còn nợ” là lời hạ quyết tâm “ở lại” bởi những món nợ khó lòng trả xong. Trong “Mai sau dù có bao giờ”, tôi thích hai câu: “Cái nắng Sài Gòn hanh đôi má. Giọt mồ hôi mặn thấy thương ghê”…

Ở mảng thơ “quê nhà”, với những “Mũi Né”, “Trên sông khói sóng”, “Gió bấc”, “Đêm trên biển Lagi”, không hiểu sao tôi thích nhất “Gió bấc”. Ngắn gọn mà súc tích, ý vị. Cũng không hiểu sao tôi lại chú ý bắt gặp thứ gió bấc ấy trong một đoạn thơ “Quê nhà”: “Hái đóa hoa màu biển biếc… Bâng khuâng một mái nhà”, lại thoáng thấy nó trong đoạn đầu “Mũi Né”: “Hình như gió bấc lùa trong tết Những chuyến xe đò giục bước chân”. Ở đoạn 2 bài “Trên sông khói sóng” lại thấy hơi gió đó: “Gió ở đâu về thơm bước khuya”.

Đến mảng thơ tình yêu, gồm hầu hết những bài còn lại, nổi bật lên bài “Có một vì sao”. Tôi thích những câu mặn mòi vị biển Bình Thuận: “Nhưng đêm ở đây… Đêm rất mặn vì đêm xanh bát ngát” và đặc biệt là câu kết “Để anh được làm kẻ chăn cừu khờ dại…”. Bài “Viết tên lên cát” đưa đến “Tên em mênh mông đại dương” mang dáng vẻ khoa trương nhằm nói lên cái rất thực của ý tình. Bài “Giữa hoàng hôn xưa” hay ở đoạn kết “Thiếu em hoàng hậu ngai vàng như không”. Có những bài tứ tuyệt đáng chú ý như “Võ vàng”, “Cố nhân”. “Võ vàng” nhận ra sự tàn phai trong lòng người. Đến “Cố nhân”, sự e ngại đó đã trở thành sự khẳng định một hiện thực đáng buồn. Bài “Lục địa giận hờn” hay ở tứ thơ vũ trụ. “Hành hương” nói lên ước vọng đạt đến một nơi “chỉ có anh và em” lý tưởng…

Cố gắng điểm hết các mảng thơ như vậy cũng chỉ nhằm muốn tìm hiểu được những dáng vẻ đa dạng khác nhau của hồn thơ tác giả và tìm hiểu được phần nào sắc thái riêng của tác giả. Nhưng đương nhiên, chỉ qua lần tiếp xúc buổi đầu, khó mà hiểu được điều gì sâu sắc.

Về mặt hình thức nghệ thuật, qua tập thơ này, tôi cảm nhận được rằng anh vốn am hiểu các thể loại thơ trước nay. Và có những tứ thơ được thể hiện qua những thể quen thuộc, cũng có không ít bài được thể hiện bằng thơ tự do. Nói thật với anh, tôi cũng vốn am hiểu ít nhiều các thể loại thơ lâu nay, nhất là từ cao trào “thơ mới”, tôi cũng có làm thơ và cũng nhận ra được xu thế tiến tới thơ tự do là điều tất yếu. Tôi đã từng viết bài “Xu thế tự do hóa hình thức thơ” đăng trên tạp chí Văn học năm 1978. Nhưng trong thực tế sáng tác, do ảnh hưởng của thói quen, tuy vẫn thường viết theo thể thơ tự do, tôi vẫn chưa dứt khỏi những âm điệu quen thuộc. Tuy về nhận thức tôi vẫn cho rằng thơ tự do là sự chuyển biến nội tại cả về nội dung lẫn hình thức trong quá trình tiến triển của thơ ca Việt Nam (chứ không phải là sự bắt chước thơ tự do của nước ngoài hoặc là sự du nhập máy móc).

Đọc thơ anh, tôi cảm thấy anh làm thơ tự do một cách hồn nhiên phóng khoáng hơn, hầu như không bị ảnh hưởng nặng nề của thói quen cũ trong diễn đạt như tôi, hoặc anh Châu Anh chẳng hạn. Nói rộng ra một chút. Tôi có theo dõi bước tiến trong diễn đạt của một bạn thơ. Đến tập thơ tôi rất thích bởi nhận ra được một bước tiến mạnh bạo theo thơ tự do ở tác giả, khiến tôi muốn viết bài giới thiệu. Nhưng sau đó, qua những tập thơ kế tiếp, tôi lại thấy xu thế đó không được mạnh bạo tiếp tục. Cho hay, ngay với một nhà thơ tài năng, khuynh hướng tự đổi mới đó vẫn chưa thật nhất quán, chắc cũng do ảnh hưởng của thói quen nghiêng về những âm điệu thông dụng. Trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ rằng, còn phải đợi thêm ít lâu nữa, lớp nhà thơ mới ít chịu ảnh hưởng của thói quen sáng tác theo những thể điệu cũ, mới làm cho thơ tự do hồn nhiên, bình dị, phóng khoáng hơn nữa.

Đọc anh qua những bài thơ hay như “Tình yêu”, “Con đã lớn” v.v… tôi càng cảm thấy hầu như anh đã vượt qua được cái ngưỡng cửa khá tai hại của thói quen về âm điệu cũ, viết một cách dễ dàng, tự nhiên, gần như lời nói thường, chẳng ngại dùng đến những từ ngữ “nôm na” mà người  ta thường kiêng kỵ trong thơ: “Trước mộ con còn ướt Ba nói với bè bạn ba rằng…” hoặc không sợ trùng lặp: “Hãy tỏ bày đi Vồ vập đi Âu yếm ồn ào đi” bởi là sự trùng lặp cố ý. Hoặc nói năng chẳng khác gì lời nói thường: “Đút cho con ăn Gạt gẫm cho con há miệng Hù con ông kẹ bà già” (vậy mà rất hay) Hoặc nữa: “Mới ngày nào dẫn con đến trường Bỏ đi không nỡ Những lúc con ốm đau Cả nhà run sợ Con ho mà ba ran lồng ngực Con sốt mà má đắng chát môi”. Ở “Thư cho bé sơ sinh” cũng như vậy, với những đoạn thơ 2, 3, 5 chẳng hạn “Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em” Hoặc nữa ở bài “Tôi còn nợ”: “A! Ông thầy về! Tưởng đi luôn rồi chớ!… Có gì đâu em vì tôi còn nhiều nợ… “. Ở bài “Đạo Diễn” cũng vậy. Tưởng như đó là lời nói thường, viết chữ lại xuống hàng: “Bạn bè ơi sao mà giỏi thế Cứ đóng y như thiệt”.

Người quen với thơ đường luật sẽ khó lòng cho đó là thơ được. Vậy mà “rất thơ” mới lạ chứ. Đương nhiên cũng không nên quá dễ dãi.

Đến đây mới thấy thư viết đã quá dài, mong anh miễn thứ cho, bởi tôi có phần “sa đà” quá. Chẳng qua tôi như người trèo cây, gặp được cây lắm quả, tôi mải mê “khèo” xuống, “khèo” trái chín lẫn trái xanh. Chỉ mong anh thấy dùng được chút ít nào cũng đã thỏa lòng rồi!

Chúc anh và gia quyến mọi sự tốt lành. Mong được trao đổi thư từ với anh những khi anh rảnh rỗi.

 

Kính thơ,

Thanh

 

 BC: Quên nói thêm với anh rằng tập thơ trình bày rất đẹp, tranh bìa của Trịnh Công Sơn rất thơ vừa rất hoàng hôn đẫm màu tím khế, vừa có bóng dáng nữ nhân, chim chóc, đuôi ngựa v.v… mà như một bào thai để tha hồ tưởng tượng.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Có một “Đêm nhạc Thu Vàng”

27/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Có một ĐÊM NHẠC THU VÀNG

 

 

(NXT phovanblog)

 

Tiếng hát Thu Vàng

“Có một con chim lạ đến từ núi xa, ngứa cổ hót chơi”, một câu thơ của Xuân Diệu mà Duyên đã mượn để nói về tiếng hát Thu Vàng hôm nay.

Hãy nghe Hoàng Quốc Bảo viết về tiếng hát Thu Vàng:

“Vàng rơi thu mênh mông. Đó là cái tựa lấy từ câu thơ của Bích Khê, trong bài Tỳ Bà do Phạm Duy phổ nhạc và thực hiện trong thời gian trước khi qua đời. Tác giả đã mời tiếng hát Thu Vàng trình bày. Từ đó tiếng hát thăng hoa, bài thơ thăng hoa. Từ đó nghệ thuật biến định mệnh thành tiếng hát! như một nhận định sắc gọn của Đặng Tiến.

…Và giọng hát Thu Vàng cất lên, người thưởng ngoạn nhận thấy thấp thoáng kết tinh giữa 3 tiếng hát: Có những lúc tình tự lai láng dạt dào của Quỳnh Giao thời xuân trẻ; có nhiều lúc vững chãi, nhẹ nhàng sang cả như Mai Hương; lại lẩn khuất cái kỹ thuật cắn câu nhả chữ, hơi thở nồng nàn, uốn lượn, tràn trề nhựa sống của Thái Thanh, vào cái thời ngọt ngào sung mãn nhất…”

(HQB)

Và với riêng tôi là sự tri ân giọng ca đã hát Mũi Né (nhạc Hoàng Quốc Bảo, thơ Đỗ Hồng Ngọc), Bông hồng cho Mẹ (nhạc Võ Tá Hân, thơ ĐHN) và Sông ơi cứ chảy (nhạc Nguyễn Đức Vinh, thơ ĐHN)… Cùng những chuyến đi với nhóm bạn bè về Hội An, Lagi, Mũi Né… ngày nào.

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………………….

Viết thêm: Đã sắp đến Vu Lan, hãy nghe lại Thu Vàng trong BÔNG HỒNG CHO MẸ:

 

 

Và, SÔNG ƠI CỨ CHẢY, bài thơ tôi viết đã lâu cho La Ngà, đứa con gái đầu lòng, gần đây được Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh phổ nhạc, với tiếng hát Thu Vàng:

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: “ĐÁ NHẢY”

13/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

“ĐÁ NHẢY”

Không ngờ bạn vẫn còn nhớ Đá Nhảy. Hồi ở Phan Thiết, bạn đã từng đi xe đạp đến tận Núi Tà Cú thăm tượng Phật nằm rồi còn chịu khó đi thêm chừng 15 cây số đến tận Kê Gà để ngắm một vùng bờ biển đặc biệt của xứ mình: Đá Nhảy, phải không?

Đá mà cũng biết “nhảy” ư? Chớ gì nữa. Chẳng những biết nhảy mà còn nhảy chồm chồm một cách… như đá nên mới ngày càng sinh sôi nẩy nở bao nhiêu là đá con. Nếu có dịp về thăm, bạn sẽ ngạc nhiên lắm đó.

 

Photo: Do Hong Ngoc

Photo: Đỗ Hồng Ngọc

Photo Đỗ Hồng Ngọc

Bạn thấy Đá nhảy có thua gì Cóc nhảy không? Không phải “Cóc ở trong hang cóc nhảy ra” đâu nhé. Bạn mình, họa sĩ Lê Ký Thương, nghệ danh là Cóc đã… cảm xúc ra câu “đối”: “Cóc nhảy cóc nhảy cóc”. Xuất đối dị đối đối nan phải không? Chữ ‘nhảy cóc’ trước khác với ‘nhảy cóc’ sau!

Đi thơ thẩn trong bãi Đá Nhảy hoang sơ này, mình không thể không vóc lên một vóc những vỏ sò, vỏ ốc… để thấy ra những tảng đá hùng vĩ kia cũng là từ những vỏ sò vỏ ốc này mà hình thành đó thôi…

 

Từ bãi Đá Nhảy đi ngược về hướng Nam chừng chục cây số, có một đồi cát cao gọi là Hòn Lan: “Chiều chiều én liện Hòn Lan/ Nhớ người quân tử thở than đôi lời…”. 

Hòn Lan nổi tiếng với mộ Cô Rô. Tương truyền xưa có một cô gái con nhà nghèo tuổi nhỏ, hàng ngày đi bắt cá dưới mương về cho mẹ nấu ăn, một hôm cô bắt được một con cá rô, bèn cắn chặt giữa hai hàm răng để rảnh tay bắt tiếp, không ngờ cá rô vẫy mạnh tọt vào cổ họng…! Trên đỉnh Hòn Lan ngày nay vẫn còn ngôi mộ đá. Dân làng mỗi người đắp một cục đá nhỏ nay đã thành ngôi mộ khá lớn. Dưới chân Hòn Lan, xưa còn có một hang động, nghe nói ghe thuyền đánh cá thường vào trú ẩn khi có sóng to, gió lớn…

Từ vùng Kê Gà này (xưa là Văn Kê, Thạnh Mỹ), đi về phía ruộng vườn Phong Điền, Hiệp Nghĩa (nay là Tân Thuận, Hàm Thuận Nam) chừng mươi cây số – quê Ngoại mình, có một vùng gọi là Bàu Lời, một vùng quê hẻo lánh đến Google cũng không thấy có tên. Trong thời kháng chiến chống Pháp, đây là vùng tản cư. Mình còn nhớ vì lúc đó gia đình mình đã ở đây vài ba năm (khoảng 1950,1952) lúc mình 10, 11 tuổi. Nhà ở đó có vườn nhỏ, có bàu nước (có tên Bàu Lời?) và một cái giếng rất ngộ, như có mạch nước phun đầy. Sau này, giếng nước bỗng nổi tiếng là Giếng Bà, người người lấy nước về chữa bệnh! Ông già mình đi làm ở Ô Rô (Hòa Đa, Bắc Bình), mình thường theo Mẹ đi bắt còng, mua ruốc tươi về làm mắm ruốc… Nhà trồng bắp trên đồi, gánh nước từ giếng lên tưới mỗi ngày. Thời này mình được đi học, ở trường Gò Ông Nồm, phải đi qua cánh rừng dầu mênh mông. Bây giờ trống trơ trống hoắc. Trường Gò Ông Nồm vì nằm trên Gò Ông Nồm chớ tên thiệt của nó là Trường Nam Bình, dạy tiểu học, tới lớp 5 (lớp nhất) là hết. Mình học lớp 3. Học trò gọi thầy bằng “Anh giáo”! Xung quanh lớp có nhiều hầm trú ẩn chữ V, chữ U để tránh bom. Ngày nào mình cũng ăn cơm vắt bó trong mo cau với cá khô nướng thiệt ngon. Trưa trưa còn leo lên cây vắt vẻo bẻ cơm ăn ngon lành. Có máy bay… bà già bay qua thì nhảy ngay xuống hầm. Học trò nhà quê thời chiến nên 16-17 tuổi học lớp 5 là thường! Bây giờ chỉ còn cậu Hội, dì Lan…; ở Bàu Lời thì còn Nguyễn Văn Mỹ (Lagi)…

Chuyện “vui” còn nhớ là trong lớp lớn (lớp 5) thời đó, có anh Ng (chừng 15 tuổi) viết một bức thư tình cho chị Ch (chừng 13-14?)… Không ngờ chị Ch mang lên trình Thầy. Thầy mang thư ra đọc trong buổi chào cờ hôm sau cho cả trường cùng nghe! Không rõ anh Ng sau đó có bị đuổi học không! Lúc đó mình mới 11 tuổi, chỉ nhớ chút chút vậy.

Nhà cũ (1950): Vườn và Bàu nước (ảnh: Đặng Tình, 2018)

Đây là vài hình ảnh về khu vườn và bàu nước của ngôi nhà xưa của gia đình mình ở Bàu Lời (thời 1950-52) cùng với giếng nước- sau này gọi là “Giếng Bà”… nổi tiếng một thời vì bà con lấy nước giếng về chữa bệnh…(xưa là giếng gạch đã được trùng tu).

“Giếng Bà”… 
(ảnh Đặng Tình, 2018)

Cuối năm 1952, Ba mình mất, cả nhà mấy mẹ con mới bỏ Bàu Lời về Phan Thiết tá túc nơi nhà Cô Hai trong chùa HN… Đã mấy mươi năm chỉ một lần mình về thăm lại Bàu Lời, những hình ảnh xưa nay chỉ còn trong ký ức tuổi thơ…

 

Bạn ơi,

Lúc này mình già dữ rồi. Già tăng tốc. Làm biếng cũng gia tốc. Nên hay dài dòng kể chuyện xưa chẳng ai thèm nghe. Nhưng, thôi kệ. Kỳ này mình về Lagi dự Họp mặt Bà con họ Đỗ, bỗng trở thành người… cao tuổi nhất rồi đó, dù vai vế còn nhỏ hơn nhiều anh chị. Riêng với các chị lớn con Cô Hai là chị Ba Oanh, chị Tư Yến… xưa ở chùa HN Phan Thiết thì mình gần gũi nhất. Chị Ba nay gần 90 chớ ít gì. Chị Tư nổi tiếng “người đẹp” chùa HN nay cũng sắp xỉ! Hồi nhỏ, mình sống trong chùa nhờ hai chị giúp đỡ nhiều lắm, nhất là nhờ Cô Hai và 2 chị mà mình đọc ké gần hết mấy kệ sách trong tiệm cho thuê sách lớn ở Phan Thiết!

 

Họp mặt Bà con họ Đỗ Lagi, 30.6. 2018.
Từ phải hàng ngồi: chị Tư Lâm Hồng Yến, chị Ba Lâm Hồng Oanh…


Anh Đỗ Hồng Thái (cà-vạt) con Bác Năm là “chủ xị” kỳ này. Trong dòng tôc, cứ mỗi năm luân phiên chủ xị. Cũng vui. Có làm học bổng cho các cháu học giỏi, ngoan. Thế hệ F1, ông già mình gồm Cô Hai (mẹ chị Oanh, Yến…); bác Ba Đỗ Đơn Thơ (giỏi văn thơ), bác Tư Đỗ Đơn Bút (giỏi võ) bác Năm Đỗ Đơn Thanh (giỏi thơ Đường, cờ tướng), Ba mình, ông Bảy Đỗ Đơn Trì (chơi violon, đóng kịch), chú Chín Đỗ Đơn Đình (vô địch cờ tướng), chú Mười Đỗ Đơn Chiếu (nhà báo Châu Anh, TKTS báo Đất Tổ Saigon)… Tóm lại, thế hệ F1 mỗi người một vẻ. Mình F2… rồi bây giờ đã thấy có F5, F6 chẳng nhớ nổi. May còn cái gia phả, chưa “bổ sung”… nhờ Đỗ Ái Liên (nhà thơ Đỗ Quyên F2) và các em cháu làm tiếp vậy.

 

 

“trưởng lão” được mời thay mặt BTC trao học bổng!

 

 

 

 

 

 

 

Đến thăm nhà Đỗ Hồng Thái, nghe anh hát Trịnh Công Sơn (1.7.2018):

“Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”

“…tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi… tình yêu mật đắng… tình yêu như biển biển rộng hai vai...”.

Cho nên chưa tới bảy mươi, anh đã sáng sáng lên Bàu Giòi kéo lưới cùng bà con, xin mấy con cá về nấu canh ngót ăn… và chiều chiều lai rai cùng bè bạn!

Xin lỗi bạn, nảy giờ hơi tào lao quá rồi đó. Chỗ nào không ưa, bỏ nhe.

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Phan Chính: “Giếng Nguồn Chung” (*)

05/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Giếng Nguồn Chung” (*)

Có lẽ thời tiết trong khu vực biển này từ cuối giêng đều êm ả, dịu dàng. Mặt biển phẳng lặng không một gợn sóng và trong suốt có thể thấy được lớp cát dưới nước. Biển ngày nào hung hãn nổi sóng, tung bọt trắng xóa đập vào bờ nay lại mượt mà, phẳng lặng của “mặt nước hồ thu”. Phải thức với biển cùng lúc mặt trời vừa nhô lên ở hướng mũi điện Kê Gà mới cảm nhận được sức quyến rũ của một không gian biển trời kỳ diệu. Mặt trời đỏ hửng như chầm chậm lăn tròn không thể lẫn lộn với gam màu nào từng có ở những bức tranh tuyệt tác. Đường chân trời giữa mặt biển khơi xa với vầng mây lấp lánh sắc màu đang tan loãng vào lòng đại dương vô tận.

Từ rất sớm khi mặt trời chưa lên, nhiều người đã rải rác trên bãi cát với những động tác vươn vai, hít thở như sợ cạn đi cái không khí quý giá của ban sớm trong lành. Tôi lẩn trong tốp người dẫm lên bờ nước đang rút, hướng về ngảnh Tam Tân để nghe cái cảm giác của đôi bàn chân trần ngập bởi lớp cát mềm mát rượi. Bãi biển ở đây trải rộng phẳng phiu chạy dọc dài theo đồi cát trắng hoang sơ, đôi chỗ là bãi vỏ chang chép như tấm khảm xà cừ của thiên nhiên thời sơ nguyên còn sót lại. Từ Đồi Dương đi chừng 2 cây số, tôi nhận ra bụi dứa cô đơn đã bị cát bồi lấp đến nửa thân cây trên động cát trắng cuối dự án Khu du lịch Sài Gòn-Hàm Tân xây dở dang trông như ngôi đền cổ hoang phế. Bụi dứa vẫn còn xanh lá nhưng khe nước ngọt ngày xưa chắc chắn chỉ ngầm chảy dưới lớp cát vô tình. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của Ngu Í Nguiễn Hữu Ngư : “Nằm đây mà ngó lên trời/ Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa/ Nằm đây mà nhớ mơ hồ/ Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…” Theo bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gọi tác giả là cậu ruột, kể rằng năm 1960 cậu Ngu Í về quê Tam Tân cải táng mộ song thân, khi đến Nước Nhỉ nằm nghỉ dưới tàng cây dứa sum suê bóng mát, bên cạnh đống gạch xây giếng đã vỡ vụn mà hồi tưởng thời tuổi thơ và thân phận đời người rồi có những câu thơ lục bát đến bàng hoàng.

Bài thơ viết về Giếng “Nguồn Chung” của Nguiễn Ngu Í trong tập …”QÊ HƯƠNG”… 1969

 

Bìa tập “…QÊ HƯƠNG”…
(Saigon, 1969)

Thuở xưa, người dân La Gi đi lên Tam Tân, Tân Thành hoặc trên đường ra Phan Thiết thì bờ biển là con đường bộ duy nhất. Nguồn nước ngọt chỉ có trong đất liền rừng rú bên kia động cát có nhiều thú dữ, cho nên chỗ mạch Nước Nhỉ này trở nên quý hiếm cho khách bộ hành và họ đã tạo thành giếng nước cạn. Chỉ dùng hai bàn tay bụm nước hay dùng chiếc nón lá múc lên để uống. Được gọi là giếng từ khi nhóm thanh niên Hướng đạo các làng La Gi, Phong Điền, Tam Tân cùng nhau dùng xe bò chở gạch đi xây giếng để giữ mạch nước trong trẻo và đầy tràn hơn. Năm đó vào khoảng 1944 và được đặt tên là giếng Nguồn Chung. Cảnh quan ở đây rất đẹp bởi có đồi cát cao chập chùng đan xen những mảng xanh rau muống biển và hoa nắng cỏ long chong. Giếng nằm cuối dãy rừng dương xanh chạy dài tít tắp đến tận làng chài Tân Long.

Người xưa thấy mạch nước ngọt xuất lộ ngay bờ biển dưới chòm cây dứa um tùm là một hiện tượng lạ lùng vì cạnh đó khi moi xuống lớp cát sâu chỉ toàn là nước mặn của biển cho nên nghĩ có gì đó bí ẩn khác thường. Có người liên tưởng đến Hòn Bà đang sừng sững trên sóng biển mênh mông với huyền thoại ly kỳ lại càng thêm cảm nhận cái hồn thiêng thấp thoáng trong dòng nước ngọt ngào tuôn chảy từ chân động cát trắng. Nay với cách giải thích về địa lý, bên kia động cát có một bàu nước tên gọi Bàu Giòi, nay thuộc xã Tân Tiến (La Gi) tích tụ nguồn nước từ núi Đất, Lồ Ồ chảy xuống và tạo thành mạch nước ngầm xuyên qua động cát trổ ra, đó là giếng Nguồn Chung.

Cũng liên quan đến giếng Nước Nhỉ này, năm 1917 có một chiếc bè chở 6 người tù Côn Đảo vượt biển sau 6 ngày lênh đênh, đói khát tấp vào đây. Nhờ mạch nước ngọt trong chân động cát nhỉ ra mà lấy lại sức, tỉnh táo tìm đường ra xóm Tam Tân. Cũng tại đây họ gặp hương sư Nguyễn Hữu Hoàn, cha của Ngu Í người quê Hà Tĩnh lánh nạn vào Tam Tân và làm nghề dạy học. Nhận ra người đồng hương, ông giáo Hoàn đã cứu thoát khỏi sự truy lùng của hương chức làng, trong số đó có Hy Cao Nguyễn Đình Kiên, tức Tú Kiên là nhà cách mạng trong phong trào Đông Du có những hoạt động ảnh hưởng tốt đến phong trào cách mạng tỉnh Bình Thuận.

Ngày nay, không còn mấy ai nhớ đến con đường “bộ hành” men theo bờ biển để đi lại nữa. Nhưng địa danh Nước Nhỉ vẫn còn dù nằm lẩn khuất dưới một dự án đồ sộ với tên gọi sang trọng hơn. Cái ý nghĩa rất nhân văn khi mạch nước ngọt thiên nhiên ngày nào đã hiện diện một cách khiêm nhường trong đời thường của người dân vùng biển La Gi.

PHAN CHÍNH

(nguồn: báo Bình Thuận)

(*) Tựa www.dohongngoc.com/web/

 

Viết thêm: Đây là bài thơ Đỗ Hồng Ngọc viết tặng Nguiễn Ngu Í, 1990

 

Tác giả: Đỗ Hồng Ngọc (trong Thơ Ngắn Đỗ Nghê)

 

Bãi biển LaGi. Đi dọc biển về hướng Bắc chừng 2km là khu vực Nước Nhỉ (nơi có Giếng Nguồn Chung).
Tranh: Đỗ Hồng Ngọc (12.1997)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nhớ Nguyễn Hiến Lê

02/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhớ Nguyễn Hiến Lê

Đỗ Hồng Ngọc

 

“Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu… Hà Nội mùa thu… Mùa thu Hà Nội…Nhớ dến một người… ”

(Hà Nội mùa thu- Trịnh Công Sơn).

Tạp chí Văn Hóa Phât Giáo, Số 300, ngày 1.7.2018

“Nhớ đến một người” đó, với tôi, là nhớ Nguyễn Hiến Lê, một người Hà Nội, một học giả, một nhà trí thức chân chính ngày nay được cả nước biết đến. Nhưng nói Nguyễn Hiến Lê người Hà Nội chỉ đúng… một phần ba, vì tuy sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, lúc mới 22 tuổi, ra trường Công chánh, ông đã khăn gói vào Nam nhận nhiệm sở để rồi sống luôn ở đó suốt nửa thế kỷ cho đến ngày mất, năm 1984, khi vừa 72 tuổi. Nửa thế kỷ dằng dặc đó của một đời người, ông đã chẳng lúc nào nguôi quên Hà Nội của tuổi thơ ông.

Còn nhớ năm 1978, tôi có dịp lần đầu tiên ra Hà Nội dự một hội nghị về y học. Hà Nội không hề xa lạ với tôi. Tôi như thuộc lòng từng ngõ ngách, từng phiến đá, từng mái tranh gốc rạ, từng phố xá thân quen… cũng nhờ từ nhỏ đã sống với tác phẩm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng… những buổi chiều vàng, những gánh hàng hoa, những anh phải sống… rồi với cả những người xa Hà Nội như Mai Thảo, như Vũ Bằng… Hà Nội với tôi còn là “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng…” rồi “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi…” …

Tôi lẻn khỏi hội nghị đến thăm Văn Miếu, lòng lâng lâng như đi giữa ngàn xưa và bỗng nhớ Nguyễn Hiến Lê, nhớ một câu ông viết từ những năm 50  rằng bằng cấp không phải là thước đo giá trị của một con người. Có những người có tên trong văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu mà chẳng mấy ai còn nhớ, trong khi những Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Manh Trinh, Tản Đà, Tú Xương… luôn được người đời nhắc đến…

Tôi đến Bưu điện Hà Nội gởi ngay cho ông một tấm bưu thiếp. Chỉ viết mấy dòng vắn tắt. Cũng chẳng hy vọng gì nó đến được trong thời buổi đầy khó khăn này. Vậy mà hơn một tháng sau, Nguyễn Hiến Lê nhận được bưu thiếp và ông trả lời:

Saigon 3/11/78
Thân gởi cháu Ngọc,
Hôm qua tôi được bưu thiếp cùa cháu gởi từ Hà Nội ngày 29/9. Cảm động nhất là câu: “Cháu đến thăm Văn miếu , nghĩ đến bác nhiều”. Tôi hiểu rồi chắc cháu nhớ một đoạn cuối tập Bí quyết thi đậu của tôi. Cảm ơn cháu nhiều lắm. Cháu hiểu tôi. Cháu làm tôi nhớ hồi trẻ tôi học ở trường Bưởi (Chu Văn An) ngoài đó quá. Cháu có xem Hồ Tây, chùa Quan Thánh, đường Cổ ngư (nay là đường Thanh Niên?) không? Trường Bưởi của tôi ở bên bờ Hồ Tây đấy. Mà trường Yên Phụ (tiểu học) của tôi ở trên bờ hồ Trúc Bạch trông ra đường Cổ ngư đấy.

Đứng trên đường này nhìn về phía Bắc sẽ thấy núi Tản Viên, quê tôi ở gần chân núi đó. Nhớ quá đi. Cháu có đi thăm đền Ngọc Sơn, đền Voi Phục, chùa Láng … không? Toàn những cảnh mà hồi trẻ tôi mê.

Mê nhất là cái sắc trời, cái không khí trong trẻo, những làn sương lam nhẹ là là mặt đât, ngọn gió hây hẩy, những lá vàng, làn nước xanh, hương lúa của mùa thu ngoài đó. Toàn là những teintes douces, gợi những tình cảm buồn buồn mà nên thơ, nên thơ lắm. (…)

Nhớ lại trước đó nữa, đầu năm 1974, tôi gởi ông bài thơ mới viết: Đi cho đỡ nhớ, ghi lại cảm xúc của mình trong ngày đầu tiên trên chuyến xe lửa nối liền Saigon- Biên Hòa mà mơ một chuyến tàu Nam-Bắc… Ông trả lời:

Saigon 30/1/74
Cháu Đỗ Hồng Ngoc,
Tôi mới ở Long Xuyên lên. Bài “Đi cho đỡ nhớ” cảm hứng mới mẻ đấy, mà thú. Đọc hoài thơ yêu nhau và nhớ nhau, với thơ chiến tranh, ngán quá rồi. Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá. A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà Nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết các công việc, nhờ cháu làm revision générale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam, Trung, Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam Xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v.. Thèm không cháu?(…)

 

Ông thường nhắc trong thư cảnh núi Tản hùng vĩ, cảnh ngã ba Bạch Hạc mênh mông mùa nước lớn, cảnh đồng ruộng văng vẳng tiếng sáo diều và thoang thoảng hương lúa, cảnh chợ quê lèo tèo mấy gian cột tre mái rạ với những quán chè tươi… làm tôi cũng nhớ quá!

Cơ hội đã đến với ông. Năm 1979, ông được mời đi dự Hội nghị khoa học toàn quốc về vấn đề Giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt tại Hà Nội, thế nhưng lần đó ông không đi được vì bệnh. Rồi thôi, không còn dịp nào nữa!

22.10.79
Cháu Ngọc,
Tôi đã bỏ ý ra Hà Nội rồi. Cơ hội tốt, đáng tiếc thật. Nhưng ngại chỗ ở và ăn lắm, cũng ngại cuối Oct. thời tiết lạnh đau bao tử và rhinite trở lại. Cũng còn li do: ông Trương Văn Chình không được mời ra, không hiểu tại sao. Đi một mình, buồn.

(Ghi chú: Trương Văn Chình là người cùng hợp soạn với ông cuốn Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam. NXB Đại học Huế, 1963).

Học giả Nguyễn Hiến Lê
(1912-1984)
ảnh: Lê Phương Chi

Rồi ông về ở hẳn Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông ở miền Nam, ráng viết cho xong các tác phẩm triết học Trung Quốc mà ông nói là “hy vọng còn có giá trị trong vài mươi năm nữa”- và “cũng để bắt đầu óc phải làm việc” cho nó đừng sớm “lão hóa”. Cũng trong thời gian này, ông nói ông băn khoăn không biết có nên viết hồi ký hay không, và, nếu có viết thì sẽ viết những gì. Trong các thư riêng gởi tôi, ông tâm sự như thế và nghĩ rằng có lẽ cũng nên viết chút gì đó chừng vài trăm trang… Thế rồi Hồi ký Nguyễn Hiến Lê cũng như 120 tác phẩm của ông đã hình thành như ta được biết hôm nay.

Những năm cuối đời, ông thường ưu tư buồn bã, mà vẫn khôn nguôi nỗi nhớ quê xưa:

Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: ”Vạn sự tan như mây khói” cả rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan luôn nữa.
Tôi chưa về thăm ngoài đó….
(Long Xuyên 30.7.79)

 

Ông thường về Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông, bùi ngùi nghe lại câu hò ngày xưa:

“… chèo vô Núi Sập lựa con cá khô sặt cho thiệt ngon,
lựa trái xoài cho thiệt giòn,
đem ra Long Xuyên lựa gạo cho thiệt trắng, thiệt thơm,
em về em dọn một bữa cơm
để cho người quân tử
hò ơ… để cho người quân tử ăn còn nhớ quê…” [1]

Với tấm lòng như vậy, dễ hiểu tại sao mặc dù ông có điều kiện để đi xa – vợ con ông ở Pháp từ nhiều năm trước– nhưng ông chọn ở quê nhà, chết ở quê nhà (ngày 22/12/1984), và được hoả táng tại Thủ Đức.

***

Mười lăm năm trước đây (2003), nhóm chúng tôi có Trần Văn Chánh, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Anh Dũng, Nguyễn Duy Chính, Trần Huiền Ân, Nguyễn Hướng Dương, Lê Ký Thương… đã làm một cuốn sách về Nguyễn Hiến Lê: Nguyễn Hiến Lê, Con người và Tác phẩm. Sách đã tuyệt bản từ lâu. Mới đây, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.HCM đã quyết định cho tái bản cuốn sách này với bổ sung từ các bài viết, phỏng vấn Nguyễn Hiến Lê của Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Châu Hải Kỳ, Lê Anh Minh…

Đã có những nghiên cứu về sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê như luận văn thạc sĩ về “Vấn đề lao động nhà văn trong các trước tác của Nguyễn Hiến Lê” của Nguyễn Ngọc Điệp,  do GS Huỳnh Như Phương hướng dẫn và gần đây luận văn nghiên cứu văn hóa, văn học của Nguyễn Hiến Lê” v.v…

Ảnh hưởng Nguyễn Hiến Lê ngày càng thấm sâu trên đất Bắc. Sáu năm trước (2012), tôi nhận được email của một bạn trẻ không quen biết từ Hà Nội, cho biết về chuyến “Hành trình Xuyên Việt vượt 2200km bằng xe máy tri ân thầy Nguyễn Hiến Lê”. Các bạn trẻ đi xuyên Việt bằng xe máy, từ Hà Nội vào thẳng chùa Phước Ân tại Lấp Vò, Đồng Tháp “để thắp hương tri ân tới thầy Nguyễn Hiến Lê”. Email viết: “sách của thầy Nguyễn Hiến Lê viết giản dị, chân thành, là thầy mà cũng như là bạn, chúng con rất vui là đã lan tỏa được sách của thầy tới anh em thanh niên, vì trước đây sách của thầy ngoài Bắc cũng hiếm ạ”. 

“…thực ra đối với thanh niên ở ngoài Bắc có thiệt thòi hơn trong Nam nhiều, là ít được tiếp xúc với sách của cụ Lê(…), chân thành mong muốn tri thức Nguyễn Hiến Lê đến gần hơn, giúp đỡ cho thanh niên được nhiều hơn (…).

Saigon, Tp HCM hiện nay cũng đã có một con đường mang tên Nguyễn Hiến Lê. Một cách ghi nhận công lao của một “người Hà Nội” đã sống và làm việc miệt mài suốt nửa thế kỷ ở miền Nam và đã để lại một di sản đáng quý góp một phần không nhỏ vào nền văn hóa nước nhà.

Và với riêng tôi, Nguyễn Hiến Lê còn để lại biết bao niềm trân trọng và trìu mến để tôi được “Nhớ đến một người” giữa “mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió” của Hà Nội hôm nay.

(ĐHN)

…………………………………………….

(1)   Hồi ký Nguyễn Hiến Lê

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi

25/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Chuyện sách,

Cảm ơn bạn đã gởi cho bài viết giới thiệu về mấy cuốn sách gần đây của mình trên VnExpress. Mình vẫn đọc tờ báo mạng VnExpress hằng ngày nhưng không để ý. Các bài viết tuy ngắn gọn, nhưng khá súc tích, nêu được những điểm cốt lõi của cuốn sách.

Xin chân thành cảm ơn.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

VnExpress Thứ hai, 3/9/2012

Đỗ Hồng Ngọc viết tùy bút về lời Phật dạy

Quyển ‘Thấp thoáng lời kinh’ vừa ra mắt của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc gửi gắm nhiều điều ông ‘ngộ’ từ Phật giáo.

Độc giả từng quen thuộc với Đỗ Hồng Ngọc qua các ấn phẩm như: Thư gửi người bận rộn, Nhớ đến một người, Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn… Ở lần ra sách mới, vị bác sĩ viết văn tiếp tục chia sẻ với mọi người những điều ông suy nghiệm và thực hành trên chính cuộc sống của mình khi tiếp cận với Phật giáo.

 “Thấp thoáng lời kinh” viết về những lời Phật dạy dưới dạng như tùy bút. Cuốn sách thể hiện trải nghiệm của một bác sĩ thích đọc sách Phật, thích chiêm nghiệm quan sát cuộc đời dưới cái nhìn tích cực, được viết bằng lời văn nhẹ nhàng, ngôn từ giản dị. Mỗi trang sách mang đến cho bạn đọc cảm xúc về những điều giản đơn, đầy ý nghĩa trong cuộc sống.

Lý giải về việc ra mắt tác phẩm, Đỗ Hồng Ngọc kể: “Vào tuổi bảy mươi, một hôm giữa đêm khuya khoắt, loay hoay, bứt rứt, thấy phải nhanh tay ghi chép lại đôi điều thấp thoáng bấy nay… Sẵn cuốn tập bằng giấy dó trước mặt, rào rào viết không kịp thở, mỗi trang một lõm bõm, như một ghi chú cho riêng mình. Lần kia, người bạn ở tòa báo đòi bài gấp, bí quá, thử trích vài đoạn, ai ngờ bạn kêu tiếp đi, nhiều người đang đợi. Vậy là Thấp thoáng lời kinh xuất hiện… lai rai. Đôi người bạn không quen từ phương xa tình cờ đọc được, khuyên in đi, làm một món quà nhỏ…”

Chính vì sự tình cờ này, Đỗ Hồng Ngọc chỉ dám xem Thấp thoáng lời kinh như là những cảm nhận riêng tư, chủ quan về “đạo và đời” mà ông muốn chia sẻ đến mọi người.

…………………………………………………………………………………………………..

VnExpress Thứ ba, 24/6/2014

Đỗ Hồng Ngọc mỉm cười tự tại với ‘Ghi chép lang thang’

Soạn tâm thế an nhiên khi bước vào tuổi già, nhẹ nhàng đón đợi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống… là điều mà trang viết của vị bác sĩ viết văn đem đến cho độc giả.

Đúng như tên gọi của tập sách, Ghi chép lang thang là tập hợp những bài viết ghi chép những điều mắt thấy, tai nghe, những cảm nhận chân thực, chia sẻ chân thành của Đỗ Hồng Ngọc trên đường “lang thang” với đời, với nghề.

Đó có thể chỉ là một buổi ông tìm kiếm băng đĩa ở một cửa tiệm nào đó để rồi thích thú phát hiện ra những tên gọi mới cho loại nhạc mà mình yêu thích: “Sến Già Nam”, “Sến Già Nữ”. Từ đó tác giả nói dài, nói rộng ra và hoài niệm về những bài hát, những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng một thời mà bây giờ bị giới trẻ đóng mác là “sến”.

Với góc nhìn của một bác sĩ cũng như một người nghiên cứu, người làm văn hóa, tác giả giúp người đọc hiểu được sự quan trọng của việc một sinh linh bé bỏng hình thành trong cơ thể của người mẹ. Việc thay đổi tâm lý, tu tâm dưỡng tính của người mẹ để chuẩn bị đón đứa con sắp chào đời để rồi mới có câu “Con vào dạ, mạ đi tu”.

Tác giả cũng chia sẻ về những kỷ niệm, dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mình, về cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê đã làm thay đổi cuộc sống ông như thế nào. Cuốn sách đó giúp một cậu bé mười lăm tuổi, thất học, phụ mẹ bán hàng xén vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm học hành và trở thành một bác sĩ, một nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa của ngày hôm nay. Từ chia sẻ ấy, con đường văn hóa của Nguyễn Hiến Lê được nối dài, “những hạt mầm đã vươn lên”.

Hay đó chỉ là những cảm xúc về vở kịch Thiên Thiên của Việt Linh. Những cảm nhận của bạn đọc cũng như suy nghĩ của tác giả về cuốn Già ơi… Chào bạn! của ông. Hoặc những bài viết thú vị về Thiền, vận dụng “Kim Cang” vào cuộc sống hàng ngày.

Tuổi già và nhận thấy mình già có lẽ là điều không vui vẻ gì so với nhiều người. Nhưng Đỗ Hồng Ngọc lại khác. Ông nhìn trực diện vào tuổi già, viết nhiều về tuổi già, từ những ghi chép ngắn cho đến cả quyển sách về tuổi già. Những bài viết ấy cho thấy một Đỗ Hồng Ngọc chấp nhận mình đã già, hiểu luật sinh tử, phân tích về tuổi già, xét trên nhiều góc độ như y học, văn hóa, tôn giáo… nhưng với cái nhìn hoài niệm của người già nhớ lại những chuyện xưa, người cũ nhưng vẫn hài hước, lạc quan:

“Lá cứ rụng rồi lá cứ xanh. Hoa cứ nở rồi hoa cứ tàn. Trăng cứ tròn rồi trăng cứ khuyết… Cho nên, chỉ già thêm chút nữa, rồi già thêm chút nữa… nữa với mỗi người, thế thôi”.

Ông cũng bắt đầu những chuyến đi, những ghi chép lang thang về cảnh, về người, chuyện mình, chuyện người. Từ La Gi đến Phan Thiết, núi Tà Cú, xuống Vũng Tàu rồi ngược lên Đà Lạt, leo lên Bà Nà rồi về Đà Nẵng, ra Huế, đi Sa Đéc… những chuyến “giang hồ… vặt” của tác giả mang lại cho ông bao nhiêu kỷ niệm.

Cuốn sách còn ghi lại nhiều cảm xúc, suy nghĩ của tác giả về những ngày làm việc, những ngày đang sống của mình. Từ những buổi sinh hoạt văn nghệ, những ghi chép vội vã về những chuyến đi, những ngày lang thang Sài Gòn để nhớ chuyện cũ, người xưa… mới thấy tác giả đi nhiều, gặp nhiều và “cảm” nhiều chuyện mình, chuyện người.

Tác giả, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Lagi, Hàm Tân, Bình Thuận và hiện sinh sống tại Sài Gòn. Ông nguyên là bác sĩ khoa nhi, bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM, nguyên là giám đốc Trung tâm Truyền thông & Giáo dục Sức khỏe TP HCM. “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị” là lời nhận xét của cố học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết về Đỗ Hồng Ngọc.

Đỗ Hồng Ngọc viết sách dành cho độc giả mọi lứa tuổi. Một số cuốn sách đã xuất bản của ông như: Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Thầy thuốc và bệnh nhân, Viết cho tuổi mới lớn, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Thư gởi người bận rộn, Nghĩ từ trái tim, Nhớ đến một người, Như thị…

…………………………………………………………………………………..

VnExpress Thứ ba, 4/8/2015

Đỗ Hồng Ngọc tiết lộ bí quyết ‘Già sao cho sướng’

Giọng văn dí dỏm của tác giả 76 tuổi mang đến cái nhìn thong dong, mới mẻ về tuổi già. Từ đó mỗi người có thể nhìn lại và mở ra trang mới cho cuộc sống.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là tác giả của nhiều đầu sách chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng và nâng cao giá trị sống. Người trẻ, người già, các bà mẹ… và nhiều đối tượng độc giả có thể tìm thấy trong trang viết của ông nhiều bài học cuộc sống thú vị. Các cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc như: Thấp thoáng lời kinh, Gió heo may đã về, Già ơi chào bạn, Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Thiền và sức khỏe… luôn khơi mở những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống qua góc nhìn trẻ trung và trí tuệ.

Cuốn sách mới nhất – Già sao cho sướng – tiếp tục đi theo mạch chủ đề về chia sẻ kinh nghiệm sống. “Tôi nay đã 76 tuổi – tuổi ta – có lúc thấy mình cũng hơi già nhưng nhớ lại tuổi Tây thì mình mới 75, hãy còn quá trẻ. Tập sách mỏng này dành cho các bạn U80, những người đã có thể gọi nhau là ‘lão hữu’. Dĩ nhiên, những bạn trẻ dưới tuổi 70 cũng có thể đọc được. Nhưng, thỉnh thoảng mà thấy có bài này bài nọ quen quen thì cũng đừng ngạc nhiên. Già nó lẩm cẩm chút vậy thôi”, ông viết.

Những chia sẻ, trao đổi và kinh nghiệm để có được một tuổi già an nhiên, hạnh phúc của Đỗ Hồng Ngọc mang đến cho độc giả không ở đâu xa, mà chính từ bản thân ông, từ bạn bè, từ những gì ông quan sát, trải nghiệm. Sự sướng hay khổ của tuổi già thực chất là do thái độ sống và cách nhìn nhận của mỗi người. Và Đỗ Hồng Ngọc chọn niềm vui sướng để nói về độ tuổi như “ngọn đèn trước gió”.

Và để có thể thấy “sướng”, thấy hạnh phúc với tuổi tác, không gì khác hơn mỗi người phải biết chấp nhận quy luật của tạo hóa và nương theo quy luật ấy để tìm niềm vui cho cuộc sống mỗi ngày, tạo chất lượng cuộc sống cho bản thân.

Khái niệm chất lượng cuộc sống (Quality of Life) là khái niệm thường được nhắc nhiều đến trong các đầu sách của Đỗ Hồng Ngọc. Đây là một khái niệm quan trọng để mỗi người nhìn lại cuộc sống của mình đang ở thang độ cảm xúc và tình trạng thế nào. Một cuộc sống chất lượng, dù ở tuổi già hay tuổi trẻ, không chỉ phụ thuộc vào số tài sản vật chất mỗi con người sở hữu mà còn được định nghĩa là: “những cảm nhận của cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ”. (WHO, Tổ chức Sức khỏe Thế giới).

Qua những trang viết, phân tích, dẫn chứng và so sánh từ thực tế của Đỗ Hồng Ngọc, độc giả càng cảm nhận tuổi già không phải là sự chấm hết mà là sự khởi đầu cho hành trình mới trong cuộc đời mỗi con người. Tác giả luôn cảm nhận được sự trẻ trung, đầy nhiệt huyết với cuộc đời, công việc ngay cả ở những nhân vật “thất thập cổ lai hy” như: bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương, giáo sư âm nhạc Trần Văn Khê, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương… Ông hài hước đùa, khi nhìn vào những nhân vật này, ông thấy mình còn “quá trẻ”. Trong cuốn sách Gió heo may đã về của Đỗ Hồng Ngọc, Trịnh Công Sơn từng viết: “Không có già không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là vô lễ”.

Qua cuốn sách của mình, Đỗ Hồng Ngọc chỉ ra: “Nghiên cứu cho thấy tuổi già thường có được hạnh phúc khi:

Biết từ bi với mình, chấp nhận mình, hiểu luật vô thường của cuộc sống;

Có ký ức tốt về tuổi thơ và tuổi thanh xuân;

Được tự tại sắp xếp cuộc sống theo ý riêng, không bị áp đặt;

Duy trì tốt các mối quan hệ gia đình, bè bạn…;

Sức khỏe thể chất tương đối tốt, không mong lúc nào cũng như xưa được;

Tài chánh được tự chủ;

Gần gũi với thiên nhiên,

Giữ ngọn lửa nhiệt tình, niềm an lạc, thanh thản trong tâm hồn”.   

 

(Theo vnexpress.net)

……………………………………………………………………….

Cũng ở trên mạng thấy có nhà sách Khai Tâm giới thiệu một số hình ảnh bìa sách của Đỗ Hồng Ngọc. Cảm ơn nvquyen đã chuyển cho bác Ngọc.

Nghe nói bây giờ mua sách cũng không cần tới nhà sách làm chi cho mệt, chỉ cần bấm bấm mấy cái nút, tự nhiên có sách chạy tới nhà!  Thiệt lạ!

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Chuyến về Phan Rang với Quán Văn: Một vài hình ảnh.

04/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Chuyến về Phan Rang với Quán Văn: Một vài hình ảnh.

Cái xứ nắng như rang mà gió như phan đó đâu có xa lạ gì với bọn mình phải không? Xưa mình không ít lần đến Phan Rang, lên xuống Ga Tháp Chàm, thăm cụm tháp Po Klong Garai, rồi có khi từ đó qua ngã Đa Nhim leo đèo Ngoạn Mục về Đà Lạt; rồi cũng đã nhiều lần ghé Ninh Chữ tắm biển, ăn bánh căn, gặp Võ Tấn Khanh, Phan Hữu Ngọc… nhưng chưa lần nào đến Vĩnh Hy, Núi Chúa… cách thành phố Phan Rang gần 40km về hướng Đông Bắc. Lần này Nguyên Minh và các bạn Quán Văn rủ đi Phan Rang Vĩnh Hy một chuyến, thăm lại “cái nôi” xưa của một thời Gió Mai, Ý Thức ronéo, tiền thân của Ý Thức bán nguyệt san Văn học nghệ thuật ở Saigon sau này, và, có sự nối tiếp đến Quán Văn hôm nay. Nhắc “cái nôi” thì không thể quên nhóm bạn Ngy Hữu, Nguyên Minh, Lữ Kiều… những cậu học trò mê văn chương, làm báo viết tay, rồi từ đó mà tiến lên ronéo, typo, offset… Phải công nhận cái máu mê làm văn làm báo này của ‘đám nhóc’ thời đó thiệt đáng nể. Hãy đọc một đoạn Lữ Kiều viết trên Văn Chương Việt 2010:

“Vậy mà đã 35 năm qua, tưởng như đã quên tờ báo mà nhóm Gió Mai thời 1968 thực hiện. Làm sao không bồi hồi cảm động. Như thể gặp lại người bạn cũ thâm giao. Bạn thì không hề thay đổi, còn ta thì quá đỗi hư hao…

Vậy thì tôi viết về số báo này, như một cột mốc của cuộc sống, chứng nhân của một thời, với tất cả vui buồn, sum họp và chia ly của nó.

Tờ Gió Mai số 4 do Ngy Hữu chủ trương, thực hiện ruột ở Phan Rang tại Roneo Nguyễn của Nguyên Minh, stencil do Ngy Hữu và Nguyên Minh ngồi gõ trên cái máy chữ xách tay Brother của Ngy Hữu và Olympia của Nguyên Minh. Làm sao quên được.

(…) Bìa Gió Mai 4 in màu xanh lá cây. Tôi phải nhờ Mỹ Hiệp Ronéo ở đường Trần Quý Cáp Sài Gòn thực hiện. In roneo mà tưởng như in Typô. Thuở ấy, Mỹ Hiệp Ronéo là tiệm quay ronéo tân tiến nhất, chuyên in bài học cho sinh viên y khoa, mà lúc bấy giờ tôi, Nguyên Thạnh Nguyễn Mậu Hưng và Đỗ Nghê là sinh viên năm cuối, sắp ra trường! 100 trang báo, khổ 20×30, bao nhiêu công phu gõ máy đánh chữ của Ngy Hữu và Nguyên Minh, nhất là phần canh chữ cho ngay mỗi cuối hàng bên phải: thuở đó, làm một tờ báo đẹp về hình thức trong điều kiện thiếu thốn phương tiện vẫn là nỗi đam mê và hãnh diện của Nguyên Minh.

(…)”

(Lữ Kiều: Gió Mai, một thời hoang dại).

Lần này về Phan Rang ngoài các bạn Quán Văn còn có Hồ Sĩ Bình, Phan Trang Hy, Trần Thị Trúc Hạ từ Đà Nẵng và Nguyễn Thị Tịnh Thy từ Huế. Nhóm trong Nam ra có Hoàng Kim Oanh, Đoàn Đình Thạch, Nguyên Cẩn, Vũ Trọng Quang, Lương Minh, Hiếu Tân (Hiếu Tân từ Vũng Tàu), và có bạn tận Long Xuyên xa xôi… .  Riêng nhóm U80 của Ý Thức xưa thì có Nguyên Minh, Đỗ Nghê, Châu Văn Thuận, Lữ Kiều, Lê Ký Thương. Quả là bốn biển một nhà. Cái sự văn chương từ ngàn xưa vốn “thốn tâm thiên cổ” là vậy. Chưa gặp chưa biết mà đã quen nhau từ lâu! Phải khen Ngô Thị Mỹ Lệ, người “điều phối” và thiết kế chương trình vừa làm việc vừa du ngoạn cho anh chị em rất giỏi.

Hồ Sĩ Bình người phụ trách Nhà xuất bản Hội Nhà văn VN ở miền Trung, người đã giúp Quán Văn thực hiện các số báo gần đây vừa gặp mình đã kêu: Tôi đọc thơ anh Đỗ Nghê từ trước 75, lúc anh Hoàng Đăng Nhuận mang tập Thơ Đỗ Nghê từ Đà Lạt về Huế, khoảng năm 1974 chi đó, biết anh từ đó rồi!

Đúng vậy. Tập Thơ Đỗ Nghê (1973) là do Lữ Kiều, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba… thực hiện từ Đà Lạt với tranh bìa của Nguyễn Trung, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận trình bày, và… Hoàng Khởi Phong mang từ Đà Lạt về cho Đỗ Nghê lúc đó đang làm việc tại Bệnh viện Nhi Đồng Saigon. Thì ra Hồ Sĩ Bình đã biết nhau từ đó nên Quán Văn 55 kỳ này đăng nguyên vẹn lại bài thơ Tâm sự Lạc Long Quân không bôi xóa chữ nào!… Mình nói cảm ơn bạn, vì thú thực, khi nghe có Hồ Sĩ Bình về dự kỳ này, mình cứ ngỡ sẽ gặp một ông quan lăm lăm cây viết nhọn gạch gạch xóa xóa…

Chỉ có 3 ngày ngắn ngủi ở Phan Rang, Vĩnh Hy nhưng bè bạn đã sống với nhau như một gia đình lớn, chân tình và ấm áp. Cảm ơn Quán Văn, cảm ơn Nguyên Minh, Mỹ Lệ… và tất cả.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Đỗ Nghê)

 

Nguyên Minh và Hồ Sĩ Bình có ‘một phút tâm tình’. Và Lữ Kiều thì “dẫn chuyện gần xa”… với nhiều cảm xúc.

Họp mặt Quán Văn tại Phan Rang ngày 21.5.2018 (Photo: Thanh Hằng)

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ trái: Lữ Kiều (Thân Trọng Minh), Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Mấy bạn… già dậy sớm đợi cà-phê Vĩnh Hy! (22.5.2018)

 

Bình minh ở Vịnh Vĩnh Hy, Phan Rang (ảnh DHN)

 

Từ Vịnh ra Cửa biển…

 

 

Đi thuyền đáy kính để xem… san hô

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuyền đáy kính: nhìn những rặng san hô rất đẹp (ảnh DHN).

 

 

 

 

Cầu treo đi suối Lồ Ồ, Núi Chúa (Đỗ Nghê và Lữ Kiều Thân Trọng Minh)

Cầu treo cao hun hút… Đoàn người vừa đi vừa run, thận trọng từng bước vì có những khoảng ván lót cầu gãy… thỉnh thoảng xe gắn máy chạy qua làm cầu rung bần bật… (ảnh ĐHN)

Suối Lồ Ồ mùa này khô nước. Mùa mưa, suối đổ ào ào như thác, rất đẹp. Bỗng dưng nhớ Văn Cao: “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước…” (ảnh ĐHN)

 

Suối Lồ Ồ. Xa xa, giữa các gộp đá, nhiều nhóm bạn trẻ đang cắm trại…

thăm vườn nho

(ảnh ĐHN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thăm làng Gốm Bàu Trúc. Cô Ly chuẩn bị biểu diễn thực hiện một cái bình gốm cho đoàn xem. Đặc điểm ở đây là không phải bàn xoay mà người xoay quanh bàn. Mỗi ngày làm được 15 cái. Đất sét lấy từ Sông Quao về phơi khô, trộn cát (tỷ lệ giữ bí mật riêng mỗi gia đình). Mười ngày sau mới nung ở một lò lộ thiên. Các công đoạn nặn gốm đều phải do nữ giới thực hiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chị Ly đi vòng quanh trục để nắn chiếc lọ theo ý mình.

 

 

 

 

Sản phẩm hoàn tất tuyệt vời. Chị Ly người đã có 20 năm làm nghề.                                                                      

Có một Trịnh Công Sơn… nơi đất nước gió lửa (Tứ đại)

Nét u buồn vương vương…

(Làng gốm Bàu Trúc: ảnh ĐHN)

 

 

Tháp Po Klong Garai (ảnh ĐHN)

Từ trái (ngồi) Đỗ Nghê, Hồ Sĩ Bình, Nguyên Minh, Hoài Huyền Thanh, Phan Trang Hy, Nguyên Cẩn, Nguyễn An Bình, Hiếu Tân. (Đứng): Tịnh Thy, Trúc Hạ. (Vĩnh Hy, Phan Rang 23.5.2018). Ghi chú: Lữ Kiều TTM,  Thanh Hằng, Châu Văn Thuận đã từ giả để về Ninh Hòa sớm, họp mặt cùng Lữ Quỳnh và Khuất Đẩu, Huyền Chiêu.

 

Ga Tháp Chàm: nhóm đi Đà Lạt, nhóm về Miền Trung, nhóm về phương Nam…(23.5.2018)

Từ trái: Phan Trang Hy, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Kim Quy, Đỗ Hồng Ngọc, Hoàng Kim Oanh, Vũ Trọng Quang và phu nhân, Hồ Sĩ Bình. (Ga Tháp Chàm, Phan Rang 23.5.2018)

 

 

 

 

 

 

 

 

………………………………………………………………………………

Ghi chú: Lương Minh (nhiếp ảnh gia của đoàn) vừa gởi bổ sung một vài hình ảnh kỷ niệm chuyến về Phan Rang của Quán Văn và các bạn (21-23/5/2018). Cảm ơn Lương Minh.

Vườn Nho (Vĩnh Hy)
ảnh: Luong Minh

Chùa Viên Ngộ (ảnh:Lương Minh)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

‘NGƯỜI ĐỌC và NGƯỜI VIẾT,’ một tác phẩm mới của Lương Thư Trung

03/06/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

‘Người Đọc và Người Viết,’ một tác phẩm mới của Hai Trầu-Lương Thư Trung

Trần Doãn Nho

 “Người Đọc và Người Viết” là tác phẩm thứ chín của Hai Trầu-Lương Thư Trung. Hai Trầu và Lương Thư Trung là hai bút hiệu của cùng một tác giả. Khi viết về văn chương, ông lấy bút hiệu Lương Thư Trung; khi viết đời sống ruộng đồng, ông ký là Hai Trầu.

Trong “Lời Nói Đầu,” Lương Thư Trung cho biết “Người Đọc và Người Viết” là sự “gom lại tất cả các cảm tưởng về các trang văn thơ mà tôi đã đọc trong vòng hai mươi năm qua cũng như thêm nhiều cuộc trao đổi mới với các tác giả khác trong vài ba năm trở lại đây.”

Ông khẳng định, “Người Đọc và Người Viết” “không phải là một cuốn sách phê bình văn học gì hết vì tự thân tôi, tôi chỉ là một người đọc bình thường chứ không phải nhà văn nhà chương gì và tôi cũng không có khả năng để làm những công việc cao siêu ấy.”

Tác phẩm rất đa dạng, cho thấy ông là một “người đọc” thực sự, nghĩa là một người “mê” đọc, đọc nhiều, đọc đủ thể loại, đọc đủ loại tác giả, xem đọc là một thú tiêu khiển trong đời sống. Không những thế, ông còn “mê” viết. Nghĩa là thích được bày tỏ cảm nghĩ của mình sau khi đọc.

“Người Đọc và Người Viết” được viết dưới nhiều hình thức khác nhau: Đọc lại, đọc, lá thư văn nghệ, thư trao đổi, mấy ý kiến, vài ghi nhận, trao đổi ngắn, hỏi thăm, trò chuyện, thư gửi… đọc một bài thơ, một truyện ngắn, đọc một tác phẩm, vân vân.

Không chỉ là đọc thơ, đọc văn mà Lương Thư Trung còn đọc các tác phẩm phi-hư cấu như “Nhật Ký Truyền Giáo,” “Vui Đời Toán Học,” hay sách viết về ẩm thực. Không chỉ là nhận định nhiều tác phẩm của một tác giả hay một tác phẩm riêng biệt nào đó, mà còn là những lá thư trao đổi với tác giả để bàn về một vấn đề đời sống nào đó, hay bàn về văn dịch, bàn về chữ nghĩa, bàn về cách dùng chữ ngoài đời và trong tự điển, trao đổi với tác giả về một mục trên báo. Chẳng những thế, đối với một số tác giả, ông còn tìm cách đào sâu hơn bằng cách trực tiếp trò chuyện hay phỏng vấn tác giả và đặt vấn đề về những gì tác giả và tác phẩm nêu ra.

Khác với một số tác phẩm biên khảo khác, qua đó, tác giả thường chỉ viết về một số nhà văn tên tuổi hay có ảnh hưởng trong dư luận, Lương Thư Trung hào phóng và đa dạng hơn. Ông viết về bất cứ tác giả nào ông thích, từ những người rất nổi tiếng cho đến những người chưa có tiếng tăm gì, cả trong lẫn ngoài nước. Và tác giả nào cũng được ông trân trọng đọc, trân trọng nêu ra ý kiến mình. Với ông, bất cứ tác giả nào cũng có cái hay để thưởng thức.

Với một tấm lòng trải rộng như thế, tác phẩm gồm hai cuốn của ông (hơn 1,000 trang) đề cập đến một số lượng tác giả khá lớn: hơn 70 tác giả, dưới dạng này hay dạng khác, cách này hay cách khác. Từ những cây bút nổi tiếng như Hoàng Lộc, Tô Thùy Yên, Song Thao, Ngô Thế Vinh, Hoàng Xuân Sơn, Lâm Chương, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư… cho đến khá nhiều những người chưa được biết nhiều trên văn đàn.

Mỗi tác giả, Lương Thư Trung có một nhận định riêng. Khen có, chê có, nhưng Lương Thư Trung không có kiểu đưa người này lên trời hay dập người kia xuống đất. Ông luôn luôn giữ một giọng bình văn chừng mực, chân tình, tin cậy. Xin lướt qua vài tác giả:

-Đọc thơ Phan Nhiên Hạo, Lương Thư Trung nhận xét, thơ Phan Nhiên Hạo “không phải để cảm mà để nhận, không phải để ngâm nga mà để nghiền ngẫm, không phải để ca ngợi cuộc đời mà để nhận dạng cuộc đời” (…) Đó là một “tách trà đắng” làm tê đầu lưỡi dần dần nghe cái “hậu ngọt của trà” (trang 98-101, quyển 1).

-Về Nguyễn Thanh Trúc, Lương Thư Trung cho rằng thơ của Nguyễn Thanh Trúc “không sắc sảo tài tình, không trau chuốc bóng bẩy, không văn chương thời thượng,” mà “là tiếng hót lảnh lót của loài chim chìa vôi giữ rặng tre làng. Tiếng hót ấy sẽ mang đến cho đời một chút hương nội gió đồng, một chút hoa cau hoa bưởi…” (trang 394, quyển 1).

-Đọc “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư, Lương Thư Trung cho biết, “đọc thì thấy quá xá là hay” khiến ông cảm thấy “nhói nhói bên ngực trái” vì quá thương cho số phận của chị em thằng Điền, hai nhân vật chính trong truyện. Nhưng Lương Thư Trung không chịu được cách cách chấm, phết của Nguyễn Ngọc Tư. “Ở đây tui bị ngộp thở vì mấy chữ ‘và’ và mấy cái dấu chấm phết ào ào như mưa như nắng ở vùng kênh xáng” trong “mùa áp thấp nhiệt đới Tháng Tám” (trang 192, quyển 1).

-Về truyện dài “Đời Thủy Thủ” của Vũ Thất, Lương Thư Trung nhận xét: “Phải là một thủy thủ tài tình với óc quan sát và nhận xét khá tinh xác mới có thể viết chương sách về trận chiến cách nay tròn năm mươi năm (1965) mà đọc lại như mới xảy ra bây giờ” (trang 392, quyển 2).

-Đề cập đến hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển, Lương Thư Trung nêu lên một nhận xét đáng quan tâm: hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển có những đóng góp lớn lao cho nền văn học miền Nam, nhưng “dường như bị các nhà viết văn học sử, các nhà phê bình, các nhà diễn thuyết không biết vì vô tình hay cố ý mà thường hay bỏ quên sự có mặt của họ” (trang 374, quyển 2). Chẳng hạn như trong lần hội thảo “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam” (1954-1975) được tổ chức tại nhật báo Người Việt và nhật báo Việt Báo ở Westminster, California, trong hai ngày, 6 và 7 Tháng Mười Hai, 2014, “các diễn giả thuyết trình nhiều đề tài nhưng dường như quý vị ấy bỏ quên những đóng góp to lớn của nhị vị học giả này.” Mà ngay trong bộ Văn Học Miền Nam do Võ Phiến biên soạn, “hai vị này cũng chỉ được tác giả nhắc qua một cách rất sơ lược trong một hai trang giấy ngắn…” (trang 356, quyển 2).

Xen lẫn trong những bài viết về văn chương, Lương Thư Trung cũng có những bài viết bàn về chữ nghĩa khá thú vị. Chẳng hạn như bàn về việc dùng chữ trong sách vở và chữ ở ngoài đời trong “Giữa “Thiệt” và “Thật,” “Cái lợi của bút lục là chắc, nhưng cái hại của bút lục là quá nệ vào sách vở.” (trang 14, quyển 1).

Hay trong bài “Vài chữ dùng ngoài đời và trong tự điển,” đọc bài viết của Lê Mạnh Chiến, Lương Thư Trung nêu ra sự khác biệt của một số cách giải thích từ ngữ giữa các tự điển và giữa tự điển và ngoài đời và từ đó, nêu ra cái sai sót trong cách hiểu của một số từ như: ba đào, âm đức, bồng bột, chúng sinh, bình sinh… (trang 135-141, quyển 1).

Dù Lương Thư Trung khiêm tốn cho rằng ông chỉ ghi lại “cảm tưởng” của ông khi đọc, nhưng thực sự, với 95 bài viết về nhiều tác giả và tác phẩm, “Người Đọc và Người Viết” là một tập tiểu luận nhận định văn học. Dù không dựa trên một trường phái nào hay một quan điểm nào rõ rệt, nhưng khi phân biệt cái hay, cái dở, phê phán điểm này, khen ngợi điểm kia, tác giả cũng phải dựa vào một quan điểm nào đó. Chẳng hạn, Lương Thư Trung nhận xét rằng, văn chương hay văn học tựa hồ như “những dòng nước làm cho một dòng sông luôn đầy và chảy hoài bất tận,” không dễ gì “cắt lìa giữa cổ điển và hiện đại, giữa lãng mạn trữ tình và hiện thực tả chân, giữa triết lý và đời sống thường, giữa người đọc và tác giả.” Còn người đọc thì mê văn chương xưa hay nay miễn nó hay, cái hay tùy thuộc tâm hồn mỗi người. Mê đọc cũng tốn kém nhiều thứ. Tác giả tự nhận mình thuộc “người đọc đại chúng” và ông cho rằng đừng ai khinh thường người đọc đại chúng vì “chính họ là những người thầm lặng đã mang đến cho văn học những nhà văn tên tuổi” (trang 47-57, quyển 1).

Đó cũng có thể xem là một quan điểm văn học. Từ chỗ đứng này, Lương Thư Trung thẳng thắn phê phán sự áp đặt người đọc vào một “nhóm văn chương” nào đó, quy cho họ là không có văn chương. Nhà phê bình văn học, theo Lương Thư Trung, “chỉ là một người ngồi câu ở một bến sông,” là người  “không làm nên văn chương” mà cũng không là “vị thẩm phán cuối cùng ban phát văn chương cho mọi người” (trang 68, quyển 1).

Nhận định đó cho thấy Lương Thư Trung không chấp nhận lối phê bình văn chương độc đoán, nghĩa là chỉ đứng trên một quan điểm nào đó mà họ cho là đúng đắn, rồi sổ toẹt những cách phê bình văn chương khác hoặc là có cái nhìn thiên lệch đối với những tác phẩm không phù hợp với quan điểm mình.

 

(TDN, 25.5.2018)

………………………………………………………….

Hai Trầu-Lương Thư Trung, sinh trưởng ở Tân Bình, Sa Đéc. Ông đã xuất bản chín tác phẩm ở Hoa Kỳ: Bến Bờ Còn Lại (2005), Tình Thầy Trò (2005), Lá Thư Từ Kênh Xáng 1 (2005), !4 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ (2012), Nhớ Về Những Bến Sông (2013), Lá Thư Từ Kênh Xáng 2 (2013), Mùa Màng Ngày Cũ (2011), Một Chút Tình Quê (2015) và Người Đọc và Người Viết (2017).

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”

26/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Một vài cảm nghĩ khi đọc Tản Văn Thi của Nguyễn Thị Khánh Minh

“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (*)

 

 Tôi không tin Tản Văn Thi của Khánh Minh là giấc mơ, là huyền thoại, là chiêm bao. Trái lại, nó rất hiện thực. Nó rất ở đây và bây giờ. “Đó là bức tranh sắc mầu cuộc sống”: bức tranh của một gia đình hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ như ‘Me tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu hao/ Cha tôi ngồi xem báo… Tôi nghe tiếng còi tàu… ’(Kỷ Niệm, Phạm Duy).

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng chim trao lòng tin cậy; chỉ ở đó mới có bờ vai nương tựa sớm hôm; chỉ ở đó mới có những ánh mắt sao trời thơ trẻ; và đôi cánh bay lên những ước mơ đằm thắm ngọt ngào của người thi sĩ, luôn nhắc nhở mình “đừng như bóng mây tan”.

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng reo vui Tát-bà-ha của Tâm kinh Bát nhã khi thấy biết ‘”ngũ uẩn giai không/ độ nhất thiết khổ ách”. Bát nhã (Prajnã) là cái nhận thức có trước nhận thức, là cái trí tuệ có trước trí tuệ, không đếm đo, toan tính,  nó vậy là nó vậy. Và chỉ ở đó, người ta mới thực sự hồn nhiên, thực sự reo vui: Tát-bà-ha!

Tiếng chim ríu rít mách tôi sự trong trẻo ban mai trao lòng tin cậy.

Bóng đêm mở nỗi sợ cho tôi tìm ra ánh sáng bờ vai nương tựa.

Những vì sao tặng tôi cách nhìn ngây thơ trong sáng.

Gió cho tôi đôi cánh và đường bay mơ ước con người.

Bóng mây tan nhắc tôi mỗi phút giây ở lại bên mình yêu dấu.

Tiếng cười bé thơ cho tôi nghe reo vui lời tâm kinh bát nhã.

(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ)

 

Cho nên người thơ viết: Nên tôi quý những điều tôi đã nhận/ Nên tôi tận lòng với những điều đang ở.

Còn có cách nào hơn là “mở con đường trú ngụ hơi thở tịch lặng” – Anapanasati- ở đó, hiện tại là sát-na mênh mông không ngằn mé…

Và chỉ ở đó:

“Trong sáng láng ấy tôi đã gặp nhà thơ Mặt Trời. Lồng lộng nắng phương đông, chắt chiu hết tinh khôi nhân ái rắc xuống cánh đồng thơ diễm ảo. Tôi thức giấc từ lời hát của một bông cỏ dại người ban tặng và mảnh vỡ trái tim tôi thành những hạt pha lê được nuôi sáng bằng lời thơ dâng hiến…”

Phải, đã gặp một Tagore lồng lộng nắng phương đông, một Tagore viết nên những lời thơ dâng hiến! Còn phải tìm kiếm đâu xa?

Và một khi đã thấy biết (tri kiến) như thế, khi đã reo vui như thế, thì người ta sống với yêu thương, sống trong yêu thương, sống vì yêu thương:

“Yêu thương nhé” “ nói cùng lá cứ sống hết mình xanh”,

“yêu thương ơi xin thức dậy cùng người…”

“yêu thương ơi khoảnh khắc sum vầy đơn sơ thế xin một lần được cất cánh bay”.

Rồi tự dặn với lòng: “yêu thương ơi chút lòng riêng xin chắt chiu nghe…” “ Cho dẫu chiều rồi phai nắng...”

(Khánh Minh, Yêu thương ơi)

 

Rồi một hôm, người Bạn sẽ đến. Thế nào cũng sẽ đến. “ trong chiếc áo mầu nắng mang theo chân trời rất lạ của phương đông”. Phải chính là người Bạn “nơi con đường vừa mới có tên mọc đầy hoa Nguyện Ước”: ‘Lưu ly reo âm thanh trái tim. Và sẽ tặng tôi phép mầu của câu thơ đi vào cuộc sống. Tôi run rẩy chờ đợi… “. Người bạn đầy Nguyện Ước phương đông đó chính là Dược sư lưu ly quang Như Lai đó vậy!

Và dĩ nhiên người thơ sẽ đến điểm hẹn dầu giữa đêm tuyết giá. “Sẽ đem theo trái tim đầy tin cậy”. Trái tim đầy tin cậy, ấy chính là ‘Tín tâm”. Hãy giữ lấy. Dù “Ngày xám đục những mây/ đứng dưới một cây phong bay những chiếc lá khô/ Không có loài chim nào đến hót/ Cơn bão rớt đem mưa làm nước mắt…”. Cơn bão rớt sẽ đến rồi sẽ qua. Vô thường sẽ là ‘đóa hoa’ của Trịnh.

Rồi cũng có lúc “ngũ ấm xí thịnh”, người thơ hoang mang: Nếu có tìm tôi… Nếu có tìm tôi…? Ai tìm ai? Hãy nương tựa chính mình thôi nhé!

Nếu có tìm tôi. Xin trông chờ mảnh sáng sao băng.

Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự…

Nếu có tìm tôi. Xin theo dấu sáng đom đóm quyện hương bờ giậu quê nhà. (…). Cho tôi đôi cánh hoa bay về miền đồng lúa chín vàng. Ngôi làng không bận lòng gì hơn là sống bình yên. Có con tầu đi về chở chuyên hội ngộ. Mỗi tiếng cửa mở ra là một tiếng reo sum vầy. Mỗi bếp lửa là mỗi báo tin mùa màng no đủ.

Nếu có tìm tôi…Trên bước gió mở ngàn khơi nơi cuối cùng là phương Đông ấm một mặt trời…

(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ, 2018).

Hoang mang thế nhưng rồi, như một nhà thơ từng viết: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!

“Tôi đi tìm những trang bản thảo, mảnh đất tị nạn bình yên của tôi. Nơi có trò chơi trốn tìm dưới ánh chớp những chùm sao đang va vào nhau vang dội. Âm thanh ẩn mật là chiếc chìa khóa cuối cùng tôi phải mở, cõi thách thức cảm xúc phục sinh.

Tôi nhặt được một trang bản thảo lem luốc đầy vết xóa và tôi nghe tiếng tim mình còn hồi hộp đập…”.

(Khánh Minh. Trong cơn bệnh).

Phải, “Còn hồi hộp đập” nghĩa là còn sẽ nhặt nhạnh thêm.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” thôi mà! Phải không?

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 24.5.2018)

…………………………………………………………………..

(*) Trịnh Công Sơn

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 17
  • Trang 18
  • Trang 19
  • Trang 20
  • Trang 21
  • Interim pages omitted …
  • Trang 42
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email