Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nói với Sinh viên Y5 (tiếp theo)

08/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nói với Sinh viên Y5 (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc

Đây là phần trình bày dưới dạng Powerpoint của thầy Đỗ Hồng Ngọc dành cho các bạn Sinh viên Y5 trong buổi Hội thảo Y đức của Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh (Saigon) ngày 17.6.2017.

Theo yêu cầu của một số các em, thầy Ngọc đưa lên để tiện tham khảo.

Thân mến,

 

 

  1. Tại sao em nên là một Bác sĩ?

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Làm thế nào để trở thành một Bác sĩ giỏi (tốt)?

 

 

 

3. Làm thế nào để là một Bác sĩ “hạnh phúc”?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

………………………………………………………………………………………………..

(*) Một số hình ảnh được lấy từ Internet. Xin trân trọng cám ơn. (ĐHN)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Huấn luyện “thấu cảm”

07/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Huấn luyện “thấu cảm”

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thấu cảm (empathy) không phải là thông cảm. Cũng không phải là đồng cảm. Tiếng Việt ta có nhiều từ “thấu” rất hay như thấu hiểu, thấu đáo, thấu… xương ( lạnh thấu xương! )…

Cho nên thấu cảm không dễ chút nào!  Thấu cảm đòi hỏi phải có khả năng đặt mình vào vị trí người khác để hiểu rõ nguồn cơn, ngọn ngành. Từ cái hiểu sâu sắc đó mới có cách ứng xử đúng đắn, phù hợp. Đối với người thầy thuốc thì thấu cảm là đặt mình vào vị trí của người bệnh để hiểu được đằng sau nỗi đau kia còn có nỗi khổ nào, đằng sau cái bệnh kia còn có cái hoạn nào. Nhờ vậy mà mối tương giao thầy thuốc – bệnh nhân trở nên “đằm thắm” hơn, truyền thông sẽ hiệu quả hơn, có sự hợp tác tốt hơn giữa thầy thuốc và bệnh nhân.

Trong buổi thảo luận “Bàn tròn” sinh viên y khoa năm thứ hai vừa qua nhằm chuẩn bị thái độ và kỹ năng cho các em đi lâm sàng đạt hiệu quả tốt, một sinh viên nói em cầm kim chích thuốc cho bệnh nhân mà run rẩy, chỉ sợ bệnh nhân đau. Vậy là tốt. Biết sợ bệnh nhân đau là tốt. Chỉ lo lâu ngày chày tháng biến thành vô cảm. Người ta vẫn thường trách người thầy thuốc hôm nay, chỉ biết máy móc xét nghiệm mà không thấy có bệnh nhân, chẳng cần hỏi han, chẳng cần “nhìn sờ gõ nghe” gì đến bệnh nhân cả. Một em lớp lớn khuyên do quá đông sinh viên nên phải chia từng nhóm để “thao tác’ trên bệnh nhân rồi chia sẻ thông tin với nhau. Một vị thầy nhắc, đối với người bệnh, không nên dùng từ “thao tác”. Thao tác là dùng cho máy móc kia. Em hãy tưởng tượng mình chính là người bệnh đang có nhiều biến chứng trầm trọng đó được nhiều sinh viên tới ‘thao tác” thì sẽ cảm thấy thế nào? Phải luôn biết ơn người bệnh vì nhờ họ mà em được học hỏi để trở nên người thầy thuốc giỏi.  Một vị thầy khác nói thêm: với cái TV cũ, hư hỏng nặng, người thợ có thể khuyên: sửa không được đâu, vô ích thôi, mua cái khác cho rồi! Còn với một bệnh nhân không thể nói vợ ông già quá rồi, chữa không được đâu, vô ích thôi, lấy vợ khác cho rồi được!

Khoa học y học ngày càng tiến bộ, nhiều kỹ thuật mới ra đời, thâm chí có khả năng thay thế bác sĩ, chẩn đoán bệnh tật, cho y lệnh chính xác. Người thầy thuốc được dạy để biết sử dụng các máy móc tân kỳ, thay đổi mẫu mã xoành xoạch đó, dần dần có khuynh hướng chạy theo kỹ thuật, lệ thụôc máy móc và qua đó cũng lạnh lùng, máy móc, “khoa học”, xa cách dần với…con người. Nó làm cho người thầy thuốc trở nên bí hiểm… chẳng khác gì  các phù thủy của những bộ lạc ngày xưa! Thế nhưng con người từ xưa đến nay vẫn không thay đổi: cũng những âu lo, phiền muộn, sợ hãi, cũng những ganh tị, ghen ghét, mừng vui, cũng những già nua, tuổi tác, ốm đau, bệnh hoạn …

Mấy năm trước, trường Y khoa của Đại học California ở Los Angeles, đã làm một cuộc “thì nghiệm” lý thú  nhằm huấn luyện các bác sĩ tương lai để có khả năng “thấu cảm” tốt hơn. Họ chọn một số sinh viên y khoa tình nguyện giả bệnh nhân để  nhập viện điều trị. Hoàn toàn bí mật. Chỉ có giám đốc bệnh viện và điều dưỡng trưởng tham gia trong nhóm nghiên cứu mới được biết trước, còn toàn bộ nhân viên đều không được biết.

Một “ca” giả tình huống té thang lầu, có giai đọan ngất thóang qua; một ca giả đau bụng, oí mửa, mất nước, kiệt sức (cho uống Ipeca), và ca thứ ba giả bị tai nạn xe máy, đau thắt lưng, một chân bị yếu. Các sinh viên được “tập huấn” kỹ,  khai bệnh trơn tru, qua mắt bác sĩ nhận bệnh. Chọn buổi chiều thứ bảy, cuối tuần, là lúc mọi người dễ lơ đễnh nhất để vào bệnh viện. Các “bệnh nhân” được thử máu, truyền dịch, chụp CT, MRI các thứ …

Sau đây là kết quả: Một sinh viên nói “Lúc đó cảm thấy bất lực, hoàn toàn mất tự chủ. Không kiểm soát được. Chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Chẳng ai giải thích phải làm xét nghiệm gì, lúc nào, tại sao… cũng đành“nhắm mắt đưa chân”! Người thứ hai là cô sinh viên y khoa năm thứ ba, Lisa Shapiro, nói cô hoàn toàn kinh ngạc thấy bác sĩ rất kiệm lời, lạnh lùng, luôn có vẻ mệt mỏi, như chỉ làm cho xong bổn phận, còn  điều dưỡng thì khá hơn, tử tế hơn một chút.  Cô cảm thấy rất hoang mang, sợ hãi, cô đơn cùng cực. Tất cả đều nói bệnh giả mà thành bệnh thiệt!  Lisa Shapiro nói thêm “ Có cảm giác như mình bị sụp bẫy! Tim đập lọan xạ, huyết áp tăng vọt và có vẻ sốt cao thật sự!”. Người nằm giường kế bên cô là một bà già bệnh nặng, kêu bác sĩ suốt đêm, đèn cứ tắt rồi sáng liên tục làm cô không sao nhắm mắt nổi. Căng thẳng. Bơ phờ. Mệt mỏi!

Được hỏi qua trải nghiệm này, liệu khi ra trường trở thành bác sĩ, cô có quên sạch không? Cô khẳng định không thể nào quên! Cô chỉ nằm viện có 19 giờ đồng hồ mà thấy thời gian dài đăng đẵng. Khi bác sĩ đến thăm bệnh nói cô khá nhiều rồi, cho xuất viện, cô mừng đến phát khóc!

(Đỗ Hồng Ngọc)

http://www.viet-studies.com/DoHongNgoc_ThauCam.html

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân

Hoàng Xuân Sơn: “chợt thấy lòng vui một chút buồn”

06/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“chợt thấy lòng vui một chút buồn”

 

Đó là câu thơ của Hoàng Xuân Sơn (HXS). Tôi đọc được trong thơ Quỳnh. Tập thơ mới mà rất cũ của anh.

“Trong trùng trùng duyên khởi cuộc nhân sinh, những hạt mầm vay mượn có hạt chắc và lép…”. HXS viết. Chắc gì đã chắc. Chắc gì đã lép. Tôi nghĩ. Thơ là tấc lòng. Thốn tâm thiên cổ.

Rồi anh nhắc người bạn Phạm Nhuận: Có hề chi vàng một chút rong rêu.

Phải có hề chi. Vàng, tái, hay xanh thì ‘’cũng đã chín tới’’ (HXS).
Bỗng nhớ Trịnh: Nhìn lại mình đời đã xanh rêu…

mày râu nam tử sao bàng nhược?
sậy yếu lau mềm có thế thôi!
già trơ một chỏm đầu mốc thếch
tóc bạc kể hoài mây vẫn trôi

“bạch vân thiên tải không du du” là vậy. Nó cứ trôi và chẳng cần biết đã vẽ nên những gì trên khoảng không mênh mông kia.

có. không. ừ nhỉ hơi đâu luận
phù vân rồi cũng trắng ngang đầu

Có lần tôi gởi một bài thơ Đường luật cho Ni sư Trí Hải với hai câu mở:

“có có không không có có không?/ không không có có có không không?”. Và Ni sư họa ngay tức khắc: “có cũng không mà không cũng không…”

May thay HXS cũng vừa tìm thấy:

một buổi mai tịnh độ
vân yên hà đương say
mộng đời không ai giữ
thức dưới tạng hoa gầy

Phải rồi. thức dưới tạng hoa gầy chính là trở về với Như Lai rồi đó. Như Quách Thoại sụp lạy cúi đầu khi nghe cái bông bụp hiền lành trước cửa hàng ngày bỗng cất lên tiếng hát…

Khi nghe được “cát bụi mệt nhoài’’ cũng là lúc thấy biết ‘’cát bụi tuyệt vời’’ (TCS)  ra sao.

hạt bụi bay qua nóc nhà thờ
núp vào thánh giá nép vào thơ
trời cao xanh quá lòng vô nhiễm
một phút an nhiên thổi tới bờ

thổi tới bờ là ‘’đáo bỉ ngạn’’. Yết đế yết đế… rồi đó vậy.

Trong “Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?’’ trên www.dohongngoc.com/web/ tôi viết: “(…) hạt bụi lang thang/ dính vào hơi thở/ duyên sinh vô ngã/ ngũ uẩn giai không/ từ đó thong dong/ thõng tay vào chợ” (ĐHN). trời cao xanh quá lòng vô nhiễm/ một phút an nhiên thổi tới bờ  thì thõng tay vào chợ được rồi phải không?

Trong bài mười năm, thơ , HXS đề từ ‘’kỷ niệm 10 năm thế vì an sinh’’ khiến tôi ngạc nhiên. Thế vì an sinh ư? Chỉ “thế vì” thôi ư? Có lẽ người thơ đã mỏi mắt đi tìm,

lúc mở lòng ra hứng một mình
bên trời thu tịnh nở huyền kinh
là lúc chín cả mầu oan trái
mười năm. thơ ở lẫn cùng tình

thơ đau nào phải người mông muội
ngôn cú bày ra một cuộc sầu
khí hào dễ có bùng lên. chốc
khuấy bọt bèo tan sóng rượu trào

để rồi thấy “thơ ở đâu xa” kia thôi! Vậy là đã đủ cho thơ Quỳnh. Tôi nghĩ.

Và bỗng muốn nói nhỏ với nhà thơ:

đừng mở miệng. đừng. tơ trời đương xuống
rụng trên đồi và tiếng hát bao la
đừng vội vã hôn sâu vào mật đắng
hồn lưu cư còn thuở trái cây nhà

Nhưng nỗi đau hình như vẫn còn đó. Khôn nguôi.

lũ lượt người về như ong vỡ
một ngày tan biến giữa thinh không
đạp xe trong quãng bình yên ấy
chợt thấy lòng vui một chút buồn

Chợt thấy lòng vui một chút buồn! Phải rồi đó. ‘’một chút buồn’’ để thấy một trời vui. Bởi vui, ấy là nỗi buồn của “yên ba giang thượng sử nhân sầu”!

Cũng làm nhớ Trịnh “Ta mang cho em một chút buồn’’

Chỉ để rồi: “Trong vườn trăng/ Vừa khép những đóa mong manh ” (TCS)…

Khép, cũng chính là mở thôi vậy!

 

Đỗ Hồng Ngọc.
(Saigon 6.7.2017)

…………………………………………………………………………

· Italic: thơ Quỳnh, Hoàng Xuân Sơn, 2017

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Những người trẻ lạ lùng

20 năm “Gió Heo May Đã Về”

02/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

20 năm “Gió Heo May Đã Về”

Thư gởi bạn xa xôi,

Phạm Văn Nhàn ‘meo’ bảo Thư Quán Bản Thảo kỳ tới làm số đặc biệt về Lữ Quỳnh, viết gì cho bạn đi. Viết gì? Thơ Lữ Quỳnh mình đã viết không chỉ một lần: Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!… nhớ không? LQ cũng đã đưa vào tuyển tập.

Hôm nay nói chuyện khác nhé. Mình vốn đánh giá cao cái cách trình bày sách của LQ. Phải nói là bạn có cái ‘gu’ rất hạp với mính, vì thế mà cuốn Gió Heo May Đã Về cũng như tập thơ Vòng Quanh mình đều nhờ LQ trình bày sách. Càphê góc đường nào đó một buổi, trao đổi với nhau vài ba ý gì đó, tức khắc LQ  ‘dựng’ lên cuốn sách OK ngay! Trình bày sách không dễ đâu. Phải có nghệ thuật và phải có… tâm hồn, thấu cảm với tác giả.

Năm 1995, mình được 55 tuổi, vừa nghe chút ‘gió heo may…’ về, và cắm cúi viết. Một tùy bút không giống ai. Tiêu đề toàn là những ca từ của Trịnh Công Sơn, rồi đề từ trên mỗi chương cũng là ca từ TCS (về sau này có người nói nhờ đọc cuốn này mà thấu hiểu thêm về TCS đó bạn ạ!). Đưa Đỗ Trung Quân coi, Đỗ khoái chí viết ngay bài “Như sông vào biển” trên Tuổi Trẻ Chủ nhật ngày đó. Trịnh Công Sơn viết thêm mấy dòng, nét chữ bay bướm, như một lời Bạt. Mình chọn một số minh họa của Đỗ Trung Quân đưa vào các chương sách rất có ý nghĩa. Dĩ nhiên, không phải là một tùy bút y học, tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học gì cả mà là một thứ “tả pí lù”, đầy hoang mang của lứa tuổi chớm già này. Tựa sách lúc đầu là Tùy bút viết cho tuổi chớm già. Nghe nặng nề quá. Mình và LQ bàn bạc rồi đổi tựa thành Gió heo may đã về... Sách bất ngờ bán chạy như tôm tươi. Tái bản liên tục. Báo Sàigòn Tiếp Thị thăm dò đưa lên mục Best seller. Chuyện in sách, bán sách gì gì mình giao hết cho LQ lo. Lâu lâu bạn nói sắp tái bản. Lâu lâu bạn nói có chút tác quyền còm đủ càfé. Vậy thôi. Là sướng rồi.

Nay 2017, vừa đúng 20 năm, ngày phát hành Gió heo may đã về, mình nghĩ đến lúc nên đưa vài hình ảnh cuốn sách 20 năm trước coi cho vui nhé. Dịp này không quên cám ơn Trịnh Công Sơn, Đỗ Trung Quân và đặc biệt cảm ơn Lữ Quỳnh, người bạn “mát tay”, có tài trình bày sách… quý hiếm!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Bản viết tay của Trịnh Công Sơn:

Minh họa của Đỗ Trung Quân

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Gío heo may đã về ...., Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng’’!

01/07/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

“Ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng’’!

tặng GT

 

 Đó chính là Dược Vương Bồ-tát, vị Bồ-tát có biệt danh là ‘’Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến’’.

Nhờ đâu, nhờ gì mà ông có được cái diễm phúc đó vậy?

 

 Lúc bấy giờ, Tú Vương Hoa bạch Phật:

– Thế Tôn! Dược Vương Bồ-tát có gì hay mà thong dong tự tại ‘’dạo chơi’’(du hí) giữa  chốn Ta-bà đầy ác trược mà ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng vậy? Có phải ngài đó có trăm nghìn muôn ức na-do-tha hạnh khổ khó làm chăng?

Phật bèn dẫn chuyện xưa:

– Ý ông nghĩ sao? Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến Bồ-tát đâu phải người nào xa lạ, chính nay là ông Dược Vương Bồ-tát đó. Ông ấy bỏ thân bố thí số nhiều vô lượng trăm nghìn muôn ức na-do-tha như thế…

Thuở xa xưa có một vị Bồ-tát tên là Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến – ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng – được nghe Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức nói kinh Pháp Hoa. Từ đó vị Bồ tát này tu tập khổ hạnh, một lòng cầu thành Phật, đặng một thứ tam muội gọi là « Nhứt thiết sắc thân tam muội » nhưng con đường tu khổ hạnh đầy gian nan vẫn không dẫn tới đâu dù thân thể bị tàn tạ mà tâm vẫn không sao giải thoát!

Rồi ngài chợt tỉnh ngộ: “Ta dầu dùng thần lực cúng dường nơi Phật, chẳng bằng dùng thân cúng dường.” Rồi ở trước đức Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức, ngài “dùng y báu cõi trời mà tự quấn thân, rưới các thứ dầu thơm, dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân”.

‘’Đốt thân”? Ấy là đường vào Chánh định, vào “Tam ma đề” (Samadhi). Bởi giải thoát không thể bằng con đường khổ hạnh, hủy hoại thân xác mà là hướng về nội tâm, hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, chính là con đường “bố thí thân mạng” (dùng thân cúng dường) để đạt đến “vô ngã”.

Hơn ai hết, Phật đã từng trải những nỗi đắng cay trong suốt nhiều năm trên con đường tu khổ hạnh: cắn chặt răng, ép lưỡi, đè nén, chế ngự, tiêu diệt những tư tưởng (bất thiện) chẳng đi đến đâu; rồi nín thở, chỉ thấy như có người khoan mạnh vào sọ bằng một lưỡi khoan thật bén, rồi tuyệt thực đến nỗi “xương sống cũng như một xâu chuỗi dựng đứng lên và cong vào, xương sườn tựa như một cái sườn nhà bị sụp đổ, khi muốn rờ da bụng thì đụng nhằm xương sống…”. Tóm lại, chỉ thấy “Thân mòn mỏi và không an lạc sau khi cố gắng một cách đau khổ – thể xác phải chịu khuất phục trước sự nỗ lực kiên trì, cảm giác đau đớn phát sanh đến thân, nhưng những cảm giác đau đớn đó không chế ngự được tâm” (Narada, Đức Phật và Phật pháp).

Thì ra không phải Dược Vương có “trăm nghìn muôn ức công phu khổ hạnh khó làm’’ mà ngài đã chọn con đường ‘’bỏ thân bố thí’’ nên mới trở thành vị Bồ tát ‘’nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến’’, thong dong tự tại vô  ngại dạo chơi (du hí thần thông) giữa cõi Ta-bà đầy ác trược để cứu độ chúng sanh hôm nay với lòng Từ bi vô hạn nhờ những phẩm hạnh chân thành, tôn trọng và thấu cảm.

Thứ thuốc khiến Bồ-tát trở thành ‘’vua thuốc’’ đó của Phật truyền trao qua hình tượng Dược Vương là trải nghiệm của chính đức Phật. Có trải nghiệm mới có sự chia sẻ trong sâu lắng, chân thành. Dược Vương Bồ-tát nhờ hạnh chân thành đó mà ai thấy ông cũng vui, ai gặp ông cũng mừng. Vì sao? Vì ông đã không còn chấp ngã. Vì ông đã sống một đời sống chân chính (authentic life), chân thành (genuine being), trung thực (honest)… Nụ cười ông là nụ cười toát ra tự bên trong, không làm bộ làm tịch, vẽ vời, trau chuốc, không mang mặt nạ, không nói một đằng làm một nẽo… Tóm lại, người sống Chân Thành thì Thân, Khẩu, Ý luôn nhất quán. Thân khẩu ý mà không nhất quán, thì người ta biết ngay là giả dối, là cần phải đề phòng…

Không có cách nào khác hơn là phải loại trừ ngã chấp, phải đốt cháy đến tận cùng cái ngã để đạt đến vô ngã.  Chỉ có lửa tam muội – tức ở trong thiền định- mới thấy được “ngã” đang cháy dần, cháy dần ra sao. Không dễ mà “đốt” hết. Phải đến ngàn năm mới đốt hết cái «ngã tướng” chớ chẳng phải cháy bùng lên một cái là xong! Thân của Bồ-tát lửa cháy một nghìn hai trăm năm, ánh sáng khắp soi cả tám mươi ức hằng hà sa thế giới là vậy. Các đức Phật đều khen đó là « món thí hạng nhứt ! ».

“Đốt thân” như vậy không phải là hủy bỏ thân xác, trái lại, thân xác trở thành một tháp báu để nhìn vào đó mà thấy Đa Bảo Như Lai. Chẳng có lửa gì cháy ngùn ngụt ở đây cả. Mà lửa cháy âm ỉ trong từng tế bào. Từng calo nhiệt lượng thắp sáng ngày đêm. Mỗi tế bào là một sinh vật, một kiếp sống, có ăn có thở, có tạo năng lượng tự thân. ‘’Bố thí thân mạng’’ nhiều như cát sông Hằng mới đạt tới nhân vô ngã, vẫn chưa đủ. Cần thêm một bước nữa: pháp vô ngã. Bởi còn chia chẽ, còn phân biệt, không ‘’trực tâm’’ thì chưa xong, chưa sống trong Bất Nhị, chưa phải là “Chánh đẳng”. Cho nên Dược Vương Bồ-tát bèn « đốt hai cánh tay » ! Phải mất bảy muôn hai nghìn năm mới cháy hết! Khó thay là giải trừ chấp thủ ! Khó thay là dẹp bỏ thành kiến ! Nó bám rất chặt vào từng rễ thần kinh, chằng chịt nối nhau thành một mạng lưới, dứt dây động rừng!

Dược Vương khi đã đạt nhân vô ngã, pháp vô ngã rồi thì đã có thể thõng tay vào chợ, ung dung, tự tại, vô ngại mà ‘du hí’ trong cõi Ta-bà cứu độ chúng sanh với lòng chân thành chánh trực, nên ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng là vậy!

Lúc đó thì cõi tam thiên đại thiên thế giới sáu điệu bèn vang động…

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Văn hóa Phật giáo, số 276, ngày 1.7.2017)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Uncategorized

Chuyện trò cùng các bạn CHS Nguyễn Hoàng (Quảng Trị)

25/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Buổi chuyện trò cùng các bạn CHS Nguyễn Hoàng (Quảng Trị),

 

Đúng như bạn nói, tháng này mình bận quá nên ít viết lách lăng nhăng như mọi khi! Nhưng bận nhất có lẽ là việc chuẩn bị cho Hội thảo về Y đức cho Sinh viên Y5 trường Đại học Y khoa PNT ngày Thứ bảy 17.6.2017 . Tuy bây giờ mình chỉ làm “cố vấn” thôi, nhưng cố vấn mới thật bận rộn. Nhờ các bạn trẻ trong Bộ môn cùng các sinh viên hỗ trợ nên đây có thể nói là đợt Ht thành công và có chất lượng. Mình sẽ “tường trình” chi tiết cho bạn sau vậy nhé.

Chủ nhật 18.6 lại có buổi Trò chuyện với khoảng 600 sinh viên Phật tử tại Pháp viện Minh Đăng Quang của Sư Giác Toàn. Đề tài: Tại sao tôi học Phật? theo “đặt hàng’ của Sư Minh Liên.

Ngày 23.6 lại có buổi “hướng dẫn” cho các thầy đang về An cư kiết hạ tại Chùa Xá Lợi. Mỗi tuần hai buổi, thầy Đồng Bổn trụ trì giao cho cư sĩ Trần Đình Sơn, Minh Ngọc và Đỗ Hồng Ngọc “phụ trách”. Sơn về lịch sử, MN về Thiền lâm bảo huấn, mình về Y học và Phật học ứng dụng… Một cách làm mới, cũng hay chứ phải không?

Hôm nay Chủ nhật 25.6 lại có buổi Chuyện trò cùng các thầy cô, các bạn Cựu học sinh Trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị tại Saigon, tp.HCM. Buổi nói chuyện khá đặc biệt vì… ở ngoài trời nhưng rất thân mật, gần gũi. Gởi bạn coi trước vài hình ảnh vậy nhé.

Buổi trò chuyện ở một công viên cây xanh trong Thành phố.

Vẫn là đề tài “Nếp sống An Lạc”…

Nhưng mình đã đọc vài bài thơ như Bông hồng cho Mẹ, Thư cho bé sơ sinh và Mới hôm qua thôi cho các bạn nghe và nói về “Tháp Nhu cầu của Maslow” cùng Phương pháp thở bụng của Bs Nguyễn Khắc Viện.

Thu Vàng, một bạn thân, khách mời đặc biệt của Cựu học sinh Trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị hát cho mọi người nghe: Thoi Tơ và Bông hồng cho Mẹ… sau đó ca sĩ  vội vàng “chạy show” đến Quán Văn cho kịp giờ!

 

 

 

 

Và thật bất ngờ, có một bài thơ viết ngay tại chỗ của cô giáo Nguyễn Thị Cao Ly tặng ĐHN. Cô nói mới viết nháp, đợi cô viết lại cho đàng hoàng, nhưng thôi, “nháp” hay hơn phải không?

 

 

Rồi cùng chen chúc chụp chung cái hình kỷ niệm!

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

Ngày Của Cha

19/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ngày Của Cha

Nhà thơ Vũ Hoàng Thư gởi cho chúng ta để cùng chia sẻ:

Một chút nhẹ nhàng nhân ngày Father’s Day, xin gửi đến quý Từ Phụ nghe Shirley Horn với Here’s to Life.

May all your storms be weathered
And all that’s good get better…

Enjoy & Happy Father’s Day,
vht

———————————-

Here’s To Life

Lyrics – Phyllis Molinary, Music – Artie Butler

No complaints and no regrets
I still believe in chasing dreams and placing bets
And I have learned that all you give is all you get
So give it all you’ve got

I had my share, I drank my fill
And even though I’m satisfied, I’m hungry still
To see what’s down another road, beyond a hill
And do it all again

So here’s to life
And every joy it brings
Here’s to life
To dreamers and their dreams

Funny how the time just flies
How love can go from warm hellos to sad goodbyes
And leave you with the memories you’ve memorized
To keep your winters warm

But there’s no yes in yesterday
And who knows what tomorrow brings, or takes away
As long as I’m still in the game, I want to play
For laughs, for life, for love

So here’s to life
And every joy it brings
Here’s to life
To dreamers and their dreams
May all your storms be weathered
And all that’s good get better

Here’s to life
Here’s to love
And here’s to you

 

Và hãy nghe:

HereToLife_ShirleyHorn.mp3

https://mail.google.com/mail/u/0/#inbox/15cbc487450926bd?projector=1

Đa tạ Vũ Hoàng Thư.

ĐHN

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Gío heo may đã về ...., Nghĩ từ trái tim

“Bất khả tư nghì”

17/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Bất khả tư nghì

Đỗ Hồng Ngọc

Bất khả là không thể. Tư là nghĩ suy. Nghì, nghị là luận bàn. Bất khả tư nghì hay bất khả tư nghị là… “không thể nghĩ bàn!”.  Có một ‘’pháp môn giải thoát” gọi là Bất khả tư nghị như thế của các vị Phật, các vị Bồ tát.

Cái gì mà không thể nghĩ bàn? Thế giới thì ngày càng nhỏ bé như lòng bàn tay, chuyện gì cũng chỉ cần cái chạm lướt nhẹ là đủ “thấy biết” hết trơn. Có việc gì mà “không thể nghĩ bàn” !

Thế nhưng có những chuyện như đem cái núi Tu-di to đùng kia nhét vào hạt cải nhỏ xíu nọ, như đem toàn thể khối nước bốn biển mênh mông kia… cho vào cái lỗ chân lông… thì đúng là những chuyện “không thể nghĩ bàn”! Nó kỳ cục! Càng nghĩ càng bàn càng dễ điên! Bởi nó nằm ngoài mấy nghìn tỷ mối nối thần kinh, nằm ngoài các chất dẫn truyền thần kinh rồi vậy. Nói khác đi, nó nằm ở “bờ bên kia” rồi! Phải ‘’đáo bỉ ngạn’’ họa may mới thấy biết. Khi các vị trí thức thần học, bạn của Edward Conze tình cờ đọc lướt bản dịch kinh Kim Cang của ông đã kêu lên: Điên! Điên hết rồi! Không điên sao được! Nào “đừng dựa vào đâu cả để mà sanh cái tâm””, nào “nói vậy mà chẳng phải vậy” (tức phi/thị danh), nào “diệt độ tất cả chúng sanh mà chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả”…! Điên quá đi chớ! Nhưng Edward Conze bảo không điên đâu. Cứ ‘’ứng dụng’’ đi rồi sẽ thấy hiệu quả, cái mà ông gọi là “perfection of wisdom”.

Kinh Duy-ma-cật sở thuyết, cũng còn gọi là kinh “Bất khả tư nghì giải thoát” khi Xá-lợi-phất nêu “thắc mắc”: nhà cửa trống trơn thế này thì các vị Bồ-tát sẽ ngồi ở đâu? Văn -Thù bảo: “từ đây đi về phương Đông, vượt qua số cõi nước nhiều như số cát ba mươi sáu sông Hằng, có một thế giới tên là Tu-di Tướng...” ở đó có nhiều… ghế đẹp có thể mượn được!

Số cát của một con sông Hằng không thôi đã là “hằng hà sa số” rồi huống chi đến số cát của ba mươi sáu con sông Hằng – mà mỗi hạt cát là một cõi nước – để… mượn ghế ngồi cho các vị Bồ tát thì đành phải cười trừ thôi! Không thể nghĩ bàn!

Dĩ nhiên “ghế ngồi” ở đây không phải là ghế ngồi. Xá-lợi-phất muốn hỏi “ vai trò, vị trí” của thế hệ Bố tát mới, Bồ tát tại gia này rồi sẽ làm gì trong cõi Ta-bà? Dĩ nhiên ngài cũng đã có câu trả lời. Hỏi chỉ để khẳng định sự cần thiết của thế hệ học trò mới này của Phật mà thôi.

Cõi Ta-bà này ngày càng ô trược, ngày càng bát nháo, xung đột, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, đầy lo âu phiền não đến nỗi người ta đang tìm cách di tản sang các hành tinh khác, cõi nước khác… tiếc thay loay hoay mãi vẫn chưa tìm ra! Vậy chỉ còn có cách quay lại tìm ở chính mình: phản văn tự tánh. Cõi Phật đâu xa. Đâu có Phật ở trên núi cao, trong chùa lớn, cũng như đâu có sức khỏe ở trong bệnh viện 5 sao?

Thứ bệnh nguy hiểm nhất trong cõi Ta-bà ngày nay chính là SAD. SAD là chữ viết tắt của Stress (căng thẳng) Anxiety (lo âu, sợ hãi) và Depression (trầm cảm). Cả thế giới. Không trừ nơi nào! Bởi ở đâu cũng tràn ngặp Tham Sân Si. Và các nhà Tâm lý trị liệu, các thầy thuốc phải tìm một phương thuốc “mới” để chữa trị: Thiền. Phải, chỉ có thiền may ra “cứu rỗi” được. Ấy là MBSR (Mindfulness-Based Stress Redaction) và MBCT (Mindfulness-Based Cognitive Therapy). Thời đại khoa học tiến như vũ bão mà phải dựa vào Thiền mới mong  “giải thoát’’ được chẳng phải cũng là “bất khả tư nghì” đó sao?

Duy-ma-cật bảo: “Một vị Bồ- tát trụ ở pháp môn giải thóat bất khả tư nghì ấy thì có thể đem núi Tu-di cao lớn mà đặt vào hạt cải, không có bên nào thêm bớt. Tướng trạng núi Tu-di vẫn y nguyên như cũ”…

Chỉ ở trong thiền định, chỉ khi “hành thâm Bát Nhã” thì mới thấy được “pháp” Không. Không ở đây không phải là không có. Có chớ. Nhưng chỉ là giả tướng. Là do Duyên sanh. Khi nhìn kỹ vào bên trong, nhìn kỹ vào bên kia (kiến tướng phi tướng), thì ra, nó là chân không. Chân không mà diệu hữu. Núi Tu-di vẫn là núi Tu-di, vẫn đẹp đẽ, sừng sững cao ngất đó, nhưng thực tướng của nó vẫn là Không, là duyên sanh, cũng từ sỏi đá, từ đất nước gió lửa mà ra. Thì hạt cải tí xíu kia cũng là chân không, cũng từ đất nước gió lửa mà thành đó thôi. Nó có khác gì nhau đâu. Nó có phân biệt gì với nhau đâu. Bất khả tự nghị pháp môn đó chính là thấy được cái chân không mà diệu hữu, diệu hữu mà chân không đó. Tu-di cũng vậy mà hạt cải cũng vậy, nước bốn biển cũng vậy mà lỗ chân lông cũng vậy. Nhìn “phi tướng” thì thấy Như Lai đang tủm tỉm cười.

Khi Einstein bảo vật chất chính là năng lượng, năng lượng chính là vật chất,  có hẳn một công thức (E=mc2) để biến đổi vật chất thành năng lượng và năng lượng thành vật chất thì… không phải ai cũng có thể “nghĩ bàn” được. Cũng như khi nhà hoá học bảo chỉ với ba nguyên tố Carbone (C), Hydro (H) và Oxy (O) sẽ “tùy duyên” mà thành đường, dấm hay rượu… ! Nói cho cùng, các thứ gọi là vật chất hay năng lượng nọ kia, các nguyên tố này khác, chẳng qua là nhưng ‘’trình hiện’’ bên ngoài, tùy duyên thôi. Cũng chỉ là những electron và neutron quấn quít xà quần, rồi hạt, rồi sóng hỉ hả qua lại đó thôi. Đến một lúc, à há, thì ra “bổn lai vô nhất vật’’!

Nhưng chấp không vốn là một thứ bệnh nặng của Bồ-tát, Duy-ma-cật đã cảnh giác!

(Đỗ Hồng Ngọc, Văn hóa Phật giáo số 275 ngày 15.6.2017)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Ghi chép lang thang: “Rửa tay gác kiếm…”

11/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Ghi chép lang thang

“Rửa tay gác kiếm…”

Bs Đỗ Hồng Ngọc

(viết cho các bạn trẻ ở Bm YĐ-KHHV)

 

Từ ngày lui về làm “cố vấn từ xa” cho Bộ môn Y đức – Khoa học hành vi do tuổi cao, nhất là từ khi cô Ngọc Dung nguyên Hiệu trưởng kiêm Trưởng Bộ môn cũng đã về hưu và thầy Trương Trọng Hoàng, phó Trưởng Bm được rút về phụ trách Thư viện thì tôi càng ít có dịp làm việc chung với các bạn trẻ ở Bộ môn, có vẻ như ngày càng xa cách tuy các em vẫn giữ một tình cảm quý mến với “thầy Ngọc”. Thỉnh thoảng tôi cũng tổ chức một buổi họp Bộ môn ngoài trời, nơi hồ sen xanh mướt, theo “truyền thống” của Bộ môn từ thời xa xưa khi tôi còn là Chủ nhiệm rồi Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi – Giáo dục sức khỏe (KHHV-GDSK) , sau này đổi thành Bộ môn Y đức-KHHV.

Có lẽ nên nhắc một chút chuyện xa xưa đó: Ngay khi thành lập Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Tp.HCM (1989), thực chất là một trường Đại học đào tạo Bác sĩ  y khoa 6 năm (sau này được đổi tên thành Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Tp.HCM) với mục tiêu “vừa lâm sàng vừa cộng đồng” theo hướng đào tạo các chuyên viên sức khỏe (health specialist), không chỉ chú trọng bệnh tật mà còn chú trọng sức khỏe toàn diện cho cộng đồng thành phố, nhà trường đã sớm thành lập Bộ môn Tâm lý-Xã hội học – Sức khỏe do tôi làm Chủ nhiệm, bác sĩ Lâm Xuân Điền phó chủ nhiệm, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, cố vấn. Thời ký đầu còn có cô Nguyễn Thị Oanh và các thầy cô bên Xã hội học và Công tác xã hôi (Social Work) tham gia giảng dạy. Ngay thời đó, Y đức đã được dạy lồng ghép trong Tâm lý học – Sức khỏe, Xã hội học – sức khỏe, dù không nhiều tiết vì các Trường y lúc đó đều chưa có Bộ môn Y đức. Sau này, tôi phụ trách Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi – Giáo dục sức khỏe, nằm trong Khối Bộ môn Sức khỏe Cộng Đồng của Bác sĩ Dương Quang Trung, Hiệu trưởng, vẫn tiếp tục giảng dạy về y đức trong tuần lễ nhập môn. Sau này, vấn đề Y đức ngày càng nổi cộm, một bức xúc của xã hội, thì các trường Y mới thành lập Bô môn y đức riêng. Tại Đhyk PNT, gọi là Bộ môn Y đức-KHHV, do Hiệu trưởng phụ trách, Bs Đỗ Hồng Ngọc cố vấn. Nói tóm lại Y đức được quan tâm từ thuở mới thành lập trường tại Đhyk PNT và đã là một truyền thống của Trường.

Hôm nay nhìn các giảng viên trẻ trong Bộ môn đa số nhỏ tuổi hơn mình đến nửa thế kỷ, tôi không khỏi giật mình. Mới ngày nào!

Nay đã đến lúc “rửa tay gác kiếm”, đã đến lúc truyền lại cho các em chút lửa nồng cùng vài “chiêu thức” đặc biệt của một Bộ môn đặc biệt (chăm lo phần hồn của một Đại học y khoa!)  kể cả thức “vô chiêu” để mong các em tiếp tục hành hiệp… Phần mình, lui về một thảo nguyên nào đó thả ngựa chăn…cừu!

Vậy là nhân dịp sắp tổ chức đợt Hội thảo Y đức thường niên cho Y5, tôi rủ các em làm một chuyến giang hồ vặt về Bà Rịa – Vũng Tàu, dĩ nhiên vừa học vừa chơi… theo phương pháp thực địa, tiếp xúc nhân vật và thào luận nhóm….

Dưới đây là vài hình ảnh chuyến đi ngày 4 và 5/6/2017 về một vùng biển:

 

hình ảnh thầy Ngọc… thả ngựa chăn cừu trên thảo nguyên Châu Pha (Cn 4.6.2017)

Thầy Ngọc, thầy Hoàng cùng các đồng nghiệp trong Bô môn Y đức-KHHV (từ trái: Trương Trọng Hoàng, Đỗ Hồng Ngọc, Mai Ngọc Thanh Ngân, Nguyễn Thế Nguyên Hùng, Phương (TL), Lê Kiều Chinh, Lê Thành Tân)

 

Cafe bên hồ Bà-Tô (Xuyên mộc). cần một chút thiên nhiên lắm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thăm Bác sĩ Lê thị Bích Vân, cùng khóa với thầy Ngọc, tốt nghiệp 1969 tại Y khoa Đại học đường Saigon để nghe kể chuyện xưa tích cũ: học y ngày xưa (7 năm), ra trường làm việc ra sao… Va hình ảnh người thầy thuốc 75 tuổi với mái tóc bạc trắng, tinh thần vẫn minh mẫn, hoạt bát… Bs Bích Vân (bìa trái) cho mỗi người một trái xoài như trái đào tiên và chúc sức khỏe…

 

 

 

Mọi người chụp tấm hình kỷ niệm dưới gốc cây Bồ-đề trước nhà Bs Bích Vân (Đất Đỏ, Bà Rịa)

 

 

 

 

 

 

Chiều 4.6.17 là một buổi Nói chuyện Sức khỏe (Health Talk) của thầy Ngọc với các bà mẹ ở Vũng tàu, đề tài: Giáo dục giới tính cho con em. Thầy Hoàng và anh Tân chia sẻ kinh nghiêm thêm. Buổi nói chuyện sôi nổi với rất nhiều câu hỏi đặt ra… Các bà mẹ còn có dịp tiếp xúc với sách của Hội quán CBM trình bày.
Ngày hôm sau, trên đường về, các giảng viên trẻ đã có dịp thảo luận với thầy Ngọc về buổi Talk này, được không được chỗ nào, tại sao? rút kinh nghiệm gì? cho một buổi Health Talk, cách phá băng, cách dẫn nhập, đặt vấn đề, chuyện kể…

 

Sáng 5/6/17: Buổi trao đổi về hoạt động sức khỏe cộng đồng với bác sĩ Nguyễn Thị Phương Trinh, người có rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn, từ các chương trình phòng chống AIDS, Ma túy, Y tế học đường, bác sĩ gia đình, cộng đồng tôn giáo… Sau đó còn có dịp gặp QP, một doanh nhân đang làm chương trình OKULL trên bãi biển Vũng tàu…

 

Các bà mẹ Vũng Tàu và sách.

Không quên hưởng chút gió biển…

 

 

thầy Ngọc “trình diễn” cách ngồi thiền…

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh Chùa Phật học Xá-Lợi “ngày xưa”

08/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Vài hình ảnh Chùa Phật học Xá-Lợi “ngày xưa”

“Ngày xưa” ở đây là chỉ mới cách đây vài tuần lễ thôi, khi sân chùa còn là một khoảng không gian đầy cây xanh bóng mát, chim hót líu lo và sóc nâu chuyền cành, khách thập phương có thể hít thở chút không gian xanh còn sót lại hiếm hoi ở thành phố ồn ào náo nhiệt này. Hôm nay thì cây xanh đã được chặt đốn dọn dẹp trống huơ để xây dựng thêm những công trình mới.

Chùa Phật học Xá-Lợi là một trong những ngôi chùa cổ, lịch sử của Sài-gòn, Tp HCM, nơi có nhiều di tích được nhiều khách trong và ngoài nước tham quan, thưởng ngoạn. Chùa có một kiến trúc đặc sắc của phương Nam khó tìm thấy ở đâu. Sinh hoạt cũng rất độc đáo. Không có chuyện mê tín dị đoan, bói toán, vàng mã, khói nhang nghi ngút… Chánh điện chỉ thờ duy nhất một tượng Phật Thích Ca uy nghi và tĩnh lặng. Chùa cũng là Trung tâm nghiên cứu Phật học, với nhiều lớp học, Thư viện sách quý, tòa soạn báo Từ Quang, Ban Phật học, gia đình Phật tử, các đạo tràng hoạt động khá tốt…

Dưới đây là vài hình ảnh sân chùa ”ngày xưa” khi còn nhiều cây xanh bóng mát !.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 7/06/2017)

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Vài đoạn hồi ký

Hè về (một vài hình ảnh)

03/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Hè Về : một vài hình ảnh

Đỗ Hồng Ngọc

 

Những cơn mưa đầu mùa (ảnh: Do Hong Ngoc)

 

Sắp đặt của thiên nhiên (ảnh: Do Hong Ngoc)

 

Phượng hồng đã bắt đầu rải trên hồ sen xanh ngát…
Buổi họp của Bộ môn Y đức-Khoa học hành vi ĐHYK PNT. Thầy Ngọc, thầy Hoàng cùng các bác sĩ trẻ của Bộ môn, để chuẩn bị Hội thảo Y đức cho SV Y5 (Tháng 6/2017).

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Vũ Hoàng Thư: Đỗ Nghê, chào em bước xuống cuộc đời

03/06/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Đỗ Nghê, chào em bước xuống cuộc đời

Vũ Hoàng Thư

 

Năm 1965. Năm biến động. Biến động dữ.

Quân đội Mỹ ồ ạt đổ bộ vào Việt Nam. Chiến tranh leo thang khốc liệt. Đồng Xoài, Bình Giã, Plei Me thành những địa danh thử lửa của hai bên. Biết bao người chết, máu có thể chảy thành sông, thịt xương như vun đầy gần núi. Khởi đầu của đêm đen trên quê hương. Khổ đau và bất lực gióng lên lời tình ca của người mất trí. Khánh Ly trầm trầm như lời độc thoại đêm đêm, “Tôi có người yêu chết trận Plei Me… Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò. Không hận thù nằm chết như mơ…” (Trịnh Công Sơn). Hay nếu người không trở về bằng “hòm gỗ cài hoa” thì có lẽ cũng “trên đôi nạng gỗ” để làm “bại tướng cụt chân” như lời Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy. Phi lý như thế đấy. Khi guồng máy lăn đè bẹp nhúm phận người. Mọi đứa trẻ sinh ra ở hai miền Nam, Bắc, dù muốn dù không cũng phải mang lấy một nhãn hiệu, bên này hay bên kia.

 

Cũng năm 1965.

Có một sinh viên y khoa trẻ tuổi thực tập tại bảo sanh viện Từ Dũ khi dán tên họ vào tay đứa bé sơ sinh, anh viết rằng,

Anh đã không quên buộc etiquette vào tay em

Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy

Hai câu thơ hay và thâm trầm quá đi chớ. Hai câu thơ rúng động thần hồn.Thì ra thế. Tôi. Anh. Chúng ta được dán nhãn hiệu ngay từ phút chào đời. Nhắc đến etiquette, một danh từ quen thuộc từ thời đi học. Mỗi cuốn vở phải có etiquette để xác định sở hữu và để phân biệt nội dung cuốn vở. Có vở tập làm văn, có vở sử địa, có vở toán hay khoa học thường thức, v..v… Và quan trọng nhất, có tên họ của sở hữu chủ cuốn vở. Có tên gọi nên có phân biệt từ đó. Nếu lỡ có tật xấu, bộ mặt khác thường hoặc dáng vóc không giống ai thì tên gọi lại được thêm một tiếng đệm đi theo, Cường móm, Phú thẹo, Thành lác, Lan ngựa, Ngọc lé… Những cái lòng thòng ta phải mang theo suốt đời.

 

Danh tánh. Danh tướng. Những cái tên xấu ta muốn tránh xa và những cái tên tốt, tên đẹp ta muốn ôm vào. Mà nào có được như ý muốn! Đã mang lấy nghiệp vào thân / Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa (Nguyễn Du). Chàng sinh viên y khoa ấy tiên đoán như thần những gì sẽ xảy ra hàng chục năm sau,

 

Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu

 

Từ một hành động rất bình thường khi buộc etiquette vào tay trẻ sơ sinh chàng sinh viên đã thấy ngay cả một cuộc đời và những hệ lụy trải dài trước mặt. Không nói mà chàng như ngầm giọng, chút nhỏ nhoi nọ cũng hàm chứa ba nghìn thế giới ngoài kia chăng? À há, kẻ trí chưa gieo nhân đã thấy quả. Người phàm phu không nhận thức nhân duyên liên lỉ, than khóc cho những bất hạnh dồn về. Chỉ thấy quả trước mắt mà không chịu tìm hiểu nguyên nhân từ đâu gây ra tình huống. Chưa hết, chàng bồi thêm một quả tối tăm mày mặt người đọc,

 

Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực

 

Ôi biên kiến mở màn dưới những cặp kính màu. Mắt thấy được nhờ sự phản chiếu ánh sáng từ đối tượng, nhưng đối tượng thường thay đổi, vô thường. Cái thấy như vậy là tác dụng của dòng luân sinh, duyên khởi bời bời, cảnh dội vào tâm. Đâu là sắc màu xác thực của cuộc đời, chân lý, nếu mỗi mỗi chúng ta mang một màu kiếng khác nhau? Đứng núi này trông núi nọ. Thuốc ngừa đau mắt như lời tự bào chữa, tự phỉnh gạt, để người nói lời đao to búa lớn hòng che đậy những bịp lừa. Đã bao lần người nhân danh người để giết người? Có còn chăng câu hỏi “giết người đi thì ta ở với ai?” (Kẻ thù ta, Phạm Duy) Không chỉ ở Việt Nam mà ở toàn cõi người. Không biết ở cõi Trời có chăng? Thứ thuốc màu nâu không làm được “Màu con mắt bên mùa xuân xiêu đổ / Ở bên kia nhìn ngó lại bên này” (Bùi Giáng). Những con mắt luôn nhắm nghiền trong mưu đồ đen tối. Những con mắt không bao giờ biết nhìn lại bên trong, soi rọi chính mình.

 

Người sinh viên y khoa đó là ai mà đã mở lời phương tiện như một Bồ tát khai thị chúng sinh? Vô tình hay ẩn ý, chàng hé cho thấy tam thiên đại thiên thế giới vốn nằm trong hạt bụi bằng tiết tấu lơ thơ tơ liễu buông mành con oanh học nói trong hai câu thơ? Chàng múa kiếm vàng dẫn lộ, soi mói cho ra cái tánh của sự thấy vốn không tịch và phẳng lặng, xa lìa phù phiếm rởm đời? Xin thưa đó là thi sĩ Đỗ Nghê ở năm 1965. Nhà thơ viết một bài thơ ngắn, chỉ ngắn lời nhưng ý thì hun hút ra tới ngoài vũ trụ. Xin chép lại nguyên văn bài thơ “Thư cho bé sơ sinh” dưới đây để chúng ta cùng đọc.

 

Thư cho bé sơ sinh

 

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến

Anh đã không quên buộc etiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Đỗ Nghê
(Từ Dũ, 1965)

 

Nhà thơ sinh viên Đỗ Nghê trở thành bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sau này. Hèn chi, ta không phải thắc mắc nữa, ông Đỗ Hồng Ngọc làm bác sĩ đi chữa bệnh cho người đời. Tuy nhiên hành nghề bác sĩ thì chữa được bao nhiêu người trong phạm vi địa lý của mình? Cho nên bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bây giờ chu du khắp nơi, viết lách cũng như giảng giải Phật pháp cho bà con chúng sinh. Tầm tay nay rộng lớn hơn, ống nghe mạch không đặt vào một tấm ngực nhỏ bé của từng người mà lắng nghe tiếng khổ của đời, của muôn loài, quán thế âm, để cho thuốc. Giải cứu cái khổ từ tận gốc, từ tâm linh thay vì chỉ chữa những bệnh tật hạn hẹp thân xác bên ngoài. Có lẽ, ông đã thấy được từ hơn nửa thế kỷ trước, cái cõi nhỏ bé ngoài kia cùng với thân phận hạn hẹp này, dù muốn dù không chúng ta đều phải chia chung một phận: duyên nghiệp.

 

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

 

Nhân đọc số đặc biệt Thư Quán Bản Thảo của anh Trần Hoài Thư viết về nguyệt san Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa Saigon thời 60, tôi mới biết bài thơ này của BS Đỗ Hồng Ngọc. Xin vén lên một góc và nhường ba góc kia cho người đọc mở khơi cõi thơ Đỗ Nghê (cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản…)

 

Vén hai hàng cỏ ra xem
Giòng thiên thu rộng là Em bây giờ
(Bùi Giáng)

 

Vũ Hoàng Thư

Tháng 6, 2017

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Pháp sư, người “phiên dịch”

29/05/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Pháp sư, người “phiên dịch”

Đỗ Hồng Ngọc

“Kinh điển của Ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói… mà ở trong đó Pháp Hoa rất là khó tin, khó hiểu. Xa kín nhiệm sâu. Mở môn phương tiện bày tướng chơn thiệt. Kinh này là tạng bí yếu của các Đức Phật, giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói…Kinh này Như Lai đang hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống hồ sau lúc Phật diệt độ…”

Phật nêu một “nhu cầu” khẩn thiết, đó là cần có những pháp sư chân chính, có thể trở thành “sứ giả của Như Lai”, đưa Pháp Hoa vào đời, sau khi Phật diệt độ vì Pháp Hoa là kinh khó tin khó hiểu, xa kín nhiệm sâu, là kho tàng bí yếu của chư Phật bấy lâu còn giấu nhẹm…

“Ném núi Diệu Cao từ nơi này sang nơi khác: không khó. Dùng ngón chân làm động nước Đại thiên, dời qua chỗ khác: không khó…; dùng tay nắm hư không đi dạo khắp nơi, không khó; đem cả cõi đất để trên móng chân bay đến Phạm thiên: không khó. Gánh cỏ khô vào lửa không bị cháy: không khó; trì các tạng pháp, đủ mười hai bộ kinh, diễn nói giúp người đạt sáu thần thông không khó… Sau khi ta diệt độ, ai có thể hộ trì, đọc nói kinh pháp này… thì cái đó mới thật là khó!” 

Phật biết cõi Ta-bà, thời mạt pháp,  “chúng sanh căn lành thì ít, tăng thượng mạn tham lợi dưỡng thì nhiều, xa lìa đạo giải thoát…” sẽ không dễ dàng cho kẻ làm “pháp sư” ở cõi Ta-bà. Cho nên năm trăm vị A-la-hán vừa được thọ ký, tám nghìn bậc học và vô học, cùng các vị Tỳ kheo ni cũng đều xin… qua xứ khác làm Pháp sư chớ chẳng dám làm Pháp sư ở cõi Ta-bà đầy ác trược này!

“Thế Tôn! Chúng con thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này”.

Thấy mọi người tìm cách thoái thác, Phật yên lặng, chờ đợi, chẳng nói chẳng rằng. Trong tình thế có vẻ khá “căng thẳng” như vậy, bỗng có hai vị đại Bồ-tát quỳ xuống thưa:

“Cúi xin đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng, nói kinh điển này”!

Thì ra Dược Vương và Đại Nhạo Thuyết.

Làm một pháp sư chân chính để ‘’thọ trì đọc tụng biên chép giảng nói”  Pháp hoa không dễ chút nào! Nào xa kín nhiệm sâu. Nào tạng bí yếu giấu nhẹm…khó tin khó hiểu, được truyền đạt bằng những ẩn dụ, ẩn nghĩa, nên pháp sư cần phải biết giải mã, “phiên dịch” , may ra mới giúp người ta “khai thị” mà “ ngộ nhập”…. Eugène Burnouf dịch Pháp Hoa sang tiếng Pháp từ năm 1925 đã dịch “Pháp sư” là “interptrète” (interpreter) , người phiên dịch là vì vậy!

Hai vị đại Bồ-tát thưa Phật cứ an tâm, để chúng con lo cho chính là Dược Vương và Đại Nhạo thuyết. Dược Vương, ông « Vua thuốc » không phải ai xa lạ. Đó là vị Bồ-tát dám « không tiếc thân mạng », dám « bố thí thân mạng », tự đốt cháy mình lên, đốt toàn thân rồi đốt cả hai tay âm ỉ hàng chục ngàn năm để sau cùng trở thành vị Bồ tát ai thấy cũng vui (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến), có khả năng biến mình thành bất cứ một đối tượng nào cần tiếp cận (hiện nhất thiết chúng sanh) và nhất là có khả năng thấu hiểu bất cứ ngôn ngữ nào… (giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn)… Đây chính là kết quả của sự tu tập thiền định một cách tinh tấn và nhẫn nhục, sanh lòng từ bi rộng lớn, sống cùng Như Lai, sống trong Như lai, vui cùng Như Lai Đa Bảo của mình nên đã có niềm tin vững chắc.

Còn Đại Nhạo Thuyết  là người vốn ưa thích (nhạo) việc giảng nói (thuyết), có kỹ năng sử dụng truyền thông « đa phương tiện », biết thuyết phục, biết giáo dục chủ động dựa trên đối tượng đích, tạo tham gia… khiến người nghe không chỉ có kiến thức mà còn thay đổi hành vi, lối sống: Cư trần lạc đạo.

Hai vị Đại Bồ-tát phải phối hợp với nhau. Một người đầy nội lực thâm hậu bên trong, một người đầy chiêu thức biến hóa bên ngoài phối hợp lại thì lo gì không giúp được mọi người « đúng như pháp mà tu hành ».

Điều kiện để có thể làm Pháp sư chân chính thì phải “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai”.. Vào nhà Như Lai là có lòng từ bi rộng lớn, thấy chúng sanh đều như cùng dưới một mái nhà, chung một mái nhà; mặc áo Như Lai là có đức nhu hòa nhẫn nhục, biết tôn trọng, chân thành và thấu cảm; và quan trọng nhất là thấu triệt tánh Không, duyên sinh, vô ngã, thực tướng vô tướng…

Để ý ở đây không nói vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật… Bởi vì, Phật là Như Lai, nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Cũng vậy, Như Lai thần lực, Như Lai thọ lượng… chớ không nói Phật thọ lượng, thần lực của Phật…

Tâm thông thì thuyết mới thông. Nhưng phải cần cả nội lực thâm hậu và kỹ năng thiện xảo để có thể làm một người “phiên dịch” chân chính đó vậy.

(ĐHN)

Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 274  tháng 6/2017

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi: Thơ tình Đỗ Nghê

26/05/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Thơ tình… Đỗ Nghê (*)

trên Nguyệt san Tình Thương (63-67)

Đúng như bạn nói, trên Nguyệt san Tình Thương (63-67) của Sinh viên Y khoa Saigon thuở đó thì Thơ Đỗ Nghê không chỉ có dòng thơ “Muốn đùa mây về lấp một dòng sông” (xem bài trước) mà còn một mảng thơ tình “ướt át hết sức” nữa! Ướt át hết sức là chữ của Trần Hoài Thư khi anh chịu khó scan toàn bộ thơ Đỗ Nghê trên Tình Thương để gởi về mình và tỏ vẻ ngạc nhiên. Cám ơn bạn già THT. Không có bạn chịu khó lùng tìm được gần toàn bộ Nguyệt san Tình Thương (chỉ thiếu vài số?) thì mình cũng quên tuốt hết rồi đó. Cũng không quên cám ơn bạn Phạm Văn Nhàn. Anh bạn vừa ôm cục sạn thận, vừa ôm đầu gối đau cũng không quên phone hối thúc mình viết bài, còn dọa, nếu làm biếng không chịu viết, bạn sẽ viết thay!

Tuổi 18-20 thuở đó, thơ mình còn cái giọng… ngây thơ hết sức! Mình vốn thủ cựu, nhà quê thứ thiệt, thơ tình chẳng có gì đáng nói. Nhưng nay bạn đã hỏi thì cũng chìa ra cho vui!

Nhưng phải nói thiệt, khi mình in tập thơ Tình Người (1967), mình cũng đã có một bài khá dễ thương, có thể coi như là một “tuyên ngôn” nho nhỏ cho riêng mình:

Bạn thấy đó. Ngây thơ và thiệt thà hết sức! Và quả thật, không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. nụ cười đó không  tàn theo năm tháng/ mãi mãi là nụ cười hai mươi/ của những người gái người trai/ suốt đời thương số kiếp/ nhưng chỉ của những người/ mang một niềm tin biển khơi/ TÌNH NGƯỜI ngày mai.

Và đây là một bài thơ viết năm 1958, cho một người con gái:

Quá nhà quê phải không, nghe na ná giọng thơ tiền chiến của ai đó!

Rồi một bài khác nữa, cũng quê không kém:

Và thêm một bài nữa nhé. Dĩ nhiên là những bài đã đăng trên Tình Thương:

Bạn thấy chưa? Những bài nhà quê của một thời xa lắc!

À mà còn một bài chưa tìm ra trên Tình Thương, bài này mình thuộc (nói như cô bé đi Chùa Hương), thôi kệ, đã lỡ thì gởi bạn luôn, vui nhe:

 

Lúc đó trời xanh xanh cao thêm

Biển giăng tay rộng thuyền lênh đênh

Em đi cúi mặt thẹn trong tóc

Cát trắng hôn tròn bước bước em

 

Theo gót chân em lòng ngây say

Bốn phương gió lộng về phương này

Nắng chiều xuống nửa chân trời nhỏ

Em ngại gì em tay trong tay…

 

(Đỗ Nghê, 1960)

Hồi đó khổ vậy đó. Không phải như bây giờ đâu!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………………………………………..

(*) Đỗ Nghê là bút hiệu của Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Muốn đùa mây về lấp một dòng sông”

25/05/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

“Muốn đùa mây về lấp một dòng sông”

(Những bài thơ Đỗ Nghê trên Nguyệt san Tình Thương 63-67)

Đỗ Hồng Ngọc (*)

Anh ray rứt với tháng ngày chóng mặt

Vạch bàn tay tìm dấu vết tiền nhân

Rồi ngây ngất tưởng mình đầy phép lạ

Muốn đùa mây về lấp một dòng sông…

(Dỗ em, Đỗ Nghê,65)

 

Nguyệt san Tình Thương của Sinh viên Y khoa Saigon (63-67) đăng khá nhiều thơ, nhiều thơ hay, nhưng có thể nói có một “dòng thơ” Đỗ Nghê những năm tháng đó, trên Tình Thương mà sau này tác giả đã tập hợp in trong tập Tình Người, thơ Đỗ Nghê, (1967) do người bạn cùng lớp, Lữ Kiều trình bày bìa. Tập thơ ronéo, không giấy phép, in với một số lượng ít (200 cuốn), dành cho bạn bè anh em. Bìa tập thơ Tình Người với tranh Cocteau, và những dòng nước mắt… khóc  cho quê hương cùng những ước mơ cháy bỏng của người sinh viên tuổi mới ngoài đôi mươi…

 

“Muốn đùa mây về lấp một dòng sông…” gần như là chủ đề xuyên suốt của thơ Đỗ Nghê trên nguyệt san Tình Thương lúc đó, với ước mơ tràn đầy phép lạ để xóa đi những nỗi chia cắt trên quê hương, xóa đi những vết hằn lịch sử như một lời nguyền truyền kiếp.

Nhưng ước mơ vẫn chỉ là ước mơ. Phép lạ không hề có. Chỉ còn lại nỗi chua chát:

Em khóc đi, khóc đi rồi anh dỗ

Khóc nhiều hơn khóc nhiều nữa đi nghen

Này tủi nhục với niềm đau nỗi khổ

Của quê mình không đáng khóc sao em?

Dỗ em (Tình Thương, tháng 5/65)

 

 Gọi là có một “dòng thơ” Đỗ Nghê trên nguyệt san Tình Thương bởi những năm tháng đó Đỗ Nghê chủ yếu chỉ có những bài thơ nặng trĩu thế sự, những lời thơ chua chát, xót xa, cay đắng, nghẹn ngào… từ nỗi lòng của người tuổi trẻ trong thời tao loạn, nhiễu nhương, chiến tranh ngày càng khốc liệt trên quê hương… Nỗi ước mơ xây dựng một đất nước thanh bình, chấm dứt cuộc chiến nồi da xáo thịt, ám ảnh như bởi một lời nguyền từ thuở đầu lập quốc khi  Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đàn con nửa lên non nửa xuống biển, để rồi từ đó mà Sông Gianh, mà Bến Hải… cho đến ngày nay vẫn mãi mãi đôi bờ…

 

Hơn 40 năm trước, Thu Thủy (Võ Phiến) viết về Thơ Đỗ Nghê: “… dù đề cập đến nhiều đề tài, giữa các bài thơ trong tập không phải không có một mối liên hệ. Có lẽ không được đặt thành chủ đề chung, nhưng mối ưu tư về “chiến tranh và hòa bình” bàng bạc, thấm nhuần gần khắp các sáng tác của ông Đỗ Nghê (…) Hoặc khi nhắc lại huyền thoại Lạc Long Quân chia con đi hai ngả để liên tưởng tới tình trạng Nam Bắc lưỡng phân; hoặc khi nói về cổ tích ngôn ngữ để ám chỉ cuộc xâu xé liên miên giữ các dân tộc; hoặc nghe một bản tin thời tiết hàng ngày; hoặc làm một bài vè cho niềm mơ ước đơn giản v.v…, lúc nào người ta cũng nhận thấy nhà thơ bị vấn đề chủ yếu nọ ám ảnh: Chiến tranh trên quê hương; Hòa bình cho quê hương” (Chính Luận 11.1974).

 

Và từ những ước mơ vô vọng, đã trở thành câu hỏi không lời đáp:

Trong giấc ngủ có loài hoa bỏ ngỏ

Tiếng mẹ hiền còn mãi mãi à ơi

Dòng sông xưa nước đục chảy muôn đời

Sao trong mắt chưa thấy niềm sám hối?

Ý nghĩ (Tình Thương, tháng 5/64)

 

Nên chỉ còn là nỗi xót xa:

Niềm tủi nhục cũng tràn theo với tuổi

Máu xương rồi cũng thấy máu xương thêm

Chợt ngoảng lại súng gươm cười nghiêng ngửa

Nhục nhằn này xin muôn kiếp đừng quên…

Ngỏ ý (Số 12 tháng 12/64)

 

Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh mới đây nhìn lại lần nữa thơ Đỗ Nghê:  “Một tập thơ in cách nay nửa thế kỷ (1967) có tên Tình Người, với bút hiệu Đỗ Nghê, ông nói về một ước mơ,

Súng dòn
Ánh sáng lóe lên
Đạn đan trên nền trời
Thành hai chữ Việt Nam
Những kẻ tử thù nhìn rõ mặt nhau
Khóc vì mừng

Anh em
(Ước Mơ)

Định mệnh một cuộc chiến… Đã biết bao gia đình, trong một nhà anh cầm súng vì bên này, em ra chiến trường cho bên kia. Hai phía ngỡ ngàng khi súng đạn lóe sáng nhìn ra nhau anh em… Người thơ ước sao cho đường đi của súng đạn đan thành hai chữ Việt Nam, để thức tỉnh nhau còn khóc được vì mừng… Và dường như có một đau lòng, nỗi chia cắt đất nước, nỗi phân ly ý thức hệ” (tuongtri.com/2017).

 

“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Kim Cang). Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm. Nói vậy mà không phải vậy đâu! Những danh từ đao to búa lớn kia cũng chỉ là để bịp lừa để đổ máu đó thôi.

 

Trong bài Tổ quốc, Đỗ Nghê viết:

“lịch sử sẽ ghi bằng những lời nói dối

mặc kệ- chúng mình thương nhau…”

Bởi hạnh phúc thực sự chỉ là:

… ngày hai bữa cơm khoai

rừng núi sông hồ

đời người tự do

(…) Thế nhưng mọi sự không vậy, cho nên cuối cùng:

“nếu anh vẫn một mực chối từ

và nhất định đòi cho tổ quốc một chiếc áo màu –dù xanh dù đỏ-

hay khoác một định nghĩa -dù trắng dù đen-

tôi đành nhặt một cọng cỏ rất xưa về làm tổ

rồi khóc trên đó

loài chim bỏ đi!” .

Tổ quốc (Tình Thương, tháng 9/65).

 

Chỉ còn lại nỗi trơ trụi, hoang vu:

Rồi từ đó cỏ cây cùng sửng sốt

Loài chim thiêng vỗ cánh về rừng xưa

Người với người hơn bao giờ chua xót

Ngước mắt nhìn nhau hổ thẹn sao vừa

Ý nghĩ ( số 5 tháng 5/64)

Bìa nguyệt san Tình Thương (sưu tập của Thư Quán Bảo Thảo)

Khi mắt đã biết ngỡ ngàng nhìn ra bao trần trụi, trong “Thư cho bé sơ sinh” (1965):

(…) Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh

Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa

Một ngày đã thức giấc

Với vội vàng với hoang mang

Với những danh từ đao to búa lớn

Để bịp lừa để đổ máu đó em…

 

Khi niềm tin chỉ còn là nỗi đắng cay:

Thôi trân trọng chào em

Mời em nhập cuộc

Chúng mình cùng chung

Số phận

Con người…

(Thư cho bé sơ sinh, 1965)

 

Lạc Long Quân rồi cũng đành đấm ngực, ăn năn, van vỉ các con:

Đốt hết sách vở xé hết cờ xí đi

Rồi đứng ôm nhau mà khóc

Nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây

Nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất…

 

Bởi:

Muôn lỗi lầm này có phải vì ta

Khi ta đưa các con 50 người xuống biển

Và vợ ta đưa 50 đứa lên rừng…

…

Bởi còn chút hy vọng:
Các con sẽ không bao giờ quên
Đã cùng sinh ra trong một bọc
Một trăm trứng
Một trăm con
Các con sẽ không bao giờ quên…

(Tâm sự Lạc Long Quân. 1965)

 

Khánh Minh viết: “Bạn ơi, lời ước nguyện này trải qua mấy mươi năm vẫn tươi rói hiện thực tình cảnh quê hương chúng ta. Mảnh sao băng kia đã thành bụi hư vô rồi mà chưa thành tựu được một ước mơ tưởng là rất dễ dàng đối với những đứa con sinh cùng một bọc Việt Nam này! Trái tim người thơ ấy đã thổn thức gần nửa thế kỷ, và vẫn còn theo thời gian…” (https://tuongtri.com/2017/02/17/do-hong-ngoc…):

 

“Muốn đùa mây về lấp một dòng sông” xuyên suốt dòng thơ Đỗ Nghê trên Tình Thương của sinh viên y khoa thời đó và như còn mãi đến tận hôm nay không khác đi, khi mà lòng sông thì sẽ được lấp, mà lòng người thì mãi mãi chia xa… không phải chỉ bởi ở thời gian, không gian của đôi bờ cách biệt.

Bao giờ cho đến Gaté Gaté Paragaté Parasamgaté Bodhi Svàha đây?

 

(ĐHN, Saigon tháng 3.2017)

…………………………………………………………

(*) Đỗ Nghê là bút hiệu của Đỗ Hồng Ngọc.

 

Ghi chú: Bài viết này được trích lại từ Thư Quán Bản Thảo số 74 do Trần Hoài Thư thực hiện (2017). Đây là số chuyên đề về Nguyệt san Tình Thương (63-67) của Sinh viên Y khoa Saigon.

Những bài thơ Đỗ Nghê trên nguyệt san Tình Thương – viết từ hơn nửa thế kỷ trước- sau đó đã được tập hợp in trong tập thơ Tình Người (1967) và Thơ Đỗ Nghê (1973), cả hai đều đã tuyệt bản. Nhiều bạn trẻ hỏi thăm, muốn tìm đọc lại. Tôi may mắn còn giữ được một bản, bìa long gáy rách, hoen màu theo năm tháng do một người bạn tặng lại, xin chia sẻ đôi bài có liên quan để bạn bè có thể đọc trọn bài thơ.

Tôi đã giữ nguyên bản scan như một kỷ niệm để có dịp nhìn lại một tập thơ xưa, cùng cách trình bày lối in roneo thởi đó.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

bìa tập thơ Tình Người (1967)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 32
  • Trang 33
  • Trang 34
  • Trang 35
  • Trang 36
  • Interim pages omitted …
  • Trang 56
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email