Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Gặp gỡ với Nhà thơ Huyền Chi của “Thuyền viễn xứ”

11/03/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Gặp gỡ với Nhà thơ Huyền Chi của “Thuyền viễn xứ”

 

Bạn còn nhớ tiệm sách Bút Hoa trên đường Trần Hưng Đạo, đối diện trường Phan Bội Châu (cũ) của bọn mình ở Phan Thiết không? Chủ tiệm là cô Ngọc Bút, Hồ thị Ngọc Bút, thường gọi cô Ngọc, vợ thầy Trần Phụng Tường dạy Pháp văn lớp đệ thất 1954 (65 năm trước) của bọn mình nhớ không? Ai dè cô là nhà thơ Huyền Chi, nổi tiếng với bài thơ Thuyền Viễn Xứ do Phạm Duy phổ nhạc đó nhớ không?

Gốc Bắc Ninh, nhưng sanh đẻ tại Gia Định (Saigon) và có thời cô phụ mẹ bán hàng vải ở chợ Bến Thành. Trong nhiều năm, cô im hơi lặng tiếng, đến nỗi nhạc sĩ Phạm Duy chỉ một lần gặp cô, được cô tặng tập thơ Cởi Mở tại chơ Bến Thành năm đó, chọn được một bài là Thuyền viễn xứ để phổ nhạc thành một ca khúc tuyệt vời đã cất công tìm kiếm cô mãi không được, nhắn tin cả trên bản nhạc: Huyền Chi, cô ở đâu? Tiếng kêu lọt tõm trong sa mạc. Và người ta cứ nghĩ thêm một hiện tượng TTKH nữa rồi! Nhưng không. Cô không lên tiếng với PD vì nhiều lý do nhưng lý do chính là thầy đang bị tai biến, té gãy xương đùi, phải nằm một chỗ suốt mười năm, một tay cô chăm sóc. Nhà văn Nguyễn Đông Thức trong một bài viết đã quả quyết đó là vì “ông chồng quá ghen”, và cô đã xác nhận anh chẩn bệnh chính xác trăm phần trăm!

Lúc mình học với thầy Tường thì thầy chưa có vợ! Mình chỉ học PBC được mấy tháng thì gia đình dời về tỉnh mới Bình Tuy (LaGi), nên không còn được theo học nữa. Dù sao, Cô Ngọc Bút, nhà thơ Huyền Chi, cũng là cô mình mà, nên hôm nay mình đã cùng với TP, NTC… những học trò cũ thân thiết cùng hẹn đến thăm cô, thắp nén nhang cho thầy, cũng là dịp cho mình được gặp gỡ nhà thơ HC đã 83 tuổi, im hơi lặng tiếng quá lâu, giờ lại “bùng nổ” trên Facebook với nhiều bài viết rất hay và sắp ra mắt tập “Huyền Chi, Thuyền Viễn Xứ” nữa!

Mình thưa sao cô lấy tên Khánh Ngọc trên Fb vậy cô? Có phải vì… nghĩ đến Phạm Duy? Cô nói không. Tôi tên Ngọc (Ngọc Bút) và Khánh là tên người anh trai của tôi mà tôi rất quý mến đang ở nước ngoài. Anh có người con là họa sĩ đã trình bày bìa cho cuốn sách Huyền Chi, Thuyền Viễn Xứ này đó. Cái lý do “lẫn trốn” PD vì sau khi bài Thuyền viễn xứ nổi đình nổi đám, thì tôi sợ, nhất là ở một thành phố nhỏ như Phan Thiết này thì khó mà tránh phiền phức, vả thầy cũng đang nằm bệnh đó…

Cô nói từ ngày thầy mất, suốt nhiều năm cô lặng lẽ âm thầm, ra vào một mình,  con cháu mới bày cô làm Facebook cho vui, để trong gia đình, người trong nước kẻ ngoài nước, thư từ, trao đổi, trò chuyện cho thuận tiện hơn. Cô học rất nhanh, vì cô vốn là cô giáo dạy tiếng Anh, xưa đã quen với máy chữ mười ngón các thứ… Vậy là Fb Khánh Ngọc ra đời. Bạn bè tìm lại nhau sau 65 năm trời xa cách. Rồi học trò, rồi độc giả khắp nơi khuyến khích nên cô viết nhiều, viết nhanh, rồi nay còn in ra sách nữa… Văn cô mượt mà, chuyện kể chân thành, đằm thắm được chia sẻ nhanh chóng trên mạng. Những hình ảnh xưa cô post lại, khiến nhiều người giật mình. Cô đẹp quá. Sao thời đó, một người phụ nữ 7 con, 35 tuổi mà dịu dàng, đoan trang, tươi mát đến vậy, khiến ngay cả nhà văn Nguyễn Đông Thức cũng kêu lên… giá mà hồi đó, sanh sớm nửa thế kỷ được gặp cô cũng không thể không mê!

Mình có “lợi thế” là học trò của thầy Tường, 65 năm về trước, và cũng lại là người mà cô bảo cô là “fan” từ lâu, nên dù mới gặp lần đầu vẫn không hề xa lạ. Mình bèn lựa lời… hỏi những chuyện tình mà cô chưa từng nói với ai cũng không viết hết được trong sách.

Chuyện đầu tiên, dĩ nhiên là chuyện tình của thầy-cô. Mình không lạ gì “tiếng tăm” của thầy-cô ở Phan Thiết một thời… Mấy bạn học kể hôm nào thầy vào lớp… chửi học trò, nhăn nhó với học trò là có chuyện ở nhà. Thầy “ghen” khủng khiếp. Có lần thầy bảo: tôi mê vợ tôi có sao không? Khi hai ông bà dắt tay nhau dung dăng dung dẻ ngoài phố, lũ trẻ con chạy theo kêu: Ông tây bà đầm, ông tây bà đầm… Bởi thời đó, vợ chồng thường đi cách nhau mấy bước! Có ai dám nắm tay ôm eo như vậy đâu!…

Rằng cô không hề để ý đến thầy. Lúc 15 tuổi cô đã có nhiều bài thơ. Và còn làm “biên tập thơ”cho một tờ báo Phụ Nữ thời đó. Lúc 17 tuổi, ông J, một người Pháp… mê cô. Xin cưới. Cô từ chối. Vậy mà đến năm cô 76 tuổi, khi thầy mất, vợ ông J cũng đã mất, ông còn quay lại xin… cưới. Cô lại từ chối.

Mới lớn, mẹ cô bắt cô phải lấy một “đại gia” giàu có, làm xuất nhập cảng. Ông này đi hỏi cô 8 lần. Cô cương quyết từ chối. Mình mới lớn, biết làm thơ, ít ra cũng có chút “lãng mạn” gì chứ lẽ nào lại lấy một ông nhà giàu chỉ biết làm xuất nhập cảng! Rồi cô tình cờ đến học thêm ở lớp tiểu học thầy Tường đang dạy, nhưng thầy đã vừa xin nghỉ để về Saigon tiếp tục học lên. Vậy mà sau này, thiên hạ còn kêu: học trò lấy thầy giáo! Thực tế, cô có học ngày nào với thầy đâu!

Lúc giúp mẹ bán hàng vải ở chợ Bến Thành Sàigon, có một ông nào đó mê cô…, lẽo đẽo làm thơ cả tập để tặng cô, ngày nào cũng có thơ mà cô chưa bao giờ biết mặt. Một lần, cô đi cắt tóc về, ông làm thơ than khóc cho mái tóc từ nay đã bỏ vào mỹ viện (tiệm cắt tóc)! Cô vẫn không biết ông là ai, nhưng khi cô lấy chồng, cô gởi ổng bài thơ “Bài thơ cuối cùng” để kỷ niệm. Từ đó, bặt tin.

Một người khác nữa, ở Huế. Cũng chỉ quen nhau qua văn thơ, cũng chưa hề biết mặt, nhưng chính ông này đã in cho cô tập thơ đầu tay, tập “Cởi Mở”. Đến lúc cô lập gia đình, ông gởi cô “Bài thơ cuối cùng”. Và rồi, cô cũng gởi ông “Bài thơ cuối cùng”, 16 khổ. Ai ngờ ông còn giữ đến bây giờ! Năm trước, có người thanh niên chừng 45-50 ở nước ngoài về đến tìm cô, dọ hỏi đủ thứ. Sau mới nói là con của ông TT, nay đã gần 90, nhờ anh gởi lại cô “Bài thơ cuối cùng” cô đã viết tặng ông 65 năm trước. Dặn về VN phải bằng mọi cách tìm cho được cô để trao lại bài thơ này. Bây giờ các con cô hay hỏi sao mẹ đi lấy chồng cứ làm hết “Bài thơ cuối cùng” cho người này rồi lại “Bài thơ cuối cùng” cho người khác vậy?…

Ở Phan Thiết, còn có ông L, ở dãy phố lầu 30 căn, ngày nào cũng ở trên lan can nhìn cô đi học qua lại. Ông L là bạn của thầy Tường. Thầy kêu ông viết thư cho cô đi, rồi thầy sẽ trao giùm cho, nhưng ông không dám viết. Sau ông lên khu, được tin cô lấy chồng, ông có viết mấy dòng chúc đôi uyên ương hạnh phúc!

Thầy Tường thì bà mẹ cô cương quyết không cho gặp, không cho cưới hỏi gì cả. Lý do: nghèo quá! Một lần thầy viết thư cho cô, cô cảm động, gởi thầy bài thơ lục bát. Từ đó thân nhau. Khi đã thắm thiết, mỗi lần thư cho thầy cô viết cuối thư: “Hôn anh thật kêu!”. Thư lọt vào tay ông bố thầy, ông nói: “Hôn anh” được rồi, còn “thật kêu” nữa! Từ đó, thầy dặn Bưu điện Phan Thiết đừng đưa thư về nhà, để thầy ra bưu điện nhận trực tiếp. Thầy mang thư ra vườn hoa, chỗ Château d’eau (lầu nước) mà đọc. Thầy nói đó là những giây phút hạnh phúc nhất đời của thầy.

Có lần thầy mang tặng cô bó hoa, cô trang trọng cắm vào độc bình đặt lên bàn, lúc học về, thấy bó hoa đã bị ném vào sọt rác! Thì ra, bà mẹ rất bực mình…

Thế rồi, làm sao thầy cô đến với nhau được? Lúc đó thầy đang học Dược thì bỏ, nộp đơn xin đi dạy học ở Phan Rang. Có Baccalaureat Pháp (Tú tài) thời đó dễ được các trường nhận cho dạy. Thầy viết một bức thư…. rủ cô đi với thầy. Bức thư cô để quên trên bàn học, bị bà mẹ bắt được. Đành phải cho thầy cưới cô, vì nếu không, “nó bỏ nhà trốn đi thì mang tiếng”!

Nghe nói thầy “ghen” lắm có đúng không? Phải, thầy “ghen” nổi tiếng. Thầy phải “tả xung hữu đột” “đánh nam dẹp bắc” nhiều phen. Nhiều lần đột xuất kiểm tra giám sát cô khi cô đi làm. Lúc nào thầy cũng đích thân chở cô đi. Thiên hạ thấy thầy già mà cô trẻ, có lúc tưởng thầy có “bồ nhí”! Thiệt ra thầy với cô đã có 5 đứa con rồi chứ, nhưng cô càng đẻ càng khỏe càng trẻ ra. Thầy chỉ hơn cô 6 tuổi. Khi thầy bị động viện, thầy còn kêu “ráng” đẻ thêm một đứa đủ 6 để được miễn. Sau cùng thầy cô có 7… em. Cô cười.

Mình hỏi bài thơ Thuyền viễn xứ… cô làm có phải định theo ông Tây sang Pháp không (có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường)?  Không. Thời cuộc lúc đó. Kẻ Nam người Bắc. Chiến tranh căng thẳng, đất nước phân ly… Còn Đà giang? Chỉ là tưởng tượng thôi!

Rồi cô cười. Tôi bắt chước anh khuyên trong sách: luôn giữ nụ cười, yêu thương người ta, luôn biết ơn… vì thế mà trẻ lâu, trí óc sáng suốt.

Vì sao Thầy “ghen” dữ vậy?

Cô trả lời ngay: Vì đẹp. Vì khéo léo, dịu ngọt, hiền lành… Mấy đứa con nói Má phải dữ lên chớ, sao để Ba ăn hiếp hoài vậy. Má phải ghen ngược cho ba sợ. Mà có gì đâu để ghen…

Dịp cô gặp Phạm Duy cũng rất nhanh thôi. Tại nhà sách Sống Chung của cô Đào, cô Đào giới thiệu PD, cô gởi tặng tập thơ, PD xin lời đề tặng và nói sẽ chọn một bài vừa ý để phổ nhạc. Rồi cô xem đồng hồ, cáo từ… rút lui nhanh nói cho kịp giờ đi học. Có lẽ ấn tượng đó theo Phạm Duy nhiều năm, cất công tìm kiếm, thậm chí kêu trên bản nhạc: Huyền Chi, cô ở đâu?
Năm Phạm Duy về nước, cũng nhờ người quen là bạn Huyền Chi đi tìm, nhưng cô lánh mặt, lúc đó thầy đang bệnh nặng, mà cô quá biết tánh thầy! Từ xưa đã dặn không tham gia các sinh hoạt văn nghệ thơ ca gì cả nhé. Có lần cô gặp ông Nguyễn Vỹ, chủ báo Dân Ta ở ngoài đường, ông Nguyễn Vỹ chặn hỏi cô có phải Huyền Chi không? Ông nói lúc đầu thấy nữ giới mà ra tập thơ tựa “Cởi Mở” cũng khó chịu, nhưng tình cờ đọc tập thơ ở nhà sách Diễm Diễm Thư Trang của bà Mộng Tuyết thì ông mến phục. Nguyễn Vỹ khuyến khích cô nên tiếp tục vì thường nhà thơ chỉ nổi một thời gian ngắn. Thế rồi ông làm 2 bài thơ rất ướt át tặng bà. Thơ khá hay. Ông anh bà đã xé bỏ vì nói ông Nguyễn Vỹ có tuổi nhiều rồi… Một lần, thầy Tường đi với cô đến gặp ông, từ đó Nguyễn Vỹ mặt giận rồi không quen tiếp nữa! Tô Kiều Ngân, Thanh Nam cũng thường mời cô đi dự họp mặt văn nghệ, thầy Tường tuyệt đối không cho.

………..

Đã khá trưa rồi. Bọn mình đứng lên chào cô về. Cô ký tên tặng sách còn nhắc: Tôi là fan của anh lâu rồi! Nhất là khi thầy nằm bệnh, tôi đọc sách anh nhiều lắm đó.

Saigon 4.4.2019.

Đỗ Hồng Ngọc

(Nguồn: Trần Hoài Thư: Thư Quán Bản Thảo, số 92, tháng 3/2021)

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Những người trẻ lạ lùng, Vài đoạn hồi ký

TẠP GHI (Lõm bõm…) kỳ 3

01/03/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

TẠP GHI  kỳ 3

(Lõm bõm…)

 “4 lời nguyện rộng lớn”

 

Không biết ai là người đã viết nên “4 lời nguyện rộng lớn” (tứ hoằng thệ nguyện) này nhưng từ thời Lục tổ Huệ Năng (thế kỷ VII) đã thấy đề cập và cho đến nay hằng ngày các tu sĩ cũng như cư sĩ theo con đường của Phật đều tụng niệm như một lời nhắc nhở để… đừng bao giờ quên:

 

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành

Chúng sanh thì “vô biên”, phiền não thì “vô tận”, pháp môn thì “vô lượng” còn Phật đạo thì “vô thượng”…

Chuyện kể có vị thiền sinh được thầy cho có một chữ làm “công án” để mà nghiền ngẫm suốt mấy năm trời: “Vô”! Đọc Bát-nhã Tâm Kinh thấy toàn… vô: “Vô sắc, vô thọ… vô nhãn nhĩ… vô vô minh, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc…”.

………………………………………….

Nhưng, tại sao chúng sanh thì vô biên?

Vô biên bởi vì không thể đếm, không thể đo được.

Sợi tóc trên đầu cũng đếm được, các ngôi sao trong vũ trụ cách xa hàng triệu năm ánh sáng cũng đo được… Còn chúng sanh thì chịu!

Bởi “chúng” “sanh” ở trong tâm. Mà tâm ở đâu thì không biết. Không ngằn mé. Không biên giới. Ngồi đây mà tức khắc đã có thể có mặt ở chân trời góc biển, ở bên kia nửa địa cầu, ở cả bên kia thế giới, với “những người muôn năm cũ”…

Vậy làm sao “độ” được? Dễ thôi. Trong kinh Kim Cang, Phật nói: “chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh” (chúng sanh tức không phải chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh). Và Bồ-tát thì phải “… diệt độ tất cả các loại chúng sanh, đưa vào vô dư Niết bàn” “mà thiệt ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả”.

Nghĩa là chỉ cần làm “tắt ngấm” tham sân si (Niết bàn) thì chúng sanh đã được… diệt độ! Mà, lúc đó đâu còn “chúng” nào “sanh” ra nữa đâu, nên nói không có chúng sanh nào được diệt độ. Tóm lại, chúng sanh do ta bày ra, do ta vẽ ra… để tự làm khổ ta thì ta “tự diệt độ” lấy. Chả ai giúp mình đâu!

Lục tổ Huệ Năng nói gọn: “Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”.

…………………………………………..

Tại sao phiền não lại vô tận?

Vô tận nghĩa là không… dứt được, không hết được. Nó cứ liên miên… bất tận.  Thiệt ra phiền não cũng là một “pháp”, nó cũng “sanh trụ dị diệt”, nhưng nó liên miên là vì nó “phan duyên”, dắt díu nhau. Không ư? Khi xảy ra một chuyện phiền não nào đó thì nó dắt dây dắt nhợ, chuyện xưa chuyện sau… lải nhải hoài không dứt!

Nhưng phiền não… cũng rất cần thiết đó chớ! Phiền não là Bồ đề mà! Không có phiền não thì ta không nhận ra Bồ đề, ta cứ để mình “trôi lăn” mãi trong khổ đau thôi. Cũng như nhờ có đau bụng mà ta biết bị “viêm ruột thừa” để kịp thời đi mổ!

Có thể “đoạn” được không? Được. Cái khó là thấy biết nguyên nhân của phiền não. Thường thì do tham, sân, si… mà ra. “Đoạn” (cắt đứt) được không là tùy tâm ta mà thôi.

Lục tổ Huệ Năng bảo: Tự tâm phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

…………………………………

Tại sao Pháp môn thì vô lượng?

Vô lượng nghĩa là vô số, nhiều đếm không xuể! Chi nhiều vậy? Là bởi vì mỗi pháp môn “trị” một thứ phiền não. Mà phiền não thì vô tận nên pháp môn cũng phải… vô tận. Có người chịu khó… đếm thử, thấy có tám vạn bốn ngàn pháp môn! Thế mà “thệ nguyện” học cho hết. Tẩu hỏa nhập ma là phải thôi! Tham quá mà. Thiệt ra, tùy theo căn cơ mỗi người mà chọn pháp môn cho phù hợp. Nói khác đi, tùy bệnh mà bốc thuốc. Cần thầy giỏi, chẩn đoán chính xác, chớ không phải thầy hù dọa làm cho người ta sợ hãi, lệ thuộc. Một “chứng” đau bụng có hàng trăm thứ bệnh,  một chứng nóng sốt có hàng trăm thứ bệnh… Vì thế mà có tám vạn bốn ngàn thứ thuốc… ở trong Pharmacy. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phải đề ra một danh mục “Thuốc thiết yếu” chừng vài trăm món để hướng dẫn sử dụng… Một “hoạt chất” (principe actif) của thuốc gốc có thể có hàng chục loại tên thương mại khác nhau dễ làm quáng mắt. Thầy  thuốc có thể tùy tâm lý người bệnh mà ‘bào chế” sao cho phù hợp.

“Thuốc thiết yếu” ở đây là Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên, Bát nhã, Lục Ba-la-mật… vậy.

Và nhớ, “Pháp môn” là cửa đi vào Pháp, để thấy Tánh.

Cho nên Lục tổ Huệ Năng dạy:

Tự tánh Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

……………………………………………

Tại sao Phật đạo lại vô thượng?

Phật chưa bao giờ nói đạo ta vô thượng, ta là giáo chủ… Chỉ nói ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành… Và dạy: Đừng vội tin ta, đừng vội tin ai cả. Hãy đến thử đi rồi biết.

Phật đạo vô thượng ở đây không có nghĩa là… cao nhất mà chỉ có nghĩa là “khó nhất”! Thật vậy. Kinh Duy Ma Cật có một câu hỏi hay? Thế nào là Phật đạo? Trả lời: Phật đạo là phi đạo! “Phi đạo” có nghĩa là ngược chiều, ngược lại con đường bình thường của nhân sinh. Giàu sang phú quý, vợ đẹp con khôn, công danh vinh hiển… chẳng phải là “con đường” của kiếp nhân sinh ư? Vậy mà Thái tử Tất-đạt-đa bỏ hết, đang đêm trốn ra khỏi cổng thành, lên rừng, sống đời khổ hạnh, nhịn đói, nhịn khát, nhịn thở, ngủ trong nghĩa địa… Tóm lại là lội dòng nước ngược. Người theo Phật đạo chấp nhận gian khổ, từ bỏ tham ái, chấp thủ… để giải thoát “luân hồi sanh tử”. Không dễ chút nào là vậy!

Phật đạo cũng là con đường để thành Phật.

Cho nên Lục tổ Huệ Năng nói:

Tự tánh Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

 

Đỗ Hồng Ngọc

28.2.2021

(còn tiếp)

……………………………………………………………………………..

Nguyên Giác (Phan Tấn Hải) góp ý thêm:

Hải góp ý thêm về chữ “pháp môn” — tức là “cửa pháp [để bước vào giải thoát]”. Bên cạnh nghĩa “phương pháp” thường hiểu, trong Thiền Tông còn có nghĩa của chữ “pháp” là “đối tượng của tâm” — tức là, “cửa vào từ đối tượng của tâm” — mà “đối tượng của tâm” thì là vô lượng vô biên, gọi tắt là “84.000 pháp môn”. 

Như thế, pháp môn (cửa pháp) có nghĩa là, “tất cả những gì được thấy, được nghe, được nếm…. được cảm thọ, được tư lường” và tất cả đều là cửa giải thoát. 
Kính chúc anh Ngọc sức khỏe an lành. Thân kính. Hải

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

Trần Hoài Thư: Thư Tết gửi bạn thơ Đỗ Nghê ở SG.

25/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Trần Hoài Thư

Thư Tết gửi bạn thơ Đỗ Nghê ở SG.

(https://tranhoaithu42.com/2021/02/23/thu-tet-ve-nha-tho-do-nghe-o-sg/)

Tôi gặp trở ngại khi nói chuyện. Mỗi lần nói là mỗi lần thở dốc. Vì vậy tôi mượn blog này để gởi về bạn những lời chúc Tết, dù muộn màng, của một người bạn cũ xa quê nhà gần cả nửa thế kỷ. Trước hết cám ơn bạn hiền đã có lòng lo lắng cho kẻ này. Bạn bè nhìn tấm hình của tôi  mới chụp mà nhỏ nước mắt. Tôi cảm ân mà chẳng buồn. Bởi ít ra bạn bè còn thương, chứ ghét thì  làm gì mà động lòng tri âm tri kỷ. Tôi muốn để bạn đừng lo, chứng tỏ là tôi vẫn còn khỏe mạnh bằng cách post cả chồng Thư Quán Bản Thảo mà  tôi vừa in xong, để các bạn thấy rằng hai cánh tay tôi vẫn còn đủ sức để cắt những chồng giấy mấy trăm tờ hay những cuốn sách dày cộm.

Chính nhờ cái máy cắt bằng tay này mà tôi biết mình vẫn còn mạnh. Như sáng sớm này, muốn tập thể thao, tôi chạy từ dưới basement lên nhà trên ít nhất là mười lần.

Quên nói là phần thể thao của tôi sáng nay là mấy cuốn sách của Đặng Tiến: Vũ trụ Thơ I và II. Đừng hỏi tôi in làm gì cho phí công phí sức phí cả tiền bạc, lúc mà tôi muốn tẩy trần tất cả. Nhưng họ làm sao biết là tôi đi tìm niềm vui. Mà niềm vui đâu phải nằm ngửa để có kẻ mang khay tới hầu. Niềm vui là do mình tạo nên, do mồ hôi mình đổ xuống. Dù nhọc nhằn nhưng mồ hôi kia vẫn lóng lánh vàng.
Tôi vẫn đủ khả năng để kéo trì cán dao nặng trĩu. Tôi còn đủ kiên nhẫn để bỏ từng cuốn báo vào phong bì, và dán tem, rồi mang đi gởi ở bưu điện.

Sáng nay chàng đẩy chiếc xe chở báo TQBT gởi đến mười phương
Nàng bưu điện chào chàng bằng nụ cười hết xẩy
Bà khách hàng đứng bên hỏi chàng ông gởi gì nhiều vậy
Chàng hãnh diện trả lời, tôi  gởi sách của tôi
Vâng thưa bà, tôi là một nhà văn !!!
Xem bà ta rất cảm phục vô ngần !

2.

Thứ hai là cám ơn bạn về bài thơ Dán tặng tôi:

Dán

              tặng THT

Không dán etiquette

Cho một bé sơ sinh

Mà dán cả đất, trời (*)

Nối liền tình bè bạn

Nối liền những tấm lòng

Yêu đất nước quê hương

Dán tương lai dĩ vãng

Cho lành bao vết thương…!

Đỗ Nghê

 

Nhưng Dán so với bạn, tôi đâu có thấm tháp gì. Tôi dán cho tuổi già. Càng ngày bạn bè càng rơi rụng dần. TQBT in ra, gởi đi, bị trả lại nhiều. Buồn lắm bạn ơi…

Còn với bạn thì khác. Bạn dán cho tương lai. Những bé sơ sinh của một thời mà bạn buộc vào etiquette: Anh đã không quên buộc etiquette vào tay em/  Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy ( trich  Thư cho  bé sơ sinh ) hoặc những đứa bé mà bạn đã cứu chữa, giờ đã thành người lớn, đang dâng tràn sức sống.

Một trong những đứa bé ấy là cháu TQT.  Năm 1978 cháu mới 5 tuổi. Một hôm được mẹ chở đi bằng xe đạp. Vô ý cả bàn chân của cháu bị  kẹt vào chân căm bánh xe, khiến cả bàn chân bị thương tích nặng. Y. hối hả mang con vào phòng cấp cứu tại bệnh viện Nhi đồng SG. Thời bao cấp, bênh nhân la liệt, tìm một bác sĩ đâu phải là dễ. Y. nói với cô y tá: Xin cho tôi gặp BS Đỗ Hồng Ngọc – trưởng phòng cấp cứu – Chị là ai ? – Tôi là vợ của Trần Hoài Thư. Chị cứ nói là Trần Hoài Thư bác  sĩ sẽ biết ngay. Cô y tá vào trong. Một lát, bạn ra và  tận tình cứu chữa cháu trong khi không có tôi bên cạnh.

Bây giờ cháu TQT  cũng noi theo bác Đỗ Hồng Ngọc:  Vừa là Y sỹ, vừa  nhà thơ. Và họa sĩ. Bức tranh sau đây là một chứng minh:  Một cây con sắp nhú mầm. Chung quanh là những bánh xe luân hồi ngày đêm chuyển vận. Và cây mẹ cây cha thì đầy quả trái , lá bông sum suê.

Sự hình thành của một con người có khác chi. Chỉ khác là nguồn lộc ấy chỉ đến từ những tâm hồn biết yêu cái đẹp chứ không đến từ cõi ô trọc này. Đó là từ người thi sĩ phải không ?

 

Tranh TQT

………………………………………

(*) báo giấy và báo online

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác, Vài đoạn hồi ký

Trần Doãn Nho: Lạnh lùng Texas!

25/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Lạnh lùng Texas!

Trần Doãn Nho

 

Ghi chú: Sáng nay tôi nhận được email của anh Trần Doãn Nho, kèm bài viết rất cảm động này của anh về những ngày “Lạnh lùng Texas” nên đã xin phép anh post lại, chia sẻ cùng bạn bè.

Anh Trần Doãn Nho ơi,

“Thật không tưởng tượng nổi. Còn nhiều gia đình chắc khốn khó hơn! Đọc mà cứ sợ tuyết làm kẹt xe anh đang chạy ngoài đường lúc tìm xăng, đọc mà thấy anh đã gần “ngộ” như một tu sĩ khi chẽ tượng Phật bằng gỗ đang thờ trong chùa để đốt sưởi ấm… 

Và đặc biệt đoạn này:

Khung cảnh nhỏ bé này đẩy tôi lùi về hàng chục thập niên trước, bắt gặp lại hình ảnh tưởng như đã đi vào quên lãng: bếp lửa gia đình. Chao ôi, cái thời xa xưa ấy! Không bếp điện, bếp ga, không nồi cơm điện, không soong, không chảo. Thế giới kỹ nghệ chưa có mặt trong bếp lửa. Tất cả dụng cụ và đồ đạc nấu nướng đều toàn bằng đất sét: ba cục gạch nung châu vào nhau, nồi đất, siêu đất, trách đất. Ngay phía trên bếp là một cái giàn treo chất những cành, nhánh phơi khô để dành từ mùa nắng. Chung quanh bếp, tro than vương vãi. Khói bốc lên làm đen cả phần vách đất che tạm tránh gió, đen hết trần nhà, đen cả cái cụi (tủ) gỗ đựng thức ăn. Sờ tay vào đâu cũng dính phải bồ hóng đen nhẻm. 

Anh nhớ “… ơi bếp hồng sưởi ấm, bếp hồng tươi…” không? (Về dưới mái nhà).

Anh làm tôi nhớ thời trên giàn bếp luôn treo tòng teng bao nhiêu là bó bắp khô, và cả các thứ khác để hong khói… với một bồ lúa bên cạnh để tránh mối mọt của nhà bà Ngoại tôi hồi đó…

(ĐHN)

………………………………………………………..

 

Lạnh lùng Texas

Trần Doãn Nho

Cứ hễ đến cuối năm, mỗi người lại thắp lên niềm hy vọng khi nhìn về những tháng ngày trước mặt: Năm Mới. “Mới” là an khang thịnh vượng, là phát tài phát lộc, là vạn sự như ý, là hạnh phúc, là bình an. Giữa tang thương đại dịch, “Mới” còn là một ước mơ “cháy bỏng”: được sống lại cái “bình thường” của ngày tháng cũ, lúc mà chuyện giãn cách xã hội hay khẩu trang hay vân vân không hề có chỗ đứng trong cuộc sống hàng ngày. Mới mà cũ!

Ấy thế mà, vừa bước ra khỏi năm Canh Tý có ba ngày thì toàn tiểu bang Texas lần này được “thưởng thức” một cái “Mới” rất cũ và tràn đầy tai ương: bão mùa đông (winter storm). Có nơi thì là “bão tuyết” (snow storm), có nơi thì là “bão đá” (ice storm). Gần như suốt ba, bốn ngày, từ đêm Chúa Nhật (14/2) đến thứ Tư (17/2), Texas trở thành Bắc Cực. Bão tuyết, vốn đã là điều hiếm hoi ở tiểu bang thuộc vùng nhiệt đới này (nơi mà mùa hè, nhiệt độ lên đến 110 độ F/43 độ C) mà bão đá (ice storm) lại càng lạ hơn. Bão đá, hay đúng hơn “bão nước đá”, là một tiến trình thời tiết đặc biệt diễn ra khi những bông tuyết từ trên cao rơi qua một vùng ấm, biến thành mưa; những hạt mưa này gặp phải lớp không khí “supercooling” (siêu lạnh, nhiệt độ dưới 32 độ F) ở gần mặt đất, chuyển thành “freezing rain” (mưa đông đá). Đó là những hạt mưa bị đông lại nhưng vẫn còn dưới dạng lỏng và khi những hạt mưa này đột ngột va chạm mạnh vào các bề mặt (surfaces), chúng liền chuyển biến ngay thành nước đá  tạo nên một lớp vỏ càng lúc càng dày thêm bọc quanh các vật thể như thân cây, cành nhánh, dây điện, cột điện, hàng rào kim loại. Theo ước tính của những nhà khí tượng học, đường kính của những dây cáp điện bọc nước đá có thể dày đến 5 cen-ti-mét. Như thế, chúng nhận thêm khoảng từ 15 đến 30 kilogram trên một mét chiều dài. Sức nặng đó cộng thêm với gió và cây ngã đè thêm lên, khiến chúng không chịu đựng nổi, đứt ngang, làm xáo trộn hoặc cắt đứt toàn bộ hệ thống cung cấp điện.

Tôi cư ngụ ở một thành phố nhỏ thuộc quần thể đô thị Dallas-Fort Worth, miền Bắc-Texas. Vùng này, may mắn, không có bão đá, chỉ có bão tuyết. Nhưng lạnh là lạnh. Quá lạnh. Gần một tuần lễ, nhiệt độ chỉ quanh quẩn từ 25 độ F (âm 4 độ C) trở xuống, nằm dưới mức đông đá. Và trong vòng mấy ngày từ Chúa Nhật (14/2) đến thứ Ba và thứ Tư (17/2), nhiệt độ ban đêm và sáng sớm tụt xuống từ 1 đến 5 độ, có lúc chỉ còn 0 độ F (-18 độ C). Tất cả cuộc sống hoàn toàn bị đông cứng.

Sáng thứ Hai, đang còn ngái ngủ, thì điện phụt tắt. Qua trang mạng của thành phố, thì được biết, công ty điện lực quyết định thi hành biện pháp “rolling blackouts” (cắt điện luân phiên) để tiết kiệm năng lượng nhằm đối phó với đợt giá lạnh kéo dài nhiều ngày. Mỗi khu vực sẽ lần lượt bị cắt điện từ 30 phút đến một giờ. Tôi yên tâm, lần lượt làm một số công việc cần thiết để giữ hơi ấm trong nhà: chèn các khe hở ở các cửa lớn, cửa sổ, đóng hết các phòng không sử dụng, đốt đèn cầy để ở nhiều nơi, nấu nhiều nồi nước sôi…Nhưng rồi một giờ trôi qua, hai giờ trôi qua, điện vẫn chưa trở lại. Gọi điện thoại qua đường dây khẩn cấp của thành phố, đường dây liên tục bận.  Ba giờ rồi bốn giờ, vẫn không có gì. Không điện, không vào được Internet. Lại gọi điện thoại, nhưng lần này điện thoại hết pin. Làm sao giờ đây? Sực nhớ điện xe hơi, liền vội vàng mặc ba, bốn lớp áo lạnh, bươn bả lội tuyết ra xe. Cắm dây, bật máy. Chao ơi, xe cạn xăng. Không cần suy nghĩ, vội vàng lái xe đi. Tuyết rơi càng lúc càng nhiều. Đường lầy lội, trơn trợt. Đèn giao thông ngừng hoạt động. Không điện, các trạm xăng đóng cửa. Đành phải chạy tiếp đến khu thương mại khác, vừa chạy vừa lo xe hết xăng dọc đường. Thấy có trạm xăng lớn mở, mừng quá, chạy vào, nối đuôi, chờ. Nhưng khi đến phiên mình, trạm hết xăng. Lại chạy tiếp. May làm sao, rốt cuộc, cũng tìm ra một trạm xăng nhỏ, đổ đầy bình.

Trở lại nhà, điện vẫn còn cúp. Đã sáu tiếng đồng hồ rồi. Không khí lạnh tràn đầy căn nhà, thấm dần vào cơ thể. Mất điện, tất cả trở thành vô ích và vô dụng. Mất điện, con người hoàn toàn bị cô lập. Tôi ngao ngán nhìn không gian rộng rãi của căn nhà. Về mùa hè, cái rộng, cái thoáng chia đi cái nóng. Bây giờ, cái rộng cái thoáng cướp mất cái ấm. Đành phải đốt lò sưởi lên thôi. Cũng may, đây là lò sưởi dùng gas, và hệ thống cung cấp gas vẫn còn hoạt động. Từ ngày chuyển về ở căn nhà này, thấy lò sưởi lớn nằm ngay giữa phòng khách, đôi lúc tôi tự hỏi chẳng biết ở xứ nhiệt đới như thế này, xây thêm lò sưởi để làm gì, vừa choán chỗ vừa mất thẩm mỹ. Nhưng lúc này đây, nó là cứu tinh. Cái vô dụng trở thành hữu dụng.

Châm lửa. Ba ngọn lửa cháy phừng phực, hòa cùng ánh sáng mấy cây đèn pin cắm trại (camping lanterns), sáng cả một góc nhà. Cả nhà quây quần trước lò, chia nhau hơi ấm. Nhưng sau những phút sung sức lúc đầu, ba ngọn lửa dịu lại, yếu dần đi. Hơi nóng tỏa ra chỉ đủ ấm khi ngồi gần. Xa một chút, lạnh vẫn hoàn lạnh. Thế là, phải chạy ra vườn sau, vườn trước bắt đầu vơ vét hết tất cả những cành, nhánh, gốc cây nằm vương vãi suốt mùa hè, mang vào. Ba đứa cháu giành nhau ném từng khúc củi vào lò. Củi ướt quằn quại bắt lửa, kêu lách tách. Được tiếp sức, lửa bừng bừng reo vui. Lửa nhuộm hồng da thịt. Lửa tỏa hơi ngào ngạt ấm. Bọn trẻ vừa chơi bài, vừa đọc, vừa ăn uống, cùng nhau thưởng thức cái ấm cúng rất gia đình hiếm khi có được. Tôi cảm động nhìn lò sưởi, như được gặp lại cố nhân. Chả là, mười ba năm trước đây, khi còn ở xứ lạnh Boston, gia đình chúng tôi cũng đã từng quấn quýt nhau ba ngày ba đêm trước lò sưởi như thế này, khi cơn bão đá dữ dội trút xuống tiểu bang Massachusetts vào năm 2008. Khung cảnh nhỏ bé này đẩy tôi lùi về hàng chục thập niên trước, bắt gặp lại hình ảnh tưởng như đã đi vào quên lãng: bếp lửa gia đình. Chao ôi, cái thời xa xưa ấy! Không bếp điện, bếp ga, không nồi cơm điện, không soong, không chảo. Thế giới kỹ nghệ chưa có mặt trong bếp lửa. Tất cả dụng cụ và đồ đạc nấu nướng đều toàn bằng đất sét: ba cục gạch nung châu vào nhau, nồi đất, siêu đất, trách đất. Ngay phía trên bếp là một cái giàn treo chất những cành, nhánh phơi khô để dành từ mùa nắng. Chung quanh bếp, tro than vương vãi. Khói bốc lên làm đen cả phần vách đất che tạm tránh gió, đen hết trần nhà, đen cả cái cụi (tủ) gỗ đựng thức ăn. Sờ tay vào đâu cũng dính phải bồ hóng đen nhẻm.

Hết củi, lò lửa yếu dần. Giật mình, trở lại với hiện thực. Đã gần một ngày trôi qua, điện vẫn bặt vô âm tín. Căn nhà mỗi lúc một lạnh hơn. Tuyết vẫn rơi. Thời tiết càng lúc càng lạnh, từ 0 (không) độ vào buổi sáng nhích lên bảy, tám độ. Đốt lò sưởi lên, cũng chỉ là để chờ đợi điện. Điện không có, đành phải sống với lò sưởi thôi, không còn chọn lựa nào khác. Tôi cùng đứa con lại chạy quanh kiếm củi. Không còn gì ngoài vườn, chúng tôi phải lục trong kho. Nhặt nhạnh bất cứ cái gì có thể đốt được, từ những thanh gỗ nằm lăn lóc đâu đó cho đến mấy tấm pallet, ghế cũ, bàn cũ, rồi cả giường cũ. Rút kinh nghiệm, chúng tôi tằn tiện từng khúc, từng miếng. Suốt đêm, cả nhà nằm quanh lò sưởi, ai nấy quấn chặt vào người năm, bảy lớp vừa chăn, mền vừa áo quần và túi ngủ. Đêm dài trôi qua lạnh lẽo, căng thẳng. Nhìn ánh lửa bập bùng trong lò sưởi như nhìn hơi thở của chính mình. Củi, điện, điện, củi. Điện, củi là năng lượng, là cuộc sống.

Hôm sau, vừa thấy trời hửng sáng là vội vã đi kiếm củi. Lái xe chạy loanh quanh, hết cửa tiệm này đến cửa tiệm khác, từ siêu thị cho đến Home Depot, Lowe’s. Chẳng còn gì. Tuyệt vọng, trở về nhà. Nhìn quanh nhìn quất, chỉ còn một cái nhà chơi trẻ con khá lớn dựng sau vườn. Thế là, khỏi cần suy nghĩ, chúng tôi tháo, chặt ngay ra từng khúc mang vào đốt. Nhà chơi rồi cũng biến thành tro bụi! Buổi trưa, lại lái xe chạy quanh; lần này đi xa hơn, đến các nông trại ngoài thành phố. Không kiếm được gì. Hết đường, chúng tôi trở lại Home Depot chọn giải pháp cuối cùng: mua hàng chục thanh gỗ làm nhà (lumber), yêu cầu họ cưa ra từng khúc ngắn. Trong tình thế này, gỗ nào cũng là gỗ. Gỗ nào đốt cũng cháy. “Lumber” là “firewood”. Gỗ là củi. Lửa, lửa là tất cả! Chỉ có lửa mới chống được lạnh.

Lò sưởi lại được dịp cháy phừng phực. Đốt gỗ mà như đốt tiền.

Mãi đến tối, sau hai ngày và một đêm căng thẳng, điện mới trở về. Có điện, có sự sống.

Hỡi điện thân thương, ta yêu mi biết chừng nào!

 

TDN

(Đầu năm Tân Sửu, 2021)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Tạp Ghi (Lõm bõm kỳ 2)

23/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TẠP GHI (kỳ 2)

(Lõm bõm)

 

Hơi thở

Tại sao phải thở? Thở ở đâu ra? Của ta chăng? Là ta chăng? Không. Nó ở ngoài ta. Nó tự động. Không khí, thứ ta hít thở đó ở đâu không biết, không thấy. Ngoài không gian, bao quanh Trái đất, gồm oxygen, nitrogen và một số khí hiếm. Nó tự động ùa vào phổi ta. Lý do: khi áp suất phổi âm (-) nó ùa vào, lấp đầy, rồi khi phổi đầy, áp suất dương (+) nó lại ùa ra. Nó cóc cần ta. Ta muốn hay không muốn thở nó cũng kệ. Nó cứ phình ra xẹp vào tự động vậy. Chỉ khi nào “lập trình” đã được thực hiện xong, nó… bèn từ giã, cuốn gói lên đường. Nhưng ta cần nó để sống. Thiếu nó, không có nó, chừng 4-5 phút ta chết ngắt. Nhưng hồi ở trong bụng mẹ, ta sống mà chẳng cần nó. Mẹ cho ta dưỡng chất sẵn để lớn nhanh như thổi. Vậy phải chăng có thể sống mà không cần hơi thở như ở trong “bào thai Như Lai”? Có loại sinh vật (vi khuẩn kỵ khí, yếm khí chẳng hạn) sống không cần O2. Cây cỏ (thực vật) cũng không cần oxy mà cần CO2. Có loài như vi khuẩn clostridium khi môi trường thiếu oxy thì nó gom tụ lại, vỏ bọc dày lên… “chịu đựng”, chờ khi có đủ oxy lại sống lại như xưa! Cái đó gọi là “bào tử” (spore). Phải chăng các thiền sư vào Samadhi thì “sống” với trạng thái bào tử, thân thể họ không bị hủy diệt, không bị oxyt hóa? Người ta có thể sống như… đang ở trong bụng mẹ không? Không bị oxyt hóa thì không bị hủy hoại?

Có hai điều chú ý về sinh học: 1. Cơ hoành là cơ chính của hô hấp. Hít thở bằng cơ hoành là thở bụng, một phương pháp rất tốt để chữa lành thân và tâm. 2. Trung khu hô hấp nằm ở hành tủy, bên dưới vỏ não. Phật dạy Anapanasati (Quán niệm hơi thở, An-ban thủ ý, Nhập tức xuất tức niệm) chính là một cách giải phóng vỏ não.

 

Thấy “như thật”

Thấy như thật là thấy cái ly là cái ly, cái chén là cái chén… Nhưng “thấy như thật” cũng lại là thấy cái ly không phải là cái ly, cái chén không phải là cái chén. “Tức phi/ thị danh” thôi – vậy mà không phải vậy, chỉ là “giả danh”. Vì cái tướng, cái danh là giả, cho nên phải thấy được “thực tướng” (vô tướng). Thực tướng là Không, là duyên sinh, là không có tự tánh riêng biệt. Chẳng qua do cái tâm ta gán cho nó, vẽ vời cho nó. “Biến kế sở chấp” là sự tưởng tượng của ta vốn vô cùng phong phú, dẫn tới cái tưởng sai lầm. “Y tha khởi” dẫn tới cái ý sai lầm vì cái danh, cái tên gọi nào đó, khiến ta tưởng thiệt, bị dụ, lầm chết. Cho nên “thấy như thực” phải có Chánh trí. Vượt ra. Vượt lên. Có chánh trí thì thấy Như như, thấy như thực. Nhưng như thực không phải chỉ là không, không gì hết. Thấy như thật là thấy nó là nó, không bị thành kiến ngăn che, không bị cái ngã của ta can thiệp, “phân biệt” nọ kia để rồi đấu đá, tranh giành. Thấy như thực còn có nghĩa là thấy trong một tiến trình sinh-trụ-dị-diệt, thành-trụ-hoại-không, cái “giả/tạm”.

Nhưng, Chân Không mà Diệu Hữu.

Đừng quên.

 

Cái thấy cái nghe

Cái thấy chỉ là … cái thấy.

Cái nghe chỉ là… cái nghe.

Trơ trụi vậy thôi. Không cần gì khác nữa.

Nghĩa là không có “cái ta” trong đó. Khi có cái ta (ngã) trong đó thì tức khắc mọi sự sẽ sinh chuyện. “Ta” thấy, ta nghe thì… khác với “nó” thấy nó nghe…! Mười người trăm ý. Bắt đầu chí chóe. Thượng cẳng tay hạ cẳng chân. Cung tên, giáo mác, hỏa tiễn… hạt nhân từ đó.

Trả cái thấy cái nghe về chính nó, cái sự thấy sự nghe trung tính đó.

Khi cái thấy cái nghe, sự thấy sự nghe trần trụi, được lột hết các lớp vỏ ý niệm khái niệm bọc nhiều tầng lớp quanh nó, nó sẽ tự sáng lên.

Bắt đầu thấy tánh. Tánh nghe. Tánh thấy. Phật đánh một tiếng chuông, hỏi nghe không? Dạ có nghe. Lúc sau, chuông im tiếng. Hỏi nghe không? Dạ không nghe. Lại đánh tiếng chuông lần nữa. Nghe không? Dạ có nghe. Phật cười: Tôi hỏi quý vị có “nghe” không chớ đâu hỏi “có nghe tiếng chuông” không? Lúc không có tiếng chuông các vị vẫn nghe “cái không nghe” đó chớ.

Nói khác đi, cái “tánh nghe” vẫn không… sanh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Còn nếu chỉ chăm chăm lo nghe tiếng chuông thì sẽ khen hay quá, tuyệt quá, linh thiêng quá… (và ngược lại). Ý nghĩ trong đầu mỗi người mà được phát ra tiếng thì… sẽ có một cuộc đấu đá tưng bừng!

Vô ngã là Niết bàn ư? Thực ra cái thấy vẫn là cái ta thấy. Cái nghe vẫn là cái ta nghe. Vấn đề là ta không còn dính mắc, không còn tham ái, chấp thủ. Núi vẫn là núi, sông vẫn là sông đó thôi, dù sau 30 năm tu tập!

Khi Phật giơ cành hoa sen lên, mọi người sẽ phân tích tìm hiểu ý nghĩa của cành hoa sen và của sự giơ lên đó của Phật với bao nhiêu là “biến kế sở chấp” bao nhiêu là “y tha khởi”… trong khi chỉ có một mình Ngài Ca-diếp tủm tỉm cười. Thấy rồi. Nó vậy đó. Phật trao ngay “y bát” cho Ca-diếp.

 

Đỗ Hồng Ngọc

23.2.2021

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

TẠP GHI (Lõm Bõm)

21/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Tạp Ghi

(Lõm bõm)

Tới tuổi 80 tôi mới thấy mình già thiệt. Trước đó chỉ là già giả. Giả bộ già.

Dấu hiệu đầu tiên (triệu chứng) của già thiệt là Quên. Quên khủng khiếp. Quên kỳ cục.

Dấu hiệu đầu tiên của Già thiệt là Nhớ. Nhớ khủng khiếp. Nhớ kỳ cục.

Cho nên, tôi nghĩ phải ghi chép lõm bõm, lai rai một chút những bấy nay ngẫm nghĩ, học hành về Phật pháp cho chính mình, và nếu có thể thì chia sẻ cùng bè bạn thân thiết.

Vậy nha,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Chúng sanh

Một vị Bồ Tát có lời nguyện: “Ngày nào còn một chúng sanh tôi nguyện không thành Phật?”

Vậy chẳng lẽ ông chế bom khinh khí, bom nguyên tử, bom vi trùng… tiêu diệt hết mọi loài để chỉ còn một mình mình trên thế gian này ư?

Vấn đề do đó phải hiểu “chúng sanh” là gì? “Chúng” là nhiều, “sanh” là sanh ra.

Cái gì do nhiều yếu tố (chúng) duyên hợp với nhau mà thành (sanh) thì gọi là… “chúng sanh”. Bản thân ta do ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thì đó là một… chúng sanh.

Nhưng những ý tưởng trong đầu não ta cũng là những chúng sanh. Một niệm khởi lên là một chúng sanh. Ta bị cuốn hút vào đó, “phan duyên” mải miết không dừng được, không thoát được. Cho nên “diệt độ chúng sanh” là khi không còn khởi niệm. “Vô niệm”.

Ta mất ngủ, ta lo lắng, ta âu sầu, dằn vặt… khổ đau vì trăm mối tơ vò, là bởi “chúng” “sanh” ra nhiều quá đó!

Phải chăng thực hiện được lời nguyện dễ thương này của vị Bồ Tát thì sẽ được ngủ yên, bớt lo lắng, trầm cảm… vì không còn “chúng sanh” nào cựa quậy trong tâm ta nữa. Chẳng cũng khoái ru?

 

Bố thí thân mạng

“Bố thí thân mạng mỗi ngày nhiều như cát sông Hằng” được không?

Được. Nhưng thân mạng đâu mà nhiều thế?

Bố thí là xả, buông. Mỗi hơi thở vào ra của ta là một kiếp sống. Một “thân mạng”.

Mà ta có cả 3 “thân”: Báo thân, Ứng thân và Pháp thân.

Báo thân là cái thân xác của ta, hình thành từ muôn ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào vốn là một sinh vật, cũng ăn cũng thở, cũng tạo năng lượng để sinh tồn, hoạt động, cũng tự hủy diệt và thay mới. Ta không muốn thay cũng không được. Nó quá date, nó hết xài, nó tự thay.

Ứng thân thì tùy cơ ứng biến, như Tôn Hành Giả nhổ sợi lông thổi phù một cái ra trăm ngàn Tôn Hành Giả múa may quay cuồng.

Pháp thân thì… thực chất là năng lượng, không chỉ là sóng là hạt…, mà phải vượt qua bờ bên kia (gate, gate, paragate…) để thấy “bổn lai vô nhất vật”…

Chừng ấy “thân mạng” không nhiều như cát sông Hằng ư?

Chỉ trong chánh định (samadhi) mới thấy cái sự bố thí, buông xả mênh mông đó.

 

Diệt tận định

“Diệt thọ tưởng định” còn gọi là “Diệt tận định” (cửu thiền, thiền thứ 9) là một thứ định có thể “diệt tận” cái thọ và cái tưởng. Sao phải vậy? Vì cái thọ, cái tưởng làm ta khổ. Muốn “diệt khổ”  thì phải diệt cho hết cái thọ cái tưởng đó.

Thọ và tưởng là hai yếu tố của ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức hợp lại thành thân và tâm ta.

Không còn thọ tưởng thì cũng không còn hành thức.

Chỉ còn sắc, Vairocana (Đại Nhật Như Lai).

Trong “Tứ niệm xứ”: Thân thọ tâm pháp thì Thân sinh thọ mà Tâm sinh pháp (tưởng).

Diệt thọ tưởng định là thiền thứ chín (cửu thiền), vượt qua tám thứ thiền sắc và  vô sắc giới.

Từ tứ thiền “xả niệm thanh tịnh” thì có thể đi thẳng vào Diệt tận định. Vì “phi tưởng phi phi tưởng” vẫn còn có tưởng. Diệt thọ tưởng định coi như “đã hết”, chỉ còn hơi thở như sợi chỉ mong manh hoặc gần như ngưng hẳn. Cơ thể quen dần sống trong tình trạng yếm khí (thiếu oxygen), trở thành một “bào tử”.

 

Phật pháp

Pháp không phải do Phật làm ra, dù gọi là Phật pháp, hay như thường nói “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp” (Tất cả các pháp đều là pháp Phật).

Pháp có sẵn đó. Không có Phật thì cũng có pháp. Nó vậy đó. Nhưng ta mờ mịt không nhận ra.  Phật nhờ có cái “thấy biết” (tri kiến Phật) nên được giải thoát, không còn khổ đau và Phật chỉ dạy lại ta con đường (Đạo) giải thoát đó!

Là sao? Là Phật thấy mọi sự vật hiện tượng không phải như cái trình hiện của nó vậy. Cái trình hiện kia chỉ là “giả tạm”. Giả và tạm. Nó không thiệt. Bởi nó do nhiều thứ hợp lại mà thành. Nó có đó mà không phải có đó. Nói khác đi, nó chỉ là cái “tướng” giả (giả tướng)- chớ không phải thực tướng. Thực tướng thì… “vô tướng”.

Vì biết là giả nên nó ra sao kệ nó. Việc gì ta phải buồn lo, sợ hãi. Chẳng những giả, nó còn là “tạm”, nó thay đổi không ngừng. Sanh trụ dị diệt. Không có lúc nào đứng yên. Hãy đợi đấy. Nó sẽ diễn biến, sẽ tiêu vong, như đã lập trình sẵn. Thấy như vậy, Biết như vậy mới gọi là cái thấy biết “như thật” thấy biết chân chánh. Mọi thứ do duyên khởi, duyên sinh.

Chẳng phải lỗi ta, chẳng phải vì ta, cớ sao còn vật vã khổ đau?

Đỗ Hồng Ngọc

21.2.2021

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Nguyễn Xuân Thiệp: VỴ ƠI…

19/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thursday, February 18, 2021

VỴ ƠI…

nguyễnxuânthiệp
vỵ ơi
đã nhận được quán văn tôi gởi
tới đâu rồi
hãy là cánh bướm
bay trên đóa tường vy
tôi tặng bạn đó
bông tường vy mà tôi yêu quý
thôi gặp đức bồ đề đạt ma nhé
và nhìn chiếc hài cỏ
treo trên vầng trăng
tôi khóc bạn
như ngày nào tôi khóc đinh cường
NXT
Ngày bạn bè thăm Vỵ ở nursing home

Nguyễn Xuân Thiệp: Phovanblog.blogspot

……………………………………………………………………………….

 

Tiễn Bạn Hiền Nguyễn Lương Vỵ

Nguyễn Thị Khánh Minh

 

Nhạc trầm âm thấm buốt xương da
Không một ai thấy ta vừa chết…*

Anh nói
Tui một đời chỉ học tu thơ
Tim ban sơ nuôi hoài ánh lửa
Soi đêm đài. Điểm mặt ngu ngơ

Một bóng anh đi. Dặm trường con chữ
Từ hòn đất nâu. Bụi ớt quê nhà
Cánh chuồn mỏng kêu mưa. Trời cố xứ

Nơi khấp khểnh chân ra vào của mẹ
Chiều bên thềm. Xiên nắng quái trên vai
Hỏi, thằng Vỵ sao lâu rồi không thấy…

Anh hẹn
Nhất định tui phải về bên mẹ
Áo sờn vai hai bóng một vuông chiều
Như chưa từng, thưa mẹ! Biết bao nhiêu

Biết bao nhiêu! Trả lại đời hư ảo
Chiều mênh mông nghe sương khói mênh mông
Anh bay bổng. Con lần theo nếp áo…

Biết bao nhiêu! Hạt sương rung đầu cỏ
Một chấm ngàn thu. Người đi kẻ ở
Vô tận xa. Ơi vô tận hẹn về

Buổi tàn đông trời cuồng gió nổi
Lạnh nhân gian tung bao nhịp nối
Thôi xưa sau. Quên nhớ. Bước qua cầu

Thẫn thờ đêm sâu. Cong dấu hỏi
Ngẩn ngơ hạt lệ. Dấu than gầy!
Ly biệt ly tan đùa nhau vậy

Ngàn sương dấu hỏi dấu than bay…

Nguyễn thị khánh minh
Santa Ana, 18.2.2021

* Những chữ xiên là thơ Nguyễn Lương Vỵ

…………………………………………………………………………

 

GƯƠM BÁU

Nguyễn Lương Vỵ

 

Đỗ Hồng Ngọc & Nguyễn Lương Vỵ


Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ coi ngầu vậy mà rất dễ thương, nhỏ hơn mình cả một con… giáp. Hẹn gặp để tặng mình tập thơ dày cộp 700 trang mới in của anh: Tuyển tập THƠ bốn mươi lăm năm (1969-2014). Thơ anh nhiều nét mới, đượm thiền. Tập thơ có nhiều nhận định của những người quen: Bùi Giáng, Cung Tích Biền, Du Tử Lê, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Thị Khánh Minh, Trịnh Y Thư, Võ Chân Cửu, Hồ Ngạc Ngữ…
Mình lại đưa Vỵ đến cái quán quen, từng ngồi cafe với Tùng Duyên, Nguyệt Mai dạo nào.

 

(https://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/tho-nguyen-luong-vy-guom-bau/)

GƯƠM BÁU

Nguyễn Lương Vỵ

Tặng Bs Đỗ Hồng Ngọc
Nhân đọc “Gươm Báu Trao Tay”

A! Gươm báu Kim Cang
Bát Nhã Ba La Mật
Tâm kinh hiện tánh Phật
Thấu Ngũ Uẩn Giai Không
Sương trong vắt mênh mông
Tuyết đỏ ngời diệu nghĩa
Hạt bụi trùm thiên địa
Giây phút hóa thiên thu

A! Ưng Vô Sở Trụ… (*)
Vạn pháp nụ sen cười
Phương Ý vẹn mười mươi
Tròn vành trăng thinh lặng
Chớp âm trên đỉnh nắng
Rền vang trong tịch liêu
Chiếc lá rụng trong chiều
Núi ngồi nghe đá hát

A! Quay về chơn tâm
Chuông đưa xanh linh ngữ
Bái vọng mây thiền tự
Tri ân tuệ nhãn kinh
Vượt lên bóng với hình
Như nhiên liền sáng tỏ
Đất trời trong lá cỏ
Đáy hồ reo thiên cao…

NLV
05.2015
(*)Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Ở cái nơi chẳng trụ vào đâu cả mà sanh tâm).
Trích từ kinh Kim Cang.

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Phật học & Đời sống

Truyện Phan Tấn Hải: QUÊN NHAU LÀ CHUYỆN KHÓ

12/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Quên nhau là chuyện khó

Truyện ngắn Phan Tấn Hải

 

Lần đó gặp lại cũng lạ. Có vẻ như những gì gặp gỡ và chia tay đều là tiền định. Lúc đó là khoảng năm 1999, hay 2000; nhiều người lên cơn sốt thiên niên kỷ gì đó, kiểu như sắp tận thế hay trời long đất lở gì đó. Tôi dự buổi thuyết pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở thành phố Pasadena, thuộc quận Los Angeles, và gặp lại cô nàng.
Nói cho đúng, chính cô nàng gặp lại tôi, vì trong đám đông nhiều ngàn người lúc rời hội trường, Mai đã gọi tên tôi và đưa tay lên thật cao để vẫy, ra dấu. Cũng lạ, làm thế nào sau nhiều thập niên xa nhau, tưởng như biệt tăm và cách mấy bờ đại dương, người ta lại có thể nhận ra nhau trong một đám đông nhiều ngàn người.
Tôi không nghĩ ra nổi; sau đó, tôi thú thật với cô nàng rằng tôi không thể nhận ra nàng trong đám đông như thế, tuy rằng nàng rất là độc đáo. Lúc đó, tôi nói với Mai, độc đáo nghĩa là em đẹp tuyệt vời, chỉ nhìn em thế này, anh quên hết những lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma mới nói hai tiếng đồng hồ vừa qua.
Từ Pháp hội Pasadena tới khi tôi viết những dòng này cũng đã mười mấy năm rồi, nhưng hình ảnh nàng vẫn đôi khi thoang thoảng hiện trong mơ, trong trí nhớ tôi mơ hồ như khói, phả lên một cặp môi son không đầy đặn, và đôi mắt nàng đầy các nỗi xao xuyến về cuộc đời. Cặp môi son và đôi mắt. Vâng, đúng vậy. Sau này tôi nghĩ, trong phim cũng không thể đẹp như hình ảnh tôi nhìn nàng sau Pháp hội đó.
Tôi lúc đó nói, có lẽ vì hôm đó tôi mặc một chiếc áo cũ kỹ, như dường sờn vai và khuỷu tay, nên dễ được nhận ra giữa những người chung quanh hầu hết mặc thứ trang phục để chụp hình – cần nói rằng, thời điểm đó, không có nhiều buổi thuyết pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Những năm đó, Internet còn thô sơ, chậm rì, không nhiều trang mạng, cho nên tới dự thuyết pháp của Ngài cũng là cơ hội để viết những bản tin riêng.
Mai nhìn vào mắt tôi. Lúc đó, hai đứa rủ nhau vào một tiệm kem nơi lối ra phố chính Pasadena. Tôi nhận ra những nếp nhăn bên viền mắt nàng. Mai nói, trời ạ, anh phải biết rằng Mai ngó anh là nhận ra liền chứ, cho dù có đứng thật xa, có đứng nhìn anh xuyên qua trăm sông nghìn núi. Sau này, tôi chôm bốn chữ này của nàng, đưa vào thơ, chỉ làm cho khác một chút. Nhưng tôi biết, không thể đưa đôi mắt và cặp môi son này vào thơ nổi; có lần tôi nói, nếu đưa hình ảnh của em vào thơ được, chữ tới một lúc nào đó sẽ ngún lửa và thiêu rụi các tiệm sách. Xong rồi, tôi nói, giỡn mà.
Tôi thích kiểu nói “trăm sông nghìn núi” của nàng, kiểu chữ “nghìn” thay vì chữ “ngàn,” cho dù hai đứa đều sinh ra ở Sài Gòn. Giọng Bắc của cô nàng không đổi, nhưng tôi biết, giọng Sài Gòn của tôi là pha đủ thứ rồi.
Từ lâu rồi, tôi không thể nhìn xa, đúng ra là đã tập thói quen là không bao giờ bận tâm tới những chuyện chung quanh ở ngoài sự chú tâm của mình. Gọi đó là thiền cũng được; hay chỉ nên gọi đơn giản là thấy nghe hay biết cái quanh mình, và chỉ để ý trong một tầm nhìn rất ngắn thôi, và chỉ nghe cái gì cần nghe thôi. Ngoài ra là chẳng bận tâm làm chi, vì cuộc đời có đủ thứ chuyện, hơi đâu mà nghĩ ngợi, dòm ngó, nghe ngóng chuyện khác cho mệt.

*

Đó cũng là lần đầu tiên tôi lên Pasadena, cách nơi tôi ở khoảng một giờ đồng hồ lái xe. Nhưng chuyện phải đi thì đi; thêm nữa, có tấm vé tham dự đặc biệt từ một người đàn chị trong nghề báo tặng, bảo phải tham dự rồi về viết bài tường thuật buổi thuyết pháp của vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng. Có vẻ như ai cũng mong đợi rằng tôi phải viết cái gì cho tử tế.
Tôi kể cho Mai nghe chuyện tôi có tấm vé mời đặc biệt, từ người đàn chị cũng là một học trò siêng năng của ngôi chùa Phật giáo Tây Tạng ở Long Beach. Thế là có cơ duyên gặp lại Mai. Cô nàng mặc váy xanh, phủ dài tới qua đầu gối. Tôi nghĩ thầm, thế là già hết rồi; hình ảnh của tôi về Mai trước đó là áo dài trắng học trò, đi xe đạp.
Tôi nói trong khi chồm người qua nửa cái bàn mặt kính của tiệm Dairy Queen, trên đó có sơn đủ thứ hình gì đó để hấp dẫn bọn con nít, như dường nói thầm với nàng rằng người ta mong đợi anh phải viết cái gì cho tử tế đấy, hay là anh làm thơ tặng Mai nhé.
Cô nàng cười, lộ một chút răng khểnh ra, nói lái xe từ San Diego lên Pasadena, nghe anh nói một câu như thế là bay biến hết mệt nhọc rồi.
Tôi nói, Mai đã phạm một điều không nên trong Pháp hội này của ngài Đạt Lai Lạt Ma.
Cô nàng chau môi lại, như dường suy nghĩ, và nói là dự Pháp hội với tâm mình thành kính là tốt rồi, mà có gì là không nên đâu.
Tôi nói, có chớ. Đi dự Pháp hội, mà tô môi son là không nên nhé. Nói xong, tôi nghiêng người ra khỏi bàn, ngó cặp chân của nàng rồi nói thêm, để xem Mai mang giày cao gót cỡ nào, xin nhớ rằng ngày xưa Đức Phật cấm ngồi, cấm nằm giường cao, nghĩa bây giờ là cấm mang giày cao gót nhé. Thực ra, hễ nghĩ tới Mai, tôi vẫn tự nhiên nhớ mơ hồ rằng hồi nhỏ, từ khi còn rất nhỏ, nàng đã ưa đi chân trần. Ngó bàn chân trần của cô bé nhảy cò cò ngoài sân cát là hay chớ. Sau này, tôi cứ lo mãi, hình ảnh đẹp của đời này tràn ngập trong trí nhớ của mình, làm sao tu giải thoát nổi.
Nàng cười. Như dường chưa có ai nói chuyện Đức Phật cấm các cô mang giày cao gót.
Tôi nói thêm, bước ra Pháp hội, không chịu suy nghĩ về lời dạy của Ngài, lại cứ ngó chung quanh để thấy là có một người bạn xưa này. Cũng hỏng nhé.
Nàng nói, Mai biết chắc là anh sẽ tới đây.
Lòng tôi vui kể gì. Thực ra, lúc mới đầu tới là thấy trở ngại rồi. Khi xếp hàng tới lúc vào cổng vào hội trường, nhân viên nơi đây bắt phải gửi máy ảnh, vì không cho ai mang máy ảnh vào hội trường. Hẳn là cảnh sát Mỹ sợ mấy anh gián điệp Hoa Lục ám sát ngài Đạt Lai Lạt Ma, tôi đoán thế. Tôi gửi máy ảnh vào một phòng đặc biệt ngoài hội trường. Sau Pháp hội, mới được lấy máy ảnh ra.
Thời đó, cũng cần nói rằng, chưa hề có smartphone gì cả, cho nên mọi thứ bấy giờ đều đơn giản như cổ tích. Đúng vậy, chuyện y hệt như cổ tích: hình ảnh cô nàng ngồi với tôi trong một tiệm kem ở Pasadena, vào buổi chiều vừa nghe Pháp từ ngài Đạt Lai Lạt Ma. Tôi nghĩ, chỉ thiếu lá vàng rơi thôi, là thành một cuốn phim lãng mạn.
Tôi hỏi chuyện đời riêng. Mai nói rằng nàng bây giờ độc thân, vì cuộc hôn nhân đầu tiên đã tan vỡ, khi chưa kịp có con, vì tính tình dị biệt quá.
Tôi nói, tôi là một nhà báo độc thân, vì tính cũng dị thường, chẳng gần ai được. Tuy nói thế, nhưng trong đầu tôi mơ hồ nghĩ là, phải chi nàng về với tôi cho tới ngày cùng nhau rời cõi trần gian này. Nhung rồi tôi tự cười mình, sao nghĩ mãi linh tinh.
Tôi chợt thấy một sợi tóc bạc bên viền tai bên trái của nàng. Tóc nàng cắt ngắn, nên đâu có giấu nổi. Hóa ra, hai đứa đều vào tuổi ngũ thập cả rồi. Tôi thảng thốt muốn nói lên, rằng ngũ thập tri thiên mệnh rồi đấy, nhưng lại thôi.

*

Vâng, phải kể cho câu chuyện có đầu đuôi một chút.
Mai kém tôi một tuổi. Hai đứa ở cùng xóm, nơi đầu cổng đề-pô đường Nguyễn Thông. Ba tôi và ba của nàng cùng làm cho Sở Hỏa Xa. Ba tôi là trưởng tàu, nên đi theo xe lửa gần như hàng ngày. Còn ba của Mai làm gì đó ở ngay nơi ga Hòa Hưng, nơi có nhiều đầu máy xe lửa đậu lại, có lẽ để sửa chữa hay nghỉ ngơi, nhiều bãi đất trống với cỏ tranh mọc lưa thưa.
Trong trí nhớ ngổn ngang của tôi, vẫn là hình ảnh những cột gỗ dài và những đà sắt nằm nhiều nơi trong khu đất rộng thênh thang, từ cổng đề-pô Nguyễn Thông chạy suốt tới ga Hòa Hưng, rồi tới khu để đầu máy xe lửa bên kia lối ra đường Lê Văn Duyệt, đường này bây giờ đổi tên rồi.
Bình thường đi học về, bọn nhóc cả xóm chúng tôi đi bộ từ ga Hòa Hưng băng đi xuyên qua các ngõ hẻm trong xóm để tới rạp hát Thanh Vân, rồi từ đây băng qua đường là tới trường tiểu học Chí Hòa. Bọn con gái ưa đi riêng với nhau, con trai cũng thế. Đó là một thời đi bộ mệt nghỉ, mang cặp, chứ chưa có kiểu ba-lô như bọn trẻ bây giờ.
Nhà tôi kế bên nhà Mai. Ba của Mai lần đó vắng mặt nhiều ngày, và trông Mai và mẹ rất là lo lắng. Ba tôi nói nhỏ với má tôi, tình cờ tôi nghe được, rằng cảnh sát bắt ông Côn, ba của Mai, vì nghi ngờ là ông rời bỏ Việt Minh nhưng vẫn bí mật hoạt động cho miền Bắc, nên giữ để điều tra. Đó là thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vài tháng sau, ba của Mai được cho về đời thường, nhưng không làm việc ở ngành xe lửa nữa.
Mỗi buổi trưa đi học về, tôi đi ngang nhà Mai, lại thấy bác Côn ngồi nơi chiếc ghế, loại ghế lắc lư, chờ Mai. Lần nào cũng thế, tôi khoanh tay chào bác Côn, rồi mới băng qua để về nhà. Bác chỉ gật đầu trầm ngâm, tay lúc nào cũng không rời điếu thuốc lá Jade, phà khói liên tục; nhả khói ra cả mũi và miệng. Tóc bác hớt ngắn, hoa râm rồi. Tay bác gân guốc, trong khi điếu thuốc cầm ngắn ngủn làm lộ hẳn bàn tay quá khổ.
Phải nói rằng tôi lúc nào từ trường về nhà cũng đi nhanh, không có chuyện đi về tà tà như Mai và bọn con gái, cũng không kiểu la cà qua các xóm như bọn con trai khác. Bởi vì, tôi mê đọc kinh khủng, và má tôi tôi một tủ sách đủ thứ, từ Phong Thần, Tam Quốc Chí… cho tới Tự Lực Văn Đoàn. Lại nữa, vì ba tôi thường đi theo xe lửa, nên má tôi không muốn tôi đi học về trễ, cứ cho tôi đọc sách thoải mái; thường là má nói, có bài gì ở trường thì làm trước đi, rồi sau đó là bỏ mặc cho tôi ngồi với những cuốn sách trên gác. Do vậy, ngay từ thời lớp ba, lớp tư… tôi đã mang tiếng là khù khờ, vì không ưa la cà, hễ rời trường là thẳng một mạch về nhà.

*

Tôi cũng có một bí mật, nhưng không kể cho Mai biết làm chi. Những ngày cuối tuần, cô bé phải ra sân xi-măng phía sau nhà để giặt đồ, nấu cơm… Thời đó, con gái đã phải làm chuyện nhà đủ thứ, từ tuổi rất nhỏ. Tôi ngồi đọc sách từ trên căn gác, thỉnh thoảng ngó nghiêng xuống sân sau nhà nàng. Chẳng để làm gì cả, tôi cũng chẳng hiểu sao. Thực ra, lúc đó, tôi chỉ là tên nhóc tỳ, ưa ngồi đọc sách, ngó sang sau nhà một nhỏ bạn chỉ là vì cầm lòng chẳng đặng, nên phải ngó thôi.
Cũng trên căn gác gỗ này, một lần tôi bắt gặp ba tôi khóc. Đúng ra, chỉ là ứa nước mắt thôi. Trong những ngày nghỉ, không theo xe lửa, ba ưa ngồi trên căn gác này, vặn tới vặn lui chiếc radio hiệu Philips để nghe các đài BBC, VOA. Giờ phát thanh của các đài này thường là rạng sáng hay chập tối. Những lúc đó, ba ngồi nghiêng tai nghe chiếc radio đặt trên bàn, vặn âm thanh nho nhỏ thôi. Lúc đó tôi nghĩ, có lẽ chính phủ không cấm nghe đài nước ngoài, nhưng hẳn là ba không muốn bị hiểu nhầm như bác Côn hàng xóm. Đất nước chia đôi, nhiều chuyện cho người lớn bận tâm.
Ba tôi gốc người Hà Tĩnh, làm việc trên xe lửa, tới Nha Trang, gặp má tôi, cưới xong là đưa vào Sài Gòn ở. Đó là nhân duyên tôi sinh ra ở Sài Gòn. Thời đó, thỉnh thoảng tôi lại thấy ba nhận các tấm bưu thiếp. Đôi khi ba ứa nước mắt khi đọc bưu thiếp, và đôi khi ngồi nghe radio lại cảm động, nói tôi làm giùm ba ly nước trà; rồi ba chỉnh lại đôi mắt kính, ngó vào mặt số máy radio, dò tìm các làn sóng quốc tế. Có khi thời tiết khí hậu làm khó bắt sóng sao đó, ba lại đẩy chiếc radio hiệu Philips vào góc bàn, rồi lấy chiếc radio hiệu Sony ra dò làn sóng. Tôi chỉ cần nghe giọng ba bùi ngùi là biết đất nước đang có chuyển động gì đó.
Nhiều thập niên sau, sang Hoa Kỳ, tôi mới thấy mình cũng lây tính ưa cảm động đó. Tuy nhiên, chẳng có ai bắt gặp tôi trong các giây phút cảm động tương tự cả, phần vì tôi có mặt ngoài tỉnh táo trong mọi hoàn cảnh – nhà báo là phải thế; có lẽ, chỉ trừ khi đọc tin về Biển Đông mới lộ ra bực mình thôi.
Suýt nữa là quên nói bí mật này: tôi thích nhất là nhìn thấy hình ảnh “con bé Mai” khi làm xong các thứ, là đứng dậy nơi sàn xi-măng, nghiêng người, một tay túm nơi đầu gối hai ống quần, và tay kia cầm chiếc thau nhỏ múc nước tưới vào hai bàn chân rồi chà hai bàn chân vào nhau cho sạch cát đất.
Tôi không hiểu tại sao tôi ưa thích nhìn hình ảnh này. Không phải chuyện hư hỏng tầm bậy gì đâu. Tôi chỉ mơ hồ thấy rằng hình ảnh đó rất đẹp, mà không hiểu tại sao. Không phải vì hai bàn chân xương xẩu của nhỏ Mai; đứng từ gác cao nhìn xuống, làm gì thấy bàn chân xương xẩu được nhỉ. Cũng không phải vì nhỏ Mai nghiêng người để lộ ra cái gì đâu; trời ạ, đã nói là không có chuyện hư hỏng gì mà.
Về sau, nhìn tranh các danh họa thế giới, tôi nhận ra nhiều họa sĩ thích vẽ người phụ nữ đứng nghiêng người. Dĩ nhiên, một vài họa sĩ vẽ người phụ nữ khỏa thân nghiêng người, nhưng đó là chuyện khác. Tôi nghĩ, phải chăng mình cũng có khiếu về hội họa và ưa thích cái bố cục như thế. Chẳng biết.
Sau này đọc Kinh Phật, tôi nghĩ ra rằng chuyện mình ưa ngó hình ảnh nhỏ Mai nghiêng người rửa chân được sách gọi là “tùy phiền não” – nghĩa là, niệm cứ khởi đi, khởi lại về một thứ gì đó. Những khi nhớ ra như thế, tôi lại như mỉm cười, khi nghĩ rằng, có thể, và có lẽ, nếu một hôm nào đó, tôi đưa tay nắm lấy bàn chân của nàng, và khi tay nhận ra bàn chân nàng đầy xương xẩu gầy gò, hẳn là sẽ không bao giờ khởi lên các thứ hình ảnh như thế nữa. Cũng chẳng biết nữa.
Thế rồi bác Côn chết. Lúc đó, Mai học lớp tư, tôi học lớp năm, nghĩa là đều còn nhỏ, chẳng hiểu gì về tử vong ly biệt.
Ba tôi nói là bác Côn chết vì lao phổi, hút thuốc nhiều quá mà. Má tôi nói với ba, không phải đâu, bác Côn hồi ở tù bị đánh dữ quá, chắc mang bệnh hậu. Má của Mai thỉnh một vị sư từ ngôi chùa trong xóm tới làm tang lễ. Ai hỏi, bác gái cũng chỉ bùi ngùi nói là bệnh rồi chết. Câu nói này hẳn là đúng muôn đời cho hầu hết các trường hợp, bệnh thì chết chớ.
Điều tôi nhớ nhất những ngày đó là hình ảnh nhỏ Mai mang khăn tang, tự nhiên đẹp ra hẳn, tự nhiên như thành người lớn, trang nghiêm. Mai không khóc nhiều, nhưng khi nói gì, tự nhiên giọng nghẹn ngào. Cũng lạ, có lúc trên đường đi học, tôi hỏi sao Mai không khóc sụt sùi khi đưa tang ba nhỉ? Mai nói, chỉ vì thấy mọi chuyện như không có thật, giống như mọi chuyện chỉ là giả bộ thôi, giống như trong phim, hay như trong truyện.
Mai cũng kể, tự nhiên rồi thuộc câu thần chú vãng sanh để cầu nguyện cho ba Mai. Cái gì như “Nam mô a di đa bà dạ…”
Tôi nói như an ủi cô bé, nhìn Mai mặc áo tang, mang khăn tang thấy tức cười quá. Tôi ngu dễ sợ, sao lại nói chuyện gì như thế. Đúng ra, tôi không dám nói rằng, cô bé trong bộ tang phục trông đẹp tuyệt vời. Nhưng xin nhớ, chúng tôi lúc đó chỉ là nhóc tỳ, mà thời đó trai gái còn xa nhau kinh khủng: tôi và Mai hệt như các nhân vật trong cuốn truyện cổ tích nằm ở các trang cách biệt, khi trang sách này mở ra, là trang sách kia khép lại. Vậy đó, chúng tôi là hàng xóm, là bạn cùng trường, là bạn ngó xuống từ gác gỗ vườn sau… nhưng vẫn là “bạn trăm sông nghìn núi” – đúng chữ cô nàng ưa nói.
Trời Pasadena sẫm tối. Hai đứa chúng tôi rủ nhau đi bộ, lấy cớ ngồi nghe pháp xong, lại ngồi ăn kem, nên cần đi bộ. Tôi không nhớ là ai rủ ai đi bộ, nhưng dặn nhau là chớ đi xa, chỉ đi vài phút thôi, vì quay lại tìm xe sẽ mệt. Chúng tôi đi dọc trên đường E. Colorado Blvd. về hướng đường Wilson Ave. Cũng chẳng hiểu tại sao lại phải đi trên hướng này. Tôi vẫn nhớ tên đường, vì lúc đó chỉ sợ khi quay lại để lấy xe, mà quên tên đường là hỏng.
Tôi đi bên nàng, bóng ngả dài trên các vuông gạch hè phố. Gió hơi lạnh lạnh. Bất giác, tôi nghĩ, tại sao mình không ôm nàng nhỉ. Có lúc vai tôi chạm vào vai nàng. Tôi nghĩ, phải chi đứng dưới đèn đường, ôm hôn nàng là tuyệt vời nhỉ. Nhiều kiếp sau cũng không quên nổi. Tôi nghĩ, có lẽ vị hộ pháp hộ giới ngăn trở, vì lý do gì đó. Tôi nắm tay nàng, kéo vào nhà sách Barnes & Noble, nói để mua tặng Mai một cuốn sách nhé.
Giữa những hàng kệ sách, Mai nhìn lên các bìa sách. Có khi cầm ra một cuốn, lật vài trang nhìn.
Tôi nói với Mai, tôi muốn tìm tập thơ “Twenty Poems of Love and a Song of Despair” của Pablo Neruda để tặng nàng. Thơ Neruda hay, và bản dịch Anh ngữ của W.S. Merwin đẹp tuyệt vời.
Tôi nhìn vào mắt nàng, nói như thì thầm rằng đây là thơ Neruda nhé, “Tình yêu thì quá ngắn, quên nhau lại quá dài… Love is so short, forgetting is so long.”
Mai nói, anh nhìn thẳng vào mắt Mai nhé, chúng mình chưa từng yêu nhau thì phải.
Tôi lại thấy vài sợi tóc bạc trên đầu Mai. Tôi tự thắc mắc, không lẽ chỉ trong vài phút, tóc bạc mọc nhanh như thế; hay hồi nãy, mình nhìn nàng không kỹ…

*

Mai bước tới khu để thiệp của nhà sách, nhấc lên một tấm thiệp từ ngăn kệ.
Tấm thiệp chỉ có hình một dòng sông, và chiếc ghe không người đang neo nơi bờ.
Tôi nói, thiệp này không có chữ, sao Mai không tìm thiệp có chữ để đỡ mất công viết, mà tặng ai đấy.
Mai nói, thiệp này để tặng anh đấy.
Tôi nhìn dòng sông mở ra trên tay nàng.
Mai đưa tấm thiệp lên môi nàng, in làn son trên môi vào trang trắng trong thiệp, rồi đưa cho tôi.
Tôi cầm thiệp, chưa kịp nhìn kỹ, đã thấy nàng quay lưng, bước vội ra ngoài cửa tiệm sách. Tôi nói vói theo, để anh tìm tập thơ cho Mai đã… nhưng nàng đã mất hút ngoài cửa.
Tôi cầm tấm thiệp có vết môi son, tới xếp hàng nơi quầy, chờ trả tiền. Khi bước ra, nàng đã như biến vào hư vô.
Tôi lái xe từ Pasadena về nhà. Căn phòng đã vắng, như dường vắng thêm. Sách để đầy các góc nhà, đầu tủ, đầu giường, xếp cả bên giường tựa vào vách, nhưng như dường tất cả các cuốn sách đang thì thầm chế giễu tôi, một tên khù khờ, không nắm tay được cô nào trong đời quá một phút đồng hồ. Vào nhà xong, tôi mới nhớ ra là quên máy ảnh nơi tiệm Dairy Queen rồi.
Tôi đặt tấm thiệp môi son, dựng đứng trên bàn, nhìn thấy vết môi son mở ra. Gió từ phố Bolsa tạt từ cửa sổ vào. Người tôi run rẩy, cái lạnh này còn hơn là cái lạnh trăm sông nghìn núi, tôi nghĩ.
Bệnh rồi, tôi nằm trùm mền, ngủ vùi, ngập trong hình ảnh của nàng, mái tóc ngắn với vài sợi bạc, tay xương xẩu, bờ vai nhỏ, tà áo xanh, và vết môi son trên tấm thiệp. Tôi tự nhủ, trước khi thiếp vào giấc ngủ, hóa ra đời mình chưa từng ôm hôn một ai.

*

Hai hôm sau, một bình hoa giao tới tòa soạn, đề tên tôi. Người gửi là Mai, từ San Diego.
Kẹp giữa mấy cành hoa hồng vàng là tấm thiệp nhỏ, với dòng chữ viết tay:
“Cảm ơn anh. Ngày mai em về Việt Nam, xuất gia. Mai.”
Không có địa chỉ nào để tôi trả lời hay tìm tới. Tự nhiên, hình ảnh cô bé năm xưa mang khăn tang hiện ra trong trí nhớ tôi, rồi âm vang tiếng mõ, tiếng kinh tụng, rồi âm đọc giọng Miền Trung của vị sư già, “Nam mô a di đa bà dạ…”
Hình ảnh cô bé chân trần nhảy cò cò ngoài sân cũng hiện lên trong đầu tôi. Tôi tự nhủ, có lẽ, người ta không cần tới thuyền để qua dòng sông sinh tử đâu, cứ mãi nhảy cò cò trong chiếc sân cát tuổi thơ cũng sẽ qua bờ. Tôi nghĩ thế, nhưng không chắc là Phật pháp có ý nào như thế. Chỉ có điều khó hiểu, vì sao những bước nhảy cò cò cứ mãi in sâu trong hồn mình như thế.
Tôi hiểu điều này, và có lẽ kinh cũng nói nơi nào đó: khi đi bộ với nàng trên phố Pasadena, tôi không ôm nàng, không hôn nàng vì ngờ ngợ như có ai ngăn cản, hẳn đó là vị hộ pháp hộ giới. Vì với người phát tâm xuất gia như nàng, có khi chỉ một nụ hôn cũng có thể kéo nàng đi chệch thêm nhiều kiếp sau. Tôi chỉ đoán thôi, về giáo lý thì tôi mù mờ. Ánh đèn trên phố Pasadena vẫn hắt mãi trên trí nhớ của tôi, sau pháp hội của ngài Đạt Lai Lạt Ma.
Nhiều năm sau, khi làm một bài thơ Thiền Ca cho anh bạn Trần Chí Phúc phổ nhạc, tôi có viết câu:
… chờ em, chờ em son nhạt môi, ta lạnh buốt bên sông…
Hình ảnh nàng hiện lên trong dòng chữ đó. Hiện lên trên vết son môi nàng để lại trên tấm thiệp, trên đó chiếc thuyền không người lặng lẽ bên sông. Và để lại trong hồn tôi. Ngày và đêm.
Tôi không nhận được tin gì về nàng nữa, từ đó. Tôi vẫn cầu nguyện cho nàng khi bắt đầu các buổi thiền tập hàng ngày. Và biết rằng, sẽ rất lâu, sẽ còn rất lâu, hình ảnh nàng mới nhạt đi trong tâm mình. Kể cả vết son.

Phan Tấn Hải

(trích từ tập truyện Thiếu nữ trong ngôi nhà bệnh)

(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress.com)

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Đôi Khi Mở Lại Chồng Thơ Cũ

12/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đôi Khi Mở Lại Chồng Thơ Cũ

Trần Vấn Lệ

 

Đôi khi mở lại chồng thơ cũ, thấy cái hồn nhiên mình một thời, thấy cái dễ thuơng đời một lúc, thấy ai đứng nép góc hiên cười…

Đôi khi mở lại chồng thơ cũ, thấy tháng Giêng rồi thấy tháng Hai, thấy lại Xuân xanh và Hạ đỏ, thấy ngày Nguyên Đán một nhành Mai!

Tự nhiên mà viết tên người ấy và tự dưng chiều gió bấc qua…Chưa phải mùa Thu lòng đã rét hay thương Chức Nũ bến Ngân Hà?

Hình như tôi chẳng là tôi nữa mà bụi bám vào áo lụa em?  Em ở Trạm Hành hay Trại Mát có nghe xe lửa hú còi lên?

Có nghe Cầu Đất trà thơm ngát, có thấy Ba ngồi hút thuốc không?  Hỡi em, anh nhớ mưa Đà Lạt, ngày Tết thế nào? Em rưng rưng?

Em giống Má anh ngồi tựa cửa mười năm thằng Lệ vẫn chưa về.  Mười năm nhang khói, mười năm biệt…Những nấm mồ hiu hắt nắng hoe…

Đôi lúc đọc thơ mình rất cũ…Cũ từ hôm vừa ghé Thái Lan…Cũ từ hôm đi trong Phố Nhật…tự hỏi mình sao Không-Quê-Hương?

Nghe lạnh bàn tay cũng lạnh lòng…Bây giờ Đà Lạt cuối mùa Đông.  Nhớ hoa Cẩm Tú thềm ga quá…Nhớ quá ai người cổ quấn khăn…

Em đã là thơ!  Em rất Thơ…Em như bà Chúa anh tôn thờ…kìa xe thổ mộ chờ em đến…Anh thấy anh bồng em trong mơ!

Những bài thơ cũ bay cùng gió xanh cỏ mây đồng Đức Trọng xanh…xanh mướt tóc xanh cô giáo cũ…Ôi chiều Tùng Nghĩa nắng long lanh!

 

Trần Vấn Lệ

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

11/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Mấy hôm nay nhận được rất nhiều lời CHÚC TẾT của bạn bè anh em, nơi gần nơi xa với nhiều hình ảnh, thơ ca, tranh vẽ rực rỡ, đẹp tươi… cho một NĂM MỚI TÂN SỬU 2021.

Đỗ Hồng Ngọc cũng bắt chước chúc Tết anh chị em nè.
Kính chúc tất cả mọi người Năm Mới Tân Sửu 2021 

An Vui, Hạnh Phúc,

Và xin kèm tấm hình “chăn trâu” của Thằng Bờm mình, vốn treo trước cửa phòng  như một lời nhắc nhở:

“Không, chăn trâu sướng lắm chứ!” (QVGKT)

Do Hong Ngoc.
(Chiều 30 Tết, 11.2.2021)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi (Tết)

08/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Ngày Tết

Bạn hỏi Ngày Tết tôi làm gì ư? Không làm gì cả. Với tôi bây giờ, ngày nào cũng là Tết, ngày nào cũng là Ngày Tết. Có gì khác nhau đâu?

À mà nói vậy khó hiểu quá! Phải ngoài 80 một chút, như tôi bây giờ (có người còn bảo là U90!) thì mới hiểu.

Tuy vậy, cũng có vài chuyện “rất Tết” kể bạn nghe vui thôi nhe. Hôm qua, một người bác sĩ học trò cũ (mới ngoài 50) đặt một câu hỏi với tôi: Nhiều lúc em thấy giận con em quá, em phải làm gì thưa Thầy? Có cách nào chữa trị cái giận không?

Tôi trả lời: Em giận con em quá hả? Tốt lắm. Trước hết nó làm em đỏ mặt tía tai, bầm gan tím ruột, các hormone xuất tiết ào ào, huyết áp tăng cao, đường huyết tăng cao, và nếu em… ráng nuốt giận xuống bụng, lâu ngày thành ung thư đại tràng…

Thực ra có vài ba món thuốc em thử xem:

Một là em thử thở chánh niệm. Hít một hơi sâu và “dõi theo” (không phải theo dõi) hơi thở của em đi từ mũi xuống huyệt đan điền dưới rún, ấy là lúc cơ hoành được đẩy xuống như em biết. Sau đó thở ra nhẹ nhàng từ từ bằng cách đưa cơ hoành lên và cũng dõi theo hơi thở ra đó.  Sau đó lại có một quãng ngừng trước khi thở tiếp. Điều quan trọng là chú ý tới hơi thở “vào-ra-ngừng” đó của mình… Cái hay là khi đầu óc mình “bận bịu” với chuyện dõi theo hơi thở này thì mình… quên chuyện giận! Não mình nó vậy. Khi chỗ này được kích hoạt thì chỗ kia tắt ngấm, nhớ không?

Hai là em bắt “Ấn”… Cũng vậy. Tập trung vào một ấn nào đó, ấn Từ, Bi, Hỷ, Xả chẳng hạn… thì em sẽ quên giận. Nhớ coi, hồi nhỏ những lúc em cho con bú, thiếu sữa, nó cũng cắn em tưng bừng đó thôi, mà em đâu có giận hờn gì phải không?

Ba là… niệm “Chú”. Chú nhiều lắm. Em có thể đặt riêng cho mình một câu “thần chú” mà không ai biết để tự chữa bệnh cho chính em. Còn không, em niệm câu thần chú sẵn có và rất hiệu nghiệm: OM MANI PADME HUM. Trong đó chữ OM có thể hiểu là AUM, tập trung vào 3 giai đoạn hơi thở như trên nói. MANI là Ngọc “Ma Ní”, trong suốt, phản ánh tất cả màu sắc bên ngoài nhưng không lưu giữ bao giờ. PADME là hoa sen và HUM, là “như nguyện” “thành tựu”…

Vậy đó. Em bây giờ dạy con nào học ăn học nói học gói học mở, nào ăn coi nồi ngồi coi hướng, nào… nào… bao nhiêu là thứ mà em gọi là kỷ luật, là nếp nhà… làm nó mệt mỏi, phản đối. Thiệt ra chỉ cần truyền cho con “nội lực”, còn “chiêu thức” nó sẽ tùy cơ ứng biến. Nội lực là “ngũ giới” đó thôi: Không sát sanh/ không trộm cắp/ không nói dối/ không tà dâm/ không nghiện ngập… Giữ được các “giới” này là đủ cho con sống an vui, hạnh phúc để vào đời!

Mọi sự vô thường, nhớ không? Em bây giờ như “cá nước ngọt”, còn con như “cá biển”.

Cá biển với cá nước ngọt mà cứ hục hặc nhau hoài… cũng ngộ chớ phải không?

Chuyện vậy đó, kể bạn nghe cho vui thôi nha.

Hẹn thư sau,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Mũi Né

07/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

MŨI NÉ

Đỗ Hồng Ngọc

(http://phovanblog.blogspot.com/2021/02/mui-ne.html)

 

Em có về thăm Mũi Né không?

Hình như trời đã sắp vào xuân

Hình như  gió bấc lùa trong Tết

Những chuyến xe đò giục bước chân.

 

Em có về thăm Mũi Né không?

Mùa xuân thương nhớ má em hồng

Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng

Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong.

 

Em có về thăm Mũi Né xưa?

Con đường sỏi đá vẫn quanh co

Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc

Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ.

 

Em có về thăm Mũi Né yêu?

Mười năm như một thoáng mây chiều

Mười năm vườn cũ chim bay mỏi

Áo trắng chân mềm em hắt hiu.

 

Mũi Né ơi, người xưa đã xa

Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ

Năm nay người có về ăn Tết

Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

1970

Xin vào Link này nghe Thu Vàng hát

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim

Bs Phạm Nguyên Quý: “Dược tính” trong tâm

03/02/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Dược tính” trong tâm

Bs Phạm Nguyên Quý (*)

 

Tôi từng khóc thầm vì bài học mà bệnh nhân của tôi đã vô tình dạy bác sĩ.

Tôi vẫn nhớ như in lần khám với bà, bệnh nhân 70 tuổi không may mắc ung thư tụy di căn phổi. Bà có nhiều dịch tích trong ngực, còn gọi là tràn dịch màng phổi, và cần chăm sóc giảm nhẹ. Bốn tháng trước, bà còn bị thêm di căn da – thành ngực, liên quan tới thủ thuật đặt ống thông để giảm dịch ngực ở một bệnh viện khác. Vì đau ở thành ngực, bà cũng đã được xạ trị vào khối u. Cơn đau được khống chế một thời gian, khi bị đau lại, bà được giới thiệu tới bệnh viện của tôi bởi gần nhà.

Chúng tôi nói chuyện thăm hỏi ban đầu khá vui vẻ, nhưng khi tôi sờ vào cục u trên da để thăm khám, bà đột nhiên bật khóc. Tôi hơi hoảng, liền hỏi ngay tại sao.

“Bàn tay bác sĩ ấm làm tôi dễ chịu quá”, bà nói. Bà thật tình kể tiếp một chuyện bất ngờ hơn. Đi khám ở các bệnh viện bốn tháng qua, bà không được ai chạm tới chỗ đau đó. Ở đâu, người ta cũng chỉ hỏi bệnh, kê đơn thuốc giảm đau, xem hình chụp CT rồi chỉ cho bà cục u trên màn hình máy tính.

Tôi vừa nghe chuyện vừa nghĩ tới cách giải thích để bênh vực cho những đồng nghiệp bận rộn của mình. Rằng khối u đã quá rõ ràng trên hình ảnh nên bác sĩ nghĩ rằng không cần phải chạm tới, hay bác sĩ bận rộn quá không thể chờ người bệnh kéo áo lên xem. Việc chạm vào cục u thường không thay đổi “chiến lược điều trị”, và có thể bác sĩ cũng đã không có thời gian nghĩ tới cảm xúc của bệnh nhân.

May thay, bà không khóc vì giận bác sĩ mà vì cơn đau dai dẳng tự nhiên mất đi không ngờ. Bà không biết rằng tôi cũng đã khóc thầm sau khi gặp bà, từ bài học mà bà đã vô tình dạy cho bác sĩ. Tôi khóc vì hóa ra bàn tay vụng về của mình lại có thể ý nghĩa đến vậy với một ai đó.

Mấy tháng sau, một bệnh nhân khác nói với tôi rằng cô cũng cảm thấy dễ chịu khi được bác sĩ thăm khám. Tôi thầm cảm ơn cô vì đã giúp các bác sĩ trẻ như tôi thêm động lực. Bệnh nhân vừa là người thầy của bác sĩ, vừa làm nghề thầy thuốc trở nên ý nghĩa.

Hầu hết bệnh nhân thật ra kỳ vọng khá lớn vào việc được bác sĩ thăm khám trực tiếp. Hầu hết họ vẫn nghĩ rằng bác sĩ phải sờ – nhìn – gõ – nghe hoặc ít nhất “sờ vào người” thì mới gọi là “đi khám”. Cho dù các chỉ số như huyết áp, nhịp tim đã có y tá lấy bằng máy hoặc đo tự động, nhiều bệnh nhân ở Nhật nói với tôi rằng họ vẫn muốn được bác sĩ bắt mạch “truyền thống” dù chỉ vài giây. Trong bối cảnh phòng khám bận rộn, nhu cầu “kinh điển” này có thể khó thực hiện, nhưng tôi luôn tự nhắc mình để không làm bệnh nhân buồn lòng.

Lần khác, tôi có duyên gặp một bệnh nhân bị khó thở vì ung thư phổi kèm tràn dịch màng phổi. Các bác sĩ trước đó đã nói với bà rằng khó thở vì “phổi đã ngập nước”. Sau khi gõ và nghe tiếng phổi của bà, tôi cười, nói với bà rằng dịch chỉ chiếm 1/3 ngực và 2/3 còn lại “vẫn chạy tốt”. Bà bớt khó thở ngay chiều hôm đó.

Thật khó tin, một bệnh nhân vẫn than khó thở với thuốc an thần, morphine liều tối ưu lại khỏe hơn chỉ nhờ một câu nói. Khó tin hơn, bà cũng đã là người nhận dự đoán “có lẽ chỉ còn sống tầm sáu tháng”, nhưng rốt cuộc sống lâu gấp bốn lần.

“Chính bác sĩ còn chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra với họ vào ngày mai, sao có thể dự đoán chính xác thời gian sống của bà?”, bệnh nhân cười phá lên gật gù khi tôi nói tiếu lâm như vậy.

Bằng việc vực dậy niềm tin, tinh thần của bà đã cải thiện rõ rệt. Với một số biện pháp khác như thay đổi tư thế nằm, ngồi cho dễ chịu hơn, dùng thêm các dụng cụ hỗ trợ để bà tập trung vào hiện thực và tiếp tục sở thích đan len, chúng tôi đã giúp bà đã sống thêm một thời gian ý nghĩa.

Nói chuyện với bệnh nhân, nhất là người mắc ung thư giai đoạn cuối, là cả một nghệ thuật. Nhiều người hỏi rằng như vậy có gọi là nói dối bệnh nhân hay không?

Khi ly nước chỉ còn 1/3, tuyên bố “mất hết 2/3 rồi” hay “vẫn còn 1/3 đấy” không thay đổi sự thật phũ phàng, nhưng có thể thay đổi nhận thức về cuộc sống của người bệnh. Bệnh nhân không chỉ đau khổ vì sự thật, mà còn đau khổ vì cách diễn giải sự thật đó. Đôi khi, đau khổ là do chính người bệnh hoặc người thân tự ám thị, tự liên tưởng mà bác sĩ phải là người nhận ra và giải quyết những khúc mắc thầm kín đó.

Một bác sĩ đàn anh nói với tôi rằng điều này đã được viết trong Kinh Dược sư từ mấy nghìn năm trước. Người thầy thuốc cần uốn lưỡi bảy lần khi nói chuyện, với tâm thanh tịnh cầu nguyện sự tốt lành cho bệnh nhân. Nghe thật mơ hồ, nhưng những điều Đức Phật dạy không phải không có lý.

Nhiều bệnh nhân ở Việt Nam nói với tôi rằng, cũng là loại thuốc đó nhưng khi gặp được bác sĩ ân cần quan tâm, giao tiếp bằng thân, khẩu, ý tốt đẹp thì họ thường tự tin hơn vào kết quả điều trị.

Đức Bồ tát Phổ Hiền từng nói với đồ đệ rằng: “hãy vào rừng, tìm những loại cỏ cây không phải là thuốc mang về đây cho ta”, ngụ ý rằng cái gì cũng là thuốc mà cũng không phải là thuốc. Tất cả phụ thuộc cách dùng và hiệu quả còn phụ thuộc vào “dược tính” trong tâm mỗi người. Ai cũng có khả năng trở thành Phật dược, chính là bởi dược tính trong tâm mình.

Tôi viết những dòng này khi thế giới đang hoang mang vì dịch bệnh. Trong thời buổi vật chất được ưu ái, thông tin lan tràn trên mạng, nhiều bệnh nhân dễ bị lung lạc bởi các “bài thuốc” hay “điều trị tiên tiến” qua Youtube, Facebook, Google hoặc nghĩ rằng phải chụp chiếu bằng máy móc hiện đại mới yên tâm. Lời nói của bác sĩ nhiều khi không được xem trọng. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng sẽ có lúc người ta nhận ra, không gì thay thế được giá trị của “dược tính” trong mỗi người thầy thuốc.

“Tiền bạc, danh vọng có thể là mục tiêu mà nhiều người hướng đến trong thời gian ngắn, nhưng nuôi dưỡng được dược tính mới là yếu tố giúp bình an lâu dài”, thầy tôi, một người Nhật, nói với chúng tôi như vậy.

Phạm Nguyên Quý

(*) Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Nguyên Quý hiện là bác sĩ điều trị tại Khoa Ung thư nội, Bệnh viện Trung ương Kyoto Miniren; nghiên cứu viên tại Khoa Y, Đại học Kyoto.

(Nguồn: https://vnexpress.net/tac-gia/pham-nguyen-quy-1356.html)

 

Thuộc chủ đề:Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân

“Album THU VÀNG hát Thơ Đỗ Hồng Ngọc”

26/01/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Giới thiệu “Album Thu Vàng hát Thơ Đỗ Hồng Ngọc”

Ghi chú:

Có nhiều bài thơ của Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) từng được phổ nhạc bởi các nhạc sĩ Miên Đức Thắng (Lời Ru, 1967); Phạm Trọng Cầu (Thư cho bé sơ sinh, 1973); Trương Thìn (Mai sau dù có bao giờ, 1978); Hoàng Hiệp (Viết tên lên cát, 1978); Khúc Dương Đặng Ngọc Phú Hòa (Nước- Kể chuyện trăng tàn,1998); Vĩnh Điện (Mới hôm qua thôi, 2014); Hoàng Quốc Bảo (Mũi Né,  Có Không); Võ Tá Hân (Bông Hồng Cho Mẹ, Thư cho bé sơ sinh, Mới hôm qua thôi, Đồng hương); Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh (Sông Ơi Cứ Chảy); Nguyễn Thanh Cảnh (Phan Thiết-Trên sông khói sóng); v.v…

Riêng giọng ca Thu Vàng đã thể hiện 4 nhạc bản phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc dưới đây, xin trân trọng giới thiệu cùng bè bạn thân quen… (nhân dịp Sinh nhật Thu Vàng –  tranthinguyetmai.wordpress.com).

Mũi Né, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo;

Bông hồng cho Mẹ, nhạc sĩ Võ Tá Hân;

Sông ơi cứ chảy, nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh;

Có Không, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo.

Album “Thu Vàng hát thơ Đỗ Hồng Ngọc” được thực hiện bởi Nguyễn Văn Quyền, 1.2021

Do Hong Ngoc.

 

Tu viện Khánh An (ảnh ĐHN 1.2021)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (1.2021)

25/01/2021 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi 

Những ngày gần Tết

Bạn biết đó, gần Tết thì mình cũng thường lu bu. Thứ tư 20.1.2021 thay vì Nhóm Học Phật của bọn mình có buổi học kinh Lăng Già như thường lệ thì mình đề nghị đi thăm Tu viện Khánh An của Thầy Trí Chơn ở quận 12. Các bạn “OK” ngay.

Xin gởi vài hình ảnh như thường lệ thôi nhe.

Tu viện Khánh An, Quận 12. (ảnh Internet)

 

Đây là ngôi chùa mình đã có dịp đến trò chuyện với quý vị Phật tử vài lần. Một lần về Thiền và Thở dưới góc độ khoa học, một lần về Ăn và Chay trong “Một ngày sống tỉnh thức” được tổ chức hàng tháng tại Tu viện. Các đề tài này đã được quay video clip đưa lên youtube để chia sẻ rộng rãi đến bà con.

 

Thầy Trí Chơn tiếp mọi người ở nhà Thanh Lương, và mọi người đã có một buổi trà đàm thân mật nhân có thầy Mãn Pháp từ Hà Nội vào.

 

Ngoài Nhóm Học Phật còn có các bạn trẻ của Lớp Phật học & Đời sống cùng nhóm của Phật tử Lệ Mai (đệ tử thầy Trí Chơn) tham dự.

 

Mình đưa các bạn đi thăm Ao sen rất đẹp của Tu viện. Đã có lần Thầy Trí Chơn đích thân chèo thuyền cho mình đi dạo trên hồ sen…

 

…Và một cung đường thiền hành quanh hồ ngập hoa vàng… mùa Tết.

 

Một tấm hình kỷ niệm chuyến về Khánh An  (20.1.2021).

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

(25.1.2021)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Gì đẹp bằng sen?

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 12
  • Trang 13
  • Trang 14
  • Trang 15
  • Trang 16
  • Interim pages omitted …
  • Trang 55
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email