Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

PNB giới thiệu: Sách “bỏ túi” CON ĐƯỜNG AN LẠC.

16/10/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 “CON ĐƯỜNG AN LẠC”

Cẩm nang học Phật

(sách bỏ túi dành cho người hiện đại)

 

 

Công ty Sách Phương Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một ấn phẩm mới phát hành của BS. Đỗ Hồng Ngọc mang tên: CON ĐƯỜNG AN LẠC. Tác phẩm là lời chia sẻ tâm huyết, chân thành của một người thầy thuốc, một người học Phật đã tự mình thể nghiệm giáo lý nhà Phật và gặt hái được những kết quả tích cực, gợi mở một con đường tìm về sự bình an nội tại cho mọi người giữa cuộc sống hiện đại nhiều biến động.

Đỗ Hồng Ngọc được biết đến không chỉ là một chuyên gia y khoa mà còn là một cây bút tên tuổi trong làng viết và nghiên cứu Phật giáo ứng dụng tại Việt Nam, đã xuất bản nhiều tác phẩm về thiền và Phật học được đông đảo độc giả đón nhận, có thể kể đến như: Thấp thoáng lời Kinh; Thiền & Sức khỏe; Cõi Phật đâu xa; Nếp sống an lạc; Thoảng hương sen; Tôi học Phật, Buông,...

Theo Đỗ Hồng Ngọc, an lạc không phải là niềm vui sướng nhất thời, mà là dòng suối mát tưới tẩm từ bên trong, mang lại bình an thân tâm và lan tỏa đến những người xung quanh. Ở tuổi ngoài tám mươi, với những kinh nghiệm trong hơn nửa thế kỷ hành nghề y cùng những trải nghiệm tự thân về khổ – bệnh – phiền, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhận ra con đường Phật dạy từ hơn hai ngàn năm trước với lời cả quyết: “Đây là con đường trực tiếp đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…” chính là một “con đường an lạc”, một “khoa học thực nghiệm” quý báu về nghệ thuật sống hạnh phúc.

Một điểm độc đáo không thể không nhắc đến ở Con đường an lạc chính là sự kết hợp giữa giáo lý Phật Đà và góc nhìn y khoa để lý giải cơ chế của hơi thở, sự căng cơ, quá trình tiêu hao năng lượng,… từ đó, giúp độc giả nhận thấy được lợi ích khoa học của thiền định trong việc chữa lành thân và tâm.

Với hình thức nhỏ gọn, trình bày trang nhã, văn phong giản dị và gần gũi, Con đường an lạc sẽ là một cuốn sổ tay học Phật nhẹ nhàng, giúp mỗi người tìm thấy sự tĩnh tại, hạnh phúc ngay trong đời sống thường nhật. Cuốn sách cũng là lời nhắn nhủ rằng, dù cuộc sống có đổi thay hay bị công nghệ chi phối, sự an lạc đích thực vẫn luôn nằm trong mỗi chúng ta. Mong rằng Con đường an lạc sẽ thực sự đồng hành cùng bạn nuôi dưỡng tâm tĩnh – trí sáng – lòng an.

(Phuongnambook) 

 

Sách đã có mặt tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và:

https://nhasachphuongnam.com/con-duong-an-lac.html

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 2: Tuổi già học Phật

23/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

GHI CHÚ:

Bây giờ tôi đã 85 tuổi. Già thiệt rồi! Tai nghễnh ngãng, mắt lèm nhèm, đi đứng đã giống… cat walk, quên cũng bộn rồi… Không ít bạn gần xa khuyên tôi có kinh nghiệm học Phật lâu nay thế nào, chia sẻ với anh em cho vui, cũng là cơ hội để cùng nhau học hỏi thêm. Tôi bèn gom góp được một ít bài cho là “cốt lõi”, sắc ba chén sáu phân, lấy tên là Con Đường An Lạc,”Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.Không ngờ có người bạn phương xa, chưa từng gặp gỡ, là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ đã tu tập trong chùa, sống ở nước ngoài nhiều năm, chuyên nghiên cứu, phiên dịch kinh sách Phật học từ tiếng Anh, đề nghị được dịch sang Anh ngữ cho những người bạn trẻ phương xa không rành tiếng Việt, cũng được đọc hiểu, thực hành Phật pháp. Còn gì hơn!

Anh chính là Nguyên Giác Phan Tấn Hải. 

Tôi post tất cả 10 bài lên www.dohongngoc.com này dưới dạng song ngữ để các bạn tuỳ nghi sử dụng nhe.

Chân thành cảm tạ Nguyên Giác.  

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 20.11.2024)   

 

………………………………………………..

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 2: Tuổi già học Phật (*)

Đỗ Hồng Ngọc

translated Nguyên Giác

blank
Tranh: Nguyên Giác

Khi về già, tôi học Phật cách khác. Mỗi kinh sách, bài giảng dài dòng, thêm bớt… tôi chỉ học một câu, một chữ, một bài kệ và tự  nghiền ngẫm, đặt câu hỏi, giải đáp và thực hành trong đời sống hàng ngày. Con đường học Phật phải là con đường an lạc, con đường “diệt khổ”, chớ nếu học Phật mà “khổ thêm” thì chắc học sai!

Với Tâm Kinh Bát Nhã, chỉ cần học và hành một câu: “ Quán Tự Tại Bồ-Tát hành thâm Bát Nhã Balamatđa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai “KHÔNG”, độ nhất thiết khổ ách.”

Bồ-Tát Quán Tự Tại nhờ thực hành thâm sâu Bát Nhã Balamatda mà thoát mọi  khổ đau ách nạn!

Tôi tự hỏi: Quán Tự Tại là ai? Bồ-tát là gì? Hành thâm là sao? Bát Nhã Balamat là gì? “Độ” tất cả khổ đau ách nạn thiệt không?…

Rốt lại chỉ cần học một chữ KHÔNG (Prajna, Bát Nhã) đó là đủ. Khi hiểu chữ Không do “Duyên sinh” thì ta không dễ bị lường gạt nữa bởi những cái hình tướng, danh tự bên ngoài. “Thấy vậy mà không phải vậy!” “Nghe vậy mà không phải vậy!”, tránh được những “biến kế sở chấp” và “y tha khởi” tác động, không còn bị dích mắc và từ đó, có thể “vô sở trụ”. Trong đời sống hàng ngày, ta thường luôn bám chấp, nghe lời đường mật, thấy hình tướng bên ngoài mà tưởng thiệt nên bị gạt gẫm bao phen, tỉnh ngộ thì đã muộn! Thời đại ngày nay càng cần “cảnh giác” nào fake news, deep fake, AI… các thứ!

Với Kim Cang, chỉ cần học một câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Thấy mọi sự do cái tâm mà sinh ra. Nhưng tâm sinh thì cứ sinh, miễn đường “trụ” vao đó, đừng dính mắc vào đó. Dính mắc khổ dài dài ráng chịu! Nếu Tâm sinh kệ nó, đừng thèm trụ vào đâu cả. Cho nên lấy Vô trụ làm Gốc (bản) trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ Huệ Năng, lấy Vô Niệm làm tông. Tâm không “sinh sự” được nữa. Tâm bất sinh. Tâm trở về với “bổn lai diện mục” của nó. Trở về cái thể “vô tướng” thanh tịnh của nó. Muốn vậy, phải vào Thiền Định. Kim Cang dạy thiền định, dạy ly tướng, ly niệm, để đạt tới cái “Như Như bất động” của Như Lai.

Với Kinh Hoa Nghiêm, tôi nghĩ chỉ cần học Hội Thứ Nhất ở Bồ Đề đạo tràng, với các phẩm đầu là đủ. Dĩ nhiên sau đó là phần thực hành, “Nhập pháp giới”, nghĩa là thực hành, là “Vào đời”. Và mỗi chúng ta đều là Thiện Tài đồng tử, lòng rộng mở, khiêm tốn học tập với tất cả mọi người.

“Thế Chủ Diệu Nghiêm”- làm chủ thế giới- chắc chắn không phải là một ông thần, ông thánh, vua chúa, hoàng đế nào đó mà phải là một người đạt được “Diệu nghiêm”. Đó là một Bồ tát, ung dung, tự tại vô ngại, đã “hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” mới được.

Như Lai vốn “vô tướng” tự nhiên lại “hiện tướng” ra một ông Phật làm chi cho vất vả, thì ra chỉ vì lòng Đại bi. Ta cũng từ “Như Lai tạng” mà được/bị “nặn” ra để chịu bao phiền não chẳng biết do duyên gì, y báo chánh báo gì, nói chung là do cái Nghiệp! Ngày nào trả xong Nghiệp thì trở về với cõi “vô sanh” đó thôi.

Để thấy biết “Như lai hiện tướng” ra sao thì phải vào Tam muội Phổ Hiền. Tam muội ấy là Samadhi, thứ Định sâu nhất. Vào định Phổ Hiền mới thấy từ Vô tướng “Một ông Phật hiện ra, Ba con ma biến mất!”. Ma Tham, ma Sân, ma Si không còn quậy phá ta!

Thế giới thành tựu đầy “hoa tạng” trước mắt ta, dĩ nhiên đều do từ Tâm ta mà hiện ra. Nào sanh diệt, nào đoạn thường, nào huyễn hoá… tuyệt vời như vậy mà ta không biết, cứ khổ đau, phiền não, chướng ngại, ráng chịu thôi. Cứ “nhập thế” dạo chơi một vòng như Thiện Tài đồng tử thì cuối cùng cũng thấy ra thôi. Thấy  gì? Thấy Tỳ- lô- giá- na (vairocana). Thấy “Nhất thiết chư Phật tỳ- lô- giá- na như lai tạng thân” (Kinh Hoa Nghiêm). Bây giờ ta biết vạn vật đều từ ADN mà ra, và ADN thì từ… không có gì mà ra (bổn lai vô nhất vật) đó thôi. Lý vô ngại rồi thì Sự Sự vô ngại. Cái núi Tu Di to đùng kia nhét vào hạt cải, bốn biến mênh mông nọ rót vào một lỗ chân lông…

Với Kinh Pháp Hoa thì cái hay là chỉ cách làm thế nào để “mau thành Phật”. Lâu nay ta cứ tưởng thành Phật không dễ, phải tu nhiều đời nhiều kiếp. Hôm đó dưới chân núi Linh Thứu, Phật nói với các đệ tử, ta nay đã già, sắp nhập Niết bàn rồi, các thầy có ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi! Vị Đại Bồ tát dẫn đầu hỏi ngay: Làm thế nào để “mau” thành Phật? Tưởng Phật sẽ rầy la, ai dè Phật trả lời: Dễ lắm! Chỉ cần học Pháp môn “Vô lượng nghĩa xứ” thì xong ngay. Mà Pháp môn đó lại chỉ có một pháp thôi: “Đó là Vô tướng”. Rồi Phật giải thích thêm: “Vô tướng ở đây là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thực tướng”. Hoá ra, vô tướng chính là thực tướng. Thực tướng chính là vô tướng. Chẳng cũng khoái ru? Chìm đắm trong vô tướng là sai. Mà lặn ngụp trong thực tướng cũng sai. Cho nên “thấy như thực” không phải là thấy thực, chỉ là “như” (thực) mà thôi. Ta phải thấy cái “vô tướng” của nó kìa, mới biết nó vô thường, vô ngã, biết nó duyên sinh, duyên khởi, có mà không, không mà có. Thấy biết vậy, ta không còn dính mắc! Bất tận Hữu vi mà bất trụ Vô vi. Chẳng hữu chẳng vô gì cả. Ta cũng học được các đức tính Tôn trọng (Respect) của Thường bất khinh, Chân thành (Genuine) của Dược vương và  Thấu cảm (Empathy), biết Lắng nghe (Listening) của  Quán Thế Âm.

Với Pháp Hoa, tôi tự hỏi mục đích Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật là sao? “Tri kiến Phật” có gì hay? Sau khi ngẩm ngợi, nghiền ngẫm rồi mới thấy hay thiệt. Vô thường, vô ngã, khổ, bất tịnh… cũng chính là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi, chẳng qua vì “điên đảo” mộng tưởng!

Với Kinh Duy Ma Cật, học rằng cõi Phật chẳng đâu xa. Cõi Phật trong ta đó thôi. Tâm ta mà thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh. Tâm ta chưa thanh tịnh thì thấy đâu cũng là gò nỗng, hầm hố, gai góc, thanh tịnh rồi thì cõi đất bỗng nhiên trở nên rộng lớn, nghiêm đẹp, ánh vàng khắp nơi nơi…

Học rằng phương tiện mà không trí huệ không xong. Trí độ là mẹ Bồ Tát. Tùy nghi phương tiện là cha. Phải có Trí độ (Bát Nhã) trước đã. Rồi, phương tiện mới tùy nghi được.

Học rằng Bồ-tát không đắm mê các tầng thiền để bỏ quên đời, phải thấu cảm cùng nỗi khổ đau vô tận của chúng sanh. Cho nên Bồ-tát “Tu học lẽ không mà chẳng lấy lẽ không làm chứng đắc. Tu học vô tướng, vô tác, mà chẳng lấy vô tướng, vô tác làm chứng đắc”.

Học rằng tâm khó mà nhận thấy! Làm sao để tâm an? Chỉ có cách tiếp cận qua thân. Cho nên “giả bệnh” như Duy Ma Cật là cách tốt nhất. Bệnh thì bình đẳng, không phân biệt. Mọi người đều bình đẳng trước… bệnh! Duy-ma-cật nói “Thân này không thể tin cậy được. Nó không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Phải thấy thân Phật, tức thấy pháp thân.”

Học rằng chúng sanh là những ảo vật do nhà ảo thuật là chính ta tạo ra. Mà nhà ảo thuật cũng là một chúng sanh. Chẳng qua là những bóng hình trong gương, mặt trăng đáy nước, dấu chân chim giữa hư không…

Học rằng bốn Ma là “thị giả”, luôn ở cạnh ta, giúp ta. Ma phiền não bủa vây và nhắc nhở sẵn có bốn vạn tám ngàn cách thoát ra; Ma ngũ uẩn thì thân thiết, nhắc rằng mấy thứ lăng nhăng nó quấy ta chỉ là những kết hợp tạm bợ, lắp ghép lai rai; Ma trời (thiên ma) là lời cảnh giác, đừng tưởng bở! Còn Ma chết (tử ma) lại là bạn thiết gắn bó với ta từ thuở còn trong bụng mẹ…

Học rằng có thứ hương thơm nuôi cả thân và tâm bất tận đó chính là Giới đức. Thứ hương thơm đó mới có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…

(…)

Nhìn lại chặng đường lõm bõm học Phật của mình,  tôi thấy có thể tự vẽ một phác đồ để nhắc nhở mình cho đừng quên:

Pháp Hoa là cốt lõi, ở trung tâm, vị Đạo sư đã mở tung một bí tạng, một “bí kíp” mà các Đức Phật xưa nay còn giấu nhẹm, không tiện nói ra, nay Phật Thích Ca đã “khai thị” cho ta thấy biết Như Lai, từ đó mà “ngộ nhập”, mà sống cùng, sống với, từ đó mà ung dung, tự tại, thuận với pháp, tùy với duyên, một khi biết tất cả đều cùng từ một Như Lai tạng, một “bào thai Như Lai”. Nó vậy là Nó vậy. Vô thủy vô chung. Tương tác từ Như Lai tạng mà hình thành pháp giới trong vũ trụ vô vàn… Với Trí Bát Nhã được “trang bị” ta không còn bị đắm chìm với những “phân biệt”, những “biến kế”, những “y tha” chằng chịt, quấn quít, khiến ta không thấy được cái Như như…

Thấy biết như vậy rồi thì ta mới có đủ Tự tin để Tự tại, hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về duyên về nghiệp của mình, mà không đổ thừa, không nhờ vả. Ta biết quay về “nương tựa” chính mình và nhận ra một khi đã “tịnh kỳ ý” thì cái tâm ta đã trở về với “Thanh tịnh bổn nhiên” như được Phổ Hiền Bồ-tát dẫn vào lâu các Tỳ-lô-giá-na vốn là Pháp thân của chính mình.

Cuối cùng Duy-ma-cật sở thuyết là nỗi hoài vọng của Phật, muốn lan tỏa đến mọi con người, mọi ngóc ngách đời sống, tạo nên một cõi Phật, một pháp giới bình đẳng, an vui, hạnh phúc cho kiếp người!

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 11.10.2024)

(*) Bài 1 https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/sach-bo-tui-cho-nguoi-cao-tuoi-con-duong-an-lac/

 

…………………………………………..

Learning Buddhism in old age

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác

As I grew older, I began to study Buddhism differently. When I encountered lengthy scriptures and lectures, regardless of how much was added or subtracted, I learned only one sentence, one word, or one verse. I would reflect on it, ask questions, seek answers, and apply it in my daily life. The journey of learning Buddhism should be a path of peace, a path toward the cessation of suffering. If studying the Dharma only increases my suffering, then I must be misunderstanding it!
With the Heart Sutra, I need to learn and practice just one sentence: “Avalokitesvara Bodhisattva practices the profound Prajna Paramita, perceives the five aggregates as fundamentally empty, and transcends all burdens of sorrow.”
I asked myself: Who is Avalokiteshvara? What is a Bodhisattva? What constitutes profound practice? What is Prajnaparamita? Is it true that one can overcome all the burdens of suffering?
In the end, just learning the word EMPTINESS (Prajna) is enough. When you understand the word Emptiness due to Dependent Origination, you will not be easily deceived by external forms or names.
What you see with your eyes is not really what it is. What you hear with your ears is not really what it is. Therefore, you are not mistaken by forms, and you are not affected by external forms; from there, your mind is not attached, and you live without clinging to anything.
In our daily lives, we often cling to various things, listen to flattering words, and focus on external appearances, mistakenly believing they are genuine. As a result, we are deceived time and again, and by the time we awaken to the truth, it is often too late. In today’s world, we must be increasingly vigilant against misinformation, deepfakes, artificial intelligence, and similar threats.

With the Diamond Sutra, I need to learn just one sentence: when the mind is no longer attached to anything, the liberated mind will emerge. Recognize that everything originates from the mind. However, when thoughts arise, allow them to come and go; as long as you do not cling to those thoughts, you will find peace. If you allow the mind to become attached to anything, suffering will persist! When thoughts arise, let them be; do not dwell on any thought.
Therefore, the Platform Sutra of the Sixth Patriarch Hui Neng states that one should regard the mind of No Abode as the foundation for cultivation and the mind of No Thought as the gateway to enter the Zen house. At that point, the mind will no longer be influenced by worldly conditions. The mind will cease to arise, returning to its true nature from its origin. To achieve this, one must engage in meditation. The Diamond Sutra instructs on meditation, emphasizing the importance of distancing oneself from appearances and thoughts. By doing so, one will arrive at the state where the Tathagata reveals the unmoving mind, the mind that perceives all dharmas as they truly are.
With the Avatamsaka Sutra, I believe it is sufficient to study only the First Part in Bodh Gaya, focusing on the initial chapters. Following this, we move on to the practice aspect, which is Entering the Dharma Realm, signifying our engagement in practice and immersion in the world. Each of us embodies the young man Sudhana—open-minded, humble, and eager to learn alongside others.
The Lord of the World, Diệu Nghiêm—the ruler of the world—is certainly not a god, a saint, a king, or an emperor; rather, he must be an individual who has attained remarkable solemnity. This person must be a Bodhisattva, who is leisurely, free, and unhindered, having practiced the profound wisdom of Prajna and recognized the emptiness of the five aggregates.
Tathagata originally had no form but spontaneously manifested as a Buddha to propagate the Dharma with great difficulty, all out of profound compassion. We, too, are shaped by the Tathagatagarbha to endure numerous afflictions, often unaware of the reasons behind them or the environmental retributions that lead to our current retribution, ultimately resulting from Karma. When the day arrives that we have settled our Karma, we will return to the realm of non-birth.
To understand how the Tathagata manifests, you must enter the Samadhi of Samantabhadra. This Samadhi represents the deepest state of meditation. Only by entering the Samadhi of Samantabhadra can you perceive that when a Buddha appears from formlessness, the three demons vanish. At that moment, the demons of Greed, Anger, and Delusion will no longer disturb you.
The world has unveiled itself as a tapestry of flowers before our eyes, all of which emerge from our minds. Birth and death, the concepts of eternity and annihilation, and the myriad illusions are so captivating that we often remain unaware of their true nature. Consequently, we continue to suffer, face challenges, and encounter obstacles; we must simply endure. If we enter and navigate the world like Sudhana, the youth, we will ultimately gain clarity and understanding.
What do you see? You see Vairocana Buddha. You perceive all Buddhas as embodying the same essence of Vairocana Tathagatagarbha, as stated in the Avatamsaka Sutra. We now understand that all things originate from DNA, which itself emerges from the void of nothingness that encompasses all worlds. Once you grasp this principle, you will no longer be constrained by the material aspects of this world. It is easy to comprehend that the immense Mount Sumeru can fit within a mustard seed or that the four vast oceans can be contained within a single pore.
The remarkable aspect of the Lotus Sutra is that it illustrates how one can swiftly attain Buddhahood. For a long time, many have believed that becoming a Buddha is a challenging endeavor, requiring countless lifetimes of cultivation. On that day at the foot of Linh Thứu Mountain, the Buddha informed his disciples that he was aging and about to enter Nirvana. He encouraged the monks to ask any questions they had without hesitation. The leading Bodhisattva promptly inquired how they could quickly become Buddhas. I anticipated that the Buddha would reprimand the monks, but to my surprise, he replied that it was very easy! Simply learn the Dharma door of ‘Infinite Meanings,’ and it will be accomplished immediately. The Dharma door encompasses a single principle: No-form. The Buddha elaborated further, stating that  signifies no-form; yet it is not merely no-form. It is not no-form, but rather no-form, which is why it is referred to as True-form. Thus, no-form is the true form, and true form is no-form. Isn’t that extraordinary?

Being immersed in formlessness is misguided, just as being immersed in true form is also erroneous. Therefore, perceiving reality as it is does not equate to seeing the truth; it merely involves interpreting things as real. We must recognize formlessness to understand that it is impermanent and not a self. This awareness leads us to comprehend that while it exists, it is dependently arisen and ultimately empty. Although it embodies emptiness, it still exists. By seeing and understanding in this manner, we free ourselves from attachment. We do not seek to destroy the conditioned; rather, the mind refrains from fixating on the unconditioned. In this state, there is neither existence nor non-existence. Additionally, we learn the virtues of the Bodhisattva Never Disparaging, the genuineness of the Bodhisattva Medicine King, and the empathy and attentive listening exemplified by the Bodhisattva Avalokiteshvara.
With the Lotus Sutra, I ponder whether its purpose is to guide sentient beings in understanding and penetrating the nature of reality and comprehending what the Buddha truly represents. After reflection and contemplation, I recognize its profound significance. Concepts such as impermanence, non-self, suffering, and impurity are also aspects of the Unchanging, the Blissful, the Essence of self, and True purity, yet they are often misinterpreted due to the delusions we experience in our dreams.
With the Vimalakirti Sutra, I learned that the Buddha realm is not distant; it resides within the mind. When our mind is pure, the Buddha realm is pure. Conversely, if our mind is impure, we perceive obstacles such as hills, pits, and thorns all around us. However, when the mind is pure, the landscape transforms into a vast, majestic, and beautiful expanse, illuminated by golden light everywhere.
I also learned that expedient means must be accompanied by wisdom. Prajnaparamita is the mother of Bodhisattvas, while the appropriate application of expedient means is the father. One must first possess Prajnaparamita; only then can one effectively apply expedient means.

I have learned that Bodhisattvas do not immerse themselves in meditation to the extent of neglecting life; rather, they must empathize with the endless suffering of all living beings. Consequently, Bodhisattvas practice the principle of emptiness without viewing emptiness as an achievement, and they embrace the principles of formlessness and actionlessness without considering formlessness and actionlessness as accomplishments.
I have come to understand that perceiving the mind can be quite challenging. How can one achieve peace of mind? The most effective approach is to connect with it through the body. Therefore, emulating Vimalakirti’s experience of illness is a valuable method. In sickness, all individuals are equal; there is no discrimination. Everyone stands on equal ground before sickness! Vimalakirti emphasized that this body cannot be trusted; it is not mine, it is not me, and it is not a self belonging to me. Instead, one must recognize the Buddha body, which refers to the Dharma body.

I have come to understand that living beings are illusions crafted by the magician—ourselves. This magician is also a living being. We are nothing more than reflections in a mirror, like the moon’s image on water, or the fleeting footprints of birds in the sky.
I have learned that the four Maras are our constant companions, always by our side to assist us. The Mara of afflictions surrounds us, reminding us that there are forty-eight thousand ways to escape our suffering. The Mara of the five aggregates serves as a friend, reminding us that the trivial distractions that disturb us are merely temporary combinations. The Mara from the heavens acts as a warning: do not be delusional! Finally, the Mara of death is a close companion who has been with us since we were in our mother’s womb.

I have discovered a fragrance that endlessly nourishes both the body and mind, and that fragrance is Virtue. Only this scent can soar high, travel far, and defy the wind.

…. () ….

Looking back on my challenging journey of learning Buddhism, I realize that I can create a visual reminder to help me remember my experiences.

The Lotus Sutra is the essence and foundation of Buddhist teachings. The Master has revealed a profound secret, one that the Buddhas of the past have kept hidden until now. It is only in this time that Shakyamuni Buddha has allowed us to perceive and understand the Tathagata. From this understanding, we can realize the Buddha’s perspective and learn to live in harmony with it. This realization brings us ease and freedom, aligning us with the Dharma. At that time, we will live according to our circumstances, understanding that all beings originate from the same Tathagata-garbha, sharing the same Tathagata-womb.
It is as it is, without beginning or end. Interacting from the Tathāgatagarbha to form the dharma realm within the infinite universe. With the cultivation of Prajñā wisdom, we are no longer ensnared by distinctions, contrivances, or the intertwined and entangled dependencies that obscure our perception of Suchness.
Only when we recognize and understand this will we gain the confidence to be at ease, completely free, and accountable for our own circumstances and karma, without blaming or depending on others. We learn to turn inward, relying on ourselves, and realize that once we have purified our minds, they return to their original state of purity. It is as if we are being guided by Samantabhadra Bodhisattva into the Vairocana Palace, which represents our own Dharma body.
Finally, the Vimalakirti Sutra embodies the Buddha’s aspiration to reach every individual and every aspect of life, aiming to establish a Buddha realm—a dharma realm characterized by equality, joy, and happiness for all of humanity!

(translated by Nguyên Giác)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 3: Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?

23/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 3: Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?

Đỗ Hồng Ngọc

translated by Nguyên Giác

 

blank
Tranh: Nguyên Giác

Đó là một câu chú, một “đà-la-ni” của riêng tôi mỗi buổi sáng sớm khi ngồi xuống… “diện bích”! Tôi nói diện bích vì chỗ tôi ngồi… thiền cách vách tường chưa tới một mét do nhà chật hẹp quá. Dĩ nhiên thiền không cứ phải là ngồi. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được. Nhưng ngồi thì… vui hơn, có lý hơn ! Tôi không ngồi được kiết già, bán già như truyền thống thì ngồi kiểu của… tôi, cũng như có kiểu ngồi của Tây Tạng, kiểu ngồi của Nhật bổn và kiểu ngồi của người Tây phương… Kiểu nào cũng tốt cả ! Từ hơn 25 năm nay, sáng nào tôi cũng ngồi cái gọi là thiền định của mình – vì không theo một trường phái nào cả, mà chỉ nắm nguyên tắc thiền Anapanasati mà Phật đã dạy từ thuở ban đầu, trong đó đã bao gồm cả thiền chỉ và thiền quán- chừng 30-40 phút, sau đó kết hợp với các động tác  thể dục nhẹ chừng 30 phút nữa mà tôi cũng coi là một thứ thiền « động », một cách « xả thiền » đó vậy. Mỗi động tác thể dục đều tác động trên từng « cơ, xương, khớp » của thân, sau thời gian tĩnh lặng, lắng nghe cái tâm mình lằng nhằng cỡ nào, và làm sao cho nó chịu yên tịnh.  Tôi thấy sức khỏe mình có tốt hơn lên, sức làm việc bền bĩ hơn, trí nhớ có phần tốt hơn… Hôm nào không ngồi thiền và tập thể dục như vậy thì thấy uể oải. Lâu ngày tôi thấy mình như « ghiền » vậy. Tôi viết một bài vè để giúp trí nhớ và giấu kỹ, luôn bắt đầu bằng với «đàlani»: Thả lòng toàn thân thả lỏng chưa

Bài vè đó thế này:

Thả lỏng toàn thân
Như treo móc áo
Ngồi xếp bằng tròn
Vai ngang lưng sổ
Dõi theo hơi thở
Như mượn từ xa
Khi vào khi ra
Khi sâu khi cạn
Chú tâm quãng lăng
Pranasati
Hơi thở xẹp xì
Thân tâm an tịnh
Không còn ý tưởng
Chẳng có thời gian
Hạt bụi lang thang
Dính vào hơi thở
Duyên sinh vô ngã
Ngũ uẩn giai không
Từ đó thong dong
Thõng tay vào chợ…
(Đỗ Hồng Ngọc)

Thả lỏng toàn thân/ Như treo móc áo
Động tác thả lỏng toàn thân rất quyết định trước khi vào thiền. Vào thiền mà còn căng cứng thì hỏng bét. Cho nên tự hỏi mình thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa là hết sức cần thiết. Khi thả lỏng toàn thân như vậy, ta đã bềnh bồng trôi đi, không còn có ta có người có chúng sanh có thọ giả gì nữa thì được. Nếu thực sự thả lỏng được thì tức khắc ta đã giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể. Chim không cần vỗ cánh bay mà chỉ lượn nhẹ nhàng.

Nhưng thả lỏng cách nào?

Có người nói thả lỏng toàn thân như xác trôi trên sông bồng bềnh. Coi thân như cái túi da hôi, coi thân như xác trôi sông…Theo tôi, tốt hơn nên coi thân là cái áo, móc lên cái móc áo, lùng nhùng rủ xuống.  “Thay như thay áo”  bởi cái áo thì không vĩnh cửu, nó “vô thường”, nó cần được thay. Coi thân như cái áo móc trên móc áo thì thân sẽ tòng teng buông xả hoàn toàn, thả lòng hoàn toàn tấm thân tứ đại ngũ uẩn rồi vậy. Chỉ cần vậy, đã đủ vào thiền.  Thả lỏng, không còn cơ nào nào căng nữa, không còn dây thần kinh nào phải hoạt hóa nữa. Biết rằng sự căng cơ, tonus musculaire là cần thiết để giữ vững bộ xương, cho cơ thể  hoạt động, đã tiêu tốn gần 40% năng lượng của cơ thể. Khi thả lỏng, khi treo lên “móc áo” thì năng lượng căng cơ không cần phải tiêu tốn nữa. Người đã nhẹ hẫng đi: thân nhẹ nhàng như mây (TCS)!

Ngồi xếp bằng tròn/ Vai ngang lưng sổ
Ngồi kiểu nào cũng được, ngồi trên ghế cũng được, nhưng nếu xếp bằng tròn được càng hay. Nó vững. Nó như kiềng ba chân. Mặc ai nói ngữa nói nghiêng. Cho nên cần có tinh tấn và nhẫn nhục là vậy. Không nhẫn nhục thì dễ bỏ cuộc. Bị chê cười mai mỉa thì bỏ cuộc. Ai cười mặc, cứ “lì” là xong! Ngồi xếp bằng còn giống cái tháp. Tháp báu. Ở trong tháp báu đó có Như Lai Đa Bảo tủm tỉm cười. Người ngồi thiền kiểu này dễ thấy Như Lai Đa Bảo của mình hơn. Đó là một cái xác khô, toàn là đất nước gió lửa C,H,O,N và các nguyên tố đồng chì sắt kẽm, Mangan, Ma nhê, Phospho, vôi vữa các thứ…  Nó là báu, vì nó dùng để tạo dựng nên một sinh vật khác, có thể là cỏ cây hoa lá, có thể là sinh vật muôn loài và có thể là cái ta tái sinh. Ngồi trong tháp báu là “nhập thất” vào chính thân xác mình. Vai ngang lưng sổ để nhắc mình giữ thẳng lưng, ngang vai, nếu không thì ngôi nhà sẽ khụy, sẽ vẹo.

Yếu tố ‘thẳng lưng’ rất quan trọng.

Dõi theo hơi thở/ Như mượn từ xa
Dõi theo không phải là theo dõi. Dõi theo thì nhẹ nhàng sảng khoái. Nó sao thì thấy nó vậy, không phê phán. Còn theo dõi thì căng thẳng, dò xét, lo âu, hồi hộp. Tại sao không dõi theo gì khác mà dõi theo hơi thở? Vì hơi thở dễ thấy nhất, dễ dõi theo nhất. Nó nằm ngay dưới mắt, nó nằm ngay ở mũi. Mà lúc nào cũng có nó, bất cứ ở đâu, bởi ở đâu và chỗ nào mà chẳng thở? Chọn một đối tượng khác để “quán sát” cũng được, nhưng chọn hơi thở thì tiện hơn. Nó gắn liền với thân. Mệt bỡ hơi tai, mệt gần tắt thở. Nó lại gắn liên với tâm, lúc hồi hộp lo sợ thì thở khác với lúc an vui. Nó vô thường. Hơi thở là sợi dây nối kết thân với tâm. Nó lại quyết định sự sống. Đời sống chỉ là một hơi thở không hơn không kém. Hết thở, ngưng thở là chết. Nó ở ngoài ta. Nó cóc cần ta. Cho nên dõi theo nó cũng thấy ra nhiều điều ngộ nghĩnh. Đầu tiên là nó chẳng phải của ta. Nó ở đâu đó trong không gian, trong vũ trụ. Nó chứa Nitrogen và Oxygèn cùng một số khi linh tinh khác. Ta cần Oxy để oxyt hóa thức ăn mà tạo ra năng lượng cho sự sống. Không thở thì chết. Thế nhưng có những sinh vật sống chẳng cần O2 như cỏ cây, lại có những sinh vật sống đời sống yếm khi, thí dụ loại vi trùng clostridium, khi thiếu O2 nó sống trong một vỏ bọc dày gọi là “bào tử”, co cụm lại và không chết. Đợi đủ điều kiện thì bung ra. Người ở trong thiền định, phải chăng đã sống như trong một “bào tử”? Chữ “mượn’ cho thấy là tạm bợ, đến lúc nào đó thì phải trả lại thôi.

Khi vào khi ra/ Khi sâu khi cạn
Hơi thở vào thì biết vào, ra thì biết ra, sâu thì biết sâu, cạn thì biết cạn… Tóm lại, dõi theo để « biết » nó vậy. Nó vào nó ra nó sâu nó cạn. Không cần giượng cầu, không cần ép uổng, nào phải hít cho thiệt sâu, nào phải thở cho thiệt chậm, thiệt đều. Còn lâu ! Cứ thong dong. Nó sao kệ nó. Cứ tự nhiên, Cứ thong thả. Cứ bình thường. Không cần phải ráng sức. Vấn đề chính là “dõi theo” nó. Cho đến một lúc, cũng chẳng cần biết nó vào nó ra nó sâu nó cạn ra sao. Nó mặc nó. Ta mặc ta. Ta đã hòa tan, đã tan biến với nó. Ta còn « không ta » làm sao thấy nó nữa cơ chứ? Ta chỉ mượn tạm ở giai đoạn đầu để dẫn ta vào « định ». Trong định, vượt cả tầm cả tứ, cả hỷ cả lạc, cả xả niệm lạc trú, vào thẳng  xả niệm thanh tịnh nếu có thể. Và vượt qua nữa. Gaté, Gaté, Para gaté… Trong kinh Tứ niệm xứ (Satipathana) Phật đã nói rõ. Đây là con đường trực tiếp dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn… Từ Tứ niệm xứ, giản đơn thành thân hành niệm và từ thân hành niệm, giản đơn hơn nữa thành Anapanasati, An-ban thủ ý, thở chánh niệm, quán niệm hơi thở. Con đường càng lúc càng giản đơn mà tuyệt diệu của bậc Y vương.

Chú tâm quãng lặng/ Pranasati
Như trong bản nhạc có những quãng lặng cần thiết, hai nhịp, bốn nhịp… Thở cũng vậy. Giữa thở vào và thở ra có một quãng lặng ngắn. Giữa thở ra và thở vào có một quãng lặng dài hơn. Đó là giai đoạn ngưng nghỉ. Những người tập khí công có thể điều khiển nhịp thở thành ba thì hoặc bốn thì. Ở đây chỉ nói người bình thường thì cần đặc biệt chú ý thì thở ra. Thở ra không cần năng lượng. Thở vào thì cần năng lượng. Cho nên trước khi thở vào cần một chút ngưng nghỉ để tập trung năng lượng. Trên thực tế, khi áp suất ở phổi bằng 0 (bằng không) thì khí bên trong phổi và bên ngoài phổi hoàn toàn không phân biệt, ở đó đã có sự hòa nhâp làm một với không gian và thời gian cũng không còn. Chỉ có sự tĩnh lặng. Người thiện xảo trong thiền có thể kéo dài quãng lặng này dài ra, nối các quãng lặng với nhau thành một quãng dừng. Quãng dừng này chính là giai đoạn người ta đã sống trong bào thai, trở về  bào thai Như Lai, Như Lai tạng. Dĩ nhiên vẫn có những nhịp thở rất nhẹ nhưng  không hề có sự nhích lên xuống của cơ hoành. Hình như người ta thở qua da (trong Phôi thai học – Embryology- thì da và phổi có cùng nguồn gốc). Những bậc thiền sư ở giai đoạn tứ thiền (xả niệm thanh tịnh) có lẽ đã ở trạng thái này.
Prana chính là quãng lặng đó. Pra là trước, ana là thở vào. Prana là « trước khi thở vào », hay nói đúng hơn, trước khi thở. Nó chính là bào thai trong bụng mẹ, không cần phải thở.  Các tài liệu cổ xưa gọi Prana là nguồn sống. Sati là niệm, là nhớ nghĩ, là chiêm nghiệm, là quán chiếu. Nhớ nghĩ, quán chiếu giai đoạn « Prana » đó, ta thấy hóa ra nguồn sống là cõi không thở, cõi ngưng thở, cõi trước khi thở…

Anapanasati thi Ana là thở vào, Apana là thở ra, Sati là niệm, nhớ, nghĩ. Phật không nói đến Prana, nhưng trong Yoga có Pranayama, « kiểm soát prana ». Không nói đến là để mỗi người tự phát hiện, tự điều chỉnh, tự kiểm soát.

Chữ OM (trong Om Mani Padme Hum) thì theo nguyên ngữ, chữ OM viết là AUM: A thở vào, U thở ra, M quãng lặng đó vậy!

Hơi thở xẹp xì/ Thân tâm an tịnh
“Xẹp xì” là đúng. Cơ thể vốn lúc nào cũng căng cứng, căng phồng, ( tonus musculaire, sự căng cơ thường trực để giữ tư thế) gây mệt mỏi và tốn hao năng lượng nhiều lắm. Bây giờ ở  quãng lặng… ta được nghỉ ngơi. Cũng giống như khi làm việc mệt mỏi, căng thẳng, ta kêu « nào, xả hơi một chút đi » thì thấy khỏe ra. Xả, xẹp, xì, xọp… chính là tạo nên trạng thái tĩnh lặng, an tịnh. An tịnh cả thân và tâm. Còn lăng xăng, còn « trạo cử » thì không thể ngồi yên. Còn ngủ gà ngủ gật (thụy miên) cũng không xong, vì phải luôn «chánh niệm, tỉnh giác ». Tham nổi lên, sân nổi lên, nghi nổi lên, cùng với thụy miên, trạo cử vốn là năm thứ cản ngại trong thiền! Thực tế, khi ngủ, cơ thể ta cũng đã giảm tiêu hao năng lượng đáng kể, giảm được 50%, chỉ còn chuyển hoá cơ bản. Thế nhưng, ngủ vẫn tốn năng lượng khi chiêm bao, cũng mệt mỏi toát mồ hôi hột như thường, không kể còn trằn trọc, lăn qua, lộn lại hoài không ngủ được. Thiền nếu đúng, giảm đến 40% năng lượng dành cho căng cơ và gần 30% năng lượng dành cho hoạt động não bộ, nói khác đi, thiền đúng cách đã tiết giảm đến 70% năng lượng cho cơ thể, do đó, tốt hơn so với giấc ngủ. Phật chẳng cần ngủ và các thiền sư rất ít khi phải ngủ!

Không còn ý tưởng/ Chẳng có thời gian
Ở trạng thái xẹp xì, thân tâm an tịnh đó thì thân đã an, tâm đã tịnh. Một trạng thái “vô ngã” tràn ngập, đâu còn ý tưởng lăng xăng nào nữa. Khi còn ý, khi còn tưởng thì tức khắc còn sanh sự. Và tức khắc có sự nhộn nhạo. Nhưng coi vậy mà rất khó để dứt ý tưởng lăng xăng. Phật mà còn bị Ma vương quấy nhiễu, bao nhiều hình bóng chập chờn, xua đi không dễ ! Cho nên khi thấy những ý tưởng nọ kia xuất hiện cũng là chuyện bình thường thôi. Cứ để tự nhiên. Nó đến rồi nó đi. Đừng có ráng xua đuổi. Càng xua đuổi càng dính mắc, phan duyên. “Chẳng trừ vọng tưởng chẳng cầu chân”. Mặt hồ tĩnh lặng thì không cần ghi bóng hạc bay qua, không cần biết hạc vàng hay hạc đỏ, hạc trống hay hạc mái… Chánh niệm vào hơi thở là cách tốt nhất cắt đứt dòng ý, tưởng lăng xăng, nhộn nhạo. Lúc đầu, ý tưởng tràn ngập, dính mắc triền miên, lâu dần sẽ giảm bớt, đừng ráng xua đuổi, đứng « tham » muốn đạt kết quả này nọ. Trở lại với hơi thở càng nhanh càng có sự tiến bộ.

Khi thân tâm an tịnh, có thể cảm nhận một sự nhẹ nhàng, sảng khoái (thiền duyệt), cũng không cần bám víu. Có thể trong một sát na, cảm nhận trạng thái vô ngã, không thời gian, không không gian, không « ngã nhân chúng sanh thọ giả… ».

Hạt bụi lang thang/ Dính vào hơi thở
Trạng thái đó không dễ, không phải lúc nào cũng có được (có lẽ trừ các vị thiền sư thiện xảo). Còn thì… dễ thấy hơn là hạt bụi « lang thang » rồi dính vào hơi thở mà… sinh sự bấy nay. Thiệt ra không có chuyện tự nhiên mà « dính vào » một cách tình cờ chi đâu. Tất cả đều có « duyên sinh » của nó, có nhân quả của nó. Nó chằng chịt, nó quấn quít với nhau đó. Nó « hẹn nhau từ muôn kiếp trước » cả đó thôi ! Dù là cát bụi tuyệt vời hay cát bụi mệt nhoài gì đi nữa thì nó vẫn phải có nghiệp báo nhơn quả. Tin không tin, tùy. Cứ hỏi tại sao ta có mặt trên cõi đời này ? Cha ta mà không gặp mẹ ta thì ta là ai ? Lúc đó mới thấy cái quấn quít cái chằng chịt, cái duyên sanh, cái này có cái kia có cái này không cái kia không. Tưởng là tình cờ mà chẳng tình cờ tí nào. Người đâu gặp gỡ làm chi đều có cái lý của nó. Nhưng không phải thuyết định mệnh. Mọi thứ vừa chặt chẽ vừa lỏng lẻo. Vậy mới khoái. Vậy mới tự do. Tuyệt đối Tự do. Tự chịu trách nhiệm. « Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa ». Ta chọn nghiệp, cải nghiệp, chuyển nghiệp.

Duyên sinh vô ngã/ Ngũ uẩn giai không
Hiểu được duyên sinh, thấy được vô ngã thì đã « ngộ » phần nào. Vô ngã không thể nói bằng ngôn từ, khái niệm, biện luận. Phải cảm nhận vì nó là một trạng thái tâm. Đến để mà thấy. Tam giác cân Giới Định Huệ, tùy mỗi người tiếp cận tùy căn cơ nhưng nó vốn là một tam giác cân hai chiều tương tác. Cái này sinh cái kia, cái kia sinh cái nọ, hỗ trợ lẫn nhau. Anh chàng bán thịt buông dao mà đến, anh chàng trí thức suy gẫm mà tới, nhưng cả hai đều bước qua Giới, qua Định. Chánh định (Samadhi= Tam muội, Tam-ma-địa ) sẽ dẫn tới Chánh kiến, chánh Tư duy… trên  con đường « Bát chánh đạo ».  Để có Chánh định thì phải đi từ Thiền chỉ (Samatha), Thiền quán (Vipassana)… để thấy thực tướng vô tướng, thấy Như Lai.

Từ đó thong dong/ Thõng tay vào chợ
Đó là nhập. Ngộ rồi phải nhập chứ. Là phải học phải hành. Tri hành hợp nhất. Vào “chợ” một cách thong dong đâu có dễ. Không bị cuốn hút vào bao nỗi lo toan, phiền não đâu có dễ. Cho nên có tám vạn bốn ngàn pháp môn để tùy cơ ứng biến, để giúp mình giúp người. Học được một chút hạnh của Thường Bất Khinh (tôn trọng), của Dược Vương (chân thành), của Diệu Âm. Quán Thế Âm (thấu cảm), của Phổ Hiền, từ bi hỷ xả… đâu có dễ. Rồi còn phải học Duy-ma-cật, huệ phương tiện với phương tiện huệ, phải làm quen với Bất Nhị, với cơm Hương Tích, với trà Tào Khê …

Cõi người ta vốn là nơi hành xứ, thân cận xứ. Không trốn chạy, không buông xuôi. Đâu có dễ mà buông bỏ, mà lạnh lùng.

Đỗ Hồng Ngọc

………………………

 

 Have you relaxed your entire body?

That is my personal mantra, my own dharani, which I recite every morning when I sit down… facing the wall! I mention facing the wall because the space where I meditate is less than a meter away from it, as my house is quite small. Of course, meditation does not have to be done while sitting; it can also be practiced while walking, standing, or lying down. However, I find sitting to be more enjoyable and logical! I cannot sit in the traditional full lotus or half lotus position, so I adapt my own sitting style, just as there are Tibetan, Japanese, and Western approaches to meditation… Any method is valid!

For over 25 years, I have engaged in my personal meditation practice every morning. I do not adhere to any specific school; instead, I focus on the principles of Anapanasati meditation as taught by the Buddha, which encompasses both samatha and vipassana meditation. I typically meditate for about 30 to 40 minutes, followed by approximately 30 minutes of light physical exercises, which I also view as a form of moving meditation, a means to allow meditation to fade away.
Every movement during exercise impacts every muscle, bone, and joint in the body. After a period of silence, I listen to my mind as it rambles and attempt to calm it. I find that my health improves, my work capacity becomes more resilient, and my memory is enhanced somewhat. When I neglect to meditate and exercise in this way, I feel lethargic. Over time, I have come to feel somewhat addicted to these practices. To aid my memory, I wrote a poem and concealed it carefully, always beginning with the dhāranī: Is your whole body relaxed?

The rhyme goes as follows:

Relax your whole body,
like hanging a coat hanger.
Sit cross-legged,
keep your shoulders level, your back straight,
and follow your breath,
as if borrowing air from afar.
Breathe in, then out,
sometimes deep, sometimes shallow.
Pay attention to the gaps between breaths.
Pranasati
The breath shrinks and deflates;
the body and mind are peaceful and pure.
No thoughts arise.
Time seems to vanish.
A speck of dust drifts,
clinging to the breath.
Because of dependent origination, there is no self.
And therefore, the five aggregates are all Empty.
Once you realize this truth, you will feel at ease
and be able to walk into the market with open arms.
(Verse by Đỗ Hồng Ngọc)

Relax your whole body, like hanging a coat hanger

The act of relaxing the entire body is crucial before entering meditation. If you begin meditation while still tense, it can lead to a negative experience. Therefore, it is essential to ask yourself whether you have fully relaxed your body. When you achieve this state of relaxation, you begin to drift away; there is no longer a sense of self, no other individuals, no living beings, and no concept of a lifespan. If you can genuinely relax, you will significantly reduce your energy consumption. Just as birds do not need to flap their wings to fly, they simply glide effortlessly.
How can I relax?

Some people suggest relaxing the entire body as if it were a lifeless corpse floating down a river. They encourage viewing the body as a decaying skin bag or a floating cadaver. However, I believe it is more beneficial to perceive the body as a shirt hanging on a hanger. Just as a shirt is not eternal and requires changing, so too does the body. By considering the body as a shirt on a hanger, one can fully release attachment to the physical form and the four elements and five aggregates. This perspective is sufficient to facilitate entry into meditation.

Relax; no more muscles are tense, and no more nerves need to be activated. Understanding that muscle tension, or tonus musculaire, is essential for maintaining skeletal stability and overall bodily function has consumed nearly 40% of the body’s energy. When relaxed, as if hanging on a hanger, the energy expended on muscle tension is no longer necessary. When one achieves a state of lightness, the body feels as light as a cloud (TCS)!

Sit cross-legged, keep your shoulders level, your back straight

Sitting in any position is acceptable, even on a chair; however, crossing your legs in a circle is even better. This position provides stability, much like a tripod. Regardless of what others may say, it is important to remain diligent and patient. Without patience, it is easy to give up, especially if you face ridicule or mockery. No matter who laughs, stay patient, and you will succeed! Sitting cross-legged resembles a tower—a treasure tower. Within this treasure tower resides Tathagata Prabhutaratna, who smiles upon those who meditate in this manner. Practitioners can easily connect with Tathagata Prabhutaratna. This connection is akin to recognizing the physical body, which is composed entirely of earth, water, wind, fire, and the elements: carbon, hydrogen, oxygen, nitrogen, as well as copper, lead, iron, zinc, manganese, magnesium, phosphorus, lime, and others.

It is a treasure because it is used to create another living being, whether that be grass, trees, flowers, or even ourselves being reborn. Sitting in the treasure tower is akin to “entering seclusion” within your own body. Your shoulders should be level, and your back straight, serving as a reminder to maintain proper posture; otherwise, the structure will become unstable and crooked.

The concept of a ‘straight back’ is crucial.

Follow your breath, as if borrowing air from afar

Following is not spying; it is light and refreshing. It involves observing things as they are, without judgment. In contrast, spying is tense, probing, anxious, and nervous. Why not focus on something else instead of the breath? Because the breath is the easiest thing to observe and follow. It is right under our noses, always present, as we cannot escape the necessity of breathing. While you can choose another object to observe, focusing on the breath is more convenient since it is intrinsically linked to the body. When you are tired and exhausted, you may feel almost out of breath. The breath is also connected to the mind; when you are nervous or afraid, your breathing differs from when you are happy. It is impermanent. The breath serves as the thread that connects the body to the mind and is essential to life. Life is merely a breath—nothing more, nothing less. When you stop breathing, you cease to live. The breath exists independently of us; it does not rely on us. Thus, following it can reveal many intriguing insights.
First of all, breath is not inherently ours; it exists somewhere in space, within the universe. It consists of nitrogen and oxygen, along with various other gases. We require oxygen to oxidize food and generate energy essential for life. Without breathing, we cannot survive. However, some living organisms do not need oxygen, such as plants, and there are also anaerobic organisms, like Clostridium bacteria, which can thrive without oxygen. These bacteria form a thick protective shell called a spore, allowing them to clump together and remain dormant. When conditions become favorable, they can emerge from this state. Are people in meditation experiencing a state similar to that of a spore? When we say that breathing borrows air, it indicates that this process is temporary and that, at some point, the air must be returned.

Breathe in, then out, sometimes deep, sometimes shallow

When you breathe in, you are aware of inhaling; when you breathe out, you recognize exhaling. When you breathe deeply, you know it is deep; when you breathe shallowly, you are aware of its shallowness. In essence, simply observe your breath: it comes in, it goes out, it is deep, and it is shallow. There is no need to force it, to inhale deeply, or to breathe slowly or evenly. Don’t rush! Just take it easy. Whatever it is, allow it to be. Be natural, be relaxed, and be yourself. There is no need to exert effort. The key is to follow your breath. For a time, you need not concern yourself with how it enters, how it exits, or how deep or shallow it is. Let it be. Let me be. I have dissolved and disappeared into it. If I am not even myself, how can I perceive it? I only temporarily borrow this awareness in the initial stage to guide me into concentration.

In concentration, if possible, you will pass through placing the mind, passing through keeping it connected, passing through rapture, passing through bliss, passing through ‘equanimous and mindful, one meditates in bliss’ and entering the place of ‘pure equanimity and mindfulness.’ And passing through more. Gate Gate Pāragate…
In the Sutra on the Four Foundations of Mindfulness, the Buddha clearly said that this is the direct path leading to the purity of living beings, the elimination of suffering and sorrow, the attainment of right wisdom, and the realization of Nirvana. The Four Foundations of Mindfulness can be distilled into mindfulness of the body, and further simplifying this leads to Anapanasati, the practice of mindful breathing and contemplation of the breath. The path becomes increasingly simple and profound, as taught by the King of Medicine.

Pay attention to the gaps between breaths / Pranasati

In music, there are essential pauses—two beats, four beats, and so on. The same principle applies to breathing. Between inhaling and exhaling, there is a brief pause, while the interval between exhaling and inhaling is longer; this is known as the resting period. Qigong practitioners can control their breathing in three or four phases. However, here we are focusing on the average person, who should pay particular attention to exhaling. Exhaling does not require energy, whereas inhaling does. Therefore, before inhaling, it is important to pause briefly to concentrate our energy.
In fact, when the pressure in the lungs is zero, the air inside and outside the lungs becomes indistinguishable, resulting in a fusion with space and time. In this state, there is only silence. A skilled meditator can extend this silence, connecting the moments of stillness into a pause. This pause represents a return to the womb, akin to the Tathagata womb, or Tathagata-garbha. While there may still be very light breaths, there is no movement of the diaphragm. It feels as though one breathes through the skin, as both the skin and lungs share the same embryonic origin according to Embryology. Meditation masters who reach the fourth absorption, characterized by pure equanimity and mindfulness, likely experience this state.
Prana represents silence. The word Pra means before, and the word ana means to breathe in. Prana is the state preceding inhalation, or more precisely, the stage before breathing. It is akin to the fetus in the mother’s womb, which does not require breathing. Ancient texts describe Prana as the source of life. Sati encompasses mindfulness, remembrance, contemplation, and observation. When we remember and contemplate the state of Prana, we recognize that the source of life exists in the realm of no breathing, the realm of apnea, the stage before inhalation.
In the word Anapanasati, Ana is breathing in, Apana is breathing out, and Sati is mindfulness, remembering, and thinking. Buddha did not mention Prana, but in Yoga there is Pranayama, controlling Prana. Not mentioning is for each person to discover, adjust, and control themselves.

The letter OM (as found in the phrase Om Mani Padme Hum) is represented as AUM according to the original terminology: A signifies inhalation, U represents exhalation, and M denotes silence.

The breath shrinks and deflates; the body and mind are peaceful and pure.

The breath shrinks and deflates. The body remains tense and bloated (muscle tone: constant muscle tension to maintain posture), which leads to fatigue and depletes energy. Now, during this pause, we can rest. Just as we often say, when we feel tired and stressed from work, we can experience relief. Letting go, deflating, and releasing tension creates a state of stillness and tranquility—peace for both body and mind. If there is lingering agitation and restlessness, we cannot sit still. Similarly, if we are drowsy and dozing, we cannot achieve this state either, as we must remain mindful and alert. Greed, anger, doubt, drowsiness, and restlessness are the five obstacles to meditation!
In fact, when we sleep, our bodies consume significantly less energy—reducing energy expenditure by 50%—leaving only the energy required for basic metabolism. However, sleep still consumes energy during dreaming, and it can be just as exhausting and sweaty as being awake, especially when tossing and turning and struggling to fall asleep. When practiced correctly, meditation can reduce energy expenditure by up to 40% related to muscle tension and nearly 30% related to brain activity. In other words, proper meditation can save up to 70% of the body’s energy, making it more efficient than sleep. The Buddha is said to have transcended the need for sleep, and meditation masters often require very little sleep.

No thoughts arise; Time seems to vanish.

In a state where you feel shrunk and deflated, both the body and mind can find peace; the body is at rest, and the mind is quiet. A sense of egolessness prevails and wandering thoughts dissipate. When thoughts linger and perceptions arise, something is inevitably happening, leading to disturbance. However, it is challenging to halt these wandering thoughts. Buddha was once harassed by the Devil, surrounded by many flickering shadows that were difficult to dispel. Therefore, when you notice these thoughts surfacing, it is entirely normal. Allow them to exist without resistance; they will come and go. Do not attempt to chase them away. The more you pursue them, the more you become attached and confused. There is no need to eliminate delusions or to seek the truth.
The tranquil surface of a lake does not need to cling to the reflection of a crane flying by, whether it is a yellow crane or a red crane, a male crane or a female crane. Practicing mindfulness through breathing is the most effective way to interrupt the flow of wandering, restless thoughts. Initially, these thoughts may feel overwhelming and persistent, but with time, they will diminish. Avoid the temptation to chase them away or to become fixated on achieving specific results. The quicker you return your focus to your breath, the more progress you will make.

When the body and mind are calm and tranquil, you may experience a sense of lightness and comfort through the enjoyment of meditation. However, it is important not to cling to that feeling. In that moment, you might encounter a state of selflessness—where there is no time, no space, no self, no others, no living beings, and no lifespan.

A speck of dust drifts, clinging to the breath

The state just mentioned is not easy to achieve and is not always possible, except perhaps for skilled meditators. Otherwise, it is easier to observe how a speck of dust drifts and clings to the breath, leading to the emergence of various phenomena. In reality, there is no such thing as a natural or accidental attachment; everything has its own causes and effects. It is entangled and intertwined, shaped by countless previous lives. Whether it is delightful dust or burdensome dust, it still carries karmic consequences.

Believe it or not, the choice is yours. Consider asking why we exist in this world. If our father had never met our mother, who would we be? Only then can we perceive the entanglement, the intertwining, and the principle of dependent origination: this exists, that exists; this does not appear, that does not appear. It may seem like a coincidence, but it is not a coincidence at all. People meet for a reason, yet this is not fatalism. Everything is both interconnected and fluid. That is remarkable. That is freedom—absolute freedom. It entails self-responsibility. Do not blame the heavens above or the heavens beyond. We choose our karma, correct our karma, and transform our karma.

Because of dependent origination, there is no self.
And therefore, the five aggregates are all Empty.

When you comprehend the law of dependent origination and perceive selflessness, you attain a state of partial enlightenment. Non-self cannot be adequately expressed through words, concepts, or arguments; it must be experienced, as it represents a state of mind. Come and see. The balanced triangle of Precepts, Concentration, and Wisdom, which varies according to each individual’s approach and capacity, forms an inherently balanced structure with two interdependent directions. This interplay gives rise to one aspect, which in turn leads to another, with each element supporting the other.

The butcher set down his knife and approached, while the intellectual contemplated and came. However, both had to navigate through the Precepts and Concentration. Right Concentration will lead to Right View and Right Thinking on the path of the Noble Eightfold Path. To achieve Right Concentration, one must progress from Samatha Meditation to Vipassana Meditation in order to perceive the true nature, which is formless, and to recognize the Tathagata.

Once you realize this truth, you will feel at ease
and be able to walk into the market with open arms.

That is the process of entering. Once enlightened, one must take the step to enter. It is essential to learn and practice, as knowledge and practice are interconnected. Approaching the market with ease is challenging. Remaining free from worries and troubles is also difficult. Therefore, there are eighty-four thousand methods available to adapt to various situations and to assist oneself and others.
Learning about the virtues of Bodhisattva Never Disparaging (respect), Bodhisattva Medicine King (sincerity), Bodhisattva Wonderful Sound, Bodhisattva Avalokiteshvara (empathy), Bodhisattva Samantabhadra, as well as compassion, kindness, joy, and equanimity, is not an easy task. Additionally, one must also explore Vimalakirti’s skillful wisdom, become accustomed to the concept of non-duality, and appreciate Hương Tích rice and Tào Khê tea.

The human world is fundamentally a realm of practice and affection. Do not flee; do not surrender. It is not easy to relinquish this world so coldly.

Đỗ Hồng Ngọc
Translated by Nguyên Giác

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 4: Học cách Phật dạy

23/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 4: Học cách Phật dạy

Đỗ Hồng Ngọc

 

Tôi học Kim Cang không ngờ cũng thấy “ghiền” như khi học Tâm Kinh Bát Nhã ngày trước. Đôi khi giật mình, đôi khi sửng sốt, đôi khi bỡ ngỡ, đôi khi chưng hửng. Các kinh sách dù có nhiều truyền bản, nhưng rõ ràng là có một sự nhất quán, xuyên suốt, chỉ khác cách tiếp cận tùy “đối tượng đích” mà cách truyền đạt khác nhau chớ nguyên lý vẫn là một. Nắm được cái cốt lõi có thể bớt hoang mang, thấy được “chỗ vào” chăng?

Cái điều bỡ ngỡ và chưng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng được đọc, được nghe những lời hay ý đẹp, những khuôn vàng thước ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn mặc áo, ôm bình bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng, chẳng thèm ra oai tằng hắng lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hằng ngàn người, cả các vị Đại Bồ Tát, A La Hán, các vị “chức sắc” và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo huấn sâu xa thì Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm bình bát, vào thành khất thực. Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi mới ung dung trở lại “hội trường,” bày ra ăn, ăn xong, thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩ là … nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ! Tôi tưởng tượng lúc đó nếu mình cũng đang ngồi xớ rớ đâu đó, bên ngoài hành lang, dự thính, chờ nghe những lời thuyết giảng mà phát tức anh ách, cảm thấy hẫng, thất vọng. Bỗng dưng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông như mọi người bỗng ông đứng phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: Thật tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xưa nay chưa từng có! Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo trao truyền, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay! Lúc đó thì quả thực mới bùng nổ bài học vừa được truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó thì sự chưng hửng đã trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, nãy giờ không để ý, không theo dõi kỹ bài giảng không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những người không để ý quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc!
Phật có cách dạy riêng của Ngài: không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một phương pháp giáo dục rất mới mà bây giờ người ta gọi là “demonstration,” tức là biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại. Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trước, nói sau. Hoặc cũng chẳng cần nói. Ta hiểu vì sao các vị thiền sư thường bắt học trò chẻ củi, nấu cơm, gánh nước, trồng rau, giã gạo… mà chẳng thèm dạy lấy một lời. Cho đến lúc nào học trò tự phát hiện ra một điều gì đó bức xúc trong tâm thì mới dạy, cũng bằng một cách kỳ cục nào đó: có khi lật thuyền, có khi gõ đầu, có khi trả lời trớt quớt, có khi hỏi ấm ớ kiểu ông đưa tâm đây tôi an cho, làm cho học trò ngớ ra rồi… sực tỉnh cơn mê! Cuối khoá học, trò cũng không nhận được một bằng cấp nào của thầy để khoe, thầy cũng chả có gì để trao cho trò. Bới “Cái đó” sẵn có trong trò, thầy chỉ giúp trò tự phát hiện, tự chứng nghiệm, tự “giải quyết” lấy vấn đề của mình. Đó gọi là tham vấn (counselling), một phương cách trị liệu tâm lý học và y học ngày nay. Người làm tham vấn ví như cô mụ đỡ đẻ, giúp bà mẹ có được cuộc đẻ mẹ tròn con vuông chớ không thể đẻ thay bà mẹ. Đứa con có sẵn trong bụng mẹ rồi.
Trờ lại bài học, mọi người giật mình, sửng sốt nhớ lại thì mới hay Phật muốn dạy mình bài học đầu tiên: đói thì ăn, khát thì uống. Tới giờ ăn thì phải lo ăn. Ai nói không cần ăn là người không biết sống, hoặc giả dối. Gần hai ngàn năm sau, Trần Nhân Tông, ông vua nhà Trần ở nước ta, vị thiền sư sáng lập phái Trúc Lâm Yên Tử cũng nói trong bài Cư Trần Lạc Đạo: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên (Đói thì ăn, mệt thì ngủ.) Phật tới giờ ăn mà còn phải lo mặc áo, xách bình bát đi khất thực, huống là ta! Điều đáng để ý ở đây, một bậc Thế Tôn như Đức Phật, chỉ cần nói một tiếng, không thiếu món ngon vật lạ cúng dường! Thị giả hẳn đã lo bữa cơm tươm tất cho Phật đâu đó rồi, chờ Phật thuyết giảng xong thì vào ăn. Nhưng không. Phật đã tự đi kiếm ăn lấy một mình. Không nhờ vả đến ai. Không ăn thức ăn dọn sẵn ngon lành, mà tự mình làm đúng những điều mình đã dạy. Cho nên không giật mình, sửng sốt sao được! Nhiều vị “chức sắc” có mặt hẳn … hết hồn nhìn lại mình, nào đệ tử cung phụng, nào bày biện các món ăn tuy là chay mà cũng “sơn hào hải vị” không kém! Ngày nay ta còn thấy có nhiều thức ăn chay giả giống hình con tôm, con cá, đùi gà… thật là đáng ngại! Giật mình, sửng sốt còn bởi vì Phật, địa vị cao nhất, bậc Thế Tôn kia, có hằng chục “chức danh” lừng lẫy mà vẫn giản dị làm sao, vẫn đi chân trần từng bước thanh thoát, vẫn bưng bình bát đi khất thực giữa nắng trưa để có cái ăn, có gì ăn nấy. Phật đi khoan thai, tự nhiên, mỗi bước đều chánh niệm, không “dính mắc” gì với chung quanh mọi người đang xì xầm hay bàn tán về mình, kẻ khen người chê mình. Ngài chỉ thở vào thở ra trên từng bước đi, ung dung, nhẹ nhàng, sảng khoái. Phật cũng không chọn các nhà giàu để đến khất thực hoặc chọn nhà nghèo dễ chịu hơn, hoặc những nhà quen biết cho chắc ăn, Phật cứ ung dung lần lượt đi từng nhà, từng nhà, bởi vì đâu có cần phải phân biệt, đâu có cnầ giúp riêng người giàu hay người nghèo. Ai cũng có vấn đề, ai cũng “khổ” như nhau thôi. Người nghèo khổ nghèo, người giàu khổ giàu! Có điều sau một vài tiếng đồng hồ đi bộ để khất thực như vậy thì món ăn nào cũng trở thành “cao lương mỹ vị,” nếu được ăn trong chánh niệm, được nhai kỹ từng chút một thì thức ăn nào cũng ngon, cũng dễ tiêu hoá. Hình như cái bình bát cũng vừa lớn đủ đựng thức ăn cho một người thôi, để không quá dư, không thừa mứa.

Ngày nay ít thấy cảnh khất thực, nhất là ở các đô thị, thành phố, thế nhưng khi ta có dịp thấy một người mặc áo ca sa, mang bình bát, từng bước ung dung, chánh niệm, đi khất thực từng nhà, từng nhà, ta không khỏi khâm phục vị Thầy từ ngàn xưa, và tự dưng trong lòng thấy cảm động. Ngày nay dù không còn phải đi khất thực từng bữa nữa, nhưng việc đi bộ hằng ngày vài tiếng đồng hồ cũng luôn rất cần thiết cho sức khoẻ; thức ăn đơn giản, nhiều rau, nhiều đậu, ít béo, ít đường, ít mặn, không quá dư cũng đã rất tốt cho sức khoẻ. Đặc biệt là ăn trong trạng thái ung dung, thư giản, một không khí an lành, với niềm vui có được bữa ăn vừa đủ, không cầu kỳ, không thừa mứa, thì bữa ăn nào cũng trở nên ngon, lành mạnh, khoẻ khoắn. Ăn xong, Phật thu dọn y bát đâu đó gọn gàng, rửa chân sạch sẽ rồi mới vào ngồi tĩnh toạ. Điều đáng để ý ở đây là không phải ăn xong thì đi… ngủ hoặc bắt đầu tranh luận căng thẳng mà là ngồi tĩnh toạ, vào thiền. Có lẽ đó là lúc tốt nhất để nghe cơ thể mình hoạt động, để thấy các thức ăn được bộ máy tiêu hoá, hấp thu, chuyển hoá thành năng lượng ra sao trong từng tế bào.

Bài học đã truyền trao. Nếu chịu khó quan sát kỹ tí nữa, lúc Phật bưng bình bát đi khất thực từng nhà, có lẽ ta còn phát hiện ra nhiều điều hay, thú vị khác. Chẳng hạn cái người đi khất thực kia không phải là người đi xin mà là người đi cho. Ta không thể phân biệt ai là người xin người cho ở đây. Khi người đi khất thực đứng trước cửa nhà nào thì gia chủ mừng húm, cảm thấy như mình có một hạnh phúc lớn, không phải chỉ vì người đi xin kia là đức Phật mà chỉ vì cái hành vi đi xin kia thực ra mang một ý nghĩa khác, ý nghĩa cảnh tỉnh, như một lời nhắn nhủ, nhắc nhở. Gia chủ sẽ có dịp nhìn lại chính mình, nghe ngóng một tiếng nói nào đó ở trong sâu thẳm tâm hồn mình. Có thể rồi sẽ chóng quên, nhưng hôm nào đó lời nhắc nhở sẽ lại vọng lại. Với người quyền quý cao sang, có thể giật mình một chút thấy cái người đi chân đất, để đầu trần, bưng bình bát đứng xin kia là người vì sao đã từ bỏ ngôi vị thái tử, đã từ bỏ gấm vóc lụa là, cung phi mỹ nữ.

Cũng có thể sẽ có những người xua đuổi, sỉ vả, để rồi cũng nhận được một ánh mắt biết ơn, một nụ cười trìu mến và những bước đi nhẹ nhàng của người khất thực kia. Để rồi đêm về, người đã xua đuổi sỉ vả nọ nhớ lại, ngạc nhiên nghe một thứ tiếng nói khác trong lòng mình. Có những người nghèo không có cái ăn, không có cái gì để cho thì lúc đó cái ánh mắt, cái nụ cười sẽ chia sẻ cùng nhau. Sự tôn trọng, không phân biệt, đã nói lên nhiều điều quá đỗi. Thực ra nếu quan sát kỹ chút nữa, có lẽ từ lúc Phật đứng lên mặc áo, cầm lấy bình bát… mỗi cử chỉ đều đã toát lên một cái gì đó khác với ta. Nếu có ai cắc cớ hỏi chuyện mặc áo, cầm bình bát của Phật đâu thấy khác gì mọi người, thì chắc Ngài sẽ cười nhẹ nhàng nói: có chứ, có chứ. Bởi Phật khoác áo, cầm bình trong chánh niệm còn ta thì hấp tấp, hổn hển chụp lấy áo, chụp lấy bình bát, tất tả vội vàng…
Diễn tiến của một buổi giảng huấn bằng phương pháp demonstration đó thì mỗi cử chỉ, hành động đều phải được theo dõi, quan sát rất kỹ để có thể thực hành theo. Suốt bài giảng đó, ta đã học được nhiều điều hơn ta tưởng: bố thí mà không phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục mà không phải trì giới, nhẫn nhục, rồi tiết độ, tri túc, tinh cần, chánh niệm… và lúc nào cũng ở trong một trạng thái ung dung, an lạc, thảnh thơi, đầy trí tuệ. Cho nên ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Tu Bồ Đề cất tiếng ca ngợi: “Hy hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát.”

(ĐHN)

 

…. o ….

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

 

Chapter 4: Learning the way Buddha taught

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác

 

I studied the Diamond Sutra and, unexpectedly, found myself feeling as captivated as I had when I studied the Heart Sutra previously. At times, I was startled; at other moments, I felt astonished, bewildered, and even stunned. Although many versions of the sutras exist, a clear consistency runs through them. The approach may vary depending on the audience, and the method of conveyance differs, but the underlying principles remain the same. Is it true that by grasping the core concepts, a learner will experience less confusion and see the door to the path?

The first thing that surprised and stunned me while studying the Diamond Sutra was my expectation of encountering beautiful words and ideas, golden principles, and profound teachings. However, the Diamond Sutra immediately presented a very ordinary, if not trivial, narrative: the story of the Buddha during mealtime. Feeling hungry, he donned his robe, took his alms bowl, and went out to beg for food—without uttering a word or even bothering to clear his throat!

Just imagine, amid thousands of people—including great Bodhisattvas, Arhats, high-ranking monks, and esteemed disciples—sitting and waiting to hear profound teachings, the Buddha said nothing. He donned his robe, took his alms bowl, and went into the city to beg for alms. After gathering enough alms, he leisurely returned to the hall, set out the food, finished eating, and properly tidied his robes and alms bowl. He washed his feet, sat cross-legged, and began to breathe, seemingly entering meditation. He didn’t even bother to utter a single word of instruction!

I imagine that at that time, I was also sitting somewhere outside the hallway, listening and waiting to hear the sermons, feeling frustrated and disappointed. Suddenly, Subhuti appeared. Sitting in the middle of the crowd like everyone else, he stood up, respectfully bowed to the World-Honored One in accordance with the ritual, and then spoke words of praise: “How wonderful! How wonderful! How unprecedented! The World-Honored One has skillfully taught, skillfully transmitted, and skillfully entrusted the wonderful Dharma to all of you present here today.”

At that moment, I realized that an unexpected lesson had just been imparted! The surprise quickly transformed into anxiety. Oh no, I had not paid attention and had failed to closely follow the silent lecture of the Buddha! Fortunately, Subhuti had recognized it! Those who did not pay careful attention would have missed a regrettable opportunity.

Buddha had a unique approach to teaching: he conveyed lessons not through words but through actions. This method, commonly referred to as a demonstration way, aims to impart life skills. Once again, this approach emphasizes that learning and practicing Buddhism is about action rather than discussion. The principle is simple: do first, talk later, or sometimes there may be no need to talk at all. This is why Zen masters often have their students chop wood, cook rice, carry water, grow vegetables, and pound rice, all without explicitly instructing them.

Only when students confront their own concerns will they truly learn. In various unconventional ways, the teacher facilitates this process: sometimes by challenging them to capsize their metaphorical boat, other times by delivering a sudden jolt, or by providing vague answers. The teacher may pose questions such as, “Show me your mind, and I will grant you peace of mind.” These methods can surprise students and awaken them from their stupor. At the end of the course, students will not receive a diploma to showcase, nor does the teacher possess anything to give them. The knowledge and solutions are already within the students; the teacher merely assists them in discovering, experiencing, and resolving their own issues. This process is known as counseling, a contemporary method of psychological and medical therapy. The counselor acts like a midwife, aiding the mother in achieving a safe delivery, but ultimately cannot give birth for her. The child is already present in the mother’s womb.

Returning to the lesson, everyone was startled and astonished, recalling that Buddha aimed to teach them a fundamental principle: when hungry, eat; when thirsty, drink. At mealtime, one must focus on eating. Anyone who claims that eating is unnecessary either does not understand how to live or is being dishonest. Nearly two thousand years later, Trần Nhân Tông, the king of the Trần Dynasty in our country and the Zen master who founded the Trúc Lâm Yên Tử sect, echoed this sentiment in his poem Cư Trần Lạc Đạo, that when hungry, one should eat, and when tired, one should sleep.

Even the Buddha had to don his robes and carry his alms bowl to beg for food at mealtimes, let alone us! What is noteworthy is that a World-Honored One like the Buddha could simply speak, and an array of delicious dishes and exotic offerings would appear! The attendants should have prepared a proper meal for the Buddha, waiting for him to finish his sermon before serving. But no, the Buddha ventured out to find food on his own, without anyone’s assistance. He did not indulge in sumptuous, pre-prepared meals; instead, he practiced exactly what he preached. Therefore, witnessing this would be surprising! Many high-ranking monks present would likely reflect on whether they had ever allowed their disciples to serve them, preparing vegetarian dishes that were both elaborate and delectable! In modern times, we still encounter many vegetarian foods designed to resemble shrimp, fish, and chicken thighs. It is truly alarming!

We are both startled and amazed by the Buddha, the highest being, the World-Honored One, who possesses numerous illustrious titles yet remains remarkably simple. He walks barefoot with each graceful step, carrying his alms bowl to beg for food under the midday sun, accepting whatever is available to eat. The Buddha strolls leisurely and naturally, with each step taken mindfully, unaffected by the whispers and gossip of those around him—some praising him, while others criticize. He simply breathes in and out with each step, moving gently, refreshingly, and at ease.

The Buddha did not select affluent homes to beg for alms, nor did he prefer impoverished ones that might offer more comfort or familiarity. He moved leisurely from house to house, as there was no need to discriminate; both the rich and the poor had their own struggles. Everyone faced challenges, and all experienced suffering in their own ways. After several hours of walking to collect alms, any food became a delicacy. When consumed mindfully, savoring each bite, any meal could be delightful and easy to digest. It appeared that the alms bowl was just the right size to hold enough food for one person, ensuring that there would not be an excess left over.

In contemporary society, it is uncommon to witness monks begging for alms, particularly in urban areas and cities. However, when we encounter an individual clad in a kasaya, carrying an alms bowl, and walking mindfully from house to house, we cannot help but admire the ancient Great Master and feel a sense of reverence. Although monks no longer need to beg for alms for every meal, their daily practice of walking for several hours remains essential for maintaining good health. A simple diet rich in vegetables and beans while low in fat, sugar, and salt is also beneficial. Eating in a relaxed and peaceful environment, with the joy of having a sufficient meal—without fussiness or excess—transforms each meal into a delightful, healthy, and invigorating experience.

After eating, Buddha tidied up his bowl and clothes, washed his feet, and then sat down to meditate. It is noteworthy that after his meal, he did not go to sleep or engage in a heated argument; instead, he chose to meditate. This may have been the ideal moment to attune himself to his body in action, observing how food was digested, absorbed, and transformed into energy within each cell. The lesson was imparted.

If we take the time to observe more carefully, we may uncover many intriguing insights regarding the instance when the Buddha carried his alms bowl, soliciting donations from house to house. For example, the individual who sought alms was not merely a beggar but rather a giver. In this context, it becomes challenging to distinguish between those who are asking for alms and those who are giving. When the Buddha stood in front of a house, the homeowner experienced a profound sense of joy—not only because the beggar was the Buddha, but also because the act of begging conveyed a deeper significance. It served as a warning, a message, or a reminder.

The homeowner then had the opportunity to reflect on himself, listening to a voice deep within his soul. He might soon forget, but one day the reminder would resonate once more. For a noble person, it could be startling to realize that the individual walking barefoot, bareheaded, holding an alms bowl and begging, was the same person who had relinquished the position of crown prince, forsaken silk brocade, and given up a beautiful wife and royal maidservants.

There may have been individuals who chased and insulted a beggar, only to receive a grateful glance, a warm smile, and gentle steps in return. Later that night, the person who had chased and insulted the beggar was taken aback to hear another voice echoing in his heart. There were impoverished individuals who had nothing to eat and nothing to offer, yet in those moments, the shared look and smile conveyed so much. It was a message of respect, free from discrimination.

In fact, if we observe more carefully, we might notice that from the moment the Buddha stood to don his robe and pick up his alms bowl, each gesture exuded a quality distinct from our own. If someone were to ask the Buddha about his method of putting on his robe and picking up his alms bowl, he would likely smile gently and indicate that there is a difference. The Buddha approached these actions with mindfulness, while we often act hastily, gasping and grabbing our robes and alms bowls, rushing about in a flurry.
During a demonstration teaching, every gesture and action must be observed and followed meticulously to ensure proper practice. Throughout this teaching, we learned more than we anticipated. The individual who gives alms does not truly give alms. The acts of observing precepts and exercising patience are performed, but they are not done with the intention of keeping precepts and practicing patience. Ditto regarding the practices of moderation, contentment, diligence, mindfulness, and maintaining a state of ease, peace, leisure, and wisdom. Thus, we should not be surprised when we hear Subhuti proclaiming, “Rare is the World-Honored One! The Tathagata has skillfully guided and protected the Bodhisattvas and has graciously entrusted them with his teachings.”
( translated by Nguyên Giác)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

CON ĐƯỜNG AN LẠC   Bài 5: Thực hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền

23/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

Con Đường An Lạc

Bài 5:

Thực hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền

Đỗ Hồng Ngọc

Con đường “thay  đổi hành vi” từ biết đến muốn, rồi từ muốn đến làm không dễ chút nào (KAP = Knowledge/ Attitude/ Practice),  rồi từ làm đến… duy trì… quả là gian khó. Mà tu thì phải hành, chớ không thì chỉ là cái “đãy sách”.
Nhưng, hành cách nào?

Phần lớn các chùa hiện nay thường thấy nơi chánh điện có tượng Phật Thích-ca đặt ở giữa, bên trái có Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi,  cưỡi sư tử, tay cầm kiếm; bên phải có Bồ Tát Phổ Hiền, cưỡi voi sáu ngà, tay cầm đóa hoa sen.
Ai đã nghĩ ra các hình tượng tượng trưng này thật là hay để nhắc học Phật là con đường của từ bi và trí tuệ. Văn-thù (Manjusri) là Bồ Tát của trí tuệ, tay cầm kiếm chặt đứt phiền não, tiếng rống sư tử làm tắt ngấm vô minh. Phổ Hiền (Samantabhadra) là Bồ Tát của từ bi, cưỡi voi sáu ngà, chở bao nặng nhọc của bước đường thực hành và hoằng pháp. Tại sao voi 6 ngà? Tượng trưng cho Lục Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Thú vị là tượng Văn-thù luôn ở bên trái còn Phổ Hiền thì luôn ở bên phải Phật Thích-ca.  Khoa học bây giờ cũng thấy não trái là não của trí tuệ, não phải là não của từ bi. Hồi xa xưa đó không ngờ đã phát triển nền Khoa học não bộ (Neuro- sciences) đến vậy!
Phổ là rộng, phổ quát (universal)  còn Hiền là đức hạnh (great conduct, virtue, goodness). Bồ tát Phổ Hiền đã làm một bảng Hướng dẫn thưc hành (Guideline in Practising Buddhism) gọi là Mười Hạnh Phổ Hiền rất cụ thể. Học 10 hạnh này, mỗi ngày một chút thôi cũng đủ rồi vậy.

 

1. Lễ kính Chư Phật. (To pay homage and respect to all Buddhas)

“Chư” Phật, chớ chẳng phải chỉ có một vị Phật duy nhất. Phật nhiều vô kể. Phật khắp mười phương. Khắp tam thiên đại thiên thế giới, cả 3 thời quá khứ hiện tại vị lai. Thời nào cũng có Phật, ở đâu cũng có Phật. Bởi ở đâu cũng có kẻ giác ngộ, lúc nào cũng có kẻ giác ngộ. Nhưng Phật Thích-ca vẫn là vị Phật lịch sử, vị đạo sư, kẻ dẫn đường, “bổn sư” của ta… Phật Thích-ca chẳng từng nói “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” đó sao? Phật Thích-ca  cũng đã… không quên giới thiệu cho chúng ta các vị Phật khác ở khắp đông tây nam bắc để ta lễ kính.
Kinh Pháp Hoa có Bồ Tát Thường Bất Khinh là vị Bồ Tát rất dễ thương, ông luôn vái lạy mọi người và nói với họ rằng: “Xin kính lễ Ngài, vị Phật tương lai.” Mặc cho người ta đánh mắng xua đuổi, ông cũng cứ lễ kính trân trọng chân thành như vậy, cho đến một hôm người ta giật mình nhìn lại, ừ đúng, sao không nhỉ?

Nếu ta tu tập đúng con đường Phật dạy, ta cũng có thể trở thành Phật lắm chứ?
2. Xưng tán Như Lai (To praise the Thus Come One- Tathagata).

Rất thú vị ở đây là không có chuyện “lễ kính” Như Lai mà chỉ “xưng tán” (khen ngợi) Như Lai mà thôi. Nói khác đi, với Như Lai không việc gì phải lễ kính! Phật thì “lễ kính” còn Như Lai chỉ “xưng tán”. Lý do? Như Lai là Như Lai, không phải Phật. Như Lai “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ” (chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu!): Thus come one-Tathagata.  Nó vậy là nó vậy. Nhiều khi ta lầm tưởng Phật với Như Lai. Nhìn con chim đầy màu sắc kia xem. Nhìn thiên nga và bầy vịt kia xem. Nhìn mây trôi nước chảy kia xem. Như Lai đó. Con ong cái kiến là Như Lai. Đóa hoa muôn màu muôn sắc là Như Lai. Và Phật cũng là… Như Lai khi đã giác ngộ, đã “thấy biết” và từ đó sống trong Như Lai, sống cùng Như Lai, sống với Như Lai. Ta vẫn gọi Phật bằng nhiều danh xưng với lòng tôn kính: Như Lai, Bậc Ứng cúng, Thế gian giải, Thiên Nhân sư…
Kinh nói “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai” chớ không nói “vào nhà Phật, mặc áo Phật…”, cũng nói “Như  Lai thọ lượng” chớ không nói “Phật thọ lượng” (Pháp Hoa).

Nhớ lễ kính chư Phật mà xưng tán Như Lai nhé.
3. Quảng tu cúng dường (To make abundant offerings. – e.g. give generously)

Quảng tu là rộng tu. Tu mà bó hẹp, bịt mắt chỉ thấy một góc, một phía thì uổng lắm. Phật dạy lúc trước, lúc sau hay lúc giữa cũng chỉ có một, nhưng tùy theo “căn cơ” của đối tượng mà ứng biến, gia giảm cho phù hợp, nên đôi khi dễ tưởng là khác, là “mâu thuẫn”. Có lần trong một buổi thuyết giảng của Phật cả mấy ngàn người đã bỏ đi. Trước khi nhập Niết-bàn, Phật còn dặn dò “xưa nay ta chưa hề giảng dạy điều gì cả, chưa hề giảng dạy cho ai cả”. Hình như Phật biết trước, thời đại Internet, AI, đầy những deepfakes. Cái thấy biết của Phật thì như cánh rừng Simsapa kia mà điều nói ra chỉ là nhúm lá trong tay. Phần không nói ra, rồi sẽ tự biết. Phật gợi ý để rồi tự ta phát hiện, tự chứng, tự nội.
“Nhất thiết chủng trí” rồi thì đã có Bình đẳng tánh trí, Diệu quán sát trí. Cúng dường là bố thí. Quảng tu cúng dường là bố thí rộng lớn. Bố thí là hàng đầu trong Lục độ (Bố thí, Trì giới…). Bố thí có tài thí, pháp thí và vô úy thí. “Bố thí thân mạng” (Thiền) mỗi ngày nhiều như cát sông Hằng… là tốt nhất.  Dược Vương Bồ Tát tự đốt cả thân mình, đốt cả hai cánh tay (đốt ở đây là dập tắt tham sân si, mạn, nghi, kiến… để có thân vô ngã, pháp vô ngã) được các vị Phật khen là “món thí hạng nhứt!”

4. Sám hối nghiệp chướng (To repent misdeeds and evil karmas).

Chướng là trở ngại, gây phiền phức, gây rắc rối, không trơn tru. Cái gì gây trở ngại, gây chướng vậy? Nghiệp!

Nghiệp là gì? Phật dạy nghiệp là “tài sản” của ta. Ta là kẻ “thừa tự” của nghiệp. Nói khác đi, ta “lãnh  đủ” nếu ta tạo nghiệp. Dĩ nhiên đó là ác nghiệp. Thiện nghiệp thì sao? Thì ta không bị chướng, gì cũng thành tựu, tốt đẹp. Nhìn hôm nay biết nghiệp ngày xưa. Nhân hôm nay biết quả ngày sau. Nói khác đi, nó là kết quả, là nguyên nhân của đời sống ta, là hạnh phúc, là khổ đau của kiếp sống ta. Cải nghiệp được không? Được. Nghiệp do thân khẩu ý mà sinh. Hành vi chỉ là thân và khẩu. Có Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, nguồn gốc của sanh sự. Nhưng Ý nghiệp mới thật là ghê gớm. Ý dẫn đầu các pháp. Nhưng Ý thường làm bộ vô can. “Tác ý” là yếu tố chính xác định nghiệp. Người ta có thể tha thứ cho một sự vô tình, nhưng cố ý thì rắc rối to. “Như lý tác ý”, nghĩa là theo “lý”  mà làm. Lý đây là cái thấy biết như thực, cái chánh kiến, chánh tư duy, từ đó mà có chánh ngữ, chánh nghiệp. Còn sám hối là hối lỗi, thấy biết chỗ sai quấy mà “từ nay xin chừa”. Ta là chủ nhân của nghiệp. Sám hối cái sai quấy thì không đi vào ác nghiệp và từ đó, nghiệp hết… chướng!

 

5. Tùy hỷ công đức (To rejoice in others’ merits and virtues).

Là công đức do tùy hỷ mà có. Tùy hỷ là cái “vui theo người”. Người có chuyện vui thì mình vui theo. Dĩ nhiên chuyện vui đó phải là chuyện thiện. Nếu là chuyện xấu ác mà vui theo thì nguy. Tùy hỷ thực chất là để chữa trị bệnh đố kỵ, ghen ghét, là một trong những “bản năng” gốc của con người. Đố kỵ ghen ghét cũng vì tham, vì thấy thua sút người ta. Khi không còn tham sân si, khi biết vô ngã rồi thì không còn ganh ghét đố kỵ nữa. Tùy hỷ mà giả đò, tùy hỷ mà không thực lòng, tùy hỷ mà hùa theo thì không phải là tùy hỷ. Sẽ chẳng có “công  đức” gì ở đây! Thứ tùy hỷ giả, nói theo, làm vui lòng người, khen bừa cho người vui thì chưa gọi là tùy hỷ. “Nịnh” càng không phải là tùy hỷ. Cho nên phải coi chừng tùy hỷ. Coi chừng lời tùy hỷ, kẻ tùy hỷ. Ái ngữ không phải là tùy hỷ. Chánh ngữ mới đúng. Có chánh kiến, chánh tư duy thì mới có chánh ngữ.
6. Thỉnh Phật chuyển pháp luân (To request theBuddhas to continue teaching).

Pháp luân là “Bánh xe pháp”. Bánh xe pháp vẫn phải luôn chuyển không ngừng bởi đời sống như dòng sông vẫn trôi chảy. Cũng vẫn tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến đó thôi, cũng vẫn thất tình lục dục đó thôi, nhưng đã mỗi thời mỗi khác. Xưa cung tên giáo mác, nay hỏa tiễn hạt nhân… Xưa bệnh tật khu trú từng vùng, nay lan tràn trong nháy mắt… Thế giới trong lòng bàn tay. Trái đất nóng lên. Môi trường chết ngạt. Thức ăn đầy độc chất. Tin tức đầy fake news, deepfakes… Xưa, lên núi cao tìm thầy, vào hang sâu tìm kinh sách, chỉ một câu một chữ thôi đủ ngộ. Nay bấm cái nút, thiên kinh vạn quyển, tẩu hỏa nhập ma! Sinh học tạo con người từ ADN, công nghệ gắn thêm AI (trí thông mình nhân tạo), robot điều khiển con người từ xa…

Duy-ma-cật nói: Phải nắm bắt thật đúng đối tượng thì “thuyết  pháp” mới có hiệu quả. Phật dạy “Ta chẳng có pháp gì để thuyết cả!”, vì “Pháp thuận với không, tùy theo vô tướng, ứng với vô tác. Pháp lìa khỏi tốt và xấu, thêm và bớt, sinh và diệt… há thuyết diễn được sao?”.

Lục tổ Huệ Năng nói: “Thiện  tri thức, đạo cần phải linh động, chớ nên làm cho ngăn trệ. Tâm chẳng trụ pháp thì đạo được linh động, tâm nếu trụ pháp, gọi là tự trói.”

Cho nên vẫn phải thỉnh Phật chuyển pháp luân thôi.

 

7. Thỉnh Phật trụ thế (To request the Buddhas to remain in the world).

Người có “chứng ngộ” thường dễ thấy “phạm hạnh đã tròn đầy”, muốn “đặt gánh nặng xuống, bước vào cõi vô sanh, niết-bàn tịch diệt…”. Nhưng, thế thì còn ai để lặn lội trong cõi Ta-bà đầy ô trược này mà “hóa độ” chúng sanh? Cho nên phải thỉnh Phật trụ thế.

Bồ Tát thì phải “bất tận hữu vi, bất trụ vô vi”. Hữu vi thì vô thường, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ như điển, giả tạm, hư vọng, dẫn đến nhàm chán, buông bỏ. Nhưng Bồ Tát thì không. Phải chịu khó ở lại giúp đời giúp người “hộ trì chánh pháp”. “Vào sinh tử luân hồi như vào vườn cảnh, đức tánh vô niệm, trí huệ thực tướng, nhưng chẳng bỏ pháp thế gian. Từ bi hỷ xả mà không phóng dật, tu học lẽ Không mà không chấp Không, quán vô thường mà không chán cội lành, quán phiền não mà không đoạn phiền não.”

8. Thường tùy Phật học (To follow the teachings of the Buddhas at all times).

Phật không dạy nhiều và thậm chí còn nói “Ta chẳng có pháp gì để thuyết cả!” Nhưng chư Phật đều nhắc nhở “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành,tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”. Nghĩa là việc ác đừng làm, việc thiện thì làm. Quan trọng nhất là phải “tự tịnh kỳ ý”. Cái mới khó! Thanh tịnh bổn nhiên, tùy chúng sanh tâm, chu biến pháp giới, tòng nghiệp phát hiện. Ấy chẳng qua vì nghiệp mà thấy vậy, ra vậy. Phải làm cho tâm được trở về với cái “thanh tịnh bổn nhiên” ấy của mình vốn sẵn. Cái khó ở chỗ phải tự mình làm, tự mình “tịnh cái ý” của mình chớ không thể nhờ ai giúp được. Chỉ có thể quay về nương tựa chính mình thôi. Tuệ giác, insight, là cái thấy bên trong. Tìm kiếm đâu xa. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích. Tóm lại, thường tùy Phật học là học chính mình, quay về bên trong mình. Luôn tự hỏi mình đang tham đó ư? Đang sân (giận) rồi sao? Mê muội đến vậy hả? Thôi nhé.

“Có bốn thứ ma, tám vạn bốn ngàn thứ phiền não làm cho chúng sanh nhọc nhằn, mỏi mệt, chư Phật dùng chính những thứ ấy mà làm Phật sự.” (kinh Duy-ma-cật).

Học Phật được vậy thì “sự sự vô ngại”.

Thiện Tài đồng tử trải qua 53 “cửa ải”, ở đâu cũng học, cũng hành đúng pháp, sau cùng thì mới “thõng tay vào chợ” được vậy!
9. Hằng thuận chúng sanh (To accommodate and benefit all living beings).

Chúng sanh bệnh thì mình cũng bệnh như Duy-ma- cật. Đồng bệnh tương lân, mới thấu cảm nhau. Bồ-đề-đạt-ma đã vội xua đuổi, bỏ rơi Lương Võ Đế cũng đáng tiếc.

Huệ Năng khi đã giác ngộ: “Bổn lai vô nhất vật” rồi, đã thấy Pháp thân rồi mà cũng mất 15 năm theo cùng nhóm thợ săn, săn thú, uống rượu, bán buôn… Hay là… ông cố tình xâm nhập để quan sát, học hỏi, tu tập? Nghe nói tuy sống chung với nhóm thợ săn 15 năm như vậy, ông chưa từng săn thú, ăn thịt, uống rượu? Biết đâu ông cũng đã “độ” được năm ba. Huệ Năng nói: “Ngoài không dính mắc là thiền, trong không lay động là định…”

Chúng sanh nào thì Bồ Tát đó. Chúng sanh ở trong Bồ Tát, Bồ Tát ở trong chúng sanh. “Hòa nhi bất đồng.” Quán Thế Âm có 32 ứng hóa thân để biến hiện tùy cơ. Gặp vua quan thì vua quan. Gặp ốm đau bệnh hoạn thì ốm đau bệnh hoạn…  Mà bên trong vẫn là Bồ Tát Quán Thế Âm như như bất động, với bình cam lồ, với nhành dương liễu, với “vô úy thí”…

Tham vấn viên trong công tác xã hội ngày nay đóng vai kẻ mại dâm, người nghiện ma túy để hòa nhập với đối tượng, giúp họ giải thoát, bằng kỹ năng tham vấn với tôn trọng, chân thành, thấu cảm, lắng nghe…

 

10. Phổ giai hồi hướng (To transfer all merits and virtues to benefit all beings).

“Hồi hướng” là chia sẻ. “Phổ” là cùng khắp, rộng lớn. Chia sẻ cái gì? Cái công đức. Phước đức cũng chia sẻ được, nhưng phước đức thì hữu lậu, như Lương Võ Đế đúc chuông lớn, xây chùa to, nuôi tăng đoàn… cũng chẳng có tí “công đức” nào, bị Bồ-đề-đạt-ma quở. Có thể ông vua còn vênh váo, tự mãn, với cái ngã to đùng của mình thì càng đáng trách, trong khi công đức là cái tu bên trong, để có tuệ giác, và thấy biết vô ngã.

—

…. o ….

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Chapter 5

Practicing the Ten Universal Vows of Samantabhadra

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên GIác


The journey of transforming behavior from knowledge to motivation, and then from motivation to action, is quite challenging. Furthermore, progressing from action to maintenance is particularly difficult. To truly practice, you must translate your learning into action; otherwise, you risk becoming merely a bag of books.

But how to practice?

Most temples today typically feature a statue of Shakyamuni Buddha in the center of the main hall, with Manjushri Bodhisattva riding a lion and wielding a sword on the left, and Samantabhadra Bodhisattva riding a six-tusked elephant and holding a lotus flower on the right.

Whoever created these symbolic images has done an excellent job of reminding us that studying Buddhism is a path of compassion and wisdom. Manjushri, the Bodhisattva of wisdom, wields a sword to sever afflictions and roars like a lion to dispel ignorance. Samantabhadra, the Bodhisattva of compassion, rides a six-tusked elephant, symbolizing the weighty responsibility of practicing and propagating the Dharma. Why the six-tusked elephant? It represents the Six Paramitas: Generosity, Precepts, Patience, Diligence, Meditation, and Wisdom. Interestingly, the statue of Manjushri is always positioned on the left side, while Samantabhadra is consistently on the right side of Shakyamuni Buddha. Modern science also recognizes that the left brain is associated with wisdom, while the right brain is linked to compassion. Who would have imagined that neuroscience would advance to such an extent?

Samantabhadra is known as Phổ Hiền in Vietnamese. Phổ means broad or universal, while Hiền means great conduct, virtue, and goodness. The Bodhisattva Phổ Hiền has established a specific guideline for practicing Buddhism known as the Ten Conducts of Phổ Hiền. Learning these ten conducts, even just a little each day, is sufficient.
1. To pay homage and respect to all Buddhas

There are not just one, but countless Buddhas present in every direction, across the three thousand worlds, and throughout the past, present, and future. Enlightened beings can be found everywhere and at all times. However, Shakyamuni Buddha remains the historical Buddha—our teacher, guide, and master. He once stated that he is the Buddha who has attained enlightenment, while sentient beings are the Buddhas who are yet to realize their potential. Shakyamuni Buddha also took the time to introduce us to other Buddhas in the east, west, south, and north, encouraging us to pay homage to them.

In the Lotus Sutra, there is a beloved Bodhisattva named Never Disparaging. He consistently bows to everyone and tells them, “I respectfully pay homage to you, the future Buddha.” Despite being beaten, scolded, and chased away by some, he continued to pay homage to them with sincerity and respect. One day, they suddenly looked back and said, “Yes, that’s right, why not?”

If we follow the path taught by the Buddha, can we also attain Buddhahood? Is that correct?

 

2. To Praise the Tathagata

What is interesting here is that there is no need to bow to or show respect to Tathagata; one only needs to praise Tathagata. In other words, while one bows to and respects Buddha, one only praises Tathagata. The reason for this distinction is that Tathagata is Tathagata, not Buddha. Tathagata does not originate from anywhere and does not go anywhere. It simply is what it is.

Sometimes, you may mistake Buddha for Tathagata. Observe that colorful bird, the swan, and the flock of ducks. Notice the drifting clouds and flowing water—these are Tathagata. The bee and the ant embody Tathagata, as does the vibrant flower. Buddha is also Tathagata when he attains enlightenment, having seen and understood the truth. From that moment on, he lives in Tathagata, with Tathagata, and as Tathagata. We continue to honor Buddha with many names: Tathagata, Worthy One, World-knower, Teacher of Gods and Humans…

Therefore, the Sutra instructs us to enter the Tathagata’s house, don the Tathagata’s robe, and sit on the Tathagata’s throne; however, it does not mention entering the Buddha’s house or wearing the Buddha’s robe. Similarly, the Lotus Sutra discusses the Tathagata’s lifespan but does not refer to the Buddha’s lifespan.

It is important to pay homage and show respect to the Buddhas while praising the Tathagata.

 

3. To practice broadly the virtue of making immeasurable offerings

Broad practice encompasses practice without limitations. In contrast, narrow practice, which is blindfolded and only perceives one corner or one side, is a waste of effort. The Buddha taught that there is only one Dharma, whether before, after, or in the middle. However, depending on the circumstances of the individual, the teachings are adapted and adjusted to suit their needs. This can sometimes lead to the misconception that the teachings are different or contradictory.

Once, during a sermon by the Buddha, thousands of people departed. Before entering Nirvana, the Buddha advised that he had never taught anything in the past and had never instructed anyone. It seems that the Buddha foresaw that the age of the Internet and artificial intelligence is rife with misinformation and deepfakes. His vision and knowledge resemble the vast Simsapa forest, while what is spoken is merely a handful of leaves in one’s hand. The unspoken truths must be discovered by ourselves. The Buddha encouraged us to explore, understand, and experience these truths within our hearts.

When you possess the wisdom that understands everything, you also attain the insight that perceives all dharmas as equal, along with the wisdom that observes magnificently. Offering is the act of giving. Extensive offering refers to giving widely. Giving is the first of the Six Paramitas (which include Giving, Keeping Precepts, etc.). It encompasses the giving of wealth, the giving of Dharma, and the giving of fearlessness. As Zen teaches, you have as many lives each day as there are grains of sand in the Ganges River, and it is best to give all of them away. The Bodhisattva Medicine King is celebrated for having burned his own body, including both arms. In this context, extinguishing of greed, anger, ignorance, arrogance, doubt, and misguided views, leading to the realization that both the body and dharmas are not-self. This selfless act is praised by the Buddhas as a supreme offering.

 

4. To repent misdeeds and evil karmas

Obstacles are challenges that create difficulties and disrupt smooth progress. What causes obstacles? Karma!

What is karma? The Buddha taught that karma is our inheritance; we are the heirs of our actions. In other words, we encounter numerous obstacles when we have generated negative karma. Conversely, if we cultivate positive karma, we will not face hindrances; instead, everything will flourish and prosper. Reflecting on our current circumstances, we can recognize the karma we have created in the past. Our actions today will yield results in the days to come. In simple terms, karma encompasses the outcomes, the causes of our existence, as well as the happiness and suffering we experience in life.

Can karma be changed? Yes. Karma arises from our body, speech, and mind. Actions primarily stem from the body and speech, and when these create karma, corresponding effects inevitably follow. However, karma in consciousness can be quite profound. The mind governs all dharmas, yet it often pretends to be innocent. Ultimately, it is intention that determines karma. While one can forgive an unintentional act, the involvement of intention can lead to significant consequences. The adage that one should follow the reason to guide the mind emphasizes the importance of adhering to principles. Understanding reality as it truly is encompasses right view and right thinking, which in turn lead to right speech and right action. Repentance involves acknowledging the mistakes we have made. By recognizing these errors, we can commit to avoiding them in the future. We are the architects of our own karma. Repentance for wrongdoing can help us steer clear of negative karma, allowing us to navigate our karmic path without obstacles as we move forward.

 

5. To rejoice in others’ merits and virtues

There are significant benefits to rejoicing. Rejoicing involves feeling joy in response to the good deeds of others. When someone experiences happiness, it is natural to share in that joy. However, it is important that this happiness stems from positive actions; finding joy in negative circumstances can be harmful. Rejoicing serves as a remedy for jealousy and envy, which are fundamental human instincts. These feelings often arise from a greedy mindset, where an individual perceives themselves as inferior to others. When one overcomes greed, anger, and ignorance, and comes to understand the concept of non-self, the mind can be liberated from jealousy and envy.

If you pretend to rejoice, it means you are expressing joy insincerely; you are merely going along with the situation, which does not constitute true rejoicing. There is no merit in this! Fake rejoicing—saying the same things, pleasing others, and offering random praise to make people happy—is not genuine rejoicing. Flattery, in particular, is even further removed from true joy. Therefore, you must be cautious about what it means to rejoice. Be mindful of the words associated with rejoicing and the individuals who claim to rejoice. Loving words do not equate to true rejoicing. Right speech is essential. Only with right views and right thoughts can one achieve right speech.

 

6. To request the Buddhas to turn the Wheel of Dharma

The Wheel of Dharma must always be turned because life is like a flowing river. Living beings continue to experience greed, anger, ignorance, arrogance, doubt, misguided beliefs, and the seven emotions alongside six desires, but these manifestations change over time, each instance differing from the last. In the past, conflicts were fought with bows and arrows, swords, and spears; today, they are waged with missiles and nuclear weapons. Epidemics that once remained confined to specific regions can now spread in the blink of an eye. The world is at our fingertips. The Earth is warming, the environment is suffocating, and our food is laden with toxins. Furthermore, the news is rife with misinformation and deepfakes.

In the past, one had to scale high mountains to seek out teachers and venture into deep caves to discover scriptures. During that time, simply hearing a sentence or reading a word was sufficient to attain enlightenment. Today, with the press of a button, one can access thousands of scriptures and countless books, easily witnessing the flames of temptation burning in the heart. Biology creates humans from DNA, while technology introduces artificial intelligence (AI), and robots are operated remotely.

Vimalakirti emphasized the importance of selecting the appropriate listener for the Dharma to be truly effective. The Buddha stated, “I have no Dharma to preach, for the Dharma is inherently aligned with emptiness, devoid of form, and responding to non-action. It is impossible to discuss the Dharma that separates it from good and bad, as it is inherently free from increase or decrease and devoid of birth and death.”

The Sixth Patriarch Hui Neng stated, “Good friends, when you embark on the Way, your mind must remain flexible; do not allow it to become stagnant. If your mind does not cling to the dharmas, then the Way will be adaptable. However, if your mind remains attached to the dharmas, it is referred to as self-binding.”

Therefore, we must still request the Buddhas to turn the Wheel of the Dharma.

 

7. To request the Buddhas to Remain in the World

Those who have attained enlightenment can easily recognize that their pure conduct is complete. They desire to relinquish their burdens and enter the realm of nirvana and extinction. However, who remains to wander in this impure world of Samsara to assist sentient beings? Therefore, we must request the Buddhas to remain in this world.

Bodhisattvas must neither abandon the conditioned world nor remain solely in the unconditioned realm. Everything in the conditioned world is impermanent—like a dream, an illusion, a bubble, a shadow, dew, or lightning—temporary and illusory, ultimately leading to feelings of boredom and abandonment. However, Bodhisattvas must exercise patience, remaining present to assist the world and help people protect the Dharma. They enter the cycle of birth and death as one would enter a garden, embodying the virtue of non-thought and possessing the wisdom to perceive true nature, all while engaging with worldly affairs. Bodhisattvas must diligently practice the Dharma of compassion, kindness, joy, and equanimity without negligence. They should learn the principle of Emptiness without clinging to it, contemplate impermanence without growing weary of cultivating good roots, and reflect on afflictions without severing their connection to them.

 

8. To follow the teachings of the Buddhas at all times

The Buddha did not teach extensively and even stated that he had nothing to preach. However, all Buddhas convey the essential message: “Do not commit evil; do good; purify your mind; this is the teaching of the Buddhas.” This means that one should refrain from wrongdoing and engage in virtuous actions. The most crucial aspect is to purify the mind, which can be quite challenging. This innate purity, which is dependent on the minds of living beings, permeates the Dharma realm and is revealed through karma. It is only due to karma that one perceives reality in this manner and appears in this way. One must strive to return the mind to that inherent purity that resides within oneself.

The challenge lies in the necessity of self-reliance; you must purify your own mind without seeking assistance from others. You can only turn inward and depend on yourself. Wisdom and insight are the abilities to see clearly within. Do not search outside your mind any longer, for there is a treasure within your own being. In essence, adhering to the teachings of the Buddhas at all times means learning from yourself and turning inward. Always observe whether your mind is generating thoughts of greed, anger, or ignorance. If that is the case, then direct those thoughts into the realm of non-existence.

The Vimalakirti Sutra states, “There are four types of demons and eighty-four thousand varieties of afflictions that cause living beings to feel tired and exhausted; however, Buddhas use these very challenges to accomplish their Buddhist actions.”

If you study Buddhism in this way, you will no longer perceive any obstacles.

The young Thiện Tài skillfully navigated 53 gates of obstacles, diligently studying and practicing the Dharma correctly at every turn. Ultimately, he attained a state of enlightenment, where his hands grasped nothing as he entered the marketplace.

 

9. To accommodate and benefit all living beings

Similar to Vimalakirti, when a practitioner encounters a sick person, he too feels a sense of illness. Only by sharing in the same suffering can one truly cultivate compassion and empathy for one another. It is unfortunate that Emperor Liang Wu did not grasp the essence of the conversation, leading to Bodhidharma’s departure.

After Hui Neng attained enlightenment, he realized that originally there was nothing and perceived the Dharmakaya. However, he spent 15 years living among a group of hunters who engaged in hunting animals, drinking alcohol, and trading. Did he intentionally immerse himself in their lifestyle to observe, learn, and practice? It is said that despite living with the hunters for those 15 years, he never participated in hunting, consuming meat, or drinking alcohol. Perhaps he even saved a few individuals during that time. Hui Neng stated, “Outwardly unattached is meditation; inwardly unmoving is concentration.”

As sentient beings are, so is the Bodhisattva. Sentient beings exist within the Bodhisattva, and the Bodhisattva exists within sentient beings. Although he is in harmony with sentient beings, he does not allow himself to be assimilated. Bodhisattva Avalokiteshvara has 32 incarnations that adapt to various situations. When he encounters a king or a mandarin, the Bodhisattva manifests as a king or a mandarin. When he meets a sick person, he also takes on the form of a sick person. However, deep within, he remains Bodhisattva Avalokiteshvara—steadfast and unchanging, holding a vase of nectar and a willow branch while bestowing fearlessness.

Similarly, a social worker may need to adopt the perspective of a prostitute or a drug addict in order to connect with their clients effectively. This approach can facilitate the process of helping individuals escape their circumstances by employing counseling skills such as respect, sincerity, empathy, and active listening.

 

10. To dedicate one’s merits to benefit all sentient beings

This concept refers to sharing in a vast and infinite manner. What is being shared? Merit. While worldly merit can also be shared, it is conditioned—much like Emperor Liang Wu, who cast a large bell, built an impressive temple, and supported a sangha. However, he lacked any unconditioned merit and was reprimanded by Bodhidharma. Perhaps the king remained arrogant and complacent, burdened by his inflated ego, which is even more blameworthy. In contrast, unconditioned merit involves internal cultivation, fostering wisdom, and recognizing the principle of non-self.
(Nguyen Giac)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Minh Lê: Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!”

27/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!”

Minh Lê (Nha Trang)

 

 

Bạn thân mến,

Có khi nào bạn tự hỏi, khi nào thì mình… già? Bạn muốn nghe câu trả lời là một lời nói thẳng hay một lời… an ủi?

Lời an ủi là câu trích dẫn nguyên tác tiếng Anh do Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dịch: “Tuổi tác là chuyện của cái tâm, nếu ta không thèm quan tâm, chả có vấn đề tuổi tác!” (tr. 13) Vậy nhưng Liên Hợp Quốc thì thẳng thừng: “Từ năm 1980, Liên Hợp Quốc coi tuổi 60 trở lên là tuổi già trong một quần thể dân số.” (tr. 23)

Thôi thì ta nghe lời nói thật không mất lòng của Bác sĩ vậy: “Có trẻ thì có già, đó là một nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau vì già, trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc.” (tr. 15)

Tuổi trẻ có hạnh phúc đã khó, làm sao có tuổi già hạnh phúc đây? Ông Bác sĩ cho bí quyết: “Chấp nhận mình là mình và thương mình nữa.” (tr. 35) Điều đó có nghĩa ta nên nhận ra những vấn đề của tuổi già về tinh thần và thể chất, chấp nhận và thích nghi để có cảm giác sảng khoái, hài lòng với bản thân.

Chương “Đời sống gia đình” nói chuyện cháu chắt và vợ chồng già. Bác sĩ khuyến khích cuộc sống gia đình nhiều thế hệ, với hai điều kiện. Một là cha mẹ tránh lệ thuộc về tài chính vào con cái, hai là cha mẹ và con cái cần điều chỉnh quan niệm và nếp sống của mỗi bên một chút sao cho “cha mẹ già có thể thành bạn của con, hiểu biết nhu cầu của nhau và giúp đỡ nhau.” (tr. 45)

Chương này có một đoạn vừa nên thơ vừa hóm hỉnh viết về tình cảm của những cặp vợ chồng cùng già đi với nhau: “Người ta có thể cùng nhìn cùng nghe cùng hiểu và có cùng cảm xúc như nhau với bao nhiêu kỷ niệm càng ướp càng nồng… Và còn một điều thú vị, như Andre Maurois nói, tình già yên tâm hơn, không sợ người yêu mình bị cuỗm mất, nghĩa là tình nồng nhưng nhẹ nhàng, êm mướt, không chua như giấm, người ta bớt ghen rồi, người ta có thể tin chắc là của nhau rồi.” (tr. 49) Thiệt vậy sao Bác sĩ?

Chương “Cám ơn mình” là một chương lý thú. “Chưa bao giờ ta được dạy nói cám ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cám ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục và không cần thiết.” (tr. 55) Sau đó Bác sĩ lần lượt chỉ cho ta thấy các bộ phận trong cơ thể ta đã làm việc bền bỉ như thế nào, từ bộ xương, bộ máy tuần hoàn gồm tim và mạch máu, buồng phổi, đến bao tử và hệ tiêu hóa, răng, mắt, tai. Biết thương mình thì ta phải chăm sóc cho chúng tốt hơn, đừng hành hạ chính ta nữa!

Chương “Những bệnh vô duyên” bàn về “những bệnh không đáng có mà có mới dễ giận”. Đó là bệnh do người già tự gây ra như “tự ý gia giảm thuốc, tin lời bày vẽ, ai mách gì cũng nghe, gây tương tác thuốc lung tung” (tr. 97) Người cao tuổi thường muốn làm xét nghiệm để tìm bệnh, nhưng Bác sĩ khuyên “cần thiết lắm mới làm xét nghiệm và phải có chỉ định của bác sĩ” (tr. 100) Và không nên nghe “những lời nói gây hoang mang, lo lắng, làm mất ăn mất ngủ, gây kiêng cữ quá đáng làm cho tình trạng bệnh khó phục hồi hơn.” (tr. 100)

Lời khuyên về thể chất cho tuổi già là “dinh dưỡng đúng cách” và “thường xuyên rèn luyện”. Bác sĩ trích đoạn thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người sống đến 95 tuổi, và giải thích: “Măng trúc nhiều xơ, giá nhiều vitamin, mùa nào thức đó. Bơi lội, rèn luyện thể lực cũng theo mùa. Rượu chỉ “sẻ nhắp” chứ không tu, không nốc… Còn “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thì cái này Tổ chức sức khỏe thế giới chịu, không thể hiểu nổi nên không thể khuyên ta vậy!” (tr. 104)

Bác sĩ kết luận: “những người hạnh phúc là những người biết khám phá những niềm vui nho nhỏ, nó ở ngay trong ta, quanh ta thôi, miễn là ta biết sống ngạc nhiên, tỉnh thức, khám phá như trẻ thơ.” (tr. 113) và “Thích nghi có lẽ là một năng lực quan trọng nhất để có thể sống hạnh phúc ở tuổi già.” (tr. 115) Vì vậy sách mới có tựa “Già ơi… chào bạn!” nghe thân thiết và gần gũi, khác với “Buồn ơi… chào mi!” nghe như giận hờn, ghét bỏ! (Tên bản dịch Việt cuốn Bonjour Tristesse của Françoise Sagan).

Trong khi đọc, bạn đừng quên để ý tới các hình vẽ minh họa trong sách. Những bức vẽ xem chừng giản dị và “quái quái” đó có thể khiến bạn bật cười, hay cười tủm tỉm vì thấy sao mà ngộ quá. Đích thân ông Bác sĩ kiêm họa sĩ tự vẽ, và chỉ dùng ngón tay chấm mực Tàu để vẽ. Vậy mà những nét đậm, nét nhạt, mảng sáng mảng tối vẫn hòa hợp tạo nên hình người cử động hoàn chỉnh, sinh động pha chút hài hước. Khi sách in ở Nhật, nhà xuất bản Soshisha (Tokyo) định cho vẽ lại nhưng cuối cùng đành thôi vì không vẽ ra được cái “thần” của tranh gốc.

 

Lời chúc của mình đến bạn sau khi đọc xong sách là bạn sẽ có “một sức khỏe tương đối tốt, kinh tế không quá thiếu thốn, duy trì được mối quan hệ tình cảm, có bạn tâm giao để chia sẻ, duy trì hoạt động xã hội phù hợp để thấy mình luôn còn có ích và quan trọng hơn nữa là giữ một ngọn lửa nhiệt tình, một niềm an lạc, thanh thản trong tâm hồn.” (tr. 119) Lúc đó mình chắc chắn bạn sẽ có một tuổi già hạnh phúc!

Thân mến,

(Minh Lê)

* Các trích dẫn từ sách Già ơi… chào bạn!, Đỗ Hồng Ngọc, Nhà XB Trẻ 1999.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Vài đoạn hồi ký

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi: CON ĐƯỜNG AN LẠC

27/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Đỗ Hồng Ngọc

A pocketbook for the elderly
A PATH TO PEACE & JOY

Translated  by Nguyên Giác Phan Tấn Hải

 

An lạc không phải là hạnh phúc, là sảng khoái nhất thời hay hài lòng, vui sướng… nhất thời, trái lại nó như dòng suối mát tưới tẩm ở bên trong. An lạc là một trạng thái hỷ lạc, một cảm nhận an lành, thanh thản tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác. An lạc đến từ tuệ giác, đưa đến sự tự tại, ung dung, cân bằng cả về vật chất lẫn tinh thần…

Học Phật là cách hiệu quả nhất để mang lại sự an lạc đó. Có “bí quyết” nào để học Phật cho dễ không? Chui vào các “tàng kinh các” thì học đến nhiều đời nhiều kiếp cũng không hết mà còn bị “tẩu hoả nhập ma”, không kể ở thời Internet, AI, với fake news, với deepfakes…

Vậy có “bí quyết nào” học Phật cho “dễ” không?
Có đó.

Đó là “3 ĐIỀU 4 CHUYỆN”

Chuyện thứ nhất: Phật.
Phật không phải là một thần linh, một giáo chủ… uy quyền tối thượng, ban bố ơn phước cho loài người. Phật là một người bình thường như ta, cũng trải qua khổ đau bệnh hoạn già nua và chết chóc như chúng sanh. Nhờ tìm được con đường thoát khổ mà chia sẻ với  mọi người với lòng từ bi vô hạn, bởi ai cũng có Phật tính, ai cũng sẽ thành Phật mai hậu. Phật không độc quyền làm Phật một mình. Cho nên Phật là một Đạo sư, một nhà giáo dục, một bậc y vương đáng quý đáng trọng.

Con đường của vị Đạo sư dạy chỉ có mấy chữ:

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo

(Cái gì ác thì đừng làm!
Cái gì thiện thì làm
Phải tự làm cho tâm ý mình được thanh tịnh.
Đó là lời dạy của các vị Phật).

Tôn giáo nào chẳng khuyên làm lành tránh ác?  Có gì hay ở đây?
Cái hay là ở câu thứ 3: Tự tịnh kỳ ý. Tự mình làm cho cái tâm ý mình trở nên thanh tịnh. Tâm ý mà thanh tịnh được rồi, thì… hết chuyện!
Khó ở chữ TỰ. Tự mình. Có nghĩa là không thể nhờ ai khác, không thể nhờ người nào khác giúp ta thanh tịnh được. Nghĩa là chỉ có mình mới tự giúp được mình mà thôi. Như tự mình phải hít thở, không ai thở giúp mình được. Tự mình phải nhai nuốt, ăn uống, không ai ăn uống giúp mình được…

Cái tâm ý của mình vốn tưng bừng quậy phá, “tâm viên ý mã”- tâm như khỉ như vượn, còn lâu mới chịu im ắng, tĩnh lặng. Làm cho nó thanh tịnh quả là một chuyện không dễ.
Tóm lại, “tự tịnh kỳ ý” là điều cốt lõi.
Cách nào? Có thể được chăng?
Được.

Chuyện thứ hai: Mình.
Phải nương tựa chính mình. Dựa vào chính mình. Không thể nương tựa vào ai khác. Như đã nói không ai thở giùm mình, không ai ăn uống thay mình được. Lục tổ Huệ Năng khuyên phải “Tự quy y” là vậy. Tự quy y mình. Bởi mình cũng có đủ ba thân là Pháp thân, Báo thân và Hoá thân như Phật đó thôi. Phật bảo mọi người ai cũng có Phật tính, ai cũng có thể trở thành Phật, không phân biệt. Khi tìm ra bản đồ gène của con người, các nhà khoa học đã vô cùng kinh ngạc, thấy cái cây ngoài sân kia có 70%, cọng cải có 26%, chuột có 97,5%, tinh tinh có 99% gène giống người. Còn người với người thì có trên 99, 99% gène giống nhau.

Vậy thì có cần phải phân biệt người da vàng da đỏ da đen da trắng nữa không. Phật được gọi là bậc “chánh đẳng chánh giác’ vì thấy biết rõ điều đó, việc gì còn phải phân biệt nữa. Có phải là “tỳ-lô-giá- na” cũng là gen đó không? Trong kinh Hoa Nghiêm bảo tất cả các vị Phật đều có thân tỳ- lô- giá- na từ “Như Lai tạng” mà ra cả! Cái gì làm ra hệ gène chưa biết hết, nhưng đều chung từ DNA, từ con virus nhỏ xíu đến con người, con cá voi, con khủng long tiền sử. Ai trộn mấy thứ đó lại với nhau mà sinh ra đủ thứ vậy nhỉ? Phật không trả lời câu đó.  Tại nghiệp? Nghiệp là gì cũng không biết.

Mọi người đều có đủ “3 thân” như Phật nên ai cũng có khả năng rèn tập để “tự tịnh kỳ ý” của mình mà được hạnh phúc an lạc. Một người hiểu biết 3 thân sẽ không còn phân biệt giàu ghèo, sang hèn, sẽ đối xử với mọi người bằng tấm lòng tôn trọng, vì biết họ cũng như ta, không cần phân biệt, không ngã mạn, tự cao, đưa tới đau khổ cho người và cho chính mình.

Chuyện thứ ba: Thở.
Hãy nín thở thử… một chút xem sao! Không được. Ngưng thở 4 phút thì chết. Nhịn ăn, nhịn uống mươi ngày mới chết. Thở thiết yếu của đời sống.  Cây cỏ cũng thở. Có điều ta cần O2 trong không khí. Còn cây cỏ cần CO2. Ta và cây cỏ nợ nần lẫn nhau. Không thể thiếu nhau. Thử hít vào một hơi thiệt sâu… Không được! Một lúc phải thở ra. Thở ra thiệt lâu… Không được! Một lúc phải hít vào. Hít thở nó tự động, nó không theo ý ta muốn. Hít vào thở ra là do áp suất trong phổi. Nó cóc cần ta. Nó chẳng phải là ta, chẳng phải của ta, chẳng phải là tự ngã của ta. Ta biết mình “vô ngã” chỉ cần nhìn vào hơi thở.

Ngàn năm trước, người xưa có thở không? Phật có thở không? Ngàn năm sau, người sau có thở không?

Lắng nghe hơi thở của mình…
Mới hay hơi thở của nghìn năm xưa…
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…

(ĐHN)

Thì ra cái không khí trong vũ trụ này là chốn hư không, mênh mông, rộng khắp, mà  giúp ta tồn tại. Não bộ chỉ chiếm có 2% thể trọng của ta mà tiêu hao đến gần 30% dưỡng khí. Tại sao? Tại vì O2 đó dùng cho hoạt động của não, mà hoạt động của não là chủ yếu dành cho tính toán, hơn thua, ganh ghét, lo sợ, tức giận, tranh giành, đấu đá lẫn nhau không ngớt. Có cách gì làm giảm không? Có. Chỉ cần “tự tịnh kỳ ý”.

Đừng quên kẻ thù của ta thở ra thì ta hít vào. Ta thở ra thì kẻ thù ta hít vào, Hai bên thân thiết biết mấy!

Thở còn giúp ta thấy biết Khổ. Hồi ỏ trong bụng mẹ, ta không thở, ta khoẻ ru. Sanh ra mới khóc thét lên và khổ sẽ đeo đẳng ta mãi. Cho đến khi ta hết thở, ta ngưng thở, ta mới hết… khổ! Ta chỉ mượn tạm hơi thở trong cuộc đời mình, chẳng lẽ chỉ dành cho khổ đau, cho hận thù cho đấu đá tranh giành sao? Chẳng lẽ không có lúc nào cho tâm được an vui, được hạnh phúc sao? Thiền chính là cách sử dụng hơi thở để chữa trị bệnh âu lo sợ hãi, khổ đau của mình. Nhờ quán niệm hơi thở mà ta thấy biết vô thường, khổ, vô ngã, duyên sinh, thì chẳng phải nhờ thiền mà ta tìm được sự thanh tịnh, tìm được thường lạc ngã tịnh đó sao?

Chuyện thứ tư: Ăn.
Tại sao phải ăn, ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn cách nào?… Phật mang bình bát đi khất thực vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và ai cho cái gì cũng vui nhận, không đòi hỏi, chẳng từ chối. Mang về vo lại thành một cuộn tròn để ăn một cách chánh niệm gọi là “đoàn thực”. Thức ăn có đủ bột đường (glucid), đậu, thịt, cá (protid), mè, bơ (lipid), và dĩ nhiên có rau củ, quả (khoáng, sinh tố)… Có khi thiếu thứ này một chút, thừa thứ khi một chút. Không sao. Thứ này có thể “biến” thành thứ kia không khó. Trong bột đường cũng có đạm, béo… Các thức ăn đó đã đủ cả các thành tố “đất nước gió lửa” của tứ đại, của ngũ uẩn.  Thì ra ăn ngũ uẩn là để nuôi thân ngũ uẩn. Khi đi khất thực hàng ngày như vậy ta thấy được tùy duyên, vô thường, vô ngã.

Nhưng ăn uống không chỉ để nuôi thân mà còn nuôi tâm. Phật nói có 4 nhóm thức ăn- gồm đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực. Mỗi ngày ta tiếp xúc với biết bao thông tin từ bên ngoài bao bọc lấy ta. Cái “xúc thực” đó đủ khiến ta vui ta khổ, quay cuồng… Thử một ngày ngắt điện, tắt điện thoại, tắt internet đi coi!

Xúc sẽ dẫn tới thọ. Và “ái thủ hữu” tức khắc xuất hiện! Rồi từ thọ mà có tưởng. Hết thọ hết tưởng thì sẽ hết “sinh sự”. Tưởng dẫn đến tư niệm thực, thức thực. “Chúng sinh” đã thành lớp lang, đã thành “tri kiến” sai lạc, thành kiến, khái niệm, định nghĩa  vây chặt lấy ta. Nếu xúc thực dễ dẫn đến stress, thì tư niệm thực lại dẫn đến Anxiety, lo âu, sợ hãi, và thức thực sẽ dẫn đến Depresion, trầm cảm…

Còn “3 điều” là sao?

Một là phải hiểu “thuật ngữ”.

Không hiểu thuật ngữ Phật học thì sẽ bối rối, hiểu lầm, dễ dẫn tới dị đoan mê tín. Khi phải giảng về Phật pháp, tốt nhất là ”vô ngôn”, vì ngôn ngữ tự nó đầy rẫy những cạm bẫy. Nhớ rằng Phật không giảng dạy gì, chỉ tuỳ từng trường hợp cụ thể, Phật dạy riêng cho người nào đó là đủ. Gặp người thợ rèn, Phật nói về rèn sắt, gặp người thợ giặt Phật nói về giặt giũ, gặp người chơi đàn Phật nói về dây dàn căng hay dãn… Ngay cả tiếng Pali cũng chỉ có sau khi Phật nhập Niết bàn  300 năm! Những từ Hán việt, phiên âm, dễ gây nhầm lẫn nhất. Phật luôn căn dặn “đừng tin ai cả, kể cả tôi”. “Đến thử đi rồi biết”…

“Tam- ma- địa” mới nghe tưởng là vùng đất của ba con ma! Thực ra Tam-ma-địa là phiên âm chữ Samadhi, nghĩa là Chánh định.  Niết-bàn chẳng hạn không phải là cái nơi thiên đàng, cực lạc, mà là phiên âm của Nirvana. Ngay cả “chúng sanh” cũng vậy. “Chúng” là nhiều, “Sanh” là sanh ra. Cái gì do nhiều thành tố tạo nên thì gọi là “chúng sanh”… “Chúng sanh không phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh,  thị danh chúng sanh- kinh Kim Cang). Có một ông Bồ- tát thệ nguyện ngày nào còn một chúng sanh, tôi nguyện không thành Phật. Nghĩa là phải diệt sạch hết chúng sanh thì mới chịu làm Phật. Ông sẽ chế bom nguyên tử, bom khinh khí và các thứ vũ khí ghê gớm khác để tận diệt hết muôn loài trên cõi Ta-bà này ư?

Không. Ông thệ nguyện vậy vì ông biết chúng sanh ở trong đầu ông chớ không ở ngoài. Mấy cái xúc thực, tư niệm thực, thức thực… là “chúng sanh” do vô số thành tố tạo ra. Huệ Năng dạy: “Dứt bặt trần duyên. Chớ sanh một niệm!”.

Hai là phải hiểu ẩn dụ, ẩn nghĩa…

Kinh Pháp Hoa nói đến hóa thành, cùng tử, viên ngọc trong chéo áo, xe dê xe trâu… Niệm Quán Thế Âm thì gặp lửa lửa tắt, gặp nước cuốn trôi thì nước cạn, muốn sanh con trai có con trai, con gái có con gái…  Lửa ở đây là để chỉ lòng sân hận. Sân hận đưa ta vào chín tầng địa ngục. Đỏ mặt tía tai. Bầm gan tím ruột. Nước ở đây là để chỉ lòng tham cuồn cuộn cuốn ta vào hố thẳm, “lòng tham không đáy”… Con trai muốn nói là Trí tuệ, con gái muốn nói là Từ bi…

Ba là phải Thực hành.

Học Phật phải thực hành.  Tu phải đi với hành. Nhưng không được nóng vội. Nóng vội sẽ dẫn tới “tẩu hỏa nhập ma”. Thực hành trong cách thở, cách ăn, cách nghĩ, cách làm. Học Bồ-tát Thường Bất Khinh để luôn kính trọng mọi người, không phân biệt. Học Bồ-tát Dược Vương để luôn chân thành, ai thấy cũng vui ai gặp cũng mừng (nhất thiết chúng sanh hỷ kiến). Học Bồ-tát Quán Thế Âm để biết thấu cảm, nghìn mắt nghìn tay, hóa thân đủ hình dạng tùy cơ ứng biến. Đó chính là sự tôn trọng (respect), sự chân thành (genuine), sự thấu cảm (empathy) giúp cho cuộc sống ta luôn an lạc, hạnh phúc.

Tôn giáo nào, đạo nào cũng dạy làm lành tránh ác. Nhưng Phật giáo nêu cao “Tự tịnh kỳ ý” là điều cốt lõi và đòi hỏi sự thực hành trong đời sống hàng ngày. Tự mình, làm cho tâm ý mình trở nên thanh tịnh. Tâm ý mà thanh tịnh rồi thì cái “thấy” cái “biết” đã khác, cách nghĩ, cách làm đã khác. Con đường An Lạc mở ra từ đó.
Lòng sân hận đang nổi lên như lửa đốt, lòng tham đắm đang nổi lên như nước cuốn, nếu biết thực hành hít thở, chú ý đến hơi vào hơi ra… một lúc thì thoát.

Chỉ cần sử dụng hơi thở của chính mính để thực hành là đủ.
Thở bụng, tức thở cơ hoành. Lâu nay ta quen thở ngực. Thở ngực thì không sâu, không đưa hơi đến “huyệt đan điền” được. Tập thở cơ hoành (diaphagmatic breathing hay abdominal breathing) thì ta dễ ổn định được tâm ta. Thở bụng là giai đoạn đầu. Phải tập vài tháng sẽ quen. Không nóng vôi.
Sau đó ta tập chú ý tới hơi thở vào và hơi thở ra. Có nghĩa là ta dõi theo luồng hơi thở vào và hơi thở ra đó, hơi vào hơi ra tới đâu ta biết tới đó.  Dõi theo như vậy một lúc, ta “quên” hết mọi thứ chuyện trên đời! Đây là “Thở chánh niệm”, tức Thiền chỉ (Samatha). “Chỉ” là dừng, là ngưng, dừng ngưng ý nghĩ lăng xăng trong tâm ta. Ngưng ý nghĩ là ta đã vô tâm, vô niệm. Hết mệt, hết căng thẳng.

Rồi thử ngẫm nghĩ một chút về chuyện Thở của ta. Tại sao ta phải thở? Thở để làm gì? Không thở được không? Hơi này từ đâu ra? Nó thay đổi thế nào lúc ta mệt, lúc ta căng thằng, lúc ta sợ hãi… và lúc ta thảnh thơi, thoải mái, vui vẻ? Thì ra nó thay đổi liên tục theo tâm cảnh ta. Ta thấy biết “vô thường”. Ta muốn hít vào thiệt lâu, thở ra thiệt dài không được. Tại sao ta không có quyền kiểm soát hơi thở “của ta” ? Hoá ra nó không phải của ta, không phải là ta. Ta thấy biết “vô ngã”.

Mọi thứ có vẻ chẳng tùy thuộc vào ta chút nào! Ờ, còn cái hồi ta ở trong bụng mẹ, ta cũng không ăn  không thở mà vẫn sống nhăng đó thôi, lại còn rất mau lớn nữa. Lúc đẻ ra ta mới vất vả, phải thở, phải ăn, phải tranh giành, đấu đá… ! “Khổ” là từ đó.
Chỉ cần quán niệm hơi thở, ta thấy “tam pháp ấn” vô thường, khổ, vô ngã rồi vậy.
Còn tìm kiếm đâu xa?

Đỗ Hồng Ngọc
Saigon 8.10.2024

Nguồn: https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19582/

…. o ….

Đỗ Hồng Ngọc, M.D.
Translated  by Nguyên Giác Phan Tấn Hải

A pocketbook for the elderly
A PATH TO PEACE & JOY

Peace and joy are not merely fleeting happiness or temporary pleasure; rather, they resemble a cool stream that nourishes from within. They represent a profound state of contentment, characterized by a sense of well-being and serenity that emanates from each individual. This gentle and enduring state brings tranquility to both the mind and body, radiating outward to others. Peace and joy arise from wisdom, fostering freedom, ease, and balance in both physical and mental dimensions.

Learning Buddhism is the most effective way to cultivate peace and joy. Is there a secret to learning Buddhism easily? If you delve into the repositories of Buddhist scriptures, you will find that it is impossible to learn everything in multiple lifetimes. Furthermore, you may become consumed by inner turmoil, akin to a ghostly fire. This challenge is exacerbated in the age of the Internet, where AI, fake news, and deepfakes abound.

So, is there a secret to learning Buddhism easily?
Yes, there is a secret.
This secret comprises Three things and Four stories.

Three Things and Four Stories

The first story: The Buddha
Buddha was neither a god nor a religious leader with supreme authority capable of bestowing blessings upon humanity. He was an ordinary person, much like us, who experienced suffering, illness, old age, and death, just as all living beings do. Through his discovery of the path to liberation from suffering, he shared his insights with boundless compassion, as everyone possesses Buddha nature and has the potential to become a Buddha in the future. Buddha did not hold the exclusive right to be a Buddha alone; rather, he served as a Dharma teacher, an educator, and a revered physician.

The path taught by the Dharma Master can be summarized in just a few words:
Don’t do anything evil!
Do what is good.
You must purify your mind and thoughts yourself.
That is the teaching of the Buddhas.

Which religion does not encourage doing good and avoiding evil? What is commendable about it?

The intriguing aspect lies in the third sentence: You must purify your mind and thoughts on your own. When your mind and consciousness are pure, there is nothing more you need to accomplish.

The challenge lies in accomplishing it on your own. By yourself. This means you cannot seek assistance from anyone else. Only you can facilitate your own healing. Just as you must breathe independently—no one can breathe for you—you must also chew, swallow, eat, and drink by yourself. No one can perform these essential actions on your behalf.

Your mind is often restless and agitated. The mind resembles a monkey that enjoys constant movement, while consciousness is akin to a horse that yearns to run freely. It can be quite challenging to maintain a still and quiet mind. Achieving a state of peace and calm within the mind is no simple endeavor.

In summary, the essential step is to cleanse your mind.
How is it possible?
Yes, it is possible.

The second story: Yourself.
You must rely on yourself. Depend on yourself, as you cannot rely on anyone else. Just as no one can breathe for you, no one can eat for you. The Sixth Patriarch, Hui Neng, advised us to take refuge in ourselves. Everyone possesses three bodies: the Dharma body, the Reward body, and the Transformation body, similar to the Buddha. The Buddha taught that everyone has Buddha nature and that anyone can attain Buddhahood without distinction. When scientists mapped the human genome, they were astonished to discover that humans share 70% of their genes with trees, 26% with mustard greens, 97.5% with mice, and 99% with chimpanzees. In fact, humans share more than 99.99% of their genes with one another.

There is no need to differentiate between yellow, red, black, and white skin. Buddha is referred to as the one who is fully enlightened because he perceives this truth; so why should we make distinctions? Is it true that the ancient Buddha Vairocana embodies that gene? In the Avatamsaka Sutra, it is stated that all Buddhas possess the body of Vairocana from the Tathagatagarbha. The composition of the genetic system remains unknown, but all living beings share the same DNA, from the tiniest virus to humans, whales, and prehistoric dinosaurs. Who combined all these elements to create the diversity of life we see today? Buddha did not provide an answer to that question. Is it due to karma? The nature of that karma remains a mystery.

Everyone possesses three bodies, similar to Buddha, which means that each individual can practice mindfulness and purify their own mind to attain happiness and peace. A person who comprehends the concept of the three bodies will no longer differentiate between the rich and the poor, or the noble and the humble. They will treat everyone with respect, recognizing that we are all fundamentally alike. There is no need for discrimination, arrogance, or pride, as these attitudes only lead to suffering for oneself and others.

The Third Story: Breathing.
Try holding your breath… for a moment! You can’t do it. If you stop breathing for four minutes, you will die. Meanwhile, if you don’t eat or drink for ten days, you will also die. Breathing is essential to life. Interestingly, plants also breathe, but they require carbon dioxide (CO2) while we need oxygen (O2). We are interdependent; we cannot survive without each other. Now, try taking a deep breath… No! You must exhale at some point. Exhale for a long time… No! You must inhale eventually. Breathing is an automatic process; it does not adhere to our will. Inhaling and exhaling occur due to pressure changes in the lungs. It operates independently of us. It is not ours; it is not our self. We can recognize our “selflessness” simply by observing our breath.

Thousands of years ago, did ancient people breathe? Did Buddha breathe? Thousands of years from now, will future humans still breathe?
When you listen to your breath,
you realize that it has existed for thousands of years.
One day, it accidentally became your breath
after getting caught in a speck of dust.
While this breath is yours, it is not entirely yours;
it will continue to belong to thousands of years in the future.
(ĐHN)

It turns out that the air in this universe is a vast, pervasive void that enables our survival. The brain accounts for only 2% of our body weight but consumes nearly 30% of the oxygen we breathe. Why is this the case? Because that oxygen is essential for brain activity, which primarily involves processes such as calculation, competition, jealousy, fear, anger, and conflict with one another. Is there a way to reduce this consumption? Yes, by simply “purifying your own mind.”
Don’t forget that when our enemy exhales, we inhale. Conversely, when we exhale, our enemy inhales; this illustrates just how close the two sides are!

Breathing also allows us to recognize suffering. While we were in our mother’s womb, we did not breathe and had no worries. Upon our birth, we cried and experienced suffering, which would follow us throughout our lives. When we can no longer breathe, we cease to suffer. Do we only borrow breath in our lives for the purpose of suffering, hatred, conflict, and competition? Is there no time for our minds to find peace and happiness? Meditation offers a way to utilize our breath to alleviate anxiety, fear, and suffering. Through mindful breathing, we can perceive impermanence, suffering, non-self, and dependent origination. Is it not through meditation that we discover purity and witness the unchanging, the blissful, the essence of self, and true purity?

The Fourth Story: Eating
Why do we need to eat? What do we eat? How much do we eat? How do we eat? The Buddha carried his alms bowl and spent some hours each day begging for food, happily accepting whatever was offered to him without asking for specific items or refusing any contributions. He would return and roll the food into a ball to eat mindfully, a practice referred to as “eating solid food.” This food typically includes a balance of starches (carbohydrates), beans, meat, fish (proteins), sesame, butter (fats), and, of course, vegetables and fruits (which provide minerals and vitamins). Food can sometimes lack certain elements or have an excess of others. However, this is not a significant issue. This component in food can be easily converted into another component. For example, flour and sugar also contain proteins, fats, and other nutrients. These foods encompass all the elements of “earth, water, wind, and fire,” representing the four elements and the five aggregates. Ultimately, consuming the five aggregates serves to nourish the body composed of the same five aggregates. When we engage in the daily practice of begging for food, we come to understand that all phenomena are interdependent, impermanent, and devoid of a permanent self.
Eating and drinking serve not only to nourish the body but also to enrich the mind. Buddha identified four categories of food: solid food, sensory food, volitional food, and consciousness food. Each day, we are inundated with a vast amount of information from our surroundings. That sensory food can evoke a range of emotions, from happiness to sadness to dizziness. Consider disconnecting from electricity, silencing your phone, and turning off the internet for a day!
Contact leads to feelings, which then give rise to love, attachment, and existence. From feelings, perception emerges. When feeling disappears, and when perception ceases, there will be no more arising of dharmas. Perception leads to volitional food and consciousness food. When sentient beings have formed, it leads to wrong knowledge and views, and then prejudices, concepts, and definitions will besiege us. Then sensory food easily leads to stress, volitional food leads to anxiety and fear, and consciousness food leads to depression.

What about the three things?

First, it is essential to understand the terminology.
A lack of comprehension regarding Buddhist terminology can result in confusion, misunderstanding, and may easily lead to superstition. When it comes to teaching the Dharma, it is often best to avoid using words, as language can be fraught with misunderstandings. It is important to remember that the Buddha did not adhere to a rigid teaching method; rather, he tailored his lessons to suit each individual’s unique circumstances. For instance, when he encountered a blacksmith, he spoke about forging iron; when he met a washerman, he discussed the art of washing; and when he came across a zither player, he talked about the tension of strings. Furthermore, the Pali language was developed approximately 300 years after the Buddha attained Nirvana. Meanwhile, Sino-Vietnamese characters and phonetic transcriptions can be particularly perplexing. The Buddha consistently advised against placing blind trust in anyone, including himself. He emphasized the importance of personal experience, encouraging individuals to explore and discover the truth for themselves.
The same is true of the word “chúng sanh.” The word “chúng” means many, and “sanh” means to arise. Anything composed of multiple elements is referred to as a living being. The Diamond Sutra states that beings are not truly living beings; they are merely temporarily designated as such. There was a Bodhisattva who vowed that as long as even one living being remained, he would not attain Buddhahood. In other words, he must eliminate all living beings before he could become a Buddha. Would he resort to creating atomic bombs, hydrogen bombs, and other devastating weapons to annihilate all living beings in this samsaric world?
No, he made that vow because he understood that sentient beings resided within his mind, not outside of it. Sensory food, volitional food, and consciousness food are all “sentient beings” formed by countless elements. Hui Neng taught, “Cut off all worldly conditions. Do not give rise to a single thought!”

Second, we must understand metaphors and hidden meanings.
The Lotus Sutra discusses the illusory city, the prodigal son, the pearl hidden in the corner of a robe, a goat cart, and a buffalo cart. If you chant the name of Quan Âm, fire will be extinguished when you encounter it; floods will recede when you face them; if you desire a son, you will have one; if you wish for a daughter, you will have one as well.
Fire symbolizes anger, which can lead one to the nine levels of hell. In such moments, your face may flush red, and your ears may take on a purplish hue. This intense anger can feel as if your liver and intestines are being torn apart. Flooding represents greed, which surges forth and pulls you into the abyss—a realm of insatiable desire. The image of the son embodies Wisdom, while the image of the daughter signifies Compassion.

Third, you must practice.
Learning Buddhism requires dedicated practice, which must be accompanied by cultivation. However, it is important not to rush. Haste can lead one astray, and the fires of confusion may ignite in the mind. Practice mindfulness in your breathing, eating, thinking, and actions. Learn from Bodhisattva Never Disparagingto always show respect to everyone, without discrimination. Take inspiration from Bodhisattva Medicine King to cultivate sincerity, allowing you to find joy in every encounter. Learn from Bodhisattva Avalokiteshvara to cultivate empathy, embodying the spirit of one who can manifest a thousand eyes, a thousand hands, and a thousand forms to assist humanity. These qualities of respect, sincerity, and empathy contribute to a life that is peaceful, joyful, and fulfilling.
Every religion and belief system teaches the importance of doing good and avoiding evil. However, Buddhism emphasizes the principle that one must purify one’s mind by oneself, which requires consistent practice in daily life. By yourself, you have to make your mind pure. When your mind is pure, anything you see and know will be different; the way that you think and act becomes different. The path of peace and joy opens up from there.
The moment anger rises like a blazing fire or when greed surges like a rushing tide, if you know how to practice mindful breathing—paying attention to your inhalation and exhalation—you can break free from these emotions.
With consistent practice, simply using your breath can be sufficient to overcome anger and greed.
You should practice belly breathing, which means breathing with your diaphragm. You’ve been used to breathing from your chest for a long time. Breathing only in the chest means that the breath is shallow and does not reach the “dantian point.” Practicing diaphragmatic breathing (or abdominal breathing) helps you stabilize your mind more easily. Belly breathing is the initial stage. It takes a few months of practice to get used to it. Be patient and do not rush the process.

Then, practice focusing on your in-breath and out-breath. This involves following the natural rhythm of your breathing, and becoming aware of each inhalation and exhalation. As you engage in this practice for a while, you may find that you forget everything else in the world! This technique is known as “Mindful breathing” or Samatha meditation. “Samatha” means stopping, seeing the thoughts disappear in your mind. When you are fully present and recognize that your thoughts have dissipated, you experience a state of mindlessness and thoughtlessness. In this state, you are letting go of fatigue and stress.
Take a moment to reflect on your breathing. Why is it necessary to breathe? What is the purpose of respiration? Is it possible to stop breathing? Where does your breath originate? How does your breathing change when you are tired, stressed, or afraid, compared to when you are relaxed, comfortable, or happy? It becomes evident that your breath fluctuates in response to your mental state. You observe and recognize the concept of impermanence. You may wish to inhale deeply and exhale slowly, yet you find it difficult to do so. Why do you lack control over “your breath”? So, it does not belong to you; it is not a part of your identity. By understanding this, you begin to perceive the notion of non-self.
It may seem like everything is beyond your control! However, when you were in your mother’s womb, you neither ate nor breathed, yet you were still alive and grew rapidly. Once you were born, you faced challenges: you had to breathe, eat, struggle, and compete. This is where suffering originates.

By simply contemplating your breath, you can observe the three marks of the Dharma: impermanence, suffering, and non-self. Why search any further?

………………………………………

tranthinguyetmai.wordpresse

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi: 40 năm Ct ARI BVNĐ 1

21/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

“40 năm Chương Trình ARI”

tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 ngày 18.10.2024

Bạn ơi,

Xin lỗi, đã lâu chẳng có Thư gởi bạn xa xôi như đã hứa. Làm biếng! Không có chuyện gì để khoe, để phiền, để giận… để nói cho nhau nghe như xưa. Sắp quên tuốt rồi chăng? Hôm nay lại có chút chuyện vui đây.

Ngày 18.10.2024, Bệnh viện Nhi Đồng Saigon, nay là BV Nhi Đồng 1, tổ chúc buổi Tổng kết Chương Trình Hô Hấp Cấp Ở Trẻ Em (ARI, Acute Respiratory Infection) ở phía Nam, có các GS, TS, BS… các nơi từ Hà Nội, từ Paris và các đồng nghiệp các tỉnh phía Nam về dự, báo cáo các đề tài Nghiên cứu khoa học.

Ái dà, bạn bè lứa mình đa số già hết trơn mà mình thì già nhất trong số đó. Dĩ nhiên có nhiều BS trẻ ở BV tham dự học hỏi.

Mình được BTC mời “tham luận”. Được thôi. “Truyền thông Giáo dục sức khoẻ” và Chương trình Sức khoẻ Cộng Đồng lâu nay không xa lạ với mình, và đã có ít nhiều kinh nghiệm. Đóng góp 15 phút thôi là đủ. Chỉ cần vài Slides.

CT ARI, cũng như CDD…  đã thực hiện khá tốt, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em đáng kể. Chỉ ngại thời buổi này, ngành Y thường chuộng Y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao… May, từ xưa, BV Nhi Đồng đã chủ trương đi “2 chân”: Vừa chuyên sâu vừa Cộng đồng. Đợt tổng kết ở BV hôm nay đúng 40 năm, từ 1984, đó cũng là năm mình triển khai Ct Săn sóc sức khoẻ ban đầu cho Tre Em ( Primary Child Care) Phương 13 Quận 6 có khá nhiều kinh nghiệm. Dịp này mình chỉ chia sẻ về vai trò và triét lý Giáo dục Sức khoẻ (Health Education) và Nâng cao Sức khoẻ (Health Promotion)  trong các Chương trình Cộng Đồng sao cho có kết quả tốt thôi.

Xin gởi bạn vài tấm hình coi vui thôi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Vài đoạn hồi ký

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi: CON ĐƯỜNG AN LẠC

08/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

“Sách bỏ túi” 

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bs Đỗ Hồng Ngọc

An lạc không phải là hạnh phúc, là sảng khoái nhất thời hay hài lòng, vui sướng… nhất thời, trái lại nó như dòng suối mát tưới tẩm ở bên trong. An lạc là một trạng thái hỷ lạc, một cảm nhận an lành, thanh thản tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác. An lạc đến từ tuệ giác, đưa đến sự tự tại, ung dung, cân bằng cả về vật chất lẫn tinh thần…

Học Phật là cách hiệu quả nhất để mang lại sự an lạc đó. Có “bí quyết” nào để học Phật cho dễ không? Chui vào các “tàng kinh các” thì học đến nhiều đời nhiều kiếp cũng không hết mà còn bị “tẩu hoả nhập ma”, không kể ở thời Internet, AI, với fake news, với deepfakes…

Vậy có “bí quyết nào” học Phật cho “dễ” không?

 

THÔNG BÁO:  Mời các bạn ĐÓN ĐỌC

Tập sách CON ĐƯỜNG AN LẠC

đã được Cty Sách PHƯƠNG NAM ấn hành.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay

50 năm: “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”

06/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

50 năm:

Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

Đỗ Hồng Ngọc

 

Bản đầu tiên: 1974
Nxb LA-NGÀ
Bìa Đỗ Hồng Ngọc
(Hình: Tượng Me con trong một tạp chí Y học)

 

Lời ngỏ

(cho bản in lần đầu, 1974)

Sao lại viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng? Có đứa con nào mà chẳng là con đầu lòng? Có đứa nào giống với đứa nào đâu? Mỗi đứa là một khám phá mới, một ngạc nhiên mới cho ta. Nhưng dù sao, với đứa con đầu lòng chúng ta cũng bỡ ngỡ nhiều hơn, vụng về nhiều hơn mà lo lắng cũng nhiều hơn…

Bởi là lần đầu chúng ta “bỗng dưng” làm cha mẹ, chúng ta phải đối phó với những việc vặt vãnh hàng ngày làm ta lúng túng không ít: săn sóc bé, tắm rửa vệ sinh, ăn mặc, bú mớm rồi là những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn, khi bé ốm đau bệnh hoạn.

Nuôi trẻ là một bản năng, một nghệ thuật hay một khoa học? Cả ba, có lẽ thế. Là một bản năng, bởi không cần học hỏi ở bất cứ đâu, người mẹ cũng có thể nuôi con đến ngày khôn lớn. Đói cho ăn, khát cho uống. Nóng làm cho mát. Lạnh làm cho ấm. Nếu không bị lệch lạc đi, bản năng có thể là một hướng dẫn viên tốt. Là một nghệ thuật, bởi hơn bất cứ một nghệ sĩ nào khác, người mẹ đã tạo nên một tác phẩm sống: đứa con, một con người, một cá nhân.

 

Săn sóc bé, dạy dỗ bé, nhìn ngắm bé lớn lên là cả một nghệ thuật uyển chuyển đầy sáng tạo có mục đích cuối cùng là giúp bé phát triển trọn vẹn nhất theo một khuôn mẫu định sẵn, nhưng là một khuôn mẫu cá biệt, không giống một khuôn mẫu nào khác. Là một khoa học bởi nếu có đôi lúc bản năng ngần ngại, nghệ thuật phân vân thì chính kiến thức khoa học sẽ soi sáng con đường phải lựa chọn. Khoa học giúp ta hiểu rõ hơn để hướng dẫn hữu hiệu hơn, khoa học giúp ta ngăn ngừa cho trẻ những bệnh tật hiểm nghèo.

Một phần lớn, tập sách này được dành viết về vệ sinh, về dinh dưỡng, về phòng bệnh – tìm hiểu sự phát triển bình thường của bé – khi bé mắc bệnh thì biết phải làm gì tạm thời trong khi đợi đi khám bác sĩ và giúp các bà mẹ bình tĩnh theo dõi, cộng tác với thầy thuốc chữa trị bệnh cho con…

(…)

Niên học 1968-1969 tôi là sinh viên Y khoa năm cuối thực tập ở Bệnh viện Nhi đồng Saigon, tại Trại 2B  (Nội nhi) dưới sự hướng dẫn của GS Phan Đình Tuân, giám đốc bệnh viện, Trưởng bô môn Nhi ở Y khoa Đại học đường Saigon và Bs Dương Thị Thanh Liên, trưởng Trại 2B. Năm 1969, tôi tốt nghiệp bác sĩ và trình luận án về Nhi khoa (năm 1970), do GS Phan Đình Tuân đỡ đầu. Bệnh viện Nhi đồng Saigon (thành lập 1956), như một cái nôi của tôi vì tôi rất say mê ngành Nhi Khoa.

Khi về lại BVNĐ (1973), tôi làm Trưởng phòng Cấp cứu Ngoại chẩn (Consultation externe).  Chính trong thời gian này, tôi viết cuốn Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng qua những kinh nghiệm thực tế hàng ngày ở Khoa Cấp cứu nhi, và nhiều năm làm ở Trại 2B Nội nhi, thấy nhiều cảnh thương tâm do các bà mẹ thiếu kiến thức về chăm sóc, phòng bệnh cho trẻ nhỏ.  Tôi viết với tất cả sự chân tình, với kiến thức và kinh nghiệm có được nhằm chia sẻ với các bạn bè, em cháu trong nhà, và cũng vì tôi đã có 3 đứa “đầu lòng” để chăm lo.

 

Nhân 50 năm cuốn Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng xuất bản tại Saigon, xin chia sẻ nơi đây vài kỷ niệm cùng các bạn…

Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng  in lần đầu năm 1974, do La Ngà xuất bản và Sống Mới tổng phát hành, 3000 cuốn đầu tiên, chỉ trong 2 tháng đã tái bản 5000 cuốn nữa. Đến 4.1975, Nhà phát hành Sống Mới mang trả lại tôi hơn 2000 cuốn. Tuy vậy, sách vẫn có người đến lấy lai rai để bán ra ngoài đường Sách cũ. Sau 1975, Nhà xuất bản Thành phố đề nghị tôi rút ngắn (thời kỳ này giấy in rất hiếm!) và chỉnh sửa cho phù hợp tình hình mới ( về hệ thống y tế, thuốc men…). Tôi thấy cuốn sách vẫn rất cần thiết cho các bà mẹ, nhất là trong giai đoạn thiếu thốn những nguồn thông tin như lúc bấy giờ. Anh Lã Quang Quỳnh là biên tập viên, con rể của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh, rất thấu hiểu và tôn trọng tác phẩm, dầu vậy anh nói vẫn cần một “chuyên gia y tế” thẩm định lại trước khi cho xuất bản! Vị chuyên gia được mời thẩm định là Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp. Ông xem xét rất kỹ và đánh giá là cuốn sách quý, rất hay, và cần thiết. Sau này, tôi mới được biết ông là vị thầy thuốc nổi tiếng, gốc Bến Tre, đã có phòng mạch từ trước 1945 ở Mỹ Tho, tham gia kháng chiến chống Pháp (Ông là cha của anh Trần Hữu Dũng, Viet-studies).

Về sau, sách đã được tái bản đầy đủ, theo nguyên bản (gốc 1974). Tôi cũng đã bổ sung và cập nhật định kỳ, cũng do NXB Tổng Hợp Thành Phố thực hiện.

Những năm gần đây, tuy có nhiều sách dịch về các phương pháp nuôi dạy con theo Nhật, Mỹ, Pháp, Israel…nhưng cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng vẫn được nhiều bà mẹ tìm đọc, họ nói đó là cuốn sách rất Việt, có những phong tục tập quán và những tình cảm đặc biệt của người Việt, không tìm thấy trong các cuốn sách khác.

Đến năm 2010, Phùng Minh Bảo, người giúp tôi làm Website dohongngoc.com  cùng tôi thực hiện một Ebook Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng nhằm phổ biến rộng rãi hơn trên Internet, lúc này nhiều người đã quen sử dụng.

 

Ebook do Phùng Minh Bảo & Đỗ Hồng Ngọc

thực hiện 2010

(xem trên dohongngoc.com)

 

Và tôi, viết một Lời Ngỏ cho ebook.

Lời Ngỏ (Ebook 2010)

“Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” là một cuốn sách y học phổ cập khá quen thuộc với nhiều ông bố bà mẹ suốt nhiều thập kỹ qua. Nhiều bà mẹ bày tỏ đây là cuốn sách gối đối giường của họ trong những ngày tháng ngóng đợi đứa con đầu lòng cũng như suốt thời kỳ chăm sóc nuôi nấng con nhỏ dại. Sách đã giúp họ an tâm, nhất là trong thời buổi hiện nay, nhiều gia đình hạt nhân, thậm chí đơn thân.

Tôi viết cuốn sách này từ những kinh nghiệm khi đang làm việc tại Bệnh viện Nhi đồng Saigon, hằng ngày tiếp xúc với biết bao cảnh đời thực tế; tôi cũng lại viết từ nỗi lòng của một người làm cha mẹ, vì lúc đó đã vừa có 3 đứa con với nhiều nỗi âu lo. Thời gian qua nhanh! Mới ngày nào một chú bé sơ sinh được mẹ bế đến khám bệnh tôi ngày trước thì nay đã lại thấy chú bế một bé sơ sinh khác- là con của chú- đến khám.

Nhờ được viết từ những kinh nghiệm thực tiễn cũng như từ nỗi lòng của người làm cha mẹ, nên dù ngày nay có nhiều những quyển sách tương tự được dịch từ nước ngoài, các ông bố bà mẹ vẫn tìm thấy Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng những điều chia sẻ, thân quen.

Y học tiến bộ không ngừng. sách cũng đã được cập nhật mỗi lần tái bản. Và nay,  nhu cầu đọc sách trên mạng đã trở nên phổ biến, đặc biệt với các ông bố bà mẹ trẻ- trong cũng như ngoài nước- nên khi được Phùng Minh Bảo đề xuất chuyển thành Ebook để tiện tra cứu, tôi đã rất vui lòng đáp ứng. Ebook đã được biên soạn thêm, chỉnh sửa, bổ sung… đầy đủ hơn.

Tôi rất mong qua Ebook này, được dịp trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp, bạn bè gần xa và nhất là được giao lưu với các ông bố bà mẹ qua internet, phương tiện giúp ta mỗi ngày một gần gũi nhau hơn.

Trân trọng,

BS Đỗ Hồng Ngọc

Saigon 3.11.2010

 

 

Vài hình ảnh cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

 

……………………………

Lời Ngỏ (tái bản 2006)

Mới đó mà đã hơn 30 năm ! Thời gian trôi nhanh thật. Những chú nhóc ngày nào được các bà mẹ, ông bố trẻ lo âu thắc thỏm bế đến tôi thì nay đã lại thấy ẵm những chú nhóc khác – là con của chú – đến khám nữa rồi…

Vẫn những âu lo đó, vẫn những băn khoăn thắc mắc đó. Dù khoa học kỹ thuật, dù y học đã thay đổi, tiến bộ không ngừng mà tấm lòng người làm cha, làm mẹ thời nào cũng vậy, chẳng mấy chút đổi thay. Còn các bà mẹ, ông bố lúng túng lọng cọng ngày nào bây giờ đã là những ông bà nội ngoại, mà vẫn cứ còn lọng cọng lúng túng như xưa, dù tóc đã bạc màu với tháng năm, vẫn tất tả lo toan thay ba mẹ bé bận bịu trăm công ngàn việc. Nhiều bà nội bà ngoại kêu ca vất vả mà trong ánh mắt như tràn ngập niềm vui bởi được nựng nịu, bổng bế, chăm sóc bé, đôi khi còn không tin tưởng lớp trẻ, bảo chúng nó chẳng biết gì, chỉ biết… đẻ thôi !

Thời đại chúng ta bây giờ mọi việc trở nên không đơn giản, hình như còn lắm nỗi khó khăn hơn cho bà mẹ trẻ. Truyền thông tiếp thị đi vào mọi ngõ ngách, vào giấc ngủ, bữa ăn, gây bao nỗi hoang mang. Con người như ngày càng xa rời thiên nhiên, ngày càng bị cuốn hút vào dòng xoáy của những lệ thuộc, của những nhu cầu giả tạo. Nhiều ông bố bà mẹ bây giờ mặc sức tranh cãi và thậm chí đem đủ thứ sách trích dẫn Tây, Tàu để giành phần thắng mà cuối cùng chỉ tội nghiệp đứa trẻ bơ vơ hơn bao giờ hết ! Mọi thứ cứ như máy móc hóa, kế hoạch hóa. Bố mẹ thì bận bịu làm ăn, đầu tắt mặt tôi, khoán trắng cho người khác nuôi con mình. Tôi có dịp gặp những bà mẹ cân đong, đo đếm đến từng gram bột đường, từng gram trái cây, mà bé cứ ngày còm cõi, bơ phờ; tôi có dịp gặp những bà mẹ có hẳn một thực đơn phong phú tính từng calori, với hằng chục thức ăn thay đổi liên tục trong tuần mà trẻ cứ còi cọc, không phát triển ! Trẻ không biết nói, không biết kêu ca, bị ép ăn như một cái máy, ép nghe nhạc cổ điển Tây phương… cho thông minh hơn! Nếu trẻ kêu lên được, tôi nghĩ có lẽ chỉ kêu một tiếng: Mẹ ơi, con cần mẹ, con cần mùi mồ hôi của mẹ, cần tiếng ru của mẹ, cần vòng tay của cha, bờ vai của cha. Điều thú vị là trong khi đó, tại các nước phát triển lại có phong trào “về nguồn”, sinh đẻ tự nhiên, nuôi con phù hợp với từng đứa trẻ, cho bú sữa mẹ lâu dài, cho trẻ gần gũi với thiên nhiên…

Tôi chân thành cảm ơn Nhà Xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã cho tái bản cuốn sách này – được cập nhật và bổ sung đầy đủ – nhân dịp tôi chính thức về hưu như một món quà nhỏ gởi đến các ông bố, bà mẹ trẻ mới sinh con đầu lòng. Cuốn sách là những lời tâm tình, chia sẻ của một người vừa là thầy thuốc, vừa là người cha những năm xưa, nay đã trở thành ông nội, ông ngoại của mấy nhóc nhỏ rồi ! Thời gian trôi nhanh thật !

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3-2006

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………….

Vài phản hồi về cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”

 

Sachweb

Cuốn sách thực sự không thể tuyệt vời hơn. Đọc và giật mình, thảng thốt, nuôi trẻ thật đơn giản mà cũng không đơn giản chút nào. Nếu ta quá lo lắng hoặc quá coi nhẹ đều có thể dẫn tới những kết quả đáng sợ, chính vì vậy, tác giả nói rằng nuôi trẻ vừa là bản năng, vừa là nghệ thuật, vừa là khoa học. Bằng giọng tâm tình, gần gũi, viết về y học mà như đang kể chuyện đời thường, tác giả đã thực sự đem tới một món quà vô cùng quý giá, đặc biệt cho các bà mẹ trẻ. Tác phẩm đoạt giải Bạc sách Hay Việt Nam năm 2008.

 

Sách gối đầu giường

Lê Uyển Văn (Trà Vinh)

Mỗi đoạn đời, tôi thích những loại sách khác nhau. Sự khác biệt ấy ngày càng lớn lên cùng tuổi tác. Thời niên thiếu, tôi yêu chất văn nhẹ nhàng như sương bay, tinh tế như mùi hương cốm mới của Thạch Lam, Thanh Tịnh; lớn thêm một chút, tôi biết say mê cái lạ lẫm,dữ dội của Giamilia ( Aitmatốp), Sông Đông êm đềm ( Sôlôkhốp)…Rồi đến với văn học Trung Quốc ngọt ngào như trở về nguồn cội…Tích lũy được mấy tủ sách để đọc và nghiền ngẫm nhưng thật sự gối đầu giường thì không phải sách của một nhà văn chính hiệu mà là Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!

Đừng vội nghĩ rằng sức khỏe tôi yếu kém nên luôn cần đọc sách về Y học. Với tôi, tác phẩm của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là sự kết hợp tuyệt vời của thiên chức nhà văn và thầy thuốc. Với tôi, ông vừa là một lương y chữa bệnh thể xác, vừa là một thần y chữa bệnh tâm hồn.

Mỗi người mẹ khi có đứa con đầu lòng sẽ đối diện với biết bao âu lo và sợ hãi, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tặng cho chúng tôi “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” “ Làm thế nào để trẻ khỏe mạnh và thông minh?”.

Ở đó, tôi không chỉ nắm bắt được những kiến thức khoa học để nuôi con mà còn gặp được tấm lòng một người cha vĩ đại. Ông kể chuyện của con mình, kể về nỗi buồn lo, ân hận của mình để mà truyền kinh nghiệm cho bạn, cho tôi. Khi con mọc răng nóng sốt, khi con quấy khóc , ốm đau, khi con chán ăn, khi con biết lẫy, biết bò …tôi đều giở sách ra, đôi khi không chỉ đọc để biết phải làm gì mà còn tìm trong đó một nguồn an ủi, vỗ về. Mỗi lần nâng quyển sách ấy trên tay, tôi không nghĩ mình đang đọc sách mà đang trò chuyện với ông, ấm áp và tin tưởng lạ thường !

Lúc gần 2 tuổi, con tôi to khỏe, nhanh nhẹn và thông minh; giật giải trong kỳ thi “ bé khỏe, bé đẹp” của Tỉnh. Khi được hỏi bí quyết nuôi con, tôi nói trong xúc động và tự hào “ Bí quyết của tôi đều do bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc truyền lại !”.

Giờ con đã lớn, quyển sách ấy trở thành một kỷ vật, lật mở từng trang, hình ảnh con bé dại lại quay về, lung linh trước mắt ! Con bước vào tuổi dậy thì, có những điều chưa hiểu hay khó nói, tôi lại tìm đến “ Khi người ta lớn” của ông!

Mỗi ngày, chạy hụt hơi theo guồng quay của nhịp sống, đêm tôi tìm bình an trong “ Như ngàn thang thuốc bổ” “ Gió heo may đã về” “ Cành mai sân trước” “ Nghĩ từ trái tim”…

Tôi vẫn thầm biết ơn những văn hào, thi sĩ của muôn đời đã mang đến thế gian này những áng văn trác việt nhưng người tôi tri ân nhiều nhất, gần gũi nhất có lẽ phải kể đến người thầy thuốc, người nghệ sĩ có tấm lòng bao la như mẹ : Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc !

(2008)

 

Cuốn sách yêu thích của mẹ

(blog.dongchay.com)

Chính là cuốn sách mà mẹ đã trích một phần trong đó làm lời ngỏ cho cuốn nhật ký này. Cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc.

Ngay từ hồi nhỏ, mẹ khá là thích đọc. Đọc đủ thứ. Báo có, tạp chí có, truyện tranh có, tiểu thuyết có, truyện dài kỳ có và cả truyện chưởng cũng có. Đến bây giờ mẹ cũng vẫn còn giữ vài bộ truyện tranh (Conan, Songoku), vài bộ truyện dài kỳ thiếu niên (TKKG, Kính vạn hoa, Harry Potter…), vài cuốn tiểu thuyết,… Chỉ có điều, mẹ đọc hay quên, đọc đi rồi đọc lại vẫn thấy như mới!

Vì thế, khi chuẩn bị sinh con, mẹ cũng vừa đi mượn, vừa đi lùng vài cuốn sách làm cẩm nang để chuẩn bị cho con chào đời. Và cuốn sách ấn tượng nhất với mẹ chính là cuốn của bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc.

Cuốn sách này mẹ vô tình tìm thấy được trong tủ sách của nhà mình ở Nam Định. Bìa sách đã cũ, hình ảnh không còn được tươi mới, giấy in đã sờn nhưng không hiểu sao mới đọc lướt vài trang mẹ đã thấy rất ấn tượng. Bác sỹ Ngọc không phải viết theo phong cách của một bác sỹ cho các đồng nghiệp, không phải cho thân nhân người bệnh, cũng không phải theo khuôn mẫu của một sách giáo khoa khô khan. Bác sỹ viết như người bạn viết cho người bạn, người anh, người chú lớn tuổi nhiều kinh nghiệm viết cho những người em bắt đầu làm bố, làm mẹ. Lời lẽ thân thiện, dễ gần, hình ảnh sống động, dễ hiểu, trình bày khoa học, dễ tra cứu. Quả thực, mẹ học được rất nhiều từ cuốn sách và cũng đã nhiều lần cuốn sách đã giải tỏa cho mẹ những ưu tư như chuyện “sa ruột rốn”, chuyện tiêm phòng, chuyện ăn uống,.. của con, rồi cả những hủ tục, những quan niệm sai lầm khi nuôi con của các bà mẹ ngày xưa.

Mẹ rất thích cuốn sách, đọc đi đọc lại nhiều lần, ngẫm nghĩ những điều nằm ngoài chuyên môn mà bác sỹ Ngọc đã gửi gắm. Mẹ cảm thấy việc sinh con, nuôi con ý nghĩa hơn. Mẹ cũng cảm thấy trách nhiệm của bố và mẹ lớn lao hơn khi giờ đây, bố mẹ là người cha, người mẹ và trước kia, bố mẹ cũng là những người con bé bỏng và ông bà nội ngoại đã phải vất vả ra sao mới có bố mẹ, có con như bây giờ.

Mẹ tìm hiểu nguồn gốc của cuốn sách thì hóa ra, đây là cuốn sách mà bố con ngày trước đã tặng cho bác Quý khi bác Quý chuẩn bị sinh anh Dũng (năm 1994). Có lẽ mẹ phải cảm ơn bác Quý rất nhiều vì đã giữ được cuốn sách đến bây giờ để mẹ được đọc, được học cái bản lĩnh khi nuôi con của bác.

Và hình như, đây cũng là cái duyên của bố và mẹ!

Nov 18, 2007

 

Hồ thị Hoàng Anh

“Bà mẹ nuôi con giỏi”

Bà mẹ Hoàng Anh, Bs ĐHN và "bé" Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn VCCBMSCĐL do HQCBM tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

mẹ Hồ Thị Hoàng Anh, Bs ĐHN và “bé” Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng  do Hội quán Các Bà Mẹ tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

Mấy ngày nay Hoàng Anh đang ở Mỹ, sáng nay lang thang vào trang web của Việt Nam tình cờ thấy bài của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “ Vài chuyện kể về cuốn sách Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Đọc đến đoạn cuối bs Đỗ Hồng Ngọc có nhắc về cuộc thi  “Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố năm 1985 tại hội trường bệnh viện Từ Dũ. Mà lần đó Hoàng Anh cùng con trai là Nguyên-Giáp dự thi rồi được giải nhất. Thật là một kỷ niệm vui.

(…)

Khi nào nghĩ về cuộc thi “bà mẹ nuôi con khỏe” lần đó Hoàng Anh cũng hân hoan, rồi cũng có chút chút “ngưỡng mộ” về mình : là tại sao hồi đó mình còn rất trẻ mà đã rành rọt biết cách chăm sóc con đến vậy?

Thật ra “ bí mật” để làm được điều kỳ diệu đó chỉ vì Hoàng Anh là độc giả lâu đời của tác giả Đỗ Hồng Ngọc! Là con gái Huế chính tông,  Kể từ khi bắt đầu “nứt vỏ” để lớn lên bên giòng sông Hương núi Ngự trở thành o thiếu nữ là tâm hồn đã biết rung cảm với ca từ và giai điệu của âm nhạc Trịnh Công Sơn, cũng là lúc Hoàng Anh biết bắt đầu say sưa với cuốn “ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” của Đỗ Hồng Ngọc. Khi đến tuổi lập gia đình có con thì nghiền ngẫm “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Khi con lớn vào đai học rồi thì nhâm nhi “ Gió heo may đã về”. Bây giờ con tốt nghiệp đại học rồi, có thời gian hơn thì thong thả với “ Như thị”, với” Nghĩ từ trái tim” bs Đỗ Hồng Ngọc viết về Bát Nhã Tâm Kinh…

Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” lần đầu hồi đó vào những năm đất nước còn khó khăn, xã hội ít tổ chức những sự kiện văn hóa lớn. Nên cuộc thi” Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố hồi đó là một trong những sự kiện sôi nổi .

Nhìn lại những tấm hình trong cuộc thi. Hoàng Anh thấy mình hồi đó còn rất trẻ mà cũng hơi xinh xinh. Đã 26 tuổi và là mẹ của hai đứa con rồi mà vẫn còn vương nét sinh viên, rất khỏe khoắn trong trang phục quần jean xanh- áo sơ-mi vải màu trắng, dưới chân thì giản dị đeo đôi guốc mộc, trên đầu là một mái tóc dài xanh ngời bối thành củ tỏi vắt sau ót .

Khi Hoàng Anh vác trên vai đứa bé trai bụ bẩm khóc oe oe lên nhận giải trên sân khấu, hình ảnh đó làm cả hội trường cười òa. Phóng viên thì tha hồ tác nghiệp phỏng vấn bà mẹ và quay phim chụp hình em bé đọat giải.

Vì là bà mẹ thi được điểm cao nhất nên Hoàng Anh hân hạnh được người thầy thuốc mẫu mực là Viện sĩ,Tiến sĩ Dương Quang Trung trao giải thưởng tận tay. Rồi trong thùng quà thưởng to tướng, bên cạnh nhiều vật dụng xinh đep dùng cho trẻ em thì có card viết tay chúc mừng của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa hồi đó làm giám đốc Trung tâm Nhi thành phố. Khi được phỏng vấn “làm sao trả lời giỏi vậy?” Hoàng Anh nói “là nhờ đọc sách của bs Đỗ Hồng Ngọc đó”.

Em bé Nguyên-Giáp bụ bẫm ngày nào, nay đang rất bận rộn với công việc của một cậu sinh viên trường Y năm cuối. Là tất bật với bài vở,với những môn thi, với những đêm thực tập thức trắng ở bệnh viện…

Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” năm nào, chớp mắt thôi đã 1/4 thế kỹ! Cũng mới thôi!

(2012)

 

Uyen Ton

Tôi tình cờ đọc tác phẩm của ông lúc tôi chỉ mới là cô bé học lớp 5, đó không phải là sách dành cho thiếu nhi mà là một cuốn sách về Y khoa, tựa là “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” . Sự tình cờ này đến trong một lần tôi bị ốm, nằm nhà. Không hiểu sao hồi đó bame có thể yên tâm để tôi một mình ở nhà, buồn không biết làm gì nên chỉ biết đọc sách. Cũng không nhớ vì sao tôi “vớ” được cuốn sách đó trong kệ sách của ba để rồi đọc say sưa dù có những điều mà trí tuệ của một đứa trẻ 10 tuổi chưa thể hiểu được. Tôi vẫn còn nhớ cuốn sách đó được xuất bản trước năm 75 khá dày, giấy đen thui nhưng có minh hoạ khá đẹp trong con mắt trẻ thơ của tôi ngày đó. Nhưng phải công nhận là ông viết với một giọng văn rất dí dỏm, dễ hiểu. Tôi nhớ mình đã rất thích những hình minh hoạ mô tả những hoạt động cũng như tính cách của trẻ của từng giai đoạn, từ lúc lọt lòng cho đến 1 tuổi, từ 1-2 tuổi, từ 2-4 tuổi… Cũng trong tác phẩm đó, ông kể nhiều về những trường hợp trẻ bị tử vong vì gia đình thiếu kiến thức sơ đẳng về y học, rất đau lòng. Sau này tôi thấy tác phẩm này được xuất bản lại, giấy đẹp hơn, bìa sách được thiết kế đẹp hơn nhưng hình như những hình minh hoạ như cuốn cũ thì không còn, tiếc thật.

 

tronghieu

Chào bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Dạ cho con hỏi cách nay hơn 10 năm mẹ con có cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác sĩ viết. Nó đọc rất hay và hữu ích. Sau đó cuốn sách này bị mất ạ. Con đã tìm mua nhìu lần nhưng không còn, nó hết đc in rùi ạ. Cuốn sách hay như vậy bác sĩ có thể tái bản đc không ạ. Cuốn sách tuy về y khoa rất hữu ích nhưng đọc hoài vẫn mê vì nó như một câu chuyện thật hấp dẫn không hề khô khan! Chào bác sĩ, chúc bác sĩ lun mạnh khỏe vui vẻ bên gđ và….tiếp tục cứu giúp các bé nha.

 

Thúy Hạnh

Toi xin hoi bac si, truoc day toi co biet va doc mot cuon sach cua bac si ve ba me va cach cham soc con dau long cach day 28 nam va toi da theo cuon sach do nuoi con. nay toi muon xin hoi bac si la cuon sach nay con phat hanh ko? vi toi co dua con gai sinh con dau long nen toi can cuon sach do cho con. neu co thi co the mua o dau dc ko?

Xin chan thanh cam on bac si

 

phanminhngoc

Thực ra cháu làm fan của BS ĐHN từ cách đây 14 năm rôi, khi cháu sinh đứa con đầu lòng. Cuốn sách chú viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng đã trở thành sách gối đầu giường của của cháu, thậm chí là “bảo bối” cho cháu trong suốt cả chục năm nuôi hai nhóc. Hai nhóc nhà cháu giờ đều đã trở thành những thiếu niên khỏe mạnh, vạm vỡ (trộm vía) và đã qua rất nhiều lần chuyển nhà nhưng cháu vẫn còn giữ cuốn sách sách đã cũ sờn ấy. Cuốn sách ấy hiện ko chỉ là kỳ vật của gia đình cháu mà còn là người bạn thân thiết để cháu tham khảo bởi công việc của cháu hiện nay. Cháu mê giọng văn rất “đời” của chú và hình như cháu cũng có được ảnh hưởng một chút xíu chú ạ.

Cháu xin gửi đến chú lời cám ơn chân thành và xin chúc chú ngày càng khỏe, càng vui.

 

huyentrannguyen

Mình gọi Đỗ Hồng Ngọc vì không biết gọi ông là … nhà gì cho phải. Mình đã có duyên với ông từ khi bắt đầu làm mẹ, may mắn được tặng quyền sách mà ông là tác giả :”Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng” . Mình nhớ lúc đó chỉ biết đọc và làm theo những gì ông viết trong sách, và cứ thế mà mình nuôi con đúng theo “giáo lý” của ông, không suy nghĩ gì. Cũng đơn giản vì lúc đó nội ngoại đều ở xa. Lời văn của ông nghe vừa vui lại vừa gần gũi.

Thanh Dung

Cháu đang nuôi bé con 20 ngày tuổi, thiếu tháng, nhưng may mắn cháu tự bú mẹ được. Cháu không tự tin lắm với bầu sữa của mình, cứ luôn lo sợ mình không đủ sữa cho con. Nhưng nhờ đọc cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác Ngọc, và thêm bài “Còn sữa để cho con” này nữa, cháu thấy mình yên tâm và tự tin hơn. Cuốn sách bác viết là “cẩm nang gối đầu giường” của vợ chồng cháu trong việc chăm sóc con.

Cháu muốn gửi lời cảm ơn đến bác, kính chúc bác nhiều sức khỏe và luôn vui tươi dí dỏm như thế này mãi nhé!

Me kuBo

Thưa bác sĩ, cháu đã có cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” và cuốn sách đã trở thành sách gối đầu giường của cháu. Chăm sóc bé tưởng chừng là một vấn đề tẻ nhạt, nhàm chán với những phương pháp, thông tin khoa học thì nay dưới ngòi bút của bác sĩ lại trở nên hóm hỉnh, tự nhiên, dễ đọc, dễ làm biết nhường nào. Cháu thực sự biết ơn bác sỉ rất nhiều khi đã hướng dẫn cụ thể, chi tiết các vấn đề chăm sóc bé trong sách giúp những bà mẹ sinh con đầu lòng như cháu không bị bối rối, lúng túng trong những vấn đề chăm sóc bé.

PhanVanCho  (Huế)

8.2013

Đầu năm 1975 tôi lập gia đình.Một lần ghé hiệu sách Ưng Hạ ở đầu cầu Trường Tiền Huế tôi mua được quyển “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” (bản in lần đầu tiên) và đem về đọc mê mẩn…Những vấn đề về y học viết như ri thì trên đời chỉ có một!Tiếc rằng sau đó khi tôi xa nhà đi dạy học, vợ tôi về sinh con bên nhà ngoại, trong nhà chỉ còn mẹ già gần 70 tuổi…Họ vào hốt đi nguyên tủ sách gần 600 quyển. (Viết đến đây chợt cười thầm: Quyển VCCBMSCĐL cũng nằm chung với “cái gọi là Văn hóa nô dịch phản động đó BS.ĐHN ơi!)

Gần 40 năm đã qua, con gái đầu lòng của tôi cũng đã 37 tuổi. Nghe tin sách tái bản lần này, tui xin đăng ký mua vài quyển cho các con và…để dành cho cháu. Cám ơn BS đã cho trẻ đầu lòng, cho tuổi mới lớn, tuổi học trò, tuổi heo may, tuổi chớm già…những trang văn đẹp vào mỗi mai thức dậy.PVC

 

Mai Nguyen

07/08/2012

Thưa Bác, cháu là một bà mẹ đang nuôi con nhỏ. Con gái lớn đã gần 4 tuổi và con trai nhỏ vừa được 2 tháng tuổi. Vừa được biết trang nhà của Bác, cháu viết những dòng này để bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Bác sĩ, người mà gia đình nhỏ của cháu vẫn quen gọi là “Ông bác sĩ màu xanh” (vì bìa cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng của chúng cháu mang màu sắc này. Đáng lẽ phải là “bác sĩ màu hồng… ngọc” thì mới đúng phải không Bác).

Cháu nhận được cuốn sách quý giá này ở bệnh viện khi đang chuẩn bị sinh cháu gái đầu lòng. Và từ đó, nó luôn là cẩm nang giúp cháu vượt qua những lo âu và khó nhọc, những bỡ ngỡ và sợ sệt của buổi đầu làm mẹ, giúp cháu có cả niềm tin vào ngày con lớn lên. Giờ đây con gái cháu đã học lớp mẫu giáo nhỡ và cháu thì bắt đầu với đứa con thứ hai, vẫn những lo lắng và trăn trở như lần đầu dù mình cũng có thể tự cho rằng “có chút kinh nghiệm”. Nhưng quả thực mỗi đứa trẻ là một bí mật khác nhau và một lần nữa cuốn sách của Bác lại là chỉ dẫn cho hai vợ chồng cháu. Ông bác sĩ màu xanh bảo thế này, chỉ thế kia… Cả những đoạn đã thuộc lòng từ lần sinh trước giờ vẫn phải lôi ra đọc lại để “thấu hiểu” nhiều hơn. Cháu vốn ít sữa, có lẽ do cơ địa, phải nuôi bé vừa sữa mẹ vừa sữa ngoài mà cả hai bé thì không bé nào thích bú bình cả nên cũng khá vất vả Bác ạ. Nhờ chỉ dẫn của Bác mà khi bé đầu biết ăn dặm cháu chăm được con tốt hơn nên giờ trộm vía cháu lớn vượt so với nhiều bạn cùng tuổi.

 

Cuốn sách của Bác cháu đã chia sẻ với nhiều đồng nghiệp, bạn bè và chắc chắn sẽ là món quà cho con gái cháu… Mai này… Cũng mau thôi! Phải không Bác!

 

Lê Uyển Văn

06/06/2010

Mặc dù, cuộc sống ngày càng cao, bây giờ có những tiện nghi vượt trội so với trước đây nhưng tôi vẫn mong ước những ai sắp làm mẹ đều rất cần được “tập huấn” bằng quyển sách này, gối đầu giường bằng quyển sách này bởi nó không chỉ hướng dẫn những người mẹ nuôi con đúng cách mà còn dạy yêu con đúng hướng!

Vẫn muốn nói lời tri ân với tác giả dù biết rằng nói bao nhiêu vẫn cứ là chưa đủ!

Anh nguyenyenson đã viết trong blog của LUV một comment thế này, xin gửi đến bác sĩ giùm anh ấy, lời có tếu táo nhưng tình cảm thật đậm đà:

“Nhắc tới ông bác sĩ ĐHN, thiệt tình tui khoái ông này từ…30 năm trước. Hồi đó nhờ cuốn “Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng” của ổng, mà tui có “con so” ngon lành, không phải lúng túng chi hết. Giờ cháu vừa có gia đình, khi nào cháu sắp làm mẹ, tui lại cho cháu cuốn này để cháu đọc. :)”

 

Nguyen Dang Phuong Thao

22/05/2010

Mấy năm trước có lần vô nhà sách cháu thấy cuốn “Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng”, cháu đọc sơ qua mấy trang đầu rất thích thú, nhưng lúc ấy cháu chưa co gia đình, và nghĩ rằng biết đâu đến khi vài năm nữa sanh con thì sách sẽ được tái bản và còn bổ sung thêm nữa nẽn đã không mua. Đến khi cháu sắp sanh con thì tìm quyển này ở nhiều nơi đều không có (từ các nhà sách gần nhà, nhà sách đã từng gặp quyển này, các nhà sách Nguyễn Văn Cừ, người ta đều nói hết rồi). Giờ con cháu đã 2 tuổi rồi, gần đây cháu lại tìm thử mà sao vẫn không có, ghé mấh nhà sách lớn ở đưởng Nguyển Thị Minh Khai (Q.1) cũng bảo hết rồi. Bác có biết chắc chắn nơi nào còn không chỉ cho cháu với, cháu không có được cuốn này thật là tiếc lắm! Cảm ơn bác rất nhiều.

 

 

Bảo Cúc (Hà Nội)

26/07/2013

Thưa bác sĩ,

Cháu tình cờ lạc vào trang nhà của bác và kể từ đó trở thành fan của bác luôn. Đọc những lời tâm sự chia sẻ của bác, cháu thật sự cảm thấy xúc động và luôn có cảm giác nhẹ nhàng thư thái qua mỗi câu từ bác viết. Cháu hiện cũng đang trong độ tuổi kết hôn và rất muốn được cầm trên tay cuốn: “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” sắp được tái bản lại trong thời gian tới.

Cháu ở Hà Nội nên rất mong là bác sẽ lưu tâm để cho cháu được biết là có thể tìm cuốn sách này tại các nhà sách nào trên địa bàn Hà Nội bác nhé.

Cháu cảm ơn bác nhiều và chúc bác luôn vui khỏe!

………………………………………………………

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Vài đoạn hồi ký

“Trò Chuyện Với Các Bạn Nhỏ” Ở Lagi (Bình Thuận)

15/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (7.2024) 

“Trò Chuyện Với Các Bạn Nhỏ” Ở Lagi (Bình Thuận)

Tháng 6 mình có 2 dịp “Trò chuyện với các bạn nhỏ” là Học sinh tham dự khoá tu Mùa hè ở Ni Viện Viên Không Bà Rịa (9.6) và ở chùa Quảng Đức Lagi (30.6).

Bạn nhớ đúng rồi đó, mình là bác sĩ chuyên khoa Nhi mà, nên quan tâm đặc biệt lứa tuổi Vị thành niên, Tuổi Mới Lớn không gì lạ! Đây là lứa tuổi thường bị “bỏ quên” vì lớn thì chưa lớn mà nhỏ thì hết nhỏ. Đó là lứa tuổi “chuyển tiếp” có rất nhiều vấn đề về Tâm sinh lý, về Bệnh lý…phức tạp, không dám nói ra, không tiện nói ra… Ngay từ năm 1972 mới ra trường 3 năm, mình đã viết cuốn “Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” mà lý do là viết từ “nỗi lòng” của mình, để lâu, sợ quên!

 

 

 

 

Rồi suốt hơn 10 năm viết cho báo Mực Tím (1989-2002) giữ Mục Phòng Mạch Mực Tím cho “tuổi mới lớn” mình nhận hàng mấy bao bố thư hỏi của các em về đủ mọi thứ chuyện “trên đời”, vì thế mà mình cũng đã có những cuốn sách tiếp theo như “Tuổi Mới Lớn”, “Bỗng nhiên mà họ ta lớn”, “Những câu hỏi của Tuổi mới lớn”, “Khi người ta lớn” “Ăn vóc học hay”…

Vậy đó, cho nên có dịp được trò chuyện với các em học sinh trong Khoa tu mùa hè thì mình rất vui.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền đã quay được một clip video rất đẹp ở Lagi, quê mình.

Chuyển bạn xem vui nha,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Cao Huy Thuần “Chia tay mà không biệt ly”

09/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Chia tay mà không biệt ly”

Khi anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… , tôi nghĩ: chắc là “Im Lặng thở dài…” đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (Trịnh Công Sơn)? Nhưng không. Cao Huy Thuần nói về “chia tay mà không biệt ly”…

Nhưng đâu là cách chia tay mà không biệt ly? Cao Huy Thuần dẫn bài thơ Feuille morte (lá chết) của Hermann Hess, tác giả Siddhartha. Anh “phát hiện” một điều thú vị: người Việt không ai nói “lá chết” mà nói “lá khô”, “lá rụng”. Quét lá rụng, quét lá khô, không ai nói quét lá chết như ngôn ngữ Pháp, Đức. Bởi vì, lá không bao giờ chết. Nó khô, nó rụng, rồi nó tái sinh thành lá búp lá non (Im Lặng, CHT).

“Chân lý” ấy do hai con sên của nhà thơ Jacques Prévert trên đường đi dự đám tang một chiếc lá chết, tựa là: “Bài ca hai con sên đi dự đám tang”.

Hai con sên đi đưa

Đám tang chiếc lá chết

Hai cái vỏ thì đen

Hai sừng băng trắng hết…

Hỡi ôi khi chúng đến

Mùa xuân đã đến rồi

Bao nhiêu lá chết xong

Tất cả đều lại sống

Hai chú sên trở về

Với xiết bao cảm xúc

Lòng tràn ngập hân hoan

Và vô biên hạnh phúc…

Ôi, làm sao hai chú sên đi dự đám tang chiếc lá chết buồn xo giữa mùa thu… mà nay lòng lại tràn đầy hân hoan, hạnh phúc? Ấy bởi vì chúng là sên. Chúng “bò như sên”! Bò hết cả mùa đông, chưa kịp đến nơi mà xuân đã về rồi! “Bao nhiêu lá chết xong/ Tất cả đều lại sống…”.

Tiễn mùa thu thì gặp mùa xuân. Tiễn cai chết thì gặp cái sống. Tiễn ảm đạm thì gặp tưng bừng. Hai con sên chia tay mà chẳng biết biệt ly là gì! (Im Lặng,CHT).

Cao Huy Thuần nói: “chúng chẳng có cả khái niệm…”. Dĩ nhiên, Cao Huy Thuần đang nói về Kinh Kim Cang! Khi ta mà biết sống “ly niệm”, khi ta không còn bám chấp vào khái niệm… thì “trí bất đắc hữu vô”. Thong dong. Tự tại.

Descartes nói “Je pense, donc je suis – Tôi tư duy, nên tôi tồn tại”. Ta cũng có thể bắt chước nói: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là nếu tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Từ đó, suy ra rằng cái thời tôi… hết thở, ngừng thở, thì tôi vẫn tồn tại đó chứ, sao không? Tôi lúc đó trở lại trong bào thai Mẹ (bào thai Như Lai, Tathagata garbha) đó chứ!

Anh Cao Huy Thuần thân mến, nếu thỉnh thoảng ta mà vào được Tam muội Phổ Hiền, sống trong Như Lai tạng thì ta cũng có thể nhận ra cái “vô tưóng” – bỗng “hiện tướng”… đùa vui giữa chốn Ta-bà chút vậy thôi.

Khi con chim bay, nó không cần biết trời là gì, đâu là giới hạn. Nó chỉ bay. Trong bầu trời vô tận. Cao Huy Thuần đang bay.

Đường bay của hạnh phúc. Lấp lánh ánh vàng!

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Sư Giới Đức: Vài Lời Về Dịch Phẩm “Vị Thánh Tăng Cận Đại”

23/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú:

Mùng 4 Tết Giáp Thìn (13. 02. 2024), tại Huyền Không Sơn Thượng, Huế, Sư Giới Đức trao cho tôi cuốn sách này, và dặn dò, bác sĩ nhớ đọc kỹ nhe.  Và, tôi đọc kỹ, ngạc nhiên, thì ra có một vị Sư đã “học” và đã “hành” Phật pháp theo “một lộ trình tu tập” như vậy đó…

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Vài Lời Về Dịch Phẩm

“Vị Thánh Tăng Cận Đại”

 

Tỳ-khưu Giới Đức

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)         

Sư Tường Phát, đệ tử của ngài Pháp Tông, chùa Huyền Không-Huế, trao tôi một tập bản thảo dày hơn một trăm năm mươi trang khổ giấy A4, nói đây là bản dịch của một nhóm Phật tử chùa Bửu Long, đệ tử của thiền sư Viên Minh, về cuộc đời của một vị Thánh, nhờ tôi xem và nhuận sắc.

Nghĩ là cần một vài lời giới thiệu để độc giả nắm bắt khái lược những chi tiết nội dung mà tôi cho là hay, là độc đáo, là cần thiết cho mọi người tu Phật.

 

1- Đại đức Mahn Bhūridatta, sinh năm 1870 và mất năm 1949 tại Thái Lan, ngài khởi tâm tu và xuất gia từ nhỏ, học hành không được nhiều. Sau khi thọ giới tỳ-khưu năm 22 tuổi rồi theo thầy là đại đức Sao cùng vào núi rừng tu hạnh đầu-đà, và thọ trì được bảy trong mười ba chi pháp của đời sống khổ hạnh này.

2- Nhờ đại đức Sao hướng dẫn vài cách thức tập thiền ban đầu, sau đó ngài phải tự mày mò hành trì một mình. Khi gặp những hoài nghi hoặc bế tắc nào đó, đại đức hỏi thầy thì thầy đáp, đại lược là: “Tâm của ông khác tâm của tôi, vậy ông hãy tự tìm ra phương pháp, giải pháp cho mình”. Nghĩa là, bắt đầu từ đó, đại đức không còn ai là thầy nữa trên lộ trình đầy cam go, gian khổ để giải quyết những tham sân, phiền não của chính mình.

3- Không bao lăm chữ nghĩa, không trang bị kinh điển, không có thầy trực tiếp hướng dẫn, đời sống hoàn toàn cơ cực, thiếu thốn nhưng đại đức đã quyết tâm tự tu tập một cách kiên trì và bất khuất. Đối diện với cọp dữ, voi rừng, ma thiêng, chướng khí, đói rét… đại đức không hề thối chí, ngả lòng. Những khi ốm đau, nhất là bị bệnh sốt rét hành hạ, đại đức không dùng thuốc men, chỉ sử dụng “pháp dược” tự chữa trị cho mình. Và suốt đời, đại đức đã dùng “pháp” để đánh bại tất cả chướng ma ngoại giới cũng như nội tâm.

4- Lộ trình tu tập của đại đức ban đầu là thiền định; có định sâu, thành tựu một vài thắng trí, có thể cảm hóa hung thần, có thể đi thăm thiên đường, địa ngục. Sau, đại đức chuyển sang tu tập vipassanā, tuệ quán cho đến lúc giải thoát tất thảy mọi tham sân phiền não. Từ đó, đại đức tuyên bố định-tuệ song tu, không có tuệ thì định có thể bị lầm lạc, dính mắc.

5- Đại đức có giới luật nghiêm minh, suốt đời thân giáo, giáo giới nghiêm khắc, không mệt mỏi đến chúng đệ tử, nhất là chư sư đầu-đà khổ hạnh. Đại đức đã làm sống lại bảy trong mười ba pháp hạnh đầu-đà, đồng thời thổi vào nếp sống thiền môn không khí tu tập cổ xưa thời đức Phật, đấy là giới, định, tuệ một cách rất điển hình, mẫu mực và nghiêm túc. Các vị thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan đương đại, đều là lớp đệ tử thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư… nối tiếp được truyền thừa này và hiện đang phổ cập trên thế giới.

Tuy nhiên, điều tôi tâm đắc để giới thiệu cuộc đời đại đức không chỉ do tất thảy các tiêu biểu kể trên mà còn chính là “lộ trình tu tập”! Đa phần người ta thường nghiên cứu kinh điển, tìm nghĩa lý, nắm rõ giáo pháp rồi mới hạ thủ công phu. Lộ trình ấy tạm đúc kết theo tiến trình thứ tự là giáo, lý, hành và quả. Trường hợp này là phổ thông trên thế giới, xưa và nay vì dựa vào kinh điển. Tuy nhiên, nếu điểm tựa kinh giáo (giáo) chỉ cần bị “khúc xạ một ly” thì ý nghĩa (lý) trong đó đã “lệch lạc một dặm”; do đó, việc tu tập (hành) không biết đắc được cái đạo (quả) nào? Người dựa vào kinh điển hoặc chưa chứng nghiệm, giác ngộ, giải thoát mà đã dạy đạo, dạy thiền thường rơi vào trường hợp “sai một ly, đi một dặm” nêu trên.

Đại đức Mahn Bhūridatta không đi theo công thức ấy, vì có điều thật lạ lùng là ngài chẳng có giai đoạn giáo và lý; tuy có hành nhưng không có kinh điển, không có thầy, thế là tự mình mầy mò cho đến lúc giác ngộ (quả) giải thoát luôn. Sau đó mới xuống non hoằng pháp. Vậy thì đại đức đã đi ngược lại tiến trình do chư “học giả Phật giáo” thiết định. Đại đức đã đi thẳng, trực tiếp từ tâm, học “cái thực” từ nơi tâm, miệt mài đối trị, chuyển hóa, phấn đấu, lắng nghe, nhìn ngắm, “điều tra” cái bộ mặt thực của tham sân si nó ra sao – hoàn toàn trong cô liêu, đơn độc và thầm lặng. Sau khi giác ngộ, giải thoát (đạo) rồi, đại đức mới hướng dẫn đệ tử tu tập (hành) từ “cái thực” mà ngài đã chứng nghiệm. Lý và giáo như thực cũng từ đó mà sinh ra. Thật không ngạc nhiên gì, khi sau này, đại đức đọc kinh điển rồi giải thích nghĩa lý (lý, giáo) cho chư đệ tử nghe mặc dầu ngài không rành thông hoặc kinh qua kinh điển. Trường hợp này là đại đức chỉ lấy kinh điển để so sánh, đối chiếu với tâm và tuệ của mình thôi.

Con đường tu tập được bắt đầu học “cái thực” từ nội tâm là đúng đắn, là chơn chánh. Tứ đế nằm ở đấy. Chân lý, Sự Thật, Thắng Nghĩa, Tự Tánh, Bản Lai Diện Mục, Vô Vị Chân Nhân, Đạo, Niết-bàn, Bờ Kia, Tuyệt Đối, Bất Tử, Vô Sanh, Chân Phúc… ở đây và bây giờ trong mỗi chúng ta, trong tương quan vận hành duyên khởi. Nó không có biên ranh giữa tiểu thừa, nguyên thủy, đại thừa, kim cương thừa, Zen, thiền tông…

Viết đến đây, tôi sực nhớ cách đây khoảng mười mấy năm về trước, thiền sư Viên Minh đã thuyết giảng “cái thực” này tại Huế, sau đó, Phật tử ở Pháp xin in và họ lấy tên là “Thực tại hiện tiền”. Thiền sư Viên Minh là người đã bác lãm chư kinh điển Đại Thừa, đã nghiên cứu thấu đáo tinh hoa của Khổng, Lão; lại còn suốt thông các Nikāya và Abhidhamma, nhưng khi tu tập, ngài không trụ, không ly chư kinh giáo, lắng nghe “cái thực” trong tâm mà xử lý mọi vấn đề vi tế ở nội tâm. Khi đã nắm chắc, thấy rõ “cái thực” là gì rồi, nhiều năm nay, thiền về “cái thực” này đã được ngài giảng nói qua cả hằng chục khóa thiền ở Bửu Long, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Úc, Malaysia, Mỹ quốc, Châu Âu… Ngài đã chỉ bày, gợi mở cho mọi người nắm “cái nguyên lý” mà lên đường chứ không đi qua “pháp môn phương tiện” nào cả! Và đã giúp cho rất nhiều hành giả giải thoát khỏi những vướng mắc về kinh giáo, lạc định, ước lệ, phạm trù của tâm trí cùng những bản ngã sở đắc! Trả vô thường lại cho vô thường, trả dukkha lại cho dukkha, trả vô ngã lại cho vô ngã! Và rồi, chư kinh giáo, nếu có nói đến cũng chỉ để nhằm đối chiếu, so sánh với “cái thực” này mà thôi!

Pháp đang hiện tiền, “cái thực đang hiện tiền” và nó luôn thuyết pháp không ngưng nghỉ, ngày cũng như đêm. Ai có tai hãy nghe, có trí hãy tìm hiểu!

 

Huyền Không Sơn Thượng, 

Mai Trúc Am, Sơ Xuân Giáp Ngọ

Tỳ-khưu Giới Đức

(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

 

Ảnh: Tịnh Thy

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Lõm bõm học Phật

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

19/02/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (Tết, tiếp theo)

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Lần nào về Huế, mình cũng ghé Huyền Không Sơn Thượng thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh. Một nhà thơ, một nhà thư pháp có tiếng từ thuở xa xưa và là một vị thiền sư bên cạnh các Thiền sư Viên Minh, Pháp Tông, Tuệ Tâm của Phật giáo Nguyên Thuỷ…

Năm ngoái, cùng với các bạn Tạp chí Quán Văn ghé thăm (trong đó, có nhà văn Nguyên Minh vốn là đồng môn Sư phạm Quy Nhơn hơn nửa thế kỷ trước với Sư Giới Đức), mình hỏi thầy về kinh nghiệm sau 3 năm nhập thất… Thầy kể rất chi tiết cái được cái không, cái thấy cái biết và kết: Bây giờ thì đã rõ “Bình thường. Thanh thản. Tự nhiên thôi/ Với cả nhân gian một nụ cười”.

`Thầy nói về cây hoa thuỷ tiên,

 

 

Và thật vậy, hôm nay gặp lại, đúng là thầy cười rất tươi, không còn chút gì căng thẳng, vất vả tìm kiếm như những ngày xa xưa nữa.

 

Từ trái: Nguyễn Thị Tịnh Thy, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Văn Dũng (Dũng Võ), Ngô Tiến Nhân và nhà báo Minh Tự. (Mùng 4 Tết Giáp Thìn, 13.2. 2024). Sư đều tặng cho mỗi người 3 cuốn sách to đùng về Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, một tập Thơ. Ngoài ra còn có cuốn sách của Thầy Chơn Tín về chuyến hành hương Ấn Độ.

 

 

 

 

Sư gọi đệ tử gởi ngay 10 tập Thơ riêng cho “Nữ sĩ”, khi biết Tịnh Thy là người đã viết rất hay về Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh trước đây.

 

 

 

Với Đỗ Hồng Ngọc, Sư tặng cuốn sách mới dịch: Cuộc Đời & Hành Trạng Ngài Ajahn Mun (1870-1949), một Tỳ Khưu độc đáo, Vị Thánh Tăng cận đại, có những cách học và hành Phật pháp rất đặc sắc.

 

 

 

T

Thuộc chủ đề:Gươm báu trao tay, Phật học & Đời sống, Vài đoạn hồi ký

Thư viện Hoa Sen: Một Ngày Kia… Đến Bờ (Song ngữ Việt-Anh)

22/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

https://thuvienhoasen.org/a40640/mot-ngay-kia-den-bo-one-day-reaching-the-other-shore-song-ngu-vietnamese-english-

“MỘT NGÀY KIA…ĐẾN BỜ”(*)
Tuỳ bút
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Saigon, tháng 6.2023

Thật đáng buồn, là phần đông chúng ta chỉ bắt đầu thưởng thức được hương vị đời sống khi chúng ta sắp sửa chết.  

Padmasambhava (Liên Hoa Sanh)

Một ngày kia… đến bờ?

 

Lời ngỏ

Bờ nào? Bờ bên kia hay bờ bên này? Đáo bỉ ngạn? Là mong cho tới bờ bên kia? Ý rằng bờ bên kia hẳn là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này? Sao biết? Đã có ai nói cho biết chưa? Có con rùa nào từng đi dạo lang thang từ dưới biển lên đất liền nói cho biết chỗ nào đáng sống hơn chăng?

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… một đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú… năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư ư? Sao người ta vẫn đọc hà rầm khắp nơi, đọc hằng ngày câu chú trong Tâm kinh Bát Nhã đó mãi mà vẫn thấy cứ còn khổ, thậm chí “cực khổ”, nên chỉ mong sao được mau về miền “cực lạc”, được vãng sanh qua nơi khác, qua bờ bên kia. Vậy mà lạ, hình như ai cũng muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất tử, nghĩa là ở mãi nơi này, nơi “cực khổ” này? Tại sao?

Tôi viết những cảm nghĩ này ở tuổi U90 của mình, viết cho riêng mình đọc, lai rai đọc cho đến khi không cần đọc nữa! Và dĩ nhiên có thể chia sẻ cùng bè bạn thân

quen “cùng một lứa bên trời lận đận” của mình để có dịp “chí chóe” cho vui…!

Well-being và well-dying vậy nhé!

Đỗ Hồng Ngọc

(6.2023)

 

“One Day… Reaching the Other Shore”

Dr Do Hong Ngoc, MD
Saigon, June 2023
(Manuscript – write for myself aged U90)

Translated by Red Pine 

It is really sad that the majority of us just begin enjoying the taste of life once we are on the verge of death. ( Padmasambhava)

One day reaching the other shore?

What shore? This shore or the other shore? Reaching the other shore? Yearn to come to that shore? Does that mean the other shore is far better than and more beautiful than this shore? Why know? Has anyone said that? Has any turtle roaming from sea to land informed where is more livable yet?

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… is the great mantra of great magic, unexcelled mantra, the mantra equal to the unequalled, which heals all the suffering and is true, not false? (Pine 3)1 The people recite it, the mantra in Heart Sutra, extensively everywhere, they still feel miserable, even so miserable, they just wish to soon reach the “land of overjoy”, be reborn to the other place or the other shore. So strange! Seemingly everyone wants to remain longer, even indefinite longevity without death, in this world, “the land of over-sorrow”? Why?

I am writing down this thought at the age of U90, writing for self-reading, little by little reading until unable to read! And obviously able to share with our close friends who are “at the same generation by the sky of turbulence” in order to gossip!

Hope well-being and well-dying as well!

Dr Do Hong Ngoc, MD

(June 2023)

………………………………….

Đọc bản tiếng Anh trên Thư viện Hoa Sen.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 6
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

“MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” Tuỳ bút Đỗ Hồng Ngọc

Từ góc nhìn “Phê bình sinh thái” về bài thơ “Rùng mình” của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!
  • Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)
  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 12/2025)
  • Trò Chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Tình Yêu và Cuộc Sống

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thở để chữa bệnh!
  • Huỳnh thị Mai Hương (đồng Xuân) trong Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!
  • Ngọc Nguyễn Thị trong Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!
  • hai trầu trong Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)
  • Nguyễn Lanh trong Thở để chữa bệnh!
  • hai trầu trong Trò Chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Tình Yêu và Cuộc Sống
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Mũi Né
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Gặp gỡ với Nhà thơ Huyền Chi của “Thuyền viễn xứ”
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lương Thư Trung (Hai Trầu): TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “CHUYỆN HỒI ĐÓ” (ĐHN)
  • Jimmy Võ Bất trong Mũi Né

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email