Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

NQC: Sài gòn chiều nay không có mưa

06/09/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sài gòn chiều nay không có mưa

 

Sài gòn Mưa Đường Sách 8.2018 (ảnh: Do Hong Ngoc)

Nghe nói chiều qua Sài gòn mưa to
Hôm nay tôi vô, Sài gòn nắng nóng làm không muốn ra đường…

Hàng me lô xô. Xe cộ lô nhô
Căn nhà vắng bóng bạn bè, con cái…
Bức tranh họa sĩ Đinh Cường tặng nhà mới San Jose nay con mang về treo trên phòng khách,
Tịch mịch và tĩnh không
Nhớ mông lung
Rót một ly rượu. nghe lòng lắng…

Thêm một ngày qua với mưa và nắng…

Đêm qua tôi ngủ mơ
Một giấc mơ hiền…
Tôi thấy mình bay trong một cõi thần tiên
Có mây màu hồng cuộn dâng như sóng
Nhưng tôi không muốn bay, tôi muốn xuống
Nhưng dưới kia núi đá chập chùng
Lại có những người nhìn tôi nhăm nhe như thách thức
Tôi muốn xuống, muốn xuống dưới kia
Nhưng chẳng có đường…
Tôi hồi hộp nhắm mắt định nhảy

Và, tôi thức dậy
Giấc mơ hiền thoắt hóa giấc mơ hung
Tim tôi đập mạnh. Đêm đã quá nửa chừng…

Đêm đã trôi quá nửa chừng nên khó dỗ lại giấc bình yên
Với đại cuốn sách đầu giường
Lại là cuốn tuyển tập truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc
Mở đại ra. Gặp câu chuyện cô gái mù hái cau. Câu chuyện tôi đã đọc và khóc từ thời thơ ấu trong nguyệt san Hương Quê xưa…

Cô bé trèo cau mưu sinh, cô bé mù
Em phải nhảy tự cành cây cau này sang cành cây cau khác
Phải chính xác, chính xác
Chỉ một lần em bắt hụt tà cau là có tiếng một người rơi tự trên cao…
Tôi đã khóc, ngày ấy còn nhỏ lắm…

Tôi bỗng rùng mình
Mình có leo quá cao trên một cành cao
Trèo lên làm chi cái cõi thần tiên có mây hồng làm thành sóng
Rồi làm sao mà xuống!…

May chỉ là một giấc mơ!

Chiều nay Sài gòn vắng lặng trong tôi
Không có bạn bè hét hô. Mặt đỏ rần rần. nói câu triết lý
Không có khách khứa mời mọc. nói chuyện làm ăn
Không có những người anh, người em đã ngộ. vi vu giữa cõi vô thường
Không có câu ca và giọng hát tiếng đàn…
Tôi chỉ có tôi. Một ly rượu chát
Ly rượu đơn côi và bức tranh tuyệt vời người họa sĩ đã qua đời. tặng…

Họa sĩ thả hồn trên rộn ràng màu sắc
Anh lớn lao. Vẽ gì. Nói gì. Tôi không hiểu!..

Rồi tôi vẫn ngồi lại với tôi, một mình

Sài gòn chiều nay không có mưa!…

Nguyễn Quang Chơn
Sài gòn, 05.9.2018

Kính tặng anh ĐH Ngọc, ĐT Chinh, chị T. Nhung

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Thơ Trần Vấn Lệ: Everyday To You

17/08/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Everyday To You

Anh thức dậy, mail, chào em buổi sáng.  Anh bảy giờ, em đã mười giờ!  Bên này nắng, bên em đang mưa…Mưa và nắng chia đôi bờ Mê Giác!

Anh thức dậy ngồi nghe ai hát / bài Tình Xa…chưa thấy hát Tình Gần.  Đời mấy ai chiều sớm bâng khuâng / dù vẫn biết người dưng khác họ!

Ai đớn đau mà không vì thương nhớ…chỉ vô tình là lá úa vàng rơi!  Lá thương cây lắm lắm cũng rời, cây thương lá thì chờ mùa Xuân tới…

Người ta buồn là bởi vì chờ đợi.  Người ta vui khi hội ngộ tha hương.  Nhiều người nói:  “Tôi đi lạc Thiên Đường”.   Nhiều người khóc trên bờ vai…nếu có…

…một hôm nào đứng bên Thiên Đường lỡ,  một hôm nào nếu hẹn ở sân bay…một hôm nào thấy nắng guộc gầy…một hôm nào thấy mưa sa trên tóc!

Thế Kỷ trước, chúng mình hạnh phúc, Thế Kỷ sau hạnh phúc chẳng nhân đôi…chỉ chia nhau những phút bồi hồi…những giọt lệ mù-soa ướt nhẹp!

Phật nói gì, từng pho Kinh đã chép, “Bệnh, Tử, Lão, Sinh” xuôi ngược, ngược xuôi!  Phật giàu sang sao lại chọn chỗ ngồi:  gốc Bồ Đề bão giông không ngã, đổ?

Tứ diệu đế, bốn nan đề, bốn khó, bốn suy tư từng nếp trán, từng ngày. Những hồi chuông chiều gió thổi bay…Tóc em, ngộ, từng sợi chuông lảnh lót…

Nếu bờ bên em đúng là bờ Giác…hãy thương anh em nhé, bên này / hàng phong vàng Thu lá nhành cây – bờ tử-sinh, té ra bờ Mê Ngộ!

Con đò dọc thường xuyên vào bến đó…Con đò ngang đi mãi mãi không về…thì ơi người ta trải tình quê / như chăn chiếu, lẽ nào không thể?

*

Thơ anh gói cho em từng giọt lệ.  Mail anh viết cho em ngày mỗi ngày /  tới lúc nào tay bỗng rời tay…thì…em nhé…Thơ Đã Đầy…Hao Hụt!

Anh chúc em Ngày Mỗi Ngày Hạnh Phúc.  Anh chúc em lòng thơm ngát tiếng boong boong…

Trần Vấn Lệ

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi

25/07/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Một tuần bận rộn

Tưởng là bớt việc, ai dè càng lu bu, cho nên chậm trễ trả lời câu bạn hỏi đang mần gì mà ít thấy viết dhn.com vậy.

Xin gởi mấy tấm hình này coi chơi thôi nhé, chớ bây giờ viết lách cũng không như xưa rồi. Người bạn trẻ vừa post giúp bài Nói chuyện của mình về Thiền và Sức khỏe trong Tuần lễ Văn hóa Phật giáo năm 2009 ở Nha Trang cũng đã kêu lên sao hồi đó bác trẻ khỏe, phong độ, thần thái… khác với bây giờ nhiều quá vậy! -Bây giờ thấy bác già hơn mười năm trước rồi đó! Tôi đoán em nghĩ vậy mà tức cười.

Có gì đâu! Nhớ hồi “dậy thì” mà coi, mới mấy tháng đã thấy cao nghệu lên, từ một nhóc con thành một cậu thanh niên mắt sáng môi hồng… thì bây giờ sau tuổi 70 cũng phải có một cái gì đó “dậy” lên ngược lại cho đúng “quy trình” chớ phải không?

Tuần rồi bề bộn thiệt. Sáng Thứ tư vẫn là buổi học thường lệ của Nhóm Học Phật bọn mình. NHP đã cùng học với nhau hằng tuần gần 6 năm rồi chớ ít gì. Nay thì đang học kinh Viên Giác.  Không phải gõ mỏ tụng kinh chi đâu. Phân tách từng câu, từng chữ, từng ý ẩn trong câu kinh. Tranh luận sôi nổi, vận dụng vào tình hình thực tế trong đời sống hằng ngày… Trước kinh Viên Giác là Thủ Lăng Nghiêm v.v… cũng đi từng bước căn bản đến “nâng cao” đó thôi… Cho nên học rất vui, rất hào hứng. Thỉnh thoảng còn đi dã ngoại, gặp gỡ thầy, bạn các nơi. Mình nghĩ đây cũng là một cách ‘sinh hoạt’ tốt cho người cao tuổi.

Chiều Thứ sáu, mình còn có buổi trao đổi với các vị sư trẻ đang về chùa Xá Lợi mùa “an cư kiết hạ” này. Đã 3 năm nay, thầy Trụ trì tổ chức cho các vị tu sĩ được dịp “giao lưu, trao đổi, học hỏi…” cùng với các Cư sĩ. Có cư sĩ Minh Ngọc, cư sĩ Trần Đình Sơn và mình, mỗi người chịu trách nhiệm 6 buổi. Minh Ngọc thì bàn về Thiền lâm bảo huấn, Qui Sơn cảnh sách; Trần Đình Sơn thì về Lịch sử Phật giáo và mình thì về Phật học và Đời sống, về sức khỏe thân tâm, về Ăn và Chay, Thở và Thiền, truyền thông hiệu quả v.v… Các buổi này cũng khá là sinh động.

 

 

Thứ bảy hằng tuần, vẫn là buổi sinh hoạt của lớp Phật học & Đời sống. Vậy mà đã gần đến 30 buổi rồi đó bạn ơi. Lúc đầu mình dự kiến làm 20 “show” là đủ. Vậy mà… Sau phần ‘học’ căn bản về Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Duyên Khởi… thì thảo luận về Từ bi hỷ xả, Thiểu dục tri túc… nói chung là ứng dụng Phật học vào Đời sống sao cho hợp thời, trên tinh thần khoa học, hiện đại. Các buổi sinh hoạt đều được em nvquyen quay video clip và đưa lên youtube. Nhiều bạn ở phương xa cũng theo dõi được.

 

“Trà đàm” với Thầy Trí Chơn, Viện chủ Tu viện Khánh An, 22.7.2018.

 

 

 

Chủ nhật 22.7.2018 vừa rồi lại có buổi Trò chuyện về “Ăn và Chay” ở Tu viện Khánh An, quận 12 trong khóa tu “Sống Tỉnh Thức”. Bạn có thể xem trên trang tuvienkhanhan.com nhé.

 

 

 

 

 

 

 

 

Cho nên, tuần rồi là một tuần khá là vất vả đó bạn ơi!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Uncategorized

Huỳnh Ngọc Chiến:NHÀN ĐÀM CÁI GIẬN CHỐN THIỀN LÂM

25/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

NHÀN ĐÀM CÁI GIẬN CHỐN THIỀN LÂM

Huỳnh Ngọc Chiến

Trong tam độc “tham − sân − si” thì nóng giận là một cảm xúc dễ bộc phát nhất, và bởi thế, khó kiềm chế nhất. Khi giận, khó ai mà có thể kiềm chế được bản thân. No mất ngon, giận mất khôn. Nhan Hồi – một cao đệ yểu mệnh của đức Khổng Tử – được hậu nho ca ngợi, tôn xưng là á thánh cũng nhờ vào ba chữ “bất thiên nộ”, có nghĩa là “không giận lây” theo kiểu “giận cá chém thớt”. Giận mà biết kiềm chế thì phải có công phu hàm dưỡng. Phật giáo dùng nhẫn nhục như là pháp môn để đối trị sân, nhưng ngay cả đối với những bậc thượng trí hoặc những người nghĩ rằng mình đã “ngộ” thì cái sân đôi khi vẫn thường sinh khởi ở chỗ rất đỗi tế vi.

Thiền tông Nhật Bản còn lưu truyền một câu chuyện rất thú vị. Yamaoka Tesshu (Sơn Cương Thiết Chu 1836 − 1888) là một kiếm sĩ lỗi lạc của Nhật Bản. Khi còn trẻ, ông đi tham bái hết vị thầy nầy đến thầy khác để học thiền. Và ông ta nghĩ rằng mìng đã nắm được giáo nghĩa tinh yếu cả Phật pháp. Nên một ngày kia, ông đến tham bái Dokuon (Địch Dã Độc Viên 1819–1895), một thiền sư thuộc dòng Lâm Tế, ở Shokoku. Muốn trình bày sở đắc của mình, Yamaoka nói : − Tâm, Phật, cùng các loài hữu tình rốt ráo đều không hiện hữu. Chân tánh của mọi hiện tượng đều là Không. Không ngộ, không mê, không thánh, không phàm. Tam luân không tịch, không có người cho, không có người nhận, cũng chẳng có vật được cho.

Dokuon ngồi lặng lẽ hút thuốc, không nói gì. Thình lình, vị thiền sư cầm ống điếu tre quất Yamaoka một phát, khiến anh chàng nổi xung lên. Dokuon liền hỏi : − Nếu tất cả đều không hiện hữu, vậy cơn giận của anh từ đâu đến? (theo http://www.101zenstories.org/tag/tesshu/)

Giữa một tràng ba hoa thuyết thoại “nhất thiết giai không”, chỉ một cú quất của cái điếu tre cũng đủ để biến không thành hữu! Đó là một lối cảnh tỉnh kiểu Đức Sơn hay Lâm Tế, mà ta thường thấy chốn thiền đường. Nếu sau câu nói đó mà cái sân kia vẫn là sân thì Yamaoka đáng ăn thêm ba mươi gậy của Đức Sơn hay vài trăm hèo của Lâm Tế, để những kẻ đọc kinh sách theo kiểu trích cú tầm chương trong thiên hạ hết đường thuyết thoại. Nhưng nếu câu nói đó khiến Yamaoka hoát nhiên đại ngộ thì cái sân kia sẽ chuyển thành cái hỷ.

(theo Internet)

Nhưng giai thoại trên vẫn chưa lý thú bằng giai thoại về Tô Đông Pha, cũng lưu truyền trong thiền lâm Trung Quốc. Giai thoại này đã quá quen thuộc, nhưng tôi cũng xin ghi lại đây. Chuyện kể rằng, có một lần, Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của đức Phật. Ông thấy rất hài lòng, nên sai thư đồng đem qua bên kia sông để tặng thiền sư Phật Ấn, lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn. Bài thơ như vầy:

Khể thủ thiên trung thiên

Hào quang chiếu đại thiên

Bát phong xuy bất động

Đoan tọa tử kim liên.

(Cúi đầu đảnh lễ Pháp Vương, Mười phương tỏa sáng hào quang. Tám gió thổi, tâm không động, Ngồi nghiêm trên đóa sen vàng).

“Thiên trung thiên” (trời trong trời) dùng để chỉ Đức Phật. Trong kinh điển, thế gian có tám thứ khiến tâm con người phải điên đảo, không an. Đó là bốn cặp đối lập nhau : thịnh và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc. Hưng thịnh và suy vi; hủy báng và danh dự; xưng tụng và chê bai; khổ đau và lạc phúc. Tám thứ này giống như tám ngọn gió thổi làm con người nghiêng ngã, nên được gọi là “bát phong”. Chỉ những người có định lực và đạo hạnh cao mới có thể giữ tâm bất động trước bát phong để có thể “Khen, chê phơi phới ngọn đông phong” như cụ Nguyễn Công Trứ. Ý định của Đông Pha là muốn Phật Ấn xem bài thơ để ấn chứng công phu thiền định của nhà thơ thâm viễn đến đâu. Nào ngờ, Phật Ấn xem qua liền phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm) bên cạnh bài thơ, rồi bảo thư đồng đem về trình lại cho Đông Pha. Đông Pha xem xong, đùng đùng nổi giận, lập tức qua sông, đến chùa Kim Sơn để gặp Phật Ấn hỏi cho ra lẽ. Đến nơi, thấy cửa phòng Phật Ấn khép kín, bên ngoài có dán hai câu thơ :

Bát phong xuy bất động,

Nhất thí đả quá giang.

Tám gió ào ào, tâm chẳng động, Một hơi đánh rắm đẩy qua sông.

Đông Pha giật mình, chợt hiểu công phu hàm dưỡng của mình vẫn còn nông lắm. Cứ nghĩ mình tâm đã tịch nhiên bất động, tám ngọn gió kia có ào ào thổi thì tâm vẫn vững như bàn thạch, nhưng đâu ngờ chỉ một hơi đánh rắm cũng đủ sức đẩy mình, cả thân lẫn tâm, văng tuốt qua bên kia sông, khi hăm hở muốn mở một trận chất vấn! Hai câu thơ của Phật Ấn giống như câu kệ khai ngộ cho Tô Đông Pha. Câu chuyện trên hiển nhiên chỉ là giai thoại. Tôi tin rằng không thể có chuyện một thi tài quán tuyệt như Tô Đông Pha lại làm một bài thơ xoàng xĩnh như một người mới tập làm thơ để xưng tán cảnh giới giải thoát của Đức Phật, rồi lại đem bài thơ xoàng xĩnh đó trình cho Phật Ấn − vốn cũng là một “tay tổ trong làng bút mực”? Cả hai giai thoại lý thú trên cho thấy nóng giận là cảm xúc rất khó kiềm chế. Đã là người dĩ nhiên không thể không có lúc nổi giận, nhưng để giữ cho cơn giận không vượt qua chữ lý thì đó phải là người có công phu hàm dưỡng lâu dài.

Tôi có lần làm bài thơ Tứ Đại để bỡn người quen là một bác sĩ tính tình rất nghiêm túc, thường hay viết sách về thiền.

Tưởng đã ưng vô sở trụ,

Rong chơi tâm ý siêu nhiên.

Em phô xác thân tứ đại,

Hoang mang rơi cả gậy thiền.

Hiểu rành “Tứ đại giai không” là thế, nhưng nhìn xác thân tứ đại tuyệt diễm phô ra kia, chắc gì tâm đã “tịch nhiên bất động” mà không “Hoang mang rơi cả gậy thiền.”? Xác thân tứ đại kia tác động hiển nhiên phải mạnh cái điếu tre của Dokuon hay cái “đánh rắm” của Phật Ấn. Anh đọc xong, không giận, mà gởi lại hai câu thơ, nói tôi ba lơn!

Phật giáo dạy dùng nhẫn nhục để đối trị sân, nhưng trong giới thiền lâm vẫn có thiền sư lấy sân làm công phu đạo hạnh. Sư Khế Tung (1007-1072) là một cao tăng uyên bác đời Tống, văn tài và đạo hạnh nổi bật đương thời. Vẻ mặt ông thường lộ vẻ cau có, người ta chưa từng thấy ông cười. Ta thử nghe Tô Đông Pha viết về ông: Thiền sư Khế Tung thường sân; người ta chưa từng thấy sư cười. Sư Hải Nguyệt Tuệ Biện thường vui, người ta chưa từng thấy sư giận. Tôi ở Tiền Đường, tận mắt thấy hai vị đó đều ngồi kiết già mà hóa. Khế Tung khi đã trà tỳ, lửa không hủy hoại nỗi, thêm củi cho lửa mạnh, nhưng có năm món rốt cuộc vẫn không bị hư hoại. Hải Nguyệt đến khi táng mà diện mạo vẫn như lúc còn sống, lại còn cười mĩm. Thế mới biết, hai vị đó lấy cái sân và cái hỷ mà làm Phật sự vậy”.

Tôi cho rằng đạo hạnh chân thực của một thiền sư không phải được thể hiện qua tên tuổi lúc sinh tiền, cũng không phải qua những sáng tác hay những lời thuyết giảng hùng hồn uyên bác cho đạo hữu, mà được thể hiện qua thể cách viên tịch hoặc phong cách lúc tuổi già.

Một thiền sư có thể đăng đàn thuyết pháp tràng giang đại hải về những pháp môn đem lại “thân an tâm lạc” cho mọi người, được môn độ tung hô xưng tụng, nhưng khi về già lại sống trong cảnh khổ não của lão thì giáo pháp mà họ giảng dạy cho môn đồ cũng không có giá trị gì cho lắm. Giống như vào tiệm thuốc bắc để bốc thuốc, nếu ông chủ tiệm thuốc không phải là người phương phi, hồng hào khỏe mạnh, mà là một ông lão ho hen, lọm khọm thì liệu ta có thể tin tưởng được các phương thuốc mà ông ta bán hay không? Cho nên, với tôi, Bùi Giáng vẫn là một thiền sư thực sự. Ông sống bỡn cợt giữa đời, rong chơi đầu đường xó chợ, làm thơ viết sách rồi an nhiên mà đi. Nó mang phong cách của một thiền sư. Sư Khế Tung thường giận, nhưng an nhiên ngồi kiết già mà hóa, làm lễ trà tỳ mà có năm món bất hoại, lửa không thiêu nỗi, đó mới là chân thiền sư. Cái sân của Tô Đông Pha, của Yamaoka lại giúp ta thấu ngộ được những điều mà lúc bình thường ta không hiểu nỗi. Ngẫm ra, khi có đạo hạnh cao thâm, như sư Khế Tung, thì cái sân cũng là Phật sự, đâu cần phải bỏ sân mà giữ hỷ. Đâu cần phải đợi đến lúc viên tịch mới hiểu được giá trị của cái hỷ, cái sân.

(theo Báo GIÁC NGỘ số 266)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Một Thời Để Nhớ (Quán Văn số 55)

17/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

MỘT THỜI Ý THỨC

Bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý THỨC (1970-1975)

 Ghi chú: Bài này là một phần bài viết của nhà văn Nguyên Minh, chủ biên Bán nguyệt san Văn học nghệ thuật Ý Thức tại Saigon (1970-1975), đã đăng trên Vanchuongviet.org của Nguyễn Hòa vcv ngày 01 Oct 2010.

Nhân dịp Quán Văn 55 chủ đề Một Thời Để Nhớ ra mắt ngày 20.5.2018, tôi trích đăng lại một vài đoạn dưới đây như một kỷ niệm một thời tuổi trẻ của bạn bè anh em.

Đỗ Hồng Ngọc 

…………………………………………………….

(…)  Năm 1967, tại Phan Rang, khi Ngy Hữu và Nguyên Minh về dạy học tại đó, tập họp bài vở anh em trong nhóm ở xa làm một số Xuân Gió Mai, in roneo, khô 21×30. Đến năm 1969, Gió Mai mở rộng và đổi tên là Ý Thức, hai tháng ra một số báo, in ronéo. Lúc này, nhóm chủ trương có thêm Trần Hữu Lục, Lê Ký Thương, Võ Tấn Khanh, Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc). Tòa soạn : Theo chân người viết. (Thực ra là 11 Nguyễn Thái Học. Phan Rang).

Báo ra được 6 số thì dọn vào Sài Gòn, ra chính thức Bán nguyệt san văn học nghệ thuật, in Typô rồi đến Offset, phát hành rộng rãi toàn quốc. Tòa soạn đặt tại 666 Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Chủ nhiệm trên pháp lý là Dược Sĩ Nguyễn thị Yến, một người bạn của Nguyên Minh, không biết gì về văn chương, trên thực tế là Nguyên Minh với chức danh trên giấy phép do Bộ Thông Tin cấp là Tổng Thư Ký. Tại tòa soạn, những số báo đầu tiên có Thái Ngọc San, Nguyễn Mai phụ tá, sau đó có Võ Tấn Khanh, Lê Ký Thương vào giúp sức với Nguyên Minh. Báo ra 24 số thì tạm đình bản. Đầu năm 1975, Ý Thức ra bộ mới do Lữ Kiều chủ biên. Báo vừa in xong số 2 tháng 3 năm 1975 xảy ra, chưa kịp phát hành.

Lữ Kiều, Lê Ký Thương,(…)Trần Hữu Lục, Phạm Văn Hạng, Nguyên Minh (giữa), Đỗ Hồng Ngọc,Trần Duy Phiên, Hồ Thanh Ngạn  tại nhà Lữ Kiều

Kể từ Ý Thức thời quay ronéo đã có thường xuyên các truyện ngắn, thơ của Tần Hoài Dạ Vũ, Mường Mán, Đông Trình, Doản Dân, Nguyễn Kim Phượng, Hồ Minh Dũng, Từ Hoài Tấn, Luân Hoán, Chu Trầm Nguyên Minh, Thế Vũ, Nguyễn Lệ Tuân, Thái Ngọc San…

Ý Thức thời in Typô và offset có thêm Trần Nhựt Tân, Huỳnh Hữu Ủy, Nguyễn Ước, Huỳnh Ngọc Sơn, Bảo Cự, Trần Duy Phiên, Nguyễn Lệ Uyên, Mang Viên Long, Bùi Giáng, Huy Tưởng, Từ Kế Tường, Nguyễn Tôn Nhan, Lê Văn Thiện, Phạm Ngọc Lư, Phan Việt Thủy, Trịnh Công Sơn, Kinh Dương Vương, Nguyễn Xuân Thiệp, Huỳnh Phan Anh, Cao Hữu Huấn, Phan Tấn Uẩn, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Phan Thịnh…

Hình Thức: Chữ Ý Thức thời ronéo do Lê Ký Thương kẻ. Khổ báo là 21×30. Đánh máy trên stencil là Chị Hồ Thị Kim Phương, một người bạn gái của Nguyên Minh, rất sính văn chương, tẳn mẳn đếm từng chữ để canh hai bên lề ngay ngắn, không khác gì sắp chữ chì in typô.

Khi Ý Thức chính thức có giấy phép của Bộ Thông tin, khổ báo được đổi thành 14x2O. Số 1 bìa do Lê Ký Thương trình bày. Số 2 do Đỗ Quang Em. Số 3 do Vị Ý. Số 4 đến số 7 trở lại Lê Ký Thương. Số 8 tranh bìa Hoàng Ngọc Biên.

Bắt đầu số 9, Ý Thức lại thay đổi khổ báo, hình vuông 19×19. Bìa và ruột do Nguyễn Bom trình bày, rất mới lạ. Số 12, tranh bìa của Bửu Chỉ: Quê hương ta ngày trùng tu. Số 18, tranh bìa của Hồ Đắc Ngọc. Số 21 Ý Thức chuyển qua in offset. Lê Ký Thương trình bày và kỹ thuật in do Nguyên Minh chăm nom.

Khai trương nhà xuất bản Ý Thức thời ronéo là tập truyện Nỗi bơ vơ của bày ngựa hoang của Trần Hoài Thư.

Khi cơ sở Ý Thức dời về Sàigòn, tập truyện Cát Vàng của Lữ Quỳnh được xuất bản, bìa in offset do Nguyễn Trung trình bày, phát hành rộng rãi trên toàn quốc. Tuần tự, cũng mang tên Ý Thức, đã xuất bản: Những vì sao vĩnh biệt, tập truyện thứ hai của Trần Hoài Thư. Sau đó là Sông Sương Mù , tập truyện thứ hai của Lữ Quỳnh, Bìa của Hoàng Ngọc Biên. Sách được in tại nhà in Thanh Bình.

In tại nhà in riêng offset đặt tại Phan Rang: Bếp lửa còn thơm mùi bả mía, tập thơ của Lê Ký Thương, Thơ Đỗ Nghê (một bút hiệu khác của Đỗ Hồng Ngọc), Kẻ phá cầu, tập kịch của Lữ Kiều

Ý Thức, tủ sách Hoa Niên, dành cho thiếu niên, đã xuất bản: Đám tang đa đa, truyện dài của Nguyên Minh. Mưa qua thành phố, tập truyện của Nàng Lai (một bút hiệu khác của Lữ Kiều). Em bé bất hạnh, Anh hùng tí hon, của Trần Quang Huề. Tranh bìa bốn cuốn sách trên của họa sĩ Nguyễn Trung. Chim bay về đâu, truyện dài dành cho lứa tuổi 16, của Võ Tấn Khanh. Sách dịch có Cậu bé gỗ của Châu Lang (một bút hiệu khác của Châu văn Thuận), Trên ngọn hải đăng của Lê Ký Thương…

Mang tên nhà xuất bản Tiếng Việt, có Ngọn cỏ ngậm ngùi, tập truyện thứ ba của Trần Hoài Thư, Sông sương mù, tập truyện của Nguyễn Mai. Sách dịch có Mười hai năm bên cạnh Hitler của Nguyên Thạnh (bút hiệu của Nguyễn Mậu Hưng).

Theo Nguyên Minh (Vanchuongviet.org Oct 1.2010)

 

Nguyên Minh, Đỗ Nghê, Đinh Cường, Lữ Kiều, Chu Trầm Nguyên Minh, Elena Trương, Lữ Quỳnh, tại chuồng Bồ câu Quán Văn (2011)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Ghi chép lang thang (tiếp theo)

06/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo)

Về Huế

Về Huế lần này cùng đi với Bác sĩ Thân Trọng Minh, người bạn cùng lớp cùng trường ở Y khoa Đại học đường Saigon hơn nửa thế kỷ trước, một “người Huế thứ thiệt” nên mình… học thêm, biết thêm được nhiều thứ… rất huế. TTM không chỉ là một bác sĩ, anh còn là nhà thơ, họa sĩ, kịch tác gia, là một bạn văn thân thiết từ xa xưa của thời Gió Mai, Ý Thức, Tình Thương… Anh cũng là người trình bày bìa cho tập thơ đầu tay của mình, Tình Người, năm 1967, lúc còn học dưới mái trường Y.

Việc đầu tiên ở Huế là Minh kêu cùng đi thăm nhà Từ đường cùa dòng tộc anh ở An Lỗ, qua sông Phú Ốc… cách Huế chừng 40 cây số. Chuyến đi cùng với cả gia đình anh hơn mười người, Thanh Hằng (bà xã TTM) và cô Kim Kê, người bạn. Minh kè kè cuốn gia phả dòng họ để trao cho một người em. Sau đó anh đưa đi thăm ngôi mộ cổ của ông Tổ cách đây 600 năm (Viên, người em anh bảo 400 năm chứ, nhưng Minh quả quyết 600 năm!), làm mình sực nhớ hôm nay là Mùng 10 tháng 3 Âm lịch, đang có Lễ giỗ Tổ Hùng Vương 4000 năm  ở Phú Thọ. Minh nói Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… đều có mộ ở Kim Long, gần chùa Linh Mụ.

Rồi xe đi qua Phong Điền, Quãng Điền, vựa lúa của Thừa Thiên-Huế, thấy còn bát ngát những cánh đồng vàng nhưng Viên nói đang đô thị hóa dần rồi. Qua một nơi gọi là Sịa, Minh nói Huế có câu ‘nhất Huế nhì Sịa” là ở đây, cũng là quê nhà của Hồ Thanh Ngạn, bạn chúng tôi đã mất. Mấy ngày ở Huế, Minh cùng gia đình về “làng”, có nhà tự để thăm bà con, rồi thăm bạn bè, có bạn đang hấp hối, bạn đang nằm liệt…

Nhưng đây rồi. Phá Tam Giang. Mình nhớ mấy câu thơ viết về Huế năm xưa mà Trương Thìn đã phổ nhạc, bài Một ngày ở Huế: “…Một ngày Từ Hiếu băn khoăn/ Đồi sương dốc dựng té lăn cù rồi/ Một ngày sông nước thuyền trôi/ Tam Giang sóng vỗ đâu hồi còn thơ/ Một ngày ngày xửa ngày xưa/ Một ngày ở Huế đã vừa trăm năm” (Đỗ Nghê, 1995).

“Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang” (Ca dao). Từ nhỏ vốn đã “sợ” Phá Tam Giang qua câu ca dao đó rồi, bây giờ tận mắt nhìn Phá Tam Giang mới… hết hồn! Ôi mênh mông trời nước. Tỉnh Thừa Thiên có thành phố Huế 80km2 còn riêng Phá Tam Giang đã rộng hơn 50km2 rồi và trải dài đến 24km, từ bắc vào nam, từ bến đò Vĩnh Tu đến Cầu Hai, Lăng Cô. Nhớ bài thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên với bài phổ nhạc của Trần Thiện Thanh ngày nào.

 

 

 

 

 

 

 

 

Phá Tam Giang nhìn từ Túy Vân Tự.

 

 

Lăng Cô. Đường lên đèo Hải Vân.
Phá Tam Giang kéo dài đến Đầm Cầu Hai, Lăng Cô.

Ngày hôm sau, chúng tôi đến thăm chùa Từ Đàm. Nhớ năm 2008, mình cũng đã có lần đến đây trình bày về đề tài Thiền và Sức khỏe trong Tuần lễ Văn hóa Phật giáo, lần đó có nhà văn Nguyên Ngọc, Gs Cao Huy Thuần v.v… đông vui. Sông Hương dịp đó lần đầu tiên thả bảy đóa hoa sen rất đẹp trên dòng nước, phía trên cầu Tràng Tiền. Sau này đọc Thái Kim Lan mình mới biết người ‘chủ xị’ vụ này là thầy Tâm An (Thích Không Nhiên) hiện là Phó chủ biên Tạp chí Liễu Quán. Từ Đàm nay do thầy Hải Ấn trụ trì. Thầy Hải Ấn không phải ai xa lạ, vốn là một bác sĩ y khoa, đồng nghiệp của chúng tôi. Nghe kể chuyện lúc thầy đang là tu sĩ, học y khoa, đi thực tập đỡ đẻ cũng nhiều và đều rất mát tay. Thầy đi vắng. Chúng tôi ra ngồi… dưới cội Bồ đề trước sân chùa, đợi vào thăm vị Đại sư thân với bác sĩ TTM.

 

 

Chiều đó, chúng tôi về Mỹ Lợi, thăm ‘chốn xưa’ của Nguyễn Tường Bách, Lữ Quỳnh, Lê Trọng Nguyễn… Đây chính là quê của bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại.

 

Đường vào làng quanh co. Các nhà thờ dòng tộc họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Phan… còn vài người già cả trông nom. Rất nhiều mồ mả. Có những ngôi nhà tan hoang đầy vết bom đạn.

 

 

TTMinh chỉ đây là nhà bà… Từ Cung, đây là nhà Bà ngoại TS Nguyễn Tường Bách… Đây là con đường mà một người bạn rất thân hồi nhỏ, mê một cô nào đó không dám nói ra đã viết được những câu thơ rất hay… đến bây giờ Minh hãy còn nhớ! Đây cũng là con đường làng mà nhạc sĩ Lê Trong Nguyễn ghé qua đã viết nên bài Nắng Chiều ” Qua bến nước xưa lá hoa về chiều… Ngập ngừng mềm đưa trong nắng lưa thưa… khi đến cuối thôn chân bước không hồn… nhớ sao là nhớ bóng người ngày thơ”… “Nay anh về qua sân nắng/ chạnh nhớ câu thề/ tim tái tê/ chẳng biết bây giờ/ người em gái. duyên ghé về đâu…” . Minh nhắc nào DT, nào BT…ôi những người đẹp của ngàn đời xứ Huế… nay biết về đâu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Từ đó, chúng tôi về thăm Túy Vân Tự (Chùa Thánh Duyên), ngôi chùa nằm chơ vơ giữa Phá Tam Giang. Xưa muốn đến thăm phải đi thuyền. Nay nhờ có cầu Trường Hà nên có thể đi bằng xe hơi, hoặc đi từ cửa bể Thuận An.

Túy Vân là ngôi chùa được các đời vua Gia Long, Minh Mang và nhất là Thiệu Trị đặc biệt chăm sóc vì sự hùng vĩ, uy nghi và tuyệt đẹp của nó. Trên đỉnh tháp Điều Ngự, tầm mắt nhìn rộng khắp cõi trời đất mênh mông và nhìn rõ hơn tứ đại ngũ uẩn của cỏ cây mây nước và của con người mình… Ở đó đã có thể thấy biết sắc bất dị không, sắc tức thị không…

Nhóm chúng tôi trèo lên đến đỉnh tháp cao nhất để nhìn bao quát cảnh trời nước bao la…

 

 

trên Tháp Điều Ngự.

 

 

 

 

 

 

Gặp thầy Minh Chính trụ trì. Thầy đang cuốc đất dọn dẹp với các đệ tử và bà con Phật tử đến làm công quả. Lúc này, nhờ đườg sá tốt dần nên chùa đã có nhiều người đến viếng cảnh, tu tập.

Một ngày… ở Huế, được thấy được nghe được học hỏi biết bao điều!

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn

Vài hình ảnh buổi gặp gỡ anh em bè bạn ở Lagi

16/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vài hình ảnh về buổi gặp gỡ anh em bè bạn ở Lagi

(Ngày 3.4.2018)

Về Lagi nhiều lần nhưng ít có dịp họp mặt với anh em ”văn nghệ sĩ Lagi” đông vui như lần này. Cũng là dịp ”ra mắt bỏ túi” tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê ở một quán cà-phê trên đường ra Đồi Dương quen thuộc.

Đỗ Ái Liên (nhà thơ Đỗ Quyên) chịu trách nhiêm… tổ chức buổi họp mặt thân tình và.. thân tộc này!

Ái Liên là em, con Chú Chín, chú ruột của Đỗ Hồng Ngọc. Em làm thơ khá nhiều và cũng vừa mới in tập thơ mới: Chạm Cõi Mênh Mông.

 

Hai anh em trao đổi thơ cho nhau đó mà! Hàng ngồi bên trái là Nguyễn Ngọc Mỹ, người viết nhạc và bên phải là Trần Kim Trung, nhà thơ.

 

 

Gần hai mươi anh chị em ”văn nghệ sĩ” có mặt trong buổi gặp gỡ này. Từ trái: Minh Trinh, Hồ Minh Tuấn, Ái Liên, Trần Kim Trung,  Lê Ngọc Trác, Cao Hoàng Trầm, Đỗ Hồng Sa, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Huỳnh Sa, Nguyễn Đình Nghĩa.

 

 

Và… mỗi người phát biểu đôi lời bên cạnh lời ca tiếng đàn, giọng ngâm thơ của các ”nghệ sĩ”: Mỹ Duyên, Kim Phụng, Anh Thư, Dũng Nguyên, Ngọc Mỹ…

Nguyễn Huỳnh Sa nói về Thơ Đỗ Nghê…

Kim Phụng ngâm một vài bài thơ của Đỗ Nghê…

 

Nhà giáo, nhà thơ La Thụy

 

 

 

Tiếng đàn giọng ca của Nguyên Lực và Mỹ Duyên

 

 

 

 

 

Nhà thơ Trần Kim Trung, người cao niên nhất, nay đã 89 tuổi, nói về bài thơ Bông hồng cho Mẹ của Đỗ Hồng Ngọc. ”Theo tôi đây là một bài tứ tuyệt hay nhứt bây giờ, chịu hổng nổi, hết chỗ nói nữa rồi…”, anh bày tỏ.

Dũng Nguyên, ngâm bài thơ ”Trên sông khói sóng” của ĐHN…

 

Nguyễn Ngọc Mỹ, hát một bài do anh phổ nhạc bài thơ Một ngày ở Huế của Đỗ Nghê. Mỹ là người bạn cùng thời, hồi lên mười, cùng học ở trường Nam Bình, Gò Ông Nồm… Tân Thuận (1951).

Và không thể không nhắc Anh Thư hát bài Đêm trên biển Lagi, nhạc sĩ Bùi Tuấn Anh phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc.

Đây là bài thơ ”thất ngôn bát cú” viết năm 1990, tặng cậu Nguiễn Ngu Í, nhạc sĩ Bùi Tuấn Anh phổ nhạc nguyên lời và Anh Thư hát rất hay.

 


 

Buổi họp mặt vào ngày Thứ hai (3.4.2018), nên nhiều anh em bạn bè còn bận không đến được. Tiếc không có Phan Chính, Ngô Văn Tuấn, Lương Bút, Thái Anh, Lương Minh Vũ, Đại đức Thích Tấn Tuệ tức nhà thơ Đinh Hồi Tưởng, Linh mục Nguyễn Kim Anh…

Hẹn một dịp khác nhé,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)

 

Viết thêm: La Thụy vừa gởi thêm bài ”phát biểu” của nhà thơ Trần Kim Trung trong buổi họp mặt anh em bè bạn tại Lagi của Đỗ Hồng Ngọc. Anh Trần Kim Trung nay đã 89 tuổi, vậy mà giọng nói vẫn sang sảng, trí nhớ vẫn tuyệt vời… ấy có lẽ nhờ khi hậu vùng biển êm đẹp của Lagi và nhất là nhờ tâm hồn thơ nhẹ nhàng thanh thản của chính anh. Xin được chia sẻ cùng bè bạn.

Cảm ơn anh Trần Kim Trung và cảm ơn La Thụy.

ĐHN

 

http://www.dohongngoc.com/web/storage/2018/04/Trần-Kim-Trung.wav

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Còn Bấc

16/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Còn Bấc…

(Photo by Đỗ Hồng Ngọc)

Bạn thấy đó. Mình ngày càng lười biếng kinh khủng. Hứa rồi… quên. Phải chờ bạn nhắc đôi lần. Già nó vậy. Thôi kệ nghen!

Giữa tháng 2 âm lịch rồi mà còn Bấc bạn ạ. Còn bấc nghĩa là còn Tết phải không? Hồi nhỏ bọn mình ở Phan Thiết cứ nghe gió bấc hiu hiu về và mùi cốm thoang thoảng là biết ngay Tết đến. Được mặc bộ pyjama mới với đôi guốc xuồng mộc, lốp cốp nện trên đường Gia Long Đồng Khánh phố chợ và Trưng Nhị Trưng Trắc bờ sông đó nhớ không. Có một thứ mùi thơm đặc trưng suốt dọc con sông Cà Ty: nước mắm Phan Thiết.

Cái thứ gió bấc se se lạnh sượt qua da, mang theo cái mùi nước mắm  thoang thoảng và mùi cốm gừng đường tán nồng nàn đó đủ nghe Tết tràn đầy khắp ngã. Qua trường thấy cả bầy bướm tung bay phất phới áo dài trắng đến nỗi mình kêu lên “bấc ơi bấc thổi/ làm xuân tràn đầy” nhớ không?

Với mình, cái thứ gió bấc miền biển vùng mình nó như đánh bật khứu giác, xúc giác, thính giác, vị giác… nói chung là lục căn không sao còn thanh tịnh được nữa dù mình đang ở trong một ngôi chùa nhỏ cạnh bờ sông. Ở Saigon hơn nửa thế kỷ, vậy mà lúc nào mình cũng thấy ” đi giữa Saigon/ phố nhà cao ngất/ hoa nở rực vàng/ mà không thấy Tết” để rồi chỉ “một sáng về quê/ chợt nghe gió bấc/ ơ hay xuân về/ vỡ òa ngực biếc!” (ĐHN)…

Lần này về Mũi Né giữa tháng hai âm lịch tưởng đã hết Tết, vậy mà còn bấc. Mình vẫn thấy lâng lâng, ngơ ngác, bâng khuâng, một thứ “mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ” nào đó đã vời vợi xa (Mũi Né, ĐHN).

Gió quần quật trên những ngọn dừa. Gió mặn. Gió rải muối trên thảm cỏ trên thềm nhà ẩm ướt không khô.

 

 

Biển vắng. Sóng lớn. Buốt lạnh dù giữa trưa nắng gắt. Thuyền bè né núp đâu hết, để lại một cái biển hoang ầm ầm sóng giận. Thỉnh thoảng mới thấy một bóng người lang thang hay túm tụm thì thầm đâu đó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Và đó là lúc ngư dân vá lại tấm lưới để sẵn sàng cho một ngày tới khi trời yên bể lặng.

 

 

 

 

 

 

 

Có vẻ như mấy cây bàng dọc biển cũng chịu không nổi gió bấc. Chúng đành khoét lỗ chỗ trong lá cho gió xuyên qua… Nhà thơ Khánh Minh bảo đó là lá bàng “rỗ hoa bóng nắng”…

 

 

 

Ơ mà đừng quên món bánh xèo bánh căn bên lò than hồng giữa mùa bấc lạnh nhé…

 

 

Đường về quê bây giờ cũng đã thoáng, đẹp, nhất là đường dọc biển.

 

Rồi lạ thay. Sáng hôm sau trời lại im phăng phắc. Bình minh lại rạng ngời. Biển lại mời gọi. Như không hề có một chút bấc nào cả đêm qua!

(Photo by Do Hong Ngoc)

 

Kể lung tung cho bạn nghe vui thôi nhé.

Hẹn một hôm nào,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Mũi Né 2.4.2018) 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Lê Ký Thương: ”Hành trình nghiệp Thơ”

09/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Lê Ký Thương: ”Hành trình nghiệp Thơ”

 Ghi chú: Lê Ký Thương làm thơ trước khi làm họa sĩ, dịch giả… Năm 1974, anh ra mắt tập thơ: Bếp lửa còn thơm mùi bả mía ở Phan Rang và từ đó đăng nhiều thơ văn trên các báo ở Saigon. Anh cũng là người làm maquette đầu tiên cho tờ Ý Thức, tạp chí Văn học nghệ thuật những năm 70 của nhóm anh em Nguyên Minh, Lữ Kiều, Châu Văn Thuận, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Nguyễn Mộng Giác, Đỗ Nghê, Lê Ký Thương…

Mấy năm trước, anh bị một cơn stroke, liệt nửa người phải, nhờ tích cực tập luyện với một ý chí cao nên phục hồi khá tốt. Thế rồi, một hôm đạp xe đi bơi, anh bị té gây chấn thương sọ não… Anh nói bây giờ chỉ với một tay, anh dư sức lo cả… gia đình!

Đi lại, nói năng hơi khó, nhưng lạ, trí nhớ tuyệt vời. Như một cuốn tự điển bách khoa về ”văn học nghệ thuật”. Anh nhớ vanh vách ai, làm gì, ở đâu… đời sống riêng tư ra sao! Thiệt lạ.

Mới đây, Quán Văn số 53 giới thiệu ”Lê Ký Thương”, anh được mời lên sân khấu ngồi nghe và cười… trong im lặng.

Anh vừa in một tập thơ dày đến 250 trang: Trò chơi trời cho. Hành trình nghiệp Thơ. Tự design, tự layout… còn sửa morasse đã có Kim Quy phu nhân lo (nhưng nghe nói giờ chót chàng không cho sửa…!), và in ấn thì đã có Nguyên Minh.

Xin giới thiệu với bạn bè.

(Lê Ký Thương, nói chung, là một người hiền lành, còn nói riêng thì hổng biết…!).

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thơ LKT: 

LAI RAI BA ĐIỆU

 

Mai kia ta cháy trên đồi

Lửa siêu độ đốt sạch lời ba hoa

E rằng cô quán phải lo

Thiếu người tâm sự ngồi co một mình

Hôm nay ta nói hết mình

Rượu bao nhiêu độ say tình bấy nhiêu

Thân nhau nói ít hiểu nhiều

Khi mà thương thiệt mấy đèo cũng băng

Tình tang ứ hự tình tang

Cho thêm xị nữa cô hàng chịu chơi!

Phan Rang,1969

 

SAO CHIM CHƯA VỀ CHIM ƠI!

 

Đôi mắt tôi buồn cháy hai ngọn nến

những giọt lệ nồng không đủ ấm mùa đông

con chim Thúy Vũ chưa về

vườn mai trong hồn tôi xơ xác quá!

 

Thôi – tôi biết rồi

vừa qua có cơn bão lớn

gió thổi chim bay lạc hướng

mùa xuân này chắc không vui

cho dù vườn tôi mai tốt lá

 

Chim bay xa rồi

làm sao mai ra hoa?

Phan Rang, 1970

 

THƠ THẢ TRÊN SÔNG HƯƠNG

 

Anh xé lòng khơi nguồn sông Hương chảy

Dòng tình yêu cuồn cuộn bóng hình em

Trong tích tắc giao thừa anh bỗng thấy

Con ong ruồi chết ngộp giữa đài sen

Dẫu có buồn anh vẫn yêu em.

Huế, 1976

 

VIỆT VỊ

 

Trung thực tình em

giữa đường đua – anh

việt vị.

Không gian bốn chiều – anh

trượt lối

ngã lăn

quay.

Xương đá xanh rêu

tìm không thấy dấu trâu về…

Tiếng nói tình yêu

không đồng bộ.

Dẫu ngàn năm vẫn trắng xương

khô!

 Huế, 1979

 

XUỐNG NÚI

 

Củi khô một bó

Lan rừng một đóa

Thênh thang đường về

Nước run đầu cỏ.

Nha Trang,1976

 

TẬP HÍT VÀ THỞ

 

Thoang thoảng mùi hương nghe lạ quá

Hít một hơi và thở một hơi

Hít và thở nghe quen mà rất lạ

Tập tập hoài – đâu có dễ như chơi!

Nha Trang, 1976

 

NẰM BỆNH I

 

Cõi người ta lạ quá!

Trắng – đen cứ nhập nhòa

Không rạch ròi thực – giả

Đành buông một tiếng: a!

Sài Gòn, 2011

 

TRA VẤN

 

Cái não sao mày cứ chọc tao.

Mới đầu gặp nạn tưởng không sao

Phim chụp 7 lần nay mới biết

Máu còn đọng lại, ít tiêu hao!

 

Mày nghĩ mày ngon nên quá lì.

Phần tao nhất quyết vẫn cười khì.

Vẫn sống phây phây và tự tại.

Coi mày như bạn – biết không mi?

Sài Gòn, bị stroke lần 2,

        10 -2016

* Tập: Trò chơi trời cho – Hành trình nghiệp Thơ (gồm 321 bài, hầu hết chưa phổ biến). Nội dung chia làm 5 phần: 1.- Lạy tạ tình, 2.- Lạy tạ thơ, 3.- Thơ cà khịa, 4.- Thơ tai biến, 5.- Lướt gió xem mây, 6.- Tạm kết.

 

từ trái: Đỗ Hồng Ngọc,Thu Vàng, Kim Quy, Lê Ký Thương.
(Đường Sách Saigon, 5.4.2018)

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Lê Ký Thương và ” Bếp lửa thơm mùi bã mía”

26/03/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bạn ơi,

Hôm qua, 25.3.2018, Quán Văn số 53, giới thiệu ‘chân dung văn học’ nhà văn, họa sĩ Lê Ký Thương cùng lúc giới thiệu tác phẩm Dòng sông trơ đáy của Nguyễn Châu.

Khá đông anh chị em văn nghệ sĩ và khá đông bạn bè, học trò của Nguyễn Châu. Với LKT chỉ có… 2 người là mình và Kim Quy, phu nhân LKT được mời lên nói đôi câu. Tiếc ghê, Thân Trọng Minh bận đi VT với Châu Văn Thuận, Tịnh Thy và Huyền Chiêu, Khuất Đẩu thì ở xa quá. Dĩ nhiên còn có đó nhà thơ Vũ Trọng Quang, họa sĩ Lê Triều Điển… Mình gởi bạn vài hình ảnh để chia sẻ đây.

Nguyên Minh giới thiệu Lê Ký Thương, những người bạn đã nửa thế kỷ trước… cùng ở chung nhà, ngủ chung giường và làm báo Ý Thức.

Nguyên Minh mời Đỗ Nghê lên phát biểu đôi lời. Thì lên. Có biết trước gì đâu, cũng chẳng biết mình được dành cho  mấy phút nên không dám nói dài nói dai… đành kể chuyện năm 1970 đến thăm LKT ở nhà NM (Phan Rang) thấy chàng thư sinh đang vẽ và có những bài thơ… thơm mùi bã mía sắp ấn hành…

Rồi những năm đầu thập niên 70 cùng làm tờ bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức với nhóm bạn, có Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Nguyễn Mộng Giác… Chính LKT là người vẽ manchette cho tờ Ý Thức thời đó.

Thời thế đổi thay, mãi đến năm 1979 mới gặp lại chàng thư sinh cận thị nặng ở Saigon, mình đã viết tặng bài thơ Gặp lại người bạn cũ, đăng trên báo Tin Sáng, ký tắt tặng LKT mà nhiều người cũng biết, vì đều là bè bạn cùng thời.

 

Từ trái: Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Lê Ký Thương (25.3.2018)

 

Bài thơ đã đăng lại trên Quán Văn số này (trg 103)

GẶP LẠI NGƯỜI BẠN CŨ

Tặng Lê Ký Thương

 

Năm năm gặp lại người bạn xưa

A! Anh chàng thư sinh nhút nhát không ngờ

Thuở nào làm thơ thơm mùi bã mía

Bây giờ đẹp khỏe đen thui vạm vỡ

Cười qua mắt cận mà long lanh

 

Anh em ngồi quanh ly cà phê đen

Nhắc từng người bạn cũ

Anh H họa sĩ giờ vẽ guốc

Thằng N thụt két mấy phen

K bán chợ trời, M bất đắc chí

Y ở Cali hay Luân Đôn gì đó

Ngày ngày nhớ buốt quê hương…

 

A! Anh chàng thư sinh dễ thương

Có ai ngờ bây giờ làm hợp tác xã

Ngày ngày vác cuốc ra đồng

Đẹp khỏe đen thui vạm vỡ

Cười qua mắt cận mà long lanh

 

Nào mới mua mấy chiếc máy cày

Nào đang tính chuyện làm ăn lớn

Phát triển bề ngang phát triển bề dài

Đánh cá xẻ rừng trồng rau đan nón

Trường học bệnh xá máy bơm…

 

A! Anh chàng thư sinh dễ thương

Nhớ thuở xanh xao tóc rối đầu bù

Thở hơi triết lý vẽ tranh trừu tượng

Làm thơ thơm mùi  bã mía

Bây giờ đẹp khỏe đen thui vạm vỡ

Say sưa nói về tương lai

Phân bón máy cày năng suất

Và về thi ca…

 

A! Còn một điều thú vị

Anh chàng ngượng ngùng cười qua mắt cận

Vụ hai xong là cưới vợ liền

 

Năm năm gặp lại bạn hiền

Nói chuyện trên trời nói chuyện dưới biển

Chuyện trong lòng đất chuyện ở rừng sâu

Chuyện “Hai mươi giờ”

“Chuyện thường ngày ở huyện”

Chuyện hôm nay và chuyện mai sau

 

Giữa thời buổi gặp nhau thường nghe những lời buồn chán

Tao cám ơn mày

Đã nhen dòng lửa ấm!

 

Đỗ Nghê

1979

Và năm 2003, mình đã tốc họa cho LKT một bức chân dung ‘độc đáo’ trong buổi café ở đường Lê Lợi với Lữ Kiều TTM, Châu Văn Thuận, Nguyễn Mộng Giác. ‘Độc đáo’ bởi vì một bác sĩ vẽ cho một họa sĩ, chắc sẽ bán có giá, và Kim Quy (LKT phu nhân) thì bảo vẽ LKT sao trông giống Khuất Đẩu! Ối trời, lúc đó chưa quen biết KĐ mà. Nhưng, cũng ngộ chớ sao!

Lê Ký Thương, vẽ bởi Đỗ Hồng Ngọc, Saigon 2003

 

Sau đó mình giới thiệu bài viết rất hay của Nguyễn Thị Tịnh Thy về LKT trong số Quán Văn đặc biệt này: “Tình bằng duyên nợ cái văn chương”.

Rồi, mình rút lui sớm.

Nguyên Minh mời Kim Quy phát biểu đôi lời. KQ nói lời cảm ơn bạn bè LKT đã gắn bó với chàng từ lâu và có buổi hôm nay.

Buổi họp mặt ra mắt QV sôi nổi nhất là phần giới thiệu cuốn truyện Dòng sông trơ đáy của Nguyễn Châu với MC Đoàn Văn Khánh và nhà phê bình văn học Hoàng Kim Oanh… cùng với tiếng đàn tiếng ca rộn rã của một buổi sáng Chủ nhật đầy nắng ấm giữa Saigon.

Thân mến,

ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Thu Vàng với Đêm Nhạc Đầu Xuân

26/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thu Vàng với Đêm Nhạc Đầu Xuân

Ghi chú: Cảm ơn anh Võ Tá Hân đã gởi sớm bài viết của Phan Tấn Hải cho đọc. Cảm ơn nhà thơ Khánh Minh đã yêu cầu Thu Vàng hát Bông Hồng Cho Mẹ trong đêm ca nhạc này và cảm ơn Thu Vàng đã không quên mời… nhạc sĩ Võ Tá Hân đích thân đệm đàn cho bài hát do chính anh phổ nhạc… Cảm ơn Sm Giao Trinh Diệu Hạnh nơi xa kia.

Xin phép Phan Tấn Hải cho trích một phần bài viết để sẻ chia nơi đây.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………..

Giọng Ca Thu Vàng Sâu Lắng

Trong Đêm Nhạc Đầu Xuân

Phan Tấn Hải

… Trong Đêm Nhạc Thu Vàng hôm Thứ Bảy 24/2/2018, giọng ca của chị đã chứng tỏ một sức quyến rũ độc đáo, đã thể hiện tuyệt vời những ca khúc rất khó… Giọng ca của ca sĩ Thu Vàng là một sức mạnh rất riêng.

 

 Trong chương trình đêm nhạc khoảng hai giờ đồng hồ, tôi ngồi nghe, như quên hết tháng ngày đang trôi. Có phải đây là đêm, sao giọng ca chị Thu Vàng như dường chói ngời ánh sáng của một chiều xuân? Có phải đây là ca khúc Bến Xuân của Văn Cao, sao nghe như nửa đêm có tiếng chim hót lảnh lót trong giọng ca của chị Thu Vàng? Có phải đây là sân khấu đài truyền hình 57.3 với ánh đèn màu, sao thấy như chen cánh bay vào có một đàn chim trắng vỗ cánh giữa màu nắng của ngõ vàng quỳ.

 

Và tuyệt vời là khi nghe giọng ca Thu Vàng trong ca khúc Bông Hồng Cho Mẹ, thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Võ Tá Hân —  tôi ước mơ rằng phải chi tôi lùi được trở lại thời rất thơ ấu, còn nép bên chiếc bóng của mẹ… Sao lại có trên cõi này thơ nào hay như thế, nhạc nào hay như thế, và giọng ca nào hay như thế nhỉ.

 

Nhạc sĩ Võ Tá Hân đệm guitar cho Thu Vàng hát : ”Bông Hồng Cho Mẹ” (phổ thơ Đỗ Hồng Ngọc)

Đêm Nhạc Thu Vàng đã tổ chức hôm Chủ Nhật 24/2/2018 với sự góp mặt của nghệ sĩ Dương Cầm Mỹ Linh, nghệ sĩ Tây Ban Cầm Phương Thảo, MC Ngọc Diệp…

Tham dự có nhà thơ Trịnh Y Thư, anh chị thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh, anh chị nhà văn Cung Tích Biền, nhà văn Trúc Chi, anh chị họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, thi sĩ Thành Tôn, Quốc Khiêm, nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Trí…

 

 

Trong chương trình, ca sĩ Thu Vàng đã trình diễn một số ca khúc  như Xuân và Tuổi Trẻ  (Lời:  Thế Lữ; Nhạc: La Hối), Thiên Thai  (Văn Cao), Mũi Né (Thơ: Đỗ Hồng Ngọc; Nhạc: Hoàng Quốc Bảo), Kỷ Niệm Phạm Duy), Nhớ Một Chiều Xuân (Nguyễn Văn Đông), Ngõ Vàng Quỳ (Đỗ Thất Kinh), Bến Xuân (Lời:  Phạm Duy; Nhạc: Văn Cao), Tâm Sự Gửi Về Đâu (Thơ: Lê Minh Ngọc, Nhạc: Phạm Duy)…

Một ca khúc cuối chương trình, cũng là bất ngờ, ca sĩ Thu Vàng hát bản Bông Hồng Cho Mẹ. Ca khúc này do Võ Tá Hân phổ từ thơ của Đỗ Hồng Ngọc, chỉ có 4 câu ngắn, nguyên khởi được nhà thơ họ Đỗ giải thích là:

“Bài thơ nhỏ của mình viết ngày Giỗ Mẹ đầu tiên năm 2012, cũng là ngày Vu Lan, chỉ có 4 câu ngắn ngủn:

Con cài bông hoa trắng

Dành cho Mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông…”

Ca sĩ Thu Vàng đã mời đích thân nhạc sĩ Võ Tá Hân lên ngồi đàn đệm cho chị hát.

Tôi đã ngồi nghe sửng sờ. Như dường trong không gian phòng thu hình của đài 57.3 có ánh nắng bên kia sông. Phải chi, mẹ mình còn sống… Có biết bao nhiêu điều “phải chi” trong đời này. Giọng ca của ca sĩ Thu Vàng như dường mang theo tiếng khóc thương mẹ của biết bao nhiêu người trần gian.

Tôi đã nghe, đã xúc động, và nơi đây xin trân trọng cảm ơn tất cả các nghệ sĩ trên đời này, những người đã chạm sâu vào tận đáy cảm xúc của cõi người.

(PTH)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh Tết Mậu Tuất

13/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vài hình ảnh Tết Mậu Tuất Saigon, 2018

Đỗ Hồng Ngọc ghi

 

Ở đường hoa Phú Mỹ Hưng:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ở Đường Sách Nguyễn Văn Bình Tp.HCM

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn

”Ở một nơi ai cũng quen nhau”

05/02/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

”Ở một nơi ai cũng quen nhau”

Đó là tựa một tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Hình như là tình yêu, Cô bé treo mùng, Học Trò… hồi đó nhớ không? Nhưng ở đây mình chỉ ”mượn” để nói về buổi họp mặt, ra mắt Quán Văn số 52, Xuân Mậu Tuất 2018 của Nguyên Minh và nhóm bạn.

Ngộ lắm! Hình như từ ngày có Internet mọi người cứ xa dần nhau, dù ngồi đối diện mà cứ như xa cách muôn trùng, mỗi người trú vào cái ”pháp giới” riêng mình và sống ảo trong đó. Cho nên, bỗng dưng có một buổi họp mặt ”offline” tay bắt mặt mừng như vầy thì mọi người đều có vẻ hạnh phúc như chưa bao giờ có. Họ như ngắm nghía nhau, hít thở nhau và… chuyện cứ nổ như bắp rang như đã hẹn nhau ”từ muôn kiếp trước”.

Mà thực vậy, Quán Văn giống như một tập san… hoài cổ, với những bài viết không mới, không có hậu hiện đại, không có tân hình thức… gì ở đây cả. Chỉ là những tâm tình, sẻ chia, thẳng thắn, ngọt ngào, cay đắng…

Nhiều người chưa từng gặp nhau, chưa từng biết nhau mà như đã quen đã từ lâu, dù người từ Canada, từ Mỹ, từ Ý, từ Hà Nội, từ Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Vũng Tàu, Phan Thiết… chỉ nghe cái tên thôi mà đã vô cùng thân thiết. Phải rồi, chỉ cần gặp gỡ, chỉ cần nói năng, chuyện chung chuyện riêng gì cũng được… Ca hát nhảy múa chỉ là một cái cớ, một sự ồn ào cần thiết, bởi nhiều khi chỉ cần một sự im lặng, một ánh mắt nhìn.

Mình chia sẻ với bạn mấy tấm hình ở đây, và dành cho bạn sự…tưởng tượng. Bởi bạn biết đó, mình già rồi, làm biếng tổ rồi!

Nguyên Minh ”chủ xị” phát biểu mấy câu chào mừng.

Nguyên Minh vẫn tấm thân gầy gò nhỏ xíu đó mà sức làm việc dẻo dai rất đáng nể phục. Mỗi ngày 4 giờ sáng đã thức dậy hì hục… làm báo… Anh kêu mệt quá mệt quá, chỉ đến khi báo ra gặp gỡ anh em mới vui. Anh mới sắm cái mũ lưỡi trai, lúc nào cũng đội che mái đầu còn loe hoe mấy sợi. Lâu nay mình đã đặt cho NM một cái tên, bây giờ đâm ra ai cũng biết và ai cũng gọi anh là Cập Thời Vũ Tống Công Minh… Nhờ sống rất chân thành nên anh em ai cũng quý cũng thương. Có lần bệnh nặng, nằm bệnh viện suýt chết, mình biết tin đến thăm, nói với người bác sĩ đàn em đây là nhà văn Nguyên Minh, bạn thầy đó em. Cứ như Tống Giang sắp bị mổ thịt làm bánh bao…

Địa điểm có vẻ đã quá chật chội rồi đó. Lần sau nên tìm cái sân rộng rãi hơn thì tốt.

Cô áo tím là Ban Mai đã cùng ông xã từ Quy Nhơn đi xe lửa suốt đêm qua mới kịp đến.

Nguyên Cẩn, Nhật Chiêu…

 

Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào, Phạm Văn Hạng từ Đà Lạt xuống.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào. Trông anh hiền như bụt. Hỏi sao lạ vậy? Anh cười: ai cũng hỏi vậy! Rồi mình hỏi thăm Phùng Hoàng Anh, cháu ông Nguyễn Hiến Lê cũng ở Sơn Tây cùng NXD.

 

 

 

Hiếu Tân ở Vũng Tàu gặp Tịnh Thy từ Huế…

 

Và “Nhóm Ý Thức” cũng luôn có mặt bên cạnh Quán Văn. Từ trái; Đỗ Nghê, Nguyễn Ước, Lữ Kiều, Nguyên Minh, Lê Ký Thương… nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư và các bạn thời xa xưa đó…

 

 

 

Tịnh Thy, cô giáo Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế giới thiệu vài nét về bài ”đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê: ”Sao lòng ta chưa nguôi” của cô và giữ bí mật để mời mọi người đọc trực tiếp trong Quán Văn 52.

Cô dành thời gian kể về chuyến đi Hà Nội của Quán Văn vừa rồi với nhiều hấp dẫn…

 

 

Hẹn thư sau nhé,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

NGÔN NGOẠI

31/01/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ngôn Ngoại

Ghi chú: Tôi đọc được truyện này trên trang Luân Hoán, rất dễ thương. Xin phép Tâm Thanh chia sẻ cho bà con đọc Tết nhé. Đa tạ. (ĐHN).

 

Tâm Thanh

Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một chuyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu ‘Cứ yên tâm’.

Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói ‘bả không phải vợ tôi’? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.

– Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!

‘Chát!’ Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời ‘vu cáo’ trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:

– Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?

Được dịp ‘đáp lễ’ sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:

– Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.

Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:

– ‘Toa với lết’. ‘Lết’ đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà ‘lết’.

Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:

– Bà có biết đọc … xa tới đằng kia nổi không?

– Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!

– Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà … đái.

Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:

– Ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!

Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận ‘tội ác’ của mình, chỉ giúp bà mở khóa

dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:

– Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.

Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:

– Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?

Tôi tính nói ‘bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu’, nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:

– Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?

Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lễ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:

– Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!

Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:

– Ông bà tình ghê!

Câu này, chắc hôm đó bà không nghe đâu, nhỉ? Về chỗ, tôi vẫn ngồi vào cái ghế đã bị đổi, đầu tràn ngập những dấu hỏi về người đàn bà kỳ lạ.Bà đi với ai? Đi đâu? Làm gì? Khi bà trở lại, lò dò mãi không tìm thấy chỗ, tôi phải vẫy tay, kêu:

– Bà ơi! Đằng này nè!

Tôi nghe từ hàng ghế sau, phía bên trái có giọng đàn bà, tiếng Việt:

– Ông già lấy được bà vợ đẹp, chỉ tội quê không để đâu hết.

Bụng tôi thon thót theo mỗi bước chân của bà, chỉ lo ngại cho những cái đầu người ngồi dẫy bìa bị tay bà quơ phải, lỡ mà bà nhằm cái đầu tóc giả của một ông Tây mà vịn thì tôi phải tuyên bố ‘ly dị’ ngay tại chỗ. Nhưng tôi thở phào khi cuối cùng bà tới được chỗ ngồi bình an, gieo bàn tọa cái rầm, thả ra mùi ‘eau de Cologne’ pha lẫn mùi dầu cù là lổn ngổn.

– Bà đi máy bay lần đầu?

– Chớ lần mấy?

– Bà đi đâu ạ?

– Phần-lan.

– Bà đi thăm bà con bên đó, chắc?

– Bà con hồi nào? Theo chồng.

– Ông nhà sang Phần-lan lâu chưa?

– Chả người Phần-lan …

Bà kể bà làm nghề chèo ghe đưa khách tại bến đò Vĩnh Long. Chở bạn hàng cũng có, mà sau này chở khách du lịch cũng có. Thường thì bà chậm chân, không tranh được mấy mối khách du lịch béo bở. Một hôm bà để ý có một ông khách Tây cứ ngồi uống cà phê đá mà nhìn bà cả buổi, ‘cái đầu xồm không nhúc nhích’ và ‘cái môi đỏ chót liếm lia’. Cuối cùng ông đứng lên ra bến, đưa tay gạt hết mấy thằng giành mối ra một bên, mà tiến thẳng lại ghe bà, chẳng nói chẳng rằng, bước xuống, và bà chèo ghe cho ông coi cảnh trên sông Cổ Chiên. Bà nói tiếp:

– Tối về chả rút bóp ra một xấp tiền đô. Tui hổng dám lấy. Thằng chả xòe ra biểu lấy một ít cũng được. Nhưng chú tính coi – ai lấy kỳ vậy?

Cô tiếp viên đưa khay ăn tới. Tôi giúp bà hạ bàn con xuống, chọn nước uống, và chỉ bà cách dùng mấy thứ lỉnh kỉnh như dao nĩa, khăn ăn v.v. Và tôi ngạc nhiên tại sao một người chèo đò nhà quê mà có bàn tay búp mang đẹp như vậy. Bà cầm dao ăn như cầm búa, nhưng ăn vén khéo và rất … bạo -so với các mệnh phụ phu nhân khác. Vẻ tự nhiên của bà và những món ăn hấp dẫn với rượu vang khiến tôi phấn chấn tinh thần. Tôi thấy đã đủ thân mật để nói đùa:

– Bà không lấy tiền, chứng tỏ bà mê ông rồi?

Bà cười khinh khích:

– Mê cái mốc xì họ. Bộ ghe chùa sao? Tôi lấy cái tờ có vẽ số 1.

– Sao bà không lấy tờ vẽ số 10 hay 20?

– Lấy đủ công mình thôi chớ.

– Rồi sau đó?

– Sau đó hả? Mấy bữa sau, bữa nào chả cũng trở lại thuê ghe tui đi chơi lòng vòng… Rồi chả đòi lấy tui.

– Ý! Chết mẹ người ta chưa!

Dầu biết trước bà đang trên đường đi về nhà chồng, tôi buông ra một câu sững sờ như thế vì hồi kết cuộc tới một cách đột ngột quá. Không ngờ tiếng reo của tôi đã đậm đà giọng của bà, thốt ra mà thấy sướng cổ họng.  Nhưng thấy sau đó bà im bặt, tôi lại lo bà giận tôi lỗ mãng.

– Xin lỗi nhé!

– Lỗi gì?

– Dạ, không.

Tôi chờ đợi một câu truyện hấp dẫn, có đầu đuôi hơn. Tôi muốn biết buổi hẹn hò đầu tiên ở đâu? ông tỏ tình thế nào? tại sao bà biết ông thương mình thiệt? cái gì làm cho bà thích ông? ông làm nghề gì? có tổ chức đám cưới không? Nhưng bà không kể nữa, tiếp tục ăn món tráng miệng, khen ngon.

Tôi uống sang ly Cognac thứ ba, nghe ra giọng nhừa nhựa của chính mình:

– Dô! Dô! Mừng cho mối tình của bà! Đẹp thấy … mẹ!

Bà nhìn tôi, cau mặt:

– Ê! Chú hổng nên bắt chước tui ăn nói cái kiểu ẩu tả đó.

Thế ra bà vẫn biết mình ăn nói khác thường. Tôi chữa:

– Bà nói ngon lành hết xảy, chứ đâu có … ẩu tả.

– Chú nói thiệt tình hay xí gạt tui?

– Tui xí gạt bà làm mẹ gì? Bà là người tốt muốn chết.

– Chú coi bộ cũng được, nên tui khuyên chú đừng bắt chước tui. Tui trót học thói xấu, không sửa được. Không muốn sửa. Thằng khốn nạn đó …

Tôi ngạc nhiên, tại sao mới ‘thằng chả’ thân mật đã lên cấp ‘thằng khốn nạn’?

– Bà nói ai … khốn nạn?

– Thằng chồng của má tui.

– ‘Chồng của má’, tức thị là cha ?

– Cha ghẻ tui đó. Mà tui có kêu chả bằng cha đâu.

– Sao vậy?

– Nó nhậu say rồi đánh đập mẹ tui tối ngày. Một hôm nó định giở trò súc vật  với tui, mẹ tui bắt gặp, nó đánh mẹ tui bất tỉnh nhơn sự, tui quơ con dao yếm, huơ cho nó ớn mà giang ra, ai dè nó tự lao thây vào lãnh dao, chết ngắt. Đúng là số chả chết. Bị thần Lưu Linh vật. Tui .. tui không cố ý. Ông ta cũng thông cảm cho tui như vậy. Tui chỉ bị ba năm cải tạo. Lúc má tui đau nặng, người ta lại thả cho về sớm gần năm để nuôi bả.

Bà ngưng kể, khóc. Tôi im lặng để bà khóc tự nhiên, nhưng thấy bà khóc mãi, tôi an ủi:

– Việc đã qua rồi. Bà đừng buồn nữa.

Bà mủi lòng, khóc mùi hơn:

– Tui nhớ má tui với thằng Mẫn quá. Tui bỏ đi thiệt là tệ. Không ai coi chừng má tui với nó hết trơn.

– Thằng Mẫn là ai?

–  Nó là em cùng mẹ khác cha với tui. Nó bị tàn tật, què giò.

– Cha em là ai?

– Thằng chồng mắc toi của mẹ tui, chứ ai?

Tôi quay nhìn khuôn mặt hiền lành đẫm nước mắt và nghĩ có lẽ chính khuôn mặt này đã làm cho các quan tòa giảm khinh cho bà tội vô ý giết người. Phải tay tôi, đã cho bà trắng án. Rồi như bấm nút, bà nín bặt, chùi nước mắt, nói ráo hoảnh:

– Bảy năm cãi lộn với thằng cha ghẻ và hai năm cải tạo, hết thảy chín năm, tui quen ăn nói ba trợn. Sửa lại thấy … miệng lạt nhách.

Bà nói xong than:

– Tui mắc ói quá. Trước khi lên máy bay đã uống ba viên thuốc, mà còn mắc ói.

– Hèn gì bà vừa lên máy bay đã ngủ li bì.

Tôi vừa kịp banh cái bao ói thì bà ọc ra. Bà lại lấy dầu cù là ra xức. Cái nồng nàn của những chuyến đò đêm, cái ngất ngưởng của những chuyến xe đò trưa nắng, cái bệnh viện lưu động đó, dầu cù là con hổ. Hai mươi năm mới gặp lại, gặp lại vẫn nồng. Tôi bật ghế cho bà nằm nghỉ.Tôi cũng ngả người, nhắm mắt, suy nghĩ miên man về câu truyện của bà. Thỉnh thoảng tôi hé mắt, thấy bà chăm chú coi phim trên bàn ảnh truyền hình. Tôi chỉ cho bà đeo ống nghe. Tay chạm phải bộ tóc thật rậm, khỏe mạnh.

Không biết máy bay đã bay tới đâu và mấy giờ ở dưới mặt đất. Tôi có cảm tưởng thời gian và không gian như đọng lại ở một nơi xa lạ, không liên quan tới trái đất. Nhưng tôi vẫn tưởng tượng dưới đó hàng mấy tỉ người đang lao xao cười, khóc, nói thật và nói dối, thông cảm và ngộ nhận, bằng nhiều thứ ngôn ngữ, chân ngôn xen lẫn ngụy ngôn.

Tôi thức giấc đã nghe nhiều người rục rịch. Bà đã bật ghế thẳng, ngồi đan áo, tôi hỏi:

– Bà không ngủ?

– Ngủ mẹ gì được. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng gà gáy.

Tôi ngạc nhiên:

– Trên máy bay, làm gì có gà kìa?

Bà không do dự:

– Chắc nó gáy trong đầu tui. Bị ở nhà quê, nghe gà gáy riết, quen đi, cứ gần hừng sáng là nghe gà gáy trong tai.

Hình như bà giao tiếp với thế giới bên ngoài bằng trực giác. Thuần trực giác. Tôi chắc người đàn ông gặp bà trên bến đò Vĩnh Long cũng có trực giác rất mạnh. Tôi thích nghe tiếp câu truyện về họ.

– Tại sao ông không về Việt Nam … rước dâu?

– Chú đừng kiêu ngạo tui… Chả đòi sang đó chớ. Nhưng tui không cho. Tui nói dìa chi tốn tiền. Tui xin món tiền đó cho thằng Mẫn ăn học, chả bằng lòng, gởi tiền dìa rồi.

Khi bà dẹp len và kim đan để chuẩn bị ăn điểm tâm, tôi hỏi:

– Bà đan áo cho ông?

– Bển nghe nói lạnh lắm.

Chúng tôi ăn xong, máy bay qua một vùng ‘ổ gà trời’, hổng lên hổng xuống. Đèn báo nhắc cài dây an toàn. Lần này tôi chỉ cho bà cái khóa.Hành khách đi máy bay gặp những báo hiệu cài dây thế nào cũng ít nhiều lo lắng. Rủi ro, ai biết? Loa phóng thanh loan báo có bão, nhưng hành khách có thể yên tâm. Tôi lòn tay dưới gầm ghế, lấy cái phao cấp cứu. Bà hỏi:

– Cái gì vậy?

– Cái phao cấp cứu. Tôi chỉ kiểm soát xem nó có đó không, để mình yên tâm.

– Tui đi sông đi nước hai chục năm trời, chẳng phao phiếc gì, cũng chẳng chết. Hôm đầu thằng chả xuống ghe cũng bày đặt hỏi phao, tui nói không cần, chả cũng chịu. Riết rồi chả nói đi ghe với tui mà không mang phao mới thích.

Bà không lộ một thoáng lo âu nào. Tôi có cảm tưởng người đàn bà này bay trên 10 ngàn bộ cao mà tưởng mình đang bơi xuồng trên sông Cổ Chiên, xuồng lật, chỉ việc nhào xuống nước bơi. Tôi cất phao trở lại chỗ cũ, hỏi:

– Bà có chắc ông sẽ ra đón không?

– Tui chắc mà. Tui biết ai là người tin được. Tui biết thằng cha này không bao giờ nói xạo.

Tôi nhớ một sự tích trong Tân ước: Một hôm thuyền của các môn đệ gặp sóng gió, Chúa Giêsu đi trên mặt nước ra với họ, nhưng họ càng sợ hơn vì tưởng là ma. Chúa nói ‘Thày đây, đừng sợ’. Đại môn đệ Phêrô mừng quá nói ‘Nếu là Thày thì xin cho con đi trên mặt nước đến với Thày’.Chúa phán ‘Con lại đây!’ Phêrô bước xuống, đi trên mặt nước, được mấy bước, thấy sóng to quá, ông đâm hoảng, và chìm xuống, Chúa phải đưa tay ra đỡ lên thuyền. Ngài trách yêu ‘Cái đồ yếu lòng tin!’

Tôi cảm phục lòng tin của bà lắm, bà ạ: Bà bước thẳng lên mây đến với chồng. Tôi nghĩ mọi người trên chuyến bay này đều biết trước về cuộc hành trình, và biết điểm tới. Chỉ có bà nhắm mắt mà bước lên mây, không biết điểm tới nằm chỗ nào trên mặt đất. Bà đi tới với chồng, chứ không đi tới một nơi nào cả. Không một giây hồ nghi. Câu hỏi ‘Liệu ông chồng có tới đón không?’ chỉ bám vào đầu tôi, một con người thường thấy quá nhiều sóng lớn trên biển đời, lòng tin thường bị nhận chìm, đến nỗi mỗi bước đi về sau trở thành một dấu hỏi.

Tôi phải chờ bảy tiếng đồng hồ tại Copenhagen để được chuyển máy bay đi Oslo. Lịch trình bay đã ghi như vậy từ đầu. Còn bà, theo lịch trình lẽ ra chỉ phải chờ ba tiếng để chuyển máy bay, nhưng vì trục trặc đình công sao đó, phải thêm hai tiếng trễ nải. Chính hai tiếng trễ nải này khiến cho tôi lo ngại giùm bà. Tôi đề nghị:

– Bà nên báo cho chồng bà biết máy bay trễ.

– Chả biết mà … Cái gì chả cũng biết hết đó.

‘Cái gì chả cũng biết’, đã tin ắng đi như vậy, thì thôi, kệ bà. Tôi hướng dẫn bà  đi coi các gian hàng trong sân bay. Bà bị kích thích mạnh vì vẻ choáng lệ và đồ vật bày trong các cửa hiệu. Bà trầm trồ, reo vui. Tôi hỏi bà có định mua cái gì làm quà cho chồng không, vì đồ ở đây miễn thuế, rẻ hơn ở ngoài, bà nói:

– Tui mang theo nhiều đồ lắm, khỏi cần mua. Chú đừng cười nghe, tôi may ba bộ birama, kho một nồi tôm, và mua năm ký bánh phòng tôm, hai ký kẹo dừa. Nghe nói mấy thứ này ở bên tây không có. Mèn ơi! Tây u gì mà nó thích ăn tôm kho tầu gì đâu …

Đi với bà, tôi có cái vui thích như đi bên cạnh một đứa trẻ tò mò. Trẻ ngoan nữa, vì bà từ chối khi tôi đề nghị mua tặng một cái máy sấy tóc mà bà rất thích.

– Ai lại để chú mua, kỳ chết. Để chả mua cho tui, nếu tui còn thích.

Theo tôi, bà có một bộ tóc mây quá đẹp. Tôi hy vọng ông chồng sẽ thuyết phục được bà đừng uốn tóc. Tôi thăm dò:

– Tóc bà để tự nhiên như thế đẹp hơn.

– Biết đâu thằng chả.

‘Biết đâu thằng chả’, thế là cả nhan sắc bà cũng giao cho ông luôn.

– Hèn gì.

– Chú lẩm bẩm cái gì?

– Dạ, không. À, tôi định nói con gấu bông kia nhỏ bé quá, hèn gì ai cũng muốn bồng.

Tuy nhiên, bà càng tin tưởng, phó thác một cách ngây thơ, đầu óc đầy sạn của tôi càng nghi ngại. Rủi chồng bà không tới, bà sẽ xoay xở ra sao ở nơi xa lạ? Khi đi qua một trạm điện thoại, tôi đề nghị:

– Bà nên điện thoại cho ông báo tin báy bay trễ, để ông khỏi lo.

Bà ngẫm nghĩ, rồi trả lời:

– Chú nói có lý. Nhưng làm sao ra nhà dây thép gió bây giờ?

Tôi lấy cái thẻ nhựa của tôi tra vào máy điện thoại, và quay số bà ghi trong một tờ giấy nhét cẩn thận trong bóp. Chuông điện thoại reo. Bỗng tôi ngại ngùng, có thể nào người đàn ông nghe tiếng tôi ở đầu dây bên này, biết tôi đứng bên cạnh vợ ông và đâm ghen không. Tôi vội trao máy cho bà trước khi đầu dây bên kia trả lời. Tôi nghe bà la oang oang bằng tiếng Việt :

– Ê! Ông Ron đó hả! Ê ông có nghe không, Ron, Ron, Ron?!

Bà nói liên hồi, xăng xái. Bà bụm bàn tay trước ống nói mà hét lên, cũng không có tiếng trả lời. Tôi nhớ chúng ta thử lại nhiều lần, bà nhỉ.Nhưng không ai trả lời. Tôi an ủi:

– Có lẽ ông đã đi đón bà, và đang chờ ngoài phi trường.

Sắp tới giờ bà phải lên máy bay, tôi cần được giải đáp vấn nạn lớn nhất rằng tại sao một con người ăn nói mộc mạc như bà lại có thể làm cho một người đàn ông lạ say mê cưới làm vợ. Và, mặc dầu bà thường kể ‘chả biểu, chả nói’, nhưng nói bằng ngôn ngữ gì? Suốt cuộc hành trình, tôi biết bà không hiểu một chữ tiếng Tây tiếng Mỹ, làm cách nào ông bà hiểu nhau, hiểu một cách thâm sâu như thế? Cụ thể nhất là có thiệt ông hẹn bà sang Phần-lan chuyến này? Và có chắc tất cả mọi truyện không bắt đầu từ một sự … hiểu lầm nào đó do bất đồng ngôn ngữ? Tôi hắng giặng hỏi:

– Tôi hỏi không phải, ông bà nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Phần-lan?

Bà xăng xái:

– Tiếng Việt mình, thằng chả có hiểu con mẹ gì.  Còn cái tiếng quỉ tiếng ma gì của chả, tui cũng đách hiểu.

Cũng hay. Nhờ không biết tiếng Việt, ông khỏi cần hiểu ‘con mẹ’ với ‘cái đách’ là gì. Có lẽ chỉ cần hiểu gật đầu là ‘có’ và lắc đầu là ‘không’ , hai tín hiệu mà nếu thông suốt, minh bạch, con người đỡ được bao nhiêu phiền trược trong cái biên giới u minh nửa không, nửa có, của ngôn ngữ. Tôi nghe nói bộ óc điện toán cũng chỉ biết ‘gật đầu’ và ‘lắc đầu’. Phương chi, con người, không phải chỉ có bộ óc, mà còn trái tim kỳ diệu. Điều này làm cho tôi, khi tiếng loa mời hành khách đi Helsinki vang lên, cảm thấy bớt áy náy. Cái gì làm cho một người đàn ông từ Helsinki sang tận bến đò Vĩnh Long gặp bà, thì cũng đang hướng dẫn bà từ Vĩnh Long sang Helsinki bình an.

Bà le te ra cổng số 39, tươm tất trong cái áo vét xanh đậm và quần tây thẳng nếp. Tôi đứng ngoài, bịn rịn nhìn theo, bà quay lại vẫy tay. Cái vẫy tay cũng không giống ai, bàn tay đưa ngang vai, lòng úp xuống, ngón tay phẩy phẩy ra phía ngoài, như giục tôi cứ đi đi. Cứ yên tâm.

Tâm Thanh
(Nguồn: QGHC Miền Đông)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn

Lê Ngọc Trác đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê: “Nắng vàng thơm quê nhà”

20/12/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

ĐỖ HỒNG NGỌC (Đỗ Nghê)

“Nắng vàng thơm quê nhà”

 

* Lê Ngọc Trác

 

Cô đọng, đầy đủ ngữ nghĩa, giai điệu nhẹ nhàng, cuốn hút, nội dung thể hiện chủ đề của bài thơ, gợi mở cho người đọc suy nghĩ về một không gian kỷ niệm, gần gũi trong cuộc sống. Đó là một bài thơ hay:

“…Một sáng về quê

Chợt nghe gió bấc

Ơ hay xuân về

Vỡ òa ngưc biếc!”

(Trích “Gió bấc” của Đỗ Hồng Ngọc)

Những ai đã từng sống ở miền cực Nam Trung bộ hay ở phố biển La Gi tỉnh Bình Thuận đều có chung một cảm nhận: “Gió bấc” ở miền quê này là lúc đất trời chuyển sang mùa, Tết đến, xuân về với quê hương và con người. Thời gian đi được tính bằng nhịp sóng vỗ bờ. Và gió, gió bấc cũng là nhịp mùa đi của đất trời. Gió là những lằn roi của cuộc đời. Gió là tín hiệu của mùa xuân vui… Những người dân quê hương La Gi chúng tôi đã từng yêu những câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc gắn bó với quê hương như thế.

Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc còn có bút danh là Đỗ Nghê. Anh sinh năm 1940. Đỗ Hồng Ngọc là niềm tự hào của quê hương La Gi và dòng họ Đỗ, một trong bốn dòng họ (Huỳnh, Đỗ, Từ, Nguyễn) sinh sống và gắn bó với La Gi từ thời mở đất lập làng thời xa xưa. Lúc sinh thời, Châu Anh – Đỗ Đơn Chiếu thường nói về Đỗ Hồng Ngọc – người cháu thân yêu của mình với những tình cảm trìu mến: Chúng tôi nhớ nhất là tiếng cười hào sảng nhắm tít đôi mắt đờ mi của ông khi ông đang nhắc chuyện gì sảng khoái nhất. Đỗ Hồng Ngọc bước vào con đường văn chương khi còn đang theo học Đại học Y khoa những năm 60 của thế kỷ trước. Trước năm 1975 thơ của anh đã có chỗ đứng trên thi đàn miền Nam. Nhà văn học giả Nguyễn Hiến Lê đã từng viết về Đỗ Hồng Ngọc: “Một bác sĩ, lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị…”.

Theo dõi cuộc đời và sáng tác của Đỗ Hồng Ngọc, chúng ta vừa ngạc nhiên vừa cảm phục sức lao động và sáng tạo của anh. Từ năm 1967, Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản thi phẩm: “Tình Người”. Từ đó đến nay, anh đã viết và xuất bản rộng rãi gồm 5 tập thơ: Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh…(2010). Bên cạnh anh còn xuất bản các tập văn và tùy bút được đông đảo bạn đọc yêu thích như: Gió heo may đã về (1997), Già ơi chào bạn (1999), Những người trẻ lạ lùng (2001), Cành mai sân trước (2005), Nghĩ từ trái tim (2003), Thư gửi người bận rộn (2005), Như thị (2007)…

Ngoài ra, Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều đầu sách về y khoa; “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” là cuốn sách gối đầu giường của nhiều đôi vợ chồng trẻ gần 50 năm qua.

Đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, người đọc vừa thích thú, vừa ngạc nhiên trước sự đổi mới phong cách và bút pháp của anh. Cách đây gần 3 năm, chúng tôi tình cờ đọc trên trang cá nhân của nhà văn Nguyễn Nghiệp: 4 câu thơ của chính Đỗ Hồng Ngọc viết trên giấy sổ tay đã được chụp hình:

“Con cài bông hoa trắng

Dành cho Mẹ đóa hồng

Mẹ nhớ gài lên ngực

Ngoại chờ bên kia sông”…

(2012)

Đọc xong 4 câu thơ ngắn chỉ với 20 từ, lòng chúng tôi rung lên như bị chạm điện, thốt lên: Tuyệt tác! Chúng tôi thầm nghĩ, với 4 câu thơ trên của Đỗ Hồng Ngọc là đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca. Anh đã đặt một dấu son ngời sáng cho con đường sáng tạo thi ca của mình. Có lẽ một bài văn viết nhiều trang chưa chắc đã vượt qua được 4 câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc về tình mẫu tử. Một bài thơ ngũ ngôn chỉ với 4 câu mang chủ đề “Bông hồng cho mẹ” trong mùa báo hiếu sẽ bay xa, vươn cao, làm lay động tâm hồn biết bao người yêu thơ trong chúng ta. Ai cũng có mẹ và trong chúng ta ai cũng là người con có hiếu. Với vỏn vẹn 4 câu thơ, Đỗ Hồng Ngọc đã nói lên được “cõi người” và tấm lòng của những người con trong cuộc đời. Nhiều nhà phê bình văn học đã từng đề cập 4 câu thơ trên với nhiều cung bậc, và cho rằng thơ Đỗ Hồng Ngọc đượm tư tưởng Phật giáo. Riêng chúng tôi xem đây là tuyệt chiêu của Đỗ Hồng Ngọc. Làm thơ cũng như làm những công việc khác trong cuộc sống. Một người thợ mộc lành nghề đục đẽo những lỗ mộng, đường nét tinh xảo. Một bác sĩ tận tâm với nghề, có bàn tay vàng khi phẫu thuật cho người bệnh không có vết sẹo, chỉ để lại những hoa văn tuyệt đẹp trên cơ thể người bệnh. Chỉ với 3 điều: Chân, Thiện, Mỹ. Ai làm được và đạt được 3 điều trên sẽ thành công. Làm thơ cũng như thế. Đọc xong một câu thơ, người đọc nhớ mãi là thơ hay và nhận ra tác giả là một người tài hoa.

 Từ thi phẩm “Tình người” năm 1967 đến năm 2017, Đỗ Hồng Ngọc có “Thơ Ngắn Đỗ Nghê“. Người yêu thơ đều nhận ra: Đỗ Hồng Ngọc sáng tạo không ngừng, tạo ra nét riêng trong thơ của mình và thu hút được đông đảo người yêu thơ. Đỗ Hồng Ngọc viết cô đọng, từ ngữ bình dị. Không lên gân, không hô hào sáo rỗng. Thơ của anh không bi lụy hay cay cú bất cứ điều gì. Đỗ Hồng Ngọc viết một cách chân thật về những điều bình dị trong cuộc sống mà lay động đến con tim người yêu thơ. Anh không triết lý lộ liễu. Thơ của anh bên trong những câu chữ bình dị làm cho người đọc tự cảm, tự hướng đến một chân trời mênh mông mới. Chúng tôi không dám triết lý cao xa, chỉ nhận ra giữa Đạo và Đời không có khoảng cách trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả rất đời, an nhiên, đầy ắp tình cảm trong cuộc sống. Là những người đọc bình thường, chúng tôi biết: Những nhà thơ tài hoa và Đỗ Hồng Ngọc viết những câu thơ từ trái tim mình. Chúng tôi cảm nhận thơ bằng trái tim mình. Xin phép được trích tản mạn những bài thơ ngắn của Đỗ Hồng Ngọc, để bạn đọc yêu thơ tự đọc, tự cảm, như thế thú vị hơn!:

“Sóng

quằn quại

thét gào

 

Không nhớ

mình

là nước”.

(Sóng)

 

“Nước từ đâu đến

Nước trôi về đâu

Từ con suối nhỏ

Từ dòng sông sâu

…

Từ cơn gió thoảng

Từ làn mây trôi

Từ hơi biển mặt

Từ phía mặt trời

…

Ai người nỡ hỏi

Nước trôi về đâu…”

(Nước)

 

“Lắng nghe hơi thở của mình

Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa

Một hôm hơi thở tình cờ

Dính vào hạt bụi thành ra của mình

Của mình chẳng phải của mình

Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”.

 

(Thở)

 

Khi đang viết bài viết tản mạn này, chúng tôi chợt nghe cơn gió bấc ùa về với phố biển La Gi. Trong cái lạnh của những ngày cuối năm, chúng tôi chợt nhớ đến những câu thơ Đỗ Hồng Ngọc viết về quê nhà:

  “…

Biển xanh lùa sóng bạc

Cát vàng hoàng hôn xưa

Tiếc em về chốn cũ

Tình vương đến bao giờ

Tiếc đời phơ tóc bạc

Thương mãi núi mây xa

…

Nụ mai vàng trước ngõ

Góc phố bờ quạnh hiu

Con đường xưa đứng đợi

Ta làm chi đời ta

Thương em còn thương mãi

Nắng vàng thơm quê nhà”.

 

(Trích: “Quê nhà“)

Chúng tôi nghe “nắng vàng thơm quê nhà” trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Nắng. Gió. Thấm đẫm yêu thương trong cuộc đời này khi mùa xuân đang đến gần với con người và đất trời…

 

(Lê Ngọc Trác)

(Phố biển La Gi 20/12/2017)

 


LA GI mùa bấc thổi…
(minh họa Đỗ Hồng Ngọc)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Trang 8
  • Trang 9
  • Interim pages omitted …
  • Trang 19
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email