Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Về thu xếp lại…” (kỳ 3)

22/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

“Về thu xếp lại…”

(kỳ 3)

Đỗ Hồng Ngọc

 

tranh Lê Ký Thương

 

5.      Người đã đến và người sẽ về bên kia núi

“Từng câu nói là từng cánh buồm giong cuối trời. 
Còn lại tiếng cười khóc giữa đời..”

(TCS). 

Người ta đã đúc kết: “Năm năm / Sáu tháng / Bảy ngày”, nghĩa là ở tuổi 50, nên có kế hoạch  năm; đến tuổi 60 thì chỉ nên làm kế hoạch tháng; còn đến 70 thì tốt nhất nên có kế hoạch… ngày! Cho nên “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui! Chọn những bông hoa và những nụ cười!” (TCS) là phải quá! Vấn đề là ở chỗ chọn lựa. Thiên đàng Địa ngục hai bên… Một cụ già trên trăm tuổi được nhà báo hỏi bí quyết sống lâu, sống khỏe, ông nói có gì đâu, mỗi sáng, thức dậy, tôi tự hỏi hôm nay mình nên ở thiên đàng hay địa ngục đây… rồi tôi chọn thiên đàng.

Có những vùng khí hậu lạ. Một ngày mà có đủ cả bốn mùa: xuân hạ thu đông! Còn muốn gì hơn? Ở cái tuổi này, không phải chỉ cần có kế hoạch ngày mà nhiều khi còn phải có kế hoạch giờ! Sáng khác, trưa khác, chiều khác, tối khác rồi. Làm được gì thì làm ngay. Lát sau mọi thứ sẽ khác. Cần có phương án hai, phương án ba. Cẩm nang để sẵn trong các túi gấm, đến đâu giở ra đến đó!

Từ trứng và tinh trùng, ta hình thành một cái phôi phải nhìn dưới kính hiển vi mới thấy. Rồi rất nhanh, trở thành một thai nhi loi ngoi trong vũng nước ối, trong bụng mẹ. Không thở. Không ăn. Không ngủ. Dĩ nhiên có đái và ỉa khi các bộ phận thải chất bả này hình thành và hoạt động. Thế rồi chín tháng mười ngày ta bung ra ngoài cứ y như cánh hoa phải xòe nở đúng thời đúng tiết vậy. Việc đầu tiên là… thở. Thở mà không xong thì tiêu đời! Bác sĩ sẽ xịt alcool hoặc đét vào đít cho ta khóc thét lên. Khóc càng to càng tốt. Khóc to có nghĩa là thở mạnh. Mệt mỏi rồi nhé! Từ đó đã phải lệ thuộc vào cái gì đó bên ngoài. Rồi phải bú nữa trời ạ. Bú mẹ còn đỡ, cứ vùi đầu mà nút, chả cần ai chỉ dạy! Nhưng nhiều khi phải níu lấy cái bình bú cứng ngắc, ai đó nhét vào miệng vì không có sữa mẹ. Cứ thế mà chùn chụt để nuôi thân. Rồi biết lật, biết ngồi, biết bò, biết đứng chựng, biết đi, biết chạy nhảy, leo trèo… Rồi biết nói năng, suy nghĩ. Nhớ, tiếc, giận hờn, giành giựt, đấu đá, ghen tuông, ích kỷ, thất tình lục dục đủ thứ không lúc nào ngưng. Và dĩ nhiên vẫn thở và vẫn ăn. Rồi nam tu nữ nhũ. Rồi chọn lựa. Rồi giao cấu. Rồi đẻ ra một lô một lốc chẳng biết từ đâu ra.

Đến một hôm, ta từ hùng hục chạy, ta… lững thững đi, rồi chập chững đứng, vật vựa, nghiêng ngã, rồi ngồi một chỗ, mắt lờ đờ nhìn xa xôi, rồi lòm còm, bò lê, bò lết… Từ chùn chụt, ngấu nghiến, ừng ực, dô dô 100%… ta bỏ ăn bỏ uống, thấy cái gì cũng rệu rạo, nhóp nhép vì xệu xạo răng cỏ. Rồi thở cũng cà giật, cà hước… Ta trở lại cái hồi thai nhi trong bụng mẹ, bây giờ là mẹ Như Lai, một vòng khép kín. Thì ra, ta đã từ đó mà đến để rồi loay hoay một vòng về lại chốn xưa. Cứ y như đàn cá hồi, cứ bốn năm lại “hồi” về chốn cũ, đẻ xong rồi chết, sau khi đã làm xong nhiệm vụ truyền giống. Con thiêu thân thì nhào vào ánh lửa. Con bọ ngựa thì giao cấu xong thì chết ngay trên bụng con cái, làm thức ăn cho con… Con bọ hung hùng hục chui vào đống phân, giành giựt đấu đá để vo tròn một cục phân mang về cho bọ hung cái nuôi con. Cá ếch nhái bò sát chim đều vậy. Cây cỏ cũng vậy. Hoa nở chẳng những đẹp mà còn thơm, lôi kéo lũ bướm ong dập dìu lui tới để mang phấn đi muôn phương.

Nhìn suốt cuộc hành trình đó, có cái gì tức cười, vừa tàn nhẫn vừa thương tâm. Cái hiện hữu chỉ là thị hiện, trình hiện chút chơi vậy thôi. Nó giả. Nó tạm. Vậy mà sao ta cứ tưởng thiệt mới đáng thương làm sao. Gieo rắc và sinh sôi. Cứ vậy. Như Lai thọ lượng. Như Lai thần lực. Cứ vậy. Người tỏ ngộ tủm tỉm cười, vui vẻ chui vào tháp báu, gặp Như Lai Đa Bảo của mình ngồi đó, tay bắt mặt mừng. Schopenhauer nói cô con gái liếc mắt đưa tình, tìm kiếm chàng trai râu hùm hàm én mày ngài, oai vũ là để trao thân vì chắc hẳn sẽ là giống tốt; chàng trai thì tìm giai nhân chân dài, đáy thắt lưng ong, ngực nở, mông to để mắn đẻ. Lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống là vậy. Con người thông mình hiện đại làm phiền Như Lai hết sức, vì chỉ muốn tìm vui mà quên nhiệm vụ thiêng liêng!

Đất (Nitrogen) nước (Hydrogen) gió (Oxygen) lửa (Carbon) cùng 62 nguyên tố đồng chì sắt kẽm được vo cục lại, nắn nót, thêm thắt, vẽ bày, hà hơi tiếp sức rồi thảy vào Ta-bà nhộn nhạo theo một cái duyên, cái nghiệp nào đó. Mãi mới nhận ra “bổn lai vô nhất vật”. À há, nó là không, nó là chân không diệu hữu. Nó bày trò, vờ vịt, vớ vẩn, giỡn chơi thôi. Không muốn ngộ rồi cũng ngộ. Không muốn giác rồi cũng giác.

Sanh bệnh lão tử hay sanh lão bệnh tử thì cũng vậy. Lập trình nó vậy rồi. Nhưng « tử » dễ nghe hơn « chết ». Chết khó nghe và thấy sợ. Tại sao sợ ? Không biết. Tại vì không biết cho nên sợ. Nhưng lạ, cũng là chết mà có nhiều từ khác nhau để gọi. Vua chết gọi là « băng hà ». Sư chết gọi là « viên tịch ». Phật chết gọi là nhập Niết bàn. Lính chết gọi là hy sinh… Dân chết có khi gọi là « mất » là « qua đời » là « lìa trần » v.v…

Người ta sợ chết mà không sợ sanh. Vì sanh có biết đâu mà sợ. Nhưng có phải tự nhiên mà sanh ra không? Nếu ba mẹ ta mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Nếu ông bà nội ông bà ngoại mà không “duyên” với nhau thì có ta không? Vậy ta từ đâu ra? Có phải chỉ tinh cha huyết mẹ là đủ hay còn cần phải có một điều kiện nào khác? Có cái gì khác đó chui vào, can thiệp vào để có ta chứ? Cái đó gọi là “thức tái sanh” ư? Là “nghiệp” dẫn dắt ư? Chính điều nầy làm ta thấy có trách nhiệm sống, vì sống cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Ta có trách nhiệm hơn. Ta có tự do hơn. Để tự chọn lựa.

Một cặp thai song sanh sợ hãi khi sắp tới ngày sanh, muốn ở lại trong thiên đàng lòng mẹ càng lâu càng tốt. Hai cái thai tranh cãi quyết liệt không ai chịu ra đời trước, vì không biết chuyện gì chờ đón họ ngoài kia. Cuối cùng dù dằn co thế nào thì cũng có một cái thai chui ra trước. Hóa ra… đời vui quá! Người ta đón chào rôm rả. Thai kia thấy thế cũng vội vả ra theo. Rồi oa oa chào đời. Rồi hít thở, rồi bú mớm. Rồi lớn như thổi, rồi yêu thương, rồi ganh tỵ, hờn ghen, đấu đá, giành giật… rồi cuối cùng cả hai cùng một lần nữa lại bị kéo ra… khỏi cuộc đời. Cũng lại quyết liệt tranh cãi không chịu, cũng lo lắng, sợ hãi, đòi ở lại càng lâu càng tốt…

Một cái vòng luẩn quẩn. Sanh bệnh lão tử. Tử rồi lại sanh. Quanh đi quẩn lại có chừng ấy. Một vòng tròn khép kín? Khép kín mà không y chang? Mỗi lần tái sinh lại mỗi khác?

Đời sống sinh vật thay đổi từng sát na, không bao giờ đứng yên một chỗ, lẽ nào tái sinh lại y chang như cũ? Có điều những nguyên liệu cứ hủy, tan rã rồi lắp ráp lại nên một hình tướng mới. Cho nên mới bảo nó chỉ là “giả tướng” tạm bợ vậy thôi. Thấy “như thật” là thấy cái thực tướng vô tướng đó. Thỉnh thoảng ta gặp một ai đó thấy như đã quen từ lâu, như đã có hẹn hò từ muôn kiếp trước… thì cũng đừng có ngạc nhiên!

Kinh A Hàm kể: Khi tuổi đức Phật đã lớn, một hôm Ngài đi khất thực trong thành Xá Vệ trở về thọ trai xong, sau đó cảm thấy trong người hơi lạnh, nên ra ngoài hương thất ngồi phơi nắng. Ngài vén y để lộ làn da lưng nhăn nheo. Tôn giả A Nan từ xa thấy vậy, mới đến xoa lưng cho đức Phật, than: “Ôi! Da dẻ của Thế Tôn không còn láng mịn như thuở xưa nữa, lưng đã hơi khòm rồi. Ôi! Còn đâu những gì của thời trai tráng”. Phật bảo: “Đúng vậy A Nan! Cái già có sẵn trong cái trẻ, cái chết nằm trong cái sống, thân của Ta rồi đây sẽ hoại diệt, một lúc nào đó không tránh khỏi”.

Cho nên cái “Tri kiến” Phật, cái thấy biết của Phật là thấy biết Như Lai. Nó vậy đó là nó vậy đó. Nó Như thị. Như Lai Đa Bảo từ trong tháp báu tức mộ tối bước ra, tay bắt mặt mừng, ôm chầm lấy người anh em xa cách bấy nay là Phật Thích Ca đó thôi. Rồi kẻ trước người sau, chúng ta đều cùng vào tháp báu gặp Đa Bảo Như Lai của mình để chuyện trò thân mật, tay bắt mặt mừng!

Phật khuyên ai làm bạn với Thần chết thì Thần chết không… khó dễ họ. Còn ai sợ hãi trốn chạy Thần chết thì Thần chết sẽ rượt theo. Nhưng bằng cách nào làm bạn đây?

Nhiều con đường lắm. Thiền chẳng hạn, là một. Ở trong thiền, trong một trạng thái an nhiên, không có ngã, là đã sống trong cái chết, làm quen với cái chết.

Niệm nam mô A Di Đà Phật chẳng hạn. Nam mô là nhớ, nghĩ. A Di Đà Phật là vị Phật ở Tây phương cực lạc để đón rước ta về chốn ấy, từ biệt chốn “cực khổ” Ta-bà này! Nhưng phải sao mới được tiếp dẫn chớ? Phải giới định huệ, phải tín hạnh nguyện chớ. Cho nên một người đi đứng nằm ngồi đều nhớ, nghĩ A Di Đà chính là một người đang làm quen với cái chết, luôn nhắc nhở mình sẽ chết, đang chết hay nói cách khác, đang sống trong cái chết. Biết sắp chết, sẽ chết, đang chết mà còn khổ được ư? Cũng vậy, một người mang thánh giá trên cổ là để luôn nhắc nhở mình về cái chết của chính mình. Khi sắp gây gỗ, sắp đánh nhau, bỗng dưng nhớ lại cây thánh giá đang mang, cũng như nhớ tới Phật A Di Đà đang đợi hẳn là… thôi chứ! Và cái thôi chứ, thôi kệ đó đã làm hạ hỏa, đã giải stress rất hiệu nghiệm. Tức khắc ta quay về. Tức khắc ta buông xả.

Milarepa nói: “Vì sợ chết tôi đi vào trong núi, liên tục trầm tư về tính chất bất định của giờ chết. Bỗng bắt gặp thành trì bất tử vô tận của tâm bản nhiên. Bây giờ tất cả nỗi sợ hãi đều tan biến, và trong sanh tử mở cái thấy trí tuệ vô sanh”.

Trong cái vô niệm, vô sanh đó, không có chỗ cho thần chết bày trò hù dọa. Bởi vì họ đã là bạn của nhau. Cái tâm bản nhiên đó không có chỗ cho ai hù dọa ai. Nó trống vắng. Lặng lẽ Thanh tịnh. Nó bất sanh cho nên nó bất diệt. Chẳng nhơ chẳng sạch. Chẳng thêm chẳng bớt.

Khi thấy được “ngũ uẩn giai không” thì người thợ làm nhà kia bỏ đi. Rui kèo cột vẫn cứ là rui kèo cột, nhưng thôi, huề cả làng, chẳng ai còn hù dọa được ai.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói nếu ta luôn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, thì sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời có ý nghĩa. Sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn.

Nhiều người tránh đề cập cái chết. Vì vậy khi nó xảy tới thì họ bị bất ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng.

Không có sự khác biệt giữa cái chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cái chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy.

Rồi cùng mà mỉm cười. Nụ cười của Phật. Của Bayon. Của La Joconde. Của ta.

 

 

 

……………………………………………………………………………………………….

 

6.      Đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối…

 

“Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ

Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô…”

            (TCS)

 

Simone de Beauvoir nói mẹ của bà đã ngoài chín chục, đã biết trước sau gì cũng chết, nhưng khi bà chết thì ai nấy đều kinh ngạc, bất ngờ. Simone de Beauvoir nói lạ, cái chết lúc nào cũng là một tai nạn, đều mang yếu tố bất ngờ!

Ở xứ mình, có những gia đình hai ông bà ngoài 60 đã mua sẵn hòm ván, xây sẵn kim tĩnh. Có người thỉnh thoảng còn vào nằm trong hòm ván đặt sẵn trong nhà như một cách làm quen. Có cụ bà xây kim tĩnh hai ông bà ngay trước cạnh cửa chính ngôi nhà của họ, khi ông mất, chôn một bên và còn một bên dành cho bà. Có cả khung để hình sẵn. Họ coi cái chết là chuyện dĩ nhiên nên họ sống rất hạnh phúc. Mỗi ngày sống đều có ý nghĩa!

Cho nên một trong những cách quán của thiền là quán xác chết của chính mình, làm quen với nó. Chính Đức Phật cũng có một thời gian ra ngủ ở bãi tha ma. Con người đang chết từng ngày, từng phút giây mà không nhận biết. TCS nói: “dưới vành nôi là từng nấm mộ”. Sanh ra thì nằm nôi, chết thì lật úp cái nôi xuống, thành nấm mộ, có thế thôi. Vậy nguyên tắc là làm quen với cái chết ngay khi sống. Tập chết hằng ngày, ý thức cái chết hằng ngày của chính mình. Có lẽ nhờ thế mà bớt hung hăng, bớt tham lam, sân hận, giành giựt, đấu đá! Hình ảnh “nhập niết bàn” của Phật là một hình ảnh rất đẹp, thường được đúc tượng ở khắp nơi. Tôi thấy trên một ngọn đồi ở cung điện hoàng gia Campuchia có một bức tượng Phật ngồi thiền, trước mặt là một tượng Phật nằm, tức nhập Niết bàn. Ta cũng nên chánh niệm như vậy. Cái đó gọi là “niệm tử”. Còn cư sĩ Duy Ma Cật thì bảo “Tử ma” là một trong các “thị giả” thân thiết của ông, nghĩa là lúc nào cũng bên cạnh ông, giúp đỡ ông mọi lúc mọi nơi, ân cần, chu đáo.

Thiên nhiên hẳn đã tính toán kỹ, làm giảm nhẹ nỗi đau khi có một người già sắp chết. Người già đó phải rất… chướng, rất kỳ cục, để ai cũng ghét, cũng muốn họ sớm “vắng” đi cho rảnh! Nếu là một cặp vợ chồng thì về già thường hay gây gỗ, để chán nhau. Sẽ rất có ích khi một người chết trước đi thì người còn lại đỡ buồn đau chăng?

Thiên nhiên cũng tử tế, sắp đặt cho về già thì mắt mờ tai kém, đầu óc lú lẫn… Hạnh phúc sẽ đến từ từ với những hiệu ứng của những sự kiện này. Bớt sắc sảo, bớt nghe những lời khó nghe, bớt thấy những điều không nên thấy và nhờ lú lẫn mà biết quên lãng, trở nên dễ thương, buồn cười dưới mắt người trẻ. Một người già mãi sáng suốt luôn làm cho người trẻ khó chịu.

Phật có một thời gian sống trong nghĩa địa, nghiền ngẫm về cái chết, cho nên cái chết không xa lạ với Phật, không làm Phật sợ hãi. Phật dạy quán bất tịnh, quán nghĩa địa để tập làm quen, cứ y như những người thầy thuốc chăm sóc bệnh nhân thì không còn sợ bệnh, sợ máu me, đàm mủ… nhờ tiếp xúc bệnh nhân hằng ngày. Tuyệt vời là các ông vua Việt Nam, ông nào cũng xây sẵn cho mình một cái lăng… ngay khi mình còn sống. Vậy là vua đã làm quen với cái chết từ lúc còn đầy uy quyền tối thượng trong tay. Đã vậy còn chiều chiều dẫn các cung tần mỹ nữ ra lăng ngắm sen nở, xem ca kịch, như ở một xứ thần tiên. Chính ở đó là lúc vượt qua bờ bên kia của bao nhiêu phiền luỵ. Tôi chắc mỗi lần ra lăng… chơi, vị vua nào cũng thấy mình được giải thoát, sung sướng, an lạc, hạnh phúc so với lúc ngồi trên ngai vàng, trị vì thiên hạ.

Các nhà tâm lý học ngày nay nhận định cái chết trong thế giới hiện đại thường kéo dài sự đau khổ vô ích với kỹ thuật y khoa cầu kỳ tốn kém và cách ly với gia đình người thân, cộng đồng, trong khi đa số bệnh nhân thích được chết an bình tại nhà, trên giường mình xung quanh là những người thân. Dĩ nhiên đây là kết quả nghiên cứu ở phương Tây còn bên ta, may mắn đa số vẫn còn được chết ở nhà, thậm chí bệnh viện thường cho phép «hấp hối xin về » để tránh tỷ lệ tử vong cao trong bệnh viện.

Chết là một tất yếu, không thể tránh được, không nên che đậy, cấm kỵ. Sống thì không biết chắc, nhưng chết thì biết chắc. Tây Tạng có một cuốn sánh nổi tiếng: Tử Thư. (Tạng thư sống chết, Ni sư Trí Hải dịch). Sách viết về sự chết. Mỗi người nên nghiền ngẫm cuốn này từ lúc hãy còn trẻ thì tốt hơn. Hình như thiên nhiên cũng có bày đặt một « kế hoạch » gì đó, khiến những người quá già thường thay đổi tánh nết, « chướng » không chịu được, hành hạ con cháu quá lắm, chắc có mục đích là làm sao cho khi mình chết thì con cháu… mừng, mình giải thoát mà con cháu cũng được… giải thoát. Đặc biệt cái sống già quá cỡ sẽ giúp con cháu sợ già, muốn chết sớm hơn, lúc hãy còn hiểu biết, còn hạnh phúc. Họ sẽ nhận rõ điều Phật dạy : Chư hành vô thường/ Thị sinh diệt pháp/ Sinh diệt diệt dĩ/ Tịch diệt vi lạc! 

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện khi bị lao phổi nặng ở Pháp, thời kỳ chưa có thuốc chữa, đã phải cắt bỏ một lá phổi bên phải, rồi lại phải cắt thêm một phần ba lá phổi trái sau 7 đợt mổ lồng ngực. Các bác sĩ lúc đó nói ông chỉ có thể sống nhiều lắm là hai năm nữa thôi, thế mà bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã sống thêm đến 50 năm, làm được bao nhiêu việc, cho đến 85 tuổi. Lúc gần giã từ cõi đời ông viết di chúc yêu cầu các đồng nghiệp đừng làm hồi sức cấp cứu gì cả, cứ để cho ông được chết tự nhiên! Nhiều nhà sư biết rõ ngày giờ của cái chết chính mình, họ báo trước và thanh thản ngồi thiền, chuyển từ cảnh giới này sang một cảnh giới khác. Vậy thì có cần phải can thiệp y tế không? Tùy trường hợp. Ở một người trẻ, nhắm rằng có thể cứu sống được thì y tế sẽ cố gắng để cứu, “còn nước còn tát”, nhưng với một người đã quá già, đã nhiều bệnh mạn tính từ lâu, biết không thể cứu vãn gì mà vẫn làm những thao tác hồi sinh cấp cứu chỉ làm khổ đau thêm thân xác họ. Những thủ thuật hồi sinh như thở máy, xoa bóp tim, chích adrenaline vào tim… đều không mang lại lợi ích gì trừ làm cho gia đình bớt “khổ đau”!

Ngày xưa người già thường chết ở nhà, xung quanh là người thân, nhẹ nhàng coi như “sống gởi thác về”. Bây giờ nhiều người già chết cô đơn ở bệnh viện nhờ kỹ thuật cao, dây nhợ đầy người, hô hấp nhân tạo đủ trò kéo dài cái chết lâm sàng nhiều ngày có khi nhiều tháng, có trường hợp năm này qua năm khác!

Sanh lão bệnh tử, hoặc sanh bệnh lão tử gì cũng được, nhưng chắc chắn có “tử”! Phật nói ai làm quen, kết bạn với Thần Chết thì không thấy mình chết. Thầy thuốc giỏi có thể thảo luận với bệnh nhân về ngày cuối cùng của mình càng sớm thì bệnh nhân càng thanh thản. Không chỉ thầy thuốc, đây là lúc có thể có những vị lo về tâm linh kề cận, hướng dẫn đâu đó đàng hoàng tử tế. Người chết sẽ nhẹ nhàng yên tâm mà ra đi!

Một số lớn bác sĩ ngại, không tiện thảo luận chuyện này với bệnh nhân giai đoạn cuối, nhất là các bệnh mạn tính, bệnh nan y không còn khả năng điềutrị, hồi phục. Bàn bạc sớm sẽ có ích cho cả gia đình và cả người bệnh, người già.

Có trường hợp cần điều trị giảm nhẹ (palliative care), giúp người bệnh bớt đau đớn trong giai đoạn cuối. Có thể phải sử dụng thuốc chống đau,  thuốc ngủ…; đặc biệt hỗ trợ về cảm xúc tứ các chuyên viên tham vấn tâm lý và hỗ trợ về tâm linh nếu có một tôn giáo nào đó, hoặc chọn lựa một tôn giáo nào đó.  Nguyên tắc là làm sao đảm bảo chất lượng cuộc sống và nhân phẩm trong thời gian cuối cùng này.

Gần đây, do tuổi thọ ngày càng cao, nhiều nước có người già sống trên 120 tuổi, cô độc,  tàn phế, nhưng “khoa học” vẫn không để họ ra đi yên ổn, ráng giữ lại và sử dụng máy móc chăm sóc như máy đút ăn, máy xoa bóp… Họ sống không còn ý nghĩa, thậm chí không còn trí nhớ, chỉ còn cái tứ đại mà không có ngũ uẩn, vậy mà vẫn cứ lây lất cái gọi là sống. Có trường hợp chết trong nhà nhiều tháng hàng xóm mới hay như gần đây có mấy vụ xảy ra ở Nhật. Cho nên, người già, để có một cái chết “tốt”, một cái chết đầy “chất lượng” (Có chất lượng cuộc sống hẳn phải có chết lượng cuộc chết chứ phải không?) cần lên kế hoạch cho cái chết đương nhiên sẽ gặp của mình càng sớm càng tốt. Các “chuyên gia” về lãnh vực này khuyên: Ta nên nghĩ xem ta chết cách nào cho tốt? Ta muốn gì khi chết? Ai sẽ thực hiện điều này? Phải chắc chắn người đó hiểu ý ta, làm theo ý ta. Nếu bệnh nhiều, hỏi bác sĩ… còn sống được bao lâu để chuẩn bị? “Hộ tử” phải được chuẩn bị tốt như “hộ sinh” chứ. Biết trước khoảng sống còn, khả năng chữa trị.  Giai đoạn cuối chỉ là giảm thiểu đau đớn, tránh những thứ điều trị gây hại!

BS Collins nói phải bắt đầu bàn chuyện “hộ tử” ngay từ bây giờ đi, dù bạn 25 hay 95.

Không có bạn thiết nào gần gũi luôn luôn gắn bó với ta như là cái chết. Nó gắn với ta từ trong gene. Nó gắn với ta như một cặp song sanh thai, không tách ra được. Nó cũng chẳng bao giờ hù dọa ta, chẳng bao giờ mè nheo đòi hỏi gì ta. Thiệt ra nó gắn bó, thân cận, gần gũi, ấp ủ, âu yếm ta từng phút từng giây. Lỗi không phải ở nó. Lỗi ở ta. Khi ta sanh ra thì nó mới theo ta. Nếu ta không sanh ra thì không có nó theo. Nó không ở ngoài ta. Nó chẳng hề đến với ta. Nó sẵn có trong ta. Vì có sanh nên có tử, có sống nên có chết. Tuy tên gọi cái chết có khác nhau tùy văn hóa, nhưng tất cả cái chết đều giống nhau y hệt. Cũng là ngưng thở, hết thở. Trả hơi thở về cho không khí, thứ hơi thở đã mượn tạm xài từ hồi sanh ra. Chỉ mượn tạm mà không nhớ, không biết.  Cũng là tan rã. Cát bụi lại hoàn cát bụi. Tứ đại đất nước gió lửa lại hoàn đất nước gió lửa. Cái gì cũng mượn tạm mà không nhớ không biết. Nên Phật dạy phải luôn nhớ cái chết. Người anh em song sinh thai trong thai này luôn là bạn thiết, cùng đắt díu nhau cùng chia sẻ lúc buồn lúc vui suốt cả cuộc đời giả tạm này. Giả nó không thật, vì nó “hư vọng”. Tạm vì nó vô thường, thay đổi từng phút giây, từng sát na.

Nhưng sống mà chỉ đợi chờ chết thì… ? Thì càng vui sống chớ sao. Sống mà biết mình sắp chết, mình sẽ chết thì càng phải sống có ý nghĩa, có hạnh phúc. Những ai tưởng mình không bao giờ chết thì vất vả trăm chiều. Họ vất vả vì lo giành dân chiếm đất, nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị và đi tìm thuốc trường sinh bất tử… Cuối cùng thì họ cũng ngủm!

Còn người biết mình sẽ chết thì sống hạnh phức trong từng phút giây. Thậm chí họ tập chết từng ngày. Làm bạn với Thần chết. Bạn của Thần chết thì Thần chết không nỡ làm phiền đâu. Họ đã chuẩn bị cả rồi. Khi nào « dưới vực sâu lời mời đã dậy » thì vác ba lô lên đường thôi, ủa mà cũng chẳng cần ba-lô nữa.

Giải thoát sanh tử không phải là không còn sanh tử nữa mà chỉ là không còn phải sợ hãi cái sự chết đang đến dần nữa. Cái sanh dù gì thì cũng đã lỡ rồi, lỡ sanh ra rồi, dù muốn hay không muốn, ta cũng lỡ… chào đời, lỡ lang thang một kiếp nhân sinh rồi nên vấn đề còn lại là tử. Nhưng sanh ta không sợ cớ sao tử lại sợ? Bởi vì ta ham sống. Ham sống sao cứ kêu than sống là khổ? Khổ mà không muốn thoát là sao?

Có cách nào để người ta luôn nhớ đến cái chết để được sống hạnh phúc hơn không?

Có đó. Cứ ngồi yên đó. Lắng nghe hơi thở của mình. Thở vào… thở ra. Một hơi thở là một cuộc sống. Thở ra rồi thở vào. Lại một cuộc sống mới. Thì ra…. sống và chết là một chu kỳ hình sin. Cái gọi là sống, cái gọi là chết. Gọi vậy thôi chớ không phải vậy. Có thể đảo ngược lại. Nhìn kỹ thì thấy cái chết mới là cái sống. Thở vào như sóng. Thở ra như nước. Sóng là nước. Nước là sóng. Tùy duyên. Bày đặt vui thôi mà!

Không có hơi thở nào của hôm qua. Không có hơi thở của ngày mai. Hơi thở chỉ có hôm nay. Ở đây và bây giờ. Cho nên biết thở là biết sống ở đây và bây giờ.

Người nào luôn nhớ cái chết thì sống hạnh phúc.

 

 

Đỗ Hồng Ngọc, Saigon 2.2019

(Còn tiếp)

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“Về thu xếp lại…” (kỳ 2)

20/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

“Về thu xếp lại…” (kỳ 2)

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

3. Về thu xếp lại… ngày trong nếp ngày

 

“Về đây đứng ngồi 
đường xa quá ngại 
để lòng theo chút nắng bên ngoài…”

(TCS) 

 

Bây giờ muốn ngủ lúc nào ngủ. Muốn dậy lúc nào dậy. Chỉ khi nào có đi đâu xa mới phải để đồng hồ báo thức mà luôn dậy trước giờ, vói tay tắt đồng hồ reo rồi… ngủ tiếp. Thức dậy nhìn đồng hồ coi thử mấy giờ rồi, nhớ hôm nay sẽ có những việc gì phải làm. Có khi phải ghi trên giấy từ đêm trước. Bây giờ “ mỗi ngày tôi chọn một niềm vui… đường đến anh em, đường đến bạn bè” là đủ. Nếu có đi dạy học, đi nói chuyện ở đâu đó thì phải đúng giờ giấc còn thì cứ theo cái đồng hồ sinh học của mình. Xưa thức khuya dây sớm theo dõi trận đá banh hay. Nay thôi. Ban tổ chức dành cho tôi một sân riêng, có mái che, máy lạnh. Coi được bao lâu thì coi. Muốn thì cho ngưng trận đấu, sớm mai đấu tiếp. Đọc tin tức các đài báo phần lớn cũng chỉ đọc cái tựa là biết đủ rồi. Thì giờ đâu mà dài dòng văn tự. Nếu là một đề tài hay, cần thêm chi tiết thì đọc nhanh, kiểu câu đầu câu cuối, dòng dọc dòng ngang là xong. Bài nào thấm thía lắm mới đọc từng chữ. Dừng lại, nhâm nhi, ngẫm ngợi, rồi đọc tiếp. Cười khà một mình. Thích những bài bình luận sâu sắc, châm biếm nhẹ nhàng. Mấy chục năm nay quen giờ giấc  chính xác, thấy ai trễ giờ thì bực mình do làm ở khoa cấp cứu bệnh viện nhiều năm, chậm trễ một phút có thể chết người. Bây giờ phấn đấu đi trễ cho quen vì đi đúng giờ, đến sớm làm cho người ta ngượng. Thăm hỏi một vài bạn đau ốm. Thư từ cho người này người kia. Nay vắng người này mai vắng người khác. Đến một lúc, thấy vắng cũng như có mặt. Không khác. Vài ba thư mời dự chỗ này chỗ khác. Thử chọn xem nên đi đâu không? Đa số đành từ chối. Ăn uống khó khăn. Mặt mày khó ưa. Ăn nói dễ ghét. Từ chối viết bài cho báo, xuất hiện trên truyền hình, trả lời phỏng vấn này nọ vì biết mình đến lúc nên lánh mặt, nên đi chỗ khác chơi. “Biết đủ dầu không chi cũng đủ/ Nên lui đã có dịp thời lui” (Ưng Bình). Thỉnh thoảng có bài này bài kia viết sai , trích sai… cũng thôi kệ. Nhiều bài không phải của mình, không phải mình viết, người ta cũng gắn tên mình là tác giả, thậm chí kèm cái hình chân dung cho… chắc ăn. Lúc đầu bực mình, đính chánh nọ kia. Sau, thôi, tùy hỷ. Tự dưng rồi người ta cũng biết. Kẻ cố tình làm sai chắc cũng thấy không vui.

 

Vào phòng tắm nhìn vào gương soi để thấy cái “bổn lai diện mục” của mình. Tức cười. Thấy nó ngày càng nhăn nhúm, da mồi tóc bạc tăng tốc, cứng ngắc, rụng gần sạch. Mỉm một nụ cười… tươi trước gương.  Nấu một bình nước để pha trà, pha café.  Có lúc quên cắm điện. Chờ hoài không thấy nước sôi. À há. Vệ sinh các thứ xong thì… ngồi thiền. Con người vốn khổ vì làm việc với cái đầu nhiều quá, đến nỗi ‘điên cái đầu”.  Khôn hơn chút thì làm việc với trái tim. Nhưng với trái tim cũng vẫn khổ, có khi còn khổ hơn. Có nhà minh triết khuyên nên làm việc với cái… rún. Làm việc với cái rún nghĩa là trở về với hơi thở. Đưa hơi xuống huyệt đan điền. Tôi nghĩ, rún thì đã tốt, nhưng tốt hơn nữa là làm việc với… ruột già, xuống thấp hơn cái rún nữa càng tốt.

 

Ngồi thiền 30-40 phút là đủ. Lúc đầu chưa quen, còn đau chân đau cẳng, sau quen dần.  Thiền Anapanasati (quán niệm hơi thở) trong kinh Tứ Niệm Xứ. Theo tôi, đó là một phương pháp thiền có cơ sở khoa học, sinh lý học tốt nhất, không sợ “tẩu hỏa nhập ma”. Thiền tập là cách tập sống trong cái chết. “Xả thiền” là giai đoạn tốt nhất để thể dục. Tỉnh rồi phải động chứ. Nhịp điệu mà. Tập tất cả các cơ khớp và mỗi động tác có thể gắn với một tên gọi tùy nghi. Này là từ bi. Này là hỷ xả. Này là tham, này là sân, là si, nghi, kiến, mạn… Này là từ bi, này là trí tuệ, này là bình đẵng, là trực tâm. Học và hành lai rai quấn quít nhau. Sau buổi ngồi thiền và tập thể dục kiểu đó, chừng một tiếng, cơ thể như được sạc pin, sảng khoái hơn. Tắm xong thì tự làm cho mình một ly café- yaourt. Sáng có gì ăn nấy, không ăn cũng được. Ngồi vào máy tính. Ngày càng mất nhiều giờ cho máy tính. Điện thoại smartphone thì ngày càng ngu. Tin mình đợi thì chẳng bao giờ đến. Người mình mong thì chẳng bao giờ gọi. Nhỏ mà không học lớn mò sao ra. Máy tính cứ lò mò, ngày càng chậm chạp. Phải chi như Tô Đông Pha có một nàng Vân, pha mực, rót trà, gõ cho mình cái meo, post cho mình cái bài lên web… thì hay quá!

 

Là thầy thuốc nhưng tôi rất không ưa thuốc men. Kể cả cho bệnh nhân. Người ta quảng cáo cho cố để bán thuốc. Hù dọa cho cố để bán thuốc. Lâu lâu lại công bố thứ thuốc này thuốc kia phải thu hồi, phải cấm vì gây nhiều tác hại hơn mang lại lợi ích.

Đối với bản thân mình, tôi nghĩ cần ăn uống vừa đủ, vận động vừa đủ, thiền định, giữ tâm hồn thanh thản, an nhiên tự tại, không bị lệ thuộc vào thầy (thầy thuốc, thầy tu, thấy bói, thầy phong thủy…), không bị lệ thuộc vào thuốc, dù là thuốc đông tây nam bắc. Trừ trường hợp có bệnh lý thực sự cần phải can thiệp thì phải tuân thủ. Khi phải mổ cấp cứu… thì đành mổ thôi. Nhưng khi bạn bè đồng nghiệp thương tình cho cả một bụm thuốc để uống hàng ngày thì tôi chọn một vài món, còn thì… liệng hết. Các thứ thuốc tương tác lẫn nhau, gây nhiều rắc rối phiền hà. Thuốc nào cũng đầy phản ứng phụ (side effects). Tội gì biến mình thành con chuột bạch thử hết thuốc này đến thuốc kia!

 

Ăn không chỉ là ăn. Tôi ăn uống đơn giản, mà con cháu lúc nào cũng kêu khó. Bởi không ăn giống mọi người. Đòi cá khô, rau luộc, bún, nước mắm me. Cá kho mặn thì đem đi chiên. Ăn chay không ra ăn chay. Ăn mặn không ra ăn mặn. Không biết uống rượu. Không hút thuốc lá. Có dịp cùng bè bạn vào bữa tiệc tùng luôn thấy lạc lõng. Mọi người nhìn mình cũng dè chừng. Mình cũng ngượng ngập. Đã vậy, lúc nào cũng đòi… ớt. Cả một bàn tiệc thịnh soạn công phu của gia chủ, có khi chỉ khen món ngon nhất là ớt! Vì thế, dần dần ai cũng tránh mà mình cũng khỏe. Suy dinh dưỡng từ nhỏ. Tản cư, ở rừng ăn uống thiếu thốn đã quen. Khoai, bắp, đậu, mè là món khoái khẩu.  Lúc về thành thì cũng ở trong chùa. Lúc 12 tuổi cân nặng 25kg. Sáng sáng đi học ăn một chén cháo muối. Trưa làm tô bún nước mắm cay xè. Bánh căn bao bụng với nước cá mòi. Xôi là món tuyệt vời nhất vì rẻ tiền mà no lâu. Suốt thời gian ở Saigon đi học, mỗi sáng đều xôi và xôi. Khoái khẩu hơn nữa là cơm cháy, cá khô nướng.

Càng có tuổi, càng ăn đơn giản. Lại thêm bệnh Gout. Hải sản hết dám ăn. Nhiều bạn tưởng tôi ăn chay trường. Không. Tôi không phân biệt chay mặn gì đâu. Có gì ăn ấy. Nhưng không ăn thịt. Chỉ ăn cá, rau. Nhớ thời Phật đi khất thực, cũng cho gì ăn nấy. Thức ăn nào với Phật cũng thành chay tịnh. Vì tâm đã chay. Thấy sợ khi người ta “ăn chay” mà thức ăn có tên rất “mặn”.

Ăn không chỉ là ăn! Ăn làm ra hạnh phúc hay khổ đau. Ăn làm ra người hiền hay kẻ ác. Ăn làm mau già hay làm chậm tiến trình lão hóa. Kẻ thù ta cũng thường vây quanh ta trong bữa ăn bằng lời nói cử chỉ. Nhưng kẻ thù còn đầu độc ta bằng những món ngon. Ngày càng có nhiều món ăn chế biến sẵn, thức ăn nhanh… rất đáng ngại.

Thỉnh thoảng nên tự tay nấu ăn một bữa! Yan can cook, huống chi ta? Bảo đảm bữa ăn đó là một bữa ăn ngon nhất! Đừng ngại. Thiên tài đầu bếp thường là những lúc lỡ tay, chế ra một thứ thức ăn không giống ai, không theo một thứ sách vở nào, công thức nào… Các vua đầu bếp đều là những người dám nghĩ dám làm, dám sai mà không sửa.

Món ăn nào do tôi chế biến đều là món ăn…ngon cả! Kể cả “xà bần” các thứ, tưởng như phải bỏ đi. Đó là những món ăn chưa có tên trong bất cứ thực đơn nào của các khách sạn hạng đầu trên thế giới. Những món đó có tên chung là món…trời ơi, vì ai cũng kêu lên như vậy, nhưng khi ăn thì quả thật là ngon! Các thức ăn đều là thuốc, chẳng qua ta không để ý mà thôi! Thức ăn càng gần với thiên nhiên thì càng tốt. Mỗi ngày tôi tự “khất thực” lấy phần mình, thường thì ăn một mình dễ “chánh niệm” hơn.

Lâm ngữ Đường nói những sinh vật ăn rau cỏ luôn hiền lành như trâu bò, dê, ngựa, nai, cừu… còn những sinh vật ăn thịt luôn hiếu sát như cọp, beo, sư tử, cá sấu… Có một câu nói rất quen: Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói anh là ai. “You become what you eat”.!

 

Giả Bình Ao viết một bức thư cho bạn để từ chối đi ăn cỗ. Xin trích một đoạn như sau: “…Muốn ăn cỗ thì ngồi với người quen sẽ ăn ngon, thích thì ăn nhìều, không thích thì ăn ít, có thể nấc, có thể đánh rắm, có thể nói đùa, chửi bậy… Ăn với người lạ mà làm thế đựơc ư? Người biết thì có thể thông cảm mình lười nhác tản mạn đã quen, người không biết sẽ cho mình lếu láo không tôn trọng họ…! Trên mâm cỗ, chúc rượu ai trước ai sau cũng không được lộn xộn, không được sót người nào, mà mình đâu nhớ được vị nào làm lớn làm nhỏ… Mình lại không hay cười mà trên mâm cỗ đương nhiên phải cười, cái cười ấy dễ trở thành nhếch mép, cười ruồi, đâm ra tẻ nhạt bầu không khí… Mình ngần này tuổi đầu rồi, tùy tiện ở ngoài đã quen, ở nhà càng quen, bảo mình khúm na khúm núm, ân cần chiều chuộng như gái làm tiền thì khó mà học nổi trong chốc lát. Cho nên hãy tha thứ cho mình, miễn cho mình nhé…!”. (Tản Văn, Giả Bình Ao, Vũ Công Hoan dịch)…

 

Phật dạy có 4 “nhóm” thức ăn khác gồm: Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực… Thức ăn ta nói ở trên chỉ mới là đoàn thực. Đoàn thực là thức ăn được vo lại thành nắm như nắm xôi, nắm cơm vắt, có thể có đủ bột, đạm, dầu, rau… để nuôi thân. Khi ăn một nắm cơm như thế, ta thấy cả “ngũ uẩn” trong đó. Lấy ngũ uẩn nuôi cái ngũ uẩn thân ta là vậy. Còn Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực là những thức ăn của tâm hồn. Những loại này không cẩn thận thì nó quấy ta, khó mà an lạc được. Chỉ cần bấm một cái nút, chúng đã sanh ào ạt…

 

Khi còn trẻ, ta thấy cái “ăn” là quan trọng, khi về già mới biết cái “chuyện lớn” kia còn quan trọng hơn! Lâm Ngữ Đường bảo: “Hạnh phúc ư? Rất đơn giản. Nó nằm ở ruột già! Ruột già mà điều hòa thì ta hạnh phúc, còn không thì ta khổ sở. Chỉ có vậy thôi!” (Sống đẹp, bản dịch Nguyễn Hiến Lê).

Bón là một cực hình đối với người có tuổi. Khi bị bón, ta trở nên cau có, quạu quọ, khó chịu… Chuyện kể ở một nhà kia, chuột nhiều vô kể và phá phách quá lắm, chịu không nổi. Nuôi mèo, đặt bẫy chẳng ăn thua! Thế rồi có người bày bắt lấy một con chuột to, khâu đít nó lại, rồi thả nó ra. Mới đầu chẳng có chuyện gì xảy ra nhưng chỉ ba hôm sau, con chuột bị khâu đít bắt đầu cắn phá lung tung. Chúng cứ lựa các con chuột… nhởn nhơ, vui vẻ… thấy ghét mà cắn, cắn cho bõ ghét! Thế là từ đó không còn một con chuột nào dám lai vãng nữa!

Thần kinh chịu trách nhiệm chuyện lớn này là “thần kinh thẹn”. Do đó, nếu cứ “thẹn” hoài thì sẽ thành bón kinh niên thôi. Khổ nỗi, thời đại toàn cầu hóa bây giờ người ta toàn lo chuyện hội họp, thương thảo, tranh luận căng thẳng, dễ “vượt qua” chuyện lớn lúc nào không hay!

Ta thấy ở những nơi văn minh, lịch sự – những tòa cao ốc lớn, nhà hàng, khách sạn 5 sao – bao giờ hệ thống toilet cũng đặt ngay ở cửa ra vào, sạch đẹp, thơm tho, có tiếng nhạc dìu dịu, êm nhẹ, đầy quyến rũ…

Tóm lại,  chuyện không nhỏ. Nên mới gọi là “Đại”. Còn tôi thì sao? Nói chung vẫn cứ nhăn nhó, quạu quọ và cau có…!

 

Càng già có vẻ càng cần ngủ nhiều như pin cũ cần sạc lâu hơn. Lại cần phải sạc nhiều lần  nên ngoài ngủ tối còn phải ngủ trưa, ngủ… tùy hỷ nữa! Pin cũ lại dễ chai. Nên nhiều khi không dễ mà ngủ. Ngủ đầy đủ thấy sảng khoái, thảnh thơi, trí nhớ tốt. Ngủ thiếu như hết pin, cà khịa. cà giựt. Tắm nước ấm kích thích thần kinh, gây cảm giác dễ ngủ và bóng tối giúp tuyến tùng tiết melatonine, kích thích tố giúp dễ ngủ.  Một chỗ quen thuộc. Yên tĩnh. Mặc thoáng mát. Ăn nhẹ dễ tiêu. Hồi nhỏ, tối tối ra giếng múc nước gàu mo dội ào ào, nay thì thôi, đừng dại. Dỗ giấc ngủ tốt nhất là dõi theo hơi thở. Hơi thở trung tính và sẵn có.

Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ ngay. Không ráng. Ráng thì không dễ dỗ lại. “Cơ tắc xan hề không tắc miên” (Trần Nhân Tông): đói đến thì ăn mệt ngủ liền chắc là vậy. Tiếng mình hay. Buồn ngủ. Chưa buồn thì kệ nó, việc gì phải ngủ.  Cơ thể sẽ biết cách ngủ bù, việc gì mình phải lo cho nó! Vui khó ngủ. Vui là kích thích, hào hứng, rộn rã, thở gấp, tim đập nhanh, huyết áp căng. Buồn, mọi thứ xìu xuống, giảm kích thích, thở chậm lại, tim đập chậm và huyết áp cũng giảm.

Có thể nói cơ thể ta gồm 2 phần, thân xác và thân hơi! “Nghệ thuật” ngủ là làm sao tách “thân xác” ra khỏi “thân hơi”. Dỗ giấc ngủ dễ là tách thân xác ra khỏi thân hơi. Tức là buông xả toàn bộ thân xác, rả nó ra, cho nó xẹp xuống, hết căng, xì cho nó xẹp lép, tay chân trong tư thế không gò ép, dễ chịu là được. Khi thân xác xẹp lép, lửng lờ như vậy rồi, thì chú ý “dõi theo” thân hơi. Thân hơi nó trung tính, nó tự động, nó cóc cần thân xác hỗ trợ. Nó phình xẹp theo ý nó, không cần phải điều khiển nó, không cần phải điều hòa gì cả. Vậy là ta rơi vào… giấc ngủ lúc nào không hay.

 

Mấy năm nay tôi không còn trực tiếp khám bệnh, đã “rửa tay gác kiếm”, chỉ thỉnh thoảng tư vấn hoặc tham vấn cho mấy cas đặc biệt. Chẳng bao lâu nữa, tôi nghĩ mình cũng sẽ như người bắn cung thiện xạ nọ không còn biết cây cung, mũi tên là cái chi chi! Ưu tiên bây giờ là đi đây đi đó theo lời mời “nói chuyện sức khỏe” (health talk) cho bà con. Mỗi buổi đi nói chuyện như vậy, với tôi, là một cơ hội để giao lưu và học hỏi. Ở trường cũng vậy. Từ bỏ làm chủ nhiệm bộ môn. Dạy ít dần. Dạy, chủ yếu cũng kể chuyện “đời xưa” cho sinh viên nghe, không dạy kiến thức, kỹ năng mà dạy về thái độ, về mối quan hệ thầy thuốc bệnh nhân, về y nghiệp, y đức. Đó là cách tôi “chọn ưu tiên” và “tối ưu hóa” việc của mình ở tuổi già này.

Thỉnh thoảng dạo cảnh chùa. Lang thang đây đó. Tán gẫu với bạn bè ở các quán café vắng vẻ, nơi bờ ao, bờ hồ, dòng nước… để có chút thiên nhiên…

Định làm gì trong ngày thì ghi ra đi, vì chút xíu sẽ quên. Do vậy, mỗi góc, mỗi nơi trong nhà có xấp giấy nhỏ, có cây viết sẵn chờ đó.

 

Bây giờ tôi cũng trở thành chuyên gia dự báo thời tiết lúc nào không hay. Một trận động đất ở Indo, ở Nhật, một cơn bão sắp ập vào Philippines, vào Caribee tôi biết trước khi TV lên tiếng. Mới hôm nọ, đùng cái, chóng mặt, xây xẩm, nôn mửa… tăng huyết áp. Không cần học hành y khoa nhiều ai cũng biết đó là một cơn choáng, stroke, mức độ thế nào chưa biết. May mà chỉ là một cơn thoáng thiếu máu não, do một số mạch máu li ti nào đó ở não đã bị nghẽn, tắc.  Từ đó sẽ dẫn dần dần tới tình trạng nặng hơn. Già có cái mốc. Trước đó mấy ngày, già ngon. Qua cái mốc, eo sèo, suy sụp. Đứa cháu nội nói “Ông Nội lì quá, kêu đi Bệnh viện không đi”. Một ngưòi không phải là thầy thuốc, sẽ phải tìm ngay đến bác sĩ. Còn ta? Trăm chẩn đoán hiện ra trước mắt. Ngàn câu hỏi đặt ra. Dù sao cũng phải đi khám tim mạch. Phải rà toàn bộ. Rồi phải khám não nữa chứ. Chắc là một thứ microemboli rồi đó thôi. Tuổi này thì các cơ quan “đầu não” bắt đầu sinh sự! Sắp hết thời hạn sử dụng rồi. Siêu âm tim. Điện tâm đồ. Xquang tim phổi, xét nghiệm máu, sinh hóa… các thứ. Lâu nay cứ hẹn mãi, ngần ngại mãi. Có thực sự cần thiết không. Bói ra ma quét nhà ra rác! Nhưng thôi, lần này đành phải bói, phải quét thôi. Đến bác sĩ thế nào cũng tìm ra cho mình một cái bệnh gì đó để lo âu và để sống khổ đau với nó. Họ sẽ bắt mình làm đủ thứ xét nghiệm và dựa trên những con số này nọ để phán mình phải thế này phải thế khác.

Nhưng bệnh cũng có cái hay của nó chứ. Nó làm cho ta nhớ lại mình. Đã đành biết bệnh tật gắn vào mình từ trong trứng nước, thậm chí trước đó nữa, ở nơi ông bà cha mẹ mình từ ngàn xưa qua các gen di truyền nhiều thế hệ, nhưng cứ mỗi lần bệnh tật, với tôi, trở thành một cái giật mình. Mà cũng lạ, đường đường là một người thầy thuốc, học hành đàng hoàng, ra trường hơn nửa thế kỷ, nghề nghiệp chín chắn, nổi tiếng là người thầy thuốc “mát tay”, luôn quan tâm chăm lo giúp đỡ cho người khác khi có ai nhờ đến, cả bệnh thân lẫn bệnh tâm, vậy mà, với mình, tôi quên tôi tuốt. May thay, nhờ có bệnh nhắc. Mà không phải là bệnh nhẹ. Bệnh nhẹ không đủ nhắc tôi đâu. Một chuyến té gục trong cầu tiêu mê man vì xuất huyết tiêu hóa. Nhắc đó. Phá cửa, chở vào bệnh viện truyền máu. Một chuyến nhức đầu nôn mửa, cườm mắt muốn nổ, từ cườm khô sang cườm ướt. Nhắc đó. Mổ cấp cứu. Thiên hạ mổ mắt xong về. Tôi mổ sanh biến chứng. Các bạn giúp đỡ, lo lắng, đo tới đo lui, mắt bị nhiễm trùng thứ phát, tưởng tiêu, nhưng còn dùng được chút xíu. Thôi, kệ nó. Lần khác nữa, chuyến tai biến mạch máu não, đục sọ 2 lỗ, dẫn lưu. Nhắc đó. Những ngày nằm viện, tỉnh lại, tôi viết bài thơ cám ơn: Cám ơn cơn bệnh ngặt nghèo, quật ta kịp lúc!… Sức khỏe của người già chủ yếu đưa vấn đề “tâm thần” lên hàng đầu: làm sao phát triển và duy trì được sự sảng khoái và hoạt động chức năng tốt nhất về tâm thần (mental), rồi mới đến xã hội (social) và thể chất (physical), bởi thể chất đã tới hồi rệu rã, yếu tố chính sẽ chỉ là vấn đề tâm thần vậy.

 

Cái thiếu lớn nhất của người già là thiếu bạn. “trời cao đất rộng, một mình tôi đi/ đời như vô tận, một mình tôi về… với tôi”. Từ ngày về hưu, bạn bè rơi rụng dần. Rơi rụng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Lâu lâu, dòm lại cái cuốn sổ danh mục ghi điện thoại (sau này ghi thẳng vào trong điện thoại) đã thấy có nhiều địa chỉ chẳng biết làm sao liên lạc được nữa. Muốn xóa mà ngâp ngừng rồi không nỡ.

Cảm ơn internet. Nhờ có internet mà nối kết được cả thế giới vào trong lòng bàn tay. Cảm ơn cả những ký hiệu diễn cảm bằng những hình ảnh gì đó là nụ cười là nước mắt là yêu thương là hờn giận…cả những từ lạ như hihi haha huhu trên tin nhắn, trên email! Riết rồi không cần nói chẳng cần nghe, chỉ xài mấy cái ký hiệu là đủ rồi vậy.

 

 

  

……………………………………………………………………………………………..

 

4. Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi…

 

“Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người…”

(TCS)

 

Đúng như Carl Rogers nói, càng già càng dễ xúc động. Già không phải là khô khan cằn cỗi chi đâu! Tôi thấy mình càng già càng dễ xúc động. Cảm xúc rất mạnh. Mít ướt. Cảm xúc không bị bào mòn đi hay cùn nhụt đi, chai lì đi như vẫn tưởng.

Tôi chảy nước mắt dễ dàng trước một hoàn cảnh cảm động, ngay cả trong phim ảnh mà tôi biết là diễn xuất. Coi đi coi lại một phim cũ, đến chỗ cảm động đó tôi vẫn cứ không cầm được nước mắt. Nó tự động trào ra, ngoài sự kiểm soát của tôi. Chuyện không có gì cũng khóc được. Cũng chừng đó chuyện mà tới đoạn đó, biết là giả, là kịch, là phim mà nước mắt vẫn cứ chảy ra, cầm không được. Có khi khóc nức nở. Nhiều khi không can đảm coi tiếp. Chờ qua cơn, nguôi dần mới coi, rồi lại khóc. Cái gì làm mình trở nên “mít ướt” lạ lùng mà hồi nhỏ, lúc trẻ không đến nỗi vậy?

Đọc chuyện anh em nhà họ Điền định chặt cái cây cổ thụ trong vườn để chia nhau thì bất ngờ thấy cây đã chết, chuyện tình bạn của Lưu Bình Dương Lễ… và những chuyện khác trong Quốc văn Giáo khoa thư cũng lại làm tôi rơm rớm nước mắt. Có khi nghe một bài hát cũ, tôi thấy mình xúc động. Bài hát có thể bạn trẻ gọi là nhạc sến. Sến chảy nước là vậy chăng?  Có khi nhớ đến một người bạn từ tuổi nào xa, tôi cũng thấy lòng mềm nhũn.  Mít ướt quá rồi đó.  Tôi phải vội vàng nghĩ đến một điều gì khác để đánh trống lãng, để lừa gạt mình. “Bất thủ ư tướng, như như bất động” ư? Còn lâu!

Cái tính dễ xúc cảm như vậy là một thứ stress, thường xuyên, liên tục, thật không hay cho sức khỏe. Nhưng biết làm sao được?

 

Có phải “con tinh yêu thương vô tình chợt gọi” rồi chăng? “Lại thấy trong ta hình bóng con người” rồi chăng? Để rồi tự dằn vặt mình “Ta là ai mà còn khi giấu lệ? Ta là ai mà còn trần gian thế?” chăng.

Nghĩa là không thể rời xa. Nghĩa là không thể “thôi chia ly từ đây”. Cửa động đầu non đường lối cũ. Ngàn năm thơ thẩn ánh trăng chơi ư (Tản Đà). Vì sao mà “yêu quá đời này” mặc cho “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”.

Thiệt ra chẳng “vô tình” đâu. Có tạo tác đó. Có nghiệp báo đó. Chỉ có con tinh mới biết yêu thương đó mà. Con người thì mịt mù cát bụi. Loay hoay với điên đảo mộng tưởng. Con tinh mới đứng bên ngoài. Nhìn rõ. Và yêu thương. Những A-tu-la, những Ba-la-sat mới biết yêu thương.

 

Nghiên cứu cho thấy có vẻ như càng già người ta càng yêu nhiều hơn, yêu vội hơn và càng yêu thì càng “sống khỏe sống vui” hơn! Khi “chút nắng vàng giờ đây cũng vội” thì mới thấy còn có bao nhiêu thời gian để yêu thương và được yêu thương? Dĩ nhiên, tình yêu bấy giờ có thể chỉ là một mối tình lãng mạn, hoặc một mối tình “ngỡ đã quên đi/ bỗng về quá rộn ràng”… để rồi “như bờ xa nước cạn/ đã chìm vào cơn mơ”. Tình yêu lãng mạn có ý nghĩa rất lớn ở người có tuổi. Như “nuôi sống” họ bằng tình yêu. Hình như họ chỉ giữ được chút kích thích tố vừa đủ để “lãng mạn” cho cuộc đời đẹp ra, đáng sống hơn, sức khỏe cũng tốt hơn vì nó làm cho tim đập nhanh hơn, tuần hoàn não tốt hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, ít bệnh vặt hơn và nếu có bệnh thì rất mau lành!  Thứ “romantic relationships” này là những “hỗ trợ xã hội” tuyệt vời nhất, xúc chạm, thân mật, gần gũi càng già càng thấy cần hơn, nhất là khi người ta cảm thấy cô đơn hay đau khổ vì một lý do nào đó cần chia sẻ. Người phối ngẫu lúc đó cũng đã trở thành một người bạn thiết. Tuổi trẻ, tình yêu gần gũi với tình dục, nhưng tuổi già, tình yêu trở nên đằm thắm, tình yêu của từ bi hỷ xả, của bè bạn, cùng sến già nam và sến già nữ cho nhau! Một “hồng nhan tri kỷ” tuyệt vời như nàng Vân của Tô Đông Pha? Để ông Tô riêng một thú thanh tao? Nguyễn tướng công mà còn phải “gato” đến vậy! “Tao ở nhà tao tao nhớ  mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi bảo rằng không đến/ Đến thì mi hỏi đến làm chi/ Làm chi tao có làm chi được/ Làm được tao làm đã lắm khi…” (NCT).

 

Không có cách nào khác. Phải “về thu thu xếp lại” thôi. Không muốn cũng không được. Nó đã chuyển lượng thành chất rồi! Đã khác rồi, “cát bụi tuyệt vời” đã chuyển thành “cát bụi mệt nhoài” rồi. Dĩ nhiên cốt lõi vẫn là cát bụi. Cái nhánh nhóc tuyệt vời và mệt nhoài kia mới cần phải thu xếp. Mệt nhoài mà tưởng tuyệt vời thì nguy to! Thu xếp lại là gom phân thân các nơi về một mối, thành hạt cát sông Hằng, nơi có tám vạn bốn ngàn sông Hằng mà mỗi hạt cát là một vũ trụ. Gom các phân thân lại, gom những món hóa thân ứng thân gì gì đó lại, ta sẽ nhìn ra ta, để thấy cái không-ta. Không phải của ta, không phải là ta, và xa thêm chút nữa, không phải là tự ngã của ta.

Không có tự ngã của ta nên ta mới thong dong và tự do tuyệt đối, ta có thể hoán chuyển, bay nhảy luân hồi khắp nẽo tùy chọn lựa, khổ đau hay hạnh phúc, thiên đường hay điạ ngục, niềm vui hay nỗi buồn. Ta trách nhiệm với chính mình. Không ai can thiệp vào được đâu! Cho nên mới bảo “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Cho nên mới bảo “Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống…”. Chớ còn ai vào đó nữa. Cái chân không mà thành diệu hữu, cũng chẳng vui sao? Không phải của ta vì việc gì phải tham, phải tom góp, phải giữ “của”? Không phải là ta thì việc gì phải sân hận, phải giận hờn, phải oán trách? Không phải là tự ngã của ta thì việc gì phải lo âu, phải sợ hãi? Nó là nó thôi. Nó ở ngoài ta. Nó đùa vui chút thôi mà ta phiền muộn, sợ hãi lo âu chẳng phải làm cho nó càng khoái chí chọc ghẹo ta thêm ư? Khi biết ra ngôi nhà ta được kết tập bởi những cột kèo, vôi vữa các thứ, Phật cười bảo thôi nhé, đừng hòng mà bày đặt nữa nhé. Ta biết tỏng cả rồi. Từ đó, Ngài có nụ cười từ bi rất dễ thương.

 

Điều chỉnh mình theo dòng nước buông trôi về biển cả. Chuyện sau đó có bốc hơi thành mây thành mưa, hẹn hò từ muôn kiếp trước không thì không biết vì còn nghiệp còn duyên. Nó vậy đó. Nó trôi. Ta bềnh bồng trôi theo. Nhưng bây giờ nó gia tốc, nó ào ạt, không lửng lơ như ngày xưa còn bé nữa! Ta phải điều chỉnh thôi. Điều chỉnh để trôi cho nó êm xuôi thôi. Không cần quằn quại, không cần khổ đau. Ở tuổi này như đã qua một con dốc, đường trơn tuột, không còn cái hăm hở hì hục leo trèo nhảy nhót ganh đua, nhìn “thế sự” nhẹ hẫng đi và không mấy quan tâm nữa. “Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi tới/ Gẫm chuyện đời mà ngắm kẻ trọc thanh” (NCT). Những người nhìn xa trông rộng, đã có thể chuẩn bị thu xếp từ lâu để không bị ngỡ ngàng, đột ngột, sững sờ. Chẳng hạn người ta sẽ phải chọn lựa ưu tiên.  Gom không hết được phân thân tản mạn mệt mỏi thập phương cùng lúc thì gom từ từ. Chọn thế mạnh, chọn thứ mình thuần thục nhất và ưa thích nhất. Lực bất tòng tâm rồi. Sức khỏe đã cạn dần, đã hỏng hóc chỗ này chỗ khác. Có thứ có sẵn phụ tùng thay thế được, có thứ chịu thua. Mắt đã có thể mua thêm kính, đổi kính, thay thủy tinh thể nhân tạo, tai kém có thể mang trợ thính, chân kém có thể kèm cái ba-toong! Nhưng những cục máu đông li ti từ những xơ vữa trong động mạch làm tắc nghẽn rải rác mấy cái mao mạch ở não thì đành chịu. Trí nhớ sẽ giảm dần, quên trước quên sau. Chuyện cần nhớ thì quên, chuyện cần quên thì nhớ. Bước đi lửng thửng, lệt bệt như chân đã mọc dài ra, trong khi lưng thì còm xuống cho gần với đất hơn chút, hơn chút nữa.  Chọn cái gì phù hợp nhất với tâm lý và thể chất mình. Những ưu tiên này rồi cũng phải thay đổi theo thời gian, theo sức khỏe. Khi đã chọn ưu tiên rồi thì cố gắng hoàn thiện với kỹ năng, kiến thức tốt nhất có thể, như vậy sẽ duy trì được niềm vui, cái đó gọi là “tối ưu hóa”. Chẳng hạn không còn chơi được tennis nữa thì chơi bóng bàn, chơi cờ tướng, đánh đàn, làm thơ… Và dĩ nhiên, luôn tìm kiếm một sự “bù đắp” để những ngày tháng lặng trôi này không buồn tẻ.   Như chàng Tư mã Giang Châu ngày ngày vẫn nắn mấy trái bầu xanh trên giàn mà nghĩ tới một nậm rượu ngon cùng bè bạn của Nguyễn Tuân ngày nào!

 

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

…………………………………………………………………………………….

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

“Về thu xếp lại…” (kỳ 1)

19/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

 

(Ghi chú: Tập tản văn “tào lao” này tôi viết dành riêng cho các bạn thân trên dưới 70 tuổi của mình! Nếu bạn thấy đọc được thì sẽ post tiếp các “chương” sau! Thân mến, Đỗ Hồng Ngọc, Kỷ Hợi 2019).

 

“Về thu xếp lại…”

 

Đỗ Hồng Ngọc

 

tranh Lê Ký Thương

 

Lời Ngỏ

Người ta nói đúng. Mình đang ở tuổi nào thì đó là cái tuổi đẹp nhất, không thể có tuổi nào đẹp hơn! Một người 40 mà cứ tiếc mãi tuổi 20 của mình, một người 60 mà tiếc mãi tuổi 40 thì đến 75 họ sẽ tiếc mãi tuổi 60… thật là đáng thương!

Tôi nay ở tuổi 80. Thực lòng… đang tiếc mãi tuổi 75! Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…

Vòng đời rất công bằng. Chỉ còn cách tủm tỉm cười một mình mà thôi!

 

Cái tuổi đẹp nhất của đời người theo tôi có lẽ ở vào lứa 65-75. Đó là lứa tuổi tuyệt vời nhất, sôi nổi nhất, hào hứng nhất… Tuổi vừa đủ chín tới, có thể rửa tay gác kiếm, tuyệt tích giang hồ, “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo” (NCT), nhưng cũng là tuổi có thể lại vướng víu, đa đoan nhiều nỗi, để một hôm ngậm ngùi ta là ai mà còn khi giấu lệ/ ta là ai mà còn trần gian thế? (TCS) 

 

Nhớ hồi ở tuổi 55, mới hườm hườm, tôi ngẫm ngợi, ngắm nghía mình rồi lẩn thẩn viết Gió heo may đã về. Đến 60 thì viết Già ơi… chào bạn! như một reo vui, đến 75 còn… ráng viết Già sao cho sướng?… để sẻ chia cùng bè bạn đồng bệnh tương lân. Nhưng 80 thì thôi vậy.

Đã đến lúc phải “về thu xếp lại” rồi, bởi  “chút nắng vàng giờ đây cũng vội”… rồi đó thôi!

Khi viết “Gió heo may đã về”, tôi cảm xúc từ nhạc Trịnh, nên đã mượn những ca từ của anh làm tiêu đề cho mỗi chương sách. Trong Lời bạt cho cuốn sách này, Trịnh Công Sơn đã viết: “… Bạc đầu có phải đã chớm già không. Theo tôi, bạn Đỗ Hồng Ngọc ạ, đó chỉ là thay đổi một màu tóc… Tôi nghĩ rằng, không có già, không có trẻ, nói với một người trẻ, tôi già rồi em ạ là vô lễ”.

 

Thế rồi, đến một hôm kia, anh đã lại viết:

“Ôi phù du/

 từng tuổi xuân đã già/

một ngày kia đến bờ/

Đời người như gió qua…”

 

Tôi nhớ mãi lần đến thăm anh ở phòng Săn sóc đặc biệt Bệnh viện Chợ Rẫy năm đó, trông anh như một tàu lá chuối khô, dán sát giường bệnh, tôi bỗng ngộ, những câu chữ anh viết trong ca khúc thì ra đã đến từ một cõi nào khác, xa xôi, một “mặc khải”, một “phó chúc” nào đó, chớ không phải từ tấm thân tứ đại ngũ uẩn mong manh này. Cho nên khi viết những dòng này, hôm nay, tôi lại nhớ người bạn nhạc sĩ họ Trịnh và lại mượn những ca từ của anh như một đề dẫn…

 

Những dòng viết này góp nhặt từ những trang nhật kỳ rời, từ những ghi chép lang thang không ngày tháng, rải rác nơi nọ nơi kia, chỉ để sẻ chia cùng bè bạn thân thiết, những bè bạn  cùng trang lứa, cùng tâm trạng.

Rất riêng tư, và rất chủ quan…

Thân mến,

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 2.2019)

 

……………………………………………………………………………………..

 

1. Cát bụi tuyệt vời…

 

“Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi,

            Để một mai vươn hình hài lớn dậy?

           Ôi, cát bụi tuyệt vời

           Mặt trời soi một kiếp rong chơi…”

(TCS)

 

Cái hình ảnh lấy cát bụi vo thành môt cục rồi thổi vào đó một hơi dài để vươn vai lớn dậy làm người thì thật là thú vị. Thú vị ở chỗ nghĩ cho cùng, cái thân xác cát bụi kia một hôm trở về làm cát bụi thì đã là chuyện dĩ nhiên, đương nhiên, tự nhiên, sao còn sanh sự tào lao chi cho mệt. Có điều để cái “cát bụi tuyệt vời…” này trở thành “cát bụi mệt nhoài” thì lỗi tại ta. Ta có thể làm cho cát bụi trở nên “thú vị” được lắm chứ! Cứ như người làm gốm sứ, cát bụi mệt nhoài là bởi thứ cát bụi làm kiểu công nghiệp, hàng loạt, giống nhau như đúc, dù cố vẽ vời chi đó trên gốm cũng vô ích. Cát bụi tuyệt vời là thứ cát bụi rất riêng tư. Nó tùy màu đất. Nó tùy độ lửa. Tùy chất liệu điểm tô không thể tính toán trước. Nó tạo ra vô vàn sự khác biệt. Như người họa sư chới với, kinh ngạc khi nhặt từ lò nung ra một thứ phẩm vật trời cho, tươm bao sắc màu pha trộn quái dị, chảy theo một dòng chảy không thể lường trước…

Phải, chính cái “phần hồn” kia – cái thức –  đã được lưu chuyển từ một kiếp nào xa đó, chằng chịt quấn quít với bao thứ duyên sinh, từ không mà có, từ có mà không, vừa chân không vừa diệu hữu, đã khiến cát bụi tuyệt vời kia một hôm trở nên cát bụi mệt nhoài nọ, với thất tình lục dục, hỉ nộ ái ố… để rồi nhận ra “trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ/ chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…”(TCS).

Nói không được. Bất khả thuyết. Không từ đâu đến/ chẳng đi về đâu. Nó Như Lai. Khi cát bụi và hơi hướm kia không chịu nhau nữa, giận nhau, cãi nhau, hục hặc, chí chóe, đòi tách nhau ra thì đủ thứ chuyện trên đời sẽ sinh sôi. Cuối cùng thì đến một lúc, cát bụi trở về cát bụi, hơi hướm trờ về hơi hướm… Rã ra. Tan ra. Không thương tiếc. Có một chu kỳ, có một nhịp điệu chăng? Không biết.

 

Banki, thiền sư Nhật bản, tác giả Tâm bất sinh (bản dịch Ni sư Trí Hải) nói ngay lúc sống người ta nên thuờng xuyên nghĩ về cái chết. Đúng vậy, bởi vì cái sống không tách rời cái chết. Cũng như thở vào không thể tách rời thở ra. Nó là một chu trình khép kín.

Có sinh ắt có tử, có tử ắt có sinh. Hơi vào có hơi ra và ngược lại. Cho nên người đạt đạo họ tỉnh queo, nôm na là họ… giác ngộ. Họ chẳng cần phải bối rối. Họ biết nó phải vậy. Như Thị.

Chu trình “khép kín” đó bắt đầu tăng tốc ở lứa 65-75 tuổi. Tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo. Sự  tăng tốc của lứa tuổi này cũng làm ta há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc… như ở tuổi dậy thì, tuổi mới lớn. Cái vòng đời nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu! Nhiều bạn cùng lứa than với tôi sao thế này sao thế khác, tôi thường chỉ nói “Ai biểu già chi?” rồi cười xòa với nhau mà không khỏi có chút … ngậm ngùi.

 

Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với.  Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki). Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá, đừng nhiều mỡ quá!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình. Không ai giống ai. Như vân tay, như mống mắt vậy. Cho nên không cần bắt chước. Chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo. Nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc thì phải cảnh giác!

 

Thời tôi học y khoa được học tế bào thần kinh không thể sinh sản, mất là mất luôn, hư hỏng thì không thể tự sửa được, không như tế bào ở các mô khác. Ngày nay người ta biết có khoảng 100 tỷ neuron thần kinh và 100 nghìn tỷ kết nối giữa chúng, nhưng thật ra não bộ còn rất nhiều điều bí ẩn chưa thể biết hết. Khoa học ngày nay tiến bộ, cho thấy tế bào thần kinh chẳng những rất nhu nhuyến (plasticity), có khả năng tự thích nghi, tự điều chỉnh mà còn có thể sinh sản tế bào mới (neurogenesis). Chúng có thể kết nối tự bên trong, hoán chuyển vị trí… chứ không phải tập trung từng khu vực cứng ngắc như ngày xưa đã tưởng. Khả năng thay đổi và thích nghi này của não không bị mất đi, tuy khi có tuổi thì các khả năng nhận thức, ngôn ngữ, trí nhớ, suy luận cũng kém đi theo tiến trình chung. Nghiên cứu gần đây cho thấy ở tuổi 80 não bộ vẫn còn tiếp tục tạo nên những con đường mới nối kết bên trong nên vẫn phát triển được.

Bây giờ thời đại cái gì cũng “thông minh” đáng ngại. Không lâu nữa, chắc con người sẽ có đủ “tam minh lục thông” chăng? Tam minh là Túc mạng minh (biết rõ kiếp trước của mình), thiên nhãn minh (biết rõ… kiếp sau của mình), lậu tận minh (dứt tất cả lậu hoặc); lục thông gồm thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông,…

Từ ngày có trang web riêng mình (www.dohongngoc.com/web/) do một bạn trẻ giúp cho, tôi bận bịu với nó nhiều hơn. Rồi nhờ nó mà tôi lần mò học cách post bài, đưa hình ảnh, chỉnh sửa tùm lum… Nó giúp tôi như quên ngày tháng, quên đi những buổi mai buổi chiều buổi trưa buổi tối…  Nhưng cũng nhờ nó, tôi mở rộng việc học hỏi, mở rộng giao lưu, thấy quả đất chỉ còn là một hòn bi xanh trong lòng bàn tay… Và chiếc điện thoại thông minh cũng giúp mình nhiều việc, dù thực tế nhiều lúc thấy nó thiệt là… ngu!

Mắt kém, đọc mỏi, tôi bắt đầu ít đọc báo, ít xem TV – ngày trước, mỗi ngày ngốn chục tờ báo là thường! Nay chỉ đọc lướt qua cái tựa là xong. Thời đại cần cái gì, gõ gõ vài cái có người đưa tới tận nhà! Hy vọng không lâu nữa, họ gởi các thứ qua mạng, bấm nút in ba chiều, muốn gì cũng có… Nghe nói người ta đã có thể “fax” một con người từ nơi này sang nơi khác… giúp ta không phải đợi chờ lâu! Máy móc, kỹ thuật, phương tiện nghe nhìn ngày càng chiếm ngụ trong ta, “thay mãi đời ta”…

 

 

…………………………………………………………………………………………..

 

2. Tôi chợt nhìn ra tôi

 

“Có nụ hồng ngày xưa rớt lại

Bên cạnh đời tôi đây

Có chút tình thoảng như gió vội…”

(TCS)

 

“Chợt” là vì bất ngờ. Nhưng không phải bất ngờ vì tôi thấy tôi. Mà bất ngờ vì tôi chợt “nhìn ra” tôi. “Nhìn ra” khác với thấy. Nhìn ra là “quán”.  Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã chiếu kiến ngũ uẩn giai không… . Quán là thấy rõ (chiếu kiến). Tôi bấy giờ không còn là tôi bây giờ. Tôi bấy giờ là tứ đại, là ngũ uẩn. Và nếu quán một cách sâu sắc hơn, có thể thảng thốt kêu lên: “Bổn lai vô nhất vật”! (Lục tổ Huệ Năng).

Có lần Phật hỏi Duy-ma-cật: Ông quán Như Lai thế nào? Duy-ma-cật đáp: Thì như quán pháp thân của Phật và của chính tôi thôi. Có gì khác nhau đâu!

Nhìn thì có thể thấy khác. Bởi nhìn thì qua mắt, nhãn căn. Quán thì không nhìn bằng mắt. Mà nhìn bằng cả năm thứ con mắt (ngũ nhãn) gồm nhục nhãn (mắt thịt), thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.  Thú vị, khi quán thì cả Như Lai, Phật và Tôi… đều là một, không khác. Đó là đã thấy pháp thân, thật tướng vô tướng.

 

Tôi thường tự hỏi tôi khác gì tôi xưa. Xưa ở đây là trước cái hồi tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ sọ não cách đây cũng vài chục năm rồi. Câu trả lời là khác. Khác quá đi chứ. Trước hết tôi bây giờ già hơn tôi xưa, già thấy rõ, già tốc hành chớ không phải già lai rai như trước.

Nhiều hôm nhìn vào gương soi, tôi thấy mình như một quả táo để lâu ngày, héo dần, teo tóp, nhăn nheo. Nhưng có cái gì đó như cứng cỏi hơn, tuy quắt queo mà chỉ bay hơi nước, bay cái láng mượt, nuột nà của quả táo căng phồng, ngây thơ, tràn đầy thuở nào. Bây giờ thì co cụm lại, co rúm lại, gom tụ lại vào trong cái hột, cái lõi. Tôi thường tủm tỉm cười, cảm thấy khoái khi gặp môt người bạn trẻ, nghĩa là nhỏ hơn tôi chừng mươi, mươi lăm tuổi, lâu ngày không gặp nhìn tôi kinh ngạc, há hốc, như định kêu lên cái gì đó rồi thôi. Tôi hiểu và dĩ nhiên tôi cũng nhìn người bạn, cũng định kêu lên một cái gì đó, nhưng rồi cũng thôi. Thì ra cả tôi, cả người bạn trẻ đều cùng đã thay đổi, đã già đi mà không hay! Và như Nguyên Sa nói, người ta chỉ có thể đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân!

 

Tôi biết vòng đời của con người có ba giai đoạn đổi thay rất nhanh. Đó là thai nhi trong bụng mẹ, tuổi dậy thì và tuổi già. Khi trứng thụ tinh thì chỉ hình thành một tế bào, phải soi dưới kính hiển vi mới thấy; đến 3 tháng tuổi, thai nhi cũng mới bằng ngón tay út, vậy mà 6 tháng đã dài hơn ba mươi lăm phân và nặng trên một ký; đến lúc chào đời thì đã dài hơn nửa thước, nặng hơn ba ký rồi. Lớn nhanh như thổi!

Bé sinh ra lớn lên từng ngày, mỗi ngày mỗi khác, nhưng phải đến tuổi dậy thì mới có sự tăng trưởng và phát triển đột ngột. Chừng vài ba tháng không gặp, khi gặp lại cô bé mười ba, cậu trai mười bảy kia ta đã hết hồn, há hốc, kinh ngạc. Nó không chỉ cao lớn mà còn trỗ mã, xinh đẹp, đầy đặn, căng tròn như quả táo muốn tươm mật. Gái thì yểu điệu thục nữ, tóc mượt lưng ong. Trai thì vạm vỡ, hiên ngang, râu hùm hàm én… Rồi đến cái tuổi gió heo may, dìu dịu, nhạt nhòa nhưng vẫn là tuổi năng nổ, hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả nhất để rồi chuyển sang tuổi già, tạm coi là sau tuổi 65, một chu trình “khép kín” đã lại bắt đầu: tăng tốc khô héo, tăng tốc nhăn nheo, tăng tốc ngược chiều đủ làm hết hồn, làm há hốc, muốn kêu lên kinh ngạc…

Nó diễn biến tuyệt vời đến vậy, liên tục đổi thay đến vậy thì có gì đáng phàn nàn đâu, có gì mà không thể tủm tỉm cười một mình đâu. Cho nên nếu tôi có gì khác tôi xưa thì chính ở chỗ tôi có phần… khoái cái sự già nua tăng tốc đó của mình, tôi hồi hộp dõi theo nó, tôi cảm thấy nó…hợp lý, nói chung là… cũng dễ thương quá đó chớ!

 

Ở tuổi 70 chưa thấy già đâu. Thậm chí đến 72, 73 vẫn còn thấy trẻ chán. Những năm tháng đó, khi đến những buổi giao lưu, trò chuyện (Talk) ở đâu người ta cũng nói tôi trông trẻ quá, chừng 60 là cùng. Không phải an ủi đâu. Tôi cũng… thấy vậy. Tóc vẫn đen nhánh, da căng mượt, trí tuệ sáng láng. Thấy có lửa. Thấy thèm muốn. Rồi sau đó, bỗng dưng mọi thứ như trôi tuột, tứ đại đất nước gió lửa gì gì đó coi bộ ai muốn về chỗ nấy, ngũ uẩn sắc thọ tưởng hành thức gì gì đó coi bộ cũng không còn muốn bó trong một bó (uẩn) như xưa nữa mà xục xịch lỏng lẻo dần ra, mỗi thứ cứ muốn tách ra riêng, trở về chốn cũ của nó. Thì ra tôi chỉ là cái được cho “mượn tạm”, “xài đỡ” một thời gian.

Bỗng lầm lì. Hình như ngó vào bên trong nhiều hơn ngó ra bên ngoài. Có vẻ như đang lắng nghe một cái gì đó. Cái mà Trịnh gọi là “tôi đang lắng nghe… im lặng đời mình”, hay lắng nghe “lời mời đã dậy”…  Các hormone bắt đầu cạn dần, cạn dần. Mọi thứ đã “lập trình” đâu đó từ trước. Tùy mỗi người. Không phải cứ muốn mà được. Điều quan trọng người ta phải chấp nhận mình là. Nghe tin người nọ người kia tự nhiên mà quên hết, tự nhiên mà không nhớ mình là ai, không nhớ ai là ai. Chụp ảnh não bộ thì thấy teo, teo ở một nơi nào đó, làm mất trí nhớ dần. Thật đáng sợ và cũng đáng tức cười. Tự nhiên mà nhớ rồi tự nhiên mà quên. Có người phải tu tập khó khăn lắm mới buông bỏ được, mới quên được, có người tự nhiên mà quên tuốt tất cả mọi sự đời, chẳng cần phải tu! Hôm qua, nghe tin người bạn cùng tuổi, cách đây 60 năm vào cùng trường cùng lớp với mình tự dưng quên cả tên vợ con, quên cả đường đi quanh nhà. Anh vốn là một nhà toán học, mà bây giờ không biết cả hai với hai là bốn. Một bạn khác, vốn là một nhà quản lý có tiếng ở một bệnh viện lớn ngày xưa mà nay cũng không nhớ nổi tên mình! Một người bạn hứa cùng đi chơi, giờ chót xin lỗi vì không mặc được quần vì thấp khớp…  Quên chìa khóa, quên mắt kiếng, quên điện thoại, quên số nhà, không biết đường về… thì thường xuyên rồi. Con đường mòn của ký ức đã trục trặc, vấy bẩn hay vì những nguyên nhân gì khác không biết.  Quên ngày tháng, quên nơi chốn. Nói điều gì xong quên ngay. Hỏi đi hỏi lại mãi. Ăn mặc luộm thuộm. Thích đi lang thang. Rồi đến lúc không thể tự săn sóc cho mình được nữa, phải hoàn toàn lệ thuộc. Nghĩa là người ta cứ từ từ trở lại tuổi nằm nôi, từ biết đi biết chạy đến đứng chựng, biết bò biết lật rồi… Giận hờn, trách móc, lo âu, trầm cảm, còn thêm nhiều thứ bệnh ập tới không thương tiếc. Rồi té ngã, loét da, táo bón, tiêu tiểu không kiểm soát… Già ấy là lúc cạn, lúc teo, lúc héo. Thích nghi không dễ. Biết để mà thương, mà chấp nhận mình.

 

Nhiều khi, sáng dậy, nhìn vào gương soi tôi lại thấy tức cười. Tôi đó sao? Nhăn dần từng nét ngộ nghĩnh trên mắt trên da. Đôi khi muốn lấy viết vẽ nguệch ngoặc gương mặt thay đổi từng ngày của mình, từng ngày nhưng rất nhanh, thấy rõ chứ không như ngày xưa, nhiều năm mới nhận ra nét đổi thay. Tôi tức cười nhìn mình. Nó nhìn tôi cũng cười. Ngộ nghỉnh. Cười mà ráng. Không ráng thì nó trỉu nặng. Mấy tế bào của cơ mặt hình như sinh tật làm biếng, xệ xuống cho khỏe.

Tôi thường tự hỏi, tôi bây giờ khác gì tôi xưa? Khác nhiều chứ. Tôi tập xả hơi. Tôi tập xì hơi. Nhiều khi thử xả cho tận kiệt xem sao. Tôi thử bịt mũi từng tế bào, coi nó ra sao? Tôi thử thả trôi nó coi nó ra sao. Tôi tách thân xác ra khỏi thân hơi coi nó ra sao. Trần Nhân Tông nói có lý: thân thể y như cái túi da. Là bác sĩ, tôi còn biết túi da đó đựng những gì nữa! Không chỉ thấy là xương là thịt, là mỡ gì đó đâu, tôi còn thấy đến tận những chất liệu Carbone (C), Hydrogen (H), Nitrogen (N), Oxygen (O) và chừng 60 món vô cơ khác từ sắt đồng chì kẽm mangan, vôi vữa… các thứ câu kết ra sao, thay đổi ra sao, hùng hục, huỳnh huỵch với những phản ứng hóa học ra sao.

 

Tôi ăn cũng khác mà ngủ cũng khác xưa. Bây giờ tôi thấy ngủ cũng chỉ là cách cho cơ thể nghỉ ngơi, giảm tiêu hao năng lượng, cho tế bào não sạc pin, phục hồi, tế bào cơ thư giản. Nếu có cách nào khác làm cho tế bào cơ thư giản, hết co cơ, tế bào não hết sinh sự, kiếm chuyện, thì tôi cứ để cho thân thể tự dàn xếp. Cơ thể tự biết cách thu xếp. Nó biết xì hơi, xả hơi. Thường thì nhờ vậy, tôi ngủ lúc nào không hay. Kệ nó. Nó muốn thức dậy giờ nào thì cứ cho nó dậy, ngủ tiếp thì ngủ. Mỗi ngày cũng mất 7-8 giờ cho chuyện ngủ nghỉ này. Pin đủ, đầu óc sáng suốt, trí nhớ tốt, nhạy hơn hẳn. Trưa cũng cần sạc pin chút xíu.

Lâu nay tôi hoang phí năng lượng vào những chuyện không đâu,  cho nên cơ thể căng cứng, rả rời, lúc nào phổi cũng phải bơm hơi cho kịp, tế bào cũng phải quần quật hì hục sản xụất năng lượng. Bây giờ tôi chủ trương thở vừa đủ xài. Xài ít thì thở ít. Bộ não có chút xíu, có 2% thể trọng mà họat động cực kỳ mạnh mẽ, tiêu thụ đến 25% khối lượng Oxy đưa vào cơ thể. Nếu có cách nào làm cho não nghỉ ngơi thì giảm được sự mệt nhọc. Còn khi có tranh chấp, căng thẳng thì … cơ sẽ căng cứng, cứ y như những con thú rừng, sẵn sàng tư thế chiến đấu  hoặc bỏ chạy (stress). Toàn bộ cơ mà căng thẳng vậy, nhu cầu năng lượng tăng gấp… 4 lần!

 

Ghi tiếp “Nhật ký rời”: Chỉ còn mấy ngày nữa, đã đầy tám chục (tuổi ta). Phải nhanh chóng ghi lại vài điều kẻo quên.Thứ nhất, ở tuổi này tôi thấy tay mình ngày càng run. Làm cái gì mà cẩn thận thì đổ vỡ. Làm cái gì không tính trước thì được. Tùy cơ ứng biến thì tốt. Tay run đến nỗi viết cũng khó mà vẽ chơi cũng khó. Tôi phải vẽ kiểu “tốc họa”, vẽ như chớp, theo một cảm xúc bất chợt, không toan tính thì tốt. Ai bắt chước được cái run?

“Già khú” là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú… đế”. Khú, Từ điển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. “Khú đế” là “vua” của khú đó chăng?

Sai lầm lớn khi ta nghĩ rằng già sẽ đến từ từ. Cứ từ từ mà thích nghi. Không đâu. Già nó xồng xộc trên trời rơi xuống, dưới đất vọt lên. Không những xồng xộc nó còn gia tốc, tàn bạo như cơn sóng vỗ vào bờ đá, vội vã để mau chóng nhập vào dòng nước cuồn cuộn đuổi theo sau. Nó mạnh mẽ và tàn nhẫn, tung tóe, tan tác, lắng chìm, không một chút xót thương. Nó lãnh đạm bởi nhiệm vụ nó phải thế. Nó thú vị bởi nó không phân biệt. Giàu nghèo sang hèn, da trắng da đen… Còn ta, ta chần chờ, làm ngơ… Đi đâu mà vội… Không đâu! Một hôm già bỗng chuyển hệ sang già…khú, rồi khú đế đột ngột làm đảo lộn mọi thứ tính toan. Bây giờ tôi thấy mình lạc lõng, ở đâu cũng lạc lõng. Với lứa trẻ, mình lạc lõng đã đành mà với lứa trung niên mình cũng bị… loại sớm. Bạn già cũng rơi rụng đâu mất dần.

Một người bạn điêu khắc gia có tiếng nắn tôi cái tượng chân dung. Anh không nói trước. Một hôm, kêu lên nhà café chơi. Tôi đến. Anh mang tượng ra, bảo, ngồi yên chút cho anh retouch lại. Lúc đó mới biết. Tôi nhìn anh hý hoáy gọt gọt giũa giũa… thấy ngộ, bèn cũng hý hoáy vẽ  anh với bộ râu đặc biệt. Anh không biết là tôi đang vẽ anh. Xong đâu đó, trao tặng anh. Anh ngạc nhiên, vui lắm. Tượng sau đó tôi mang về giấu kỹ. Mười lăm năm trôi qua từ ngày đó. Tình cờ nhìn lại tượng, tôi giật mình: râu tóc đã bạc phơ. Nhăn nhúm đã tràn đầy!

Lạ thiệt!

 

 

Đỗ Hồng Ngọc

(còn tiếp)

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi “Tìm Tết” (tiếp theo)

13/02/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

“Tìm Tết”

(tiếp theo)

Mình lại phải “giải trình” tiếp với bạn chuyện đi “Tìm Tết” mấy “Mùng” của mình ra sao nhé.
Dĩ nhiên cũng chỉ gởi mấy tấm hình cho bạn coi chơi thôi, chớ bây giớ viết làm biếng tổ rồi.

Họp mặt Gia đình, ông bà, con cháu tụ tập, “lì xì” theo truyền thống. Mấy đứa cháu bự xự, to hơn cả ba má và ông bà rồi! Người thấp bé nhất nhà bây giờ là Ông Bà (nội, ngoại).

 

 

Ngày đầu năm, ghé chùa Xá Lợi, thăm Thầy Hiển Tu, năm nay 98 tuổi, còn rất sáng suốt. Thăm thầy Đồng Bổn trụ trì và các bạn trong Ban Phật học.

 

Tụ tập con cháu ngày Tết.

 

Tết… “heo” Kỷ Hợi phải không?

 

 

 

Rồi thu xếp đi thăm bè bạn, mỗi nơi một chút vậy.

Tới thăm họa sĩ Lê Ký Thương (Cóc)- Kim Quy trước hết: nhà rộng rãi, nhìn từ trên cao. Con kênh nước đen nhằm ngày nước ròng, nổi lên một khung cảnh trái nghịch của một thành phố lớn nhất nước.

 

Rồi thăm nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, năm nay đã ngoài 80. Nhớ xưa, Vũ Hoàng Chương đã từng viết mấy câu thơ tặng bà:

Ngai vàng chót vót năm đời trước

Tiếng ngọc bâng khuâng một kiếp này…


Hỷ Khương làm rất nhiều thơ, thơ hay, nhưng “nổi tiếng” với 4 câu này:

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời…

(TNHK)

Cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị là phụ thân của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương lại luôn được nhắc mấy câu thơ này:

Biết đủ, dầu không chi cũng đủ

Nên lui, đã có dịp thì lui…

Và

Thuở ra sân khấu không làm rộn

Lúc vãng vai tuồng bớt hỗ ngươi…

(Ưng Bình).

Cụ đặc biệt nổi tiếng với “Câu hò Vỹ Dạ”: Chiều chiều trước bến Văn Lâu ai ngồi ai câu ai chờ ai đợi…

 

Rồi hẹn cùng Lê Ký Thương đi thăm điêu khắc gia Pham Văn Hạng theo lời mời của PVH, gặp bác sĩ Lê Hành, người có giọng ca rất hay tự thuở nào.

Từ trái: Lê Ký Thương, Phạm Văn Hạng, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Hành

 

 

 

 

 

 

 

 

Mùng 4 Tết đi Vũng Tàu cùng nhóm bạn Thân Trọng Minh, Thanh Hằng, Lê Ký Thương, Kim Quy… Rất vui là TTM đưa mình đến thăm căn hộ của anh trong Chung Cư mà đi lạc lòng vòng khá lâu. Mình còn ghé thăm nhà Mai Ninh, một ngôi nhà xinh xắn, yên tĩnh.

ĐHN ở Vũng Tàu, đang làm bộ sửa một bản thảo “trời ơi” nào đó!

 

 

 

 

 

 

 

Mùng 5, trên đường từ Vũng Tàu về, ghé thăm nhạc sĩ Lê Trọng Thủy ở Bà Rịa, rồi ghé qua Sông Xoài, thăm vườn quê với căn “biệt thự” bằng Container rất thú vị của Phùng MInh Bảo- Thùy Linh.

“Biệt thự” Container của PMBảo-Thùy Linh rất độc đáo. Tuy ở xã Sông Xoài, gần Hắc Dịch nhưng có đủ phương tiện IT. Ở đây mà Bảo-Linh vẫn điều hành công việc ở Vũng Tàu và các nơi qua Internet thuận lợi.

“Biệt thự container” hẹp, khá dài, 12,4m, cao 2,4m, chỉ rộng 2,4m, kiểu nhà sàn, có sân thượng để tập thiền, yoga, đầy đủ tiện nghị mà “xây dựng” rất nhanh, chỉ trong tuần lễ là xong. Vườn tược lúc này chỉ có tiêu, hột điều, mướp, đu đủ… Tiếc không có Nguyễn Minh Tiến của blog “Mở rộng tâm hồn”. Xưa, nhà Tiến cũng ở gần đây.

Mùng 6 đã thấy nhớ Đường Sách. Lang thang ra thăm ĐS thì tình cờ gặp nhà thơ Võ Quê. Vui quá.

 

Nhà thơ Võ Quê, “người giữ linh hồn ca Huế” (ảnh Ca Dao)

 

Vậy nhé. Vài hình ảnh “Tìm Tết” (tiếp theo) gởi bạn coi vui.

Thân mến,

ĐHN

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

Phan Chính: Cuối năm nghĩ đến tuổi già ?

25/01/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Cuối năm nghĩ đến tuổi già ?

Phan Chính

Tôi từng đọc nhiều tác phẩm của Đỗ Hồng Ngọc, vì tên tuổi của anh qua những sách viết về y khoa với một phong cách riêng, ngoài ra còn có số lượng lớn về thiền, văn học mà thể loại tạp bút, thơ của anh (Đỗ Nghê) đã cho tôi sự cuốn hút đến kỳ lạ. Có lẽ tôi nghĩ về những gì yêu quý ở vùng đất La Gi- Hàm Tân xưa nay, mà đây là nơi chôn nhau cắt rốn của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Từ khi nơi này không còn là khu căn cứ địa kháng chiến thời Pháp nữa thì anh rời quê nhà (1952) ra Phan Thiết học rồi vào Sài Gòn cho đến nay. Đất Sài Gòn lại có sự thôi thúc đầy ma lực để anh trở thành một thầy thuốc có tâm, có tài, nhưng theo tôi qua các tác phẩm dù khoa học, thơ, văn… của anh đều chất chứa cái tâm tình và tiếng nói của người nghệ sĩ, của lời ru rất “tình người”.

Ngọn bấc tháng chạp từ biển thổi vào lòng người cũng ít nhiều bâng khuâng, hiu hắt khi nghĩ đến cái tuổi đang âm thầm về phía trước theo qui luật đất trời. Thì lúc này tôi tìm đọc lại tập tản văn “Già ơi… chào bạn!” của Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản đến lần thứ 3  cách đây tròn 20 năm. Nghe tựa sách đã thấy anh khẳng định “Già là điều tất yếu, là chuyện đương nhiên khi người ta tích tuổi, thêm tuổi”. Tôi lại nghiệm ra khi hỏi han anh về một triệu chứng cơn đau cột sống dai dẳng rồi than vãn, bằng cách nói thân tình, anh tư vấn “Ai biểu già chi?”… Ồ, có lý thật! Cho nên trang đầu của tập sách, bài “Già là gì?”, tác giả không phân tích theo ngôn ngữ “lão khoa” mà bằng những câu chuyện thường nhật của người thầy thuốc. Tôi tâm đắc nhất với một câu anh viết “Đời người có 3 hồi: Hồi trẻ, Hồi trung niên và Hồi đó. Khi ta dùng từ Hồi đó hơi nhiều để nhắc lại những chuyện xưa thì đó là dấu hiệu của tuổi già”. Điều này quá rõ trong thực tế, với người đang tuổi về già, trong câu chuyện “hồi đó” thường lặp lại mà mình đã nghe nhiều lần. Tôi có nhiều cơ hội dự các cuộc tọa đàm gồm những nhân chứng lịch sử của thời kỳ kháng chiến từ xã, huyện và tỉnh… Nội dung, chủ đề cần thảo luận thường bị rơi vào tình trạng “chuyện bây giờ mới kể” nhưng vẫn được thông cảm, trân trọng vì đó là ký ức khó quên và đang trong trạng thái “Hồi đó” mà thôi. Bài “Khi nào thì người ta già?” Theo Đỗ Hồng Ngọc không có cái mốc tuổi tác nào để nói được. Có khá nhiều định nghĩa Tuổi già từ các nhà nghiên cứu hoặc theo cách nhìn bằng phương pháp y học như Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) thì căn cứ cái mốc trên tuổi 60… Và theo tác giả đã dí dỏm “Lúc đó ta đang tập tễnh bước vào nhóm của những người cao tuổi do Liên hiệp quốc “áp đặt” vậy!”. Có vẻ anh không mấy tán đồng cái ranh giới già, trẻ cứng ngắt đó vì trong bài khác trong tập sách “Mỗi người già mỗi kiểu, Biết ơn mình, Một tuổi già hạnh phúc…” thì các yếu tố tâm lý của tuổi già hạnh phúc, anh nhấn mạnh đến yếu tố “làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn, vì người, vì đời hơn là chỉ tập trung vào bản thân mình”. Còn quá khứ của một thời hãy để nó mặc nhiên tồn tại qua câu thơ anh viết: “Lắng nghe hơi thở của mình/ Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa” và để rồi “Của mình chẳng phải của mình/ Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”… mới có được một tâm hồn an lạc, phải biết tự tại để sống hạnh phúc.

Từ những chiêm nghiệm đó, các tác phẩm Gió heo may đã về, Những người trẻ lạ lùng, Như ngàn thang thuốc bổ, Thư gửi người bận rộn… cho đến những lý giải giàu tính minh triết như Như thị, Nghĩ từ trái tim, Thiền và sức khỏe, Cõi Phật đâu xa…, hay loạt bài trên chuyên mục Phật học và Đời sống (tạp chí Văn hóa Phật giáo”, càng gần gũi với tuổi già một cách lạc quan mà có người nói vui từ câu nói “sống chung với lũ”. Tức phải biết thích nghi và có một triết lý sống phù hợp với hoàn cảnh mới đối với tâm thế mình.

(Báo Bình Thuận, 1.2019)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

“Những gốc me già xưa nhớ quá”

24/01/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

“Những gốc me già xưa nhớ quá”

Xin lỗi bạn. Thiệt ra mình không định viết lá thư này, nhưng rồi hôm qua tình cờ gặp Phạm Gia Cẩn, ở Úc về, là học sinh đệ thất Phan Bội Châu Phan Thiết 1956, sau bọn mình 2 lớp, ở Đường Sách Saigon, Cẩn nhận ra mình, anh em bèn kéo vào quán café PN ngồi nhắc ngôi trường Phan Bội Châu cũ – là chỗ trường Tiến Đức ngày xưa bọn mình đã học ở đường Trần Hưng Đạo- trước khi dời qua trường mới sau này… Rồi nhắc Phan Đổng Lý. Nhắc Trần Vấn Lệ. Nhắc Phan Bá Thụy Dương… và những con đường làm mình không thể không kêu lên:

Ơi những con đường ta đã đi

Gia Long Đồng Khánh mượt xuân thì

Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh

Gió ở đâu về thơm bước khuya…

(Đỗ Hồng Ngọc, Trên sông khói sóng 1970)

Và dĩ nhiên không thể không nhớ những… gốc me già:

Năm năm không về thăm Phan Thiết

Năm năm dù hẹn đã trăm lần

Những gốc me già xưa nhớ quá

Những con đường nhỏ rất quen thân…

(ĐHN, Trên sông khói sóng,1970)

Và để rồi:

Năm năm không về thăm Phan Thiết

Năm năm dù hẹn trăm lần về

Nghe nói người xưa chừng lỡ bước

Nghe nói lòng ta chừng chưa nguôi…

(ĐHN, Trên sông khói sóng, 1970)

Thơ của thế kỷ trước nó quê mùa vậy đó bạn. Không tân hình thức, chẳng hậu hiện đại, siêu hiện đại gì cả, nhưng đó là thơ của tấm lòng phải không? Và lần này, về Phan Thiết cùng với các bạn văn của  Tạp chí Quán Văn mình mừng quá, được gặp lại “gốc me già” dù chẳng còn nơi chốn xưa.

 

Gốc me già… ở Thanh Minh tự, Phan Thiết!
(TMT, 16.1.2019)

Thời điểm gần Tết này mình có nhiều… hướng đi, có thể là Đà Lạt, có thể là Nha Trang, nhưng quyết định đi cùng nhóm Quán Văn của Nguyên Minh và các bạn gần xa, có người từ Vũng Tàu, từ Huế, từ Đà Nẵng…. chưa hề biết Phan Thiết – mà mình vốn là dân Phan Thiết thứ thiệt nên dù sao cũng có thể tham gia làm “tourguide”, dù Mỹ Lệ QV đã sẵn có chương trình rất hấp dẫn rồi.

Ghé Núi Cú trước tiên. Núi Tà Cú, bạn nhớ không? Bọn mình ở Phan Thiết ngày xưa Mùng 2 Tết thường đi xe đò hay xe đạp lên Núi Cú chơi. Ôi nam thanh nữ tú. Đường bộ leo suốt vài giờ không thấy mệt. Riêng mình, nhà bà Ngoại ở Phong Điền, ngay dưới chân núi Cú nên  từ hồi 4,5 tuổi đã được các cậu cõng lên núi cùng Bamá, có khi ở luôn mấy ngày liền, ăn tương chao đã quen ở chùa này.

Bây giờ đi Tà Cú đã có cáp treo. Trong đoàn có nhà văn Elena, người Ý, vợ nhà văn Trương Văn Dân cứ nhứt định “Tà Cu, Tà Cu” dù đã học tiếng Việt mấy năm vẫn chưa phát âm đúng!

Tà là “núi”, vùng này mình có Tà Cú, Tà Dôn, Tà Đặng, Tà Lài… Cũng như La là “sông”, có La Gi, La Gàn, La Ngà, La Ngâu v.v… (tiếng Chăm).

Tà Cú nổi tiếng với tượng Phật nằm, dài 49m, được xây dựng từ năm 1960 đến nay vẫn là một thắng cảnh tuyệt đẹp. Cậu Nguiễn Ngu Í mình đã có mấy câu thơ về Tà Cú:

Nhè nhẹ sương bông ôm núi lịm 

Êm đềm cây cỏ đắm trong mơ

Tiếng chuông đâu bỗng rung lòng đá

Ngó xuống trần ai thấy mịt mờ…

(Nguien Ngu I, 1945)

Tà Cú, 14.1.2019 (ảnh Nguyên Minh)

 

 

 

 

Đường lên chùa chính: Linh Sơn Trường Thọ Tự. Sau khi đến ga cáp treo, đi một đoạn rồi leo dốc này cũng đủ bỡ hơi tai! Từ đó còn phải leo tiếp lên dốc cao dựng đứng hơn nữa mới tới chân Tượng Phật Nằm.

Dĩ nhiên hai ông già, là Đỗ Hồng Ngọc với Nguyên Minh đành ngồi dưới dốc ngó lên. Mới năm ngoái còn leo ngon lành đó thôi!

Nhớ nhà thơ Nguyễn Như Mây Phan Thiết có bài thơ về Tà Cú, đại khái: Xưa, ta lên chơi núi, chê núi còn non. Nay ta lên chơi núi, núi chê ta già, không tiếp!

Vậy đó. Thiệt dễ giận!

về Phan Thiết không thể không nhớ trường xưa, bạn cũ… bạn ạ. Trước khi vào Đệ thất (lớp 6 bây giờ) của Phan Bội Châu thì mình học  trường Bạch Vân của cô Hồ Thị Tiểu Sính (con Út cụ Hồ Tá Bang) – vợ thầy Lâm Tô Bông-  ở trong một ngôi… đình: Đình Đức Thắng, đã có từ hàng trăm năm trước, bên cạnh chùa Bà Đức Sanh hội. Đây là một trường tư. Cô Tiểu Sính dặn, phải học giỏi, đứng từ hạng năm trở lên thì được học bổng, tức miễn học phí. Mình đang ở trong chùa HN với gia đình cô Hai, hàng ngày ôm lá buông đi phơi trong sân chùa, sáng sáng ăn một chén cháo muối đi học, nên học rất giỏi, đứng nhất luôn nhiều tháng. Thỉnh thoảng lê guốc xuồng gỗ lang thang qua đường Gia Long (nay là Nguyễn Huệ), Đồng Khánh… để hít thở không khí thị thành cho đỡ nhớ.

Hơn 60 năm rồi còn gì! Các thầy cô không còn ai. Bạn bè nay kẻ còn người mất. Tải, Tạo, Quế, Kỳ, Phượng, Phụng, Tốt, Tươi, Điểu…

 

 

Trường Bạch Vân (trong đình Đức Thắng, cạnh chùa Bà Đức Sanh, Phan Thiết).

Trường nay chỉ còn mái ngói và cột gỗ (mới được lợp và sơn phết lại!).

***

Thôi. Lang thang lạc đề rồi. Tiếp chuyện hiện tại nhé.

Từ Tà Cú xuống, đoàn về thẳng Phan Thiết ăn trưa. Đã có nhà thơ Liên Tâm và ông xã là Đắc, nhiếp ảnh gia hướng dẫn, quá tốt. Phan Thiết bây giờ phát triển khá. Đường sá mở rộng. Công viên, cầu cống, nhà cửa khang trang ở khu phố mới bên kia sông Cà Ty (Mường Mán). Còn khu phố cổ bên này thì vẫn vậy.

Đoàn ghé thăm tháp Chăm Poshanu, khu Lầu Ông Hoàng rồi thẳng đường ra Bàu Trắng. Tuyệt vời. Một người bạn kêu lên: y như đến Dubai rồi đó! (đang có Asian Cup ở Dubai, UAE mà!).

Phải đi xe đặc chủng để leo đồi cát mênh mông bên một hồ nước xanh ngắt cạnh bờ biển thật lạ lùng.

 

Bàu Trắng, Mũi Né Bình Thuận (ảnh QMK)

 

Nguyên Minh, “ông chủ” Quán Văn núp trong xe đặc chủng chưa dám bước ra, chụp một tấm hình kỷ niệm với ĐHN (Bàu Trắng, Bình Thuận 14.1.2019)

 

Đỗ Hồng Ngọc… cũng không dám leo lên xe đặc chủng cá nhân chạy một vòng đồi cát… !

 

 

Nhớ hôm đăng ký đi Phan Thiết với nhóm bạn Quán Văn, có người kêu Phan Thiết có gì đâu mà… coi! Bây giờ thì thấy “có lý” quá rồi.

Chiều đó, đoàn về Phan Rí cửa. Đã có nhà thơ Nguyễn Dương Quang đón ở Ks Bông Hồng!.

Một đêm sinh hoạt ngoài trời khá hấp dẫn. Nhóm nướng hải sản, khoai bắp, nhóm ca hát, vì trong đoàn có nhạc sĩ Đình An, ca sĩ Quách Mạnh Kha và nhiều nữ… ca sĩ như Mỹ Lệ, Tịnh Thy, Trúc Hạ…

 

Sáng sớm hôm sau, sau chầu café do chủ nhân Nguyễn Dương Quang chiêu đãi (café Đalạt thứ thiệt bên bờ biển Phan Rí cửa) thì đoàn đi thăm chùa Hang nổi tiếng ở đây và sau đó, thăm bãi đá bảy màu đặc sắc của Lương Sơn…

 

Chùa Hang

 

Bãi đá 7 màu.

Trên đường trở lại Phan Thiết, đoàn ghé Suối Tiên ở Mũi Né. Xưa là một cái suối rất hoang sơ, nay đã bộn bề khai thác du lịch, dù có sạch đẹp hơn nhưng bắt đầu nhộn nhịp quá rồi…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chiều tối về Phan Thiết, mình đưa cả đoàn đi ăn bánh căn rồi đi ăn Chè Mộng Cầm. Đi Phan Thiết không thể thiếu 2 món này nhé.

Lạ lùng, ai cũng khen món bánh căn rất nhà quê của xứ mình.

 

 

 

Sáng 16.1.2019 nhóm nhỏ mình lẻn ra quán café bãi biển Phan Thiết ngồi ngắm bình minh. Nhà thơ Nguyễn Như Mây ghé thăm, kể mấy chuyện của chàng rất vui…

 

từ phải: Nguyễn Như Mây, Vũ Trọng Quang, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Chị Quý (vợ VTQ). Cafe Bãi biển Phan Thiết 16.1.2019

sau đó đoàn ghé thăm Thanh Minh tự, một ngôi chùa phục dựng trên nền ngôi đình Thanh Minh cũ của Phan Thiết, hy vọng giữ được chút hồn “thu thảo”- bởi ngày nay những đền chùa miếu mạo thường sặc sở náo nhiệt diêm dúa trong cõi người ta!

Trên đường về, vì đoàn còn thăm nhà thơ LNP ở Xuân Lộc nên lần này chưa ghé được  Kê Gà như nhiều bạn đang mong. Hẹn dịp khác.

Chuyến đi có thể coi là một chuyến “du xuân” sớm của tạp chí Quán Văn của Nguyên Minh và nhóm bạn văn.

Năm sắp mới rồi. Chúc bạn “Ý Như Vạn Sự” nhé.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………….

28.1.2019

Viết thêm:

Cảm ơn em, Nguyễn Thanh Cảnh- người nhạc sĩ đã viết rất nhiều ca khúc về Phan Thiết và đã phổ bài thơ Trên sông khói sóng của Đỗ Hồng Ngọc từ năm 2016.

Đúng là bây giờ nghe lại bài hát này thấy rất hay đó em ạ.

Xin phép em được chia sẻ nơi đây nhé.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

thơ Trần Vấn Lệ: Nguyên Đán (tây!)

02/01/2019 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Nguyên Đán

Ngày Đầu Năm / Nguyên Đán, trời nắng và trong xanh.  Một nụ hoa Bình Minh nở chan hòa muôn hướng. Nhiều tiếng chim hót sớm chào mừng khắp thế gian…Kìa ai đó hân hoan, áo dài vàng qua ngõ…Gió phất phơ tà lụa…người thơm như bài thơ…

Ngày Đầu Năm ngày mơ / người chúc người hạnh phúc / thấy mọi nơi mọi lúc / thấy ở từng miệng cười / nghe ở từng khóe môi / câu tình ca muôn thuở…như Mạ ru em nhỏ…như Ba nói tâm tình…như ca dao ta- mình / như tình yêu bất tận!

Ôi chao ngày Nguyên Đán…tôi là đứa học trò / đang nghe lời Thầy Cô / làm bài luận Năm Mới.  Cõi đời có thay đổi nhưng cõi lòng thuỷ chung!  Yêu quá mái ngói hồng / mây bềnh bồng trên ngói / khung cửa sổ nắng rọi.  Yêu quá, biết gì không?  Thưa đó, những tiếng lòng / thời tuổi xanh êm ái…giống như dòng nước chảy / quanh bờ lau lách sương…

Yêu có nghĩa là Thương!
Thương thì không hề Ghét!
Ai biểu em mắt biếc cho trời trong nắng xanh?
Ai biểu em yêu anh…hôn không chỉ một miếng!

Giữa mùa Xuân én liệng, áo dài ai gió bay…

Trần Vấn Lệ

(01.01.2019)

……………………………………………………………..

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn

Hai Trầu: Đọc lại “Nếp Sống An Lạc” của Bs ĐHN

29/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc lại “NẾP SỐNG AN LẠC”

của Bs ĐỖ HỒNG NGỌC

 

Thế là thêm một lần nữa năm lại sắp hết, có nghĩa là người thì cũ nhưng tuổi đời lại sắp thêm một tuổi mới nữa rồi! Làm sao mà có một “nếp sống an lạc” được đây! Thôi thì, chi bằng nói dong nói dài, hổng gì hơn là tôi thử ngồi xuống đọc lại tác phẩm “Nếp Sống An Lạc” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc xem sao!

Tôi thường nghe trong dân gian hay nói “an bần lạc đạo”, hoặc “an cư lạc nghiệp”, tức là hai cặp thành ngữ ấy đều có mấy chữ “an lạc” đi kèm. An bần lạc đạo, thường được hiểu một cách nôm na là yên phận nghèo mà vui với lẽ trời hoặc chịu phận nghèo mà vui vẻ để mà sống, không oán người cũng như không trách trời. Nguyễn Công Trứ trong bài Hàn Nho Phong Vị Phú có câu:

“Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ,

Dường ngâm câu lạc đạo vong bần;

Gặp anh em khi bàn bạc sự đời,

Lại đọc chữ vi nhân bất phú.”

Còn an cư lạc nghiệp là thời thái bình ai nấy đều ở yên chỗ ở của mình và vui với nghề nghiệp của mình như trong thơ xưa có câu:

“Thời thịnh trị an cư lạc nghiệp,

Khắp muôn nhà đều hát khúc hoan ca.”

Ngoài ra, mỗi lần chuẩn bị bước sang một năm mới, người ta cũng thường gởi lời chúc cho bạn bè thân thiết lời cầu chúc “Thân tâm thường an lạc”, như vậy với ý nghĩa gì? Thật tình ra, tôi đôi lúc cũng hiểu mấy chữ “Thân tâm thường an lạc” hay nói gọn là “Thân tâm an lạc” một cách lờ mờ lắm! Đại khái là con người có hai phần, một là thể xác, thuộc về thân thể, vật chất; hai là tinh thần gồm cái tâm và cái tình cảm của mình. Hai chữ thân và tâm ấy nó ở cùng trong một con người, không tách rời được! Vậy thì muốn được an lạc thì phải làm sao? Có phải cùng một lúc mình làm cho cái thân vui, đồng thời cũng làm cho cái tâm vui nữa không?

Vậy, xin mời bạn thử theo Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, qua tác phẩm Nếp Sống An Lạc, để coi cuộc đời này có gì vui! Sách “Nếp Sống An Lạc” (với cái tựa sách đầy đủ là “Trò chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về nếp sống an lạc”, đây là một tập tài liệu tập họp các bà nói chuyện của tác giả như trong lời tựa: “Mấy năm gần đây, tôi thường được mời nói chuyện về “Một nếp sống An lạc” ở nơi này nơi khác. Có khi ở một ngôi chùa, có khi ở một trung tâm mục vụ, có khi ở một hội quán, câu lạc bộ doanh nhân, một nhóm bạn trẻ, hoặc cùng các bậc trí thức…”(NSAL, trang 7)

Nhìn một cách tổng quát, tác giả nhắc cho bạn đọc đến bốn lượt hai chữ “hạnh phúc”; như vậy, dù muốn dù không, hai chữ “hạnh phúc” cũng có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và cuối cùng mà tác giả muốn bàn trong các chủ đề trọng yếu của cuốn sách, giúp cho mỗi người trong chúng ta có thể sống với một nếp sống an lạc sao cho hạnh phúc. Chẳng hạn, ngay ở chương đầu: “Một nếp sống hạnh phúc”, trước tiên người đọc sẽ rất thú vị khi gặp ngay sự phân biệt của tác giả khá chi tiết thế nào là nếp sống và không hẹp hòi gì, tác giả minh định liền:

“Khi tôi nói “một nếp sống” cũng có nghĩa là chúng ta có thể có rất nhiều nếp sống hạnh phúc khác nhau: có người chọn “nếp” này, người chọn “nếp” kia, không chắc nếp sống của người này là đúng hơn của người kia đâu.” (NSAL, trang 11)

Chính vì nếp sống hay cách sống mỗi người khác nhau như vậy nên hạnh phúc cũng vậy, mỗi người quan niệm hạnh phúc rất khác nhau. Và tác giả cũng nêu ra nhận định:

“Mỗi người hiểu hạnh phúc theo một cách riêng: Có người nghĩ hạnh phúc tức là làm được một cái gì đó thành công, có người thì nói chỉ cần tôi hơn người hàng xóm là tôi hạnh phúc rồi… Như vậy có rất nhiều thứ để người ta nhận định hạnh phúc là như thế nào. Cho nên nói về đề tài hạnh phúc là rất khó, mà tôi nói về một nếp sống hạnh phúc thì còn khó hơn nữa.” (NSAL, trang 14)

 Trong đề mục này, tác giả dẫn ra bài ca dao:

“Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,

Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè,

Tháng Tư đong đâu nấu chè,

Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm,

Tháng Sáu buôn nhãn bán trăm,

Tháng Bảy ngày rằm xóa tội vong nhân,

Tháng Tám chơi đèn kéo quân…”

Rồi tác giả nhận định: “Tức là cả năm chỉ thấy… vui chơi không! Vậy không phải “hạnh phúc” là gì! Rồi làm ruộng thì người xưa làm một mùa thôi nhưng cũng ăn đủ cả năm rồi, thành ra họ rất thảnh thơi, vui thú.” (NSAL, trang 14)

Vâng, về điểm này, tôi với tư cách là một người đọc nhà quê già, có một thời khá lâu tôi chứng kiến những năm còn làm lúa sạ, lúa mùa với mỗi năm chỉ làm một mùa lúa duy nhứt ở miệt Mặc Cần Dưng (Long Xuyên), tôi biết rất rõ bà con nông dân tay lắm chân bùn nhưng nhà nào cũng lúa đầy bồ, vui lắm! Đó là chưa kể tới mùa mưa bắt cá lên đồng; tới mùa nước lên giăng câu, giăng lưới; tới mùa nước gần giựt bắt chim lượm trứng trên cánh đồng lúa trổ đòng-đòng; tới mùa cá ra sông, cá dại, ôi thôi, cá tôm biết làm gì cho hết cá, hết tôm nổi đầy mặt nước và còn nhiều thú vui vơi mùa màng những ngày xa xưa ấy nữa; nên về điểm này tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả là:“… làm ruộng thì người xưa làm một mùa thôi nhưng cũng ăn đủ cả năm rồi, thành ra họ rất thảnh thơi, vui thú.”

Để xác nhận người xưa “thảnh thơi, vui thú” hơn người nay, tác giả viết:

“Còn bây giờ chúng ta sống “hùng hục”, chúng ta làm đầu tắt mặt tối, từ sáng đến chiều, làm từ ngày này qua ngày khác, hết việc ở cơ quan, ở công ty rồi mang một đống việc về nhà làm tiếp. Cho nên dù bây giờ chúng ta có phương tiện dồi dào hơn, nhà cửa sang trọng hơn nhưng dường như lại thiếu hạnh phúc hơn người xưa.” (NSAL, trang 15)

Thưa vâng, về điểm này, tôi xin ghi thêm ở đây, chẳng phải chỉ đời sống ở thành thị như tác giả vừa lược kể thì sự bận rộn vốn phải chạy theo thời là như vậy đã đành; còn ở nông thôn, nơi mà ngày nay người nông dân phải làm ruộng mỗi năm lên tới ba mùa; hết mùa Đông Xuân, qua mùa Hè Thu, hết mùa Hè Thu lại sang tới mùa lúa lỡ kế tiếp nữa…

Do vậy, con người chạy theo thời không được nghỉ ngơi gì thì đã đành, mà đất đai cũng không được nghỉ ngơi để nhận lại phù sa cho mùa mới; mà làm gì có phù sa cho đất mầu mỡ khi người ta khôn lanh quá mức cứ lấy sức người đắp đập ngăn nước bốn mùa không cho nước lên đồng để tận dụng sức đất, chẳng những đất thì khô cằn, cá tôm cũng không có nước lấy gì mà sinh sôi nẩy nở để mà sống, cho chí đến cua ốc, cái loài sinh vật gần gũi với nhà nông nơi đồng ruộng cũng hổng có luôn nữa mà kết quả nhận lại được gì nếu không muốn nói là ngày nay ở nhà quê làm ruộng mỗi năm ba mùa, mỗi mùa ba tháng, mỗi tháng ba mươi ngày vậy mà rồi hổng có nhà nào có được một hột lúa để ví bồ, để dành ăn, chứ đừng nói gì lúa trăm, lúa thiên như hồi sáu bảy chục năm trước làm ruộng mỗi năm chỉ có một mùa mà lúa bồ, lúa lẫm! Rồi chắc bạn sẽ đặt câu hỏi: Sao lại có hiện tượng lạ như vậy được? Thưa bạn, có chứ!

Vì ngày nay người ta văn minh dữ lắm! Họ chế ra máy cắt, máy gặt, máy suốt lúa chung vô một cái máy thôi, hổng có kêu công cắt, công gặt gì ráo trọi! Thế là tới lúc lúa chín thì hẹn máy tới rồi chuẩn bị bao bị giao cho chủ máy họ cắt, họ suốt lúa và hứng lúa hột vô bao luôn; xong đâu đấy họ chở lúa ra tận bờ kinh và chủ ruộng ra bờ kinh có ghe mua lúa chờ sẵn và cứ cân lúa tươi lúa ướt mà tính tiền. Tiện lắm! Còn lúa đâu mà vô bồ vô lẫm gì nữa! Tiền bỏ túi chưa nóng bàn tay thì lại ma-róc trả tiền mua phân còn thiếu chịu, trả tiền máy cắt máy gặt vừa rồi, trả tiền thuốc sâu, phân bón mua chịu mấy tháng trước, trả tiền cày, tiền bừa, tiền trục, tiền trang đất cho bằng vân… vân…, trăm thứ tiền…, rồi lại vùi đầu lo làm mùa mới tiếp theo! Làm sao có thì giờ đâu mà nghỉ ngơi, an lạc, hạnh phúc?!?

Hồi đời xưa, một khoảng đất có tên là Đông Pha, nằm về phía đông của Hoàng Châu, Tô Đông Pha làm ruộng ở đó và ông có làm tám bài thơ thuật sự  tại đây dể tả cảnh sinh hoạt thường ngày của mình, trong đó có bài thơ thứ V, ông có nhắc về việc làm ruộng:

“Lương nông tích địa lực

Hạnh thử thập niên hoang

Tang giá vị cập thành

Nhất mạch thử khả vọng…”

 Tuệ Sỹ dịch:

 “Nhà nông giỏi thì biết tiếc sức đất.

Đất này nhờ mười năm bỏ hoang

Dâu đỏ dâu đen chưa đến lúc lớn,

có thể mong được một mùa lúa mạch…”

Vâng làm ruộng mà không cho đất nghỉ, không “biết tiếc sức đất”, chẳng khác nào mình tự mang cái nghèo đeo lên cổ mình vậy!

Thưa bạn,

Thêm nữa, tôi cũng để ý thấy về việc sanh nở trong chương “Cân bằng cuộc sống”, tác giả vào đề một cách nhẹ nhàng nhưng vẫn gây cho người đọc theo dõi câu chuyện khá hồi hộp, vì vấn đề “cân bằng cuộc sống” nó liên hệ rất mật thiết đến hạnh phúc, đến an lạc chứ hổng chỉ là sống sao cũng được, cân bằng hay không cân bằng gì cũng được:

“Bây giờ có vẻ cuộc sống của chúng ta ngày càng thiếu cân bằng, thiếu cân bằng thì cuộc sống sẽ không hạnh phúc, không an lạc được.”(NSAL, trang 83)

Và tác giả có kể một câu chuyện thực tế để làm thí dụ về sự thiếu cân bằng cuộc sống, đó là việc sanh nở hồi đời trước và việc sanh đẻ ngày nay không còn giống nhau nữa:

 “Năm 1986, khi tôi tới xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè thực hiện chương trình Chăm Sóc Sức Khỏe Ban Đầu (Primary Health Care) cùng với các đồng nghiệp của Sở Y Tế thành phố thì Hiệp Phước còn là một xã cù lao rất nghèo, chưa có công nghiệp hóa như bây giờ, lúc đó còn nhà quê lắm, phải đi xuồng qua sông chớ không có cầu như bây giờ. Ở đó bệnh sốt rét rất nhiều, rồi suy dinh dưỡng các thứ và nhất là tỉ lệ sanh đẻ rất cao. Sông nước chằng chịt, chưa có cầu đi lại nên nhiều khi người ta đẻ rớt trên thuyền. Hỏi người ta tại sao để bị sốt rét nhiều thì họ nói là họ có thói quen ngủ mùng nếp; ngủ mùng nếp có nghĩa là nhậu rượu đế vào rồi say nằm ở trần cứ thế mà ngủ nên muỗi đốt họ và gây bệnh sốt rét. Tỉ lệ phát triển dân số vùng này rất cao, hỏi tại sao thì họ trả lời là : “Tại vì ở đây không có cái gì vui hết chỉ có đẻ là vui thôi, cứ nhậu rồi đẻ…”(NSAL, trang 84).

Vậng, thưa bạn, cứ như cái lệ, chỗ nào càng buồn buồn, càng vắng vẻ thì chỗ đó dân số tăng lên. Chẳng hạn, đâu có khác gì chỗ xã Hiệp Phước ở Nhà Bè mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nêu lên là dân số đông, mà dưới các làng quê miền Tây dưới chỗ tôi ở, hồi đời xưa cho chí đến mấy năm thập niên 1980-1990, bà con dưới quê còn thói quen sanh con nhiều lắm! Cặp vợ chồng nào cũng có tối thiểu năm ba đứa con; còn trước đó nữa, tức những năm 1940-1960, có nhiều cặp vợ chồng có tới bảy tám đứa con, có khi có cả chục đứa nữa; hết út mười, rồi đẻ thêm vai đứa nữa đặt tên Út Mười Một, Út Mười Hai cho đủ chục có đầu! Gia đình nào cũng đông rần-rần, rồ-rộ; gia đình nào cháu con cũng xôm tụ, vui lắm! Có khi, vô măm cơm phải nấu cơm bằng nồi gang, loại nồi số 10, hoặc số 12, sắp nhỏ ăn mới đủ!

Mất hào của đặng hào con cũng quý nhưng hơi chật vật vì phải lo miếng ăn, lo quần áo, lo nhà cửa cho có chỗ cho con cái ăn ở, vậy là chắc chưa an lạc được; nhưng nói như tác giả kể thì nhiều cặp vợ chồng muốn có con mà hổng có được, cứ làm vợ chồng son hoài, cũng chưa chắc là được an lạc, được hạnh phúc:

“Bây giờ tôi thấy nhiều người đẻ không được, vô sinh, đi thụ tinh nhân tạo rất là khổ; còn ngày xưa thì người ta sinh đẻ dễ dàng, thậm chí người ta còn bảo là con trai con gái đừng ngồi gần nhau, đừng nắm tay nhau, chỉ cần ngồi chung chiếu thôi là đã có bầu rồi.”(NSAL, trang 85).

Có lẽ ngày nay, nhiều người trẻ nghe bác sĩ nói hoặc đọc thấy như vậy chắc có là sẽ ngạc nhiên lắm; nhưng ở thế hệ của tôi, hồi sáu bảy chục năm về trước, tôi cũng tin như vậy và hổng dám nắm tay ai và cũng hổng dám ngồi gần ai!

Cân bằng cuộc sống mà tác giả nhấn mạnh trong Nếp Sống An Lạc, không chỉ cân bằng việc sanh sản, mà còn nhiều khía cạnh khác nữa. Đây là một vấn đề cấp thiết và khó vì cuộc sống theo phân tích của tác giả là bao gồm nhiều khía cạnh, nhưt là thời đại văn minh tiến bộ về kỹ thuật tân tiến của khoa học computer ngày nay, nó dễ gây ra nhiều hậu quả không phải ai cũng dễ nhận ra và tránh khỏi. Chẳng hạn dễ bị căng thẳng đầu óc, vợ chồng ít có thời giờ dành cho nhau vì mạnh ai nấy đi làm đầu tắt mặt tối suốt ngày này qua ngày khác; tình cảm giữa người này với người khác nói là thân nhưng lại rất hời hợt, và nếu không muốn nói là đôi khi rất mất lịch sự theo cái nhìn của người già. Chẳng hạn, nói là rủ nhau ra uống cà phê nhưng những người bạn ngồi chung bàn chẳng ai nói với ai lời nào mà cứ chăm chú theo dõi cái điện thoại cầm tay coi ai gởi tin nhắn, hoặc ai gởi email, etc… mà hổng để ý gì đến người bạn ngồi bên cạnh mình có khi khá lâu mới được gặp lại nhau! Tác giả than với trang sách nhưng mà người đọc già nhà quê như tôi nghe ra cũng thấy rất đau lòng:

“Trái đất còn như một hòn bi thôi, rất gần gũi. Mình gửi email, bấm một cái là ở bên kia nửa vòng trái đất bạn mình nhận được trong vòng chưa tới một giây. Mình thấy như vậy là hạnh phúc nhưng nó cũng có mặt trái. Phương tiện kỹ thuật có vẻ như giúp mình gần nhau nhưng thiệt ra thì xa nhau hơn; chẳng hạn như cả nhóm bạn ngồi bên nhau, nhưng mỗi người một cái máy di động, vui cười trò chuyện với một người khác ở phương trời nào đó…” (NSAL, trang 87)

Ở chỗ khác trong chương “Cân bằng cuộc sống” với giọng văn như một người bạn, mà cũng là một vì thầy thuốc, tác giả từ từ hỏi và kể lại rất ân cần, mà tôi nghĩ anh bạn nào được tác giả hỏi như vậy chắc là vừa ngại ngùng vừa e thẹn dữ lắm, nếu nghe được lời khuyên của tác giả:

“Tôi thấy có nhiều bạn trẻ mời tôi đi ăn trưa mà mỗi người rút trong túi ra một cái hộp có 6-7 món thuốc để uống một cách tự nhiên, thành phản xạ. Tôi hỏi uống thuốc gì vậy thì các bạn kêu là uống thuốc bổ, tôi mới hỏi uống làm gì vậy, mình đâu có thiếu đâu mà uống, mình phải thiếu thì mới cần bổ chứ, đàng này thấy người ta uống mình cũng uống, vừa tốn tiền vừa vô ích.”(NSAL, trang 106)

Ở chương “Có một con đường hạnh phúc”, tác giả mở đầu:

“Đây là lần đầu tiên tôi đến đây, cũng là lần đầu tiên tôi nhận được một lúc hai bó hoa, thường thường có một bó; thành ra đó là một điều rất đặc biệt, rõ ràng là không cần đi tìm hạnh phúc đâu nữa, đây là một niềm hạnh phúc rồi.”(NSAL, trang 117)

Biết rằng, muốn định nghĩa thế nào là hạnh phúc rất là khó, tác giả đã vào đề một cách vừa trực diện mà cũng vừa mở ra một ý niệm rất bao quát về hai chữ “hạnh phúc”; theo đó, người nhận là tác giả đã nhận ra mình nhận được một lần được tặng hai bó hoa là “một niềm hạnh phúc rồi”, và ngược lại, những người tặng hoa cho diễn giả khi được diễn giả nói lên như thế, họ có biết rằng họ cũng hạnh phúc lắm không?

Sở dĩ, tôi có suy nghĩ ấy vì rằng, đôi lúc có người mang tặng cho người khác một món quà đơn sơ nào đó, hoặc một vật nào đó mà họ để hết tấm lòng của họ vào món quà ấy mà người nhận lại vô tình hờ hững không nhận ra tấm lòng của anh bạn mình, thì dĩ nhiên người tặng quà chắc cũng kém vui; mà đã gọi là kém vui thì làm sao mà hạnh phúc cho được! Phải vậy hông? Do vậy mà hạnh phúc là một hiện tượng tương tác, cộng hưởng giữa người này với người khác trong cuộc sống; chứ một mình mình thôi thì khó có hạnh phúc lắm!

Trở lại trong chương này, như tác giả mở đầu với đề nghị “Chúng ta nói chuyện hai chiều chứ không phải một mình tôi nói”, với những câu hỏi của người nghe và câu trả lời của diễn giả; gồm cả thảy sáu khách mời đặt câu hỏi và tác giả là diễn giả giải đáp những câu hỏi bao quanh vấn đề hai chữ “hạnh phúc” một cách rành mạch, lôi cuốn, hấp dẫn…

Đỗ Hồng Ngọc và Hai Trầu tại Hồ Kỳ Hòa, Saigon 2017.

Hồi năm ngoái, tháng 6 năm 2017, tôi đã đọc tác phẩm Nếp Sống An Lạc của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dịp lần đầu tiên ghé thăm anh ở hồ sen Kỳ Hòa (Sài Gòn) anh có nhã ý ký tặng; nay sau hơn một năm, vào những ngày cuối năm 2018, tôi ngồi đọc lại và ghi vội mấy hàng này với một tâm cảm rất vui và hạnh phúc khi nhớ lại lần gặp tác giả lần đầu ấy, mặc dù không có thời giờ nhiều mà trời lại cứ mưa nữa, những chiếc lá sen trên mặt hồ hứng đầy những giọt nước mưa long lanh trong vắt, mà gốc phượng già xa xa bên kia bờ hồ đứng lặng trong mưa là những hình ảnh mà tôi cho là đẹp và hạnh phúc giữa một khung cảnh thân ái với tác giả và gần gũi giữa Sài Gòn. Không biết nói gì hơn là tôi xin chân thành đa tạ Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tác giả Nếp Sống An Lạc, đã thân ái tặng cho tôi những giây phút vô cùng an lạc và hạnh phúc ở những ngày tuổi già của tôi từ hồi năm ngoái tơi nay rồi vậy!

 

Hai Trầu

Houston, ngày 28 tháng 12 năm 2018

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 12, Đà Lạt

26/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Tháng 12, Đà Lạt 

Không định có thư này, nhưng cũng tại Nguyễn Quang Chơn ở Đà Nẵng lang thang Đà Lạt phone hỏi anh đang ở đâu vậy, tụi em tới uống café nhé. Ối trời. Mình ở Saigon, hắn ở Dalat kia mà. Thì ra tại cái hình này:

 

Cà phê một mình ở sân vườn Cadasa. Khu biệt thư cổ trên đường Trần Hưng Đạo, Dalat.

Gởi hình này cho NQC từ mấy ngày trước, sao bây giờ mới tới?

Lần nào lên Dalat mình cũng ghé đây làm một ly cafe, tĩnh lặng hơn ở Thanh Thủy hay Thủy Tạ bây giờ. Không gian rộng vắng, còn chút thiên nhiên, cây cao bóng cả, hoa cỏ loanh quanh…

Năm ngoái đi Dalat đúng Noel, kẹt cứng xe cộ. Năm nay đi sớm. Nghe mưa cả tuần, may sao, nắng đẹp. Thời tiết Dalat. Kệ nó.

Lần này, có GS Nguyễn Thế Hùng, “ông chủ” Cadasa, khu biệt thự cổ mời ghé chơi nên mình được dịp sống vài hôm ở đây. Nghe Hùng kể lại những buổi đầu đầy khó khăn để giữ lại được khu biệt thự cổ hàng trăm năm này- rất đặc trưng Dalat. Ở đây mà biến thành cao ốc thì không còn gì Dalat nữa. Như những đồi thông ngày càng trọc. Các tòa nhà cao tầng vút lên. Nhiều khách về Dalat bây giờ phải đi vùng sâu vùng xa, tìm chút thiên nhiên ngày nào.

 

Góc biệt thư… có chút “hoa vàng trên cỏ xanh” (NNA).

Còn chút “hoa vàng trên cỏ xanh” đây thôi. Hoa cúc dại đó. “Chỉ còn anh và em/ Là của mùa thu cũ” (Xuân Quỳnh). Và những cây thông cổ thụ…

Mình rất dị ứng thấy bây giờ nhiều nơi người ta chặt bỏ những cây cổ thụ không thương tiếc và trồng vào đó những cây cau kiểng mập ú hoặc ốm nhom loe hoe vài cành lá nghèo nàn…

Dĩ nhiên đi Dalat không thể không ghé quán Chè Hé. Chè ở đây ngon tuyệt. Chè thưng, chè đậu xanh, đậu đen, thập cẩm, chè bắp… gì cũng ngon. Chủ nhân có lẽ là hai vợ chồng trẻ dễ thương, vui vẻ. Gọi chè “hé” vì xưa cửa chỉ dám hé hé, đủ cho một người chen vào, nay có vẻ mở hơi rộng rồi đó. Nay mai lên cao ốc, cửa kiếng sáng choang thì hết “hé” nhé.

 

Mình vốn ‘hảo ngọt”, lần nào cũng làm một lúc hai ba chén luôn! Đừng cười nhé.

 

Và dĩ nhiên lên Dalat không thể không tìm Bánh Căn. Bánh Căn Dalat, Phan Rang, Phan Thiết gì cũng là món ăn nhà quê, quê nghèo, chỉ là bột gạo nướng trên than hồng, với khuôn đổ bằng đất sét… Khi bánh căn cải biên thành bánh khọt đầy dầu mỡ, hoặc đổ bánh trên mảnh nhôm, dùng lò gaz hoặc thêm trứng thêm tôm, mực, thịt… các thứ thì không còn là bánh căn nguyên chất nữa. Ở Phan Thiết… quê mình, cái ngon của bánh căn là nhờ nước mắm. Phải biết “đâm” nước mắm hoặc “giã” nước mắm. Đâm, giã như vậy, ớt mới tươm mật ra, chớ ớt sắc không sao bì được. Rồi phải có tỏi, có đường, có chanh… rồi tỷ lệ nước pha với nước mắm phải đúng mực. Mặn quá, lạt quá đều không ngon. Trời lạnh, ngồi quanh bếp than hồng, đợi bánh nướng thơm lừng, chan với nước mắm hoặc cá kho ngon tuyệt…

Bánh căn Dalat có vẻ đang phục hồi. Khi mình kéo ghế ngồi cạnh bếp than hồng, đã thấy có mấy cặp bạn trẻ chờ đợi. Có một “bí quyết” mà bánh căn Dalat chưa biết thì phải, nên bánh ở đây bên ngoài thì cháy mà bên trong thì nhão. Bí quyết đó ở Phan Thiết là bột… phải trộn với “cơm nguội” lúc xay. Cơm nguội sẽ làm cho bột cứng, dòn, ngon. Thử xem.

 

Gà nướng, cơm lam, chuối Laba…

 

 

 

Chịu khó một chút, ra khỏi Dalat chừng 15km, trên đường đi Suối Vàng có những quán gà nướng, cơm lam, rau rừng… cũng ngộ.

Mình thường chọn cái quán bên cạnh thác nước. Hôm nay vắng khách. May quá.

 

 

 

Lần này về Dalat, tình cờ cùng có cặp Lê Ký Thương- Kim Quy,  Thân Trọng Minh – Thanh Hằng. Nhóm bạn trong “gánh hát” không thể không tìm một cái quán nào đó: đó là bữa cơm trưa ở LH, quán của người bạn, anh Phan Thái và chị Cúc, những người của Dalat xưa:

 

Chị Cúc LH chụp tấm hình kỷ niệm với nhóm bạn cũ.

Và buổi café sân vườn cùng nhắc những bạn bè chốn xa:

 

 

Mình không quên ghé “Thân Trọng điền trang” để thăm và chụp vài tấm hình kỷ niệm vì nghe bạn nói đã bán rồi, bàn giao nay mai. Nơi đây, nhiều bạn bè đã đến, nào Đinh Cường, Bửu Ý, nào Nguyên Minh, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương, Đỗ Hồng Ngọc, Khuất Đẩu, Huyền Chiêu… Đã đến lúc “về thu xếp lại” rồi đó thôi.

Thì cũng như Lagi, căn nhà tuềnh toàng của Đỗ Hồng Ngọc, nơi đã từng nhiều bạn bè ghé qua, Thân Trọng Minh-Thanh Hằng, Lữ Quỳnh – Kim Nhung, Hoàng Quốc Bảo, Thu Vàng, LKThương- KimQuy… nhóm bạn Y dược ở T4G… rồi cũng đã sang tay.

 

Đôi bạn bùi ngùi nhắc vài chục năm trước, nơi đây đã chụp ảnh sương mù…

 

Mình cũng đã ghé thăm Gia đình Hoa Sen, nhóm bạn “văn nghệ” Phật giáo của Thuần Nhiên, Thảo Nhiên, Huệ Nhiên, Như nhiên, Hồn Nhiên, Thanh thản nhiên… Và có một buổi trao đổi về Thiền, và ký tặng sách Thoàng Hương Sen.

Hội ngộ với Gia đình Hoa Sen tại nhà nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh Dalat, 9.12.2018

 

ĐHN ký tặng sách Thoảng Hương Sen (ảnh: Thảo Nhiên, Dalat 9.12.2018)

 

 

 

 

 

Đỗ Hồng Ngọc và Lê Ký Thương (ảnh Thảo Nhiên)

 

Bữa cơm tối của GS Nguyễn Thế Hùng và Cô Thanh Tâm Cadasa mời vợ chồng ĐHN giống như : “Kỷ niệm 50 năm ngày cưới” của bọn mình vậy đó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chúc các bạn một mùa Giáng Sinh vui vẻ và một Năm Mới an lạc, hạnh phúc.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc,

(26.12.2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Tái ngộ Gia đình Hoa Sen Đà Lạt

22/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Tái ngộ Gia đình Hoa Sen Đà Lạt

 

Lần này gặp nhau ở nhà nhạc sĩ Thuần Nhiên (Nguyễn Đức Vinh). Có gần 20 bạn tham dự. Thuần Nhiên mình đã gặp từ Noel năm ngoái cùng Gia đình Hoa sen ở Thảo Nhiên Các trong buổi trà đạo với âm nhạc Phật giáo do chính anh sáng tác. Cũng chính Thuần Nhiên, đêm Noel 2017 đó đã phổ nhạc bài thơ mình viết cho La Ngà trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê – Giỗ Một Dòng Sông- thành bài SÔNG ƠI CỨ CHẢY rất cảm động, đã do Ngọc Vân, Thu Vàng, Narada… hát, cùng với lời Anh của Nguyên Giác Phan Tấn Hải.

Mình gởi bạn vài tấm hình coi cho biết buổi Họp mặt lần này, vào ngày CN 9/12/2018 vừa qua vậy nhé:

 

Một buổi họp mặt thân mật và ấm cúng giữa Gia đình Hoa Sen Đà Lạt với Đỗ Hồng Ngọc, ngày CN 9.12.2018 tại nhà nhạc sĩ Nguyễn Đức Vinh.

 

“Dàn nhạc” ngoài Thuần Nhiên còn có Bác Phu và Phạm Gia Cẩn. Bác Phu “chuyện trị” Mandoline, hòa cùng 2 guitar. Ca sĩ thì có Huệ Nhiên và Thắng, cùng cả nhóm Hoa Sen.

 

 

 

Bác Phu đang thử dây đàn, Huệ Nhiên rót nước mời mọi người, Thắng (áo xanh) có giọng ténor trầm ấm và Duy Việt (Thanh thản nhiên) với bộ râu dài rất đẹp.

 

Phi Hùng Tôn Thất “cameraman” cùng Sơn-Tài không rời nhau nửa bước (Sơn nói vậy). Hình thờ là nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (Du ca), anh ruột của nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh.

 

Trước khi vào buổi ca hát nhạc Phật giáo của Gia đình Hoa Sen, các bạn đề nghị Bs Đỗ Hồng Ngọc nói thêm cụ thể về Thở bụng, Thiền “Quán niệm Hơi thở” dưới góc độ Khoa học y học.

 

 

 

 

Sau đó là phần ký tên tặng cuốn “Thoảng Hương Sen”…

 

Sau phần “trà đạo” và ca hát những bài tự sáng tác của nhóm Hoa Sen (kể cả bài “Sông Ơi Cứ Chảy”), các bạn chụp hình lưu niệm.

 

Ba “bô lão” gồm Duy Việt, Đỗ Hồng Ngọc và “bác Phu” chụp chung tấm hình kỷ niệm. Duy Việt cùng tuổi với ĐHN, còn bác Phu lớn hơn một tuổi, gầy ốm nhưng anh rất khỏe…

 

Đến hơn 5 giờ mình phải vội đi ngay vì có một cái hẹn khác, không thể ở lại để ăn bữa cà-ri chay, mừng sinh nhựt của một thành viên cùng các bạn. Hẹn một dịp khác vậy nhé.

 

Hôm đó nhóm mình còn có Lê Ký Thương (bìa trái) và Kim Quy kịp đến cùng dự với Gia đình Hoa Sen.

 

Vắn tắt, hẹn thự sau.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………………………..

Mời nghe giọng ca Thu Vàng với bài SÔNG ƠI CỨ CHẢY, thơ Đỗ Hồng Ngọc, nhạc Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh.

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

thơ Trần Vấn Lệ: Nhặt Nắng

16/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Nhặt Nắng

Sau một đêm mưa, nắng trở mình, cảm ơn lắm nhé Nắng Bình Minh!  Kìa ai nhặt nắng trong vườn đó / có thấy trong vườn bướm lượn quanh?

Có thấy lòng ai như cũng nắng, choàng vai em ấm được không em…Mình đi đi tới Bồng Lai nhé, chỗ nhạc thơ reo rất não nùng…

Là bởi đêm qua buồn quá buồn, nhạc từ thiên cổ nối mưa tuôn, thơ từ thiên cổ ngâm chưa mục…Sông suối vừa vang tiếng của nguồn!

Em nhặt nắng đi.  Anh cũng nhặt.  Hạt nào là ngọc của riêng em…Hạt nào là bụi mưa còn ướt / mình nhặt hong chờ nắng rực lên…

Mình sẽ đi về Thế Kỷ Mơ…Mình sẽ đi về Xưa Rất Xưa…Áo em gió động màu trăng nhạt / óng ánh tình yêu mỗi sợi tơ…

Và em bung lụa cho anh ngắm / cả dải giang sơn nắng dịu dàng…Một buổi bình minh vào kỷ niệm…ngàn năm ghi ở sách muôn trang!

Sau một đêm mưa, nắng trở mình, bàn tay em hứng cả âm thanh – tiếng con chim hót trên nhành liễu, tiếng của hoa vàng, của bướm xanh…

Nhặt nắng đi em, mình nhặt nắng!  Bà ba mấy túi áo đầy chưa?  Anh yêu Đất Nước mình chi lạ…mà một em thôi!  Thật bất ngờ…

Trần Vấn Lệ

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Những người trẻ lạ lùng

“Về thu xếp lại” tập I: Biết Ơn Mình

13/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

“Về thu xếp lại” tập I:

Biết Ơn Mình

Ghi chú:

minh họa: Đỗ Trung Quân

Như đã có lời thưa trước, nay sắp bước vào tuổi tám mươi, tôi thấy đã đến lúc nên “về thu xếp lại” vì mọi thứ đều có vẻ như “vội vàng thêm” (về thu xếp lại/ ngày trong nếp ngày/ vội vàng thêm những lúc yêu người… TCS) bèn tập hợp một số bài viết trên Trang nhà www.dohongngoc.com này (cũng là 10 năm của Trang nhà), với tập I: Biết Ơn Mình để gởi tới bạn bè như một Kỷ niệm.

Những bài gom góp nơi đây là những bài viết đã post trên Trang nhà (một số đã in rải rác trong sách) được các bạn tìm đọc, chia sẻ nhiều trên mạng, nay gởi bạn để nhâm nhi những khi nhàn rỗi. Đây chỉ là “bản thảo viết tay” dưới dạng PDF để đọc, chia sẻ, không in ấn nhé.

 

minh họa: Đỗ Trung Quân

 

Cảm ơn Phùng Minh Bảo và các bạn trẻ đã giúp chú Ngọc thực hiện bản PDF.

Một số hình ảnh minh họa trong bản này là của Đỗ Hồng Ngọc, Đỗ Trung Quân và vài hình có nguồn từ Internet. Xin cảm ơn tất cả.

Thân mến,

BS Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 12.12.2018)

Ve thu xep lai (Biet On Minh) PDF

Chú ý: Cuối mỗi trang, phía trái, có mũi tên trắng, bấm vào đó để xem tiếp trên PDF nhé.

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Thầy thuốc và bệnh nhân, Thư gởi người bận rộn Tag với:10 năm website, ebook

Đọc thơ bạn thơ: “Sương khói trăm năm” của Võ Tấn Khanh

30/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sương khói trăm năm”

Thơ Võ Tấn Khanh (2007)

Ghi chú: Có lần nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang, trong một bức thư viết tay gởi tôi trên giấy pelure mỏng tanh nói: đọc lại mình, “moa” thấy văn thì ngộ, còn thơ thì ngượng!

Đọc thơ mình thấy ngượng? Võ Hồng giải thích cái gì mà anh anh em em, giấu không nổi nỗi lòng mình! Văn thì còn đổ tại bị vì bởi “hư cấu”!

Có một thời, các nhà thơ thường ký bút danh “rất nữ”, để được ưu tiên vì các ông Chủ bút rất galant. Cái thời thật dễ thương đó chứ. Võ Tấn Khanh ký Tôn Nữ Hoài My, rất Huế…

Năm 2007, anh gom góp một số bài thơ để in thành một tập kỷ niệm, chia sẻ chốn bè bạn thân quen, và kêu tôi viết cho anh cái Tựa. Ừ thì viết.

Người già hay nói chuyện xưa mà!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………

Lắm nỗi không đành!

viết cho Sương khói trăm năm

Thơ Võ Tấn Khanh, 2007

 

Thơ Võ Tấn Khanh như vậy. Không màu mè, hình thức. Chỉ là một thứ tiếng lòng thổn thức, trong lúc lỡ “ngậm ngùi ngợi than” mà thành cung điệu. Có người nói thơ anh “hiền” quá. Mà không hiền quá sao được, anh vốn đã vậy, vốn là vậy.

Gần bốn mươi năm trước có một nhà thơ nữ mang cái tên rất Huế là Tôn Nữ Hoài My có những bài thơ tình trên báo chí lúc đó khiến nhiều bậc mày râu khá ngẩn ngơ. Một hôm, nhà thơ “hiện nguyên hình” thành một trang “nam tử hán”, chính là Võ Tấn Khanh, chàng thư sinh hiền lành, nho nhã, có nét cười hồn hậu, giọng nói nhẹ nhàng như nước sông Phan Rang những mùa nắng cháy. Phải, chỉ những mùa nắng cháy không thôi, chứ mùa mưa lũ thì dòng sông lại trở nên ầm ào dữ dội, đôi lúc tràn bờ. Và, Tôn Nữ Hoài My dạo đó, Võ Tấn Khanh sau này đã có những bài thơ! Nàng thơ đã “hình hiện” cách nào đó, qua một cô My nào đó, quả thật đã làm cho người ta hoài nhớ khôn nguôi:

Tôi nào biết chim xa rừng nẻo lạ

Và trái hồng chín rụng xuống thiên thu

(Hoài My)

Lứa tuổi chúng tôi ai cũng thấm một câu ca dao từ thuở nhỏ: Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội/ Người xa người tội lắm người ơi! Võ Tấn Khanh không kêu tội lắm người ơi, anh chỉ kêu “rụng xuống thiên thu”. Cái gì rụng? Trái hồng. Thứ trái cấm của mối tình đầu đã lỡ.

Lạ, cái mối tình học trò đó. Khi người ta lớn lên, tưởng đã quên, đã nguôi. Nhưng không. Nó vẫn quẩn quanh, quẩn quýt đâu đó, thấm vào cây lá, vào núi thẳm sông sâu:

Cây nhớ lá đã đôi lần khóc gọi

Đường nhớ chân từng lớp cuội rang sầu

Chim nhớ bạn quẩn quanh từng cánh mỏi

Tôi nhớ người như núi thẳm sông sâu

(Hoài My, khi về lại)

Hình như cái xứ Phan Rang đó, cái xứ mà như người ta thường gọi là “gió như phang” mà “nắng như rang” đó có cái gì rất lạ, như sắc lại, keo lại trong tâm hồn những con người đã sống và lớn lên từ đó. Như những vết gạch khắn vào nhau của những tầng tháp cổ.

Xuống một chút thì biển. Lên một chút thì rừng. Thung lũng với những ngôi tháp ngàn năm phì phò hơi thở nóng, những mái chùa cong vút ôm lấy vầng trăng xưa, những cánh đồng nho nhỏ xanh mượt mạ tươi non và những cánh cò trắng phất phơ lặng lẽ hình như đã nuôi dưỡng những tâm hồn mộc mạc mà sâu lắng, chơn chất mà đắm say. Cây cỏ cứ quắt queo lại, củ hạt cứ quắt queo lại không ngờ nhờ đó mà đậm đặc hơn, nồng thắm hơn, ngọt bùi hơn. Hương tỏi, hương ổi, hương cau… ở Phan Rang đều rất lạ. Và rồi, những rặng nho, tầng tầng lớp lớp làm cho người ta dễ ngậm ngùi “cùng trông lại mà cùng chẳng thấy”…

Khanh viết về quê hương mình, về người mẹ tảo tần của mình thật đằm thắm thiết tha:

Nắng trưa rang cháy vườn cây

… … …

Bước xiêu khập khiễng mô gò

Mắt leo lét chậm nhử, mồ hôi tan

(Đời mẹ)

Tôi thích chữ leo lét.. Mắt leo lét. Như một ngọn đèn khô. Hình ảnh sống động của bà mẹ quê miền gió cát bạt ngàn này. Và tôi cũng thích chữ chậm nhử, chậm ghèn. Ít ai đưa vào thơ những hình ảnh như thế. Nhưng với tôi, có lẽ méo mó nghề nghiệp một chút, nó lại rất thơ, nhất là khi viết về người mẹ. Bước chân xiêu vẹo, khập khiễng, còng lưng, nhấp nhô giữa trưa nắng cháy rang người, mắt leo lét, chậm nhử, để kiếm lấy trái bắp trái cà về nuôi con. Khanh như khắc mà không vẽ.

Cũng vậy, dòng sông Phan Rang hiền hòa, mùa nắng phơi trần những bãi cát cho trẻ con vọc phá, mùa mưa ập xuống những cơn lũ, cuốn phăng những mái nghèo ven sông là những hình ảnh đậm sâu trong thơ anh:

Ôi, Phan Rang đã nuôi ta từ tấm bé

Với dòng sông, bãi cát, con đường

(Khúc ly hương)

Rất thường đó thôi. Chẳng có chút gì là cầu kỳ, là thơ mộng! Vài nét bâng quơ. Nhưng phải là những người đã từng phen vọc cát ở lòng sông những ngày nắng hạ, những người đã từng quen lang thang trên những con đường nhỏ rợp bóng me, với tấm lòng hớn hở thênh thang tuổi xuân thì mới nghe hết được những điều giấu nhẹm bên trong.

Tôi đặc biệt thích bài thơ viết về ngôi trường cũ, “Duy Tân, ngày trở lại” của Khanh:

Mỗi bước run theo mỗi ngập ngừng

Từng viên đá cuội cũng rưng rưng

… … …

Còn ai nữa? Còn ai nữa bên song cửa lớp? Còn ai nữa rộn rã buổi trưa hè? Bởi “bầy chim sáo cũ không về nữa”. Thế nhưng không phải vậy. Bầy chim sáo thì không còn mà hơi hướm thì vẫn còn. Những vật vô tri vẫn luôn có một linh hồn.

Vẫn ghế bàn thơm hơi hướm nhau

Bàn tay vụng dại cánh thơ đầu…

Cũng có lúc nỗi đời trăn trở, vất vả, anh cũng muốn tính toan như bao người:

Cũng muốn như người reo thích chí.

Lọc lừa trăn trở bán lương tri

 

Nhưng rồi:

Nghiêng cốc chưa khô lòng đã cạn

Nghêu ngao lời đục rót canh chầy

Vầng trăng vàng những hồn xưa sáng

Có rủ nhau về vui tối nay?

(Độc ẩm)

Khi biết gần gũi “những hồn xưa sáng” thì khó mà người ta tính toan, đo đếm. “Một đời lận đận đo rồi đếm/ Mỏi gối người đi đứng lại ngồi” (Bùi Giáng).

Tới một cái tuổi nào đó, bỗng nhiên người ta ngộ ra nhiều điều:

Dẫu biết trăm năm là sợi khói

Nhưng lòng ta còn lắm nỗi không đành…

Chính cái “lắm nỗi không đành” đó làm ra thơ Khanh.

Võ Tấn Khanh làm thơ tự nhiên như hơi thở của dòng sông, của cánh đồng, lúc yên ả, lúc ầm ào, cứ tự nhiên tràn ra “như không thôi đi được” vậy. Tôi, người bạn anh gần bốn chục năm qua, một hôm bạn gởi cho tập bản thảo, bảo viết đôi lời. Viết cho bạn mình sao khỏi chủ quan? Thôi thì cứ chủ quan vậy.

Đỗ Hồng Ngọc.

…………………………………………

(Cảm ơn Đèn Biển đã gõ Word từ những trang sách! ĐHN)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký, Đọc sách

Hai Trầu đọc lại “Già Sao Cho Sướng?” của ĐHN.

19/11/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Hai Trầu đọc lại “Già Sao Cho Sướng?” của Đỗ Hồng Ngọc

(THỬ ĐỐI CHIẾU VÀI SỰ THẬT NGOÀI ĐỜI VỚI VÀI CHƯƠNG SÁCH “GIÀ SAO CHO SƯỚNG”…)

Hai Trầu Lương Thư Trung,

Hai Trầu Lương Thư Trung, Đường Sách Saigon 9.2018

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã sáng tác, biên soạn và cho xuất bản từ năm 1967 đến nay (2018) được khoảng 50 tác phẩm. Quyển “Già Sao Cho Sướng”  (nguyên tên sách là “Già Sao Cho Sướng? Để Có Một Tuổi Già Hạnh Phúc”)  là một trong số những tác phẩm ấy. Nay tôi ở cái tuổi mà nhiều người gọi là người gìa, tôi thử  đem sự thật ngoài đời của mình để đối chiếu với những điều tác giả ghi trong vài chương sách ấy coi có điểm nào trùng giống với mình không, nghĩa là mình có già thiệt không?

 

Tuổi già! Khi nào thì người ta nhận mình là già? Nhớ cách nay gần 50 năm, một lần về Tân Châu (Châu Đốc) thăm gia đình, gặp một bác gái lớn tuổi, hơi lẫn và dịp ấy có người cháu của bác nói:

“Con thấy Cô không có già!”

Bác ấy trả lời:

“Tôi không biết sao gọi là già?”

 

Sổ dĩ tôi nhớ là vì câu trả lời quá hay và nó mang chút nhân sinh quan của bác về thế nào là tuổi già! Và rồi nó theo tôi trong suốt 50 năm qua, nhứt là mỗi lần nhớ lại có ai đó gọi mình già! Nhưng khi nào thì gọi là tuổi già? Quả đôi lúc chính mình không biết mình già, như trong sách “Già Sao Cho Sướng”, tác giả viết:

 

“Kinh nghiệm riêng tôi thì thực ra chẳng bao giờ biết mình đã già cả! Bạn bè cùng lứa mình già thì có chứ mình thì không! Cho đến một hôm gặp người bạn cũ kể chuyện nửa thế kỷ trước đã từng đi câu cá, đi hái chùm ruột trộm… ở quê nhà với mình, rồi đột nhiên cười lỏn lẻn bảo bây giờ em đã là… bà cố thì mình mới giật mình đánh thót! Mới vài năm trước đây, ở tuổi 72, khi được mời đi nói chuyện đây đó, tôi tự giới thiệu tuổi mình, thính giả vỗ tay rào rào và nói trẻ quá, tưởng mới 60 thôi chứ. Khoái chí, năm rồi, tôi tự giới thiệu mình 74, ai nấy im re! Thì ra có một cái “cột mốc”! (…) Vậy thì có cái già đó.” (GSCS, trang 13)

Theo đó, với riêng tác giả, sự “im re” của cử tọa đánh dấu ở tuổi 74 là tác giả bắt đầu già.

Nhớ lại hồi cách nay khoảng 50 năm, ở quê tôi, vào những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, trên năm chục tuổi được xếp vào tuổi gọi là già và được nể trọng như các bậc trưởng thượng.

Rồi tôi nhớ lại trong sách Tô Đông Pha của học giả Nguyễn Hiến Lê, lúc Tô Đông Pha nhận lệnh bị dày ra đảo  Hải Nam, cụ Nguyễn viết:

“Khi nhận được lệnh, Đông Pha đã sáu chục tuổi (…) Tử Do tiễn anh tới bờ biển. Đêm đó hai anh em nằm trong thuyền ngâm thơ. Đông Pha giao cho em một bức thư gởi cho bạn thân là Vương Củng: “Tôi già rồi mà nay bị đày tới một miền man rợ. Không còn hi vọng gì sống mà về quê hương được nữa.”

 

Do vậy mình có thể suy ra hồi đời Tô Đông Pha, lúc ông sáu chục tuổi, ông nhận là mình đã già rồi! Và đặc biết ở đây, người già trên đảo Hải Nam, hồi xa xưa ấy, dù khí hậu rất khắc nghiệt, vậy mà họ sống rất thọ: “Nhưng rồi thấy trên đảo có những ông già bà cả thọ tám chín chục tuổi, trăm tuổi, ông bắt đầu hiểu rằng thuật sống chỉ là thuật thích ứng với hoàn cảnh. Trong một bức thư gửi cho bạn, ông viết:

“Con kỳ nhông có thể sống trong cát bỏng được, trứng tằm vùi dưới tuyết mà không hư; các nông dân vô học không biết gì về các bí mật của hóa công, cứ theo bản năng mà thích ứng với thời tiết như con kỳ nhông và trứng tằm, thở cái khí nóng ra mà hít cái khí mát vào, nhờ vậy mà thọ. Tránh mọi sự phí sức, thuật sống chỉ có vậy.”

Điều này cũng có thể hiểu như  bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã khuyên người già nên sống “ở đây và bây giờ” trong chương  “Sống Trong Hiện Tại” : “Sống trong hiện tại chính là cách sống tốt nhất của người già vậy.”(GSCS, trang 43)

Nhơn nhắc Tô Đông Pha về tuổi già, cũng xin nhắc trang sách của thầy Tuệ Sỹ:

“Đông Pha tiên sinh có tài làm ra vàng, có thể lấp được sông, nhưng không thể làm cho tóc của mình đừng bạc trắng.”

Điều ấy, cho ta thấy tuổi già không từ một ai và dường như mỗi đời người, ai ai cũng phải đến hồi mình nhận ra mình đã già bởi vậy mà cổ nhân mới có câu:

“Ai ôi trẻ mãi ru mà,

Càng so sánh lắm càng già mất duyên.”

(Ca dao)

Tới một lúc già thiệt thì :

“Phận già cơm hẩm rau dưa,

Già quen việc nặng già ưa nâu sồng.”

(Ca dao)

Nhưng khi nào thì già thiệt? Trong những buổi ngồi uống cà phê với nhau, đa phần là những người quen biết đều xê xích nhau vài ba tuổi; có người quen năm nay 83 tuổi, mỗi khi anh muốn nói ai già, anh thường ví: “Giống như ông già 80!” Mới đây bên Hòa Lan có một người đàn ông năm nay 69 tuổi, ông cảm thấy mình còn rất trẻ, mới như 49 tuổi, nên ông làm đơn xin tòa án cho đổi năm sinh.

Tóm lại, qua vài con số vừa nêu, có thể nói mỗi người có riêng cái mức gọi là tuổi già của mình, và hổng nhất thiết phải thực là già thì mới già, cứ vui lúc nào thì nhận ra mình già vào lúc ấy.

 

Trở lại với Già Sao Cho Sướng của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, với tư cách một người đọc nhà quê già như tôi, tôi thấy các chương sách của tác giả rất khế hợp với tuổi già của tôi vô cùng. Là một người cùng thời, nhỏ hơn tác giả một vài tuổi nhưng có lẽ vì mình không biết và cũng không lưu ý cho lắm, hoặc vô tình mà mình hổng trăn trở gì với tuổi già của mình đã âm thầm lặng lẽ gõ cữa tới nhà mình tự hồi nào mà mình đâu có hay biết gì đâu! Tuy nhiên, với 35 chương trong sách, thì có nhiều chương đối chiếu lại, tôi thấy đã có trải qua như các lời trình bày và căn dặn của tác giả.

 

Chẳng hạn như chương “Kế Hoạch Già”, thú thật tôi đâu có kế hoạch gì đâu, mà chỉ sống phất phơ, thản nhiên và bình thường thôi, không biết sắp đặt gì trước gì sao hết ráo; trong khi đó qua kinh nghiệm của mình và qua tiếp xúc với bệnh nhân trong tư cách là một bác sĩ và tiếp xúc với bạn tu học trong tư cách là một diễn giả về đời sống tu học theo ý nghĩa cao đẹp của đạo Phật, tác giả đã có duyên được tiếp xúc với nhiều giới tu hiền nên cách dẫn giải rất giản dị mà rõ ràng, dễ hiểu về những nhu cầu của người già, mà ai đọc qua cũng có thể áp dụng được như:

–          Nhu cầu sinh học.

–          Nhu cầu an toàn.

–          Nhu cầu tình cảm.

–          Nhu cầu tự khẳng định.

–          Nhu cầu tâm linh.

 

Rồi chương “Chất Lượng Cuộc Sống”, tác giả viết:

“Già không phải là bệnh nhưng già thì dễ mắc bệnh. Mà mắc nhiều thứ bệnh một lúc! Mọi thứ có vẻ như đã sẵn sàng… rệu rã nên việc chăm sóc càng khó khăn hơn. Có một khẩu hiệu : “Bác sĩ tốt nhất là chính mình!” Bởi vì lệ thuộc vào thầy thuốc triền miên thì chất lượng cuộc sống không thể nào cao được! “Tự tại” vẫn luôn là niềm hạnh phúc!”

(GSCS, trang 33)

Về chương này, tôi có anh bạn năm nay cũng tròm trèm ở tuổi 80 và ảnh lúc nào cũng cảm thấy trong người có rất nhiều bệnh. Nào máu cao, rồi cao mỡ, thường hay hảo-hảo mệt, ảnh hay đi chùa lễ Phật và đọc kinh sám hối, nhứt là sợ chết. Thật tình ra anh ấy không có bệnh gì nhiều qua các thử nghiệm và nhận xét của bác sĩ gia đình mà chỉ do là ảnh hay tưởng tượng.

Ở chương “Để Có Hạnh Phúc Tuổi Già”, tác giả tóm lược tuổi già thường có hạnh phúc khi:

–          Chấp nhận mình. Hiểu luật vô thường/ Từ bi với mình. Đừng so sánh mình với người này người kia rồi suy bì, ganh tị.

–          Gần gũi những người trẻ … dễ thương.

–          Có ký ưc tốt về tuổi thơ và tuổi thanh niên của mình.

–          Được sắp xếp cuộc sống riêng theo ý mình, không bị áp đặt.

–          Được xã hội và gia đình chấp nhận, tôn trọng.

Năm tiêu chuẩn vừa kể, tôi thấy tiêu chuẩn thứ nhứt là quan trong nhứt vì mình phải biết mình già là mình sướng nhứt. Mỗi người sinh ra và lớn lên trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, rồi trải qua những đoạn đời cũng khác nhau, nên không ai có thể giống ai trong đời sống như nhau; vì thế mình biết chấp nhận mình đã đành, mà mình còn nên rộng lượng và thông cảm với người khác cũng cùng lứa tuổi với mình mà không giống như mình nữa!

Rồi ở chương “Thiền “Quán Niệm Hơi Thở”, tác giả viết:

Thở bụng, đã là tốt. Thở bụng mà biết “quán niệm hơi thở” còn tốt hơn, vì đó chính là “thiền”. Vừa “thiền chỉ” (samatha), vừa “thiền quán” (vipassana). “Quán” là quan sát một cách sâu sắc, còn “niệm” là nhớ, nghĩ  về.” (GSCS, trang 99)

 

Nhắc đến hai chương này, tôi nhớ “Hồi ở Hàng Châu, Tô Đông Pha đã đêm đêm tập thở, nằm yên không nhúc nhích để chế ngự thể chất rồi chế ngự tinh thần. Bây giờ ở Hoàng Châu, ông luyện lại phép dưỡng sinh và cả phép trường sinh nữa.”

(…)

“Đông Pha cũng tập tham thiền, rồi tập nằm, ngồi theo những tư thế qui định để vận động khí huyết, kiểm soát sự hô hấp, tới cái mức mỗi hô hấp kéo dài được “một trăm hai mươi lần mạch nhảy”, nghĩa là khoảng hai phút. Ông lại rán luyện cho trí óc gạt hết các ý nghĩ tạp đi, tập trung vào một ý, rồi lần lần càng bớt suy nghĩ càng tốt, rốt cuộc tới trạng thái hoàn toàn tĩnh, không nghĩ ngợi gì cả. Ông thấy nhờ vậy, tâm hồn ông thật nhẹ nhàng, sảng khoái, và viết thư chỉ cho bạn bè kinh nghiệm của mình.” 

 

Rồi hồi bị đày ra Hải Nam: “Mùa thu dông tố nhiều, thuyền ở lục địa không ra, nên ông vẫn có lúc đói: hai cha con bó gối nhìn nhau trong căn nhà lạnh và rỗng, “y như nhà tu hành khổ hạnh” vậy. Có lần ông nhớ những con ếch, con rắn ở dưới ruộng hay trong hang thường ngóc cổ lên để đớp ánh nắng ban mai. Đói qua, ông bắt chước chúng, ngồi ở trước cửa, há miệng ra hớp ánh nắng, một lát thấy bớt đói, mừng quá, ghi vào nhật ký: “Giản dị như vậy mà sao người ta không biết mà thực hành? Có lẽ tại muốn vậy thì phải có đức tự chủ mà ít ai tự chủ được. Gạo ở Đam Châu này đắt quá, cha con tôi phải dùng thuật ăn nắng. Ngày 14 tháng 4 năm 1099.” 

Phải chăng Tô Đông Pha bắt chước rắn, ếch trong cách “ăn nắng” cũng là một cách thở, mà ít ai để ý và áp dụng.

Ghi lại điều này, thấy điều rất quan trọng là từ thời rất xa xôi, người xưa đã biết tập thở và tập thiền quán rồi và cũng có ý ghi chép lại để truyền bá.

Ở chương “Lãng Tai Đâu Chỉ Mình Ta”, tác giả viết:

 

“Hơn một phần ba số người bị lãng tai từ tuổi 65 trở lên. Vậy ta có lãng tai một chút thì cũng là chuyện bình thường thôi! Đâu phải chỉ mình ta. Mà lãng tai một chút cũng hay chớ. Khỏi phải nghe những lời nói xấu mình! Cái gì thích nghe thì nghe, không thì thôi.”

(…)

Kinh nghiệm là nếu bị lãng tai, đừng buồn! Ai biểu … già chi! Già thì nó vậy. Đâu phải chỉ mình ta. Tai kém mắt kém, cái gì cũng kém. Già mà tai thính, mắt tinh hoài thì ai chịu cho nổi!” (GSCS, trang 132)

Đọc mấy lời này tôi thấy sướng quá, bởi vì tôi không biết tôi bị điếc từ hồi năm nào, nhưng có lẽ cũng hơi lâu rồi. Vâng, tôi đâu có biết buồn ai! Chẳng những vậy mà tôi có nhiều cái vui nhờ bị điếc. Chẳng hạn như tôi nghe anh em ngồi uống cà phê chung lịch sự giới thiệu với người lạ là anh này hơi lãng tai. Tôi đính chánh liền, hổng phải lãng tai đâu mà là điếc, và lại điếc hơi khá nặng, nhứt là lổ tai bên trái điếc tới trên 99% và lổ tai bên mặt còn nghe được chút chút, đâu cũng điếc khoảng 70%.

Rồi có anh em lại nghi ngờ tôi giả điếc, và các anh nói Hai Trầu điếc nhưng nói lén ổng là ổng biết hết như bài ca trù “Cách Giả Điếc” của cụ Nguyễn Khuyến mà tôi thấy trong Văn Đàn Bảo Giám:

 

Cách Giả Điếc

(Bỡn ông Dương Khuê)

Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây

Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cầy

Lối điếc ấy sau này em muốn học

Toạ trung đàm tiếu nhân như mộc

Dạ bán phan viên nhĩ tự hầu

Khi vườn sau khi ao trước khi điếu thuốc khi miếng trầu
khi trà chuyên năm bảy chén khi Kiều lẩy một đôi câu
Sáng một chốc lâu lâu rồi lại điếc
Điếc như thế ai không muốn điếc
Lối điếc anh dễ bắt chước ru mà
Hỏi anh anh cứ ậm à”

(Đặc biệt, bản in trong Văn Đàn Bảo Giám không có bỏ dấu chấm, phết.).

Hai Trầu… giả điếc! Kiểm tra lại pin máy điếc mất mấy lần! Anh còn cho nghe thử máy điếc nó ù ù khó chịu ra sao!

Nói thế cũng hơi oan cho tôi! Đôi lúc tôi có mang máy nghe, nhưng có khi các anh nói nhỏ mình hổng nghe rõ hoặc máy nghe hết pin, nên cũng như không. Bởi vậy Bác sĩ Đỗ Hồng có nhắc:”Nếu các cụ có mang máy nghe, phải chắc chắn là máy đã mở, còn pin, đang hoạt động tốt.” (GSCS, trang 134). Rồi tác giả còn dặn:” Nếu cần, nhờ người nhà, người chăm sóc các cụ “phiên dịch” giùm vì họ đã quen.” (GSCS, trang 135).

Ngoài ra, tôi có cái vui nữa là do bị điếc, nên tôi gởi email thông báo cho tất cả anh em quen biết là tôi bị điếc nên nghe điện thoại rất khó, nên bạn bè hổng ai muốn gọi cho tôi hết vì các anh ấy nghĩ và truyền tin cho nhau Hai Trầu nó bị điếc rồi!

Chương “Lú Lẫn Tuổi Già (Alzheimer), tác giả viết: “ Bắt đầu bằng sự sa sút trí nhớ, có khi cho là tại lão hóa, tại trầm cảm, vì những dấu hiệu lúc đầu mơ hồ nhưng dần dần rõ thêm theo thời gian: Triệu chứng chánh là thay đổi tâm trạng, thay đổi hành vi, mất khả năng ngôn ngữ, mất trí nhớ trầm trọng và suy giảm các giác quan.”(GSCS, trang 141)

Tôi thấy tôi dường như có vài triệu chứng ấy. Tôi ưa quên: bỏ gì quên nấy. Chẳng hạn đi ra xe quên chìa khóa, kiếng mang trên mắt cứ đi tìm hoài; hoặc giả hai cái máy nghe mang ở hai lỗ tai lại đi kiếm trong túi áo… Bà chị thứ Ba tôi bị lẫn gần vài ba  năm nay. Những chuyện gì mới chỉ hổng nhớ. Cứ lập đi lập lại hoài một câu hỏi nhưng có điều những chuyện cũ cách nay rất lâu, có tới sáu bảy chục năm thì chỉ nhớ. Do vậy,  Bác sĩ có nhắc: “Tránh đi lạc, nên có người trông chừng, nên cho mang bảng tên ghi địa chỉ, điện thoại v.v…”(GSCS, trang 144). Tôi thấy lời dặn này rất cần vì hổng biết lúc nào bệnh nặng thêm và có khi hổng biết đường về nhà!

Chương “Từ Bi Với Mình”, sau khi nhắc qua sự kết hợp của trên hai trăm cái xương lớn nhỏ ráp nối với nhau để thành một khung xương của cơ thể con người; rồi trái tim của con người nữa cứ co bóp hoài không ngừng nghỉ; rồi tới mạch máu của mỗi người, nhứt là người già mạch máu cứng lại nên huyết áp tăng cao; rồi tới buồng phổi nơi con người trao đổi không khí để sống, tác giả kết:“Tóm lại, thương cái bộ xương của mình một chút, thương quả tim mình, buồng phổi mình, dạ dày mình một chút… Tóm lại hãy từ bi với mình một chút.” (GSCS, trang 120)

Những lời khuyên này rất thiết thực mà, cách nào đó, nó còn hợp với lời khuyên của André Maurois trong Thư Ngỏ Gởi Tuổi Đôi Mươi, ông cũng khuyên: “Chúng ta đừng nên tàn ác với chính mình”.

Chương “Thú Cưng” và chương “Rèn Tập Não Bộ”, cả hai chương này tác giả khuyên người già nên có cái gì đó để vui chơi cho tâm hồn được thư thới như nuôi vật cưng trong nhà và rèn luyện bộ não mà hai điều trong năm điều tác giả căn dặn tôi mê là “kích thích thần kinh” và “tâm linh” như “từ bi hỷ xã”.

Về hai chương này, ở ngoài đời tôi có thực hiện được phần nào lời căn dặn của tác giả. Thay vì nuôi thú cưng, tôi lại nuôi rong và nuôi cá, rong đuôi chồn và cá he, cá sặt, rất rẻ. Nuôi cá he, cá sặt để vui chơi mà cũng để nhớ Má nữa!

Ngoài ra, trong vườn dù sân sau nhà không rộng lắm nhưng tôi thích trồng nhiều loại cây quen, nhứt là cam quít bưởi, mận, khế, xoài, những loại cây ở quê mình ưa trồng, trái nhiều lắm. Rồi tôi cũng trồng nhiều loại rau như rau càng cua, rau ngò om, quế, rau thơm vân vân… Tuổi già nghe cây trái vào mùa làm tâm hồn mình cũng vui lây với thiên nhiên trời đất.

 

 

Qua một vài đối chiếu với một vài chương sách trong tác phẩm “Già Sao Cho Sướng” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy mình gặt hái được rất nhiều điều bổ ích, một phần vì tác giả quá già giặn kinh nghiệm trong nghề nghiệp một lương y của mình, một phần tác giả đi đây đi đó nhiều, nhứt là lại có tính tình bình dân, lúc nào cũng nhớ về thời còn nhỏ chạy giặc tản cư nơi vùng quê Lagi ăn muối vùi, nên lời văn như một lời tâm tình hơn là chỉ dạy mà lại có lòng “từ bi hỷ xả” nữa, nên văn rất hiền và thân mật. Nay tôi hơi già bộn rồi, nhưng đọc sách “Già Sao Cho Sướng” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi thấy vui quá là vui…

 

Hai Trầu

Houston, ngày 14 tháng 11 năm 2018.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh “Sinh nhật” Ý THỨC và QUÁN VĂN

16/10/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vài hình ảnh “Sinh nhật” Ý THỨC và QUÁN VĂN

Đỗ Hồng Ngọc ghi

Sáng nay 16.10.2018 Quán Văn số 59 tổ chức Sinh Nhật lần thứ 7 khá rôm rả tại một Quán Cafe trên đường Lam Sơn, Bình Thạnh. Dịp này cũng là số báo đặc biệt giới thiệu Nhà văn Trịnh Bửu Hoài, cũng như để chuẩn bị chuyến đi Miền Tây nhân “Mùa Nước Nổi” của nhóm Quán Văn. Rất đông bạn bè đã đến “chung vui”.

Dịp này, Quán Văn cũng đồng thời tổ chức Sinh Nhật cho Ý Thức, bán nguyệt san Văn học nghệ thuật đã có mặt trên văn đàn Saigon 47 năm về trước. Hai tờ báo cách nhau 40 năm và cùng có chung một “tay chèo” là Nguyên Minh.

Ý Thức của 47 năm trước sáng nay hiện diện chỉ có (từ trái) Nguyên Minh, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Châu Văn Thuận, Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc. Lê Ký Thương bận không đến. Anh em không quên nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư… nơi xa xôi. Thậm chí còn nhắc 20.10 này sẽ khui rượu mừng Sn Lữ Quỳnh nữa đó!

 

Các thân hữu và cộng tác viên của Quán Văn từ Huế, Đà Nẵng, Bình Thuận, Vũng Tàu, An Giang… về tham dự đông vui. Nguyễn Minh Nữu từ xa xôi cũng kịp về để tham gia làm MC với Hoàng Kim Oanh và Đoàn Văn Khánh… tạo nên một không khí sôi đông với lời ca tiếng hát giọng ngâm…

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Trang 8
  • Interim pages omitted …
  • Trang 19
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email