Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

25/03/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”

Đỗ Hồng Ngọc

Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh, quanh ta và trong ta thôi. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo luân hồi bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa. Nhưng thật không dễ. Chúng sanh ngoan cường, cứng cõi, lì lợm ở cõi Ta-bà này không dễ mà hàng phục, không dễ mà trụ lại một chỗ an vui. Nhưng cũng chính nơi cõi Ta-bà đầy gian khó này mới cần có Bồ-tát, và ngược lại, cũng là nơi Bồ-tát “thành tựu” chính mình. Không có chúng sanh thì cũng chẳng cần Bồ-tát! Cho nên khi Bồ-tát “thành tựu chúng sanh” thì chúng sanh cũng “thành tựu Bồ-tát” là vậy.

Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ do tâm tạo ra). Tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Tìm kiếm đâu xa. Hãy quay về nương tựa chính mình. Phật đã chẳng khuyên như vậy từ khởi thủy sao? Cớ sao ta cứ mãi loay hoay, mãi chạy vạy, mãi tìm kiếm đâu đâu? Mấy ngàn năm trước, đệ tử giải Không bậc nhất của Phật đặt câu hỏi: “Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?” (An trụ tâm cách nào? Hàng phục tâm cách nào?). Phật nói dễ lắm, dễ lắm, chỉ cần “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (đừng có trụ cái tâm vào đâu cả!) là xong. Nhưng đâu có dễ mà “vô trụ”. Ta hết trụ thứ này thì trụ thứ kia, hết trụ người này thì trụ người khác, chỉ quên… trụ vào chính mình.

Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán Thế Âm) hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì bỗng bừng ngộ thấy rõ ngũ uẩn đều không: “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức khắc “độ nhất thiết khổ ách”, nghĩa là đưa tất cả khổ đau ách nạn đi chỗ khác, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh và như thế cõi Phật đã hiện tiền! Nhờ đó mà đã có thể “từ nhãn thị chúng sanh”, nhìn chúng sanh với con mắt đầy yêu thương, thấu cảm, bởi cõi Phật đó ai cũng sẵn có, chỉ vì không thấy biết mà “luân hồi sanh tử” mãi miết đó thôi!

Buổi mai hôm đó, Phật vừa rời khỏi tịnh thất sau ba tháng an cư kiết hạ, đưa mắt nhìn các đệ tử mình nghiêm trang tu tập, người ngồi dưới gốc cây, người ngồi trên tảng đá, tất cả đều tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, tất cả đều sống một đời sống đạm bạc, kham nhẫn, tri túc đúng như lời dạy, Phật rất hài lòng. Đa số các vị này đã là A-la-hán, đã tròn đầy phạm hạnh, đã đặt gánh nặng xuống và đã… vô sinh, không trở lại cõi Ta-bà ô trược này nữa. Một số vị Bồ-tát thì đang rày đây mai đó, bươn chãi nơi này nơi kia, thuyết giảng cho chúng sanh con đường giải thoát còn số Bồ-tát mới tu thì đang quét lá, dọn dẹp chỗ trú sau mùa mưa bão.

Nơi Phật an cư kiết hạ mùa này không xa thành Tỳ-da-ly dưới kia, một thành phố lớn, một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, nơi chúng sanh người thì nheo nhóc lặn ngụp trong bao nỗi lo toan, sợ hãi, ốm đau, già nua bệnh hoạn…, người thì trọc phú  huênh hoang, nứt đố đổ vách, lặn ngụp trong cảnh xa hoa, lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, bên cạnh là các vương tôn công tử áo gấm quần hoa ăn chơi trác táng, tửu điếm trà đình, và rất nhiều thanh lâu sang trọng với những cô kỹ nữ khuynh thành đón người cửa trước rước người cửa sau và rượu, và thuốc nghiện tràn lan; bên cạnh đó là những bậc trí giả ngày đêm tranh luận không ngừng về những triết thuyết cao siêu huyền bí, giải thích mọi hiện tượng của vũ trụ và loài người, ai cũng cho mình đúng nhất hay nhất.

Thành Tỳ-da-ly rực rỡ ánh đèn dưới kia khiến Phật thấy đã đến lúc phải thay đổi cách “tiếp cận” mới mong giải thoát chúng sinh. Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay đang tĩnh tọa xung quanh Phật bây giờ lại có thể tiếp cận được với các bậc vương tôn công tử, với các quan chức, với các nhà buôn dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay tiếp cận được với các cô nàng kỷ nữ nhan sắc kiêu kỳ ở các thanh lâu trà đình tửu điếm dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng lại có thể vào tận các ổ mại dâm, động ma túy sa đọa dưới kia để thuyết giảng lời Phật? Ai đây có thể tiếp cận được? Cách nào đây có thể tiếp cận được? Ai đây sẵn lòng xâm nhập vào chốn bùn nhơ mà đủ năng lực giúp đỡ, hỗ trợ người khác vượt qua, không chỉ với những lời khuyên suông, lý thuyết trên mây, cao ngạo và xa cách, mà từ những thực tế của cuộc sống vì Phật đạo không xa cách thế gian, Phật đạo ở ngay trong lòng thế gian. Làm sao cho những cánh sen xanh biếc mọc lên từ chốn bùn nhơ?

Phật là một nhà sư phạm tuyệt vời, thường dùng phương pháp giáo dục chủ động, dựa vào “đối tượng đích” mà thuyết giảng, thế mà cũng có lúc hằng mấy ngàn thính chúng đã bỏ đi vì không thể tin, không thể hiểu được điều Phật dạy. Không thể tin có viên ngọc trong chéo áo kẻ bần cùng, không thể tin Đề-bà-đạt-đa, một người phạm tội vô gián như thế được Phật thọ ký thành Phật mai hậu!

Cách tốt nhất ở đây phải là phương pháp “tiếp cận dựa vào cộng đồng” (Community-based approach). Cộng đồng Tỳ-da-ly có những đặc thù của nó, phải tiếp cận dựa vào nó, tự trong nó. Không thể đưa các vị A-la-hán đạo cao đức trọng, phạm hạnh tròn đầy, đến thuyết phục được các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… Không thể đưa các vị Bồ-tát trí huệ thâm sâu đến thuyết phục các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… về nhất thiết duy tâm tạo, vô thường, vô ngã, thực tướng vô tướng…! Phải có người tại chỗ. Phải từ bùn mà sen mọc lên. Đã có lần các vị Bồ-tát phương xa đến cõi Ta-bà tình nguyện giúp Phật, ngài từ chối và ngay lúc đó đã có vô số các Bồ-tát “tùng điạ dũng xuất” tại chỗ, từ đất vọt lên, sẵn sàng lãnh trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng (community involvement), và có kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology) mới thành công. Không có sự tham gia của cộng đồng, không sử dụng kỹ thuật học thích hợp… thì các phương pháp dù hay cách mấy mà áp đặt, xa lạ, cũng trở nên vô ích, thui chột vì không hợp “thổ ngơi”!

Đối tượng đích (target population) lần này là năm trăm con nhà trưởng giả, trẻ tuổi, vương tôn công tử, đại gia, doanh nhân, trí thức của thành Tỳ-da-ly. Tất cả họ đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) … nhưng chưa biết cách phải thực hành thế nào vì họ không thể xuất gia như các vị Bồ-tát kia.

Vấn đề là làm thế nào để các vị trưởng giả trẻ tuổi, doanh nhân, trí thức… này có thể trở thành Bồ-tát ngay tại cộng đồng của họ mà không cần phải cắt tóc, đầu tròn áo vuông của một vị sa môn?

Thực ra buổi thuyết giảng đặc biệt hôm nay của Phật tại Vườn Xoài không chỉ dành cho “đối tượng đích” nói trên mà chủ yếu còn dành cho tất cả các vị A-la-hán, Bồ-tát cùng các đệ tử gần xa của Phật, để chính họ tự nhìn lại chính mình và cũng phải tự thay đổi. Bởi thay đổi “cái nhìn” vốn là một sự thay đổi không hề dễ dàng! Phật muốn giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, tiếp cận dựa vào cộng đồng qua một “mô hình” Bồ-tát mới, “Bồ tát tại gia”, qua hình tượng một nhân vật kiệt xuất là Duy-ma-cật ở ngay trong thành Tỳ-Da-Ly vậy.

Bảo Tích thưa: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nay muốn nghe việc làm sao có được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ-tát.”
Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”

“Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Tại sao vậy? Bồ-tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ-tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ-tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.  Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.”.

Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng (trực tâm) mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững (thâm tâm). Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, nếu Bồ-tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.

 

(ĐHN, Cõi Phật đâu xa, viết về kinh Duy Ma Cật)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

27/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi

Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước

 

1. Bạn đã đọc chuyện này chưa? Chuyện kể ông Biển Thước (401-310 trước Công nguyên), một thầy thuốc người nước Triệu thời Đông Chu liệt quốc nổi tiếng là “Thần y”. Một hôm Ngụy vương hỏi Biển Thước: “ Ta nghe nói ba anh em nhà Thầy đều giỏi y thuật, thử nói ta xem trong ba người, y thuật của ai cao minh nhất?”

Biển Thước đáp: “Anh cả của thần y thuật cao minh nhất, anh hai của thần thứ nhì, còn thần kém nhất trong ba anh em”.

Ngụy vương ngạc nhiên: “Vậy sao Thầy nổi tiếng trong thiên hạ còn hai anh Thầy không ai biết đến?”

Biển Thước đáp: “ Vì anh cả thần chữa bệnh cho người khi bệnh chưa xảy ra, người bệnh trông như không có bệnh gì cả cho nên người ta không ai biết anh thần đã phòng bệnh cho họ từ trước; còn anh hai của thần trị bệnh ngay khi người ta mới phát bệnh, nên người ta cho rằng anh hai thần chỉ chữa được bệnh vặt mà không biết rằng nếu để bệnh trầm trọng thì nguy hiểm tính mạng nên chỉ nổi tiếng ở vùng quê, còn thần thì chữa khi bệnh tình người ta đã nguy ngập, tính mạng bị đe dọa… Điều thần làm là phá huyết mủ, phẫu thuật, đắp thuốc, những việc dính đến máu me, nên thần mới vang danh thiên hạ, nhưng dù bệnh có cứu được cũng thường để lại di chứng… Thần thua xa hai anh thần nhưng thiên hạ ít người biết vậy! (Trang Tử tâm đắc, Nxb Trẻ 2011).

Có thể nói Y đức… cao nhất chính là phòng bệnh, giúp cho người ta khỏe mạnh, ít đau ốm hoặc nếu có bệnh thì được chữa sớm khi bệnh chưa nặng vậy. Hải Thượng Lãn Ông cũng tự xưng mình là “Ông già lười Làng Hải Thượng” vì ước mong không còn ai bệnh tật để mình được rảnh rang làm thơ uống rượu ngoạn cảnh đó thôi…

 

2. Có những nguyên tắc chung hay còn gọi là những giá trị cơ bản của Y đức (phổ quát trên toàn thế giới) được dạy ở các trường Y xuyên suốt quá trình nhiều năm học tập và khi ra trường được tiếp tục giám sát bởi Tổ chức nghề nghiệp (Ordre des médecins, Bác sĩ đoàn) với Nghĩa vụ luận y khoa (Deontologie médicale, Luật hành nghề) một cách chặt chẽ.

YDUC Grecia1  Dĩ nhiên Y đức không thể dạy lý thuyết suông mà cần có những bài học thực tiễn từ cuộc sống (hành nghề), những trải nghiệm trong ứng xử, giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, với cộng đồng v.v… và nhất là có những tấm gương để noi theo.

 

3. Các nguyên tắc chung hay còn gọi là giá trị cơ bản của Y đức:

              1) Làm điều có lợi nhất cho bệnh nhân (Beneficence)

             2) Trước hết, không làm điều có hại ( Primum non nocere),“First,                   do no harm”.

             3) Tôn trọng sự Tự chủ  (Autonomy)

             4) Bảo mật (Confidentiality)

             5) Công minh (Justice). Không kỳ thị , phân biệt đối xử (Non- discrimination).

             6) Tôn trọng nhân phẩm  (Dignity)

             7) Thỏa thuận với thông tin đầy đủ (Informed Consent)

             8) Nói sự thật (Telling the truth).

 

Thân mến,

Bs Đỗ Hồng Ngọc

(Ngày 27.2.2026)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ

27/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Khám bệnh cho bác sĩ

Trần Thị Tuyết

Tiến sĩ Quản trị nhân sự

https://vnexpress.net/kham-benh-cho-bac-si-5044190.html

 

Tôi đang làm việc tại một trường đại học ở Australia. Trưởng khoa của tôi là chuyên gia về sức khỏe tâm thần trong lĩnh vực quản trị nhân sự.

Tôi chia sẻ với ông rằng, nhiều người nước ngoài sẵn sàng đến Việt Nam để khám chữa bệnh vì sự nhanh chóng và thuận tiện hơn so với các nước phát triển; rằng bác sĩ Việt Nam khó có thể từ chối bệnh nhân dù họ không đặt lịch trước. Ông liền đề xuất nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề sức khỏe tâm thần của bác sĩ Việt, đặc biệt nhằm vào những người ở tuyến trên, nơi tập trung các bác sĩ giỏi nhất nhưng cũng là môi trường làm việc áp lực và căng thẳng nhất. Thế là chúng tôi bắt đầu dự án “khám bệnh cho bác sĩ”.

Ban đầu, động lực của chúng tôi chủ yếu là sự tò mò khoa học. Nhưng càng tiếp xúc, lắng nghe và quan sát, cảm giác tò mò dần chuyển thành một trách nhiệm đạo đức, thôi thúc tôi tìm cách giúp xã hội hiểu hơn và trân trọng hơn những người đang chăm sóc sức khỏe cho chúng ta.

Nhóm nghiên cứu gồm năm người, trong đó có ba học giả Australia. Khi đọc dữ liệu phỏng vấn, họ liên tục bày tỏ sự ngạc nhiên. Ở các nước như Australia hay Anh, việc đặt lịch khám chuyên khoa có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí cả năm. Trong khi đó, ở Việt Nam, người bệnh có thể được thăm khám trong ngày. Sự thuận tiện này, từ góc nhìn bên ngoài, là một lợi thế của hệ thống y tế. Nhưng đằng sau nó là áp lực khổng lồ đặt lên vai bác sĩ.

Nhiều bác sĩ chúng tôi phỏng vấn làm việc hơn 30 tiếng liên tục, tương đương hai ngày một đêm không nghỉ. Do cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện, thu nhập gắn chặt với khối lượng dịch vụ, nghỉ đồng nghĩa với giảm thu nhập.

Về nguyên tắc, sau ca trực dài họ được nghỉ bù, nhưng thực tế, nhiều người vẫn tiếp tục làm việc. Họ ngại chuyển bệnh nhân của mình cho đồng nghiệp, lo gián đoạn quá trình điều trị, và cũng bởi một thực tế đơn giản: các đồng nghiệp khác cũng đang quá tải.

Không chỉ dừng lại ở thời gian trong bệnh viện, ranh giới giữa công việc và đời sống riêng của nhiều bác sĩ gần như bị xóa nhòa, khi họ phải duy trì liên lạc chuyên môn với bệnh nhân ngoài giờ hành chính và luôn trong tình trạng sẵn sàng phản hồi với những tình huống phát sinh.

Các bác sĩ cấp cứu hay hồi sức có khối lượng công việc cao gấp nhiều lần so với đồng nghiệp cùng vị trí ở các nước phát triển, trong khi nguồn lực hỗ trợ – từ thiết bị, nhân lực đến ngân sách – hạn chế hơn. Áp lực nghề nghiệp vì thế không chỉ đến từ cường độ lao động, mà còn từ những quyết định sinh tử phải đưa ra trong điều kiện thiếu thốn và gấp gáp. Họ chứng kiến bệnh nặng, biến chứng, thậm chí cái chết mỗi ngày, nhưng hiếm khi có thời gian để xử lý cảm xúc của bản thân.

Một điểm đáng chú ý là nhiều bác sĩ thừa nhận kiệt sức về tinh thần còn nặng nề hơn kiệt sức thể chất. Họ phải kìm nén cảm xúc, giữ thái độ điềm tĩnh và mềm mỏng trước người bệnh và thân nhân, ngay cả khi bản thân đang chịu áp lực cực lớn. Sự “chuyên nghiệp cảm xúc” này, về lâu dài, trở thành một gánh nặng tâm lý âm thầm.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, cả 50 bác sĩ tham gia phỏng vấn đều cho biết từng trải qua các biểu hiện như căng thẳng kéo dài, lo âu hoặc rối loạn giấc ngủ. Hơn một phần năm thừa nhận từng có giai đoạn trầm cảm ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn coi đó là “một phần của nghề” và hiếm khi tìm kiếm hỗ trợ chuyên môn, bởi thiếu thời gian, lo ngại kỳ thị, hoặc cho rằng việc bộc lộ khó khăn tâm lý có thể ảnh hưởng tới nghề nghiệp. Chính sự im lặng này khiến những vấn đề sức khỏe tâm thần không bùng phát ồn ào, mà tích tụ âm thầm, kéo dài và khó được nhận diện kịp thời.

Áp lực của bác sĩ Việt Nam cũng không chỉ đến từ quá tải bệnh nhân. Họ còn đối mặt với nhiều sức ép hữu hình và vô hình: thiếu thiết bị do các quy định đấu thầu phức tạp, áp lực từ quản lý về chỉ tiêu và uy tín đơn vị, kỳ vọng rất cao từ người nhà bệnh nhân, thậm chí là nguy cơ bị quay lén, cắt ghép thông tin, lăng mạ hoặc hành hung. Trong một số trường hợp, khu vực khám chữa bệnh không có đủ bảo vệ hay hệ thống giám sát, khiến bác sĩ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương.

Nghịch lý ở đây là: một nghề được xã hội tôn vinh lại đồng thời là một nghề có mức độ rủi ro tâm lý rất cao. Từ vị trí “thầy thuốc”, họ có thể nhanh chóng trở thành kẻ bị chỉ trích khi kết quả điều trị không như kỳ vọng, dù nhiều yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của chính họ, hoặc thậm chí là nằm ngoài khả năng kiểm soát của y học hiện đại.

Vậy tại sao trước áp lực như vậy, phần lớn bác sĩ không bỏ nghề?

Câu trả lời không đơn giản là “yêu nghề”. Ngành y vốn có tỷ lệ đào thải cao ngay từ giai đoạn đào tạo. Sinh viên y khoa phải trải qua chương trình học nặng nề, tiếp xúc sớm với bệnh tật và những trải nghiệm cảm xúc mà nhiều ngành khác không có. Những người trụ lại thường đã hình thành bản lĩnh nghề nghiệp và khả năng thích nghi với áp lực từ rất sớm. Với họ, những căng thẳng sau này dần trở thành một “bình thường mới”.

Bên cạnh đó, môi trường bệnh viện công, đặc biệt là tuyến trung ương, mang lại cơ hội học hỏi chuyên môn mà ít nơi khác có được. Những ca bệnh phức tạp, những ca mổ khó, những tình huống khẩn cấp – tất cả vừa là thách thức vừa là cơ hội rèn luyện tay nghề. Công việc căng thẳng hơn nhưng thu nhập cũng vì thế cao hơn. Chính sự gắn bó chuyên môn, trách nhiệm với bệnh nhân và những an ủi về mặt thu nhập khiến nhiều bác sĩ lựa chọn ở lại, dù có thể chuyển sang làm những công việc nhẹ nhàng hơn.

Quá trình thu thập dữ liệu nghiên cứu cũng cho chúng tôi những trải nghiệm đáng suy ngẫm. Ban đầu, nhiều bác sĩ từ chối tham gia phỏng vấn, vì quá bận, vì e ngại lộ thông tin, hoặc vì hoài nghi rằng việc chia sẻ cũng không thay đổi được điều gì. Chỉ khi có sự giới thiệu và bảo chứng từ đồng nghiệp hay người thân, họ mới dần mở lòng.

Nhiều cuộc phỏng vấn diễn ra vào tối muộn, cuối tuần, hoặc xen kẽ giữa các ca trực. Có người vừa lái xe về nhà vừa tranh thủ trò chuyện. Câu chuyện – thường bị gián đoạn liên tục bởi bệnh nhân – nhưng khi đã bắt đầu, có thể kéo dài hơn kỳ vọng (45-60 phút). Khi được cảm ơn vì đã dành thời gian hiếm hoi cho chúng tôi, không ít bác sĩ cảm ơn ngược lại – chỉ vì “lâu lắm rồi mới có người lắng nghe”.

Nghề y, ở một góc độ nào đó, là nghề cô độc. Nhiều bác sĩ ít chia sẻ công việc với gia đình vì sợ người thân không hiểu hoặc thêm lo lắng. Chỉ riêng việc được lắng nghe, với họ, đôi khi đã là “liều thuốc an thần” nhẹ nhưng cần thiết.

Những câu chuyện vừa truyền cảm hứng, vừa ám ảnh đó khiến tôi tin rằng việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho bác sĩ không chỉ là vấn đề cá nhân, mà là một vấn đề hệ thống. Nếu muốn nâng cao chất lượng chăm sóc y tế, trước hết cần đảm bảo người cung cấp dịch vụ y tế được chăm sóc tốt về cả thể chất lẫn tinh thần.

Điều này đòi hỏi các chính sách đãi ngộ, lương thưởng hợp lý hơn, cơ chế linh hoạt hơn trong trang thiết bị và tổ chức công việc, cũng như các chương trình hỗ trợ tâm lý nghề nghiệp dành riêng cho nhân viên y tế. Ở cấp bệnh viện, việc thiết kế công việc khoa học, phân bổ ca trực hợp lý và xây dựng môi trường làm việc an toàn, tôn trọng là những yếu tố thiết yếu. Việc bảo vệ và ưu tiên quyền lợi được chăm sóc của người bệnh là hợp lý nhưng không có nghĩa đó là sự đánh đổi với những tổn thương về thể chất và tinh thần của cán bộ y tế. Cần có những cơ chế mạnh và cụ thể hơn để bảo vệ bác sĩ và giúp họ vững tâm làm việc và cống hiến cho người bệnh và cho sự phát triển của y học nước nhà.

Về phía xã hội, một thay đổi nhỏ trong thái độ cũng có thể tạo ra khác biệt lớn. Sự thấu hiểu, tôn trọng và hợp tác của người bệnh và gia đình không chỉ giúp quá trình điều trị hiệu quả hơn, mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe tinh thần của bác sĩ. Khi chứng kiến hành vi xúc phạm hoặc bạo lực với nhân viên y tế, việc lên tiếng bảo vệ họ cũng chính là bảo vệ chất lượng hệ thống y tế mà chúng ta đang phụ thuộc.

Cuối cùng, chăm sóc bác sĩ không phải là một đặc quyền dành cho họ, mà là một điều kiện cần để họ có thể chăm sóc tốt nhất cho cộng đồng. Chỉ khi người thầy thuốc cảm thấy an toàn, được lắng nghe và được hỗ trợ, họ mới có đủ năng lượng, sự tỉnh táo và lòng trắc ẩn để đứng vững trên lằn ranh sinh tử – nơi mà mỗi quyết định của họ gắn liền với sự sống của người khác.

Trần Thị Tuyết

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, Thư gởi người bận rộn

Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…

12/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…

https://www.facebook.com/share/1HhAuhyNZc/?mibextid=wwXIfr

 

Năm 2017 tôi có viết một bài ngắn trên facebook với nhan đề TOÀN LÁO CẢ. Bài báo gây cho tôi nhiều rắc rối không đáng có và ảnh hưởng đến BS Đỗ Hồng Ngọc vì bài được phát tán với tên của BS. Tạm lắng một thời gian dài, không hiểu sao bài này gần đây lại xuất hiện trên một số trang mạng với nhiều chi tiết thêm thắt khác nguyên bản. Trong đó có trang VIỆT NAM DEFENCE đăng cùng hình chân dung của tôi có nhiều comment nhất. Nhận thấy nội dung bài đã không còn giá trị trong thời điểm này và không muốn có điều phiền phức cho bản thân tôi cũng như ảnh hưởng đến tên tuổi của BS Đỗ Hồng Ngọc, tôi đã đề nghị gỡ bài.

Đây là thư tôi gởi cho VIỆT NAM DEFENCE:
“Tôi là Đỗ Duy Ngọc, hiện nay 77 tuổi và đang sinh sống tại Sài Gòn, Việt Nam. Tôi là tác giả của bài viết TOÀN LÁO CẢ được viết vào năm 2017. Một số nội dung trong bài này đã bị trang nhanquyenvn. org lên án tôi trong bài viết nhan đề “Xuyên tạc xã hội và công kích công cuộc chống tham nhũng, cần xem lại trách nhiệm công dân của họa sĩ Đỗ Duy Ngọc…”. Bài này được phổ biến ban đầu với tên tác giả là BS Đỗ Hồng Ngọc khiến BS rất phiền lòng. Ngay thời đó tôi đã viết cải chính BS Đỗ Hồng Ngọc không phải là tác giả. Tạm lắng một thời gian, không hiểu sao gần đây bài viết lại xuất hiện ồ ạt trở lại với nhiều chi tiết thêm thắt không đúng với nguyên bản. Và trang Việt Nam Defence có đăng lại. Tôi xin đề nghị trang xoá giúp tôi bài này, không nên đăng nữa vì có nhiều điều bất lợi cho bản thân tôi và cả BS Đỗ Hồng Ngọc. Tôi thấy rằng trang đăng và đưa hình của tôi mà chưa có ý kiến của tôi cũng là điều không nên. Tôi đã lớn tuổi, sức khỏe lại không tốt nên rất ngại những hậu quả sẽ xảy đến cho mình. Do vậy, mong quý trang gỡ bài theo nguyện vọng của tôi. Xin cảm ơn.”
Sài Gòn ngày 12.02.2026
DODUYNGOC
………………………………………………………….
Sg, 12.02,2026
Vài dòng thăm anh Đỗ Duy Ngọc,
Anh Đỗ Duy Ngọc ơi,
Tuổi tôi nay đã 87 rồi, hơn anh đúng 10 tuổi. Tôi mù tịt thông tin mạng, không có Facebook. Tôi vẫn theo dõi tình hình bệnh tật của anh, có mấy lần đã phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Nay thêm chuyện này chắc anh càng không vui.
Có lần anh nói chắc tại cái “duyên số” gì đó, đã gắn tên tôi gần giống với tên anh, khiến người ta nhầm lấy tên tôi, kèm hình ảnh tôi đăng khắp nơi. Tôi chịu thua, không biết phải làm sao! May, anh còn viết được thư đính chánh, xin xóa bài, hình ảnh đã thêm bớt tùm lum.
Chân thành cảm ơn Hs Đỗ Duy Ngọc.
Thân mến,
Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cảm ơn  ĐD Hải Ninh, Xuân Trang, Quay và dựng phim Khải Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm, Gia Hải…

MC Nhà thơ Lê Trúc Khanh (Thầy Lê Phước Nghiệp) và Tất cả các bạn Cần Thơ…  (01/02/2026)

Cảm ơn Nguyễn Văn Quyền.

Đỗ Hồng Ngọc.

(10.02.2026).

………………………………………………………………………..

Duyên, từ nơi xa xôi:

* sáng thức dậy trong ánh bình minh trong lành chưa có tiếng động của một ngày mới: buồn vui ra sao.  được nghe anh Ngọc và những người góp mặt trong buổi trò chuyện chia sẻ về cuộc đời : khi mở mắt chào đời cho đến cuối đời, đời người rất thật, xúc động vô cùng!

* nhìn anh Ngọc khi các em hát Sông ơi cứ chảy, thấy trong mình cũng  cả một dòng sông…

* bên ngôi trường cũ, hai người bạn tuổi xế chiều am hiểu cuộc đời, chia sẻ cảm tưởng về hoàng hôn: rất từ bi với chính mình, với đời…đã sẵn lòng đổi mặt trời cho một hoàng hôn…

❤️

………………………………………………………….

Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Huệ

Hội Nhà Văn TP. Cần Thơ

 

Thật bất ngờ trong buổi Trà Chiều ở Cần Thơ, nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi , gởi tặng tôi bài thơ và nói chị đã từng rất xúc động khi đọc bài “Thư cho Bé sơ sinh” từ 60 năm về trước…

 

Nhà văn Thanh Huệ, 90 tuổi, gởi bài thơ tặng ĐHN.

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Chuyến Về Cần Thơ đầu năm 2026.

10/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

CHUYỀN VỀ CẦN THƠ ĐẦU  NĂM 2026

Đỗ Hồng Ngọc

Lâu lắm, không có dịp về Cần Thơ. Nhận Lời mời của BTC Hội Xuân Cây Di Sản THPT Châu Văn Liêm  (Trường Phan Thanh Giản cũ) Xuân Bính Ngọ 2026, vào ngày 01/02/2026, tôi xếp túi xách lên đường ngay với chiếc gậy mây của mình bởi được biết đó là Ngày Hội Xuân dành riêng cho các Thầy Cô giáo tuổi U 90 của trường- cùng lứa tuổi của tôi- khi nhớ mình cũng đã U 90! Đề tài dành cho tôi là trò chuyện ít phút về Nếp sống An Lạc cho người cao tuổi, thật lòng tôi cũng muốn dịp này được gặp gỡ trao đổi học hỏi lẫn nhau. Trước đó BTC cũng đã tặng mỗi Thầy Cô cuốn “Nếp sống An Lạc” của tôi nên cuộc gặp gỡ chỉ là để “nhìn nhau” chút xíu cho vui!

Và thật cảm động biết bao khi thấy cựu học sinh tuổi 50-60, áo dài trắng với nón lá nữ sinh ca hát mừng Thầy Cô; cảm động biết bao khi thấy Cô cựu Hiệu trưởng 85 tuổi vung tay đánh trống “Tựu trường” như thuở nào, bên cạnh có hai cựu học sinh nâng đỡ; và cảm  động biết bao khi thấy Thầy Hiệu trưởng Trường Đại Học Cần Thơ Hà Thanh Toàn (cũng là cựu học sinh của trường)  nâng tách trà thơm mừng tuổi  từng Thầy Cô U 90  của mình!…

Dưới đây là vài hình ảnh chuyến đi, và một  clip video buổi Trà Chiều, một sinh hoạt “ngoại  khóa” do các “bạn trẻ” dành riêng cho tôi, với Đạo diễn Hải Ninh, Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Ca sĩ Hồng Thắm… để tôi có được buổi đọc Thơ mình và các bạn Cần Thơ hát những bài thơ đó…

Với tôi, đây là một kỷ niệm sâu đậm của  Cần Thơ dành cho riêng mình đó vậy. Xin chân thành cám ơn tất cả.

“… Thương ai mà cồn Ấu/ Tròn xoe đôi mắt nai” (ĐHN 1986)

 

Từ trái: Xuân Trang, Bs Mai Nguyễn, Thầy Lê Văn Quới, Bs Đỗ Hồng Ngọc, Đạo diễn Hải Ninh, Nhiếp ảnh gia Trịnh Quốc Huy

 

MC Như Quỳnh và Hồng Thắm đang “quay” Bs ĐHN về Nếp sống AN LẠC cho người cao tuổi!

 

“Thầy ký tên tặng sách mỏi tay chưa?” (HN)

 

 

” Tranh thủ” thời gian thăm Trúc Lâm Phương Nam, trò chuyện cùng Thầy Bình Tâm, trụ trì… Sau đó ghé “vamxang” home, ăn bữa cơm trưa cân bằng âm dương….

 

Về Cần Thơ lúc này tìm được một cây Cầu Khỉ nguyên sơ như vầy không dễ! Nhưng chỉ dám dòm, dâu dám bước đi “thênh thang” như xưa!

(còn tiếp)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

07/02/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đính Chính: NÓI LẠI CHO RÕ về bài “TOÀN LÁO CẢ”

26/11/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

DO DUYNGOC <doduyngoc@gmail.com>
5:45 PM (11 minutes ago)

to me

NÓI LẠI CHO RÕ

Cuối tháng 10.2017, một thời gian ngắn sau khi chuyện “Treo dê bán chó” của Khải Silk và nhiều doanh nghiệp nổ ra, tôi có viết bài “TOÀN LÁO CẢ” để nói lên thực trạng của xã hội ta bây giờ. Những người tưởng thành đạt trong sự nghiệp, hàng ngày vẫn rao giảng đạo đức, dạy dỗ lớp trẻ lại toàn là lũ láo chuyên lừa đảo.
Và từ đấy, cả một hệ thống nói láo trở thành một hiện tượng khó thay đổi trong cuộc sống. Bài viết không ngờ phát tán rộng trên mạng và được đồng tình.

Thế rồi, mấy hôm nay, tôi nhận hàng trăm tin nhắn và mail cho biết là bài này một số được đề tên tác giả là BS Đỗ Hồng Ngọc và còn kèm theo hình chân dung của anh. Đó là một sự hiểu lầm, đồng thời cũng có một lời nhắn của chính BS Đỗ Hồng Ngọc đề nghị tôi nên lên tiếng đính chính việc này để tránh những việc đáng tiếc cho cả anh và tôi. Nay tôi khẳng định bài viết đấy của tôi viết, không phải của BS Đỗ Hồng Ngọc, có thể người ta thấy tên chúng tôi gần giống nhau hoặc sức ảnh hưởng đến cộng đồng của BS Đỗ Hồng Ngọc có tầm tác động rộng rãi hơn tên tôi nên ghép tên của BS vào bài viết. Đó là một việc làm không minh bạch.
Tôi xin nói lại cho rõ.

Và cũng xin lỗi Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc nếu bài viết này có mang đến những phiền toái đến anh, anh hiều cho tất cả đều ngoài ý muốn của tôi.
Có thể một thời gian ngắn nữa, tôi sẽ xoá bài này để tránh những phức tạp có thể xảy đến cho bản thân.
26.11.2017
DODUYNGOC

DODUYNGOC
0913711081
doduyngoc.jimdo.com

…………………………………………………………………………….

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Phật học & Đời sống

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

27/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Gặp một mùi hương…

Đỗ Hồng Ngọc

 

Cố đi tìm Phan Tấn Hải thì gặp Nguyên Giác, một thầy tu miên mật một thời với Sư Tịch Chiếu (1912-2016) ở chùa Tây Tạng Bình Dương. Cố đi tìm Nguyên Giác thì gặp Phan Tấn Hải, một nhà thơ, nhà văn, nhà báo… giữa bụi trần mà… “gieo duyên” khắp chốn, bởi nghiệp lành, nối kết trong trường văn trận bút .. Còn cố đi tìm Nguyên Giác- Phan Tấn Hải thì chỉ gặp một người đang đuổi bắt một mùi hương! Không phải mùi hương từ bàn tay run rẩy nắm lấy tay cô bạn gái thời tiểu học ở cổng chùa đó đâu, cũng không phải mối tình đầu với cô bé Bắc kỳ “Minh này” ốm nhách thời lên mười với một rỗ đầy trái sa kê đó đâu…

Mà là mùi hương bay ngược chiều gió. Mùi hương của một cõi xứ mà người ta chỉ cần nghe mùi hương thôi đã giác ngộ, đã thấy biết (tri kiến) Phật. Ở đâu vậy? Ở xứ Chúng Hương, nơi có vị Phật tên là Hương Tích mà Duy Ma Cật đã đến xin cơm cho các vị Bồ tát tương lai ở thành Tỳ Da Ly dạo nọ. Đó là thứ hương thơm đủ để nuôi cả thân và tâm bất tận. Đó chính là hương Giới đức. Thứ hương thơm có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. Phải được huân tập lâu ngày chày tháng, với Định, với Huệ. Hương thơm đó phải tích lũy từ từ mới đầy dần lên, mới sung mãn, tràn trề… đó là một thứ «vô tận hương”.

Dù Nguyên Giác- Phan Tấn Hải nói “Hạnh phúc là đang sống với chữ” mà thiệt ra không phải vậy! Anh sống với “Tứ y”, trong đó “y nghĩa bất y ngữ” là cốt lõi. Anh không chơi chữ, không vọc chữ, vò chữ, nắn chữ. Bởi sau chữ là lấp lánh nghĩa. Là cái thấy từ Alaiya thức khi đã thành Đại viên cảnh Trí.

Phan Tấn Hải thổ lộ “Có những truyện tôi viết trong nước mắt, có những truyện tôi viết trong tiếng cười, có những truyện tôi viết trong im lặng. Nhưng xuyên suốt là một ước mơ: làm đẹp cho cuộc đời này, dù chỉ bằng một dòng chữ, nơi ai cũng là ánh sáng”.

“Cũng có thể nói, tôi không thực sự viết truyện. Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học…”

Không như nhiều tác giả tạo ra nhân vật và giúp nhân vật sống trong kiếp sống của họ, tác giả như người đứng từ bên ngoài quan sát, mô tả, tưởng tượng… Phan Tấn Hải thì không. Anh viết mỗi bài, mỗi truyện từ kiếp sống của chính anh. Không có nhân vật. Không có tình tiết. Chỉ là những truyện “cổ tích” của chính mình trong “trí nhớ mù sương” của chính mình.

“Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua. Tôi sinh ra trong cốt truyện, sống trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Có khi là một người lữ hành cô độc, có khi là một đứa trẻ thơ ngây, có khi là một người mẹ, một người cha, một người tình, một người tu. Tôi đã sống như thế, nhiều lần, nhiều kiếp, trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại. Và rồi, khi trang giấy trắng khác lại mở ra, tôi lại sinh vào một kiếp mới. Do vậy, xin đừng hỏi là truyện hư cấu hay thật, hay nhân vật này là ai…”

Phan Tấn Hải dặn “xin đừng hỏi” làm tôi nhớ Tuệ Sỹ, một thiền sư, một nhà Phật học uyên bác, cũng từng căn dặn như thế về thơ “tình” của ông: Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi.

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca

Tay em run trên những phím lụa ngà 

(…)

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt 

Mờ phố thị những chiều hôn mái tóc

Sóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa 

 

(Tuệ Sỹ. Những phím dương cầm)

 

Còn Phan Tấn Hải thì khiến tôi nhớ đến vết chim bay của Phạm Thiên Thư

Tôi khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

(…)

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tưởng
Hay một vết chim bay

(Phạm Thiên Thư, Vết chim bay)

“Chỉ biết rằng, mỗi bài viết, mỗi truyện ngắn, mỗi bản dịch, mỗi bài thơ, dù mang tên nào, tôi đều đã sống một kiếp người khác nhau. Tôi chỉ là người viết, người đang kể truyện cổ tích, đang học cách tan ra như trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển”.

Mỗi bài viết là một kiếp sống khác. Từ kiếp này qua kiếp kia, miên man bất tận như dòng tâm thức trôi đi trong cõi Alaiya. Cho nên đọc Đuổi bắt một mùi hương ta có dịp thấy từng kiếp sống của tác giả. Nhân vật nếu có, chỉ là “giả tưởng”, chỉ là cái cớ để “thị hiện” mà thôi.

Trở lại với Tập truyện Đuổi bắt một mùi hương, Phan Tấn Hải bần thần:

Tôi nghĩ rằng thế hệ của tôi có thể sẽ là thế hệ cuối cùng (hay sắp cuối cùng) của những người viết tiếng Việt ở hải ngoại. Thế hệ sau sẽ viết thuần tiếng Anh. Báo tiếng Việt ở hải ngoại có thể sẽ từ từ biến mất trong một thập niên nữa. Văn học tiếng Việt lúc đó chỉ còn là chuyện của người trong nước. Phải chấp nhận viễn ảnh vô thường như thế. Phải chăng, các nhà văn hải ngoại như thế hệ của tôi, chỉ là những dòng chữ cuối cùng của một trang sử sắp lật qua? Thêm nữa, mùi của những trang giấy mới, mùi của những dòng mực in đang bị trận gió vô thường thổi tới, vùi dập. Xã hội tương lai hẳn là không cần giấy nữa. Và lúc đó sẽ là chuyện của các nhà văn thế hệ tương lai, khác hẳn bây giờ, mà tôi không hình dung nổi. Và bây giờ, tôi vẫn rất mực yêu thương những dòng chữ còn đang được níu kéo nơi đây, mà tôi đang viết trên trang giấy này.

Rồi một ngày nào đó, độc giả sẽ quên hết những chữ tôi viết, và sẽ chỉ còn nhớ rằng tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.

Cái làm cho cuộc đời đẹp hơn, cuộc sống hạnh phúc hơn đó, có thể tìm thấy ở đâu?

Ở trong sự “hư vỡ” của vô thường, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng…

“Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ”.

(Nguyên Giác-Phan Tấn Hải. Mỹ học của hư vỡ/ Kintsugi).

Biết sống với Hư Vỡ là biết sống với Như Lai. Nó vô tướng mà hiện tướng. Nó chân không mà diệu hữu.  Nó có cái đẹp của vô thường mà thường, của vô ngã mà ngã, của khổ đau mà an lạc… Nó không ở đâu xa. Nó quanh ta. Nó trong ta. Cho nên “cư trần” mà “lạc đạo”, “thả tuỳ duyên” như Trần Nhân Tông nói.

Đuổi bắt một mùi hương? Tôi nghĩ nó sẵn đó rồi. Trong nếp ta sống ở đây và bây giờ, một thứ “vô tận hương” bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…?

Saigon, 24.11.2025

Đỗ Hồng Ngọc

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Tu viện Khánh An và Tôi

26/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tu Viện Khánh An và Tôi

(Bài viết trong Kỷ Yếu kỷ niệm 120 năm thành lập tu viện)

Đỗ Hồng Ngọc

Đỗ Hồng Ngọc và Thầy Trí Chơn

Mùa xuân 2015, hòa thượng Giác Toàn ở Pháp viện Minh Đăng Quang tổ chức họp mặt đầu xuân vào ngày mùng 5 tháng giêng Âm lịch, khách mời là các nhân sĩ trí thức, các giáo sư, các nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa học mến mộ Phật giáo… Trong buổi giao lưu, tọa đàm thân mật đầu năm, tôi được gặp thầy Trí Chơn của Tu viện Khánh An, một vị thầy tu trẻ, nghiêm cẩn, khiêm tốn nhưng năng động, hoạt bát, thường dẫn dắt các chương trình sinh hoạt Phật giáo. Ông thấy tôi chắc trông còn trẻ, chỉ chào hỏi thân tình gọi bằng anh, không ngờ khi biết tôi đã gần tám chục, nên đổi gọi tôi bằng… bác, làm tôi thấy mình già nhanh quá!

Chúng tôi trao đổi chuyện đời, chuyện đạo, có vẻ “tâm đầu ý hợp”. Tôi thấy ở Thầy Trí Chơn một vị thầy tu trẻ, có “học Phật” nghiêm túc, có thực hành Thiền tập, không hướng dẫn Phật tử đi vào con đường nặng màu tín ngưỡng. Thầy thì thấy ở tôi một bác sĩ, học Phật “lõm bõm” bằng con đường tự học, nhưng dựa trên “khoa học thực nghiệm”, không “tầm chương trích cú”, có cuộc sống an nhiên tự tại,  “cư trần lạc đạo”, lại có những trải nghiệm thực tế, thực hành thiền bằng con đường Phật dạy, đặc biệt phương pháp Anapanasati (An ban thủ ý) trên cơ sở khoa  học, sinh y học, thuyết phục và nhiều trải nghiệm qua thực hành.

Năm 2017, Thầy mời tôi về nói chuyện “Thở và Thiền” tại tu viện Khánh An. Lần đó, tôi còn nhớ có các đệ tử của Thầy như cháu Lệ Mai, Thu, Thủy… và Nguyễn Văn Quyền. Các Phật tử này vốn cũng là những học trò của tôi trong Lớp Phật học và Đời sống ở Chùa Xá Lợi. Buổi nói chuyện “Thở và Thiền” có đến trên 600 người tham dự và Nguyễn Văn Quyền đã quay video đưa lên Youtube, đến nay đã có gần nửa triệu lượt theo dõi và tán thán. Sau đó, là buổi nói chuyện về “Ăn và Chay”, dưới góc độ khoa học, kèm với các khái niệm về 4 thứ thức ăn của nhà Phật, là: Đoàn thực, Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực, áp dụng vào đời sống hiện nay, với internet, fake news, deep fake và AI… để ta không bị lôi cuốn, dính mắc, thoát khỏi phiền não khổ đau…

Cũng trong chiều hướng này, Tu viện Khánh An trong khóa tu “Xuất gia gieo duyện” vào tháng hạ vừa rồi, các Thầy trẻ Tuệ Tâm, Tuệ Bảo cũng nhờ tôi tiếp tục có một buổi giảng về “Thiền và Sức khỏe” cho các hành giả. Không ngờ đến nay cũng đã có gần một trăm ngàn bạn đọc theo dõi trên Youtube Khánh An.

Tôi nghĩ đã đến lúc Phật tử đến chùa không chỉ vì tín ngưỡng, cầu phước, cầu an, như xưa mà đã tìm đến một sự bình an nội tâm, an nhiên, tự tại, hạnh phúc trong cuộc sống qua lời Phật dạy, biết quay về nương tựa chính mình. Tôi cho rằng Khánh An là nơi đáp ứng được những giá trị thực nghiệm này.

Từ đó Thầy Trí Chơn và tôi thỉnh thoảng gặp nhau trên tu viện Khánh An, khi thì bữa cơm lúc thì chung trà hàn huyên chuyện đạo, chuyện đời, chuyện sức khỏe chuyện hành thiền, chuyện sống hạnh phúc, an lạc và lan tỏa đến mọi người.

Biết thầy Trí Chơn chịu khó đọc sách, khi có tác phẩm nào mới, tôi đều gởi tặng thầy: Nghĩ từ trái tim (về Tâm kinh Bát nhã), Gươm báu trao tay (về Kim Cang); Ngàn cánh sen xanh biếc (về Pháp Hoa); và Cõi Phật đâu xa (về Duy Ma Cật)… Năm rồi tôi tặng Thầy cuốn “Tôi học Phật” do tôi viết khá dày khá lớn với 900 trang, nhưng trò chuyện cùng nhau thì thấy thầy đọc cũng gần hết. Tôi biết Thầy Trí Chơn thích cách viết của tôi, chân thành, chia sẻ trải nghiệm, thực hành của chinh mình, không “tầm chương trích cú” kinh sách nặng nề hay dùng điển cố, giáo khoa, mà với cách nhìn “khoa học thực nghiệm”, đem đạo vào đời. Thầy Tuệ Sỹ trước đây, đọc Cõi Phật Đâu Xa của tôi đã có lần gởi tặng tôi cuốn Huyền thoại Duy Ma Cật của Thầy đã ghi “Quý tặng Duy ma Cư sĩ Đỗ Hồng Ngọc” vào năm  2016.

Với tu viện Khánh An, tôi thấy ở đó chẳng những có các Thầy, các bạn, các Phật tử để cùng chia sẻ, tu tập cùng nhau, mà ở đó còn có dịp nhìn ngắm những đường  nét một ngôi chùa nghiêm trang mà nền nã, với  một hồ sen bát ngát, một mái nhà tranh trống hoắc trống huơ chẳng kém nhà Cư sĩ Duy Ma Cật thuở xưa, ở giữa hồ sen, và những giàn bầu giàn mươp, những bụi tre mạnh tông… những vườn rau xanh. Tôi không quên có lần, đích thân Thầy Trí Chơn đã chèo thuyền cùng tôi và các Phật tử đi trên hồ sen… giữa buổi trưa hè mát mẻ.

Mong Khánh An giữ mãi niềm VUI và LÀNH giữa cuộc sống xô bồ nhộn nhịp hôm  nay.

 

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

Saigon, 22/01/2026 .

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Thiền và Sức khỏe

Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ

09/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ 

Salon Văn hóa Cà phê Thứ Bảy

9h sáng Thứ bảy 10.1.2026

Tại 79A Phan Kế Bính, P Đakao, Quận 1, Tp.HCM

Rảnh đến chơi nhe,

Thân mến,

ĐHN

 

Chủ nhật 11.01.2026

Gởi bạn vài tấm hình coi trước nha:

Cafe Tb Dương Thụ ngày  10/01/2026

 

 

 

 

 

 

 

Hội trường nhỏ hẹp. chật cứng

 

Một độc giả: Tôi nay 70, nhờ đọc ĐHN mà bây giờ coi cũng còn trẻ bộn!

 

Một độc giả: Tui tận Đồng Tháp lên đây, còn đi lạc, vô trễ, người giữ xe còn biểu hết chỗ, về đi. Bực mình quá, chen vào đại! Có người nói đi từ Ninh Thuận 350km vào tới đây. Người thì từ Nha Trang, Kiên Giang… Lỗi tại Nhạc sĩ Dương Thụ… có hội trường nhỏ xíu!

 

Có khá nhiều độc giả trẻ đặt những câu hòi rất hay…

Không giống như bữa Ra mắt sách CHUYỆN HỒI ĐÓ ở Đường Sách (10.8.2025), buổi Gặp gỡ và Đối thoại lần này đi sâu vào nội dung như Học y khoa hồi đó thế nào? Hiện nay AI sẽ ảnh hưởng đến ngành Y ra sao? “Thành tựu” của anh trong nghề nghiệp là những gì? Ai là người ảnh hưởng đến anh nhiều nhất? Cơ duyên nào đưa anh đến với Thiền?… Buổi chuyện trò thân mật, chân thành và gần gũi giữa SG đang vào mùa lạnh…

Thân mến,

ĐHN

(Cám ơn Thủy và Ngọc Uyên đã gởi cho hình)

Một vài comments

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

03/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi (1/2026)

 

Bài “Mấy câu hỏi khó cho người… già” trước Tết (tây) không ngờ được  nhiều bạn đọc góp ý…

Xin phép được trích lại đây một vài để chia sẻ cùng bạn xa xôi.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Huỳnh thị Mai Hương (đồng Xuân) viết

01/01/2026 lúc 5:26 sáng

Năm mới, Con kính chúc Bác và gia quyến nhiều sức khỏe,an vui. Con đón đọc những bài viết của Bác như chờ quà và đặc biệt thích những bài hỏi đáp,mỗi khi đọc con cười phá lên một mình. Cảm thấy vui và hạnh phúc lắm. Như được nạp năng lượng siêu sạch vậy. Con ước sao một lần được gặp Bác vì con biết Bác chính là bóng mát che chở cho chúng con trước những nghịch duyên trong đời Mong lắm thay !!!

 

Ngọc Nguyễn Thị viết

31/12/2025 lúc 2:01 chiều

Dạ, rất tuyệt vời ạ. Dù lá vàng rơi hay lá xanh non mới nảy nhánh…đều có cái lý cái tình để hoan hỉ ! Đúng là Chưa Chết mới sợ. Chết rồi hết sơ ! nếu khi chưa chết, ta biết chết đi về đâu, chết là thay cỗ xe mới khỏe mạnh hơn, chết là kết thúc một hành trình để được bước qua con đường mới mẻ…v..v..thì sẽ bớt lo sợ và…tò mò háo hức để biết chết là ntn :-). Háo hức thì chuẩn bị đi nè, như sắp đi du lịch, mình sắp xếp áo quần vào valy, nấu vài món cho con cháu, dặn dò vài việc khi mình đi vắng… Thì sẽ lên đường nhẹ tênh ! Đến lúc…bay bay đi, ko vướng gì nữa, yên tâm và cho phép mình ngưng lo, cho mình được buông xả hết thì còn chi mà lo mà sợ ! Các bác thân yêu nhỉ ?_ Nơi nào ta đến ta đi, đều có những bài học thú vị và khai phá ! Thiệt đó!

 

Dương Minh Trí (PHDS) viết

02/01/2026

Xin có vài dòng về bài thơ Dỗ bệnh của Nhà văn Mai Thảo được nhắc đến trong câu Hỏi-Đáp số 3 “Mấy câu hỏi khó cho người… già” của Bs Đỗ Hồng Ngọc:

 

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

(Mai Thảo)

 

Bài thơ này đã được Bác Ngọc giới thiệu trong lớp PHĐS, lúc đó tôi chỉ hiểu trên bề mặt, cạn cợt. Bây giờ có dịp đọc câu 3 này và suy ngẫm thêm về bài thơ, tôi mới hiểu hơn về chiều sâu triết lý của nó: tâm thế sống của con người.

Dòng 1 cho thấy một sự chuyển hướng rất lạ: thay vì xem bệnh là một kẻ thù, lại xem nó là một người bạn. Đây không phải là sự buông xuôi, mà buông tâm đối kháng.

>>> Trong tu tập, nếu chống lại thực tại (tôi không được bệnh, tôi không muốn như vậy…) thì khổ đau sẽ tăng gấp đôi (đau thân cộng thêm khổ tâm). Còn khi chấp nhận, khổ đau sẽ dừng ở đó, không sinh thêm oán trách, sân hận.

Ở dòng 1, xem bệnh là người bạn, tức là chỉ ở mức làm quen.

Dòng 2, bệnh đã được nâng lên thành “bạn thân”, tức là ở mức sống chung rồi. Ở đây có một sự thật: cái gì không tránh được, nếu không hòa giải sẽ trở thành gánh nặng; còn nếu hòa giải được, nó sẽ trở thành một phần của đời sống.

>>> Tâm thế này gắn liền với tinh thần tùy duyên thuận pháp: không phải muốn thực tại (đang bệnh) theo ý mình (phải không bệnh), mà phải biết có một thực tại đang bệnh và điều chỉnh lối sống cho phù hợp với thực tại.

Dòng 3 cho thấy sự chuyển hóa tâm được nâng lên tầm cao hơn nữa. Hình ảnh “gối tay lên bệnh” diễn tả sự nằm cùng, nương tựa, an trú vào cái bệnh. Còn “thanh thản” ở đây không phải là hết bệnh, mà đến từ tâm không còn chống bệnh.

>>> Đây chính là chỗ chánh niệm: biết rõ thân đang bệnh (đau), nhưng tâm không bệnh (khổ) theo.

Dòng 4, chữ “đá vàng” gợi lên sự bền chắc, keo sơn, trước sau như một. Bệnh – thứ làm người ta sợ hãi – lại trở thành tri kỷ bền lâu. Đây không phải lãng mạn hóa bệnh, mà là nâng tầm thái độ sống: khi không còn chạy trốn bệnh, mà chấp nhận/đón nhận nó, thì cái khổ không còn quyền hành hạ.

Tóm lại, bài thơ mang tinh thần chuyển hóa khổ đau bằng thái độ, không bằng hoàn cảnh. Nó tuy mang tựa đề là “Dỗ bệnh”, nhưng có thể hiểu sâu hơn là “dỗ cái tâm trước bệnh”. Và khi tâm đã yên, bệnh – dù còn (đau) – cũng không còn là khổ.

(DMT)

………

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Phật học & Đời sống, Thầy thuốc và bệnh nhân

Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!

28/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Mấy câu hỏi khó cho người… già!

Người già đây là tôi, dù tôi mới… 86 tuổi. Biết tôi là bác sĩ, có học Phật chút chút, nhiều bạn thường đặt những câu hỏi khó về sức khoẻ, về “Sanh lão bệnh tử”. Tôi cũng ráng trả lời đây đó đôi lần (ML,ĐH…), nhưng mới đây, một bạn đồng nghiệp trẻ vừa 80 tuổi, đang sống bên trời Tây nhắc tôi: “Philosopher c’est apprendre a mourir…” nên dịp này tôi xin gởi lại các bạn xa xôi của mình đôi điều suy nghĩ.

Coi vui nhe.

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 28.12.2025)

 

Mấy câu hỏi khó cho người… già!

 

Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có “giới thiệu” vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!

Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa (Vô sân), thường… nằm một chỗ (Bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều là niềm vui kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui riêng của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có “giới thiệu” một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “Chân Không Diệu Hữu”.

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng thấy tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

 

Làm sao luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải cơ thể ta có sẵn thuốc trong chính mình?

Các thứ thuốc quý không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” chờ một lúc ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết “thở bụng” để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là ăn uống. Thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng ăn uống không đúng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v…

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy. Có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

 

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sản sinh các thứ “Hormones hạnh phúc” như Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

 

Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, nhưng tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti c ũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(12/2025)

…………………………………….

Tôi không có Facebook, nhưng có người gởi cho đường link này.

Tùy hỷ nhe:

https://www.facebook.com/share/182fWoNw5t/?mibextid=wwXIfr

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật

Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)

27/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)

Nhiều chuyện để kể bạn nghe lắm, mà làm biếng tệ! Bạn nhắc, đành phải lược thuật đôi lời.  Nhớ lúc này anh Hai Trầu Lương Thư Trung cũng 84 rồi chớ chơi sao. Mà hình như… chỉ còn mình anh là ham đọc ham viết. Mừng ghê đó nhe.

Tuần trước Tạp chí Quán Văn tổ chức một buổi Văn nghệ “MiềnTrung vọng tiếng” khá đông anh chị em tham dụ, mỗi người góp tí để các bạn QV về thăm bạn bè văn nghệ miền Trung , do Hoàng Kim Oanh, Quang Đặng, Hoài Huyền Thanh… lên đường. Mình cũng có đến dự, tiếc không gặp Nguyên Minh (đang bệnh), Thân Trọng Minh (đang bận), Châu Văn Thuận… (đang kẹt)… Tóm lại, nhóm Ý Thức xưa chẳng gặp ai. Lữ Quỳnh thì xa lắc, Lê Ký Thương, Trần Hoài Thư… thì xa lơ!

Nhiều bạn hỏi thăm Quán Văn giờ ra sao? Nghe HKO bảo: Nguyên Minh “chủ xị” tuy đang bệnh cũng ráng “layout” một số Xuân đặc biệt! Thương quá!

Mình bây giờ làm gì ư? Làm biếng. Hàng tuần học với Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi. Thỉnh thoảng gặp nhóm bạn NNT ( lớp Phật học và Đời sống), trò chuyện offline ở Đông Hồ. Mình vốn thích không khí thiên nhiên như vậy..Dịp này, có cuốn sách về Thiền học của Phan Tấn Hải, do Chùa Tây Tạng Bình Dương ấn tống, mình mang biếu các “đạo hữu”. Mình cũng đề nghị năm tới nên học và hành 10 hạnh Phổ Hiến thì hay.

Một cô bạn trẻ, tuổi gần 75, ở Mỹ viết thư nói Noel bọn con cháu tụ về thăm bà Nội bà Ngoại, thấy tụi nhỏ già… bắt ớn! Thì ra, mình có bao giờ già đâu! Tới “nóc” rồi, già sao nổi nữa phải không?

Thân mến.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 12/2025)

05/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

(tháng 12/2025)

Sáng nay mở “meo” được thư anh Hai Trầu Lương Thư Trung mới gởi, còn nóng hổi, thì ra lúc này trời trở lạnh, ảnh đem mấy chậu cây trái vào trong nhà cất để giữ ấm… bỗng nhớ tới người bạn già xa xôi, bèn làm bảng cập nhật Tác phẩm xưa nay của Đỗ Hồng Ngọc gởi về tặng. Dễ thương chưa? Xin phép anh Hai Trầu cho post lên đây với lòng biết ơn không biết nói sao nhe anh Hai.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………………………..

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thân mến,
Dà, tôi mới vừa cập nhật thêm ba cuốn sách mới của anh Ngọc (tôi có tô đậm ở Phần II, mục 22, 23, 24 ) và xin gởi để anh Ngọc giữ chơi cho vui và nếu thiếu xin anh Ngọc bổ túc thêm giùm.

(5.12.2025)

 

TÁC PHẨM BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

(Hai Trầu Lương Thư Trung sưu tập, tháng 7.2020- tháng 12 năm 2025)

I.Thơ

1/ Tình Người (1967)
2/ Thơ Đỗ Nghê (1973)
3/ Giữa hoàng hôn xưa (1993)
4/ Vòng quanh (1997)
5/ Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)
6/ Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)
7/ Những Bài Viết Về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc):   “Như Không Thôi Đi Được” (2020).
8) Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc (Ngôn Ngữ, 2024)

II Văn: Tùy bút, tạp văn

1/ Gió heo may đã về (1997)
2/ Già ơi…Chào bạn! (1999) Bản dịch tiếng Nhật (Minagawa, Soshisha 2001),
3/ Những người trẻ lạ lùng (2001)
4/ Thầy thuốc & Bệnh nhân (2001)
5/ Như ngàn thang thuốc bổ (2001)
6/ Cành mai sân trước (tuyển tập, 2003)
7/ Thư gởi người bận rộn (2005)
8/ Khi người ta lớn (2007)
9/ Như thị (2007)
10/ Chẳng cũng khoái ru?(2008)
11/ Nhớ đến một người (2011)
12/ Thư gởi người bận rộn 2 (2011)
13/ Ăn vóc học hay (2011)
14/ Ghi chép lang thang (2014)
15/ Già sao cho sướng? (2015)
16/ Có một con mọt sách (2015)
17/ Một hôm gặp lại (2016)
18/ Nếp Sống An Lạc (2017)
19/ Về Thu Xếp Lại (2019)
20/ Biết Ơn Mình (2019)
21/ Để Làm Gì (2020)

22/ Áo Xưa Dù Nhàu (2022)

23/ Một Ngày Kia… Đến Bờ, tùy bút (2023)

24/ Bản dịch tiếng Anh “One Day… Reaching the Other Shore”

(MD, Thư viện Hoa Sen) 

25/ Bản dịch tiếng Đức: Eines Tages… das andere Ufer erreichen (Văn Công Tuấn và Prof. Beuchling) (2025)

26/ Con Đường An Lạc (2025)

27/ Chuyện Hồi Đó (2025)

 

III. Phật học:

1/ Nghĩ từ trái tim (về Tâm Kinh Bát Nhã, 2003)
2/ Gươm báu trao tay (về kinh Kim Cang, 2008)
3/ Handing down precious sword

(Giao Trinh, bản dịch tiếng Anh, 2015)
4/ Thấp thoáng lời Kinh (2012)
5/ Thiền và Sức khỏe (2013)
6/ Ngàn cánh sen xanh biếc (về kinh Pháp Hoa, 2014)
7/ Cõi Phật đâu xa (về kinh Duy Ma Cật, 2016)
8/ Thoảng Hương Sen (2018)
9/ Thấp Thoáng Lời Kinh (Thư viện hoa sen, 2019)
10/ Tôi Học Phật (2023) (Thư viện Hoa Sen 2019)

11/ Bông Hồng Cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật (2022)

IV. Y học thường thức:
A- Sách dành cho tuổi mới lớn:
1/ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)
2/ Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn (1989)
3/ Bệnh ở tuổi hoc trò (1990)
4/ Viết cho Tuổi mới lớn (1995)
5/ Với tuổi mười lăm (1997)
6/ Bỗng nhiên mà họ lớn (2000)
7/ Bác sĩ và những câu hỏi của tuổi mới lớn (2003)
8/ Tuổi mới lớn (tuyển tập, 2005)
9/ Khi người ta lớn (2011)

B- Sách dành cho các bà mẹ:
1/ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974)
2/ Chăm sóc trẻ từ sơ sinh đến 3 tuổi (1978)
3/ Làm sao để trẻ được khỏe mạnh và thông minh? (1991)
4/ Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em (1980)
5/ Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc (1986)
6/ Nuôi con (1988)
7/ Sức khỏe trẻ em (1991)
8/Câu chuyện Sức khỏe (1996)

Tổng cộng: 63 quyển (chưa kể còn vài tác phẩm trên liên mạng, chưa in)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Một chút tôi

Trò Chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Tình Yêu và Cuộc Sống

25/11/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Trò Chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

về Tình Yêu và Cuộc Sống

(Tiếp theo “Hỏi Chuyện Học Phật ”, Tạp chí Từ Quang, số 53)

 

Đỗ Hồng Ngọc & Minh Lê (NT)

 

Trong thời đại kết nối ảo nhiều hơn thật, anh nghĩ tình yêu sẽ thay đổi ra sao so với ngày xưa lúc người ta kết nối với nhau bằng cách gặp gỡ và thư từ?

Thay đổi nhiều chớ. Thay đổi đến chóng mặt! Hồi xưa hả? Còn có “phúc hôn” là hai trẻ yêu nhau từ trong bụng mẹ. Hai bạn bầu hẹn nhau, hai đứa là trai với gái thì sau này thành vợ chồng nhe. Rồi trao lễ vật làm tin.

Rồi tới thời phải có mai mối: “em tuy mới mười lăm, mà đã lắm người thăm, nhờ mối mai đưa tiếng…” (NNP).

Nhiều đôi vợ chồng không hề biết mặt nhau, đến ngày cưới còn có khăn che mặt, vậy mà họ ở với nhau tới đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn. Thư từ ư? Con gái có thời không cho học chữ, sợ nó viết thư cho trai. Cái thời đó lạ lắm, ca dao có câu “trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng, dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”… Còn thời không xa đây lắm, yêu nhau đâu có dám nói. Cho nên “…Bài thơ cứ còn hoài trong cặp/ giữa giờ chơi mang đến lại mang về!” (ĐTQ)…

Nghe những chuyện tình xưa như vầy, các bạn trẻ sẽ cười bể bụng! Một bức thư tình qua email có thể gởi cho nhiều người cùng lúc…  Tỏ tình thì xếp hoa thành hình trái tim trong sân trường…  cho máy bay phất phới “I love you” trong gió, quỳ gối nâng hộp kim cương… Nồng cháy lắm, mà lạ, tan vỡ rất nhanh.

Người ta còn yêu nhau xuyên đại dương, qua chat, qua máy tính, qua smartphone… Không biết sau này còn có những kiểu tình yêu gì khác nữa, với thời Robot, AI… Những mối tình giữa người với robot, giữa robot với robot  Con cái không phải lo. Tinh trùng và trứng có bán đầy ở… siêu thị!

Không đâu! Tôi tin đến một lúc, người ta quay lại thời xa xưa thôi. Tình yêu linh thiêng lắm.  “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi/ lại thấy trong ta hiện bóng… con người” (TCS).

Trên thực tế, hiện vẫn thấy những cuộc tình, những cuộc hôn nhân tốt đẹp nhờ internet, kết nối, giúp tìm hiểu nhau, tâm đầu ý hợp, lại tìm thấy nhau như hẹn nhau từ muôn kiếp trước vậy! Cứ yên tâm.

Theo anh, câu “tình chỉ đẹp những khi còn dang dở” có đúng không?

Không đâu. Không ai mong cho tình dang dở để nó “đẹp mãi” đó đâu! Mấy nhà thơ thất tình bày đặt để tự an ủi đó thôi.

“Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề”…  là chuyện riêng của Hồ Dzếnh thôi, không phải của tất cả mọi người.

Anh có cho rằng phải có thử thách thì tình yêu mới trở nên sâu sắc không?

“Thử thách” là sao không hiểu? Có phải là làm cho tan vỡ, cho lìa xa, để hạnh phúc hơn khi tái hợp? Hạnh phúc và khổ đau có thể là một? “Tình yêu đến tình yêu đi ai biết? Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt?…” (Xuân Diệu) để “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ không muốn chữa không chịu lành thú độc?” (XD) . Có người thích như thế, họ nuôi vết thương, khoét cho nó sâu thêm để  tìm “thú độc”, “thú đau thương” nhưng hình như nguời trẻ bây giờ thường tìm cách “chữa lành” đó thôi!

Có khi nào anh thử so sánh chức năng của trái tim của cơ thể và trái tim trong tình yêu không?

Ai lại đi so sánh chuyện như vậy? Trong tình yêu, trái tim của cơ thể đã hoàn toàn đổi khác. Nó loạn nhịp. Nó mềm nhũn. Nó thổn thức. Nó đau đáu… Và nó có lý trí riêng của nó. Nhớ phải lắng nghe và tôn trọng nó.

Anh có tin vào duyên phận không?

Có. Tôi tin duyên phận. Không duyên không phận sao nó đưa đẩy cho kết nối “đúng khớp” như vậy được? Nhưng cái gì làm ra duyên đó? Có cái phận, tức là cái nghiệp chăng?

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả?  (Tuệ Sỹ).

Câu hỏi đặt ra là có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, dị thục, nhân quả. Bằng chứng đâu? Nhưng hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?

Làm sao để giữ được sự dịu dàng trong tình yêu, khi xã hội ngày càng khắc nghiệt?

Đâu có mắc mớ gì đến “xã hội” ngày càng khắc nghiệt ở đây? Khắc nghiệt là chuyện bên ngoài, dịu dàng là chuyện bên trong. Đóng kịch “dịu dàng” cho vừa lòng xã hội ư? Trước sau gì cũng lộ tẩy, tan vỡ! Cứ tự nhiên. Nó vậy là nó vậy. Con gà mà bắt chưóc thiên nga, nhảy xuống hồ bơi thì biết!

 “Càng trưởng thành càng khó yêu.” Đúng không? Anh nghĩ trưởng thành có làm mất đi sự ngây thơ cần thiết cho tình yêu không?

Ai nói “ngây thơ” cần thiết cho tình yêu? Ý là càng ngây thơ càng dễ bị dụ, dễ bị sụp bẫy phải không? Vậy thì tội nghiệp cho cái gọi là tình yêu quá!  Tôi thấy nhờ trưởng thành mà tình yêu mới chín muồi, mới “rụng” cái rụp chớ. Yêu nhau đâu phải nhờ vào sự ngây thơ, ngu dốt, bị lường gạt, lừa đảo… ? Ồ, nhưng mà, ngày nay người ta giả bộ ngây thơ nhiều lắm thì phải? Bẫy giăng ra, bẫy sụp thì ai cũng… mừng!

Với anh, tình yêu và lòng từ bi có khác nhau không?

Khác xa chứ! Từ là Thương, Bi là giúp làm giảm khổ .  “Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ xả” là rất quan trọng, trong đời sống hàng ngày: ” Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ. Từ mang tới niềm vui, Bi làm cho bớt khổ. Ở đây chắc  muốn hỏi về “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (TCS) phải không? Vậy là yêu vì thương hại, vì thấy tội nghiệp. Tình yêu chân chính chắc phải đòi hỏi sự tôn trọng và bình đẳng, không phân biệt.

Theo anh nên làm sao để “yêu” mà không hóa thành “ràng buộc”?

Là tại lòng tham.  Tại muốn “ràng buộc”! Cho nên Từ Bi phải luôn đi với Trí Tuệ. Người xưa khuyên “tương kính như tân”… lúc nào cũng như “tình đầu”. Mà, nếu không được như tình đầu thì… như tình cuối cũng tốt.

Làm sao để có thể yêu mà không đòi hỏi, khi mỗi cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn từ xã hội và gia đình?

Nhu cầu đòi hỏi đó có chính đáng không? Khi người ta đã thực sự yêu nhau thì người ta đâu cần để ý gì đến đòi hỏi của xã hội và gia đình. Người ta có thể chủ động vượt qua mà! “Mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” đó thôi.

Anh nghĩ tình yêu có thể cứu rỗi một người đang mất niềm tin vào cuộc sống không?

Có. Chắc chắn có. Đó là thứ tình yêu chân thật. Khi người ta mất niềm tin về cuộc sống thì tình yêu chân thật sẽ “cứu rỗi” được ta.

Nhìn lại thế giới hôm nay, anh thấy căn bệnh tinh thần lớn nhất của con người hiện đại là gì?

Là Tham Sân Si. Vì lòng tham thì không đáy. Lòng sân (giận) thì “nộ khí xung thiên”, và lòng Si vì không “thấy biết” (tri kiến) đúng. Không thấy biết cái Không, cái duyên sinh, cái nhân quả, cái thiện cái ác…! Hồi xưa có một ông Vua hùng mạnh dặn hầu cận mổi sáng nhắc ông: Nhà vua cũng chỉ là người!

Anh nghĩ sao về nỗi cô đơn thời kỹ thuật số, khi một người có thể nói chuyện với hàng trăm người mà vẫn thấy cô đơn?

Cho nên người ta chỉ  cần có một nguời để “nhìn nhau không nói” là đủ hạnh phúc lắm rồi!

Nếu có một “toa thuốc” cho xã hội hôm nay, anh sẽ kê những gì?

Quay về nương tựa chính mình và thực hành Giới Định Huệ. Sẽ nhìn ra vũ trụ mênh mông không ngằn mé kia là chính cơ thể mình. Nối các mao mạch của cơ thể, dài đủ 2 vòng trái đất. Mỗi ngày tim đập đủ nâng một sức nặng bằng đầu máy xe lửa…

Nhiều người trẻ đang hoang mang vì thế giới quá nhiều biến động. Theo anh, “bình an nội tâm” bắt đầu từ đâu?

Không từ bên ngoài mà từ bên trong. Thế giới phải luôn luôn “đầy biến động” như vậy mới là… thế giới. Biến động cũng như sóng biển thôi, có khi sóng lăn tăn, có khi ầm ào đập vào bờ đá, tung toé khắp nơi, có khi sóng thần, có khi bão tố… Sóng ít khi yên tĩnh. Nó luôn xao động, bởi có gió, bờ cát, vách đã, bê tông chắn sóng… Nhưng dù thế nào thì nó vẫn là nước. Nếu nó biết nó vốn là nước thì nó “bình an”.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) nhớ không? Bát chánh đạo là phương pháp tốt nhất để mình được bình an như thế! Chánh kiến/chánh tư duy/chánh ngữ/chánh nghiệp/chánh mạng/chánh tinh tấn/ chánh niệm/ chánh định. Nghe lùng bùng lỗ tai, thiệt ra nó chỉ là Tam học: Giới Định Huệ, để trừ Tam độc là Tham Sân Si đó thôi.  Nhờ giới, ta bớt tham, nhờ định ta bớt sân (giận) và nhờ huệ (Tuệ) ta bớt si. Bớt thôi nhe. Bớt là quý rồi.

Anh có nghĩ rằng con người đang sống quá nhanh nên không còn kịp lắng nghe chính mình không?

Đúng là “quá nhanh quá nguy hiểm”! Nhưng con người vốn “tự do” mà. Do mình muốn chậm thì chậm, muốn nhanh thì nhanh đó thôi. Đừng đổ thừa. Nếu biết sống “thiểu dục tri túc” (biết đủ, ít ham muốn), biết “nguỵệt lai môn hạ nhàn” (trăng treo cửa sau là Nhàn) thì còn kiếm đâu xa. Ta sẽ có nhiều thì giờ hơn để lắng nghe chính mình thôi.

Khi thế giới đầy bạo lực và điều ác, niềm tin vào cái thiện còn chỗ đứng không?

Thiện thắng ác, chánh thắng tà. Ngàn đời nó vậy.  Nhân quả nó vậy. Nhưng từ nhân đến quả, phải có cái gì đó gọi  là “duyên” xúc tác phải không? Cẩn thận với duyên. Cây quít ở Giang Nam thì có trái ngọt, đem qua Giang Bắc thì sinh trái chua, đó là do thổ ngơi, do cách chăm sóc, tưới bón…

Trong y học và đời sống, anh đã nói về “sống chậm”. Với nhịp sống ngày càng nhanh như hiện nay, liệu sống chậm có còn phù hợp không?

Tuỳ mục đích sống của mỗi người. Như một hoàng tử ngày xưa được vị thần cho cuộn chỉ thời gian, chàng kéo thật nhanh để mau được làm vua, xây tam cung lục viện, đánh nam dẹp bắc, khi nhìn lại, giật mình, cuộn chỉ sắp hết, chàng vội cuốn ngược lại mà không sao được nữa! Nó vậy đó. Tuỳ mục đích sống mỗi người.

Gần đây thấy có mấy du khách ở Âu Châu về Việt Nam chơi, chỉ thích đi xe lửa chạy chậm như rùa của mình, khoái trá lắm vì có dịp thấy phong cảnh hai bên, thấy sinh hoạt của con người… nói chung họ thưởng thức sự nhẩn nha hiếm thấy ở xứ sở họ. Tôi cũng có dịp đi xe lửa “đầu đạn” ở Nhật, xe vèo vèo không thấy được phong cảnh hai bên coi nó thế nào nữa! Tóm lại, tuỳ mục đích đời sống của mọi người thôi nhe.

Theo anh, ý nghĩa cuộc sống của con người nằm ở đâu?

Tôi nghĩ, ở chỗ tìm kiếm hạnh phúc. Hạnh phúc có đó rồi mất đó, lại hùng hục chạy đi tìm kiếm cái khác. Sau cùng thì thấy hoá ra hạnh phúc ở ngay đây, ở sát na này. Thì ra tất cả là chân Không, tất cả là Diệu hữu. Chân Không mà diệu hữu. Diệu hữu mà chân Không. Thật thú vị. Ai thấy biết vậy thì đã an lạc, ở đây và bây giờ. Biết tri Túc, Biết tri Nhàn.  Đó là cái “tri kiến” của Phật, đã “khai thị” cho chúng sanh để “ngộ nhập” từ Kinh Pháp Hoa, ngag dưới chân núi Linh Thứu… hơn hai ngàn năm trước. Tiếc thay, có đến mấy ngàn người đã lẳng lặng bỏ đi, không thèm nghe!

Nhưng chuyện không dừng ở đó. Ý nghĩa cuộc sống có lẽ phải bắt đấu từ câu hỏi, ta là ai, ta từ đâu đến? và sẽ đi về đâu?

Cho nên ý nghĩa cốt lõi của con người cũng như mọi sinh vật là sự tồn tại cá nhân và duy trì loài giống. Để tồn tại, con người phải thích nghi được với môi trường. Người Eskimo sống khác với người nhiệt đới xích đạo. Người Tây Tạng khó mà trường chay được. Và phải có nhiệm vụ “truyền giống” bằng cách nào đó để duy trì giống loài. Tại sao thì không biết. Không chỉ con người mà con giun cái kiến cũng phải vậy. Hình như nó có một thiết kế vĩ đại, tuy có thể không có nhà thiết kế như nhà bác học Hawking đã nhận định.

Với một người trẻ chưa có gì trong tay, anh sẽ nói gì để giúp bạn ấy tin vào tương lai

Nếu hỏi hồi tôi còn trẻ, “chưa có gì trong tay” thì tôi “nói với tôi” điều gì thì còn có thể trả lời được. Thời đại ngày nay thì tôi chịu! Người trẻ bây giờ không ít bạn mơ thành tỷ phú một đêm, đi dạo trong vũ trụ với các phi thuyền giữa các hành tinh, hẹn với người yêu cách xa ngàn năm ánh sáng chỉ cần cái nhấp chuột… Dĩ nhiên bên cạnh đó là nhưng người trẻ sống một cách khác, tìm kiếm an lạc, hạnh phúc một cách khác cho mình và cho người.

Thời tôi, khi mới lớn, tôi đọc Tương lai trong tay ta, Bảy bước đến thành công,  Rèn nghị lực để lập thân, Gương danh nhân, Gương kiên nhẫn… nhất là cuốn Tự học để thành công v.v… của Nguyễn Hiến Lê. Rồi đọc Đông châu liệt quốc, Tam quốc, Thuỷ Hử, Liêu trai chí dị… Sử ký Tư mã thiên, Kinh Dịch, và  đọc các nhà Hiền triết Đông Tây… và Phật học. Tôi nhớ mình rất mê đọc sách, chăm chỉ học…  Sau này, tôi cũng bắt đầu viết cho đàn em: Ăn vóc học hay, Khi người ta lớn, Nếp sống An lạc, Thiền và Sức khoẻ… nhưng hình như thế hệ này cũng đã qua rồi. Bây giờ các bạn trẻ có lối sống hiện đại. Nhiều bạn mất rất nhiều thì giờ chơi games, sống với internet, với AI và Robot, phi thuyền, du hành vũ trụ v.v…

Tương lai nằm trong lối sống hiện tại của ta. Có hai yếu tố, chánh báo và y báo. Chánh báo là bản thân ta, có thể do di truyền, và y báo là môi trường sống. Có nhiều bạn trẻ nhờ chuyển đổi môi trường mà thành đạt. Thầy Mạnh Tử nhớ không? Phải ba lần nhờ bà mẹ dời nhà mới có cơ hội học hành mà trở thành một bậc thánh …

Anh thấy văn hóa Việt ngày nay đang cần điều gì nhất?

Cần “văn hoá” nhất! Mà văn hoá thì từ lối sống xã hội và lối giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng, nhân bản là rất cần thiết. Theo tôi, có lẽ nên cho học sinh cấp một học lại một số bài trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày xưa. Những chuyện kể thì nhớ dai lắm. Không phải lên giọng dạy đời, đao to búa lớn gì cả!… Nếu trong sách giáo khoa ngày nay không còn có những bài học đơn giản mà sâu lắng này thì thầy cô giáo có thể kể cho học trò mình nghe. Nó sẽ nhớ suốt đời đó…, như một truy ện ngắn của Sơn Nam, “Tình nghĩa giáo khoa thư”, bây giờ đọc lại vẫn thấy rưng rưng.

Người làm thầy không phải là người bán kiến thức nữa rồi! Kiến thức đầy trên mạng. Chưa kể ngày nay còn có AI. Thầy chỉ cần là người truyền cảm xúc, học trò sẽ tự mình “khai mở” cho mình về dài về lâu… Chừng mươi bài là đủ nên người: Thương người như thể thương thân.  Không nên hành hạ loài vật. Không nên phá tổ chim. Chuyện quả dứa, Không tham của người.  Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa. Con hổ và con chuột nhắt. Cái thú nhà quê và cái thú kẻ chợ. Kẻ ở người đi. Chuyện anh em nhà họ Điền. Con chó và miếng thịt…(Quốc văn giáo khoa thư).

Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có giới thiệu vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!  Ngài là một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên Cảnh Trí. Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa, thường… nằm một chỗ (bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có giới thiệu một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “chân không diệu hữu”, thấy đúng như “nó là” (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh cũng vốn là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi!).

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti c ũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Trong Thiền định sâu (Phổ Hiền tam muội), hay trong Diệt thọ tưởng định thì ta sẽ có dịp “trải nghiệm”. Ta sẽ thấy biết vô tướng, “không còn ta còn người còn chúng sanh còn thọ giả” gì nữa! (Kinh Kim Cang)!  “Thọ tưởng” đã không còn thì “hành thức” cũng dứt. Dĩ nhiên, một khoảnh khắc sát- na cũng đã là vĩnh cửu.

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

Về y học: mỗi giây có hàng trăm triệu tế bào hồng cầu già tự huỷ diệt và có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu mới trẻ  khoẻ thay thế, các chất liệu sẽ được sử dụng lại  để “tái chế” tập trung lưu giữ ở lá lách còn gọi là “nghĩa địa hồng cầu”, chớ không bị mất đi.

Anh thấy điều gì là quan trọng nhất để một người luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải mỗi người đều có sẵn thứ thuốc trong chính mình?

Điều quan trọng là bệnh nhân phải tự ý thức về điều đó. Các thứ thuốc không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” (thở bụng) chờ ít lâu sau ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết thở bụng để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là th ức ăn. Bởi thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng “trăm thứ bệnh đi qua đường miệng”. Ăn không đúng chất và lượng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v… Các thứ “thuốc” đều có quanh ta, trong thức ăn, trong nước uống.

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy, bệnh tăng huyết áp, tiểu đường… chẳng hạn, có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, để “hai bên cùng có lợi”, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

 

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể được là vậy.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sinh các thứ Hormones hạnh phúc: Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

Anh học được gì từ các bệnh nhân của anh?

Học được nhiều chớ! Bác sĩ có thể biết được phần nào “bệnh”của người bệnh qua triệu chứng, qua bệnh sử, qua xét nghiệm này nọ, nhưng chính người bệnh mới biết “sức khoẻ” của họ. Bởi sức khoẻ, như định nghĩa là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh tật. Mà sự “sảng khoái” của họ thì làm sao bác sĩ biết được? Còn về chuyện mối tương giao, tương tác trong gia đinh, xã hội và cả đời sống của họ thì càng không thể biết. Thậm chí nhiều khi bác sĩ vô tình mà thành hù doạ bệnh nhân, làm họ suy sụp, lo lắng và sợ hãi, thậm chí từ đó mà lệ thuộc vào thầy vào thuốc. Do đó, mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân phải được dạy rất kỹ ở trường y về Y đức, chẳng hạn như: 1.Trước hết không gây hại (primum non nocere);  2.Tôn trọng sự tự chủ của người bệnh; 3.Không kỳ thị, phân biệt đối xử v.v…

Con người có thể đạt được sự bình an trong tâm hồn dù vẫn còn nhiều đam mê không?

Vấn đề là “đam mê”cái gì? Đam mê, khao khát, muốn gồm thâu lục quốc,  nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử … thì dù xây bao nhiêu cái vạn lý trường thành cũng công cốc.  Phật khuyên “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý” là đủ. Việc ác không làm. Việc thiện thì làm. Tự mình làm cho tâm ý mình an tịnh. Lúc đó, ta nhìn thấy các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng thì thoát.

 “Buông bỏ” là cụm từ gần đây được nói đến khá nhiều. Theo anh, “buông bỏ”  là gì? Có khác gì với “vô cảm” không?

“Buông bỏ” là  Xả, là không còn dính mắc. Hai ông Tỳ kheo trên đường về chùa,  vừa đến bờ sông thì thấy một cô gái sắp chết đuối. Một ông lao xuống nước cứu cô gái, cõng cô vào bờ. Trên đường về, vị tỳ kheo thứ hai cằn nhằn trách móc mãi chuyện Tỳ kheo mà dám phạm giới.  Vị tu sĩ trẻ trả lời đệ đã đặt cô ấy xuống lâu rồi sao sư huynh vẫn cứ còn cõng cô ấy đến tận cổng chùa vậy hử?

“Buông bỏ” không vô cảm. Trái lại còn quả cảm, đa cảm nữa! Có thể nói Buông xả… chỉ là không bị dính mắc, trói buộc, mà đã từ bỏ tham ái, chấp thủ.. Buông Xả là một trong “Tứ vô lượng tâm” (Từ bi hỷ xả). Buông xả không phải là từ bỏ mọi thứ, trốn tránh trách nhiệm, mà là để tâm trí được trở nên tự do và thanh thản. Nhờ đó mà sáng suốt, tỉnh thức hơn.

Có khi nào anh mất niềm tin vào con người không? Nếu có, anh đã làm gì để tìm lại nó?

Không có niềm tin vào con người thì còn biết tin ai? Đã làm gì ư? Im lặng. Rồi ngẫm lại mình.

 Vậy bài học khó nhất trong yêu thương là gì?

Nhiều gia đình kêu là rất thương yêu nhau mà thường cắn đắng, phiền trách, ghét bỏ, thậm chí…  oán hận nhau?  Bài học khó nhất trong yêu thương là gì ư? Chính là Từ Bi Hỷ Xả. Hãy lấy một thí dụ:

Khi một bà mẹ mang thai đứa con trong lòng, một tình thương vô bờ bến đã tràn vào tâm hồn bà, một tình thương vô điều kiện,  sẵn sàng chấp nhận, hy sinh, để bảo vệ đứa con, sẵn sàng làm mọi thứ tốt lành cho đứa con, mỉm cười với nó, nhẹ nhàng với nó, hãnh diện vì nó… Có phải là Từ không?

Rồi khi con bi bô, chạy nhảy chơi đùa, u đầu sứt trán, tróc vảy trầy da , cha mẹ nào cũng đau cái đau của con,  đau còn hơn con,  muốn đau thay cho con mà không được, quan tâm, chăm sóc, làm giảm đau,… Có phải là Bi không?

Rồi con lớn lên, đi học, lớp này lớp khác,  đạt thành tich này thành tích khác mẹ nào chẳng hân hoan sung sướng nhìn con, chia sẻ cùng con nỗi mừng vui, không hề có chút lòng ganh tị ! Vui cái vui của con như của chính mình. Có phải là Hỷ không?

Rồi khi con lớn khôn, ra trường, có sự nghiệp, người làm cha mẹ nào cũng cảm nhận đựơc sự bình an, hạnh phúc, đã làm hết những gì cần làm cho con với tấm lòng rộng mở. Có phải là Xả không?

Nếu có thể gởi cho người trẻ một lời khuyên, anh sẽ nói gì?

Hãy quay về “nương tựa chính mình” và thực hành Giới Định Huệ. Hãy bắt đầu từ 5 Giới: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không nói dối, Không tà dâm và Không nghiện ngập. Chừng đó, giữ được là đã có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Làm nền móng cho cuộc sống An vui cho mình và cho người, cho xã hội vậy.

 

(ĐHN)

Saigon, 22.11.2025

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 96
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email