Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Thư gởi bạn xa xôi: Nha Trang tháng 2-3/2025

11/03/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Nha Trang tháng 2-3/2025

Mình mê xe lửa từ hồi nhỏ. Ở Phan Thiết thường lên Ga Mường Mán tót lên xe lửa vào Saigon. Quá dễ. Có Thẻ học sinh, còn được đi miễn phí. Bạn bè đưa nhau vào tận khoang xe, đợi còi rú lên, lăn bánh mới tạ từ… bịn rịn nhảy xuống xe như ngày xưa “người xuống ngựa kẻ dừng chèo…”. Thời chiến, xe lửa không chạy được, nhớ lắm. Khi có chuyến xe đầu tiên đi quãng ngắn từ Saigon lên Biên Hoà, Thủ Đức, qua Gò Vấp, Dĩ An thì mừng rơn. Mình viết ngay bài thơ Đi Cho Đỡ Nhớ lúc đó.

Lần nay quyết đi Nha Trang một chuyến bằng xe lửa. Khởi hành 26.2.2025 tại Ga Hoà Hưng, Saigon. Hẹn với mấy bạn… trẻ (nói nho nhỏ thôi, họ giận!): PB mới 74 tuổi, từng đi Myanmar học Thiền, tu hành miên mật, giữ giới,  ngồi thiền nghiêm chỉnh, bậc Sư. NTN, mới 71, “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”, và NVT cũng mới 71, “giang hồ nghĩa hiệp”, từng đi Kailash năm nào với NTB. Mình già nhất, mới lên 86, nên được các bạn thương quý…

Xe lửa đi Nha Trang bây giờ khá lắm, sạch sẻ, đúng giờ, thông bào tốc độ, thời tiết qua từng ga, có máy lạnh, có nước nóng pha trà… Dĩ nhiên là có restaurant…, couchette đang hoàng. Từ Saigon đi Nha Trang mất 8 tiếng, 50 km/ giờ, mình có thời gian để ngắm rừng thanh long Phan Thiết, Cà Ná biển xanh, quat gió Phan Rang, dừa Cam Ranh… Qua ga Mường Man, Tháp Chàm, Suối Kiết, Sông Pha… còn muốn gì nữa phải không? Nay mai có xe lửa đầu đạn như Nhật, 300 km/giờ, cái rẹt, chán chết.

Gởi bạn vài hình ảnh chuyến đi Nha Trang của mình mới rồi coi vui thôi nhe.

PB, NTN, ĐHN

Mỗi khoang có 4 giường, minh ưu tiên giường trệt, dĩ nhiên!

 

Trò chuyện rôm rả. Mình "thanh thủ" hỏi PB chuyện học Thiền ở Myanmar.

Đúng ngọ rồi, phải ăn thôi! Vào restaurant là tiện nhất. Mỗi người một dĩa cơm, cá nục chiên sốt cà. Có ớt rất ngon. NTN phải có lon bia. Mình “phấn đấu” uống được 20 ml thôi!

 

Xe lửa chạy rầm rầm, ngồi thiền thiệt khoái!

 

Cà Ná đây rồi!

Thăm các Sư ở Chùa Từ Đức, Cam Lâm.

 

 

 

 

Trên đường đi Hòn Bà, nơi có ngôi nhà cổ của Bác sĩ Yersin. Đường đi quanh co hiểm trở.

 

Đường lên Hòn Bà bị tắc, đang sửa, đành phải quay lại. Hẹn dịp khác.

 

Nha Trang đây rồi. Khu kiosque Bốn Mùa nay đã rất khác,

 

Caphê Hòn Chồng (1.3.2025). Mới được một cây gậy mây rất đẹp của TT mua cho. Hôm qua đến quán Bốn Mùa, lơ ngơ thế nào bị vấp té cái rầm, từ nay đành phải sắm gậy để đi. Mà chỉ thích gậy mây hay gậy tre quê mùa thôi. May TT tìm được cây gậy mây ở Chợ Đầm Nha Trang mang đến cho! Đa tạ.

 

Vậy nhe,

Chúc An Vui.

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon 11.3.2025)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Tết năm nay “Về vùng biển vắng…”

15/02/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Tết năm nay “Về vùng biển vắng…”

Không phải “mình sẽ sống những ngày hè nhuộm nắng…” như lời một bài hát sôi động của Jamaica (nhạc sĩ Đức Huy viết lời Việt) bởi lúc này vẫn còn chút lạnh của mùa đông và lá vàng mùa thu vẫn còn rơi lác đác…

Từ Mùng 1-3 Tết Ất Tỵ (2025), mình về Lagi, thăm bà con, thăm mộ ông bà, cha mẹ trên giồng Ông Hộ Ba, rồi ghé về thăm lại Bàu Lời, chốn xưa, mình đã sống thời 10-12 tuổi, học trường Nam Bình (Gò Ông Nồm)…

Gởi bạn vài hình ảnh… coi chơi thôi nhe!

Thân mến,

Đõ Hồng Ngọc.

Biển còn động. Thuyền thúng nằm bờ ở bãi Dốc Trâu. “Lá vàng thưa thớt quá…”.

 

Bãi vắng. Mênh mông. Người thì cào nghêu con … Một buổi sáng có thể cào được cả trăm ký nghêu con, không phải để ăn, mà để bán cho những nhà nuôi vịt bầy… giúp vịt đẻ trứng tốt.

 

Người thì săn… tôm tích. Nhìn mặt đất biết ngay có tôm tích, đâm cái ống thụt sâu xuống, hút cái… rẹt, đã bắt được ngay một con tôm tích bằng ngón tay út… còn ngo ngoe. Mỗi buổi sáng hút được vài ký!

 

Mình… thì đi săn vài tấm hình do sóng cát vẽ  nên: Một nhóm múa… hiện đại chớ gì nữa!     (ảnh Đỗ Hồng Ngọc, bãi Tam Tân, Mùng 2 Ất Tỵ, 2025)

 

tuyệt đẹp…

 

Ghé lại Bàu Lời: Vườn cũ. Cây trái vẫn xum xuê. Cau, dừa, vẫn cao ngất… Có lẽ nhờ có cái Bàu chứa nước tưới tẩm quanh năm… (Nguyễn Thiện Tống và Đỗ Hồng Ngọc)

(

 

Thăm lại cái giếng một thời… nổi tiếng chữa được nhiều thứ bệnh. Những năm 60s, người ta còn mang thùng đến lấy nước chở xe ba gác đi bán tận Lagi… Bà chủ nhà hiện nay còn nói nước giếng này chữa được … hiếm muộn nữa! Lạ thiệt.

 

… vẫn mênh mông…

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

TẾT: Chuyện của tâm hồn… ăn uống

04/02/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TẾT: Chuyện của tâm hồn… ăn uống

Đỗ Hồng Ngọc

 

Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn thức gì thì nó đang cần thức đó! Cũng đừng quên ăn uống là chuyện của văn hóa!

Tranh dân gian Hàng Trống – sưu tập của Nguyễn Huy.

Lý Lạp Ông, một triết gia Trung Quốc thế kỷ XVI viết trong Nhàn tình ngẫu ký: “Xét cơ thể con người, chỉ có hai cơ quan không cần thiết chút nào cả mà trời phú cho là cái miệng và cái bao tử, nguồn gốc tất cả những cái lụy của con người từ xưa tới nay. Có cái miệng với cái bao tử nên sinh kế mới hóa ra phiền phức, sinh kế phiền phức mới sinh ra những mưu mô gian trá; mưu mô gian trá mới phải đặt ra hình pháp”… Rồi ông ao ước: phải chi con người có cái diều như diều chim, có cái dạ dày như loài nhai lại! Loài người mà có cái diều như diều chim thì tất hiền lành, hòa bình, vì loài ăn hạt, trái cây, rau cỏ thì ít hiếu chiến, tàn ác. Gà trống cũng thường đá nhau nhưng không phải vì thức ăn mà vì gà mái. Nếu loài người mà có cái diều… thì chỉ còn những cuộc chiến nho nhỏ để… giành gà mái thôi!

Tuổi teen phải ăn cho no

Tại sao phải ăn? Ấy là bởi vì chúng ta cần năng lượng để tồn tại và để hoạt động. Thức ăn cung cấp năng lượng. Tuổi mới lớn, cần năng lượng nhiều để vừa xây dựng cơ thể, vừa đáp ứng nhu cầu họat động của tuổi này. Cho nên tuổi “teen” mau đói và thường ăn “không biết no”.

Nhớ rằng ngồi bàn viết, đánh vi tính mỗi giờ chỉ tiêu tốn 100-200 calo, hát karaoke mỗi giờ tốn 120 calo, đi nhanh, đạp xe đạp, bơi lội mỗi giờ 300 calo; cử tạ, tennis, cầu lông 400 calo, đá banh 600 calo… Trong khi đó, ăn một tô hủ tiếu, phở, đã “nhập” vào 500-600 calo; bún bò huế, cơm tấm bì cũng vậy; bánh lọt, chè bắp… 400 calo; ly sinh tố 250 calo và nước chanh đường… hơn 100 calo! Biết đại khái vậy ta sẽ tính toán “thu-chi” sao cho hợp lý để cơ thể được cân đối, không bị béo phì hoặc ngược lại bị suy dinh dưỡng. Ăn uống là chuyện của “tâm hồn”. Ta vẫn thường nghe nói có những “tâm hồn ăn uống” đó thôi. Ăn uống là một cái khoái nhưng cũng có khi là một “cực hình”. Có những tình huống “nuốt không trôi”, chẳng hạn bị ép ăn! Không gì khổ bằng ăn trong sự cưỡng bức, ép uổng…

Ở một trường mẫu giáo bên Hà Lan, người ta đã làm thí nghiệm đặt những đứa bé 3 tuổi vào một phòng kín, dọn sẵn thức ăn thịt cá, trứng sữa, rau đậu, trái cây các thứ đầy đủ, rồi quan sát từ bên ngoài cửa kính xem sao. Trẻ chơi đùa một lúc đói bụng, tự động đi tìm thức ăn… phù hợp mà mình đang cần. Có đứa bốc món này, đứa bốc món kia… Có đứa ăn hoài một thứ, có đứa đổi từ món này qua món khác. Người ta theo dõi và cân đo trẻ trong một tuần lễ, thấy trẻ khỏe mạnh, lên cân đầy đủ. Điều đó chứng tỏ ăn… không cần phải ép. Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép… ăn! Tản Đà, một thi sĩ nổi tiếng trong nghệ thuật ẩm thực, đã có câu “triết lý” về chuyện ăn sao cho ngon như sau:

– Đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon/ người ngồi ăn không ngon: không ngon!

– Đồ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon/ người ngồi ăn không ngon: không ngon!

– Đồ ăn ngon/ người ngồi ăn ngon/ chỗ ngồi ăn không ngon: không ngon!…

Nghĩa là để ăn cho ngon cần đủ cả ba yếu tố: đồ ăn ngon/ chỗ ngồi ăn ngon/ và người ngồi ăn cùng cũng… phải ngon! Người ngồi ăn mà không ngon – dễ ghét – thì nuốt không trôi! Và dĩ nhiên muốn ăn ngon thì phải có sự thèm ăn, tức phải đói. Đói thì ăn gì cũng thấy ngon! Lâu nay ta quen ăn theo giờ mà không ăn theo… bụng. Một điều đáng tiếc.

“Chỗ ngồi ăn ngon” thì ba trăm năm trước, Trương Trào đã viết: “Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh. Trong cuộc lễ, uống nên khoan thai. Trong cuộc họp bạn, uống nên nhã. Mùa xuân nên uống ở sân. Mùa hè nên uống ở ngoại ô. Mùa thu nên uống ở trong thuyền. Mùa đông nên uống ở trong nhà. Ban đêm nên uống dưới bóng nguyệt”. (U mộng ảnh, bản dịch Huỳnh Ngọc Chiến).

Nhưng cách ăn ngon nhất có lẽ là ăn mà biết rõ mình đang ăn. Ý thức về chuyện đang ăn. Quan tâm nó. Để ý nó. Biết ơn nó. Bốn nhóm thức ăn cùng với nước uống chẳng phải cũng là “ngũ uẩn” đó sao? Chúng kết tập lại một cách nhuần nhuyễn để giúp ta tinh tấn trong tu tập của mình.

Tuổi già ăn theo mệnh lệnh của… bao tử

Cho nên mới nói rằng ăn là chuyện của tâm hồn! Ăn uống rất quan trọng đối với người cao tuổi. Một trong những lý do người già dễ bị uể oải, lừ đừ… là do thiếu năng lượng. Ở người cao tuổi, còn thêm nỗi khổ vì “hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay”, dạ dày teo nhỏ, dịch vị tiết ra không đủ, dễ bị bón, dễ bị rối loạn tiêu hóa. Con cháu thương tình, tìm món ngon vật lạ ép ăn, tìm thuốc bổ vitamin các thứ ép uống… thì tình trạng càng bi đát hơn vì càng làm cho ăn mất ngon, không còn thấy thèm ăn!

Người già thiếu ăn, thiếu năng lượng phần lớn là do sợ bệnh, do kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù dọa. Khám bệnh xong bác sĩ dặn phải kiêng món này cữ món kia… và không quên cho một đống thuốc bổ trong khi người già uống đầy bụng thuốc bổ đâu cần ăn chi nữa! Không kể bạn bè hàng xóm bày vẽ, không kể nghe lời quảng cáo bùi tai… ra rả suốt ngày! Nhưng khi bác sĩ thật thà tốt bụng khuyên nên ăn uống thoải mái, “muốn ăn gì cứ ăn”, thì hiểu ngay là bệnh đã “hết thuốc chữa rồi”! Ông nọ đi khám bác sĩ về cứ bần thần buồn bực, bà vợ gặng hỏi, ông nói bác sĩ nói bệnh anh phải uống thuốc suốt đời mà ông ta chỉ cho có… 10 viên!

Chuyện ăn uống của người cao tuổi nói chung nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử. “Listen to your body”. Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn thức gì thì nó đang cần thức đó! Cũng đừng quên ăn uống là chuyện của văn hóa! Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ! Người già có thể thích những món ăn… kỳ cục, không sao. Miễn đủ bốn nhóm: bột (glucid), đạm (protid), dầu (lipid), rau (vitamin, khoáng)… Mắm nêm, mắm ruốc, tương chao, các thứ gia vị… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt… Hãy “tự tại” đến mức có thể, miễn là món ăn vệ sinh, an toàn. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm “hư” các cụ! Nhưng khi các cụ đột ngột gầy ốm, sụt cân nhanh thì đã có vấn đề. Suy dinh dưỡng chăng? Trầm cảm chăng? Có triệu chứng khởi đầu của Alzheimer chăng? Hay đang mắc một thứ bệnh nặng nào đó? Những bữa ăn gia đình có cha mẹ già cần tránh tất cả những sự căng thẳng, những lời nói đắng cay, tranh chấp, không vui… Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ cái bao tử là vậy.

Đỗ Hồng Ngọc (theo Giai phẩm xuân TGHN)

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

AI – KHÔNG THỂ THAY THẾ PHẨM CHẤT CON NGƯỜI

27/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

AI – KHÔNG THỂ THAY THẾ PHẨM CHẤT CON NGƯỜI

TS Lê Nguyên Phương

Trong khi trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng xâm nhập mọi khía cạnh cuộc sống của con em chúng ta thì những phẩm chất của con người trong việc nuôi dạy con cái là không thể thay thế và chưa bao giờ quan trọng hơn lúc này. Mặc dù AI mang lại sự tiện lợi, hiệu quả và khả năng thích ứng, nó vẫn thiếu đi chiều sâu cảm xúc, sự đồng cảm, và định hướng đạo đức chỉ có ở con người.

EARTH- Đồng cảm, Chân thật, Kiên cường, Khéo léo, Hài hước

Để giúp các bậc phụ huynh tập trung vào việc phát triển những phẩm chất mà công nghệ không thể tái tạo, đảm bảo  mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái vẫn luôn bền vững và sâu sắc. Dựa vào những nghiên cứu cá nhân về việc dạy con trong bối cảnh AI, tôi muốn giới thiệu bạn đọc mô hình EARTHWISE, một khuôn khổ lý thuyết được thiết kế để giúp cha mẹ nhận biết và phát huy những giá trị độc đáo của mình, đảm bảo mối quan hệ cha mẹ-con cái luôn bền chặt trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng.

Sự đồng cảm (Empathy). Đây là khả năng của cha mẹ trong việc thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc của con cái, để từ đó xây dựng một mối quan hệ gắn kết sâu sắc và tạo cảm giác an toàn. Điều này bao gồm việc nhận biết và xác nhận cảm xúc của trẻ, giúp củng cố niềm tin và tạo ra một môi trường hỗ trợ, nơi trẻ cảm thấy được hiểu và trân trọng. Sự đồng cảm đóng vai trò trung tâm trong việc kết nối cảm xúc, đòi hỏi cha mẹ phải hiểu cảm xúc của con mình và đáp lại bằng sự quan tâm chân thành. Khả năng của AI trong lĩnh vực này đạt khoảng 40%, khi AI có thể nhận diện và phản hồi hỗ trợ dựa trên dữ liệu, nhưng không thể tái tạo sự chân thành hay những trải nghiệm cảm xúc được chia sẻ, vốn là cốt lõi của sự đồng cảm thực sự trong việc nuôi dạy con cái.

Tính chân thật (Authenticity), thể hiện sự chân thành và thật tâm trong mọi tương tác, giúp trẻ cảm thấy tin tưởng và an toàn khi thể hiện bản thân. Trong vai trò làm cha mẹ, tính chân thật đòi hỏi sự trung thực, liêm chính và nhất quán giữa lời nói và hành động, từ đó tạo ra một môi trường mà trẻ được tôn trọng và trân trọng vì chính con người thật của mình. Mặc dù AI có thể giả lập sự chân thành thông qua các phản hồi được lập trình, bản chất của nó chỉ là hành vi “diễn xuất” dựa trên thuật toán, chứ không phải sự chân thành xuất phát từ ý chí và cảm xúc thực sự. Trẻ em nhận ra sự chân thật không chỉ qua lời nói mà còn qua hành động, giọng điệu và ngữ cảnh—những yếu tố mà AI không thể tái tạo đầy đủ. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này được ước tính khoảng 20%, khi nó có thể trình bày sự thật nhưng không thể liên kết lời nói với giá trị hay ý định một cách chân thật.

Tính kiên cường (Resilience), khả năng của cha mẹ trong việc không ngừng vượt qua khó khăn và thích nghi với thách thức khi nuôi dạy con cái. Phẩm chất này giúp cha mẹ duy trì thái độ tích cực và chủ động, mang lại sự ổn định và hỗ trợ cần thiết cho con cái, ngay cả trong những thời điểm khó khăn. Điều này gắn liền với kinh nghiệm sống, sự tự phản tỉnh và khả năng điều chỉnh cảm xúc của con người. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này chỉ đạt khoảng 30%, vì dù có thể xử lý và thích nghi với các thông tin mới, AI không thể mô hình hóa hay truyền cảm hứng cho sức mạnh cảm xúc và sự phát triển cá nhân trong những hoàn cảnh khó khăn.

Sự khéo léo (Tact), liên quan đến việc xử lý những tình huống nhạy cảm, giúp trẻ cảm thấy được tôn trọng và thấu hiểu, đồng thời hướng dẫn chúng vượt qua những cuộc trò chuyện hoặc trải nghiệm khó khăn. Phẩm chất này đòi hỏi sự nhạy bén, nhận thức cảm xúc, và khả năng phán đoán theo ngữ cảnh, đặc biệt trong các tình huống đòi hỏi sự tinh tế trong giao tiếp. Mặc dù AI có thể phân tích ngôn ngữ để tránh những phản hồi mang tính thiếu tế nhị, nó không thể hoàn toàn nắm bắt được sự phức tạp của các mối quan hệ con người hoặc đoán trước những sắc thái chưa được nói ra trong các tương tác giữa cá nhân. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này ước tính đạt khoảng 50%, vì dù có thể xử lý ngôn ngữ một cách nhạy cảm ở mức độ nào đó, AI vẫn thiếu nhận thức văn hóa, cảm xúc và bối cảnh tình huống để thực sự thể hiện sự khéo léo một cách trọn vẹn.

Sự Hài hước (Humor). Đây là khả năng của cha mẹ mang lại niềm vui và sự nhẹ nhàng trong hành trình nuôi dạy con cái, giúp xoa dịu căng thẳng, tạo nên những kỷ niệm vui vẻ và xây dựng bầu không khí gia đình tích cực. Trong những khoảnh khắc cười đùa cùng con, cha mẹ không chỉ củng cố mối quan hệ gắn bó mà còn làm cho những tình huống khó khăn trở nên dễ dàng hơn và dạy con cách nhìn cuộc sống một cách lạc quan hơn. Sự hài hước là một phẩm chất tinh tế, đòi hỏi sự đúng lúc, hiểu biết văn hóa, và khả năng cảm nhận, phản hồi các dấu hiệu ngữ cảnh phức tạp. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này chỉ khoảng 25%, khi nó có thể tạo ra các câu nói hài hước cơ bản và phản ứng với các ngữ cảnh hài hước, nhưng thiếu đi chiều sâu và sự tự nhiên cần thiết để thể hiện sự hài hước mang ý nghĩa thực sự.

WISE: Trí tuệ, Trực giác, Thiêng liêng, Đạo đức

Nếu năm điều nói trên nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh tương tác thì các điều sau quan tâm hơn đến phẩm chất nội tại của cha mẹ trong việc dạy con.

Trí tuệ (Wisdom). Đây là phẩm chất của cha mẹ trong việc cung cấp những lời khuyên sâu sắc và thấu đáo, dựa trên kinh nghiệm sống và đạo đức. Phẩm chất này giúp trẻ định hướng trong sự phức tạp của cuộc sống, xây dựng nền tảng đạo đức vững chắc và nuôi dưỡng ý thức về mục đích sống. Trí tuệ được hình thành từ kinh nghiệm cá nhân, khả năng nhận thức đạo đức, và sự hiểu biết sâu sắc về các thách thức của cuộc sống. Mặc dù AI có thể cung cấp thông tin chính xác và phân tích logic, nó thiếu đi kinh nghiệm sống và chiều sâu đạo đức cần thiết để truyền tải trí tuệ một cách ý nghĩa. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này được ước tính khoảng 35%, khi nó vượt trội trong việc cung cấp thông tin nhưng không thể tổng hợp thành trí tuệ dựa trên trải nghiệm cá nhân hoặc nhận thức đạo đức.

Trực giác (Intuition) là khả năng gần như bẩm sinh của cha mẹ trong việc cảm nhận và đáp ứng nhu cầu cũng như cảm xúc của con cái mà không cần đến lý luận có ý thức. Sự hiểu biết sâu sắc và mang tính bản năng này giúp cha mẹ xây dựng một mối quan hệ nuôi dưỡng và đáp ứng, đảm bảo rằng con cái cảm thấy được lắng nghe, thấu hiểu và hỗ trợ, ngay cả khi chúng không thể diễn đạt cảm xúc của mình thành lời. Trực giác đòi hỏi sự nhạy bén sâu sắc với nhu cầu và cảm xúc của người khác, thường vượt xa những gì được truyền đạt rõ ràng. AI chỉ dựa vào dữ liệu đầu vào rõ ràng và mô hình xác suất để đưa ra dự đoán và suy luận vì vậy khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này ước tính khoảng 30%, nó có thể dự đoán và suy luận nhu cầu dựa trên các mẫu hình, nhưng lại thiếu khía cạnh cảm xúc và tiềm thức vốn là cốt lõi của trực giác con người.

Sự thiêng liêng (Sacre) là phẩm chất tiếp theo. Nó bao gồm sự tôn kính cha mẹ và là mối quan hệ độc nhất và không thể thay thế giữa cha mẹ với con cái mình, nuôi dưỡng tình yêu, sự tin tưởng và mối gắn kết bền vững suốt đời. Phẩm chất này xuất phát từ ý thức nhân văn, chiều sâu tinh thần và khả năng cảm nhận sự kỳ diệu trong mối quan hệ gia đình. Sự tôn kính và trân trọng vốn có trong khái niệm này gắn chặt với nhận thức, tâm linh và khả năng cảm xúc của con người, điều mà AI—chỉ là một công cụ—không thể sở hữu hay tái tạo. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất này chỉ đạt khoảng 10%, do nó không thể chạm tới các chiều sâu tinh thần và nhân văn vốn là cốt lõi của sự thiêng liêng trong mối quan hệ cha mẹ – con cái.

Đạo đức [Ethic]. Phẩm chất này không chỉ đơn thuần là những bài học được giảng dạy mà còn được thể hiện qua chính lối sống, cách hành xử và quyết định của cha mẹ trong cuộc sống hằng ngày. Khi cha mẹ sống với đạo đức rõ ràng và kiên định, họ không chỉ truyền cảm hứng cho con cái mà còn tạo ra niềm tự hào và lòng kính trọng ở con khi chúng trưởng thành. Sự hiện diện của phẩm chất này giúp xây dựng nền tảng giá trị bền vững trong gia đình, nuôi dưỡng lòng tin và định hướng cho con cái một cách tự nhiên. Khả năng của AI trong việc thay thế phẩm chất đạo đức của cha mẹ chỉ đạt khoảng 20%, bởi AI có thể giải thích nguyên tắc nhưng không thể hiện được chiều sâu nhân văn và sự dẫn dắt đạo đức thông qua chính cuộc đời và hành động thực tế như cha mẹ có thể làm.

Ngoài ra những chữ đầu trong bộ năng lực và phẩm chất giáo dục con cái này tạo thành chữ EARTHWISE- cũng có nghĩa là trí tuệ của trái đất, chúng ta học để trở nên có năng lực trí tuệ và chung sống hòa hợp mà cùng tiến hóa với hệ thống sinh thái trên hành tinh này.

Hãy nhớ rằng, trong mỗi nụ cười ấm áp, mỗi cái ôm dịu dàng, và mỗi lời động viên chân thành của cha mẹ đều chứa đựng một sức mạnh kỳ diệu không gì có thể thay thế. Đó là sức mạnh của tình yêu thương vô điều kiện, của sự gắn kết sâu sắc, và của niềm tin vào tương lai tươi sáng mà chúng ta đang cùng nhau xây dựng cho thế hệ mai sau.

Khi áp dụng mô hình EARTHWISE, các bậc cha mẹ không chỉ đang khẳng định vai trò độc đáo của mình trong thời đại số, mà còn đang góp phần kiến tạo một thế hệ trẻ vừa thông thạo công nghệ, vừa giàu năng lực cảm xúc và đạo đức. Đó chính là món quà quý giá nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho con em mình – một nền tảng vững chắc để các em tự tin bước vào tương lai, với trái tim nhân ái và tâm hồn phong phú.

( Theo THẾ GIỚI HỘI NHẬP, Giai phẩm Xuân 2025)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Thư gởi bạn xa xôi: Thư quán HƯƠNG TÍCH

27/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi: Thư quán HƯƠNG TÍCH

 

Đã lâu không ghé thăm Hương Tích, Thư quán của Thầy Tuệ Sỹ, nay do Thầy Hạnh Viên, Trưởng tử của Thầy Tuệ Sỹ chăm sóc. Rất nhiều hình ảnh, dấu tích của Thầy Tuệ Sỹ còn đó.

Tình cờ mà gặp Tâm Nhiên. Râu tóc xum xuê.

Gởi bạn vài hình ảnh thôi nhe.

 

Tâm Nhiên, Đỗ Hồng Ngọc, Thầy Hạnh Viên.
Thư Quán Hương Tích, 16.01.2025

 

Đỗ Hồng Ngọc và Tâm Nhiên.

 

 

Gởi tặng Thầy Hạnh Viên cuốn Ngôn Ngữ đặc biệt (ĐN/ĐHN), có bài viết về Thơ Tuệ Sỹ “Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn”…

 

Một bức thư pháp của Thầy Tuệ Sỹ. Chịu, không đọc nổi! Thầy Hạnh Viên bảo đó là một câu thơ của Lý Hạ, đời Đường: Thiên nhược hữu tình thiên diệc lão.

 

Trời mà có tình thì trời cũng già thôi!

Bạn thấy không? Đừng kêu tại sao mình già… khú đế nhe!

Nhớ Chu Mạnh Trinh không? Ta cũng nói tình thương người đồng điệu!

Cho nên ta… già và già nhanh là phải rồi!

 

Thân mến,

ĐHN

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi: TUỔI TÔI

25/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi,

Nghe Phạm Cao Hoàng ngưng Trang Văn học nghệ thuật Phạm Cao Hoàng rất đẹp, rất dễ thương của anh, tôi không khỏi bần thần như bạn bè mình khắp chốn… Nhớ năm kia, PCH kêu bạn bè mỗi người góp một bài thơ “Lục Bát Giao Thừa” mừng Năm Mới cho vui, không ngờ mà bạn bè xúm xít rất đông trên Trang nhà PCH này. Nay tự dưng nghe ngưng, không buồn sao được!

Vậy nên, xin chép lại bài Lục bát TUỔI TÔI đã gởi cho PCH lần đó…

 

TUỔI TÔI

tặng phạm cao hoàng

Nửa đêm thức giấc giao thừa

Đì đùng pháo nổ chẳng ngờ ù tai

Sớm ra mùng một mùng hai

Áo quần tươm tất lai rai quanh nhà

Nêu cao khập khểnh ta-bà

Ngó quanh ngó quất ta lì xì ta

Mới hay ngày tháng phôi pha

Mỗi đêm là mỗi giao thừa…

Thiệt vui!

 

đỗ hồng ngọc

(đỗ nghê)

25.01.2025

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

17/01/2025 By admin Để lại bình luận

 

GHI CHÚ:

Một ngày kia… đến bờ?

Tuỳ bút

Đỗ Hồng Ngọc.

Lời ngỏ

Bờ nào? Bờ bên kia hay bờ bên này? Đáo bỉ ngạn? Là mong cho tới bờ bên kia? Ý rằng bờ bên kia hẳn là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này? Sao biết? Đã có ai nói cho biết chưa? Có con rùa nào từng đi dạo lang thang từ dưới biển lên đất liền nói cho biết chỗ nào đáng sống hơn chăng?

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… một đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú… năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư ư? Sao người ta vẫn đọc hà rầm khắp nơi, đọc hằng ngày câu chú trong Tâm kinh Bát Nhã đó mãi mà vẫn thấy cứ còn khổ, thậm chí “cực khổ”, nên chỉ mong sao được mau về miền “cực lạc”, được vãng sanh qua nơi khác, qua bờ bên kia. Vậy mà lạ, hình như ai cũng muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất tử, nghĩa là ở mãi nơi này, nơi “cực khổ” này? Tại sao?

Tôi viết những cảm nghĩ này ở tuổi U90 của mình, viết cho riêng mình đọc, lai rai đọc cho đến khi không cần đọc nữa! Và dĩ nhiên có thể chia sẻ cùng bè bạn thân quen “cùng một lứa bên trời lận đận” của mình để có dịp “chí chóe” cho vui…!

Đỗ Hồng Ngọc

(6.2023)

 

……………………………..

Bản dịch Anh ngữ  trên Thư viện Hoa Sen

“One Day… Reaching the Other Shore”

Dr Do Hong Ngoc, MD
Saigon, June 2023
(
Manuscript – write for myself aged U90)

Translated by Red Pine  

https://thuvienhoasen.org/a40640/mot-ngay-kia-den-bo-one-day-reaching-the-other-shore-song-ngu-vietnamese-english-

………………………………………..

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ” của Văn Công Tuấn và Prof. Beuchling, được trích đăng nhiều kỳ trên báo Viên Giác của Hòa Thượng Thích Như Điển, Hannover, Đức Quốc.

Đỗ Hồng Ngọc

Eines Tages… das andere Ufer erreichen 

[ Die 26 Essays in Eines Tages … das andere Ufer erreichen sind wertvolle, leicht verständliche und wissenschaftlich fundierte Dharma-Vorträge, die mit Zustimmung des Autors von Văn Công Tuấn ins Deutsche übersetzt wurden. Lektorat: Prof. Olaf Beuchling.]

Thuộc chủ đề:Phật học & Đời sống, Đọc sách

06/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Nghĩ Từ Trái Tim *

Đỗ Hồng Ngọc

Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng khối óc nhiều quá, nhiều đến nỗi người ta luôn ở trong tình trạng muốn “điên cái đầu”. Và thực vậy, bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress… ngày càng gia tăng trong một xã hội mà người ta luôn bị quay cuồng, luôn phải chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt…
Có lẽ đã đến lúc thử nghe tiếng nói của trái tim. Một hôm, có chàng thi sĩ đi ngang qua vườn rào kia, giật mình thấy một bông bụp đỏ ở bờ giậu, cái bông bụp rất tầm thường như hàng ngày chàng vẫn thấy khi qua lại chốn này, bỗng nhiên như nở một nụ cười mầu nhiệm, rồi không chỉ cười, nó hát, và chàng thi sĩ chỉ còn biết sụp lạy, cúi đầu (1). Vâng, chàng đã nghe. Nghe không phải từ bông hoa kia mà từ trong trái tim mình. Và chàng sửng sốt. Mọi thứ như khác hẳn. Đã thoát ra, đã vượt ra, vượt qua… Người ta có thể nghĩ chàng thi sĩ chắc điên, có điều chàng biết rất rõ chàng đã nghe, đã thấy một điều kỳ lạ. Một thứ mật ngữ. Như anh chàng chèo đò của Hermann Hesse, ngày ngày vẫn chèo đò đưa người qua sông, cho đến một hôm bỗng nghe được tiếng nói của dòng sông và từ đó chàng đã tự đưa mình qua sông, và đã vượt ra, vượt qua.
Chúng ta bây giờ hình như có quá ít thì giờ để nghe tiếng nói của trái tim mình, dù chỉ cần nhấp con chuột trên vi tính thì đã nối trọn vòng trái đất, vậy mà người ta có vẻ ngày càng xa nhau hơn, xa với người và xa cả với mình. Một thi sĩ đã phải kêu lên: “…Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà đọc những ai thơ tôi sắp viết?…” (2). Tôi cũng không có thì giờ. Quần quật. Tối tăm mặt mũi vì “trăm công ngàn việc”. Cho đến một hôm, hình như, có lẽ, một lần kia có một lúc hình như tôi cũng chợt nghe. Hình như thôi không chắc không dám. Ngẫm nghĩ ròi viết ra cho khói quên, đế lâu lâu còn coi lại một mình. Ba năm nghiền ngẫm, sáu tháng viết và hơn hai năm ngại ngần, thỉnh thoảng đọc và sửa, nhờ vài bạn thâm giao chỉ thêm cho, rồi tìm tòi, tham khảo, loay hoay…
Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên đôi khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chưa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điều tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà có người dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru?

* Lời Ngỏ của sách “Nghĩ Từ Trái Tim” ấn hành năm 2003.

(1) Quách Thoại (2) Nguyên Sa

…. o ….
Thinking From The Heart *
By Đỗ Hồng Ngọc
Translated by Nguyên Giác
                                                  tranh Nguyên Giác

The heart is not meant for thinking; it is meant for loving. When the heart engages in thought, it does not do so in the same manner as the brain. The heart possesses its own unique way of processing emotions that the brain sometimes struggles to comprehend. In today’s world, people rely excessively on their intellect, to the point where they often feel overwhelmed and on the verge of losing their sanity. Consequently, mental health issues, including rising rates of suicide, substance abuse, and stress, are becoming increasingly prevalent in a society where individuals are constantly racing against the demands of speed, youth, beauty, and success.
Perhaps it is time to listen to the voice of the heart. A poet saw a red hibiscus flower blooming on a garden fence one day, which startled him. It was an ordinary hibiscus, like the ones he encountered daily, yet it suddenly radiated a mysterious smile. Not only did it smile, but it also sang, leaving the poet in awe, compelled to bow his head in reverence. Yes, he heard it—not from the flower, but from deep within his heart. He was astonished; everything seemed transformed. He had escaped, transcended, and gone beyond. While others might think the poet was mad, he understood that he had witnessed something extraordinary—a secret code. It was reminiscent of the ferryman from Hermann Hesse’s writings, who rowed his boat daily to ferry people across the river. One day, he heard the voice of the river, and, from that moment on, he took himself across, transcending the ordinary.
We now seem to have too little time to listen to the voice of our hearts. Although clicking a mouse can connect us to the entire world, people appear to be increasingly distant from one another and from themselves. A poet once exclaimed, “No time! Where do birds return to their nests? Where do I find the opportunity to write poems? Where do you learn the poems I am about to compose?” I, too, feel pressed for time. The weight of “a thousand things to do” has left me exhausted. Yet, one day, it seems—perhaps once in a while—I suddenly hear it. I am uncertain; I am not willing to believe it. I contemplate it until I forget, only to look back at it in solitude. Three years of reflection, six months of writing, and more than two years of hesitation have passed, during which I occasionally read and edit, seek advice from a few close friends, and engage in a process of searching, consulting, and struggling.
I am not a poet or a monk; I am simply a doctor and a healer. My duty is to practice medicine, to assist friends, neighbors, and those suffering from headaches or back pain. Above all, I must first heal myself. There are times when medicine can alleviate pain but not eliminate suffering, or it can address external symptoms but fail to reach the deep-rooted issues buried beneath many layers within the mind.
I need to express my thoughts, feelings, and perceptions. They may be correct, incorrect, or perhaps neither. At times, my insights resonate, while at other times, they do not. Some individuals share my perspective and are not averse to it. Therefore, if you happen to read these words, please try to understand and refrain from judging me. If you wish, you can smile to yourself. Isn’t that delightful?
* Preface to the book “Thinking from the Heart“, published in 2003.

https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19747/

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Trần Thiện Hiệp: NHỮNG DẤU MỰC CŨ

01/01/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Trần Thiện Hiệp: NHỮNG DẤU MỰC CŨ

Ghi chú: Nhà thơ Trần Thiện Hiệp, năm nay vừa tròn 90 tuổi, mới bay về Phan Thiết “ăn Tết” sáng nay 1.1.2025 vừa gởi đến tôi và nhóm bạn “Cựu học sinh lão thành” Trường Phan Bội Châu Phan Thiết… một bức thư cảm động…

Trần Thiện Hiệp, Nguyễn Đình Tư (nhà thơ Từ Thế Mộng) vào Trường ngay lúc mới thành lập, năm 1952, còn bọn tôi Phan Bá Thụy Dương, Đỗ Hồng Ngọc, Huỳnh Tấn Thời, Phan Đổng Lý, Trần Vấn Lệ… vài năm sau (1954) giờ đều đã U90…

Người góc biển kẻ chân trời…

ĐHN.

 

Thư Trần Thiện Hiệp

Các bạn tôi ơi!

 
Đầu năm mới chúng ta cùng đọc lại những đoạn chữ nghĩa từ tâm tư các bạn được PBTD lưu lại trong Văn Hữu Vườn Tao Ngộ, để cùng nhớ về nhau trong NĂM MỚI 2025 ẤT TỴ này.
 
Đã mấy năm rồi PBTD ẩn tu nơi nào mà tôi tìm kiếm, thăm hỏi khắp nơi không được tin tức gì! Chỉ còn biết âm thầm nhớ mong và cầu chúc ông ấy an yên hạnh phúc trong cõi “ẨN TU” nơi nào đó !
 
Trần Thiện Hiệp xin thân mến chúc các bạn cùng gia đình trọn năm mới luôn yên vui hạnh phúc trên đường nghĩ hưu dưỡng lão.
 
tth*
Phanthiet, 1/1/2025
.

ĐỖ HỒNG NGỌC * cựu học sinh lão thành Phan Bội Châu – Phan Thiết

từ phải : trầnthiệnhiệp, huỳnhtấnthời, phanbáthụydương, đỗhồngngọc
Buổi gặp gỡ của cựu học sinh “lão thành” PBC

Trường Trung học Phan Bội Châu Phan Thiết được thành lập vào năm 1952, đến nay (2012) vừa tròn 60 năm. Nghe nói đến tháng 11 này, trường sẽ có một “đại lễ” kỷ niệm 60 năm, cũng là dịp thầy trò nhiều thế hệ gặp nhau ở thành Phan.
Không hẹn mà hôm 30/6/2012, tình cờ một nhóm bạn cựu học sinh “lão thành” PBC lại gặp nhau ở buổi khai mạc phòng Triển lãm tranh của một người bạn chung: Họa sĩ Cù Nguyễn, huy chương vàng 1966. Sau đó, kéo nhau ra một quán café bờ hồ, ngồi nhâm nhi biết bao chuyện cũ!

Có những người gần 60 năm mới gặp lại nhau, nhìn không nhớ. Nhưng chỉ ngớ một thoáng thôi rồi òa vỡ những trận cười, mày mày tao tao tíu tít. Họ nói cười không ngớt. Nhắc bạn bè xưa, nam lẫn nữ, kẻ chân trời người góc bể, như cùng có mặt nơi đây. Nhắc cả những con đường “mang tên em”, cả số nhà, cả tên cha mẹ con người ta! Rồi cười ha hả. Như trẻ thơ. Một lúc thôi, phải một lúc thôi thì người nào người nấy cũng trẻ lại không ngờ. Như không hề có thời gian, không hề có 60 năm xa cách. Họ nói xấu nói tốt về nhau, hào hứng kể những chuyện xấu của chính mình, của bạn mình không… thương tiếc! Và lạ thay, càng nghe lại càng thương mến nhau hơn, không chỉ của những người có mặt mà cả những người vắng mặt. Thằng kia bây giờ nát rượu, thằng nọ … bị vợ bỏ, thằng này hồi xưa mê em gái tao không dám nói ra, thằng đó hào hoa số một, chuyên quất ngựa truy phong, thằng nọ chọc thầy giáo, làm thầy trượt vỏ chuối té nhào… Ôi bao nhiêu thứ chuyện của lũ học trò nhất quỷ nhì ma!

Thường thì coi hình từ bên trái qua, nhưng với hình này, nên bắt đầu từ bên phải: Trần Thiện Hiệp, Huỳnh Tấn Thời, Đỗ Hồng Ngọc, Phan Bá Thụy Dương, Hồ Hữu Thủ, Trần Yên Thảo. (Càphê Đông Hồ, Saigon, 2012)

Nhà thơ Trần Thiện Hiệp (anh của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh), không thể ngờ đã 78 tuổi (Ta), trẻ lạ lùng, trông cứ như một cao-bồi Texas. Nhưng, thật ra, anh phải luôn đội chiếc nón để giấu cái đầu bóng loáng của mình. Anh là thế hệ vào Phan Bội Châu đầu tiên, ngay khi mới thành lập, 1952, cùng thời với nhà thơ Từ Thế Mộng (Tư Đình), lúc đó PBC còn ăn nhờ ở đậu bên trường Tiểu học Đức Thắng B. (Đến năm 1954, bọn tôi đã được học ở Trường PBC trên đường Trần Hưng Đạo. Sau này, trường mới dời về cơ sở hiện tại ở 70 Lê Hồng Phong PT).

Trần Thiện Hiệp là lứa đàn anh của chúng tôi, lúc vào trường (Đệ thất, lớp 6) đã ở tuổi 17. Thời đó, thời chiến tranh, đa số đi học trễ. Trần Vấn Lệ kể anh Trần Thiện Hiệp là một trong hai học sinh lớn tuổi được trường cử ra để “quản giáo” đám đàn em tụi mình!
Huỳnh Tấn Thời, luật sư, trẻ nhất, mới 71 tuổi, cùng lớp với Phan Bá Đương (Phan Bá Thuỵ Dương), Đỗ Hồng Ngọc vào PBC năm 1954. HTThời chính là người nghịch ngợm, từng chọc phá thầy giáo, cũng là người mê cô em gái xinh đẹp của PBTD mà không dám nói ra, bây giờ còn tiếc! Kế đó là tôi, Đỗ Hồng Ngọc, chỉ học PBC có mấy tháng rồi chuyển về Hàm Tân (Bình Tuy), vì không xin phép nên bị “xóa sổ” trong quyển Trước Sách của nhà trường, bên cạnh có lời phê của thầy Hiệu trưởng: “học khá, nhưng cần phải cố gắng hơn”!
Phan Bá Thụy Dương, nhà thơ, nhà báo, người “khoái hoạt” nhất trong nhóm, cùng tuổi 73, đẹp trai, phong độ, hào hoa, chuyện trên trời dưới đất, đông tây kim cổ gì cũng biết… Kế bên là họa sĩ Hồ Hữu Thủ – không phải cựu học sinh PBC – là bạn của Trần Yên Thảo và Đỗ Hồng Ngọc. Bìa trái là Trần Yên Thảo, nhà văn, cùng tuổi 73, nhưng để râu tóc như một tiên ông, cũng là cựu học sinh PBC, nhưng vào trễ hơn!
Cả bọn nhắc Phan Đổng Lý ở Úc, Trần Vấn Lệ ở Mỹ, Thiếu Khanh… và bao nhiêu bạn bè khác ở chân trời góc biển, ai nấy đều ở tuổi trẻ lạ lùng, trẻ vĩnh viễn, rồi cả những người mà Trần Vấn Lệ đã thổn thức làm thơ, mà Đổng Lý đã bùi ngùi nhắc đến trong một bức thư riêng rất dễ thương dưới đây.
DoHongNgoc
Thơ Trần Vấn Lệ
PBC 1954 – 1958
Hồi năm học Đệ Thất, tôi với nàng ngồi kề mà không hề ngó mặt, có gì đâu mà mê!
Cuối năm học Đệ Tứ, hai đứa rớt Diplôme, bỏ trường đi biệt xứ, người đồng bằng, cao nguyên…
…Nhưng hình như có duyên, mười năm sau gặp lại, lúc đó tôi lính rừng, nàng công chức tỉnh lẻ.
Chia tay có giọt lệ. Súng nổ đuổi hai người. Tôi tàn đời bóng xế. Nàng mờ ảo mây trôi…
Năm hai ngàn mười một, bỗng, hốt nhiên, mây ngừng. Em! Phải là em không? Anh! Anh là anh Lệ?
Vui mừng bao xiết kể…rồi cũng buồn chất thêm. Chừ, chữ Nàng thành Em, ngó mặt nhau…rồi hết!
Ngó mặt em, em đẹp. Bốn mươi bốn năm trời, không ai nói một lời, nói gì đây cũng lỡ…
Còn nhau nhờ địa chỉ, còn nhau còn số phone và e mail không ồn mà buồn ơi với tiếc!
Hai đồng tiền em siết một đời tôi nhớ thương. Chưa một lần tôi hôn trên hai đồng tiền đó!
“Sáng nay trời nổi gió, mùa Thu đầy trong hồn, xa rồi xa bến cũ, dòng sông trôi thê lương…”
Mấy câu thơ Thế Viên vô duyên bay lãng đãng. Mùa Thu đang loáng thoáng, em à gió heo may…
Thư của Phan Đổng Lý – 1.7.2012
Các bạn thân,
Trời Melbourne năm nay thật lạnh nên mình đã để cho bà xã ra đi tìm nơi nắng ấm trú thân dăm ba tuần lễ. Một mình đơn chiếc, sáng nay thức dậy nhìn quanh một mình, chán quá nên mở mail tìm giặc. Thật trời chẳng phụ lòng người, trong ‘vườn cà của tên giặc’ Trần vấn Lệ còn bỏ sót lại một đóa hoa trinh nữ có hai má lúm đồng tiền..!!
Lệ ơi,
Trước tiên mình muốn nói với TVL là đọc xong bài thơ đầu tiên trong ngày này của bạn đã mang lại cho mình một cảm giác thật man mác, thật nhẹ nhàng nhưng nó lại có hiệu suất của một quả đấm, đánh thật mạnh, thật sâu vào hồi ức của tuổi thơ.
Tuy vậy, mặc dầu đã cố gắng hết sức nhưng rồi mình cũng đành chịu thua, không thể hình dung ra được dù chỉ một vài nét thôi. Có lẽ vào lứa tuổi đó bọn mình mấy đứa hoang hủy như PBDương, TTQuý, TTTrung, NQTrinh vẫn còn mãi mê nghịch ngợm và còn mãi lo đối đầu với những tai họa không phải do trời giáng xuống mà do thầy Hiệu trưởng Lê Tá và các vị lão sư ban cho nên cũng không còn có tâm trạng nào để thưởng thức đến nơi đến chốn những đóa hoa tươi mát cận kề. Vã lại, với lứa tuổi của bọn mình vào thời đại đó mà có thích đóa hoa nào vì ‘tâm bất chính’ đi nữa thì cũng chỉ dám để trong bụng và liếc mắt nhìn ra vẻ ngây thơ, vô tội mà thôi. Như trường hợp mình chẳng hạn, thù cha mà không giận lây đến con. Thấy thầy Lê Tá là mình ngoảnh mặt làm ngơ nhưng chợt thấy bóng dáng con gái của Thầy là LTX, học dưới bọn mình một lớp, là mình ngoảnh mặt nhìn theo. Cho đến bây giờ mình vẫn còn nhớ thật rõ vóc dáng, màu da và từng đường nét trên khuôn mặt của cô bé này. Đây là mình chỉ nói đến ‘hoang nghịch’ thôi, còn những phần tử ‘hoang ngầm’ như TVL thì lại khác! Đừng nói là vào thời điểm đó, ngay như sau này lên đệ nhị cấp, không biết các bạn khác thì sao chứ Đổng-Lý vẫn giữ nguyên cái lề thói đó. “NTHB” có thể là một chứng nhân hùng hồn cho những gì ĐL nói. Ngồi nghĩ lại, chỉ có một tay độc nhất vô nhị là cố hữu TrTT. Mới hết năm đệ ngũ là đã mang theo người tình cao bay xa chạy. Nếu mình nhớ không lầm thì dường như đó là ái nữ của tiệm may N.G trên đường phố Gia Long thì phải.
Sau này gặp lại bạn xưa mình thật bất ngờ khi biết được PBTD đã trở thành một nhà thơ được nhiều người biết đến. Người ta nói những người theo nghiệp thi văn, cầm ca … hầu hết đều là những người có tâm hồn lãng mạn. Mà nói đến lãng mạn là nói đến lang bang, thủy chung bất nhất. TVL thì khỏi phải nói. Riêng PBTD thì mình không biết đã đổi từ hoang nghịch sang hoang ngầm từ lúc nào. Chỉ biết là những tháng ngày bên Cali với hắn thì đa số những người hắn liên lạc thường xuyên qua phone, email, hẹn hò gặp mặt đa số là phái nữ. Chỉ nghe hắn giới thiệu nếu không là ‘đại muội’ thì cũng là ‘tiểu muội’, còn thực chất thế nào cho đến bây giờ mình vẫn còn chưa nắm vững. Chỉ thỉnh thoảng nghe hắn ngâm nga ” Cõi trần thế lỡ đam mê sa đọa… Đường thâm cung ta lạc lối quay về..”. Cũng có đôi khi hắn nhìn khói thuốc rồi ra vẻ mơ màng, chắt lưỡi tiếc nuối…
Thấy bạn hoang đàng như vậy minh đã không giận mà còn thương. Có lẽ đúng như Huỳnh Tấn Thời đã nhận định “PBTD chỉ theo ngó thôi..!”
Viết tào lao đến đây là đủ rồi, mong mỗi ngày đọc được một bài thơ dễ thương. Chúc tất cả các bạn vui khoẻ. Riêng HTThời, ĐHNgọc, PBDương có nhiều thời gian để tìm vui bên nhau. Còn TVL thì chịu khó ra đường chứ đừng có ngồi nhà một mình trầm ngâm tìm hứng để làm thơ mà tổn hại đến sức khoẻ.
Tình xa.
Đổng-Lý.

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Giúp Cha Mẹ Vui Tuổi Già

31/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Giúp cha mẹ vui tuổi già

Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch Anh ngữ: Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Đợi cha mẹ già qua đời rồi mới báo hiếu làm đàn tràng cầu siêu thiệt to, mua đất nghĩa trang thiệt rộng, xây mồ xây mả thiệt đẹp, hoặc đem tro cốt vào chùa, nhang khói mịt mù, đặt nắm tro tàn cha mẹ ở một vị trí thiệt tốt… không ngại tốn kém!

Đợi cha mẹ già vào bệnh viện, đặt ống nội khí quản giúp thở, truyền đạm truyền dịch chai dưới chai trên, bơm thức ăn qua ống thông dạ dày, dây nhợ chằng chịt khắp người theo dõi nhịp tim nhịp thở, thuốc men không ngại tốn kém… sẵn sàng bán nhà bán cửa chữa chạy, “còn nước còn tát”!

Thế nhưng khi cha mẹ già đang sờ sờ bên cạnh thì bận bịu trăm công ngàn việc, không có chút thì giờ để hỏi han, chăm sóc…

Một ông bố viết cho con:

“… Người già sợ nhất cảnh cô đơn nên nếu các con đã hiểu thì hãy thương cho tròn. Tình thương ấy không đánh đổi bằng tấm ngân phiếu kếch xù hay quà bánh đắt tiền mà chính là… thời gian. Một lúc nào đó trong ngày mà các con thấy trống vắng thừa thãi thì hãy mang đến tặng Bố giờ phút vô nghĩa ấy! Bản chất nó vô giá nhưng lại vô cùng quý báu nếu chia sẻ đúng đối tượng… Con dư biết, sáng chiều Bố lủi thủi hết ngồi lại nằm, cô đơn bên cạnh một người trả công chỉ biết im lặng canh chừng. Nếu con đến thăm, nhớ bỏ hết công việc và lo toan ở ngoài xe trước khi vào nhà, tránh cảnh thân tâm mỗi chỗ mỗi nơi để cha con sống thật những kỷ niệm cuối đời bên nhau. Người già như Bố đương nhiên ăn nói sẽ không còn mạch lạc hấp dẫn, xin con đừng nhăn nhó… Hãy nhẫn nại ngồi nghe như thuở nuôi con còn bé, Bố đã từng chăm chú theo dõi tiếng con bi bô học nói… lặp đi lặp lại nhiều lần một chữ từ ngày này qua ngày nọ liên hồi…”. (Internet).

Có một cách giúp biết khi nào cha mẹ đã… bước vào tuổi già ấy là “lén” quan sát họ có những dấu hiệu bất thường nào về tâm lý, về sức khỏe của lứa tuổi già chưa.  Nhưng biết là để quan tâm, chăm sóc, can thiệp kịp thời thôi chớ không phải để “dán nhãn” cho họ đã già nua, lỗi thời, rồi không để họ còn có chút độc lập tự do gì nữa thì rất không nên!

Họ có lơ là quá đáng chuyện ăn mặc không? Xưa áo quần thẳng thớm, nay xốc xếch, xộc xệch, đứt nút, rách bâu mặc kệ? Họ có lơ là quá đáng việc chăm sóc bản thân mình không? Chẳng buồn tắm rửa, hớt tóc cạo râu, tóc tai bù xù mặc kệ. Trí nhớ họ còn tốt không hay quên trước quên sau, lặp đi lặp lại hoài một chuyện? Họ có loay hoay tìm kiếng lão, dù đang đeo trên mắt hay tòng teng trên cổ không? Họ có nghễng ngãng nghiêng tai bên này bên kia để nghe cho rõ hoặc cứ hỏi đi hỏi lại một chữ không? Họ có kêu TV mờ, sách báo chữ nhỏ quá, màu sắc không rõ ràng như xưa không? Họ có bước đi từng bước chầm chậm, loạng choạng, lê chân trên mặt đất như chân đã mọc dài ra và dễ bị vấp, bị trượt, bị té ngã không? Họ có kêu đau lưng nhức mỏi thường xuyên không? Có bỏ quên chìa khóa, quên điện thoại nơi này nơi kia tìm kiếm vất vả không? Thỉnh thoảng có quên tắt lò gaz, quên khóa cửa nhà… không?

Để ý coi họ còn thèm ăn uống không, ăn uống có còn biết ngon lành không hay sao cũng được? Họ có chê món này cứng món kia khó nhai không? Ngủ có dễ không hay trằn trọc loay hoay suốt đêm? Có còn ham đi đây đi đó, cà phê cà pháo với bạn bè không? Có còn mê coi đá banh, tennis… như ngày xưa không hay chỉ thích ngồi im một chỗ lúc nào cũng như đang im lặng lắng nghe, nhớ nghĩ đâu đâu…hoặc ôm TV suốt ngày rồi nhầm tưởng cảnh tượng trong phim ảnh là sự thật ngoài đời?

Để ý coi họ có đã bắt đầu thở hồn hển nặng nhọc… khi leo cầu thang trong căn nhà quen thuộc của mình không? Họ có bắt đầu thức giấc tiểu đêm nhiều lần, có dễ bị dị ứng khi ăn một món  ăn quen thuộc? có bị bón phải rặn hì hục vất vả không?…

Tóm lại, quan sát kỹ một chút sẽ thấy những thay đổi đó và tốc độ thay đổi ngày càng nhanh. Già thiệt rồi!

Một ông lão than thở: “ Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi”. Ngậm ngùi quá đỗi! Vì đâu nên nỗi?

Bởi vì thế hệ trước kia sống trong nền văn hóa đề cao “đạo hiếu”, học Quốc văn giáo khoa thư, học Nhị thập tứ hiếu, gia đình “tứ đại đồng đường”, xóm làng gần gũi, dư luận buộc ràng,  nay thì đời sống đã khác: gia đình hạt nhân, nhiều cặp ly hôn ly dị, single mom, single dad v.v…, nhiều gia đình chỉ có một con duy nhất làm sao gánh nổi ông bà nội ngoại hai bên?  Rồi đây các thế hệ già sẽ được nuôi trong nhà dưỡng lão (nursing home), nên ngay bây giờ phải coi chuyện “con cái bỏ rơi” là chuyện bình thường, có hiếu thuận là thỉnh thoảng con cái nhớ mà đến thăm đôi khi.

Có nhiều cách để giúp cha mẹ già được vui:

* Dành thời gian ngồi bên cha mẹ, nhắc những chuyện xưa, hỏi chuyện tuổi thơ của cha mẹ, chuyện học hành, chuyện chọn nghề, chuyện tình cảm của họ… để họ có cơ hội kể lại một cách hào hứng, nhiều khi lặp đi lặp lại cũng nên ân cần lắng nghe;

* Nhắc những ngày còn thơ của mình, những khó khăn gian khổ của gia đình như một cách tỏ lòng biết ơn, rằng nhờ họ mà mình có được ngày nay;

* Sưu tầm những hình ảnh kỷ niệm của gia đình qua nhiều giai đoạn, những hình ảnh thuở còn thơ của con cháu, dán vào một album để cùng coi chung cả nhà hoặc làm một  “triển lãm bỏ túi” gợi nhớ những kỷ niệm: “ngày này năm xưa em còn bé tí teo”…;

* Thỉnh thoảng dành thì giờ đưa cha mẹ đi thăm những nơi nhiều kỷ niệm của họ, mái trường xưa, căn nhà cũ dù đã đổi thay, những bà con lâu ngày chưa gặp nơi này nơi khác, những bạn bè thuở ấu thơ kẻ mất người còn…;

* Thỉnh thoảng tổ chức những buổi họp mặt gia đình, đặc biệt những ngày Giỗ chạp, để con cháu được nghe ông bà kể chuyện xưa, kết nối bà con cô bác. Nếu có thể thì tổ chức họp mặt bạn bè cùng lứa của cha mẹ ở một nơi phù hợp, khoáng đãng, họ sẽ có cơ hội trò chuyện râm ran với nhau…;

* Sưu tầm những bản nhạc xưa, phim cũ mà họ yêu thích, giúp họ được nghe lại, xem lại… Kỹ thuật media bây giờ rất hiện đại, chịu khó giúp để tránh sự lọng cọng của cha mẹ già;

* Sưu tầm các bài báo, hình ảnh… nếu có về thành tích của cha mẹ trong lãnh vực văn nghệ, thể thao, nghề nghiệp v.v… làm thành tập tư liệu để cùng xem với nhau, nhắc nhở những niềm hãnh diện xưa!

* Giúp cha mẹ tham gia những buổi sinh hoạt của nhóm bạn già, câu lạc bộ, hội quán người cao tuổi, nhóm coi bóng đá, tennis, nhóm hát hò, ngâm thơ, thậm chí nhóm bạn chơi tứ sắc, mạc chược, cờ vua, cờ tướng…;

* Khuyến khích cha mẹ học một kỹ năng mới: ngoại ngữ, vi tính, chơi games, biết dùng smartphone để chuyện trò, nhắn tin, biết xài tablet ( cái “quẹt quẹt” này giúp biết đủ thứ chuyện trên đời!)… Nhờ đó các tế bào não không bị rỉ sét, các nối kết thần kinh được hoạt hoá, sinh động. Ngày nay người ta biết tế bào não rất nhu nhuyến và có thể sinh sôi!

* Khuyến khích cha mẹ gần gũi nhiều hơn với nhu cầu tâm linh, nói với cha mẹ về nhân quả, luân hồi, thiên đàng, địa ngục… Thường nhắc những việc làm tốt đẹp của họ trước đây để thấy thanh thản, an vui… Khuyên cha mẹ đi chùa, đi nhà thờ… Giao lưu bạn đạo, học tập điều thiện, miễn là không để rơi vào mê tín dị đoan…

Những điều này không phải là lý thuyết. Tôi đã thực hành được gần như vậy khi chăm sóc Mẹ tôi lứa tuổi già. Tôi thường ngồi trò chuyện với Bà, từ đó vẽ được đường dây như một bản đồ dòng họ, bà con bên Ngoại; nhắc bà chuyện Bà “duyên” gặp Ba tôi, chuyện đám cưới nhà quê thời đó, rước dâu có đoạn đường biển cô dâu phải đi ngựa, lội qua ao rạch, dòng suối rộng ở ngãnh Tam Tân. Chuyện bà “nổi ghen”, dắt tôi (gần 5 tuổi) bỏ về giữa buổi trình diễn cải lương ở Rạp hát có Ba tôi đóng vai trong đó; hỏi cả chuyện “người yêu” thuở nhỏ của Ba tôi hồi đó có đẹp không? Bà chỉ nói “cũng được” chớ không chịu là đẹp! Rồi tôi thường đưa Bà về thăm Phan Thiết, Phan Rang, đi ngang Bà Rịa, qua Bưng Riềng, Láng Găng, Bến Ván, Giếng Ngự ở Bình Châu, vùng tản cư của gia đình tôi ngày đó, suốt 7 năm từ 1945 đến 1952 khi Ba tôi mất mẹ con mới về Phan Thiết tá túc nhà cô Hai. Tôi cũng thường đưa Bà về thăm các dì, cậu, cô bác, thăm chùa Hải Nam v.v…, Lúc Bà yếu nhiều, tôi tổ chúc được một buổi gặp mặt các con cháu của Bà tại ngôi nhà ở Lagi để Bà được gặp mọi người, như để chào tạm biệt. Hôm đó còn quay lại phim để lưu cho con cháu… Tôi biết mình làm chưa đủ, nhưng cũng an ủi đã thực hành nhưng điều tôi học hỏi được, và chia sẻ nơi đây.

…. o ….

Help parents enjoy old age

By Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác Phan Tấn Hải

 

Do not wait until your parents have passed away to demonstrate your filial devotion by creating a grand altar, purchasing an elaborate burial plot, constructing an exquisite tomb, transporting their ashes to a temple filled with incense smoke, or placing them in a respectful location, regardless of the cost.

Help your parents enjoy their later years now. Don’t wait for your elderly parents to require hospitalization, an endotracheal tube for respiratory support, two bottles of intravenous fluids, a nasogastric tube for feeding, wires for heart rate and respiratory monitoring, and costly medications. You may even find yourself willing to sell your house to cover the treatment expenses, only to utter phrases like, “As long as there is water in the boat, we must scoop the water out.”

However, when your elderly parents are still around, you may find yourself preoccupied with countless responsibilities, leaving little time to inquire about or care for them.

A father wrote to his son: “The elderly are most afraid of loneliness, so if you understand, then love them fully. Time, not a large check or expensive gifts, exchanges this love. At some point during the day when you feel empty and redundant, bring that meaningless moment to Dad! It is priceless in nature but extremely precious if shared with the right person… You are well aware that Dad spends every morning and evening sitting and lying down alone, accompanied only by a paid worker who silently observes me. When you visit, it’s important to leave all your work and worries in the car before entering the house. This will prevent your body and mind from being separated, allowing your father and son to truly share their final memories together. An old man like Dad will naturally not speak coherently and attractively; please don’t frown… Please sit and listen patiently, just as I did when I was raising you as a baby. Dad used to attentively watch you babble and learn to speak, repeating the same word over and over, day after day.” (Excerpt from the Internet)

One way to recognize when your parents have entered old age is to discreetly observe them for any unusual signs of psychological or physical decline typically associated with aging. However, understanding these changes should lead to caring for them and intervening promptly, rather than labeling them as old or outdated. It is crucial to avoid stripping them of their independence and freedom, as this approach is highly inappropriate.

Are they excessively careless about their clothing? In the past, their attire was neat, but now it appears sloppy and disheveled, with broken buttons and torn cuffs. Are they neglecting their personal hygiene? Do they refrain from showering, shaving, or managing their hair? Is their memory still sharp, or do they frequently forget things, repeating the same statements repeatedly? Do they struggle to find their reading glasses, whether they are wearing them or they are hanging around their necks? Do they tilt their heads from side to side to hear clearly, or do they ask for the same word repeatedly?

Do they express concerns that the television picture is blurry, that the print in books and newspapers is too small, or that the colors are not as vibrant as they once were? Do they walk slowly and unsteadily, dragging their feet as if their legs have grown longer, making them prone to tripping, slipping, and falling? Do they frequently complain of back pain? Do they leave their keys or phones scattered about and struggle to locate them? Do they occasionally forget to turn off the gas stove or lock the door?

Pay attention to whether they still crave food, enjoy eating, or have changed their preferences. Do they find certain foods difficult to chew? Is it easy for them to sleep, or do they toss and turn throughout the night? Do they still like to go out, drink coffee with friends, and engage in social activities? Do they continue to enjoy watching football or tennis as they once did, or have they become more sedentary, sitting quietly and lost in thought, or spending all day in front of the television, confusing movie scenes with reality?

Pay attention to whether they have begun to gasp for breath when climbing stairs in their familiar home. Have they started waking up more frequently at night to urinate? Are they experiencing allergies when consuming familiar foods? Are they constipated and straining?

In short, observe closely, and you will notice these changes; the speed of change is accelerating. They are truly aging!

An elderly man lamented, “My old friends, we must remember that we are the last generation to honor our parents and the first generation to be abandoned by our children.” How tragic! Why is this the case?

Because the previous generation lived in a culture that emphasized filial piety, they studied the National Literature textbook and the Twenty-Four Filial Exemplars. Families often consisted of  generations under one roof, and a strong adherence to public opinion. In contrast, contemporary life features nuclear families, numerous divorced couples, single mothers, and single fathers. Many families now have only one child, raising the question of how they can support both sets of grandparents. In the future, it is likely that older generations will reside in nursing homes. Therefore, we must begin to accept the notion of being abandoned by children as a new normal, where filial piety is redefined to mean that children occasionally remember and visit their parents.

To help your elderly parents find happiness, consider the following suggestions:

* Spend time sitting with your parents, reminiscing about old stories and asking about their childhood, education, career choices, and love stories. This gives them the opportunity to share these experiences with enthusiasm, even if they repeat themselves. It is important for you to listen attentively.

* Reflect on your childhood experiences and the challenges your family faced, expressing gratitude for the sacrifices made by your parents that have contributed to your current circumstances.

* Collect family memories through various stages of life. Gather childhood photos of your children and grandchildren, and compile them into an album for the entire family to enjoy together. Alternatively, create a pocket exhibition to reminisce about special moments, such as this day, years ago, when you were a little kid.

* Occasionally, take the time to bring your parents to visit places filled with memories for them, such as their old school or childhood home, even if it has changed. Reconnect with relatives they haven’t seen in a long time, whether at this location or another, and remember childhood friends who have passed away, as well as those who are still alive.

* Occasionally, organize family gatherings, particularly on death anniversaries, to allow children and grandchildren to hear their grandparents share old stories and connect with relatives. If feasible, arrange a meeting for your parents’ friends in a suitable, open space, providing them with the opportunity to engage in conversation with one another.

* Collect old music and classic movies that they cherish, and assist them in enjoying these again. Media technology has advanced significantly, so please help your elderly parents navigate it to avoid any technical difficulties.

* Collect articles, pictures, and any other materials related to your parents’ achievements in the fields of arts, sports, careers, and more. This will help create a collection of documents that you can enjoy together, reminding them of their past accomplishments.

* Help your parents engage in activities with their old friends, such as clubs, senior groups, football and tennis viewing parties, singing groups, poetry recitation clubs, and gatherings for playing cards, mahjong, chess, or Chinese chess.

* Encourage parents to learn a new skill, such as a foreign language, computer programming, playing games, or using a smartphone for chatting and texting. Familiarity with a tablet can also be beneficial, as this “swipe thing” helps prevent brain cells from deteriorating, activates neural connections, and keeps the mind active. Today, we understand that brain cells are highly adaptable and can regenerate!

* Encourage parents to connect more deeply with their spiritual needs. Discuss concepts such as cause and effect, reincarnation, heaven, and hell. Frequently remind them of their past charitable deeds to foster feelings of peace and happiness. Suggest that they visit a temple or church and engage with religious friends to learn positive values while being cautious not to fall into superstition.

These experiences are not mere theories. I practiced them while caring for my mother in her old age. I often sat and talked with her, during which I traced a family tree, mapping out our relatives on my mother’s side. I reminded her of the story of her “fateful” meeting with my father, recounting the tale of their country wedding. At that time, the bride’s procession stretched along the sea, and she had to ride a horse, wade through ponds, canals, and a wide stream in Tam Tân. I asked about my mother becoming jealous and taking me, then almost five years old, out into the middle of a cải lương performance at the theater where my father was performing. I also inquired whether my father’s childhood sweetheart was beautiful. She simply stated that the other woman was OK, but refused to acknowledge her beauty.

I often took my mother to visit Phan Thiết and Phan Rang, passing through Bà Rịa, Bưng Riềng, Láng Găng, Bến Ván, and Giếng Ngự in Bình Châu. This was the evacuation area for my family during the seven years from 1945 to 1952. It was not until my father passed away that my mother and I returned to Phan Thiết, where we stayed at my Aunt Hai’s house. I frequently took my mother to visit my aunts, uncles, and Hải Nam Pagoda, among other places. When she became very weak, I organized a gathering of her children and grandchildren at our home in Lagi so that she could meet everyone as a way to say goodbye. On that day, I even recorded the event for my children and grandchildren. I know I have not done enough, but I find comfort in knowing that I have practiced what I have learned and shared it here.

 …. o ….

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Đỗ Hồng Ngọc/ Nguyên Giác: “CON VÀO DẠ, MẠ ĐI TU” (song ngữ Việt-Anh)

20/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 3 Bình luận

 

“CON VÀO DẠ, MẠ ĐI TU”

Đỗ Hồng Ngọc

Ghi chú: Tôi chọn một ít bài viết, một ít chuyện kể trong “Chuyện Hồi Đó” đưa lên trang Web dohongngoc.com này để sẻ chia cùng bè bạn, đọc… lai rai cho vui nhe.

Đây là bài được Nguyên Giác chọn dịch đầu tiên sang Anh ngữ.

Thân mến,

ĐHN 

 

blank

(tranh Nguyên Giác)

 “Mạ” là Mẹ.  Con vào dạ, mạ đi tu là khi “cấn thai” vào lòng tự nhiên người mẹ nào cũng … “đi tu”!  “Đi tu” đây không có nghĩa là xuống tóc, vào chùa gõ mõ tụng kinh mà chỉ có nghĩa là sửa mình, thay đổi mình, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài. Mọi thứ ở người mẹ phải sửa sang, phải “tu chỉnh”, nên mới có câu “con vào dạ mạ đi tu”!

Sửa mình không dễ. Nhưng một khi có “con vào dạ” rồi thì tự dưng phải sửa thôi. Bởi có “sửa” thì mọi thứ mới tốt đẹp cho con, cho mẹ, và cho cả gia đình.

Thực ra, không chỉ “mạ đi tu”, mà người cha cùng cả nhà cũng đi tu với mạ!

“Con vào dạ” ấy là lúc mang vào lòng cả một thế giới, cả một kiếp người. Cái sinh linh bé bỏng này nó đến từ đâu? Nó đi về đâu? Nó sẽ ra sao? Nó đến cách nào nó đi cách nào? Người mẹ bỗng trở thành triết gia một sớm một chiều!

Cái gọi là tử cung– “dạ con”-  kia chính là nơi trú ngụ của đứa con, chẳng khác chi hoàng cung là nơi trú ngụ của nhà vua- cho nên kể từ lúc này bé đã là một… vì vua loi nhoi trong bụng mẹ, làm mọi thứ trong người mẹ chuyển động, đổi thay. Mẹ bấy giờ đã là một người phụ nữ khác. Một người sắp là mẹ, sắp làm mẹ. Sinh con rồi mới sinh cha/ sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông. Cũng vậy, “sinh con rồi mới sinh mẹ”. Không có con thì sao là mẹ được! Và khi cái thai nhú lên từ trong bụng mẹ thì đó cũng là lúc “mẹ sinh”. Mẹ từ từ sinh ra theo sự lớn lên từng ngày của thai nhi. Và để… sinh ra một người mẹ thực sự thì mẹ phải “tu” thôi. Kẻ giúp mẹ tu… thành mẹ chính là đứa con trong bào thai, ngay từ khi còn trong trứng nước.

Nó có quyền năng rất lớn. Nó làm thay đổi cả “vũ trụ quan” và “nhân sinh quan” của mẹ. Nói đơn giản hơn, nó thay đổi một cách nhìn. Lúc bấy giờ, người phụ nữ vừa  “cấn thai” kia đã nhìn mẹ mình cách khác, nhìn cha mình cách khác! Rồi nhìn chồng mình cũng khác, nhìn bạn bè mình cũng khác. Thậm chí nhìn hàng xóm láng giềng cũng khác đi rồi. Trước kia có khi hục hặc với cha, có lúc bực dọc với mẹ, tranh hơn tranh thua với đồng nghiệp với hàng xóm láng giềng bây giờ tự dưng thấy mênh mông lòng từ. Thấy thương thấy quý, thấy biết ơn tất cả. Cái sinh linh này, tấm hình hài này từ đâu mà đến, sẽ ra sao ngày sau? Phải làm gì đây cho nó hạnh phúc nhất, cho tương lai nó tốt đẹp nhất. Mãi nghĩ về nó mà không còn thấy cái tôi của mình nữa. Nó trở thành cái rún của vũ trụ chớ không phải cái tôi là rún của vũ trụ như xưa. Lòng bi mẫn cũng từ đó mà tràn đầy. Thương người hơn, thấy rõ nỗi khổ đau của mình của người hơn và từ đó muốn giúp đỡ, muốn nâng niu. “Từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ”. Hóa ra đã “tu” lúc nào không hay! Rồi còn biết vui theo cái vui của người, thấy dễ tha thứ, dễ buông bỏ. Lòng đã rộng mở. “Hỷ xả” lúc nào đó vậy? Chưa biết là trai hay gái đây, nhưng không thành vấn đề. Có đứa con vào bụng, bỗng thấy mình không là mình nữa. Mà hai mình. Hai mà một. Mới hiểu thế nào là “nhất như”. Mắt nhìn khác đi, tai nghe khác đi, mũi ngửi khác đi, lưỡi nếm khác đi, và toàn cơ thể nữa, đã bày biện khác đi nên xúc tiếp cũng khác đi. Và đặc biệt, ý nghĩ, tư tưởng cũng đã khác đi nhiều lắm. Từ đó, những lời ăn tiếng nói dấm dẳng, đanh đá xưa kia bỗng trở nên từ ái, khoan dung;  những cử chỉ vụt chạc, hấp tấp lúc trước đã trở nên điềm đạm, từ tốn… Hóa ra “lục căn” đã dần thanh tịnh. Mắt tránh xa những hình ảnh bạo lực, kích dục… trong phim ảnh, sách báo, kịch nghệ. Tai tránh xa những âm thanh dậm dật loạn động hay áo não sầu thương. Từ bỏ những món ăn kích thích, nào rượu nào bia; lánh xa những nơi có mùi thuốc lá, tránh bớt những món cay nồng… Mặc rộng, thoáng mát, đi lại khoai thai. Ăn biết mình ăn, ăn gì, tại sao; đi đứng nằm ngồi thế nào… Mọi thứ cứ như chánh niệm. Tránh cả những chuyện cà kê dễ ngỗng, tránh các « bà tám » thị phi. Cái sinh linh bé bỏng kia, hoàng tử công chúa kia, không biết từ cát bụi nào đã đến, lỡ nó nghe được, nó bình phẩm, nó bắt chước thì sao?

“ Ăn cơm có canh, tu hành có bạn ». Bạn tu đầu tiên gần gũi nhất phải là “thằng cha nó”. Từ ngày biết mình sắp làm cha “thiên hạ », ông đã âm thầm tự động bỏ thuốc lá, giảm bia rượu, thôi đàn đúm, la cà. Đi làm xong vội về… xoa đầu con, coi nó lớn tới đâu trong bụng mẹ. Ông chăm chú, nghiền ngẫm xem nó đã biết dòm ngó phê phán gì chưa. Tự dưng có một kẻ lạ hoắc tự trên trời rơi xuống, lọt tõm vào nhà mình, dòm dõi mình, nghe ngóng mình… cũng làm mình bối rối không ít chứ ! Cái gì bây giờ cũng len lén, ngó trước dòm sau. Nó cười chăng ? Nó nhăn chăng ? Nó đau chăng ? Nó giận chăng ? Hóa ra không phải « con vào dạ mạ đi tu » mà bố cũng phải tu.

Lạ thay, rồi bà nội bà ngoại, ông nội ông ngoại tương lai cũng tu luôn. Ai cũng sửa mình, cũng tự thay đổi cả. Bà nội bà ngoại đâm ra dễ thương hết sức, chăm lo từng chút, dặn dò từng ly, bày đặt đủ trò, gây phiền hà không ít, nhưng tất cả chỉ vì cái sinh linh bé bỏng này thôi.

Tu, nói cho cùng, cũng tu từ khóm cây bụi cỏ, từ tiếng mõ tiếng chuông. Cho nên, nhà cửa giờ cũng trở nên ngăn nắp, sạch sẻ, sáng sủa hơn. Sách đọc đã khác. Phim ảnh đã khác. Âm nhạc đã khác.  Chắc chắn cái cảm xúc sảng khoái, lâng lâng của mẹ khi được nghe một điệu hát ru quen  thuộc thuở nằm nôi sẽ làm sản sinh các kích thích tố hạnh phúc truyền qua thai nhi. Mấy bức tranh treo trên tường cũng đã kịp thay. Trong sáng hơn, tươi vui hơn. Nhớ chuyện kể ông bố người Mỹ da trắng nọ ngạc nhiên thấy đứa con sơ sinh của mình sao da đen tóc quíu khác thường thì bà vợ đã giải thích là do suốt thời gian mang thai bà đã ngắm mãi cái hình anh cầu thủ bóng đá da đen treo trên tường! Phải cảnh giác !

Rõ ràng, không chỉ tu mà còn phải học. Chỉ có hiểu biết một cách khoa học mới hết nỗi lo âu. Làm sao nuôi bé lớn lên từng ngày trong bụng đây? Làm sao cho mắt nó sáng, da nó đẹp, môi nó hồng đây? Nó chui ra bằng đường nào? Có đau lắm không? Có phải “đi biển mồ côi một mình” như người ta nói không? Có cần « ông già » nó cùng “đi biển” cho có đôi không?  Có cho nó bú ngay không? Bú có hư không?… Ôi biết bao điều phải học.  Học để biết « cơ chế » của hoài thai, mang thai, của sanh nở để không còn phải sợ hãi, lo âu. Chắc chắn một điều là mẹ tròn con vuông, bởi sanh nở là chuyện sinh lý bình thường của bất kỳ bà mẹ nào.  Có người khuyên mổ đẻ cho khỏi đau, nhưng đau… cũng hay chứ, mới biết « mang nặng đẻ đau » là thế nào, mới biết « cha sinh mẹ dưỡng/ đức cù lao/ lấy lượng nào đong… » là thế nào! Làm gì có chuyện chọn giờ hoàng đạo để sanh thì sau này bé sẽ… làm vua, làm tể tướng ! Làm vua, làm tể tướng đâu không thấy chỉ thấy thiếu dưỡng khí não vì sinh non, sinh sớm, dễ mắc bệnh tâm thần về sau. Cứ sanh đẻ tự nhiên thôi để được là người đầu tiên đón bé vào đời, rồi cho nó bú ngay…. để được làm mẹ, là mẹ, sớm chừng nào hay chừng nấy.

Nhiều người đi tu muốn mau thành “chánh quả”. « Mạ đi tu » nhiều khi cũng vậy. Cũng muốn “gíáo dục » sớm cái sinh linh bé bỏng này ngay khi còn trong trứng nước để mong sau này nó thành thần đồng, thành siêu nhân, anh hùng, vô địch… Nhưng « quả » mà chín mau quá chỉ có cách « giú ép ». Mà giú ép thì không ngon. Cái gì gượng quá đều không hay.  Mạ mà căng thẳng quá để « tu » cũng sẽ tạo nên stress, sản sinh nhiều chất độc hại cho cơ thể, cho cả mẹ lẫn con.

Cảm ơn chút sinh linh bé bỏng sắp bước vào « cõi người ta ».

Và cảm ơn tất cả vì những yêu thương trìu mến!

…. o ….

When a child enters the mother’s womb, the mother becomes a practitioner

By Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác

When a woman becomes pregnant, she naturally becomes a Dhamma practitioner. Becoming a practitioner does not necessarily mean shaving her head or going to a temple to chant sutras; rather, it involves self-correction and personal transformation, both externally and internally. Everything within the mother must be aligned and made right, which is why there is a saying: “When a child enters the mother’s womb, the mother becomes a practitioner.”

It is not easy to change oneself. However, once you are expecting a child, you will naturally need to adapt. By making these changes, you can create a better environment for the child, the mother, and the entire family. In fact, not only does the mother become a practitioner, but the father and the whole family often join her in this journey of growth and development.

When a child enters the mother’s womb, it carries an entire world—an entire human life. Where does this tiny creature originate? Where does it go? What will it become? How does it arrive, and how does it depart? The mother suddenly transforms into a philosopher overnight!

The so-called palace of a child—“womb”—is the place where the child resides, much like a palace is the residence of a king. From this moment on, the baby is akin to a king wriggling in the mother’s womb, causing everything within her to move and change. The mother is now transformed; she is no longer just a woman but a person on the brink of motherhood. Giving birth to a child first brings forth a father, while giving birth to a grandchild first creates a grandfather.

Likewise, the act of giving birth to a child is accompanied by the birth of a mother. Without a child, how can one truly be a mother? When the fetus emerges from the mother’s womb, it marks the moment the mother is born. The mother gradually comes into her own as the fetus develops each day. To fully give birth to a genuine mother, the mother must engage in a process of self-cultivation. The child in the womb, even from the time it is still an egg, plays a crucial role in helping the mother evolve into her maternal identity.

The baby possesses remarkable power. It transforms the mother’s perspective on the universe and her outlook on life. In essence, it alters her way of perceiving the world. At that moment, the woman who had just conceived viewed her mother, father, husband, friends, and even her neighbors in a new light. Previously, she had experienced conflicts with her father, felt upset with her mother, and argued with her colleagues and neighbors. However, she now felt an overwhelming sense of compassion. She experienced love, respect, and gratitude for everything around her.

Where does this creature, this body, come from, and what will it be like in the future? What must a mother do to ensure her baby is happiest and to create the best possible future for it? As she contemplates these questions constantly, she begins to lose sight of her own ego. The fetus becomes the center of the universe, rather than her ego occupying that position as it once did. From this perspective, compassion flourishes. She finds herself loving others more deeply, gaining a clearer understanding of her own suffering and that of others, which inspires her desire to help and cherish. A compassionate heart can bring happiness to sentient beings, while a kind heart can alleviate suffering. It turns out that she has been practicing compassion and kindness without even realizing it! She also learns to find joy in the happiness of others, discovering that it is easy to forgive and to let go. Her heart has opened. When did this joy and ability to let go emerge?

It is not yet known whether the fetus is a boy or a girl, but this is inconsequential. With a child growing in her womb, the pregnant woman suddenly finds herself transformed; she is no longer just herself but two beings in one. She begins to grasp the essence of oneness. Her eyes perceive the world differently, her ears hear in a new way, her nose detects scents anew, her tongue experiences flavors differently, and her entire body, now altered, engages with the world in a distinct manner. Most notably, her thoughts and ideas undergo a profound change. From that moment on, the pregnant woman realizes that the harsh words of her past have transformed into expressions of love and tolerance; the hurried gestures she once exhibited have become calm and deliberate. It becomes evident that her senses have gradually been refined. Her eyes turn away from violent and erotic images found in movies, books, and plays. Her ears avoid chaotic, pounding sounds and sorrowful melodies.

She began to eliminate stimulating foods, such as alcohol and beer, and avoided places with the smell of cigarettes, as well as spicy foods. She wore loose, breathable clothing and moved at a slow pace. She practiced mindful eating, being aware of what she consumed and the reasons behind her choices. Every action—standing, walking, sitting, and lying down—was approached with mindfulness. She steered clear of gossip and gossipy groups. That little creature, that prince or princess, who knows where it came from? What if it heard, commented on, or imitated her actions?

Eating rice is best enjoyed with soup, just as practicing religion is enriched by the presence of friends. The first and most important companion on this journey of personal growth must be the father of the unborn child. Upon learning that he was going to become a father, he instinctively and quietly quit smoking, reduced his alcohol intake, and curtailed his social activities. After work, the expectant father hurried home to gently caress the baby’s head, eager to see how much it had grown in the mother’s womb. He paid close attention, pondering whether the baby could already observe and critique its surroundings. Suddenly, a stranger seemed to fall from the sky, slipping into his home, watching him, and listening to him, which left him quite bewildered! Everything felt secretive; he found himself looking around anxiously. Was the baby smiling? Frowning? In pain? Angry? It became clear that  the baby enters the womb, the mother becomes a practitioner, but the father also had to engage in this practice.

Strangely enough, the future paternal grandmother, maternal grandmother, paternal grandfather, and maternal grandfather also engaged in this practice. Everyone made corrections and underwent changes. The paternal and maternal grandmothers became exceptionally nurturing, attending to every detail, providing guidance, and devising various strategies, which sometimes led to complications, all for the sake of this little one.

Cultivation encompasses not only the caring for plants and grasses but also the soothing sounds of wooden fish and bells. As a result, the home has become tidier, cleaner, and brighter. The books, movies, and music have all changed. Surely, the joy and elation a mother feels when hearing a familiar lullaby from the cradle release happy hormones that are transmitted to the fetus. The pictures hanging on the walls have also been updated to be brighter and more cheerful. This reminds me of a story about a white American father who was astonished to see his newborn baby with unusually curly black skin and hair. His wife explained that throughout her pregnancy, she had been gazing at a picture of a black soccer player hanging on the wall. It serves as a reminder to be mindful of our surroundings.

Clearly, one must not only practice but also study. Only by understanding the scientific principles can one alleviate their worries. How can a pregnant woman nurture her baby as it grows day by day in her womb? How can she make her baby’s eyes bright, skin radiant, and lips pink? What will the birthing process be like? Will it be painful? Is giving birth truly akin to embarking on a solitary journey at sea, as some people suggest? Does the father-to-be need to accompany her on this journey to fulfill their roles as a couple? Should breastfeeding begin immediately? Is breastfeeding harmful? There are so many aspects to learn. It is essential to understand the mechanisms of conception, pregnancy, and childbirth to eliminate fear and anxiety. One thing is certain: both mother and child are safe, as giving birth is a normal physiological process for any mother.

Some people recommend a cesarean section to avoid pain, but pain can also be beneficial. It allows you to understand the experience of carrying a heavy burden and giving birth. This is why the ancients believed that the father contributes to the mother’s journey and raises the child; the parents’ love and sacrifice are immeasurable. There is no such thing as selecting an auspicious time to give birth in hopes that the child will become a king or a prime minister. If you attempt to time the birth, the baby may be born prematurely and could suffer from oxygen deprivation, leading to potential mental health issues later in life. It is best to give birth naturally, so you can be the first to welcome your baby into the world and immediately begin breastfeeding. This way, you can embrace your role as a mother as soon as possible.

Many individuals who choose the monastic path aspire to attain enlightenment swiftly. A mother who practices spirituality while pregnant often sets very high expectations for her unborn child. She hopes to nurture her little one from the womb, aiming for them to become a genius, a superhero, a hero, or a champion. However, if the fruit ripens too quickly, it must be forced, and forcing it will yield an unpleasant result. Anything that is overly forced is detrimental. If the mother experiences excessive stress while cultivating her practice, it can lead to further stress, producing harmful substances for both herself and her child.

Be grateful for the small creature that is about to enter the human realm.

Be grateful for all the love and affection you are experiencing.

…. o ….

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ

19/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

CHUYỆN HỒI ĐÓ

Đỗ Hồng Ngọc (trích)

 

LỜI NGỎ

Tôi nay 85 tuổi. Nhiều bạn khuyên viết cái gì đó như “Hồi Ký” cho vui đi! Hồi Ký ư? Để làm gì? Viết cho ai? Viết cách nào? Tôi ngần ngại mãi. Rồi cuối cùng cũng thấy nên viết cái gì đó, gọi là Hồi Đó (thay vì Hồi Ký) cho vui. Bởi, như người ta thường nói, cuộc đời có “3 Hồi”, một là Hồi thơ ấu, hai là Hồi trung niên và ba là Hồi đó. Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói chuyện… “hồi đó”. Chuyện gì Hồi đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ! Khi người ta bắt đầu thường nhắc chuyện Hồi đó thì người ta đã già thiệt rồi, hết chối cãi! Già cả, già nua, già khú đế… rồi đó thôi. Người ta bắt đầu lú lẫn (dementia) rồi quên tuốt mọi thứ (alzheimer)… là xong.

Ôi thôi, nhiều chuyện quá. Mà chuyện gì “của mình” hồi đó cũng… hay cả, cũng đáng kể, đáng viết lại cả! Lòng tham không đáy nó vậy! Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay nó vậy. Tha cho nó đi. Vấn đề tiếp theo tôi tự hỏi viết cho ai đây? Nghĩ đi nghĩ lại, chắc chỉ có mình mình đọc thôi. Chớ ai thèm đọc! Đọc để làm gì? Nhưng nhớ lại trong một bài viết “Để giúp cha mẹ già được vui”, tôi có khuyên con cái nên kể những “chuyện xưa tích cũ” hay ho của ông bà già cho họ được vui? Thí dụ hồi nhỏ từng… học giỏi, từng lãnh cúp bóng bàn, cờ vua… Tôi cũng từng bàn về “Chất lượng cuộc chết”, rằng các chuyên gia tâm lý cũng khuyến khích nên kể những thành tựu tốt đẹp trong đời cho một người sắp nhập “Niết bàn” để họ mang theo làm hành trang cho một cái “Nghiệp” an lành tái sinh… nếu có! Vậy thì Viết Chuyện Hồi Đó là để cho mình chớ còn cho ai nữa! Mình đọc một mình nếu còn đọc được. Tủm tỉm một mình cũng chẳng khoái ru?

Vấn đề tiếp theo là Viết cách nào đây? Tôi may mắn 15 năm trước (2009), tự dưng có hai vợ chồng người bạn trẻ không quen biết là Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh, bế con đến thăm tôi, nói nghe chú Ngọc về hưu, tụi con làm cho chú một trang Web nha, để chú đăng bài lên đó, chia sẻ cho mọi người và cũng để lưu trữ… Thì ra hai bạn trẻ tuổi 30 này chuyên về IT, từng là độc giả báo Mực Tím và nuôi con theo “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của tôi nên thực lòng mến mộ và muốn giúp tôi. Tôi chưa biết gì về Web về IT thấy họ rất chân thành bèn đồng ý ngay. Vui thôi mà! Bây giờ mới thấy nó là một nguồn tư liệu quý, đáng tin cậy. Hồi đó, chưa có nhiều “nền tảng”  Facebook, Instagram…chưa có AI với fake news, deep fakes các thứ như bây giờ, nên những bài tôi viết “post” lên được nhiều phản hồi thú vị của bạn bè gần xa và rất nhiều bạn đọc không quen biết… trở thành thân thiết. Nhiều “còm’ trên trang Web rất cảm động:

Khi tìm được trang web này con cảm thấy rất vui. Mỗi lần sau khi lên mạng tìm kiếm đủ thứ thông tin, trước khi offline, con lại vô đây đọc, những bài viết của thầy nhắc nhở con phải trở về. Tâm con bớt lung tung sau khi lang thang trên mạng… Àh, con còn một chuyện nữa. Đó là con đang là một sinh viên y dược. Con rất muốn được trở thành một bác sĩ như thầy… phanthuy@

Cảm cúm con uống vài viên tylenol …. Còn Stress quá thì con uống “ dohongngoc.com ” bớt liền . Mang ơn Bác lắm vì lòng tử tế của Bác dành cho mọi người trong đó có con . Mong Bác luôn an vui… hodinh@

Thật là đại phước,thật là hữu duyên khi con gặp được trang web này. Cuộc sống con vốn bận rộn, ở quê (Cai Lậy), yêu thích ngành y, yêu văn chương, yêu nhạc Trịnh, thích học Phật, lúc trước rất cầu toàn, bỗng dưng như trúng được kho báu… Thế giới phẳng thật kỳ diệu!!!
Con lưu ngay vào máy và đọc say mê khi vắng khách hàng, có lẽ chư Phật mười phương đã “gửi” đến cõi ta bà này một sứ giả để trị tâm bệnh và thân bệnh cho chúng sanh chăng?!
Con kính chúc bác sĩ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng cát tường để luôn là cầu nối giữa phật pháp – khoa học – văn học – và chúng sanh…
huynhthi@

Ôi cái thời @ này cũng vui quá chớ phải không? Những người xa lạ bỗng gần gũi thân thiết đến vậy.

Ngoài trang Web dohongngoc.com này,  tôi lại may mắn gặp một người bạn không quen biết khác nữa là anh Nguyễn Hiền Đức. Một hôm đi café về tôi ngạc nhiên thấy cả chục cuốn 4, 5 trăm trang A4 đóng tập những tác phẩm của tôi. Nhờ có để lại số Điện thoại tôi hẹn gặp anh. Thì ra hàng chục năm trời nay anh đã rị mọ đánh máy các tác phẩm của tôi rồi hôm nay gởi lại tặng tác giả làm sao không cảm động! Anh còn sưu tầm rồi viết hẳn một “Phác thảo chân dung Đỗ Hồng Ngọc” và “Đỗ Hồng Ngọc, Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương” đăng trên Thư viện Hoa sen      mà tôi cũng chẳng hề hay biết!

Sau này, nhà thơ Luân Hoán ở Canada, tôi vốn mến mộ từ những năm 60 thế kỷ trước nhưng chưa từng gặp, cùng bằng hữu ở hải ngoại làm một Số báo “Ngôn Ngữ Số đặc biệt/ Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc/ Bằng hữu & Văn chương”… dày cộm, trong đó có nhiều bài viết của bè bạn khắp nơi trên chốn ”online” cũng giúp tôi nhiều tư liệu nhắc Chuyện Hồi Đó…

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 12.2024)

 

“Một chút tôi”

Theo “truyền thống” của một Trang nhà (Website), www.dohongngoc.com, tôi phải viết đôi lời tự giới thiệu mình gọi là “About me” mới là phải phép. Lúc đó, tôi lần lữa mãi. Biết viết gì đây? Sau cùng nghĩ rằng hay là gom góp vài tư liệu đâu đó trong các Lời Ngỏ tự giới thiệu các sách của mình thành “Một chút tôi” cũng hay để làm quen nhau.

 

(Trích Lời ngỏ Gươm Báu Trao Tay) 

Người xưa tìm thuốc lên non hái lá. Thử nếm. Thử chữa bệnh cho mình. Rồi mới dám mà sẻ chia cho bạn bè hàng xóm, giữa chốn thân quen. Phải phơi nắng, phơi sương, phải chẻ, phải sao, phải sắc. Ba chén sáu phân. Tùy bệnh trạng mà gia giảm. Thuốc chữa đựơc bệnh cũng là thuốc độc. Chỉ cần một chút sơ sẩy, hững hờ!

Tôi là một người thầy thuốc, một bác sĩ, mà cũng là một bệnh nhân, lắm nỗi lao đao, đi tìm thuốc chữa cho chính mình. Mới thấy tốt nhất là đừng nên có bệnh! Đừng phải cần đến thuốc men. Nhưng “Không hẹn mà đến, không chờ mà đi, bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…” (TCS)

 

(Trích Thay lời ngỏ Thư gởi nguười bận rộn)

Tôi là một kẻ làm biếng, lại “hành” cái nghề mà ông tổ là Hải thượng Lãn Ông, ông già Lười ở làng Hải Thương, vậy mà bỗng trở thành một người bận rộn lúc nào không hay!

Số là ông bạn nhà báo của tôi, ông Trần Trọng Thức, một hôm gõ cửa bảo: “Nghe nói ông sắp về hưu, rỗi rảnh, viết cái gì đó cho báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cho vui đi”! Nghe “doanh nhân” tôi đã hoảng vì cái sự bận rộn của họ. Biết ý, ông cười: Đây là “Doanh nhân cuối tuần”, không phải chuyện làm ăn đâu! Viết cái gì cũng đựơc, miễn là cà kê dê ngỗng, có hơi hướm sức khỏe một chút… là đựơc! Tôi bèn tra tự điển: cà kê, có nghĩa là dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác, còn dê ngỗng thì ai cũng biết! Thôi thì nể bạn…

Tôi nhớ André Maurois, người mà tôi rất mến mộ đã từng víết Lettres à l’inconnue (Thư gởi người đàn bà không quen biết, bản dịch Ngyễn Hiến Lê). Tôi thử bắt chước tạo ra cái mục “Thư gởi người bận rộn”, lấy ý từ chữ business, là ‘bận rộn’ xem sao. Và tôi cũng tưởng tượng ra “người bận rộn” của tôi. Nghĩ gì viết đó. Cà kê dê ngỗng mà. Chẳng ngờ đựơc độc giả khen, nói cà kê dê ngỗng mà coi cũng đựơc! Từ đó tôi trở thành một ngừơi bận rộn…

 

(Trích Lời ngỏ Như ngàn thang thuốc bổ)

Tôi vốn ít hay cười. Ngay từ nhỏ, người ta đã gọi tôi là “ông cụ non”, vì lúc nào cũng có vẻ đạo mạo, nghiêm túc quá. Sau này ra hành nghề, làm một người thầy thuốc, một người dạy học, tôi như càng nghiêm túc, đạo mạo hơn. Tại cái tạng, biết sao! Thấy bạn bè vui vẻ, khoái hoạt… tôi cũng thích lắm mà không làm sao bắt chước được. Chỉ đôi khi đọc sách có chỗ nào dí dỏm thâm trầm kín đáo một chút, tôi mới tủm tỉm cười một mình. Tôi cũng không biết hút thuốc, không uống rượu, không bia bọt, thường chỉ “phá mồi” trong những bữa họp mặt đông vui làm bạn bè vừa thương vừa giận! Cũng tại cái tạng thôi. Trong nhiều năm trời, tôi làm việc như điên, cho đến một hôm người ta phải đưa tôi vào bệnh viện để mổ sọ cấp cứu vì tai biến mạch máu não. Người ta cạo trọc đầu tôi, đục hai lỗ thủng, rồi đặt ống dẫn lưu cho máu chảy vào hai chai nhỏ treo tòng teng bên dưới. Khi tỉnh dậy, nằm trần truồng trên băng ca ở phòng hậu phẫu lạnh ngắt, đắp một tấm “ra” trắng mỏng trên người, tôi nghĩ thế là xong! Một cô điều dưỡng đến tiêm thuốc, đọc hồ sơ thấy tên tôi, em hỏi có phải bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “Phòng mạch mực tím” không, tôi ú ớ gật. Thế là em kêu lớn: Các bạn ơi, lại “coi” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nè! Bốn năm cô chạy đến. Thì ra các em đọc báo, biết tên tôi nhưng chưa biết mặt. Tôi không khỏi tức cười nghĩ lâu nay mình làm thầy thuốc đã “coi” của người ta cũng hơi nhiều rồi, bây giờ người ta coi lại một chút cũng phải thôi…

Lúc nằm dưỡng bệnh, tôi sưu tầm các chuyện cười, đọc cho vui. Nó giúp tôi tủm tỉm khi gặp một chuyện hay, hạp với tạng mình. Chủ yếu là các chuyện cười về ngành Y, chuyện trẻ con, chuyện nước ngoài… Ông bà ta nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”…

 

Một mùi gió bấc quen thuộc…

(Trích Lời ngỏ Gió heo may đã về…)

Thật ra già là gì, lúc nào thì già, lúc nào thì chớm già, sắp già, mới già, đã già. Có tuổi nào là tuổi “hườm hườm” chăng? Một người bạn ở tuổi hườm hườm hỏi, sao, ông bác sĩ, ông đã viết nào cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, nào cho tuổi mới lớn, sao không viết một chút gì đó cho tuổi sắp già, tuổi hườm hườm, tuổi xế bóng, tuổi gió heo may đã về xem sao. Tôi lần lữa hẹn. Phải già một chút nữa cho biết đã rồi mới dám viết chứ, phải không?
Không như nhà thơ nọ đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân, tôi đo tuổi mình qua cách xưng hô của các bà mẹ bế con đến khám bệnh. Trước đây họ gọi tôi bằng anh, sau gọi bằng chú, rồi bằng bác, và rồi mới đây thôi, một chị hãy còn rất trẻ đưa bé đến khám bệnh, lúc bé la khóc, chị dỗ nín đi, nín đi cho ông ngoại khám con, thì tôi mới biết mình đã lên đến ông ngoại rồi mà không hay. Tôi hỏi theo thói quen chị là gì của cháu, chị trả lời ngon ơ, dạ, bà ngoại.

 

Tủm tỉm một mình

(Trích Lời ngỏ Nghĩ Từ Trái Tim)

Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng khối óc nhiều quá, nhiều đến nỗi người ta luôn ở trong tình trạng muốn “điên cái đầu”. Và thực vậy. Bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress… ngày càng gia tăng trong một xã hội mà người ta luôn bị quay cuồng, luôn phải chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt… Có lẽ đã đến lúc thử nghe tiếng nói của trái tim. Chúng ta bây giờ hình như có quá ít thì giờ để nghe tiếng nói của trái tim mình, dù chỉ cần nhấp con chuột trên vi tính thì đã nối trọn vòng trái đất, vậy mà người ta có vẻ ngày càng xa nhau hơn, xa với người và xa cả với mình. Một thi sĩ đã phải kêu lên: “… Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết?…” (Nguyên Sa). Tôi cũng vậy. Tôi cũng không có thì giờ. Quần quật. Tối tăm mặt mũi vì “trăm công ngàn việc”. Cho đến một hôm, hình như, có lẽ, một lần kia có một lúc hình như tôi cũng chợt nghe. Hình như thôi, không chắc, không dám. Ngẫm nghĩ rồi nghe ngóng. Nghiền ngẫm rồi ngập ngừng. Rồi bức xúc, phải viết ra cho khỏi quên, để lâu lâu còn coi lại một mình…

………………………………………………………

Vài nét về Đỗ Hồng Ngọc từ bạn bè (trích):

Từ Trần thị Nguyệt Mai

Trần Thị Nguyệt Mai viết trong “Ngôn Ngữ số đặc biệt về Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc với Bằng hữu & Văn Chương”, tháng 5 /2024 do Luân Hoán và bằng hữu thực hiện, tôi xin trích một vài đoạn ở đây cho Một Chút Tôi:

(…)      Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”… Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v… qua những phương tiện truyền thông khác.

Đỗ Hồng Ngọc là tên thật và cũng là bút hiệu. Trước năm 1975, ông dùng bút hiệu Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ) khi sáng tác. Trả lời phỏng vấn của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm (2010) về câu hỏi, “Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt Y học rồi Phật học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc?” Ông cho biết, “Không phải ‘rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê’ đâu. Chỉ là ‘rửa tay gác kiếm tạm thời’ thôi! Thời đó có quá nhiều ‘Ông Đồ xứ Nghệ’, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi để tránh nhầm lẫn. Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao?”

Ông viết sách dành cho mọi người ở mọi lứa tuổi và được biết đến với nhiều tư cách: bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà tư vấn tâm lý…

Nói về “Nghiệp văn chương” của mình, Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ, “Tôi mê văn thơ từ hồi nhỏ, đọc gần hết tủ sách trong một tiệm cho mướn sách ở Phan Thiết. Cô Hai tôi (đi xe lửa trúng mìn, bị gãy cả hai chân) cư ngụ trong một ngôi chùa nhỏ, thường kêu tôi đi mướn sách về cho cô đọc, nhưng lại cấm tôi đọc vì con nít đọc truyện không tốt, mê, bỏ học. Mỗi lần đi mướn truyện, tôi lén đọc hết dọc đường đi, có khi ngồi dưới gốc cây đọc xong mới về. Tôi còn ghi chép tóm tắt nội dung, các nhận xét của mình vào một cuốn vở hoc trò.

Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh…), rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…).

Năm 1967, đang là sinh viên Y, tôi in tập thơ đầu tay Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng Quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (2010) …

Đến nay, họ Đỗ có khoảng 60 đầu sách thuộc ba tủ sách Văn học, Y học, và Phật học được xuất bản, trong đó vài cuốn được dịch ra ngoại ngữ. Có thể nói nhờ có văn chương mà sách Y học và Phật học của ông dễ đi vào lòng người, được độc giả ưa chuộng.

Giáo sư Huỳnh Như Phương, nhà phê bình văn học nhận xét, “… Với bài thơ ‘Thư cho bé sơ sinh’, ngòi bút Đỗ Nghê không chỉ tranh đấu cho hòa bình như một lẽ phải đương nhiên, mà còn suy ngẫm về thân phận con người trong một thời buổi nhiễu nhương và phả hơi ấm tình yêu con người trong một cấu trúc ngôn ngữ hiện đại. Thật kỳ lạ, ở tuổi 25, Đỗ Hồng Ngọc đã tự đặt cho mình một cột mốc thơ ca mà chính ông không dễ gì vượt qua. Ni sư Giải Nghiêm ở Canada có lý khi cho rằng nhiều bài thơ và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc về sau này dường như là một sự nối dài ‘Thư cho bé sơ sinh’.

Và cũng có một “họa sĩ” Đỗ Hồng Ngọc. Có lẽ ít người biết ĐHN vẽ tranh, trừ nhóm bạn của ông. Những tranh bút sắt ông vẽ rất “tới” như Đà Lạt, Quê Nhà, Tà Cú, Phan Thiết, Harvard Square… Ông cũng vẽ những phác thảo chân dung bạn bè: Thầy Tuệ Sỹ, Đinh Cường, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Nguyễn Lệ Uyên, Trần Vấn Lệ… Và cả những bức chân dung rất thú vị khi “len lén” quan sát những nhân vật mà ông có dịp gặp gỡ đã được kể lại trong “Áo Xưa Dù Nhàu…” như nhà thơ Huy Cận (1996), Giáo sư Trần Văn Khê (1997).

Khi được hỏi về “Quỹ thời gian” ĐHN nói tôi không có ý niệm có một “quỹ thời gian” nào đó, bởi tôi không thể biết trước tôi có bao nhiêu, đã xài hết bao nhiêu, còn lại bao nhiêu để… lên kế hoạch. Bùi Giáng có câu “Một đời lận đận đo rồi đếm / Gối mỏi người đi đứng lại ngồi”!

Lâu lâu gặp bạn cũ tôi giật mình thấy bạn già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi tôi… vẫn như xưa! Dĩ nhiên, lúc đó bạn tôi cũng thấy tôi già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi bạn vẫn như xưa. Thì ra, đó là một diễm phúc của cuộc sống! Không ai ngờ mình già cả. Nguyên Sa bảo “người ta chỉ có thể đo đếm được tuổi mình qua ánh mắt cố nhân”. Mà lạ, khi gặp lại “cố nhân”, bạn bè hồi niên thiếu, ôn lại chuyện xưa một lát, bỗng thấy mình nhỏ xíu lại, như không hề có thời gian. Mà thật, không hề có thời gian. Cái đồng hồ, cái ngày tháng nọ kia, chẳng qua là những giả định, vui thôi! Phần tôi, đôi khi cũng thấy mình cần “về thu xếp lại”… như TCS nói mà không dễ.

Dù là Đỗ Hồng Ngọc hay Đỗ Nghê, ông đều được nhiều người yêu quý. Nói về ông, học giả Nguyễn Hiến Lê nhận định, “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị.”

(Ngôn Ngữ/ Đỗ Nghê-Đỗ Hồng Ngọc với Bằng hữu & Văn chương 5/2024)

 

Từ Nguyễn Hiền Đức 

Nguyễn Hiền Đức là một cư sĩ, thường gọi Anh 5 Hiền, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, trưởng phòng Tu thư  Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu…

Một buổi chiều, khi đi café với một người bạn trẻ về đến nhà thì tôi nhận được mấy cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày cả vài ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình. Ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẩn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa! Lúc đầu tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng không, anh cho biết anh đã gò lưng đánh máy từ những trang sách mà anh ưa thích! Thời buổi này. Lạ thiệt.

Rồi trong một email gởi tôi, anh 5 Hiền “giải trình”:
Tôi bắt đầu “gõ” và “gõ”, mải mê “gõ” cuốn “TUYỂN TẬP ĐỖ HỒNG NGỌC – THẤP THOÁNG LỜI KINH” này từ năm 2010 và kết thúc năm 2018. Tôi rất thích từ “Thấp thoáng” vì nó thể hiện rất rõ, rất đúng cái chất “thấp thoáng”, “lõm bõm” của tôi khi học Phật.
Ngay trong bước đầu “tập tễnh học Phật” tôi đã chọn cách học hợp với sở thích của mình. Đó là chọn bài, chọn sách rồi… rị mọ. cặm cụi, kiên trì “gõ” vào máy. Cách làm này giúp tôi đọc chậm, đọc kỹ từng đoạn, từng trang, từng bài, rồi chú tâm sửa lỗi. Tôi đọc ít nhất 5 lần cho mỗi trang với lòng thanh thản, thư thái. Tôi không “ép” mình phải ghi, phải nhớ một điều gì cứ để nó trôi chảy như một dòng sông. Rồi biết đâu mười năm sau, hay hơn nữa những gì tôi đã đọc, đã “gõ” sẽ giúp tôi nhiều hơn, tốt hơn trên con đường học Phật. Tôi chỉ đặt ra một thứ kỷ luật tự giác mà tôi phải tuân thủ, đó là mỗi ngày “gõ” ít nhất 5 trang, mỗi tháng tối thiểu 120 trang học Phật.

Năm 2021 anh đã gởi tôi món quà sinh nhật:  Đỗ Hồng Ngọc- Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương, ghi Quà tặng mừng Sinh Nhật 81 của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc… trên Thư viên Hoa Sen.

Chính nhờ anh mà tôi mới hoàn thành cuốn Tôi Học Phật sau này. Trước đó tôi ngại ngần, chưa dám công bố những lõm bõm học Phật của mình.  Chính anh đánh giá cao cách học lõm bõm thấp thoáng đó của tôi, rồi tập hợp thành một tuyển tập, phổ biến trên Thư viện Hoa Sen, tôi hoàn toàn không được biết trước!

Khi gò lưng “gõ” những bài viết, cuốn sách của tôi trong nhiều năm trời,  Nguyễn Hiền Đức nhận xét: “Trong các bài viết về chuyên đề sức khỏe, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn cẩn trọng, khiêm tốn, vui vẻ. Ông luôn luôn dung dị mà sâu sắc, dí dỏm, hóm hỉnh, trí tuệ, thông minh, sắc sảo mà gần gũi và thân ái. Ông thể hiện tròn đầy lòng chân thành, sự thấu hiểu, thấu cảm nên mang tính thuyết phục cao đối với đông đảo người đọc. Tôi rất tâm đắc khi đọc những bài này của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và xem nó là một trong những dấu ấn sâu đậm, đáng yêu và sống lâu bền trong lòng người đọc”.

Có thể nói ông đã kết hợp nhuần nhuyễn, tài tình, khéo léo, hiệu quả đối với công việc “bộ ba” của ông: giáo dục sức khỏe – dạy học – viết lách. Ông đã nghiền ngẫm viết lách, giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Để làm được những điều đó ông phải đọc, học, trải nghiệm rất nhiều và ông cho rằng “Viết cũng là học”. Vào thời điểm này, ông đã có ba cuốn sách về lãnh vực nhi khoa được phổ biến khá rộng rãi và một số sách viết cho tuổi già; mảng sách viết về học Phật.

“… Cái học y khoa, tâm lý học, xã hội học cũng đã giúp tôi thấy rõ hơn vai trò thầy thuốc, tham vấn viên của bậc Y vương qua hình tượng các vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Diệu Âm, Quán Thế Âm… để không chỉ học hiểu lời kinh mà còn vận dụng vào nghề nghiệp cho sáng tỏ hơn…  Ở Duy-ma-cật, học Bất nhị. Kinh mở ra một cách tiếp cận mới, sinh động, cho dòng chảy mênh mang rộng khắp.

Ngoài việc phải hành nghề, hội họp, đọc, viết sách, viết báo, tư vấn, tham vấn… bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lại phải đi nhiều nơi để “trò chuyện” với nhiều người, nhiều giới. Lúc thì trao đổi về “văn chương” với lớp học Thạc sĩ Phật học tại Thiền viện Vạn Hạnh [đường Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận TPHCM], lúc thì trao đổi về “Thiền và Sức khỏe” ở lớp Cử nhân Phật học mời, rồi Chùa Xá Lợi “đặt hàng” nói chuyện với Phật tử về “Vận dung tư tưởng Kim Cang Bát Nhã vào cuộc sống”, lúc thì bay ra Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán (Huế), bay vào Đà Nẵng, rồi Nha Trang cũng với đề tài về Thiền và Sức khỏe, Đức Phật- bậc Y vương, xuống Thiền viện Thường Chiếu, ra Vũng Tàu thăm thiền sư Thanh Từ, lên Bửu Long thăm thầy Viên Minh, xuống tận các chùa ở các tỉnh miền Tây Nam bộ theo lời mời trong một dịp An cư kiết hạ… Đỗ Hồng Ngọc cũng nhận lời Linh mục Lê Quang Huy, có buổi giảng cho lớp Giáo lý hôn nhân ở Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, và những buổi Nói chuyện sức khỏe “ Stress trong đời sống hằng ngày”, “Thở để chữa bệnh” tại Trung tâm Mục vụ… do Sơ Hồng Quế phụ trách. Ông còn tổ chức Bàn tròn sinh viên Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, mỗi tháng một lần kéo dài suốt 3 năm. Nói chuyện, viết bài cho Chương trình chất lượng cuộc sống của hội doanh nhân trẻ, rồi trao đổi với các thầy cô giáo việc giảm stress trong công việc hay giáo dục giới tính cho học sinh, trò chuyện với học trò cũ, trả lời phỏng vấn của các nhà văn, nhà báo… Rồi ông lại đi đây đi đó để “ghi chép lang thang” qua cuốn sách mới nhất cùng tên dày đến 300 trang (2014). Mấy năm nay ông đỡ vất vả hơn một chút, ít trực tiếp khám bệnh vì đã có cậu con trai “nối nghiệp”. “Bây giờ đọc ít thôi. Mắt kém. Đọc trên mạng nhiều hơn sách báo in vì có thể phóng to lên được. Lạ, từ ngày nghiền ngẫm kinh sách Phật, thấy cũng mê như đọc kiếm hiệp!” ông chia sẻ.

Các tập tản văn Gió heo may đã về (1997), Già ơi… Chào bạn! (1999), Những người trẻ lạ lùng (2001)… tạo một sinh khí mới lạ, hào hứng và độc đáo trong ngành xuất bản và trong lòng người đọc nhiều lớp tuổi trong và ngoài nước.

Phương châm, phong cách của Đỗ Hồng Ngọc khi viết là chân thành, tôn trọng, thấu cảm, thấu hiểu người khác, nhất là về những nỗi mất mát, để tạo nên năng lượng hóa giải sự khổ.

Đỗ Hồng Ngọc được nhiều độc giả quý mến, có lẽ do cách viết của mình. Ông chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Ông viết để chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra. Khi viết, ông luôn tưởng tượng như có độc giả đang ở trước mắt mình và đang trò chuyện với mình. Có lẽ kiểu viết như thế làm cho người đọc cảm nhận được người viết và độc giả có sự gần gũi, chia sẻ, trao đổi một cách chân thành, không kiểu cách, xa lạ. Đỗ Hồng Ngọc được mọi người hiểu, cảm, yêu, mến, vì ông trải lòng mình để chia sẻ cùng người đọc. Ông cho rằng chuyện viết lách là cái tình. “Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu…” (Chu Mạnh Trinh) vậy thôi!

Năm 2014, Nguyễn Hiền Đức đã viết (…) “ Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi. Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! Cụ Nguyễn Hiến Lê lúc đầu băn khoăn không biết mình sẽ viết gì trong hồi ký này và chỉ mong viết được vài trăm trang thôi. Thế mà tháng 9. 1980, cụ Lê đã hoàn thành cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học in lần đầu 1993, mặc dù nhà xuất bản “xin để lại sau một thời gian nữa” các chương XXI, XXII, XXIV… nhưng sách cũng đến 800 trang. Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều, rất nhiều người chờ đọc, đón đọc. Xin đề nghị bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết, cho in báo, trên mạng từng bài, từng phần hồi ký như cụ Nguyễn Hiến Lê đã từng làm. Và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng đã làm “lai rai” một số bài: Một chút tôi, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký… Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!”.

Nguyễn Hiền-Đức

(Santa Ana, tháng 3.2021)

 

(trích Chuyện Hồi Đó, Đỗ Hồng Ngọc)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

NGUYỄN HIẾN LÊ: 40 năm ngày mất tại Saigon.

11/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

40 Năm ngày mất của Nguyễn Hiến Lê…

 

Nhà văn Phụng Hoàng Anh, cháu họ của Nguyễn Hiến Lê ở Hà Nội, nhắn tin tôi sáng nay, nhắc ngày 22.12.2024 là tròn 40 năm ngày mất của Ông Nguyễn Hiến Lê, ở Sai Gòn có hoạt động nào kỷ niệm ông Lê không Bác?

Phụng Hoàng Anh cũng cho biết hiện có bà Tô Lệ Hằng, là cháu ruột của ông Nguyễn Hiến Lê ở Pháp, thỉnh thoảng có thư về cho Phụng Hoàng Anh ở quê nhà.

Tôi muốn dịp này ghi lại một vài kỷ niệm:

 

 

Nguyễn Hiến Lê

Con người & Tác phẩm

 

Năm 2003, nhóm chúng tôi có Trần Văn Chánh, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Anh Dũng, Nguyễn Duy Chính, Trần Huiền Ân, Nguyễn Hướng Dương, Lê Ký Thương… đã làm một cuốn sách về Nguyễn Hiến Lê: Nguyễn Hiến Lê, Con người và Tác phẩm. Sách đã tuyệt bản từ lâu. Mới đây, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.HCM đã quyết định cho tái bản cuốn sách này với bổ sung từ các bài viết, phỏng vấn Nguyễn Hiến Lê của Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Châu Hải Kỳ, Lê Anh Minh…

Đã có những nghiên cứu về sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê như luận văn thạc sĩ về “Vấn đề lao động nhà văn trong các trước tác của Nguyễn Hiến Lê” của Nguyễn Ngọc Điệp,  do GS Huỳnh Như Phương hướng dẫn và gần đây luận văn nghiên cứu văn hóa, văn học của Nguyễn Hiến Lê” v.v…

Ảnh hưởng Nguyễn Hiến Lê ngày càng thấm sâu trên đất Bắc. Sáu năm trước (2012), tôi nhận được email của một bạn trẻ không quen biết từ Hà Nội, cho biết về chuyến “Hành trình Xuyên Việt vượt 2200km bằng xe máy tri ân thầy Nguyễn Hiến Lê”. Các bạn trẻ đi xuyên Việt bằng xe máy, từ Hà Nội vào thẳng chùa Phước Ân tại Lấp Vò, Đồng Tháp “để thắp hương tri ân tới thầy Nguyễn Hiến Lê”. Email viết: “sách của thầy Nguyễn Hiến Lê viết giản dị, chân thành, là thầy mà cũng như là bạn, chúng con rất vui là đã lan tỏa được sách của thầy tới anh em thanh niên, vì trước đây sách của thầy ngoài Bắc cũng hiếm ạ”.

“…thực ra đối với thanh niên ở ngoài Bắc có thiệt thòi hơn trong Nam nhiều, là ít được tiếp xúc với sách của cụ Lê(…), chân thành mong muốn tri thức Nguyễn Hiến Lê đến gần hơn, giúp đỡ cho thanh niên được nhiều hơn (…).

Saigon, Tp HCM hiện nay cũng đã có một con đường mang tên Nguyễn Hiến Lê. Một cách ghi nhận công lao của một “người Hà Nội” đã sống và làm việc miệt mài suốt nửa thế kỷ ở miền Nam và đã để lại một di sản đáng quý góp một phần không nhỏ vào nền văn hóa nước nhà.

Năm 2018, Nxb Tổng hợp Tp.HCM đã tái bản (có bổ sung) cuốn Nguyễn Hiến Lê, con người & tác phẩm với nhiều tác giả. Trần Văn Chánh đã nhận xét: Từ rất lâu, tên tuổi Nguyễn Hiến lê (1912-1984) đã được nhiều người biết tới như một nhà văn, một học giả, một nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập với 120 tác phẩm biên soạn và dịch thuật để đời có giá trị, thuộc mọi lãnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký… Ngoài ra thế hệ hậu bối còn noi gương được ở ông nhiều thứ: gương tự học, tinh thần làm việc nghiêm túc và nhất là nhân cách cao thượng của một người trí thức chân chính.”

Và với riêng tôi, Nguyễn Hiến Lê còn để lại biết bao niềm trân trọng và trìu mến.

ĐHN

***

Ông Nguyễn Hiến Lê và Tôi

Bài Đỗ Hồng Ngọc trên báo Bách Khoa số 426 (17.4.1975)

Tác phẩm đầu tiên của ông, Tổ chức công việc theo khoa học, ra đời năm 1949 nhưng mãi đến năm 1956 tôi mới được làm quen với tên tuổi ông. Còn nhớ lần đó tôi theo xe chở cá nước đá về Saigon “bổ hàng” cho mẹ – mẹ tôi có quán hàng xén tại chợ B.T. – một buổi trưa lang thang trên vỉa hè Trần Hưng Đạo, dừng chân ngắm hàng sách “sôn” bày la liệt, tình cờ thấy cuốn “Kim chỉ nam của học-sinh” của Nguyễn Hiến Lê, một tác giả hoàn toàn xa lạ với tôi lúc đó. Đọc qua lời Tựa, tôi mua ngay.

Tản cư về, tôi bị trễ học đến 4, 5 năm, nhà nghèo, cha mất sớm, tôi phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng cho nên dù hiếu học, tôi cũng không biết cách nào để tiến thân. May quá, “Kim chỉ nam” đã mở cho tôi một chân trời mới. Đọc xong, tôi thấy mình gần gũi với ông kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ-thống-hóa, đặt ra những nguyên-tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viển vông nhàm chán. Thời gian sau đó tôi lại tìm mượn được thêm các cuốn Tự học để thành công, Rèn nghị lực của ông tại nhà một anh bạn làm nghề may.

Với niềm tin mới, tôi bắt tay vào việc lập chương trình “học nhảy”. Tôi viết thư hỏi ý kiến ông về việc này và ông trả lời “được” vì qua bức thư thấy tôi khá già giặn và sức học đã vững. (Trong Kim chỉ nam của học sinh ông đả kích việc học nhảy lớp dữ lắm!). Lúc đó tôi đang theo học đệ thất – lớp đệ thất đầu tiên, mới mở của tỉnh – và tôi đã rất xấu hổ phải ngồi bên cạnh các học trò nhỏ hơn mình 4, 5 tuổi. Nhờ có chí và biết áp dụng những phương pháp học chỉ dẫn trong Kim chỉ nam và Bí quyết thi đậu, tôi đã rút ngắn chương trình Trung-học được ba năm, đuổi kịp các bạn bè cùng lứa. Được bà con khuyến khích, mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi Saigon “du học”.

Đến Saigon, việc đầu tiên của tôi là tìm thăm ông, định bụng sẽ báo tin cho ông biết là đã thi đỗ và bày tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn của tôi ; nhưng khi gặp ông, tôi đã lúng túng không biết phải nói gì, chỉ ấp úng trả lời ông vài ba câu rồi ra về. Thấy ông có vẻ nghiêm nghị quá, lại đang bận sửa bản vỗ cho một tác phẩm nào đó. Như thế là lần này tôi đã hoàn toàn thất bại, cuốn Đắc nhân tâm của ông không giúp tôi được tí gì cả! Từ đó, mỗi lần đến thăm ông tôi thường rất ngần ngại, lúc nào cũng có cảm tưởng như quấy rầy ông, không để cho ông “sống đủ 24 giờ một ngày”. Nhiều người quen biết ông chắc cũng cùng cảm tưởng đó lúc ban đầu. Về sau, nhiều năm trôi qua, quen thân ông nhiều hơn, tôi biết tôi đã lầm lẫn. Phong thái ông là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây-phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn. Bây giờ tóc ông đã bạc nhiều, da sậm và nhăn nheo nhiều hơn, nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và cái bắt tay vẫn nồng nhiệt như thuở đó. Những lúc đến thăm, tôi thấy ông luôn mặc bộ bà ba trắng nhạt, cũ kỹ quen thuộc, cũ kỹ quen thuộc như loại bì thư ông quen dùng trong bao nhiêu năm qua. Ông không thích đổi thay. Hình như ông hút thuốc hơi nhiều quá! Lúc nào cũng có lon thuốc rê bên mình, ông vừa trò chuyện với khách vừa vấn vấn vê vê điếu thuốc lá, liếm nhẹ rồi bật quẹt hút. Các ngón tay ông nhanh nhẹn, thuần thục đến vàng sậm màu khói. Ông khen Lâm Ngữ Đường là “cận nhân tình” có lẽ vì họ Lâm “bồ” với ông, đã không cấm ông hút thuốc dù cái bao tử của ông cứ đau đi đau lại hoài!

Thỉnh thoảng khi có chuyện thắc mắc, chuyện vui buồn gì mà không tiện đến thăm, tôi viết thư cho ông. Lần nào ông cũng sốt sắng trả lời, ân cần chỉ dẫn, khuyến khích tôi.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi Những tật bệnh thông thường trong lức tuổi học trò, chỉ là một phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cùng loại y-học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng  cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải là toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.

Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự. Ông tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra hướng dẫn thanh thiếu niên, mong giúp được cho người khác chút gì ; lúc bỏ cây viết ra thì vớ ngay cuốn sách để đọc, để học không ngừng. Tôi đoán sở dĩ ông đã không nhận một chức vụ gì trong guồng máy công quyền là để giữ cho ngòi bút mình độc lập, để có thể đóng trọn vai trò giám sát của người trí thức mà Alain đã nói. Nhờ đó ông không có mặc cảm, thấy điều gì đáng khen thì khen, điều gì không ưa thì nói. Và ông đã nói bất cứ điều gì từ việc dịch sách, chuyển ngữ đến việc nhân mãn, ô nhiễm… Có thể đôi lúc ông cũng sai lầm, nhưng điều quan trọng là ông đã thành thực với chính ông.

 

Đến nay ông đã cho ra được 100 tác phẩm, có những tác phẩm dày vài ngàn trang, có những tác phẩm 3. 4 cuốn, về đủ mọi bộ môn, từ văn chương, y-học, giáo dục, đến lịch sử, triết học… làm nhiều người kinh ngạc về sức làm việc của ông. Tôi biết có những tác giả “sản xuất” còn nhiều hơn ông, viết mau và viết mạnh hơn ông, nhưng đọc họ người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt. Ở ông thì không. Ở ông là con người. Tác phẩm ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là một tấm gương nghị lực ; ông viết về tổ chức thì chính nếp sống ông là một sự tổ chức ; ông viết về tự học thì chính ông đã nhờ tự học mà thành công. Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều có thể ứng dụng được.

Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương Triết-học Trung-quốc, Ngữ pháp Việt-nam… và những Chiến tranh và Hòa bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hóa miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí, đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực… và nhất là bộ Gương danh nhân của ông. Mà họ là ai? Là những thiếu niên thất chí bán hàng xén như tôi thuở đó, là anh thợ may lận đận như anh Chín NS, là một giáo viên tiểu học, một y tá hương thôn, một thơ ký nghèo trong một công tư sở nào đó. Họ là những người có thiện chí, có tinh thần cầu tiến, hiếu học nhưng vì hoàn cảnh mà lỡ dở. Họ là thành phần đông đảo nhất trong xã hội ta bây giờ, một xã hội có vốn liếng hơn ba mươi năm chiến tranh. Nhờ những cuốn sách đó, trước mắt họ mở ra những cánh cửa mới, trong lòng họ nhen lên ngọn lửa nồng, và dù họ có không “thành công” nhiều thì đời sống họ cũng sẽ được nâng cao ít ra là về mặt tinh thần. Thú thực, tôi rất bực mình khi thấy chính tác giả có lần đã xếp những loại sách đó vào hàng thứ yếu. Ông nói “… nhưng chẳng qua cũng chỉ để cho thanh niên đọc (Kỷ niệm Văn-thi-sĩ hiện đại – Bàng Bá Lân). André Maurois 80 tuổi mới viết “Thư ngỏ gởi tuổi đôi mươi”!

***

Mơ ước lớn nhất của đời ông bây giờ có lẽ là được thấy cảnh thanh bình, con cháu đoàn tụ, rồi lui về  sống với mảnh vườn ở miền quê. Năm kia tôi gửi ông một bài thơ, bài “Đi cho đỡ nhớ” viết từ nỗi xúc động thấy những chuyến xe lửa lại lăn trên đường sắt, dù chỉ mới lăn đến… Biên Hòa, mà mơ một chuyến tàu nam bắc. Ông trả lời:

“(…) Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá! A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà-nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết công việc, nhờ cháu làm revision gérénale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam Trung Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v…”

Rồi cuối năm ngoái, có lẽ đã đợi mãi, hy vọng rồi thất vọng mãi vẫn chưa thấy thanh bình về trên quê hương mà chiến tranh càng ngày càng thêm thảm khốc, ông viết “Bây giờ tôi chỉ mong được nghỉ ở thôn quê thôi. Hai mươi mấy năm viết lách liên tiếp, chưa bao giờ được nghỉ lấy một tháng (…)” Ý muốn này ông đã lập đi lập lại như một điệp khúc từ nhiều năm qua mà không sao thực hiện được. Cứ nghỉ ít lâu ông lại chịu không nổi, phải cầm viết lại. Ông đã nghiện nặng rồi chăng?

Cuộc đời ông quả thực là một tác phẩm lớn. Tôi ước mong trong tuổi già ông sẽ viết hồi ký, kể lại đời mình cho bọn trẻ chúng tôi đọc như André Maurois viết “Portrait d’un ami qui s’appelait moi” vậy. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác ; nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!

***

Còn nhớ năm 1978, tôi có dịp lần đầu tiên ra Hà Nội dự một hội nghị về y học. Hà Nội không hề xa lạ với tôi. Tôi như thuộc lòng từng ngõ ngách, từng phiến đá, từng mái tranh gốc rạ, từng phố xá thân quen… cũng nhờ từ nhỏ đã sống với tác phẩm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng… những buổi chiều vàng, những gánh hàng hoa, những anh phải sống… rồi với cả những người xa Hà Nội như Mai Thảo, như Vũ Bằng… Hà Nội với tôi còn là “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng…” rồi “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi…” …

Tôi lẻn khỏi hội nghị đến thăm Văn Miếu, lòng lâng lâng như đi giữa ngàn xưa và bỗng nhớ Nguyễn Hiến Lê, nhớ một câu ông viết từ những năm 50  rằng bằng cấp không phải là thước đo giá trị của một con người. Có những người có tên trong văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu mà chẳng mấy ai còn nhớ, trong khi những Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Manh Trinh, Tản Đà, Tú Xương… luôn được người đời nhắc đến…

Tôi đến Bưu điện Hà Nội gởi ngay cho ông một tấm bưu thiếp. Chỉ viết mấy dòng vắn tắt. Cũng chẳng hy vọng gì nó đến được trong thời buổi đầy khó khăn này. Vậy mà hơn một tháng sau, Nguyễn Hiến Lê nhận được bưu thiếp và ông trả lời:

Saigon 3/11/78
Thân gởi cháu Ngọc,
Hôm qua tôi được bưu thiếp cùa cháu gởi từ Hà Nội ngày 29/9. Cảm động nhất là câu: “Cháu đến thăm Văn miếu , nghĩ đến bác nhiều”. Tôi hiểu rồi chắc cháu nhớ một đoạn cuối tập Bí quyết thi đậu của tôi. Cảm ơn cháu nhiều lắm. Cháu hiểu tôi. Cháu làm tôi nhớ hồi trẻ tôi học ở trường Bưởi (Chu Văn An) ngoài đó quá. Cháu có xem Hồ Tây, chùa Quan Thánh, đường Cổ ngư (nay là đường Thanh Niên?) không? Trường Bưởi của tôi ở bên bờ Hồ Tây đấy. Mà trường Yên Phụ (tiểu học) của tôi ở trên bờ hồ Trúc Bạch trông ra đường Cổ ngư đấy.

Đứng trên đường này nhìn về phía Bắc sẽ thấy núi Tản Viên, quê tôi ở gần chân núi đó. Nhớ quá đi. Cháu có đi thăm đền Ngọc Sơn, đền Voi Phục, chùa Láng … không? Toàn những cảnh mà hồi trẻ tôi mê.

Mê nhất là cái sắc trời, cái không khí trong trẻo, những làn sương lam nhẹ là là mặt đât, ngọn gió hây hẩy, những lá vàng, làn nước xanh, hương lúa của mùa thu ngoài đó. Toàn là những teintes douces, gợi những tình cảm buồn buồn mà nên thơ, nên thơ lắm. (…)

Nhớ lại trước đó nữa, đầu năm 1974, tôi gởi ông bài thơ mới viết: Đi cho đỡ nhớ, ghi lại cảm xúc của mình trong ngày đầu tiên trên chuyến xe lửa nối liền Saigon- Biên Hòa mà mơ một chuyến tàu Nam-Bắc… Ông trả lời:

Saigon 30/1/74
Cháu Đỗ Hồng Ngoc,
Tôi mới ở Long Xuyên lên. Bài “Đi cho đỡ nhớ” cảm hứng mới mẻ đấy, mà thú. Đọc hoài thơ yêu nhau và nhớ nhau, với thơ chiến tranh, ngán quá rồi. Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá. A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà Nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết các công việc, nhờ cháu làm revision générale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam, Trung, Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam Xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v.. Thèm không cháu?(…)

 

Ông thường nhắc trong thư cảnh núi Tản hùng vĩ, cảnh ngã ba Bạch Hạc mênh mông mùa nước lớn, cảnh đồng ruộng văng vẳng tiếng sáo diều và thoang thoảng hương lúa, cảnh chợ quê lèo tèo mấy gian cột tre mái rạ với những quán chè tươi… làm tôi cũng nhớ quá!

Cơ hội đã đến với ông. Năm 1979, ông được mời đi dự Hội nghị khoa học toàn quốc về vấn đề Giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt tại Hà Nội, thế nhưng lần đó ông không đi được vì bệnh. Rồi thôi, không còn dịp nào nữa!

22.10.79
Cháu Ngọc,
Tôi đã bỏ ý ra Hà Nội rồi. Cơ hội tốt, đáng tiếc thật. Nhưng ngại chỗ ở và ăn lắm, cũng ngại cuối Oct. thời tiết lạnh đau bao tử và rhinite trở lại. Cũng còn li do: ông Trương Văn Chình không được mời ra, không hiểu tại sao. Đi một mình, buồn.

(Ghi chú: Trương Văn Chình là người cùng hợp soạn với ông cuốn Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam. NXB Đại học Huế, 1963).

Rồi ông về ở hẳn Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông ở miền Nam, ráng viết cho xong các tác phẩm triết học Trung Quốc mà ông nói là “hy vọng còn có giá trị trong vài mươi năm nữa”- và “cũng để bắt đầu óc phải làm việc” cho nó đừng sớm “lão hóa”. Cũng trong thời gian này, ông nói ông băn khoăn không biết có nên viết hồi ký hay không, và, nếu có viết thì sẽ viết những gì. Trong các thư riêng gởi tôi, ông tâm sự như thế và nghĩ rằng có lẽ cũng nên viết chút gì đó chừng vài trăm trang… Thế rồi Hồi ký Nguyễn Hiến Lê cũng như 120 tác phẩm của ông đã hình thành như ta được biết hôm nay.

Những năm cuối đời, ông thường ưu tư buồn bã, mà vẫn khôn nguôi nỗi nhớ quê xưa:

Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: ”Vạn sự tan như mây khói” cả rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan luôn nữa.
Tôi chưa về thăm ngoài đó….
(Long Xuyên 30.7.79)

Ông thường về Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông, bùi ngùi nghe lại câu hò ngày xưa:

“… chèo vô Núi Sập lựa con cá khô sặt cho thiệt ngon,
lựa trái xoài cho thiệt giòn,
đem ra Long Xuyên lựa gạo cho thiệt trắng, thiệt thơm,
em về em dọn một bữa cơm
để cho người quân tử
hò ơ… để cho người quân tử ăn còn nhớ quê…” [1]

Với tấm lòng như vậy, dễ hiểu tại sao mặc dù ông có điều kiện để đi xa – vợ con ông ở Pháp từ nhiều năm trước– nhưng ông chọn ở quê nhà, chết ở quê nhà (ngày 22/12/1984), và được hoả táng tại Thủ Đức.

 

 

Bức thư NHL viết cho ĐHN năm 1979

 

Lá thư Thầy Nguyễn Hiến Lê gởi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Cám ơn anh Hai Trầu, Lương Thư Trung, đã đánh máy lại)

Long Xuyên 20. 7. 1979

Cháu Hồng Ngọc,

Tôi về đây từ 4.6, tính 1.8 mới trở lên Sàigòn. Về để chuẩn bị sang năm sẽ về ở hẳn dưới này: già rồi, nhà tôi muốn ở tại quê hương gần họ hàng, người thân.

Mới nắng được một tuần nay, mà nắng gắt; trước đó mưa liên tiếp ba tuần, buồn quá, không biết làm gì đọc lại báo cũ, số BK cuối cùng 25.4.75. Đọc lại bài cháu viết về tôi, rồi đọc lại bài Bàng Bá Lân ( trong Kỉ niệm nhà văn hiện đại), bài anh Ngư (trong Sống và Viết) và tập Châu Hải Kỳ viết về tôi.

Bài của cháu ngắn nhất mà tôi thích nhất, vì thành thật, tự nhiên, thân mật nhất. Lối viết của cháu cũng giống lối viết của tôi: Sáng sủa, gọn gàng, cụ thể, xen nhiều hồi kí, tình cảm, hấp dẫn. Không có những câu dài lúng túng như một số cây bút trẻ.

Tôi nghĩ cái buổi trưa cháu thấy cuốn Kim chỉ nam của tôi ở trên vỉa hè đường Trần Hưng Đạo đó. Không vì nó là một điểm quan trọng đánh dấu đời cháu mà cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến đời của tôi nữa. Trong bảy tám năm nay cháu giúp tôi được nhiều khi tôi đau, nhờ cháu mà tôi biết cậu Hùng – cháu có gặp, cho tôi gởi lời thăm cậu ấy – mà hết được tật và bệnh thận. Rồi bài cháu viết về tôi chắc khiến cho nhiều người hiểu tôi hơn; lại còn những quà như bánh tráng, hột điều, mạch nha mà bây giờ không làm sao có được nữa. Ngon lạ.

Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: “Vạn sự tan như mây khói” cả rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan biến nữa. Tôi chưa về thăm ngoài đó mà cũng không muốn về nữa.

Còn sống ít năm nữa thì rán viết như bắt óc làm việc cho nó khỏi mau suy, và cũng để cho mau qua 24 giờ trong một ngày.

Tôi đã làm gần xong chương trình của tôi rồi: giới thiệu kĩ và dịch trọn hoặc gần trọn tác phẩm của tất cả các triết gia lớn của T.H. thời Tiên Tần: 7-8 bản thảo trung bình 400 trang một. Không biết giữ được bao lâu? 10 năm, 20 năm nữa?Tôi cũng tính viết qua loa (vài trăm trang thôi) hồi kí. B.B Lân đã viết xong 500 trang, Quách Tấn viết cả ngàn trang rồi mà chưa xong.

Nhưng tôi không biết viết gì bây giờ? Viết về hoạt động văn hóa của tôi? Thì các tác phẩm của tôi đó, viết thêm gì nữa?

Viết về đời sống của tôi hồi trẻ? Thì cũng đã lác đác có trong một số tác phẩm của tôi rồi. Viết về bạn văn? Tôi ít bạn văn, chỉ khoảng mươi người, khen họ thì tôi nghĩ nên vắn tắt thôi, không cần viết dài, còn chê thì tôi không có gì để chê!

Cháu nghĩ xem tôi nên viết gì đây? Tôi chưa đọc cuốn Mon ami qui s’appellait moi của A.Maurois mà cháu nhắc trong bài báo BK đó. Ông ta nói gì trong đó? Cháu có cuốn đó không? Tôi sẽ hỏi Lê Ngộ Châu xem có cuốn đó không.

Trong bài cháu viết, có nhắc tới “anh chín NS” thợ may. Nay ông ta vui không? Yên ổn làm ăn được không? Con cái khá không?

Từ 1975 tới nay, tôi vẫn thường được thư của thanh niên, toàn là những cậu mới hay sắp đậu tú tài thì nước nhà thống nhất. Họ vẫn tin tưởng ở sách của tôi. Tôi mong rằng họ sẽ không thất vọng, và tôi thương họ!

À, gần đây cháu có gặp Thầy Từ Mẫn không? Ông Nguyễn Hữu Vị nữa?

Năm ngoái Viện khoa học xã hội sai người (người này quen tôi) lại dò xem tôi còn ở đây không. Rồi mới hai tháng trước một cán bộ quen tôi từ mười mấy năm trước (sơ sơ thôi) cũng lại hỏi tôi có tính đi đâu không. Tôi đáp: Có, tính về Long Xuyên ở cho trọn cái tuổi trời. Họ ra về và chẳng trở lại nữa.

Thư này tôi viết ở L.X nhưng không nhớ địa chỉ của cháu, phải đợi về Sàigòn rồi mới gởi được. Khoảng đầu Aout, chưa biết ngày nào tôi sẽ lên. Xe cộ đi bây giờ mệt lắm mà tốn kém lắm.

Tôi chúc toàn thể gia đình cháu an vui.

Bệnh của nhà tôi bớt nhiều (8/10) rồi nhờ Gasepeline ở Pháp gởi về.

Thân ái,

Nguyễn Hiến Lê

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Lại về Lagi

02/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Lại về Lagi

Có mấy người em của bà xã mình ở Mỹ về chơi, nên tổ chức đi Lagi Phan Thiết một chuyến.

Cái “mới” của kỳ này là về thăm lại chốn cũ, bãi biển Đồi Dương, để nhìn Hòn Bà cho rõ, thăm lại những gốc dương xưa, ngày càng già cổ. Lạ, thị xã Lagi phát triển nhanh, đẹp, nhưng bãi Đồi Dương thì ngày càng nhốn nháo, ngập rác.

Lagi có Núi đất, và Hồ nước mênh mông, cung cấp nước cho Thị xã. Trông từ xa, núi đất giống như chiếc nón lá rất dễ thương, như Núi Chớp Chài ở Phú Yên. Núi đất xưa hoang vu. Ngôi mộ Thầy Thím từng có cọp về viếng. Nay đã bắt đầu… đô thị hoá. Ngay chân núi đã thấy có quán cà-phê Lưng Chừng Núi khá đẹp, có nhà trọ. Gần đó là khu chế biến Trầm hương…

Một ngôi chùa mới xây sát bên biển, chùa Quảng Hạnh 2, có tượng Quan Âm khá đặc biệt: rất trẻ, thay vì đứng trên toà sen lại đang cưỡi rồng dạo khắp nơi. Lần trước, về thăm, mình đã “cảm tác” mấy câu thơ:

“Cô Quan Âm xinh đẹp

Cưỡi rồng dạo khắp nơi

Tay ôm bình tịnh thuỷ

Cứu khổ cho muôn người!”.

(ĐHN)..

Gởi bạn vài hình ảnh coi vui nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Về Lagi, thăm lại bãi Đồi Dương quen thuộc ngày xưa… (15.11.2024)

 

Những gốc dượng già đã thành cổ thụ, như một con dê núi về thăm…

 

Bãi tắm mới. Cũng là nơi xưa có Giếng Nguồn Chung, chứa nước nhỉ xuyên qua động cát, cho bà con đi dọc biển có nước ngọt uống đỡ khát trên đường từ Lagi về Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa  (quê Nguiễn Ngu Í, Nghê Nhã Ý, Lê Phương Chi…).

 

 

 

 

Tượng Quan Âm ở Chùa Quảng Hạnh 2. Hồ Tôm, Lagi.

 

Núi Đất Lagi (ĐHN 2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 2: Tuổi già học Phật

23/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

GHI CHÚ:

Bây giờ tôi đã 85 tuổi. Già thiệt rồi! Tai nghễnh ngãng, mắt lèm nhèm, đi đứng đã giống… cat walk, quên cũng bộn rồi… Không ít bạn gần xa khuyên tôi có kinh nghiệm học Phật lâu nay thế nào, chia sẻ với anh em cho vui, cũng là cơ hội để cùng nhau học hỏi thêm. Tôi bèn gom góp được một ít bài cho là “cốt lõi”, sắc ba chén sáu phân, lấy tên là Con Đường An Lạc,”Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.Không ngờ có người bạn phương xa, chưa từng gặp gỡ, là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ đã tu tập trong chùa, sống ở nước ngoài nhiều năm, chuyên nghiên cứu, phiên dịch kinh sách Phật học từ tiếng Anh, đề nghị được dịch sang Anh ngữ cho những người bạn trẻ phương xa không rành tiếng Việt, cũng được đọc hiểu, thực hành Phật pháp. Còn gì hơn!

Anh chính là Nguyên Giác Phan Tấn Hải. 

Tôi post tất cả 10 bài lên www.dohongngoc.com này dưới dạng song ngữ để các bạn tuỳ nghi sử dụng nhe.

Chân thành cảm tạ Nguyên Giác.  

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

(Saigon, 20.11.2024)   

 

………………………………………………..

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.

CON ĐƯỜNG AN LẠC

Bài 2: Tuổi già học Phật (*)

Đỗ Hồng Ngọc

translated Nguyên Giác

blank
Tranh: Nguyên Giác

Khi về già, tôi học Phật cách khác. Mỗi kinh sách, bài giảng dài dòng, thêm bớt… tôi chỉ học một câu, một chữ, một bài kệ và tự  nghiền ngẫm, đặt câu hỏi, giải đáp và thực hành trong đời sống hàng ngày. Con đường học Phật phải là con đường an lạc, con đường “diệt khổ”, chớ nếu học Phật mà “khổ thêm” thì chắc học sai!

Với Tâm Kinh Bát Nhã, chỉ cần học và hành một câu: “ Quán Tự Tại Bồ-Tát hành thâm Bát Nhã Balamatđa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai “KHÔNG”, độ nhất thiết khổ ách.”

Bồ-Tát Quán Tự Tại nhờ thực hành thâm sâu Bát Nhã Balamatda mà thoát mọi  khổ đau ách nạn!

Tôi tự hỏi: Quán Tự Tại là ai? Bồ-tát là gì? Hành thâm là sao? Bát Nhã Balamat là gì? “Độ” tất cả khổ đau ách nạn thiệt không?…

Rốt lại chỉ cần học một chữ KHÔNG (Prajna, Bát Nhã) đó là đủ. Khi hiểu chữ Không do “Duyên sinh” thì ta không dễ bị lường gạt nữa bởi những cái hình tướng, danh tự bên ngoài. “Thấy vậy mà không phải vậy!” “Nghe vậy mà không phải vậy!”, tránh được những “biến kế sở chấp” và “y tha khởi” tác động, không còn bị dích mắc và từ đó, có thể “vô sở trụ”. Trong đời sống hàng ngày, ta thường luôn bám chấp, nghe lời đường mật, thấy hình tướng bên ngoài mà tưởng thiệt nên bị gạt gẫm bao phen, tỉnh ngộ thì đã muộn! Thời đại ngày nay càng cần “cảnh giác” nào fake news, deep fake, AI… các thứ!

Với Kim Cang, chỉ cần học một câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Thấy mọi sự do cái tâm mà sinh ra. Nhưng tâm sinh thì cứ sinh, miễn đường “trụ” vao đó, đừng dính mắc vào đó. Dính mắc khổ dài dài ráng chịu! Nếu Tâm sinh kệ nó, đừng thèm trụ vào đâu cả. Cho nên lấy Vô trụ làm Gốc (bản) trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ Huệ Năng, lấy Vô Niệm làm tông. Tâm không “sinh sự” được nữa. Tâm bất sinh. Tâm trở về với “bổn lai diện mục” của nó. Trở về cái thể “vô tướng” thanh tịnh của nó. Muốn vậy, phải vào Thiền Định. Kim Cang dạy thiền định, dạy ly tướng, ly niệm, để đạt tới cái “Như Như bất động” của Như Lai.

Với Kinh Hoa Nghiêm, tôi nghĩ chỉ cần học Hội Thứ Nhất ở Bồ Đề đạo tràng, với các phẩm đầu là đủ. Dĩ nhiên sau đó là phần thực hành, “Nhập pháp giới”, nghĩa là thực hành, là “Vào đời”. Và mỗi chúng ta đều là Thiện Tài đồng tử, lòng rộng mở, khiêm tốn học tập với tất cả mọi người.

“Thế Chủ Diệu Nghiêm”- làm chủ thế giới- chắc chắn không phải là một ông thần, ông thánh, vua chúa, hoàng đế nào đó mà phải là một người đạt được “Diệu nghiêm”. Đó là một Bồ tát, ung dung, tự tại vô ngại, đã “hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không” mới được.

Như Lai vốn “vô tướng” tự nhiên lại “hiện tướng” ra một ông Phật làm chi cho vất vả, thì ra chỉ vì lòng Đại bi. Ta cũng từ “Như Lai tạng” mà được/bị “nặn” ra để chịu bao phiền não chẳng biết do duyên gì, y báo chánh báo gì, nói chung là do cái Nghiệp! Ngày nào trả xong Nghiệp thì trở về với cõi “vô sanh” đó thôi.

Để thấy biết “Như lai hiện tướng” ra sao thì phải vào Tam muội Phổ Hiền. Tam muội ấy là Samadhi, thứ Định sâu nhất. Vào định Phổ Hiền mới thấy từ Vô tướng “Một ông Phật hiện ra, Ba con ma biến mất!”. Ma Tham, ma Sân, ma Si không còn quậy phá ta!

Thế giới thành tựu đầy “hoa tạng” trước mắt ta, dĩ nhiên đều do từ Tâm ta mà hiện ra. Nào sanh diệt, nào đoạn thường, nào huyễn hoá… tuyệt vời như vậy mà ta không biết, cứ khổ đau, phiền não, chướng ngại, ráng chịu thôi. Cứ “nhập thế” dạo chơi một vòng như Thiện Tài đồng tử thì cuối cùng cũng thấy ra thôi. Thấy  gì? Thấy Tỳ- lô- giá- na (vairocana). Thấy “Nhất thiết chư Phật tỳ- lô- giá- na như lai tạng thân” (Kinh Hoa Nghiêm). Bây giờ ta biết vạn vật đều từ ADN mà ra, và ADN thì từ… không có gì mà ra (bổn lai vô nhất vật) đó thôi. Lý vô ngại rồi thì Sự Sự vô ngại. Cái núi Tu Di to đùng kia nhét vào hạt cải, bốn biến mênh mông nọ rót vào một lỗ chân lông…

Với Kinh Pháp Hoa thì cái hay là chỉ cách làm thế nào để “mau thành Phật”. Lâu nay ta cứ tưởng thành Phật không dễ, phải tu nhiều đời nhiều kiếp. Hôm đó dưới chân núi Linh Thứu, Phật nói với các đệ tử, ta nay đã già, sắp nhập Niết bàn rồi, các thầy có ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi! Vị Đại Bồ tát dẫn đầu hỏi ngay: Làm thế nào để “mau” thành Phật? Tưởng Phật sẽ rầy la, ai dè Phật trả lời: Dễ lắm! Chỉ cần học Pháp môn “Vô lượng nghĩa xứ” thì xong ngay. Mà Pháp môn đó lại chỉ có một pháp thôi: “Đó là Vô tướng”. Rồi Phật giải thích thêm: “Vô tướng ở đây là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thực tướng”. Hoá ra, vô tướng chính là thực tướng. Thực tướng chính là vô tướng. Chẳng cũng khoái ru? Chìm đắm trong vô tướng là sai. Mà lặn ngụp trong thực tướng cũng sai. Cho nên “thấy như thực” không phải là thấy thực, chỉ là “như” (thực) mà thôi. Ta phải thấy cái “vô tướng” của nó kìa, mới biết nó vô thường, vô ngã, biết nó duyên sinh, duyên khởi, có mà không, không mà có. Thấy biết vậy, ta không còn dính mắc! Bất tận Hữu vi mà bất trụ Vô vi. Chẳng hữu chẳng vô gì cả. Ta cũng học được các đức tính Tôn trọng (Respect) của Thường bất khinh, Chân thành (Genuine) của Dược vương và  Thấu cảm (Empathy), biết Lắng nghe (Listening) của  Quán Thế Âm.

Với Pháp Hoa, tôi tự hỏi mục đích Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật là sao? “Tri kiến Phật” có gì hay? Sau khi ngẩm ngợi, nghiền ngẫm rồi mới thấy hay thiệt. Vô thường, vô ngã, khổ, bất tịnh… cũng chính là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi, chẳng qua vì “điên đảo” mộng tưởng!

Với Kinh Duy Ma Cật, học rằng cõi Phật chẳng đâu xa. Cõi Phật trong ta đó thôi. Tâm ta mà thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh. Tâm ta chưa thanh tịnh thì thấy đâu cũng là gò nỗng, hầm hố, gai góc, thanh tịnh rồi thì cõi đất bỗng nhiên trở nên rộng lớn, nghiêm đẹp, ánh vàng khắp nơi nơi…

Học rằng phương tiện mà không trí huệ không xong. Trí độ là mẹ Bồ Tát. Tùy nghi phương tiện là cha. Phải có Trí độ (Bát Nhã) trước đã. Rồi, phương tiện mới tùy nghi được.

Học rằng Bồ-tát không đắm mê các tầng thiền để bỏ quên đời, phải thấu cảm cùng nỗi khổ đau vô tận của chúng sanh. Cho nên Bồ-tát “Tu học lẽ không mà chẳng lấy lẽ không làm chứng đắc. Tu học vô tướng, vô tác, mà chẳng lấy vô tướng, vô tác làm chứng đắc”.

Học rằng tâm khó mà nhận thấy! Làm sao để tâm an? Chỉ có cách tiếp cận qua thân. Cho nên “giả bệnh” như Duy Ma Cật là cách tốt nhất. Bệnh thì bình đẳng, không phân biệt. Mọi người đều bình đẳng trước… bệnh! Duy-ma-cật nói “Thân này không thể tin cậy được. Nó không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Phải thấy thân Phật, tức thấy pháp thân.”

Học rằng chúng sanh là những ảo vật do nhà ảo thuật là chính ta tạo ra. Mà nhà ảo thuật cũng là một chúng sanh. Chẳng qua là những bóng hình trong gương, mặt trăng đáy nước, dấu chân chim giữa hư không…

Học rằng bốn Ma là “thị giả”, luôn ở cạnh ta, giúp ta. Ma phiền não bủa vây và nhắc nhở sẵn có bốn vạn tám ngàn cách thoát ra; Ma ngũ uẩn thì thân thiết, nhắc rằng mấy thứ lăng nhăng nó quấy ta chỉ là những kết hợp tạm bợ, lắp ghép lai rai; Ma trời (thiên ma) là lời cảnh giác, đừng tưởng bở! Còn Ma chết (tử ma) lại là bạn thiết gắn bó với ta từ thuở còn trong bụng mẹ…

Học rằng có thứ hương thơm nuôi cả thân và tâm bất tận đó chính là Giới đức. Thứ hương thơm đó mới có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…

(…)

Nhìn lại chặng đường lõm bõm học Phật của mình,  tôi thấy có thể tự vẽ một phác đồ để nhắc nhở mình cho đừng quên:

Pháp Hoa là cốt lõi, ở trung tâm, vị Đạo sư đã mở tung một bí tạng, một “bí kíp” mà các Đức Phật xưa nay còn giấu nhẹm, không tiện nói ra, nay Phật Thích Ca đã “khai thị” cho ta thấy biết Như Lai, từ đó mà “ngộ nhập”, mà sống cùng, sống với, từ đó mà ung dung, tự tại, thuận với pháp, tùy với duyên, một khi biết tất cả đều cùng từ một Như Lai tạng, một “bào thai Như Lai”. Nó vậy là Nó vậy. Vô thủy vô chung. Tương tác từ Như Lai tạng mà hình thành pháp giới trong vũ trụ vô vàn… Với Trí Bát Nhã được “trang bị” ta không còn bị đắm chìm với những “phân biệt”, những “biến kế”, những “y tha” chằng chịt, quấn quít, khiến ta không thấy được cái Như như…

Thấy biết như vậy rồi thì ta mới có đủ Tự tin để Tự tại, hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về duyên về nghiệp của mình, mà không đổ thừa, không nhờ vả. Ta biết quay về “nương tựa” chính mình và nhận ra một khi đã “tịnh kỳ ý” thì cái tâm ta đã trở về với “Thanh tịnh bổn nhiên” như được Phổ Hiền Bồ-tát dẫn vào lâu các Tỳ-lô-giá-na vốn là Pháp thân của chính mình.

Cuối cùng Duy-ma-cật sở thuyết là nỗi hoài vọng của Phật, muốn lan tỏa đến mọi con người, mọi ngóc ngách đời sống, tạo nên một cõi Phật, một pháp giới bình đẳng, an vui, hạnh phúc cho kiếp người!

Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon, 11.10.2024)

(*) Bài 1 https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/sach-bo-tui-cho-nguoi-cao-tuoi-con-duong-an-lac/

 

…………………………………………..

Learning Buddhism in old age

Đỗ Hồng Ngọc

Translated by Nguyên Giác

As I grew older, I began to study Buddhism differently. When I encountered lengthy scriptures and lectures, regardless of how much was added or subtracted, I learned only one sentence, one word, or one verse. I would reflect on it, ask questions, seek answers, and apply it in my daily life. The journey of learning Buddhism should be a path of peace, a path toward the cessation of suffering. If studying the Dharma only increases my suffering, then I must be misunderstanding it!
With the Heart Sutra, I need to learn and practice just one sentence: “Avalokitesvara Bodhisattva practices the profound Prajna Paramita, perceives the five aggregates as fundamentally empty, and transcends all burdens of sorrow.”
I asked myself: Who is Avalokiteshvara? What is a Bodhisattva? What constitutes profound practice? What is Prajnaparamita? Is it true that one can overcome all the burdens of suffering?
In the end, just learning the word EMPTINESS (Prajna) is enough. When you understand the word Emptiness due to Dependent Origination, you will not be easily deceived by external forms or names.
What you see with your eyes is not really what it is. What you hear with your ears is not really what it is. Therefore, you are not mistaken by forms, and you are not affected by external forms; from there, your mind is not attached, and you live without clinging to anything.
In our daily lives, we often cling to various things, listen to flattering words, and focus on external appearances, mistakenly believing they are genuine. As a result, we are deceived time and again, and by the time we awaken to the truth, it is often too late. In today’s world, we must be increasingly vigilant against misinformation, deepfakes, artificial intelligence, and similar threats.

With the Diamond Sutra, I need to learn just one sentence: when the mind is no longer attached to anything, the liberated mind will emerge. Recognize that everything originates from the mind. However, when thoughts arise, allow them to come and go; as long as you do not cling to those thoughts, you will find peace. If you allow the mind to become attached to anything, suffering will persist! When thoughts arise, let them be; do not dwell on any thought.
Therefore, the Platform Sutra of the Sixth Patriarch Hui Neng states that one should regard the mind of No Abode as the foundation for cultivation and the mind of No Thought as the gateway to enter the Zen house. At that point, the mind will no longer be influenced by worldly conditions. The mind will cease to arise, returning to its true nature from its origin. To achieve this, one must engage in meditation. The Diamond Sutra instructs on meditation, emphasizing the importance of distancing oneself from appearances and thoughts. By doing so, one will arrive at the state where the Tathagata reveals the unmoving mind, the mind that perceives all dharmas as they truly are.
With the Avatamsaka Sutra, I believe it is sufficient to study only the First Part in Bodh Gaya, focusing on the initial chapters. Following this, we move on to the practice aspect, which is Entering the Dharma Realm, signifying our engagement in practice and immersion in the world. Each of us embodies the young man Sudhana—open-minded, humble, and eager to learn alongside others.
The Lord of the World, Diệu Nghiêm—the ruler of the world—is certainly not a god, a saint, a king, or an emperor; rather, he must be an individual who has attained remarkable solemnity. This person must be a Bodhisattva, who is leisurely, free, and unhindered, having practiced the profound wisdom of Prajna and recognized the emptiness of the five aggregates.
Tathagata originally had no form but spontaneously manifested as a Buddha to propagate the Dharma with great difficulty, all out of profound compassion. We, too, are shaped by the Tathagatagarbha to endure numerous afflictions, often unaware of the reasons behind them or the environmental retributions that lead to our current retribution, ultimately resulting from Karma. When the day arrives that we have settled our Karma, we will return to the realm of non-birth.
To understand how the Tathagata manifests, you must enter the Samadhi of Samantabhadra. This Samadhi represents the deepest state of meditation. Only by entering the Samadhi of Samantabhadra can you perceive that when a Buddha appears from formlessness, the three demons vanish. At that moment, the demons of Greed, Anger, and Delusion will no longer disturb you.
The world has unveiled itself as a tapestry of flowers before our eyes, all of which emerge from our minds. Birth and death, the concepts of eternity and annihilation, and the myriad illusions are so captivating that we often remain unaware of their true nature. Consequently, we continue to suffer, face challenges, and encounter obstacles; we must simply endure. If we enter and navigate the world like Sudhana, the youth, we will ultimately gain clarity and understanding.
What do you see? You see Vairocana Buddha. You perceive all Buddhas as embodying the same essence of Vairocana Tathagatagarbha, as stated in the Avatamsaka Sutra. We now understand that all things originate from DNA, which itself emerges from the void of nothingness that encompasses all worlds. Once you grasp this principle, you will no longer be constrained by the material aspects of this world. It is easy to comprehend that the immense Mount Sumeru can fit within a mustard seed or that the four vast oceans can be contained within a single pore.
The remarkable aspect of the Lotus Sutra is that it illustrates how one can swiftly attain Buddhahood. For a long time, many have believed that becoming a Buddha is a challenging endeavor, requiring countless lifetimes of cultivation. On that day at the foot of Linh Thứu Mountain, the Buddha informed his disciples that he was aging and about to enter Nirvana. He encouraged the monks to ask any questions they had without hesitation. The leading Bodhisattva promptly inquired how they could quickly become Buddhas. I anticipated that the Buddha would reprimand the monks, but to my surprise, he replied that it was very easy! Simply learn the Dharma door of ‘Infinite Meanings,’ and it will be accomplished immediately. The Dharma door encompasses a single principle: No-form. The Buddha elaborated further, stating that  signifies no-form; yet it is not merely no-form. It is not no-form, but rather no-form, which is why it is referred to as True-form. Thus, no-form is the true form, and true form is no-form. Isn’t that extraordinary?

Being immersed in formlessness is misguided, just as being immersed in true form is also erroneous. Therefore, perceiving reality as it is does not equate to seeing the truth; it merely involves interpreting things as real. We must recognize formlessness to understand that it is impermanent and not a self. This awareness leads us to comprehend that while it exists, it is dependently arisen and ultimately empty. Although it embodies emptiness, it still exists. By seeing and understanding in this manner, we free ourselves from attachment. We do not seek to destroy the conditioned; rather, the mind refrains from fixating on the unconditioned. In this state, there is neither existence nor non-existence. Additionally, we learn the virtues of the Bodhisattva Never Disparaging, the genuineness of the Bodhisattva Medicine King, and the empathy and attentive listening exemplified by the Bodhisattva Avalokiteshvara.
With the Lotus Sutra, I ponder whether its purpose is to guide sentient beings in understanding and penetrating the nature of reality and comprehending what the Buddha truly represents. After reflection and contemplation, I recognize its profound significance. Concepts such as impermanence, non-self, suffering, and impurity are also aspects of the Unchanging, the Blissful, the Essence of self, and True purity, yet they are often misinterpreted due to the delusions we experience in our dreams.
With the Vimalakirti Sutra, I learned that the Buddha realm is not distant; it resides within the mind. When our mind is pure, the Buddha realm is pure. Conversely, if our mind is impure, we perceive obstacles such as hills, pits, and thorns all around us. However, when the mind is pure, the landscape transforms into a vast, majestic, and beautiful expanse, illuminated by golden light everywhere.
I also learned that expedient means must be accompanied by wisdom. Prajnaparamita is the mother of Bodhisattvas, while the appropriate application of expedient means is the father. One must first possess Prajnaparamita; only then can one effectively apply expedient means.

I have learned that Bodhisattvas do not immerse themselves in meditation to the extent of neglecting life; rather, they must empathize with the endless suffering of all living beings. Consequently, Bodhisattvas practice the principle of emptiness without viewing emptiness as an achievement, and they embrace the principles of formlessness and actionlessness without considering formlessness and actionlessness as accomplishments.
I have come to understand that perceiving the mind can be quite challenging. How can one achieve peace of mind? The most effective approach is to connect with it through the body. Therefore, emulating Vimalakirti’s experience of illness is a valuable method. In sickness, all individuals are equal; there is no discrimination. Everyone stands on equal ground before sickness! Vimalakirti emphasized that this body cannot be trusted; it is not mine, it is not me, and it is not a self belonging to me. Instead, one must recognize the Buddha body, which refers to the Dharma body.

I have come to understand that living beings are illusions crafted by the magician—ourselves. This magician is also a living being. We are nothing more than reflections in a mirror, like the moon’s image on water, or the fleeting footprints of birds in the sky.
I have learned that the four Maras are our constant companions, always by our side to assist us. The Mara of afflictions surrounds us, reminding us that there are forty-eight thousand ways to escape our suffering. The Mara of the five aggregates serves as a friend, reminding us that the trivial distractions that disturb us are merely temporary combinations. The Mara from the heavens acts as a warning: do not be delusional! Finally, the Mara of death is a close companion who has been with us since we were in our mother’s womb.

I have discovered a fragrance that endlessly nourishes both the body and mind, and that fragrance is Virtue. Only this scent can soar high, travel far, and defy the wind.

…. () ….

Looking back on my challenging journey of learning Buddhism, I realize that I can create a visual reminder to help me remember my experiences.

The Lotus Sutra is the essence and foundation of Buddhist teachings. The Master has revealed a profound secret, one that the Buddhas of the past have kept hidden until now. It is only in this time that Shakyamuni Buddha has allowed us to perceive and understand the Tathagata. From this understanding, we can realize the Buddha’s perspective and learn to live in harmony with it. This realization brings us ease and freedom, aligning us with the Dharma. At that time, we will live according to our circumstances, understanding that all beings originate from the same Tathagata-garbha, sharing the same Tathagata-womb.
It is as it is, without beginning or end. Interacting from the Tathāgatagarbha to form the dharma realm within the infinite universe. With the cultivation of Prajñā wisdom, we are no longer ensnared by distinctions, contrivances, or the intertwined and entangled dependencies that obscure our perception of Suchness.
Only when we recognize and understand this will we gain the confidence to be at ease, completely free, and accountable for our own circumstances and karma, without blaming or depending on others. We learn to turn inward, relying on ourselves, and realize that once we have purified our minds, they return to their original state of purity. It is as if we are being guided by Samantabhadra Bodhisattva into the Vairocana Palace, which represents our own Dharma body.
Finally, the Vimalakirti Sutra embodies the Buddha’s aspiration to reach every individual and every aspect of life, aiming to establish a Buddha realm—a dharma realm characterized by equality, joy, and happiness for all of humanity!

(translated by Nguyên Giác)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Interim pages omitted …
  • Trang 124
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Thư gởi bạn xa xôi (tháng 7.2026)
  • Nguyên Đạo Văn Công Tuấn: HƠI THỞ CỦA NGHÌN NĂM SAU
  • Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Minh Lê NT trong Lại vài bài không biết gọi là gì (3)
  • Đỗ Tú Quyên trong Minh Trí: GHI CHÉP VỀ CHUYẾN ĐI LAGI
  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email