Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Những bài thơ (?) viết ở Boston

24/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

Những bài thơ (?) viết ở Boston

Đánh dấu hỏi (?) vì không biết có phải là thơ không, có nên gọi là thơ không? Mới rồi bạn nói nếu lúc đó ở Boston mà gặp nhau thì đã đưa mình đi thăm khu vườn nhiều cây kỳ lạ của Đại học Harvard rồi, và cũng sẽ đưa đi khám phá thu Boston không chỉ bằng “nghe” (*) mà còn bằng “thấy”…!

Mình scan lại vài trang viết tay hồi đó như vầy, hy vọng bạn có thể đọc được, cho vui nhé. À mà, lúc đó (1993), Đinh Cường cũng đã gởi đến mình mấy bức minh họa này nữa, cho một tập thơ…

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

……………………………………………………………..

(*) Nghe “Tiếng thu” giữa Boston, ĐHN, 1993

 

img013

 

 

img010

img014

 

img015

 

 

img012

 

ĐHN, thu Boston 1993

ĐHN, thu Boston 1993

Thêm: Thật bất ngờ, Trần Thị Nguyệt Mai ( tranthinguyetmai.wordpress.com/2017) đã nhờ Đèn Biển chịu khó gõ word từ bản viết tay trên đây nên xin được post thêm để bạn nào muốn đọc cũng tiện.

Cảm ơn NM, cảm ơn Đèn Biển nhiều lắm.

 

nếu mà anh nhận được thư em

 

anh nghĩ sáng nay được thư em

thì sẽ ra ngồi au bon pain (*)

gạt qua một bên không thèm đọc

ngắm người qua lại mặt vênh vênh

 

phì khói đầu đông xứ Boston

hít thở vào ra vài trăm lần

nhắp ngụm cà phê đen lạt thếch

thư vẫn để bên không thèm đọc

 

co ro chạy vội ra subway

hoặc hứng thì leo lên xe bus

lật qua lật lại cái phong bì

cũng nhứt định là không thèm đọc

 

về nhà bó gối ngồi một mình

sờ sờ nắn nắn thơ mỏng tanh

chắc chỉ đôi lời thăm hỏi vậy

đọc chi cho thấy lòng buồn thêm…

 

Boston 93

Đỗ Hồng Ngọc

 

_______________

(*) một quán cà phê ở Harvard Square

 

image336

 

Học giả (*)

 

Cũng may anh chỉ là học giả

Còn em học thiệt mới là khổ

Quên ăn quên ngủ thi lu bù

Rán cho được cái bằng tiến sĩ

 

Học giả như anh thật là sướng

Đôi lúc cứ tưởng mình bộ trưởng

Một tuần làm cái Seminar

Cãi cối cãi chày Mỹ cũng ớn

 

Sáng sáng cuốc bộ ra subway

Tối tối chuồn về nhà thật sớm

Xào xào nấu nấu chút gì ăn

Cửa đóng then cài ngủ tới sáng

 

Phố phường xa lắc không dám chơi

Nam nữ dòm hoài khó phân biệt

Supermarket hàng quá trời

Muốn go shopping tiền hơi ít

 

Cũng may anh chỉ là học giả

Còn em học thiệt khổ ơi khổ

Ốm nhom ốm nhách học phờ người

Lấy bằng tiến sĩ treo nhà bếp…

 

Boston 93

Đỗ Hồng Ngọc

___________

(*) học giả : scholar

 

 

………………………………………….

MÈO

 

Ông chủ nhà có con mèo

một con mèo cái

đỏng đảnh và diễm lệ

ông giấu kỹ trong nhà

Keep the cat inside, please

ông nói

 

Một hôm

ông hớt hơ hớt hải

“Mèo tôi đâu?” “Mèo tôi đâu?”

thì ra con mèo thông minh diễm lệ

đã bỏ nhà ra đi…

 

Có một con mèo hàng xóm

xù lông kêu meo meo

ôi con mèo ông chủ

đã bỏ nhà ra đi…

 

Con mèo có mèo

ông chủ giận quát tháo

chửi con mèo hàng xóm

đồ mèo dê

đồ mèo chó đẻ

rồi ông cay đắng

chửi cả mèo mình

đồ mèo ngựa…

 

Con mèo quý tộc thông minh đỏng đảnh

ăn toàn đồ diet

vậy mà cũng đi biệt

vì có mèo

thật là đáng tiếc

So sorry !

 

Boston 1993

Đỗ Hồng Ngọc

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thư đi tin lại, Vài đoạn hồi ký

Nước Mắm Phan Thiết

17/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 6 Bình luận

Ghi chú: Đọc bài Nước Mắm Phan Thiết của Phạm Sanh trên blog Phan Bội Châu Phan Thiết tôi không khỏi cảm động vì mình cũng là dân Phan Thiết thứ thiệt, ăn nước mắm tĩn suốt một thời tuổi nhỏ, lội sông Cà Ty, lang thang Đá Ông Địa, leo núi Tà Cú, tắm biển Kê Gà…

Cho nên đã liên hệ với tác giả Phạm Sanh, xin phép post lại nơi đây để chia sẻ cùng bè bạn.

Cảm ơn Phạm Sanh. Cảm ơn Nước Mắm Phan Thiết.

Đỗ Hồng Ngọc

 

NƯỚC MẮM PHAN THIẾT

Phạm Sanh

(http://pbchoingo.blogspot.com/2015/10/nuoc-mam-phan-thiet.html)

 

PT 1

 

Năm đầu tiên vào học Sài Gòn, bạn bè cư xá Phú Thọ cứ kể câu chuyện trêu chọc, đang ngủ trên xe đò đi ngang Phan Thiết là bật tỉnh dậy biết ngay ở đâu. Lúc đó vừa thẹn vừa giận lại vừa thương cho quê hương nước mắm của mình. Nhỏ, ở nhà Ngoại, xung quanh toàn là thùng lều, bà Ngoại nhỏ nước mắm Mậu Hương, bà Ngoại lớn nước mắm Nam Hương, bước ra đường là thấy bà con thân thuộc chữ Hương và chữ Hồng, Hồng Hương, Vạn Hương, Hoàng Hương, Tân Hương, Hồng Sanh, Hồng Xuyên, Hồng Hòa… Mùi cá, mùi nước mắm, cũng như mùi biển mặn đã ăn sâu vào hơi thở lối sống tính cách những người con xứ biển.

Nghe kể, nghề nước mắm Phan Thiết có bề dày trên 300 năm do những  ngư phủ người Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên theo chân đội quân Nguyễn Hữu Cảnh tiến vào miền đất phương Nam, vượt biển đưa cả gia đình vào vùng đất mới Phan Thiết, đất lành chim đậu. Khi thành lập Tổng Đức Thắng (1809), tên khai sinh của Phan Thiết, nước mắm đã ra đến đàng Ngoài. Đến đầu thế kỹ 20, nước mắm Liên Thành hiệu con voi đã có mặt khắp mọi miền đất nước, khắp Đông Dương và qua tận trời Tây dự triển lảm Marseille (1922).Những năm 1930, Bình Thuận đã sản xuất hàng năm đến 40 triệu lít nước mắm, chiếm 70% lượng nước mắm cả nước.

Nhờ hai dòng hải lưu ngược chiều ven bờ kéo theo hiện tượng nước trồi, tạo ra nhiều thức ăn phù du “dụ khị” các loài cá nổi về đầy vịnh Phan Thiết từ Mủi Né cho đến Mủi Dinh. Tiếng lành đồn xa, Phan Thiết đã thu hút đông đảo ngư dân miệt ngoài về dựng lều chòi tạm sinh sống dọc theo cửa sông, bãi biển. Dần dần, có của ăn của để, xây dựng nhà cửa kiên cố, nhớ ơn Tiền hiền Trời Phật Thánh Thần cùng nhau xây Dinh xây Vạn thờ “Ông” (cá voi). Vạn Thuỷ Tú Đức Thắng  lập vào năm 1762 là ngôi Vạn sớm nhất ở Phan Thiết. Hình thành nghề nước mắm, có thể lúc đầu cá nhiều không tiêu thụ hết, ướp muối hoặc làm mắm để ăn dần bán dần, nhưng đến mùa cá nục cá cơm, cá nỗi đầy biển, cá nặng muốn chìm ghe, cá nhiều quá phải nghĩ ra cách kéo rút lấy nước mắm từ thủ công lu mái ảng sành ngoài trời đến công nghiệp thùng lều trong các dãy nhà lều to như nhà máy.

Thùng lều hình trụ thường bằng gỗ mềm như bằng lăng, mít, bờ lời để dễ niền lại bằng dây song chạy quanh mặt ngoài thân thùng, các mảnh ván gỗ được siết chặt vào nhau, không còn khe hở. Có thùng trổ, thùng phơi, thùng chứa. Các loại thùng này có kích thước khác nhau, thùng nhỏ hơn gọi là thùng ba, thùng lớn hơn gọi là thùng tư. Thùng muối cá, xuống ngang mặt đáy thùng có một lỗ lù để rút nước mắm. Trước khi muối cá phải đắp lù, dọn thùng thật sạch, để khô ráo, lấy vỏ ốc để phía trong lỗ lù, đắp bao tải trấu rồi đắp một lớp muối hạt lên trên.

 

PT 2

 

Phan Thiết nổi tiếng thương hiệu nước mắm cá cơm. Cá cơm đánh bắt về được chọn lựa kỹ, bỏ những con to hay nhỏ quá hoặc không tươi, nên chọn cá  cơm than hoặc sọc tiêu để nhiều nước mà ngon. Cá cơm được đem vào muối không cần rửa lại vì trước khi đem lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển. Khi muối tỷ lệ thường dùng là 3 cá 1 muối, hai thành phần đó trộn chung cho thật đều mà không để nát, gọi là chượp, cũng có thể lớp cá lớp muối. Sau khi cho chượp vào đầy thùng, rải một lớp muối lên trên rồi cài lá dừa, vỉ tre trên mặt và xếp đá hộc đè chặt xuống.

Sau 2-4 ngày người ta mở nút lù ở đáy thùng tháo dịch cá chảy ra. Dịch này gọi là nước bổi, do các enzymes trong ruột cá giúp thuỷ phân phần nội tạng cá. Nước bổi có thành phần đạm cao, nhưng có mùi tanh, chưa ăn được, thường được vớt bỏ váng bẩn để làm nước châm vào các thùng chượp đã chín nhằm tăng độ đạm. Sau khi rút nước bổi, chượp trong thùng xẹp xuống và bắt đầu quá trình thuỷ phân chính. Tác nhân chính của quá trình này là một loại vi khuẩn kỵ khí, cần thời gian từ 8-18 tháng mới thuỷ phân xong thân cá. Khi quá trình này hoàn thành, tức chượp chín, nước mắm hình thành trong suốt với màu từ vàng rơm tới nâu đỏ cánh gián (tuỳ theo từng loại cá cơm) không còn mùi tanh mà có mùi thơm nồng, nhà lều dùng từ đã ”cẩn”. Nước nhất được rút từ thùng lều được gọi là nước mắm nhỉ, hoàn toàn từ thân cá thuỷ phân mà thành. Sau khi đã rút nước nhỉ, người ta đổ nước cốt châm vào để rút tiếp nước hai gọi là nước mắm ngang hoặc nước long, có long 1, long 2… Trong thời gian chế biến, hàng ngày 2 lần phải múc nước mắm từ thùng trổ đổ lên lại thùng muối, có thể thêm muối thêm cá thêm nước bổi nước cốt nhiều lần.

Nước mắm Phan Thiết còn một loại nổi tiếng danh bất hư truyền, không phải là loại nước mắm nhỉ ăn với cơm nóng, mà là nước mắm lú, lấy nước mắm nhỉ để lâu thật là lâu nhiều khi quên mất (mới gọi là lú), màu cánh gián, bớt mặn bớt mùi, hơi hăng nồng, dùng trị bệnh là chính. Đau bụng, viêm họng, bất tĩnh trúng gió, đặc biệt là ca sỹ cần hơi dài gọng thanh, thợ lặn uống một ngụm ấm người trước khi xuống nước rất tốt.

Những hãng chế biến nước mắm với số lượng lớn gọi là hàm hộ. Có hàm hộ nhỏ,  hàm hộ lớn. Việc phân định cũng chỉ tương đối, căn cứ theo số que nước mắm và uy tín của hàm hộ. Mỗi que từ 12 – 20 thùng nước mắm lớn, mỗi thùng lớn có sức chứa từ 5 – 7 tấn cá hoặc nhiều hơn nữa. Mỗi hàm hộ lại có logo khác nhau, Kiết Thành biểu tượng 3 cua xanh, Mậu Hương 2 chữ thập xanh, Vạn Hương cá thu đen, Hiệp Hòa 2 ngôi sao đỏ,  Hồng Hương có biểu tượng con tôm được xem là hàm hộ lớn nhất Phan Thiết.

Thật ra, cách chế biến nước mắm của các hàm hộ trước đây đều khác nhau, gần như “bí mật” giấu nghề từ cách chọn cá, dọn thùng, tỷ lệ cá – muối chượp, quy trình pha trộn các loại nước mắm, cả việc bỏ thêm đường cho dịu và bỏ màu cho bắt mắt, người Huế thích màu đỏ đậm, cao nguyên thích mặn, Đà Nẳng thích mùi. Các chủ hãng nước mắm lớn trước đây đều quý người “cọp rằn”, chăm sóc gia đình người này cả đời, giống như cách quản trị nhân sự của các Công ty Nhật hiện nay. Hầu như hàm hộ Phan Thiết ai cũng cho các đầu nậu mượn tiền để có lượng cá làm nước mắm ổn định giá rẽ, đều có đội xe đội tàu, đều có đại lý kho hàng ở các nơi tiêu thụ, một dạng kinh doanh theo nguyên lý khai thác chuỗi giá trị đi trước thời đại.

Nước mắm Phan Thiết ban đầu chứa trong các tĩn nung hình bánh ú bằng đất sét trộn bùn non, mới hình thành xóm Lò Tỉn gần cầu Bốn mươi,  mỗi tĩn có dung tích 3,5 lít, có gắn nắp trét hồ kín và dây quai xách. Theo các cụ lớn tuổi thì nước mắm vô tĩn hợp vệ sinh, hương vị màu sắc được giữ nguyên vẹn ở bất kỳ thời tiết nào, để càng lâu lại càng ngon. Nước mắm tĩn được chất lên những chiếc ghe bầu đi khắp nơi, nghe nói cả các nước Đông Nam Á.

 

Ghe bầu Phan Thiết, đúng ra là ghe bầu Mủi Né khá nỗi tiếng, tiếp thu kỹ thuật đóng ghe của Malaya và Champa, làm kiểu cho ghe bầu miền Trung một thời. Dáng bầu bĩnh, trọng tải hàng 100 tấn chở được khoảng 20.000 tĩn nước mắm tương đương 10 toa đôi xe lửa, 3 buồm, nhiều khi xuôi gió chạy được tới 20km/giờ. Ghe có lái phụ, khoảng 12-14 người bạn chia làm 6 phiên, 1 tổng khậu lo bếp núc ăn uống. Mỗi chuyến đi vài tuần vào Sài Gòn hoặc vài ba tháng ra Trung, chở muối nước mắm đi bán và chở về gạo đường trái cây vải vóc. Công ty Liên Thành có 3 ghe bầu mang tên khá ngộ: Vị thuyền, Phan Thiết, Hải Thuyền.

Ghe bầu trở lái về đông 

Con gái theo chồng bỏ mẹ ai nuôi 

PT 3

 

Khi đường bộ và công nghệ bao bì phát triển, nước mắm Phan Thiết được chuyên chở bằng thùng thiếc và thùng nhựa 20 lít, các chị em súc tĩn đã chuyển sang súc thùng, không còn ghe bầu vì đã có các tàu chở hàng trọng tải trên 200 tấn (những năm chiến tranh, đường bộ bị đắp mô, đường sắt ngừng hoạt động).

Sau 1975, nghề nước mắm Phan Thiết yếu hẳn, các hàm hộ nếu không bị cải tạo tư sản thì cũng phải vào quốc doanh, có người sợ hiến cả sở lều đi làm công nhân múc nước mắm để con cháu được ghi lý lịch tốt tốt một chút. Người ta lại nghiên cứu khoa học, xây bể chượp bằng bê tông gạch đá thay vì thùng gỗ truyền thống, làm nước mắm ngắn ngày thay cho quy trình đảo trộn lụi hụi trước đây. Kết quả thấy rõ, danh tiếng chất lượng thơm ngon nước mắm Phan Thiết chỉ còn trong kỹ niệm hoài cổ, danh hiệu nước mắm Phú Quốc lên ngôi. Dù hiện nay, không còn nước mắm quốc doanh, có tới trên 200 hãng nước mắm tư nhân Phan Thiết, đủ tên đủ tuổi, nhưng ngay cả tôi cũng dặn vợ không nên mua về dùng, vì nếu không giả thì cũng dởm, mang tiếng Phan Thiết mình.

Thật ra tôi rất đắn đo khi viết bài này cho mấy Bạn, sợ viết không hết ý và gợi lại nỗi nhớ những người thân trong gia tộc gia đình đã mất, ngại Má tôi buồn vì cả mười đứa con không ai theo nghề nước mắm của Ông Bà Cha Mẹ, cũng may mà Má đã lãng. Tôi vẫn nhớ hình ảnh những đêm khuya mùa cá nục, từng đoàn người nối đuôi gánh từ Cồn Chà về lều, Mẹ tôi xắn quần muối chượp cả đêm. Tôi không quên đức độ những bà Cửu Sanh, Cửu Mười, Hồng Hương, Hồng Sanh…, những người đàn bà cả đời tận tụy cho danh hiệu  nước mắm Phan Thiết, nhưng cái kết lại không được có hậu cho lắm.

 

(Phạm Sanh, 10.2015)

 

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

13/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 8 Bình luận

BÁC SĨ, NHÀ VĂN ĐỖ HỒNG NGỌC – MỘT MẶC KHÁCH HÀO HOA

Lê Minh Quốc

(http://www.leminhquoc.vn/bao-chi/le-minh-quoc-viet/3843-bac-si-nha-van-do-hong-ngoc-mot-mac-khach-hao-hoa.html)

LMQ Phải nói thật, tôi thích bác sĩ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, còn một lẽ do anh là cháu của một trí thức lạ lùng ở miền Nam: Nguiễn Ngu Í (1921- 1979), tên thật Nguyễn Hữu Ngư, sinh tại Bình Thuận. Đi chênh vênh giữa cơn điên và sự tỉnh táo lạ thường, ông Í đã chủ trương cải tiến chữ Quốc ngữ (chẳng hạn thay y bằng i, k bằng c, gi bằng j, kh bằng k, p bằng b, ph bằng f…) và để lại những tác phẩm như Qê hương, Lịch sử Việt Nam, Giấc mộng lớn chưa thành, Suối bùn reo, Sống và viết với…

Vì lẽ đó, khi gặp Đỗ Hồng Ngọc, tôi đã đặt câu hỏi: “Thưa anh, được biết, nhà văn nổi tiếng Nguiễn Ngu Í là cậu của anh. Thuở mới vào nghề viết, anh có học hỏi được gì từ người cậu rất cá tính, rất lạ lùng, rất “quái kiệt giang hồ” của mình?”. Còn nhớ lúc ấy, anh mỉm cười: “Nhiều chứ! Tôi mồ côi cha sớm, lúc 12 tuổi sống trong chùa với bà cô ở Phan Thiết thì ông đến thăm, cho một đống sách báo rồi bắt tôi đi học! Ngay lúc đó, tôi đã thấy mình mê sách báo, muốn làm “nhà văn, nhà báo”… như ông rồi! Nhưng tôi lại giấu biệt ông khi những bài thơ đầu tiên của tôi được đăng báo, đến lúc ông biết, ông khen có “giọng điệu” và “ý tưởng” riêng. Sau này, ông coi tôi như một người bạn… văn, có bài nào mới ông bắt tôi nghe và cho ý kiến”.

Và thêm một điều nữa, Đỗ Hồng Ngọc nổi tiếng từ rất sớm. Trước năm 1975, anh sáng tác thơ với bút danh Đỗ Nghê, đã có tác phẩm đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương, Ý Thức… Nhiều bài cũng được bạn bè “đánh giá cao” như Em còn sống mãi, Tâm sự Lạc Long Quân, Lời ru, Cổ tích về ngôn ngữ v.v… Sau này anh đã tập hợp in trong tập thơ đầu tay Tình người, xuất bản năm 1967.

Nhớ đến anh, lập tức những câu thơ trong bài Thư cho bé sơ sinh thấm đẫm tính nhân văn, thấu hiểu lẽ vô thường trong cõi nhân sinh lại vọng về trí nhớ:

Khi anh cắt rún cho em

Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé

Vì từ nay em đã phải cô đơn

Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

Có thể tách lấy khổ thơ này. Nó đã trở thành bài tứ tuyệt có một tứ thơ chắc và gọn. Tứ tuyệt này, tựa như thông điệp mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Khi làm MC dẫn chương trình ra sách mới của anh tại Đường sách TP.HCM, tôi thật sự xúc động khi có người là học trò của anh ngày trước đã ngâm lại bài thơ này. Không gian hôm ấy, dưới vòm me xanh đang náo động, ồn ào bỗng dưng im bặt. Mọi người lặng im sống cùng con chữ của vị thầy thuốc chào đón một sinh linh bé bỏng vừa cất tiếng khóc dưới ánh sáng mặt trời. Anh kể: “Bài thơ này, tôi viết vào năm 1965, khi còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, thực tập tại bệnh viện Từ Dũ, khi đỡ được một bé đầu tiên ra đời “mẹ tròn con vuông”. Tôi viết bài thơ ngay tức khắc trong chừng mươi phút, rồi còn cao hứng chép vào sổ phúc trình sau phần bệnh án, bị thầy HNM rầy “đỡ đẻ không lo đỡ đẻ lo làm thơ”! Thế nhưng hôm sau đã thấy bài thơ được ai đó viết lên bảng đen và được nhiều bạn bè đồng nghiệp lưu truyền…”.

Trước đây, nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê nhận xét về anh: “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho người ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Câu này, càng về sau lại càng thấy đúng.

Con đường vào đời của Đỗ Hồng Ngọc cũng thú vị lắm, anh cho biết: “Tôi mê dạy học, mê văn chương và cũng mê làm nghề y. Hồi xưa, đậu Tú Tài 2 xong (1962), tôi băn khoăn không biết nên học Văn khoa, Sư phạm hay Y khoa… Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên nên học y, vì ngành y có thể giúp đời cụ thể và nếu có tâm hồn, có năng khiếu thì làm nghề y cũng có thể viết văn và dạy học được. Tôi nghe lời”.

Từ quyển sách Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972), và nhất là Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974) đã tái bản rất nhiều lần, đến nay anh đã tung hoành khá nhiều thể loại. Đáng chú ý nhất là các tập sách mà anh phân loại một cách dí dỏm là viết cho “Tuổi hườm hườm” như Gió heo may đã về;   Già ơi… chào bạn, Chẳng cũng khoái ru?  Những người trẻ lạ lùng, Thư gởi người bận rộn… Những năm tháng gần đây, anh đã chú tâm nghiên cứu về Phật học, về thiền. Có thể kể đến những tập sách như  Nghĩ từ trái tim, Gươm báu trao tay, Thiền và Sức khỏe, Ngàn cánh sen xanh biếc, Cõi Phật đâu xa…

Hôm kia, anh đã tặng tôi những đĩa DVD thu lại những buổi nói chuyện của anh với Phật tử, tôi ngạc nhiên quá. Có những vấn đề lâu nay đã đọc nhưng chỉ như ngọn gió thoáng qua, nay, nghe anh giải thích lại cảm thấy gần gũi, dễ hiểu. Ấy là do gì? Do am hiểu về y học, do suy ngẫm nhiều và có tâm hồn thơ nên những triết lý uyên thâm ấy đã được anh giải thích uyển chuyển, tươi mới hơn chăng? Còn nhớ lúc phỏng vấn anh, tôi đã cố tình đặt ra những câu hỏi khó, nào ngờ, anh trả lời ngọt xớt. Tôi thường đùa rằng, câu hỏi hay mà người trả lời cũng hay.

Chẳng hạn, “Nếu cùng một lúc có ba đối tượng: hài nhi, phụ nữ và ông lão. Cả ba đều cần kíp đến chuyên môn của một bác sĩ. Chỉ được chọn một trong thời điểm “thập tử nhất sinh” ấy, anh chọn đối tượng nào?”. Anh mỉm cười: “Tôi la lên cho có nhiều người đến giúp. Trong cấp cứu y khoa tôi học được như vậy. Phải kêu cứu. Sau đó, đánh giá mức độ nặng nhẹ và khả năng cứu chữa để chọn ưu tiên can thiệp. Không có sự “phân biệt đối xử” trong y khoa. Một cô hoa hậu viêm ruột thừa thì cũng giống như bất cứ một cô gái nào khác viêm ruột thừa thôi!”.

Một câu hỏi khác: “Nếu cho anh chọn một điều ước có tầm ảnh hưởng cho phụ nữ – “một nửa thế giới của đàn ông”, anh sẽ ước gì?”. Anh đáp: “Ước phụ nữ là phụ nữ chớ đừng biến họ thành đàn ông! Hiện nay, có lẽ do nhiều phụ nữ biến thành đàn ông quá nên đàn ông bèn có khuynh hướng… biến thành phụ nữ, hoặc đàn ông đi… tìm đàn ông để kết bạn! Rắc rối sinh ra từ đó!”. Ngẫm ra cũng có lý đấy chứ? Thêm một câu hỏi nữa: “Người phụ nữ đẹp, theo anh, cần phải có những yếu tố nào – nhan sắc hay sức khỏe?”. Trong cuộc đời, có đôi lúc ta đứng trước sự lựa chọn, chỉ chọn một, thế mới khó.

Hãy nghe anh trả lời: “Không phải nhan sắc, cũng chẳng phải sức khỏe, mà chính là cái tâm hồn của người đó. Bùi Giáng có lần viết: “Em ơi em đẹp vô cùng/ Vì em có cái lạ lùng bên trong”; và tôi thêm “Em ơi em đẹp vô song/ Vì em có cái bên trong lạ lùng”! Cái đẹp bên trong đó mới tạo ra thứ nhan sắc không tàn phai, và chính nó cũng tạo ra sức khỏe, là thứ sảng khoái vế thể chất, tâm thần và xã hội như ta biết. Muốn có cái đẹp bên trong đó, phải rèn luyện, phải học tập… dài lâu, nền nếp. Trong khi sửa mắt sửa mũi, độn ngực độn mông có thể làm ngay tức khắc. Cái đáng lo bây giờ là người đẹp nào cũng giống… người đẹp nào, vì cùng một khuôn mẫu cả!”.

Cách trả lời, cách viết theo lối này âu cũng là “duyên ngầm” của nhà thơ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Có lần, anh cho biết: “Để có thể luôn giữ được sự bình quân từ tâm hồn đến sức khỏe, phải làm gì? Rất đơn giản. Gần gũi với thiên nhiên chừng nào tốt chừng đó. Tôi nhận ra “hạnh phúc rất đơn sơ” bạn ạ. Sống trong hiện tại, sống trong “chánh niệm” thì sẽ phát hiện nhiều điều hay. Chẳng hạn chỉ cần biết thở “chánh niệm”, bạn sẽ ngạc nhiên:

”Lắng nghe hơi thở của mình

Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa…

Một hôm hơi thở tình cờ

Dính vào hạt bụi thành ra của mình

Của mình chẳng phải của mình

Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…”.

Đọc những gì anh viết gần đây, theo tôi, đó là sự thông tuệ đã cô đọng, đã chắt lọc của một tâm hồn an lạc. Một trong bài thơ của anh, tôi thích Ở Tuyền Lâm. Chỉ 16 chữ nhưng đã là một “bonsai thơ”:

Nước xanh như ngọc

Sâu đến tận trời

Vốc lên một vốc

Ơi mùa xuân ơi

Lúc đọc, tôi lại nhớ đến 20 chữ trong bài thơ Dục Bàn Thạch kính (Tắm ở khe Bàn Thạch) của Cao Bá Quát: “Sáng lên Hoàng Sơn trông/ Chiều xuống Bàn Thạch tắm/ Nhặt hòn đá mỗi nơi/ Núi sông không đầy nắm” (Hóa Dân dịch). Từ sự đồng điệu ấy, ta lại hiểu thêm và “ngạc nhiên một cách thú vị” về cõi hồn, cõi thơ của Đỗ Hồng Ngọc.

Khi bàn về tác phẩm của anh, tất nhiên không thể bỏ qua những trang viết về chuyên môn của bác sĩ. Ở đây, anh thể hiện sự dí dỏm, đôi lúc ta tủm tỉm cười và dõi theo từng dòng: “Osho trong cuốn Hành trình nội tại từng nói: Con người khổ là do sử dụng cái đầu nhiều quá, suy nghĩ nhiều quá, nên chuyển hướng xuống sống bằng trái tim, sống bằng tình cảm, nhưng như vậy cũng vẫn còn khổ, cần chuyển xuống sống bằng cái… rún thì sẽ hạnh phúc hơn! Ý ông muốn nói sống bằng rún nghĩa là sống bằng hơi thở (thở bụng, đưa hơi xuống huyệt đan điền…) thì ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề căng thẳng trong đời sống. Nhưng theo tôi, chúng ta không chỉ dừng lại ở rún mà nên xuống thấp hơn chút nữa, đến tận  ruột già, vì nói cho cùng… hạnh phúc đến từ ruột già đó vậy!”.

Đọc anh còn là một cách thư giản, như được trò chuyện với một người bạn gần gũi và thân mật.

Ai đó đã nói, “văn tức là người”, câu này hoàn toàn đúng với tính cách Đỗ Hồng Ngọc. Với tôi, anh là một nghệ sĩ tài hoa đúng nghĩa cao đẹp của từ này, chứ tôi hoàn toàn không hề thấy anh có dáng dấp gì gọi là “nghệ sĩ”. Đã “nghệ sĩ” ắt bê bối hình thức, nói năng bạt mạng, và đôi khi tính cách vượt qua cái ngưỡng bình thường. Không, anh không hề có những biểu hiện ấy, ở anh là một trí thức lịch lãm, chừng mực và toát ra một điều gì đó về đạo đức gần với mẫu người như Trần Văn Khê, Nguyễn Hiến Lê… thì phải.

Trước đây, hơn mươi năm trước, tôi nhận xét: “Nhắc đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, lập tức chúng ta nghĩ ngay đến một nhân vật khá đặc biệt: lãng tử và phiêu bồng trong thơ, dí dỏm và mạch lạc khi viết về y học, trầm mặc và sâu lắng trong tạp bút và thỉnh thoảng ông cũng ký họa chân dung bạn bè… Gặp ông, dù chỉ trong phút chốc tình cờ hoặc có hẹn trước, thế nào cũng thấy ông cười tươi và từ ánh mắt ấy, dường như luôn có sự quan tâm đến người đối diện. Ông không ồn ào và gần như ít la cà chốn đông người. Và cứ thế, lặng lẽ sống an nhiên và lao động hết mình, ông đã có nhiều tác phẩm quen thuộc với bạn đọc”.

Nay, bác sĩ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc vẫn là mẫu người ấy. Mới đây thôi, nhân xuân xanh nắng ấm của ngày Nguyên đán, tình cờ tôi đọc những câu ngũ ngôn của anh. Đọc chậm một chút để cùng an lạc trong hồng xuân mới: “Hội An còn ngái ngủ/ Mái chùa ôm vầng trăng/ Giật mình nghe tiếng chổi/ Gà gáy vàng trong sương…”.

Há chẳng phải thêm điều khiến ta “ngạc nhiên một cách thú vị” về anh đấy ư?

(Lê Minh Quốc, bút danh Lê Văn Nghệ)
(nguồn: Báo ANTG giữa tháng số 109 -2.2017)

 

 

https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/10935/

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Một chút Valentine

13/02/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Từ Khánh Minh:

 

unnamed

 

Từ Duyên: chút nắng chiều…

unnamed (1)

(photo by duyên)

 

Từ Trần Vấn Lệ:

Quà Valentine’s Day Dẫu Là Giọt Mưa

 

Còn một ngày thôi em nhớ thương, Valentine’s Day hoa trong vườn / vì em đua nở mừng em đó / mừng hộ cho người xa Cố Hương…

Ba mươi năm rồi, rồi muôn năm, anh xa quê nhà chưa về thăm.  Miếng cơm manh áo, coi anh bận, người cứ xa người…rồi biệt tăm!

Em trồng khoai, sắn, em trồng hoa, mưa, nắng, mồ hôi, nước mắt, hòa…Anh biết, chớ sao anh chẳng biết?  Biển kia cũng biết…Biển bao la!

(…)

Cái chữ Duyên xơ xác nghẹn ngào / nhắc ngày Tình Yêu nghe nao nao…Nhắc vườn hoa để coi như mộng.  Hoa Mộng, thôi thì chút ước ao

Còn một ngày thôi, tới cái ngày / anh thương em lắm, mà anh đây:  cuối trời mưa nắng và sương tuyết; em cuối trời mây trắng trắng mây!

Em, cuối trời, anh nắn nót thơ, còn cho em đó, vẫn bao giờ, hồn anh theo gió qua trời biển, em nhận giùm nha, dẫu giọt mưa…

 

 Từ Lê Ký Thương:

 

Ca sĩ Thu Vàng (tranh Lê Ký Thương)

Ca sĩ Thu Vàng
(tranh Lê Ký Thương)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Một vài hình ảnh… Tết

28/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Một vài hình ảnh… Tết

  1. Cuối năm, ngày 21 tháng Chạp (18.01.2017), Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi và bạn hữu đi thăm chùa Hội Sơn và chùa Bửu Long. Chùa Hội Sơn vốn là một ngôi chùa cổ trên 300 năm, nằm ở hữu ngạn sông Đồng Nai đã bị cháy rụi mấy năm trước, nay cũng vừa được xây cất lại. Đã có nhiều thay đổi nhưng khu Chánh điện và nhà Tổ vẫn giữ được hình dáng cũ, dù còn “tươi” cột gỗ mái ngói…

Mọi người chụp một tấm hình kỷ niệm ở khu xưa còn vương lại chút rêu phong:

IMG_3083

Sau đó đến thăm chùa Bửu Long của Sư Viên Minh. Mặc dù Sư đang bận việc ở Phan Thiết, nhưng cũng đã thu xếp về kịp để gặp anh em. Buổi gặp gỡ tuy ngắn gọn, ít thời gian, nhưng cũng đã trao đổi được nhiều vấn đề “cốt lõi” nên ai nấy đều cảm thấy rất hài lòng và thành tâm quý mến Sư…

 

IMG_3101

2. Mọi năm, Mùng 1, Mùng 2 Tết, các đồng nghiệp và học trò trong Bộ Môn thường đến thăm mình tại nhà, sau buổi bánh mức còn có màn coi quẻ Dịch cho mỗi người (khá chính xác). Năm nay, bỏ lệ này, sáng 30 Tết, hẹn nhau ra Đường Sách, café, trò chuyện… cho có không khí Xuân hơn.

 

Từ trái: Lê Thành Tân, ĐHNgọc, Lê Kiều Chinh, Mai Ngọc Thành Ngân

Từ trái: Lê Thành Tân, ĐHNgọc, Lê Kiều Chinh, Mai Ngọc Thanh Ngân.

 

Đã có thêm Trương Trọng Hoàng, Minh Trang, Yến Phi...

Đã có thêm Trương Trọng Hoàng, Minh Trang, Yến Phi…

 

Một độc giả bắt gặp, bèn xin chữ ký...

Một độc giả bắt gặp, bèn xin chữ ký…

 

"Nếp Sống An Lạc" đã có ở Đường Sách và Chợ Sách

“Nếp Sống An Lạc” đã có ở Đường Sách và Chợ Sách

3. Sáng Mùng 1 Tết Đinh Dậu 2017:

 

Khu Đường hoa Phú Mỹ Hưng

Khu Đường hoa Phú Mỹ Hưng

 

IMG_3270

 

Ở Chợ Sách Mạc Thị Bưởi, Đường hoa Nguyễn Huệ. Gian hàng bày sách Đỗ Hồng Ngọc.

Ở Chợ Sách Mạc Thị Bưởi, Đường hoa Nguyễn Huệ.
Gian hàng bày sách Đỗ Hồng Ngọc.

Chỗ sảng khoái nhất ở Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay: Nước phun.

Chỗ sảng khoái nhất ở Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay: Nước phun.

 

 

 

 

 

 

 

Cái mới của Đường hoa Nguyễn Huệ năm nay ngoài con gà biết “gáy” đó là đàn ông mặc áo dài hơi nhiều, có phần diêm dúa nữa còn các cô nếu có mặc áo dài thì… cũn cỡn với váy, hoặc cứng ngắc với quần jean bó chật! Thôi thì hết cái áo dài lộng gió: “Nắng Sài-gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” hay “Ai bảo em mang trên áo bay/ Hai phần gió nổi một phần mây/ Hay là em gói mây trong áo/ Rồi thổi cho làn áo trắng bay…”. Không còn gió chẳng còn mây gì nữa đâu!

Người ta bây giờ có vẻ như ngày càng cô đơn hơn trong đám đông nhộn nhịp vì thấy nhiều người ai cũng cầm cái que tự chụp hình cho chính mình… Có lúc thấy ba bốn cô xếp hàng ngang cùng đi, mỗi cô cầm một cái que huơ lên cao, thoáng nhìn cứ tưởng cầm mấy cây “thượng nhang” đi chùa ngày xưa chứ!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Tìm lối thoát bệnh tật nhờ ”thiền”

21/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Ghi chú: một người bạn vừa gởi tôi bài viết này của Lê Tú Lan trên báo Sức Khỏe & Đời Sống của Bô Y Tế, bèn đem ”khoe” với bạn vậy! Cảm ơn Lê Tú Lan. (ĐHN).

(http://suckhoedoisong.vn/bac-si-do-hong-ngoc-tim-loi-thoat-benh-tat-nho-thien-n25198.html)

 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc: Tìm lối thoát bệnh tật nhờ thiền
NGÀY 06 THÁNG 09, 2015 | 08:00

(Báo Sức Khỏe & Đời Sống, Bộ Y Tế)

Lê Tú Lan
Một vị bác sĩ khả kính kết hợp cả hai yếu tố của một người nghệ sĩ và một nhà khoa học, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không chỉ được gọi là bác sĩ nhi khoa, rất nhiều người còn gọi ông là bác sĩ của tuổi mực tím, tuổi trưởng thành và cả tuổi… trăng xế. Ông không chỉ đến để giúp họ chữa lành những nỗi đau thể xác mà còn xoa dịu những bất an, những mất mát về tinh thần cho từng số phận. Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là một bác sĩ có nụ cười hiền hậu, phong thái giản dị mà đĩnh đạc và trẻ hơn rất nhiều so với cái tuổi “thất thập cổ lai hy” của mình. Thông thường mỗi nhà văn, nhà thơ có một đối tượng “fan” hâm mộ nhất định nhưng bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lại chinh phục được mọi giới, mọi lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, đến các bà bầu ục ịch và cũng chẳng tha các vị sồn sồn hay quý vị lão niên bởi ông chính là tác giả của những tác phẩm đã đi vào lòng người nhẹ nhàng, gần gũi và tự nhiên nhất, đem lại cho mọi người tiếng cười, cảm giác dễ chịu cùng những lời khuyên đời thường, dung dị và khoa học không những giúp cho người bệnh bớt bệnh mà còn giúp họ bớt khổ trong tâm.

SKDS 1
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.

Trong một buổi trò chuyện với người hâm mộ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nêu lên một câu hỏi và rồi ông lại tự trả lời: Vì sao bây giờ người ta bệnh nhiều hơn xưa? Cả nước đã mở ra rất nhiều bệnh viện mà bệnh nhân vẫn cứ tràn ngập, quá tải? Đó là bởi, môi trường xã hội, trong đó có hành vi lối sống của con người đã thay đổi; đặc biệt môi trường thiên nhiên đang bị hủy hoại, cây cối bị chặt trụi, không khí bị ô nhiễm trầm trọng. Bản thân mỗi con người sống trong một xã hội căng thẳng, phải bươn chải, chạy theo đồng tiền… không còn sự thư nhàn, thoải mái. Tâm cũng bệnh mà không gian bên ngoài cũng bệnh. Đời sống căng thẳng gây bệnh tâm thần; ăn uống bất cẩn gây bệnh béo phì, tim mạch; môi trường bê bối gây bệnh ung thư; và các thứ tai nạn, thương tích… Các bệnh truyền nhiễm ngày càng phát triển, bệnh cũ bùng phát, bệnh mới ngày càng nguy hiểm hơn. Bệnh viện quá tải là chuyện dễ hiểu!

Và rồi bác sĩ kết luận: “Thuốc uống đôi khi không cần thiết nếu biết cách sống.  Tôi nhận thấy nhiều bạn trẻ uống thuốc tự nhiên như phản xạ, uống cả bọc thuốc gọi là thuốc bổ, thấy người ta uống thì mình uống mà quên đi tập thể lực. Tôi cho rằng khi được nghỉ ngơi hãy thực sự hưởng giờ phút an lành, bỏ mọi nỗi lo đi thì mới tái tạo sức lao động được, thậm chí dành thời gian để sáng tạo một đề án mà mình ưa thích cũng là một phần thưởng”.

SKDS 2
BS. Đỗ Hồng Ngọc thường xuyên có những buổi tư vấn sức khỏe với nhiều người.

Cách đây gần hai chục năm, do làm việc rất căng thẳng, lúc đó bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là Giám đốc Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe của Sở Y tế TP.HCM nên thường xuyên phải tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế và cũng thường xuyên phải cấp cứu cho bệnh nhân, nên bất ngờ ông bị một cơn tai biến quật ngã phải cấp cứu và bị mổ vài lỗ trên đỉnh đầu. Nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt lần này không phải với cương vị bác sĩ mà là một bệnh nhân như bao bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo khác, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhớ lại: Tôi tỉnh dậy thấy mình nằm trên băng ca, cổ họng gắn một cái ống thở và tất nhiên là tôi không nói được, một cô y tá thấy tôi mở mắt thì chạy lại xem hồ sơ của tôi rồi reo lên: “Có phải bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc báo Mực tím không ạ?”, tôi không nói được, chỉ khẽ nháy mắt ra hiệu, cô ấy lại reo lên: “Mấy bạn ơi ra mà xem bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc này”. Thật là tức cười, hoàn cảnh tôi lúc ấy thật không đáng xem chút nào. Làm trong nghề y nên tôi tự biết, cái bệnh này hay để lại di chứng, không bị cái này thì cũng bị cái kia và không hy vọng đi lại hay nói năng bình thường được. Ba bốn ngày sau khi đặt chân xuống đất, như một phản xạ, tôi tự bước đi và ngạc nhiên vô cùng. Chỉ vài bước lẫm chẫm như trẻ con tập đi mà sao hạnh phúc quá chừng. Tôi bước vào toillet, ngước nhìn vào gương, thấy đầu mình trọc lóc bình vôi, râu ria tua tủa, tôi thấy mình rất lạ mà cũng thấy đẹp nữa (cười). Thấy hay hay, tôi liền lấy giấy bút ra tự vẽ mình, riêng cái khoản đứng được trong toillet dù chỉ ít phút cũng thấy lạ lắm, thấy hạnh phúc lắm, phải nói đó là phép lạ trong cuộc sống làm tôi nhớ đến câu thơ của Huy Cận: “Hạnh phúc rất đơn sơ…”. Từ trong hoàn cảnh đó tôi mới phát hiện ra cuộc sống thật nhiệm màu, tôi nhìn thấy cái gì cũng lạ, lạ từ bước chân dò dẫm đến ánh mắt, khuôn mặt mọi người, cứ như tôi đang sống trong một kiếp khác. Bạn bè thương tôi, họ là những bác sĩ đồng nghiệp mang tới cho tôi nhiều thứ thuốc, tôi là dân trong nghề nên cũng biết thuốc này cho tôi cái lợi này thì sẽ hại tôi ở cái khác, cho nên tôi bỏ hết chỉ giữ lại một thứ để làm cho huyết áp mình ổn định, không bị tai biến nữa và tôi nghĩ ra một cách khác để chữa cho mình, đó là đi vào thiền định. Bằng phương pháp hít thở rất đơn sơ mà tôi lại thấy rất hiệu quả. Kể từ ngày đó đến nay cũng ngót nghét gần hai chục năm và tôi cũng viết được mười mấy, hai chục cuốn sách (hồi trước tôi viết ít hơn, giờ thì có thời gian suy ngẫm nhiều hơn). Đối với bản thân, tôi luôn giữ gìn để mình không bị xuống cấp nhanh quá, tóc tai mọc lại, cuộc sống an hòa hơn. Trong Phật giáo người ta thường hay chúc nhau: “Thân tâm thường an lạc” và mình an lạc, điều đó rất là cần thiết. Tóm lại, cái quan trọng nhất là thái độ sống của mình, dẫn đến cách sống. Đừng chờ đợi hạnh phúc, nó sẽ chẳng bao giờ đến, mà phải biết nhận ra hạnh phúc ở ngay đây và ngay bây giờ,  tôi thực tập theo cách riêng của mình, phù hợp với mình. Từ góc độ y sinh học, tôi nghiền ngẫm, thể nghiệm và lý giải được phần nào ý nghĩa sâu thẳm của thiền nên tôi rất tin tưởng để áp dụng vào điều trị những vấn đề sức khỏe của tâm và thân.  Sức khỏe của một con người không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật. Người thầy thuốc thường chỉ chữa cái “đau” mà không chữa cái “khổ”, chữa cái “bệnh” mà không chữa cái “hoạn”. Do vậy mà dù y học ngày càng phát triển với những thành tựu đáng kinh ngạc nhưng tình trạng tâm thần, tự tử, bạo lực, bất an và các bệnh do hành vi lối sống gây ra như tim mạch, đái tháo đường, béo phì… cứ ngày càng phát triển! Thiền, theo tôi là một lối thoát. Âu Mỹ hiện nay đang hướng về thứ “thuốc” này của phương Đông.

Lê Tú Lan

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

LAGI NGÀY CON VỀ (thơ nguyễn thị khánh minh)

18/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

LAGI NGÀY CON VỀ

nguyễn thị khánh minh

Lagi ngay con ve

Lagi ngay con ve 2

Ngôi nhà tuềnh toàng với giàn bông giấy ở quê nhà Lagi của anh Đỗ Hồng Ngọc
(anh ĐHN viết trong một e-mail)

 

 

 

LAGI NGÀY CON VỀ

Cảm xúc bức hình Nhà Mẹ của anh Đỗ Hồng Ngọc

 

Có mùa xuân theo con về trước ngõ

Gọi Mẹ ơi. Hàng giấy đỏ xôn xao

Then cổng gỗ từ lâu rồi chưa mở

Trời Lagi mừng vội một câu chào

Có thời gian theo con về tung cửa

Hiên nhà xưa kỷ niệm mọc xanh um

Cội xoài vắng. Mầm cây khô nói mớ:

Ai về kia. Lẫn bóng mẹ mùa xuân…

Vâng thưa Mẹ. Con về cùng tuổi nhỏ

Lòng ấu thơ khua giấc nắng chiêm bao

Hương xoài non khan giọng nhớ cồn cào

Gầy dáng Mẹ. Bên thềm hong tóc gió

Con ngồi đây. Một vuông sân lặng lẽ

Ôi nón quen. Mẹ cài đó. Thiu thiu

Nón mồ côi lâu rồi hương tóc Mẹ

Con mồ côi. Đường viễn xứ liêu xiêu

Nghe rất khẽ. Nghe như mơ. Tiếng chổi

Xào theo chân. Bóng mẹ mỏng như mây

Vườn thức giấc. Hồn tinh sương mẹ gọi

Con bướm bay về. Lá trổ trên cây

Vâng thưa Mẹ. Bếp nhà vừa cơi lửa

Cơm chiều ngon thơm lúa vụ mùa tươi

Mai mẹ về. Về với Ngoại xa xôi

Chiếc nón lá Mẹ cứ cài trên cửa

Là cột mốc nhắc con. Đường xa ngái

Đất Lagi cát mặn biển theo chân

Mai con đi. Khép cổng nhẹ như thầm

Hàng giấy đỏ lại một mình. Ở lại…

 

1.2017

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thiệp mời QUÁN VĂN Xuân Đinh Dậu 2017

14/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thiệp mời QUÁN VĂN Xuân Đinh Dậu 2017

tHIỆP mỜI QV 43 - hc

Lúc 9h sáng, ngày 19-01-2017 tức 22 Tháng Chạp, tại Café Lọ Lem, 345 Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, Tp HCM.

Số Quán Văn đặc biệt Mừng Xuân Đinh Dậu 2017 và giới thiệu Nhà văn Nguyên Minh.

Nhớ đến ”coi” Nguyên MInh nhà mình nhé.

Thân mến,

ĐHN

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Trung tâm Truyền thông & Giáo dục Sức khỏe

12/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Trung tâm Truyền thông & Giáo dục Sức khỏe Tp.HCM

(tổng kết hoạt động 2016)

photo Truong Trọng Hoàng

photo Truong Trọng Hoàng

Ghi chú: Tôi được mời dự và phát biểu đôi lời với các “bạn trẻ” trong Mạng lưới Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Tp HCM trong buổi tổng kết hoạt đông năm 2016 vào ngày 6.01 vừa qua với tư cách là một… ”già làng”, người đã phụ trách Trung tâm suốt 20 năm và đã về hưu cũng đã hơn 10 năm! Có dịp gặp các bạn bè cũ, đàn em, học trò trong lãnh vực này, tôi đã ”tào lao” một chút, xin chia sẻ nơi đây cùng bè bạn thân quen.

Cảm ơn Bác sĩ Trương Trọng Hoàng đã ghi hình và post lên youtube.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký

Đôi dòng về bài thơ viết cho Trần Hoài Thư, năm 1971

11/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Đôi dòng về bài thơ viết cho Trần Hoài Thư, năm 1971

Đỗ Nghê

tran-hoai-thu Trần Hoài Thư từ xa về, ở tạm nhà tôi mấy hôm để tôi đưa đến Tòa soạn Bách Khoa “coi mắt” người trong mộng đã hò hẹn qua thư. Nàng ở tận miền Tây, mê THT qua thơ văn… Hai người chưa hề biết mặt nhau. Suốt mấy ngày, THT đi vào đi ra nôn nao lắm. Tôi đưa anh đi bằng cái xe vespa cà tàng của tôi nơi này nơi khác, lúc café, lúc bánh cuốn nóng đầu hẻm cho vui, nhưng anh không vui mấy mà có vẻ lo lo. Đi phép có mấy ngày. Thời chiến. Bách Khoa có Lê Ngộ Châu như ông mai, môi giới cho hai trẻ.

Tôi gặp Trần Hoài Thư lần đầu ở Nha Trang, nhà anh Huy Hoàng trên đường Độc Lập. Anh Huy Hoàng có một cửa hàng sách báo, tánh tình cởi mở, vui vẻ, luôn “bao che”, “bọc lót” cho anh em văn nghệ sĩ khắp bốn phương, ai cũng quý mến. Anh lại là một cư sĩ Phật giáo, có tâm Bồ-tát, thường nói với tôi phải luôn sống với tâm từ bi hỷ xả. Sau quán sách của anh là một căn gác nhỏ xíu, như cái chuồng bồ câu, anh em văn nghệ thường làm chỗ họp mặt, đàn hát, ngâm thơ, chuyện trò sôi nổi và nhiều buổi cùng cơm nước với gia đình anh. Tôi gặp Trần Hoài Thư ở đó, gặp Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Sa Mạc, Mang Viên Long, Thanh Hồ ở đó… hình như cả Ngô Thế Vinh, Trần Hữu Ngũ… Đó là những năm đầu thập niên 70, tờ Ý Thức cũng vừa đổi mới, ra bán nguyệt san, in typo đàng hoàng và tôi cũng là một anh em trong Nhóm chủ trương. Tôi nhớ lúc đó đã đăng những bài thơ như Niềm tin chưa mất, Thư cho bé sơ sinh … và cả những bài đọc sách, Thơ điên của Nguiễn Ngu Í, Như cánh vạc bay của Võ Hồng, bài phỏng vấn Nhã Ca, Túy Hồng, Thụy Vũ… đều ký bút hiệu Đỗ Nghê. Tôi đọc THT từ những truyện ngắn, những bài thơ đầu tay của anh và rất mến phục. Anh không làm dáng, kiểu cách thời thượng, mà nó chân thành, đầy cảm xúc… Dĩ nhiên THT cũng đã đọc Đỗ Nghê nên khi gặp nhau đã quá thân quen.

Ở Nha Trang, những ngày đó ngoài giờ làm việc ở bệnh viện, tôi đến gặp anh em ở nhà anh Huy Hoàng và thường chở vespa đưa THT đi ra mấy ki-ốt ở bãi biển, ngồi uống café, bàn chuyện văn chương và nghe sóng vỗ! THT thỉnh thoảng về phép, có khi về không phép, vui chơi đôi lúc với anh em rồi vội vã đi ngay.

Hôm đó đúng hẹn với Y, người trong mộng tại báo Bách Khoa, tôi thấy anh hồi hộp lắm, ăn mặc có chút chải chuốt hơn như chàng rể đi coi mắt vợ. Tôi lấy xe vespa cà tàng của mình đưa anh đến BK và lén bỏ đi ngay cho họ tự do tâm tình mà không có mặt mình. Ai dè lát sau THT về nhà, tiu nghỉu, đầy vẻ thất vọng vì nàng không đến như lời ước hẹn mà cũng không một lời giải thích. Ngay sáng sớm hôm sau, anh “cuốn gói” lên đường, trong một nỗi tuyệt vọng rã rời chưa bao giờ tôi thấy ở một chàng trai “giang hồ” đầy khí phách nơi gió cát như vậy. Tôi không dám có một lời khuyên. Đành đưa anh lên đường và hai bạn vào một quán café góc phố trên con đường Phan Đình Phùng xóm Bàn cờ quen thuộc.

Tôi nhìn anh rít thuốc lá như nuốt hết khói vào trong. Thời chiến. Mùa hè đỏ lửa. Tôi biết anh đi không chắc trở lại. Bỗng dưng tôi viết rất nhanh:

Ta cũng muốn ngâm tràn câu tống biệt
Đưa người đi tiếng sóng ở trong lòng
Nhưng khói thuốc đã cay sè đôi mắt
Có ai còn thổi sáo trên sông…

Trời buổi sáng mù sương lớp lớp
Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời
Và khí phách thôi một thời trẻ dại
Ta nói gì cho bớt chút chia ly…

Rồi đột nhiên không cầm lòng được, tôi bỗng viết tiếp:

Người yêu thương cũng vội vàng lỗi hẹn
Còn gì không hay một thoáng chiêm bao
Ơi cánh chim của mùa xuân lỡ đến
Khoảng trời xanh còn chất ngất xôn xao

Ta bè bạn dám đâu lời can gián
Một giờ yêu cũng đủ một đời vui
Hãy tin tưởng có hôm nào trở lại
Cho trời xanh và mây trắng đẹp đôi…

Rồi tôi quay trở lại với dòng thơ “tống biệt” của mình:

Đưa người ta nâng ly cà phê nhỏ
Rồi quan san rồi bụi đỏ người đi
Rồi khói súng người tập tành nỗi chết
Ta trở về hiu hắt đường khuya

Ta đã nói gì hình như chưa nói
Những dặn dò những hứa hẹn bâng quơ
Rồi người bước đường hoang lạnh quá
Ta đứng nhìn nghe ngày tháng đong đưa…

(Đỗ Nghê, 1971)

Khi in tập Thơ Đỗ Nghê năm 1974 – (Ý Thức xuất bản, ronéo, dành tặng bạn bè anh em – do Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba … thực hiện ở Đà Lạt với hình bìa tranh Nguyễn Trung do Hoàng Đăng Nhuận trình bày, rồi Hoàng Khởi Phong mang xe chở sách về tận Saigon cho Đỗ Nghê) thì tôi đã đăng nguyên 6 khổ của bài Buổi tiễn đưa này, thế nhưng 20 năm sau, khi in lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa, tôi cắt bỏ 2 khổ giữa, vì nghĩ đây là chuyện rất riêng tư, không nên nhắc, có thể khiến THT buồn! Vả lại, bài thơ cắt gọn sẽ cô đọng hơn.

May thay, tôi còn giữ được bản thảo do Lữ Kiều gởi lại cho. Chuột gậm, mối nhấm, nhưng có hề gì! Bản thảo đánh máy trên giấy pelure mỏng, máy chữ Olivetti, cắt dán, phết keo phía sau thời đó trông cứ tưởng như bài thơ bị xóa.

Không đâu, keo hồ đó thôi, phải không Trần Hoài Thư?

Đỗ Nghê
(Đỗ Hồng Ngọc, tháng 12-2016, viết cho Sinh nhật Trần Hoài Thư)

 

tho-do-nghe

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Họp mặt Gia đình Nữ Hộ Sinh 2016

09/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Họp mặt Gia đình Nữ Hộ Sinh 2016

 

Ghi chú: Ngọc Mai, người học trò Nữ Hộ Sinh hơn 30 năm trước, gởi tôi bài phát biểu của tôi trong Ngày Họp mặt thường niên Gia đình Nữ Hộ Sinh năm nay tại Bệnh Viện Từ Dũ vào ngày 4.12.2016 vừa qua để nhờ chỉnh sửa dùng cho Bản tin hàng năm.

Xin chia sẻ nơi đây cùng bè bạn và chân thành cảm ơn Ngọc Mai.

ĐHN.

 

Phát biểu Ngày 4/12/2016 của Thầy ĐỖ HỒNG NGỌC

Tôi đã đến đây dự buổi họp mặt Gia đình Nữ Hộ Sinh nhiều năm, cũng 5 – 6 năm rồi, mỗi năm cảm nhận có sự rơi rụng. Chẳng hạn trước đây thường có mặt Bs Nguyễn Văn Truyền, Bs Nguyễn Lân Đính là những người Thầy đã cùng với tôi giúp cho Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia hồi xưa, bây giờ các anh cũng đã đi xa hết, và một số các chị cũng vắng dần. Chuyện đời “ sinh bệnh lão tử”  là vậy. Nhưng hôm nay đến đây tôi thấy không khí mới lạ hơn những năm trước. Không khí sôi động hơn, văn nghệ hơn, trẻ trung hơn… Không ngờ được nghe chị Thúy Lan ( K7 Huế ) hát, còn hay hơn ca sĩ chuyên nghiệp nữa, rồi hai cô vừa hát bài Về Miền Trung cũng thật bất ngờ dù không “chuyên nghiệp’’ như chị Thúy Lan, nhưng hát với tinh thần rất phấn khởi, vui vẻ, nhiệt tình đáng quý.

Xem hình ảnh trên màn hình tôi ngạc nhiên thấy nhóm GĐNHS sinh hoạt hay quá. Hết lên núi đến xuống biển. Đó là không khí rất đáng mừng cho một hội đoàn , một gia đình mà bây giờ đã mở rộng ra cả nước.

Hôm nay tôi cũng mừng thấy có riêng hẳn một nhóm các bạn NHS Huế. Các bạn văn nghệ giỏi lắm, nếu chúng ta tổ chức được những buổi họp mặt cả nước như vậy thì thật là sôi động, vui tươi.

 

dsc_nhs-4

 

Hôm nay tôi cũng được gặp mấy em sinh viên NHS chừng mười tám, đôi mươi, giật mình, các em nhỏ hơn mình hơn nửa thế kỷ, không ai biết ai cả, còn với các cô các chị NHS lớn tuổi ở đây thì lại rất thân quen.

 

Tôi may mắn năm 1972 vào dạy Trường NHSQG, môn Nhi Khoa. Lúc đó tôi đang là bác sĩ ở bệnh viện Nhi Đồng Saigon. Mỗi năm dạy 40 tiết thôi, không nhiều, nhưng rất thân thiết vì Sản với Nhi đâu có xa cách nhau. Sau năm 1975 tôi được mời tiếp tục dạy cho tới năm 1982 mới nghỉ, nên có sự gắn bó với nhiều thế hệ NHS. Tôi còn nhớ những buổi hỏi thi vấn đáp cùng với Bs Nguyễn Thị Ngọc Phương rất vui. Trong lúc hỏi thi vấn đáp các em, chúng tôi vẫn cho cả lớp tham dự để cùng nghe, coi như một cách ôn tập, nâng cao, mang tính thực tế trong lúc hành nghề, chắc nhiều bạn còn nhớ.

 

Nghề NHS rất lạ, từ hồi chưa có trường đào tạo nghề NHS, người đỡ đẻ được gọi là Cô Mụ. Người ta quý trọng cô Mụ lắm. Nào cô Mụ dạy trẻ cười, cô mụ dạy trẻ khóc, dạy trẻ làm duyên… Chuyện gì cũng đổ cho cô Mụ. Cô Mụ nắn trẻ thành con trai, con gái. Trước đó nữa, trước khi có cô Mụ vườn, người ta cũng biết chạy vô rừng đẻ, ôm gốc cây đẻ, xong rồi bồng đứa nhỏ nhúng xuống nước cho nó khóc thết lên vì lạnh ngắt như bây giờ người ta xịt alcool. Khóc càng to càng tốt.

Ở thôn quê bà mẹ mới sanh còn phải nằm lửa. Vì lúc mang thai, kiêng cử quá đáng, sợ con to, đẻ khó, nên trẻ thường bị sanh thiếu ký, do đó cần ủ ấm. Thế nhưng nằm lửa nhiều lại gây tại hại như ta biết. Mà lạ, ăn uống đơn sơ rau lang bí đỏ, đu đủ… mà sữa rất nhiều.

Bây giờ có nhiều loại sữa nhân tạo ngoài hộp ghi chữ “ sữa có chứa chất tạo thông mình”,làm như hồi xưa chúng ta  không có sữa đó để uống thì ai cũng ngu hết trơn vậy!


dsc_nhs Có nhiều tập tục về hộ sanh ngày xưa rất hay, như ở thôn quê khi sản phụ đẻ khó, lâu, chậm, người ta bắt ông chồng phải nhảy qua nhảy lại cái mương hoặc quậy cái lu nước như để làm trơn tru cho vợ dễ đẻ; có khi ông chồng phải leo lên mái nhà mở mấy cái nút lạt (xưa nhà tranh, nhà lá, buộc bằng những nút lạt) giống như mở toang cửa nhà cho vợ dễ sanh. Những chuyện đó có vẻ “mê tín dị đoan’’ gì đó, nhưng thật ra nó có ý nghĩa về mặt tâm lý. Bà vợ đang đau đẻ nằm trong nhà đang rên, đang đau, vất vả, khó khăn như vậy mà biết có ông chồng thương yêu mình, đang quậy lu nước, leo mái nhà gỡ nút lạt, nhảy qua nhảy lại cái mương… hẳn là trong lòng rất vui, yên tâm có người chia sẻ khó khăn với mình thì việc sanh đẻ trở nên dễ dàng, cũng như bây giờ người ta cho ông chồng vào phòng sanh, nắm tay sản phụ, nói những lời động viện, khích lệ. Có điều bây giờ có khuynh hướng mổ đẻ, nằm máy lạnh… nên ông chồng đành ngồi quán bia chờ vợ sanh thôi! Hồi xưa khi đẻ xong người ta chôn lá nhau, giữ lại một phần cuống rún treo trên nóc bếp (hong khô), bây giờ ta ngạc nhiên thấy cuống rún được lưu giữ để tạo tế bào gốc chữa bệnh!

 

Gần đây những tiến bộ của khoa sinh sản ở Thụy Điển rất hay, hay hơn cả Nhật, Mỹ… là nhờ trở lại với thiên nhiên, thí dụ như: Cho bà mẹ sanh đẻ tự nhiên, không phải nằm trên giường sanh, buộc tay buộc chân… Trong lúc đau bụng có thể ngồi, bò, ôm chân bàn mà đẻ cũng được, miễn sao thoải mái tự nhiên nhất; bất đắc dĩ, có bệnh lý mới phải mổ đẻ. Bé sinh ra được cho nút vú mẹ ngay. Nhờ nút mới có phản xạ tiết sữa.

Vì sanh tự nhiên thì có sự co bóp nhồi nắn của cơn co tử cung rất cần thiết giúp trẻ hô hấp được tốt sau này, khi bé ra khỏi lòng mẹ còn chậm cắt rún để máu được truyền thêm qua cho đứa con.

 

Một điều cũng đáng ngạc nhiên nữa là không biết tại sao bây giờ người ta ngày càng khó có con. Cưới nhau xong rồi bị vô sinh ngày càng nhiều. Hồi xưa nghèo khó hơn bây giờ về vật chất, sao người ta đẻ dễ dàng, đầu năm sanh con trai cuối năm sanh con gái. Có lẽ xưa nhà cửa chật chội chỉ có mỗi một cái giường chung cả gia đình, lăn qua đụng lăn lại đụng thành ra đẻ hoài. Bây giờ nhà cao cửa rộng, vợ một nơi chồng một ngã, muốn găp nhau phải điện thoại trước, lên kế hoạch thành ra trứng rụng cũng khó, tinh trùng ngày càng yếu liệt. Đó cũng là những chuyện chúng ta cần phải để ý để làm sao cho con người càng sống gần gũi với thiên nhiên càng tốt phải không?

 

Tôi có một kỷ niệm nhỏ xin trình bày ở đây nhé. Tôi sẽ đọc một bài thơ tôi đã viết tại bệnh viện Từ Dũ, lúc còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, đi thực tập tại đây.  Thời đó mỗi sinh viên y khoa năm thứ ba phải đỡ đẻ tối thiểu 20 cas không bệnh lý.

Đó là năm 1965, cách đây 51 năm, lần đầu tiên tôi nhận một ca, để chuẩn bị đỡ đứa bé tôi đã làm tròn hết công việc cần thiết rồi, nhưng khi tôi đỡ được đứa bé đầu tiên ra đời mẹ tròn con vuông thì tôi rất xúc động.

Thời đó là thời chiến tranh bắt đầu lan tràn ơ nước ta. Đứng ở phòng sanh Từ Dũ nhìn xuống đường bây giờ là Nguyễn Thị Minh Khai, hồi xưa là Hồng Thập Tự thấy người ta đi lại rần rần, hò hét biểu tình…

Tôi viết bài thơ tựa là “Thư Cho Bé Sơ Sinh”. Tôi như là người anh lớn, ra đời trước bây giờ viết cái thư cho em bé sơ sinh mới ra đời. Bài thơ như vầy.

 

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến!

Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu!

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em…

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận…
Con người…

Đỗ Hồng Ngọc
( BV Từ Dũ, Saigon,1965)

 

Câu chuyện về bài thơ này cũng có nhiều thú vị.

Bài thơ được đăng trên các báo Bách Khoa, Tình Thương… thời đó và in trong tập thở đầu tay của tôi, tập Tình Người, năm 1967. Năm 1973 Bác sĩ Lương Phán xin bài này để đăng trên một tập san y học của ông. Tôi cũng hơi bất ngờ vì lúc đó ông trả nhuận bút cho tôi rất cao, gấp trăm lần các báo khác. Ông bảo tại vì ông thích bài thơ này lắm.

Thú vị là tờ báo y học đó đã lọt vào trong nhà tù. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đang ở tù, đọc được bèn phổ nhạc. Sau năm 1975 ông tìm tôi để tặng tác giả thơ. Ông nói ông định phổ nhạc bài này cho Thái Thanh hát, nhưng bây giờ thời cuộc thay đổi rồi, cất làm kỷ niệm thôi. Sau này đã thấy có người dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp.

Gần đây có cô ca sĩ Thu Vàng hát lại bài hát đó của Phạm trọng Câu. Và mới đây nhạc sĩ Võ Tá Hân ở Mỹ, cũng phổ nhạc và ca sĩ Hoàng Quân hát. Có thể tìm thấy trên youtube.

Không ngờ sau này khi tôi làm việc ở Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Sở Y Tế Tp HCM, có 3 vị bác sĩ ở tỉnh Phú Thọ vào làm việc, một vị tình cờ biết tôi là tác giả bài thơ, mừng rỡ ôm chầm lấy tôi và nói là ở ngoài Bắc sau năm 75 có một người lính mang về cho ông bài thơ này chép tay mà không ghi tên tác giả, năm học nào ông cũng đọc bài thơ này cho học trò lớp Nữ hộ sinh Phú Thọ nghe và nói tác giả khuyết danh.

 

Đó là những kỷ niệm chung quanh bài thơ đã quá xưa rồi, đã 51 năm. Nhưng nó cũng còn giá trị về thời gian, giá trị về kiếp người, xin chia sẻ và cám ơn các bạn đã lắng nghe./.

Đỗ Hồng Ngọc

(Từ Dũ, 4.12.2016)

Thuộc chủ đề:Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc, Thầy thuốc và bệnh nhân, Vài đoạn hồi ký, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

Tối nay “Tiếng hát Thu Vàng”

03/01/2017 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Ghi chú: Tối nay, 03.01.2017, vào lúc 20h, tại quán Cafe CÂY ( 18 Ký Con, P 7, Phú Nhuận) của nhà thơ Song Phạm, có buổi trình diễn của ca sĩ Thu Vàng, một con chim đến từ núi lạ, hát khúc đầu xuân với tràn đầy kỷ niệm… Phạm Duy, Nguyễn Ánh 9, Phạm Trọng Cầu, Cung Tiến, La Hối…

Trong chương trình còn thấy có “Bông hồng cho Mẹ”, thơ Đỗ Hồng Ngọc, Võ Tá Hân phổ nhạc… Thu Vàng cũng đã hát Mũi Né (thơ Đỗ Nghê, Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc):

Dưới đây là bài Hoàng Quốc Bảo giới thiệu tiếng ca Thu Vàng hôm ra mắt CD “Vàng rơi thu mênh mông”. Nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo cũng chính là Nhà sư Không Hư:

Ngũ uẩn phù vân không khứ lai

Tam độc thủy bào hư xuất một…

Rảnh, tối nay ghé nghe Thu Vàng nhé.

Đỗ Hồng Ngọc

…………………………………………………………………………………………………………………………………….

 

Một tiếng hát, một tài hoa, một nhân cách

Không Hư- Hoàng Quốc Bảo

 

THU VÀNG, cái tên nghe quen như tựa một bài hát nổi tiếng của Cung Tiến.  Nhưng ở đây là tên của một tiếng hát.  Tên lạ mà thân quen, nhờ vậy.

Tác phẩm CD đầu tay, là Dạ Khúc phát hành khoảng năm 2013, tập hợp 12 ca khúc chọn lọc rất mực, dành cho giới thưởng ngoạn âm nhạc chuộng nét cổ điển lãng mạn Tây phương:

Nghệ thuật và kỹ thuật, là 2 yếu tố quyết định giá trị của tiếng hát.

Với CD đầu tay Dạ Khúc, những tác phẩm chọn lọc đủ để xác định giá trị nghệ thuật và tài hoa của tiếng hát.  Còn kỹ thuật, giá trị thế nào?

Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú, Thái Thanh, Kim Tước, Hà Thanh, Tâm Vấn, Mộc Lan, Châu Hà, Mai Hương, Quỳnh Giao, Lệ Thu, Khánh Ly là những tiêu biểu của giá trị văn học nghệ thuật và kỹ thuật ca hát.  Trong số đó nhiều người nay đã thành thiên cổ, nhiều tiếng hát đang tàn phai hoặc im hơi với thời gian, tưởng không ai thay thế được nữa.

Nghệ thuật tuyệt vời của Thái Thanh, cả trong kỹ thuật cắn câu nhả chữ, rành rọt chuẩn mực, là một tiêu chuẩn trong cách phát âm tân nhạc VN.  Kim  Tước trong kỹ thuật điều tức, nghĩa là kiểm soát hơi thở, không biết lúc nào cô lấy hơi, hát nhẹ như gió thoảng, là một tiêu chuẩn những người sau khó theo được. Mai Hương, giọng sang cả chững chạc đến nhiều lúc như khô khan là một phát âm chuẩn mực của nữ lưu đất Hà thành còn sót lại, dù không được mượt mà như thân mẫu, nữ nghệ sĩ Kiều Hạnh. Quỳnh Giao, giọng Bắc kỳ mỏng mảnh như  sương khói, mỏng và bạc đến độ người nghe mệt mỏi, căng thẳng, sợ giọng hát sẽ đứt loãng, bốc hơi qua màng nhĩ lúc nào. Nhưng lại điêu luyện và óng ả trong những cách luyến láy, chỉ có đựợc nơi hồn của một Tôn nữ, thầm kín đa tình ẩn giấu cái mượt mà, ở thuở 16, 17 dậy thì, luôn đầy ứ ướt át, ngầm trong lượng nước Hương giang.  Chưa kể đến giọng Huế đặc biệt có một không hai khác của đất thần kinh là Hà Thanh, khiến người bản xứ khi nhắc đến phải dành lấy về một tự hào rất Huế, duy nhất:”Tiếng hát của Huế mình”.  Và đặc biệt càng về già Hà Thanh càng ngọt ngào trong những bản nhạc đạo vị, độc nhất được ví như tiếng chim Ca Lăng Tần Già trong huyền thoại thi vị Phật Giáo.

(…)

Tác phẩm đầu tiên Dạ Khúc của Thu Vàng, trình bày toàn những tác phẩm nghệ thuật, để giới thưởng ngoạn, ý thức mà trân trọng, tự hào.

Tác phẩm thứ 2 của Thu Vàng:  Vàng rơi thu mênh mông. Đó là cái tựa lấy từ câu thơ của Bích Khê, trong bài Tỳ Bà do Phạm Duy phổ nhạc và thực hiện trong thời gian trước khi qua đời.  Tác giả đã mời tiếng hát Thu Vàng trình bày. Từ đó tiếng hát thăng hoa, bài thơ thăng hoa. Từ đó nghệ thuật biến định mệnh thành tiếng hát! như một nhận định sắc gọn của Đặng Tiến.

CD do Duy Cường hoà âm phối khí, càng ngày Duy Cường càng già giặn, tài hoa rất mực trong kỹ thuật hoà âm phối khí. Và giọng hát Thu Vàng, cất lên qua những tác phẩm nghệ thuật trong 2 CD trên, người thưởng ngoạn nhận thấy thấp thoáng kết tinh giữa 3 tiếng hát sang cả hàng đầu Quỳnh Giao, Mai Hương và Thái Thanh. Có những lúc tình tự lai láng dạt dào của Quỳnh Giao thời xuân trẻ; có nhiều lúc vững chãi, nhẹ nhàng sang cả như Mai Hương;  lại lẩn khuất cái kỹ thuật cắn câu nhả chữ, hơi thở nồng nàn, uốn lượn, tràn trề nhựa sống của Thái Thanh, vào cái thời ngọt ngào sung mãn nhất trong khoảng thập niên 60…

Hôm nay, tiếng hát Hà Thanh, Quỳnh Giao vừa nhạt nhoà vào thiên cổ, Mai Hương dường sầu muộn, không còn hát nữa, và Thái Thanh, đang quên quên nhớ nhớ, ở vào cái tuổi 80, quá “cổ lai hy” rồi, dù tiếng hát hôm xưa có là tiếng hát vượt thời gian, nhưng con người không sao vượt được cái hữu hạn sinh lão bịnh tử vây hãm kiếp người.

Nhưng điều hạnh hữu hôm nay, lại xuất hiện một tiếng hát Thu Vàng, tiếp nối được các đàn chị kể trên.  Lắng nghe, ta sẽ thấy, 90 phần trăm nghệ thuật của Mai Hương-Quỳnh Giao và Thái Thanh như đang ẩn hiện.  Một tài hoa kết tinh tự nhiên có một không hai, đến lạ kỳ. Như thu nhiếp cái chung để làm nên cái riêng, làm nên tiếng hát đặc thù cho chính mình.

(HQB)

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Bè bạn cuối năm

30/12/2016 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Bè bạn cuối năm

 

Từ trái: Lê Ký Thương, Nguyên Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh (phoyo Kim Quy)

Từ trái: Lê Ký Thương, Nguyên Minh, Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh.
(photo Kim Quy)

Cũng ngồi ở cafe Đông Hồ thôi. Buổi sáng, trời mát. Hồ nước xanh, um tùm bóng cây. Khá nhiều bông súng và những lá sen lung linh. Cả bọn đều sắp già… khú đế, đều U 80. nói về những chuyện của nửa thế kỷ trước. Những ngày đầu làm báo, kẻ Huế, người Nha Trang, người Phan Rang, Phan Thiết… có chung niềm say mê. Họ làm báo viết tay, rồi báo ronéo, rồi typo, rồi offset… Đó là tờ Ý Thức, bán nguyện san văn học nghệ thuật, một thời đóng đô ở đường Phan Thanh Giản Saigon, nhà chị Mai, chị Nguyên Minh. Nhắc chuyện vì sao nhờ Ds Nguyễn Thị Yến đứng tên làm chủ nhiệm. Đáng lẽ hôm nay có cả Châu Văn Thuận, Sâm Thương, nhưng người bận, người không khỏe. Nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Nguyễn Mộng Giác… Rồi Thư quán bản thảo, rồi Quán Văn. Số tới của QV… chủ đề Nguyên Minh! Minh nhắc nhớ gởi bài sớm cho moa nhe. Rồi anh kể không ngớt những chuyện… tình, những mối tình ”platonique”, chuyện lên đồng ở bờ sông đến chuyện rạp hát, ôi đủ thứ mà toàn rất lành mạnh. Kể chuyện thiệt mà như ”hư cấu” mới nguy!

Số Ý Thức đầu tiên do Lê Ký Thương kẽ manchette. Chàng cũng là người mang báo đi bán…dạo với NM. Hôm nay, lần đầu thấy Thân Trọng Minh mới ít nói, chịu ngồi im nghe NM kể, chỉ thỉnh thoảng đính chánh chút xíu! TTM biết nhiều quá chuyện của NM nên khi hai chàng ai cũng cho mình… có trí nhớ tốt nhất thiên hạ thì đều đáng ngại!

Mình chỉ nhớ những ngày đầu của Ý Thức, tòa soạn ở đường Phan Thanh Giản (1970). Và nhớ nhất là chuyện mười năm trước, NM bị vố bệnh nặng, nằm bệnh viện HM đã tính mang về lo hậu sự. Mình vào thăm, nói với Giám đốc vốn là một người đàn em, học trò: Đây là nhà văn Nguyên Minh, bạn thầy đó em ơi!  Vậy mà hiệu nghiệm ngay. Sau này mình đùa NM lùn tẹt, nhỏ con nhất trong bọn (được gọi là Minh con ) nhưng lòng thì rộng mà gan thì to, sắp sửa đưa lên bàn mổ như Tống Giang, Cập Thời Vũ, Tống Công Minh trong Thủy Hử, than lên một tiếng, vậy mà mọi việc trở nên tốt đẹp!…

Những ngày nghỉ Tết tây, TTM lên núi, ĐàLat; ĐHN xuống biển, Lagi Phan Thiết; NM và nhóm bạn đi Đà Nẵng, về Huế kỷ niệm một năm Đinh Cường.

Mấy ngày này gặp nhiều bè bạn phương xa. Huy Tưởng từ Úc về thăm nhà, gặp nhau một bữa ở FaiFo, cùng Phan Nguyễn EE, rồi Trịnh Y Thư mang mấy tập thơ Khánh Minh, rồi Cái Trọng Ty… rôm rả thiệt vui.

Hôm qua cũng vừa họp mặt với Quang-Minh, Thanh và Tôn nữ Thu Thủy, Thương-Quy, Ngọc-Bích rất vui, hôm nào kể tiếp nghe.

Vui khỏe luôn nhé,

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Vài đoạn hồi ký

Tái bản “Nhớ Đến Một Người”

29/12/2016 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

nho_den_mot_nguoi-01

Thư gởi bạn xa xôi,

Đây là hình bìa của cuốn Nhớ đến một người sắp tái bản đó bạn ơi. Nhiều người cứ nghĩ chắc Đỗ Hồng Ngọc đang nhớ đến một ai đó… và tò mò hỏi ai vậy? ai mà nhớ hoài nhớ hủy vậy?

Thiệt ra, “nhớ đến một người” là “để nhớ mọi người” (TCS) đó. Hà Nội mùa thu cây cơm nguội vàng cây bàng lá đỏ nằm kề bên nhau… và chim sâm cầm nhỏ, gánh cốm làng Vòng… thơm bước chân qua. Cũng như nhớ ngôi nhà ở đường Huỳnh Đình Hai, Bà Chiểu của Trần Văn Khê, mà mỗi tối thứ bảy có một buổi nói về âm nhạc, rồi căn nhà tuềnh toàng trong ngôi vườn lưa thưa bên bờ kênh cạnh Cầu Rạch Miểu của Trang Thế Hy, cơn đau tim tái phát của Nguyễn Bắc Sơn…

Vậy đó, có biết bao người để nhớ phải không. Cuốn sách in lần đầu, mới mấy năm tthôi, bây giờ đã vắng Dương Cẩm Chương, Trần Văn Khê, Trang Thế Hy, Nguyễn Bắc Sơn… nhưng mình thấy không cần phải thêm bớt chữ nào, cứ như hãy còn đó, tất cả, trên từng trang sách…

Vì thế, sách lại được tái bản,

bởi bạn đọc vẫn còn tìm đến…

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(29/12/2016)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Buổi Nói chuyện với các bạn trẻ ở Chùa Giác Ngộ 25.12.2016

26/12/2016 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Nhận lời mời của Thương tọa Thích Nhật Từ chùa Giác Ngộ, quận 5 Tp HCM, sáng ngày 25.12.2016 mình có buổi Nói chuyện hơn 90 phút với các bạn trẻ về một chủ đề mở rộng trong Chuyên mục có tên là “Gương Sáng” của chùa. Có hơn 600 bạn trẻ trong một khóa tu có mặt và không ít các người lớn tuổi cũng đến tham dự. Sau buổi nói chuyện, mình mới được gặp họ: có bạn là bác sĩ về hưu, là nữ hộ sinh, là sinh viên y khoa, có bạn bên nhóm Công tác xã hôi của Chị Nguyễn Thị Oanh, nhóm báo chí…

Nghe Ban tổ chức nói buổi Nói chuyện được ”live stream” cho các bạn ở xa có thể cùng lúc theo dõi trên Facebook và đưa lên youtube thế nào đó. Mình dốt đặc vụ này nên chả biết nó ra sao. Có điều, lên Youtube thì đã thấy có bản này xin chia sẻ cùng bạn.

Hơi tiếc là không có nhiều thời gian để giới thiệu các bài hát ”Thư cho bé sơ sinh” và ”Bông hồng cho mẹ” do nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc cũng như bài Mũi Né do Hoàng Quốc Bảo phổ nhạc qua tiếng hát Thu Vàng. Thôi để dịp khác vậy.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

”Thư cho bé sơ sinh” Nhạc Võ Tá Hân, thơ Đỗ Hồng Ngọc, tiếng hát Hoàng Quân.

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 23
  • Trang 24
  • Trang 25
  • Trang 26
  • Trang 27
  • Interim pages omitted …
  • Trang 42
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email