Thư gởi bạn xa xôi,
Nguyễn Xuân Thiệp (phovanblog) gởi mình trang thơ trên báo Trẻ Dallas giới thiệu vài bài thơ ngắn trong tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê sắp phát hành, xin chia sẻ cùng bạn nơi đây:
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
ĐỖ HỒNG NGỌC (Đỗ Nghê)
* Lê Ngọc Trác
Cô đọng, đầy đủ ngữ nghĩa, giai điệu nhẹ nhàng, cuốn hút, nội dung thể hiện chủ đề của bài thơ, gợi mở cho người đọc suy nghĩ về một không gian kỷ niệm, gần gũi trong cuộc sống. Đó là một bài thơ hay:
“…Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay xuân về
Vỡ òa ngưc biếc!”
(Trích “Gió bấc” của Đỗ Hồng Ngọc)
Những ai đã từng sống ở miền cực Nam Trung bộ hay ở phố biển La Gi tỉnh Bình Thuận đều có chung một cảm nhận: “Gió bấc” ở miền quê này là lúc đất trời chuyển sang mùa, Tết đến, xuân về với quê hương và con người. Thời gian đi được tính bằng nhịp sóng vỗ bờ. Và gió, gió bấc cũng là nhịp mùa đi của đất trời. Gió là những lằn roi của cuộc đời. Gió là tín hiệu của mùa xuân vui… Những người dân quê hương La Gi chúng tôi đã từng yêu những câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc gắn bó với quê hương như thế.
Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc còn có bút danh là Đỗ Nghê. Anh sinh năm 1940. Đỗ Hồng Ngọc là niềm tự hào của quê hương La Gi và dòng họ Đỗ, một trong bốn dòng họ (Huỳnh, Đỗ, Từ, Nguyễn) sinh sống và gắn bó với La Gi từ thời mở đất lập làng thời xa xưa. Lúc sinh thời, Châu Anh – Đỗ Đơn Chiếu thường nói về Đỗ Hồng Ngọc – người cháu thân yêu của mình với những tình cảm trìu mến: Chúng tôi nhớ nhất là tiếng cười hào sảng nhắm tít đôi mắt đờ mi của ông khi ông đang nhắc chuyện gì sảng khoái nhất. Đỗ Hồng Ngọc bước vào con đường văn chương khi còn đang theo học Đại học Y khoa những năm 60 của thế kỷ trước. Trước năm 1975 thơ của anh đã có chỗ đứng trên thi đàn miền Nam. Nhà văn học giả Nguyễn Hiến Lê đã từng viết về Đỗ Hồng Ngọc: “Một bác sĩ, lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị…”.
Theo dõi cuộc đời và sáng tác của Đỗ Hồng Ngọc, chúng ta vừa ngạc nhiên vừa cảm phục sức lao động và sáng tạo của anh. Từ năm 1967, Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản thi phẩm: “Tình Người”. Từ đó đến nay, anh đã viết và xuất bản rộng rãi gồm 5 tập thơ: Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh…(2010). Bên cạnh anh còn xuất bản các tập văn và tùy bút được đông đảo bạn đọc yêu thích như: Gió heo may đã về (1997), Già ơi chào bạn (1999), Những người trẻ lạ lùng (2001), Cành mai sân trước (2005), Nghĩ từ trái tim (2003), Thư gửi người bận rộn (2005), Như thị (2007)…
Ngoài ra, Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều đầu sách về y khoa; “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” là cuốn sách gối đầu giường của nhiều đôi vợ chồng trẻ gần 50 năm qua.
Đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, người đọc vừa thích thú, vừa ngạc nhiên trước sự đổi mới phong cách và bút pháp của anh. Cách đây gần 3 năm, chúng tôi tình cờ đọc trên trang cá nhân của nhà văn Nguyễn Nghiệp: 4 câu thơ của chính Đỗ Hồng Ngọc viết trên giấy sổ tay đã được chụp hình:
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông”…
(2012)
Đọc xong 4 câu thơ ngắn chỉ với 20 từ, lòng chúng tôi rung lên như bị chạm điện, thốt lên: Tuyệt tác! Chúng tôi thầm nghĩ, với 4 câu thơ trên của Đỗ Hồng Ngọc là đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca. Anh đã đặt một dấu son ngời sáng cho con đường sáng tạo thi ca của mình. Có lẽ một bài văn viết nhiều trang chưa chắc đã vượt qua được 4 câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc về tình mẫu tử. Một bài thơ ngũ ngôn chỉ với 4 câu mang chủ đề “Bông hồng cho mẹ” trong mùa báo hiếu sẽ bay xa, vươn cao, làm lay động tâm hồn biết bao người yêu thơ trong chúng ta. Ai cũng có mẹ và trong chúng ta ai cũng là người con có hiếu. Với vỏn vẹn 4 câu thơ, Đỗ Hồng Ngọc đã nói lên được “cõi người” và tấm lòng của những người con trong cuộc đời. Nhiều nhà phê bình văn học đã từng đề cập 4 câu thơ trên với nhiều cung bậc, và cho rằng thơ Đỗ Hồng Ngọc đượm tư tưởng Phật giáo. Riêng chúng tôi xem đây là tuyệt chiêu của Đỗ Hồng Ngọc. Làm thơ cũng như làm những công việc khác trong cuộc sống. Một người thợ mộc lành nghề đục đẽo những lỗ mộng, đường nét tinh xảo. Một bác sĩ tận tâm với nghề, có bàn tay vàng khi phẫu thuật cho người bệnh không có vết sẹo, chỉ để lại những hoa văn tuyệt đẹp trên cơ thể người bệnh. Chỉ với 3 điều: Chân, Thiện, Mỹ. Ai làm được và đạt được 3 điều trên sẽ thành công. Làm thơ cũng như thế. Đọc xong một câu thơ, người đọc nhớ mãi là thơ hay và nhận ra tác giả là một người tài hoa.
Từ thi phẩm “Tình người” năm 1967 đến năm 2017, Đỗ Hồng Ngọc có “Thơ Ngắn Đỗ Nghê“. Người yêu thơ đều nhận ra: Đỗ Hồng Ngọc sáng tạo không ngừng, tạo ra nét riêng trong thơ của mình và thu hút được đông đảo người yêu thơ. Đỗ Hồng Ngọc viết cô đọng, từ ngữ bình dị. Không lên gân, không hô hào sáo rỗng. Thơ của anh không bi lụy hay cay cú bất cứ điều gì. Đỗ Hồng Ngọc viết một cách chân thật về những điều bình dị trong cuộc sống mà lay động đến con tim người yêu thơ. Anh không triết lý lộ liễu. Thơ của anh bên trong những câu chữ bình dị làm cho người đọc tự cảm, tự hướng đến một chân trời mênh mông mới. Chúng tôi không dám triết lý cao xa, chỉ nhận ra giữa Đạo và Đời không có khoảng cách trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả rất đời, an nhiên, đầy ắp tình cảm trong cuộc sống. Là những người đọc bình thường, chúng tôi biết: Những nhà thơ tài hoa và Đỗ Hồng Ngọc viết những câu thơ từ trái tim mình. Chúng tôi cảm nhận thơ bằng trái tim mình. Xin phép được trích tản mạn những bài thơ ngắn của Đỗ Hồng Ngọc, để bạn đọc yêu thơ tự đọc, tự cảm, như thế thú vị hơn!:
“Sóng
quằn quại
thét gào
Không nhớ
mình
là nước”.
(Sóng)
“Nước từ đâu đến
Nước trôi về đâu
Từ con suối nhỏ
Từ dòng sông sâu
…
Từ cơn gió thoảng
Từ làn mây trôi
Từ hơi biển mặt
Từ phía mặt trời
…
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu…”
(Nước)
“Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”.
(Thở)
Khi đang viết bài viết tản mạn này, chúng tôi chợt nghe cơn gió bấc ùa về với phố biển La Gi. Trong cái lạnh của những ngày cuối năm, chúng tôi chợt nhớ đến những câu thơ Đỗ Hồng Ngọc viết về quê nhà:
Biển xanh lùa sóng bạc
Cát vàng hoàng hôn xưa
Tiếc em về chốn cũ
Tình vương đến bao giờ
Tiếc đời phơ tóc bạc
Thương mãi núi mây xa
…
Nụ mai vàng trước ngõ
Góc phố bờ quạnh hiu
Con đường xưa đứng đợi
Ta làm chi đời ta
Thương em còn thương mãi
Nắng vàng thơm quê nhà”.
(Trích: “Quê nhà“)
Chúng tôi nghe “nắng vàng thơm quê nhà” trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Nắng. Gió. Thấm đẫm yêu thương trong cuộc đời này khi mùa xuân đang đến gần với con người và đất trời…
(Lê Ngọc Trác)
(Phố biển La Gi 20/12/2017)
Thư gởi bạn xa xôi (12/2017)
Lâu quá phải không? Thiệt ra cũng có nhiều chuyện để kể bạn nghe lắm. Mà lười. Bệnh ”Làm biếng” ngày càng nặng. May nhờ có internet mà vẫn biết được tình hình bè bạn các nơi. Được xem mấy bức chân dung Nguyệt Mai, Duyên cho Trương Vũ vẽ tuyệt đẹp, đúng như bài thơ của Phạm Cao Hoàng: vẽ tâm hồn bạn. Nhưng nghe ”nghề làm người mẫu” cũng khổ, mỗi sitting cả 3 tiếng đồng hồ, mà nhiều lần như vậy mới xong. Vậy người mẫu phải tập thiền chăng? Rồi nghe nhạc sĩ Vĩnh Điện đã ”rửa tay gác đàn” (theo lời kể của Ngọc Vân trong “gánh hát” vừa có bài thơ Vườn Xưa do Vĩnh Điện phổ nhạc). Vĩnh Điện cùng… tuổi với mình, đã phổ nhạc bài Mới Hôm Qua Thôi nhớ không? Thu Vàng cũng đã bay qua họp mặt với các bạn. Chương trình Thu Vàng và các bạn xa xôi nghe xôm quá. Thiệt vui.
Thôi, gởi vài tấm hình, kèm ”tào lao” mấy dòng chú thích cũng đủ phải không.
Nguyệt Mai về thăm mẹ đâu giữa tháng 10. Nghe nói mẹ NM gần 90, có con về bỗng đi đứng hoạt bát chớ không nằm đừ một chỗ như mấy tuần trước đó! Hay quá. Bạn bè gặp NM ai cũng vui. Một ”cô bé” hồn nhiên rất mực, chẳng thấy nét thời gian. Hẹn nhau ở Đường Sách, rồi cùng gặp một bữa ”linh đình” ở nhà Thân Trọng Minh/ Thanh Hằng. Với Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Thu Vàng, Lê Ký Thương, Kim Quy, Đỗ Hồng Ngọc, Ngọc Vân, nói chung gần đủ cả ”gánh hát”, chỉ thiếu Duyên / Tùng, Khánh Minh… Lẽ ra có cả Hoàng Quốc Bảo mà chàng bận đi thu nhạc không kịp về.
Buổi ”văn nghệ bỏ túi” tại nhà Thân Trọng Minh.
Từ trái: Huyền Chiêu, Thu Vàng, Ngọc Vân,TTMinh, ĐHNgọc, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Kim Quy, Nguyệt Mai. Thu Vàng ôm đàn hát mấy bài, kể cả bài HQB phổ thơ TTM, ĐHN, rồi Huyền Chiêu, Ngọc Vân cùng… thi ca. Nhìn kỹ, sẽ thấy có mấy chai rượu nặng, mà chỉ có TTMinh và KĐ cụng ly nên có vẻ buồn, bởi ĐHN và LKT chỉ cụng… trà đá! Tiếc HQB chưa về kịp.
Cái ”chuồng cu” tòa soạn Quán Văn của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, TKTS, thầy cò, thợ xếp chữ, thợ nhà in, lon-ton… Nguyên Minh coi vậy mà hay, là nơi quy tụ quần hùng khắp nơi hội ngộ. Nguyên Minh vừa làm chuyến Bắc du về nên vung tay kể chuyện tíu tít. Nghe nói chuyến đi rất thành công.
Từ trái: Hoàng Quốc Bảo, Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Thân Trọng Minh, Hiếu Tân, Lê Ký Thương, Kim Quy. Lúc sau thì có cả Elena, Trương Văn Dân, Nguyễn Sông Ba…
Hôm đó tình cờ cũng là hôm Nguyên Minh đang in thử vài trang Bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” vừa được Lê Ký Thương layout rất độc đáo xem sao!
Cũng ngộ. Năm 1967, mình đang còn là sinh viên y khoa, đã in tập thơ đầu tay Tình Người, thơ Đỗ Nghê, do người bạn cùng lớp là Lữ Kiều Thân Trọng Minh trình bày bìa. Đúng nửa thế kỷ sau, 2017, in tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê do họa sĩ Lê Ký Thương, người bạn cùng nhóm Y thức layout và trình bày bìa. Quả là rất thú vị khi hôm nay cả Đỗ Nghê, Lữ Kiều, Lê Ký Thương cùng gặp nhau nơi đây!

Mấy bạn trẻ của nửa thế kỷ trước đang hì hục in thử vài trang bản thảo Thơ Ngắn Đỗ Nghê coi chơi: Nguyên Minh gò lưng trên máy, Lê Ký Thương… giám sát!

Những tập thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) từ Tình Người(1967) đến Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017): Thơ Đỗ Nghê, Giữa Hoàng Hôn Xưa, Vòng quanh, Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác…
Phải nói thêm rằng tập Thơ Đỗ Nghê 1974 cũng do nhóm bạn thực hiện ở Đà Lạt: Lữ Kiều, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba… với tranh bìa Nguyễn Trung, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận trình bày. Tập thơ do Hoàng Khởi Phong mang từ Đalat về Saigon cho Đỗ Nghê thời đó. Mới tìm thấy cái bìa, ở bìa bốn, chữ viết tay của Lữ Kiều, giới thiệu các tác phẩm do Ý Thức sắp xuất bản, có Hoàng Khởi Phong, Trần Hữu Lục, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương, Thụy Văn, Lữ Kiều, Nguyễn Mộng Giác… Ơi, một thời để nhớ!
Mấy hôm sau lại có dịp họp mặt cùng nhà thơ Ý Nhi, Nguyễn Tường Giang, Nguyệt Mai, Hoàng Quốc Bảo… ở nhà Lê Ký Thương. Ái chà, chuyện vãn nổ như bắp rang… nhất là có 3 tay y khoa cùng thời là Nguyễn Tường Giang. Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc!
Nguyễn Tường Giang, bạn nhớ không? Bác sĩ Giang là con của nhà văn Thạch Lam, Gió đầu mùa và Hà Nội băm sau phố phường… đó mà! Anh cũng là một nhà văn, nhà thơ…

Và mọi người không quên chụp chung cái hình kỷ niệm: Nhà thơ Ý Nhi đứng giữa, sau Thu Vàng.(hình Thân Trọng Minh)
Vậy đó. Định viết mấy dòng thôi mà cũng hơi nhiều rồi đó nhé.
Hẹn thư sau,
Đỗ Hồng Ngọc.
Nguyễn Thánh Ngã
THỨC GIẤC
[Đọc bản thảo Thơ Ngắn Đỗ Nghê)
Đọc: “Giữa đêm/ thức giấc/ giữa ngày”, như cái hang hun hút. Tôi trôi tuột vào đó như cơn mơ huyền mặc. Thơ ngắn ư? Sao ngươi dài quá vậy?
Người bị cuốn trôi vào đó không có đường ra. Quả thật, cõi Đào Nguyên của thơ không dễ mở cửa cho người.
Cánh cửa “Vô môn” ấy chính là công án thiền của Đỗ Nghê.
Giữa đêm, cái thức rơi xuống một địa tầng khác. Cõi ấy là giữa ngày. Ta ngô nghê ngỡ là thực, nhưng cảnh giới ấy có khi đã…ngàn năm!
Hành giả chợt hoát ngộ.
Và cơn mộng…
Sóng quằn quại/ thét gào/ không nhớ mình là nước…
Ta chính là con sóng trườn qua cơn mộng ấy…quằn quại khổ nhục, thét gào vô vọng chính vì không hiểu mình là gì!
Đau đớn thay phận sóng. Câu than vãn nào hơn thế, hỡi nước?
Quyền năng của thơ là hãy thức dậy cái phận chữ bèo bọt…
Tôi muốn nói đến thơ ngắn của Đỗ Nghê làm sụp đổ mọi hệ lụy, mọi bến bờ thành quách…
Đừng hỏi, vì ta không nỡ hỏi:
Nước từ đâu đến
Nước trôi về đâu
Và đừng lý giải, vì ta không biết lý giải:
Từ con suối nhỏ
Từ dòng sông sâu
Từ khe núi lở
Từ dưới nhịp cầu
Từ cơn thác lũ
Từ giọt mưa rơi
Bởi tất cả chỉ là trò đùa trong một con chữ đìu hiu:
Con đường xưa đứng đợi
Ta làm chi đời ta…
Con đường xưa tạo nghiệp. Ta đã đi, và ta đã tạo tác. Từ u mê đến các vọng nghiệp. Ngỡ như không mà tràn đầy các pháp. Ta lạc chốn Đào Nguyên mộng, khó bề trở lại, thì đành rằng:
Sông ơi cứ chảy
Chảy khắp châu thân
Chảy tràn ra mắt
Chảy vùi bên tai
Ôi! Xác thân ta là một dòng sông, nước tứ đại chảy ra nhãn nhỉ tỷ thiệt thân ý… Rồi thấy biết:
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Vâng, “thấy biết” là cách nói của Đỗ Nghê thi sĩ, khi con mắt nghệ thuật trộn lẫn với cái nhìn đạo pháp:
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau…
Trong tinh thần vô ngã, thấy biết chẳng phải của mình. Một hơi thở có thể chạm tới cả nghìn năm sau. Đó là cái nhìn giác ngộ:
Tham chẳng còn
Sân cũng hết
Si đã tuyệt
Nhưng cuối cùng rồi:
Niết bàn
Tịch diệt
Để làm chi?
Pháp nhãn tạng nào cho chúng ta thấy Niết bàn, thấy tịch diệt? Và câu hỏi lớn đã ra đời: Để làm chi?
Chúng ta hỏi Để làm chi suốt cả hai ngàn năm rồi. Và để làm chi không có câu trả lời. Như một công án mở, câu trả lời chỉ để làm cho chúng ta, những con mắt trần gian thức giấc…
Đà Lạt tháng 11.2017
N.T.N
Trường thuốc Sài Gòn ngày tháng cũ
06:33 AM – 26/11/2017 Thanh Niên
Đi ngang góc đường Võ Văn Tần – Lê Quý Đôn (TP.HCM) ai cũng biết số nhà 28 Võ Văn Tần là Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, nhưng ít người rõ nơi này ngày xưa là chùa Khải Tường, được lập theo lệnh vua Minh Mạng để ghi dấu tích nơi ngài chào đời và sau đó là Trường thuốc Sài Gòn.
Trường Y khoa Đại học đường tại số 28 đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần ẢNH: T.L
Nơi tập hợp những giáo sư cự phách
Người Pháp đã chiếm ngôi chùa để lập đồn lính. Đến tháng 12.1860 viên đại úy Barbet, chỉ huy trú đóng, bị nghĩa quân phục kích giết chết. Khoảng năm 1947 thì số nhà 28 này tấp nập sinh viên (SV) trường thuốc. Trường thuốc ngày xưa mang tên Y Dược hỗn hợp Đại học đường (Faculté mixte de Médecine et de Pharmacie) được thành lập sau Hiệp định Genève. Trước năm 1947, đây là chi nhánh của Trường Y khoa Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương đặt ở Hà Nội.
Trường thuốc y dược hỗn hợp này ít được biết đến vì chẳng có ngôi trường to đùng như bây giờ. Trường thuốc ngày ấy được đặt trong một tòa nhà cũ kỹ, trước kia là nhà của một bà bác sĩ, lùi mình vào giữa một sân rộng với rào cây xanh tươi, mang số 28 ở góc đường Testard – Barbet một vùng yên tĩnh, ít ai qua lại. Vì trường đặt trong một ngôi biệt thự, chẳng cải tạo lại nên giảng đường là những phòng nhỏ bé, chật hẹp.
Bài phóng sự Trường thuốc Sài Gòn của báo Đời Mới (năm 1959) cho biết: “Chỉ có ba gian ở tầng lầu trên dùng cho cả hai trường y dược nên nhiều khi không đủ, SV phải đi học nhờ ở những nơi khác như Viện Pasteur, ở phòng thí nghiệm vật lý học đường hay ở ngay nhà xác Chợ Rẫy khi học giải phẫu. Tại trường, lớp học chỉ vừa đủ để chứa một ít SV nên mỗi năm vô thêm người là cả vấn đề. Lúc sơ khai, nhà trường đóng những bàn nhỏ vừa cho hai người ngồi. Gặp phải “nạn nhân mãn”, ông viện trưởng nghĩ ra một diệu kế là cưa ngay mặt bàn làm hai theo chiều dài để tăng số bàn gấp đôi…”. Các “ông thầy” Nguyễn Chấn Hùng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Đông A, Ngô Thế Vinh, Trương Thìn…. thuở SV chắc đã từng ngồi trên những cái bàn này?
Dù nhỏ và chật hẹp như vậy nhưng vào đầu năm 1960, Trường Y Dược hỗn hợp có một dàn giáo sư (GS) cự phách. Được biết đến là GS Khoa trưởng Phạm Biểu Tâm, Phụ tá khoa trưởng là GS Ngô Gia Hy và 83 GS – bác sĩ (BS) Việt lẫn nước ngoài như GS Trần Quang Đệ, GS Nguyễn Đình Cát, GS Trần Ngọc Ninh, GS Nguyễn Ngọc Huy, BS giảng sư Trần Lữ Y, Bùi Duy Tâm, Nguyễn Phước Đại… Khoảng đầu thập niên 1960, Trường Y Dược hỗn hợp tách ra và đổi tên thành Y khoa Đại học đường.
Thời nào cũng vậy, mộng ước của cha mẹ của các cô gái là kiếm được chàng rể “BS, kỹ sư” cho nở mày nở mặt với thiên hạ. Tôi thì không dám mơ trở thành BS vì chỉ ham chuyện văn chương còn những thằng bạn tôi, khi còn học trung học đã mơ đời BS nên từ khi lên lớp đệ tam (lớp 10) đã chọn ban A để dễ dàng thi lấy chứng chỉ SPCN (Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles) hoặc chứng chỉ sinh lý – sinh hóa. Khi có chứng chỉ này được xem như vào lớp dự bị y khoa. SV phải vượt qua kỳ thi tuyển vì sĩ số có hạn. Niên khóa 1971 – 1972, 952 thí sinh dự thi nhưng chỉ có 203 người vượt vũ môn (trong đó 65 nữ SV). Sau 6 năm học tập và thực tập tại các bệnh viện (chưa kể năm dự bị), SV được xem là y sĩ và có thể hành nghề tại các bệnh viện. Nhưng nếu muốn có được bằng BS y khoa, y sĩ phải trình một luận án trước một hội đồng gồm 5 thành viên. Bằng BS y khoa do trường y khoa cấp được xem là tương đương với văn bằng y khoa nước ngoài.
GS Phạm Biểu Tâm nói chuyện với SV tại tòa nhà số 28 đường Testard, sau đổi lại là Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần) ẢNH: LIFE
Ngôi trường mới của thầy thuốc
Ngày 9.5.1963 là ngày đặt viên đá đầu tiên xây dựng trung tâm giáo dục y khoa (TTGDYK) tại đường Hồng Bàng (Chợ Lớn), nay là Đại học Y Dược TP.HCM, với thiết kế của công ty kiến trúc Mỹ Smith, Hinchman&Grylls và đoàn kiến trúc sư VN do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ hướng dẫn. Bắt đầu từ năm 1961, hai bên đã cộng tác để thiết lập đồ án kiến trúc nói trên. Khoảng tháng 6.1962, hai bên đã hoàn thành đồ án xây cất TTGDYK với đầy đủ các chi tiết. Trường có nhiều phòng thí nghiệm, những giảng đường với 200 chỗ ngồi, một đại thính đường với 450 chỗ ngồi, một thư viện 200 chỗ ngồi, một quán cà phê và một bệnh viện y khoa. Với cơ sở lớn như vậy, hằng năm chỉ có độ 200 BS y khoa và 50 nha sĩ tốt nghiệp.
Sau ba năm xây dựng, ngày 16.11.1966, chính quyền Sài Gòn đã làm lễ khánh thành TTGDYK với kinh phí xây dựng là 150 triệu đồng. GS Phạm Biểu Tâm đã đọc một bài diễn văn khai mạc trong đó có đoạn đáng chú ý: “Trung tâm này sẽ xứng danh là một TTGDYK vào bậc nhất nhì vùng Đông Nam Á”.
Sau này, trường được gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Trong gần 10 năm cộng tác giữa hai phía, trường đã hợp tác chặt chẽ với 20 bộ môn của 19 trường y tại Mỹ. Ngoài việc 140 giảng viên VN được huấn luyện tại Mỹ từ 6 tháng đến 6 năm, phía Mỹ đã gửi đến VN lượng sách, báo đồ sộ cho thư viện và một lực lượng ban giảng huấn hùng hậu với 171 giảng viên, trong đó 22 chủ nhiệm bộ môn, 37 giảng viên hợp tác dài hạn, 112 hợp tác ngắn hạn, với những tên tuổi lớn của y khoa Mỹ lúc bấy giờ. Từ ngôi trường y khoa này, xuất hiện một loạt BS tài ba, những GS – tiến sĩ y khoa đầu ngành nổi tiếng tại VN hiện tại. Nhiều thế hệ BS kế tục, đã và đang được đào tạo bởi các GS-BS thi đậu vào TTGDYK năm đầu tiên.
Năm 1976, các trường Y khoa Đại học đường Sài Gòn, Dược khoa Đại học đường Sài Gòn, Nha khoa Đại học đường Sài Gòn và Trường Đào tạo cán bộ y tế miền Nam hợp nhất thành Trường đại học Y Dược TP.HCM trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế.
Từ năm 1947 đến nay, 70 năm qua, Trường đại học Y Dược TP.HCM ngày càng phát triển, cũng nên nhớ lại địa chỉ 28 Võ Văn Tần – nơi xưa kia đã có một trường đào tạo những sinh viên trường thuốc “sẽ săn sóc miễn phí cho người nghèo và không bao giờ đòi hỏi một thù lao quá đáng so với công việc làm” (trích lời thề Hippocrates do BS Nguyễn Đình Cát dịch).
Lê Văn Nghĩa
(báo Thanh Niên)
…………………………………………………………………………………………
Trường Đại học Y khoa Sài Gòn
Trường Đại học Y khoa Sài Gòn là trường đại học đào tạo bác sĩ y khoa của Việt Nam Cộng hòa. Đây là một phân khoa đại học của Viện Đại học Sài Gòn.
Trường Đại học Y khoa đầu tiên ở Việt Nam là Trường Y khoa Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université de l’Indochine) đặt ở Hà Nội. Năm 1946 mở thêm một trường phụ thuộc ở Sài Gòn với tên Faculté de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, Section de Saigon. Sau Hiệp định Genève năm 1954, cơ sở và nhân sự được dời từ ngoài Bắc vào Sài Gòn dưới tên mới: Faculté de Médecine et de Pharmacie, Université de Saigon. Đó là khởi điểm của trường Y khoa riêng của Sài Gòn. Khoảng 2/3 sinh viên y khoa Hà Nội cùng các giáo sư cũng di cư vào Nam tăng sĩ số và giảng viên.
Trụ sở của trường là số 28 đường Testard gần góc với đường Barbé (sau năm 1955 đổi là Trần Quý Cáp và Lê Quý Đôn). Đó nguyên là đất cũ của ngôi chùa Khải Tường lịch sử. Sang thời Pháp thuộc chùa bị phá. Lấp lên trên nền chùa cũ là biệt thự tư gia. Năm 1940 nữ bác sĩ Henriette Bùi, mở dưỡng đường sản phụ khoa ở đó. Bà là nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam, cũng là con gái của nghị viên Bùi Quang Chiêu, một nhân vật chính trị quen thuộc ở Nam Kỳ. Bà đã hiến biệt thự cho chính phủ để trường có nơi hoạt động.
Năm 1955 Bệnh viện Bình Dân được lập để làm nơi thực nghiệm giải phẫu, bổ túc thêm cho Bệnh viện Chợ Rẫy. Năm 1956 thì mở Bệnh viện Nhi đồng trên đường Sư Vạn Hạnh; đó là cơ sở y tế đầu tiên tại Việt Nam dành riêng cho nhi khoa.[4] Cùng năm đó Trường mở riêng Cơ thể học Viện ở đường Trần Hoàng Quân, cạnh Bệnh viện Hồng Bàng.
Tháng Tám năm 1961, Trường tách Y khoa và Dược khoa làm hai. Năm 1963 thì tách Nha khoa ra khỏi. Cũng vào những năm này các giáo sư người Pháp lần lượt giải nhiệm và ban giảng huấn chuyển qua tay người Việt. Năm 1962 là năm cuối cùng bằng Bác sĩ Y khoa của Viện Đại học Sài Gòn được công nhận tại Pháp.
Trường Đại học Y khoa giữ nguyên địa chỉ ở số 28 đường Trần Quý Cáp đến Tháng Sáu năm 1966 thì dọn đến địa điểm mới là Trung tâm Giáo dục Y khoa vừa hoàn tất trên Đại lộ Hồng Bàng. Kinh phí 4 triệu rưởi Mỹ kim một nửa do cơ quan USAID của Hoa Kỳ tài trợ với sự trợ lực của Hội Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association, AMA), 50% góp từ ngân sách quốc gia Việt Nam Cộng hòa. Cơ sở mới được một nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt thiết kế, trong đó Công ty CRS (Houston) là trưởng nhóm Hoa Kỳ, và Văn phòng tư vấn kiến trúc của KTS Ngô Viết Thụ là trưởng nhóm Việt Nam. Sau khi xây dựng xong, nhóm kiến trúc sư Mỹ Việt đang tiến hành thiết kế bệnh viện Y khoa thực hành cho trường Y tại một khu đất lân cận (có sân bay trực thăng) nhưng phải ngưng khi chính thể Việt Nam Nam Cộng hòa sụp đổ.
Ở Gia Định thì đặt Trung tâm Thực tập Y khoa trong Bệnh viện Nguyễn Văn Học dưới sự điều hành của Tổng quản đốc làm nơi sinh viên y khoa đem áp dụng kiến thức điều trị.
Ngoài 1 năm đầu dự bị khoa học tổng quát, học trình y khoa chính quy là sáu năm theo khuôn mẫu y khoa Pháp. Hai năm đầu học các môn cơ thể học, mô học, sinh hóa học, sinh lý, và triệu chứng học. Năm thứ ba và tư học các môn cơ thể bệnh lý, nội khoa và ngoại khoa. Cũng hai năm này sinh viên bắt đầu đi thực tập ở các bệnh viện.
Năm thứ năm và sáu chuyển sang các môn bệnh lý chuyên môn: nhi khoa, sản phụ khoa, tâm thần… và tăng thời gian thực tập ở các bệnh viện.
Năm thứ sáu cũng là năm hoàn tất luận án.
Một buổi trình luận án 1960
Sau buổi trình luận án của 2 Bs tân khoa: Nguyễn Khắc Minh, Đào Hữu Anh tại Đại học Y Khoa Sài Gòn (1960); với Hội đồng Giám khảo, hàng trước từ trái: Giáo sư Nguyễn Hữu, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Giáo sư Trần Đình Đệ, Giáo sư Trịnh Văn Tuất. (Bs Nguyễn Khắc Minh, Bs Đào Hữu Anh, cả hai đều trở thành giáo sư của trường Y Khoa sau này).
Đọc Lời thề Hippocrate
Serment d’Hippocrate:
“ En présence des Maîtres de cette école, de mes chers Condisciples et devant l’Effigie d’Hippocrate, je promets et je jure, au nom de l’Être Suprême, d’être fidèle aux lois de l’honneur et de la probité dans l’exercice de la Médecine. Je donnerai mes soins à l’indigent et n’exigerai jamais un salaire au-dessus de mon travail. Admis dans l’intérieur des maisons, mes yeux n’y verront pas ce qui s’y passe, ma langue taira les secrets qui me seront confiés, et mon état ne servira pas à corrompre les mœurs ni à favoriser le crime. Respectueux et reconnaissant envers mes Maîtres, je rendrai à leurs enfants l’instruction que j’ai reçue de leurs pères.
Que les homes m’accordent leur estime si je suis fidèle à mes promesses!
Que je sois couvert d’oppobre et méprisé de mes confrères si j’y manque!
……………………………………………………………………………………….
(theo Tài liệu Dr HKCUONG)
DO DUYNGOC <doduyngoc@gmail.com>
5:45 PM (11 minutes ago)
to me
NÓI LẠI CHO RÕ
Cuối tháng 10.2017, một thời gian ngắn sau khi chuyện “Treo dê bán chó” của Khải Silk và nhiều doanh nghiệp nổ ra, tôi có viết bài “TOÀN LÁO CẢ” để nói lên thực trạng của xã hội ta bây giờ. Những người tưởng thành đạt trong sự nghiệp, hàng ngày vẫn rao giảng đạo đức, dạy dỗ lớp trẻ lại toàn là lũ láo chuyên lừa đảo.
Và từ đấy, cả một hệ thống nói láo trở thành một hiện tượng khó thay đổi trong cuộc sống. Bài viết không ngờ phát tán rộng trên mạng và được đồng tình.
Thế rồi, mấy hôm nay, tôi nhận hàng trăm tin nhắn và mail cho biết là bài này một số được đề tên tác giả là BS Đỗ Hồng Ngọc và còn kèm theo hình chân dung của anh. Đó là một sự hiểu lầm, đồng thời cũng có một lời nhắn của chính BS Đỗ Hồng Ngọc đề nghị tôi nên lên tiếng đính chính việc này để tránh những việc đáng tiếc cho cả anh và tôi. Nay tôi khẳng định bài viết đấy của tôi viết, không phải của BS Đỗ Hồng Ngọc, có thể người ta thấy tên chúng tôi gần giống nhau hoặc sức ảnh hưởng đến cộng đồng của BS Đỗ Hồng Ngọc có tầm tác động rộng rãi hơn tên tôi nên ghép tên của BS vào bài viết. Đó là một việc làm không minh bạch.
Tôi xin nói lại cho rõ.
Và cũng xin lỗi Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc nếu bài viết này có mang đến những phiền toái đến anh, anh hiều cho tất cả đều ngoài ý muốn của tôi.
Có thể một thời gian ngắn nữa, tôi sẽ xoá bài này để tránh những phức tạp có thể xảy đến cho bản thân.
26.11.2017
DODUYNGOC
DODUYNGOC
0913711081
doduyngoc.jimdo.com
…………………………………………………………………………….
Ghi chú: Tôi cũng có quen biết với anh Đỗ Duy Ngọc. Có lần còn chụp hình chung với anh ở Đường Sách cùng với mấy người bạn của anh. Đỗ Duy Ngọc là một nhiếp ảnh gia có tiếng, đặc biệt về chân dung, phong cảnh… Anh tốt nghiệp Đại học Vạn Hạnh Saigon. Trẻ và đẹp trai với bộ râu tài tử, nhưng tự xưng mình sắp già, khó tánh… Nói chung anh là một người rất đáng mến.
Khi biết được việc không hay do nhiều người nhầm lẫn bài TOÀN LÁO CẢ anh viết trên Facebook bị vô tình hay cố ý gán cho tên tôi – tác giả: Bs Đỗ Hồng Ngọc – phát tán rộng rãi trên mạng, anh đã có ngay thư này gởi đến tôi để “NÓI LẠI CHO RÕ” với một tinh thần trách nhiệm cao. Tôi mong anh post cả thư này để “Nói Lại Cho Rõ” trên facebook của anh để bạn bè chúng ta được đọc để tránh sự nhầm lẫn không hay này. Tôi cũng mong các trang web khắp nơi đã ‘lăng xê’ bài viết này xin chỉnh sứa lại tên tác giả cho “Châu về Hợp Phố”.
Anh Đỗ Duy Ngọc ơi, cũng đừng vội xóa bài này trên facebook nhé, bởi nếu không, thì vô tình đã “chuyển giao” bản quyền cho tôi rồi đó!
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
………………………………………………………………………….
Trang Quanvenduong nổi tiếng “bắt vịt cồ” của Gs Huỳnh Chiếu Đẳng còn có cách ”đính chánh” khá độc đáo.
Rất cảm ơn anh HCD.
TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ”
Hai Trầu (Houston)
Thi sĩ Đỗ Nghê và Hai Trầu bên hồ sen Kỳ Hòa (Sài Gòn) sau cơn mưa chiều, ngày 06 tháng 6-2017. (Hình do chị HT chụp)
Nhớ có lần, khoảng tháng 5 năm 2013, tôi bắt đầu làm quen với thi sĩ Đỗ Nghê (Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) qua trao đổi trên trang nhà Dutule.com, tôi có hỏi:
“Bài thơ đầu tiên bác sĩ gởi đăng ở tạp chí nào? … Bác sĩ có làm thơ tình lãng mạn không, nếu có, xin bác sĩ cho bạn đọc được đọc một bài mà bác sĩ ưng ý nhứt nhe bác sĩ?
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trả lời:
(…)
Những bài thơ học trò thôi không nhắc, thí dụ kiểu: “Những bước chân mềm trên cát thơm/ Em đi sa mạc rợn trong hồn?/ Buổi chiều lên đọng hai vành mắt/ Màu áo hôm nào làm sao quên…” Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…) rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…)
Năm 1967, đang là sinh viên y, tôi in tập thơ đầu tay: Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)… (1)
Thế rồi từ đó, thỉnh thoảng tôi có thư từ liên lạc qua lại với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và một hôm có duyên may, tôi từ dưới quê Lấp Vò lên Sài Gòn và gặp được anh lần đầu vào một buổi chiều tháng 6-2017 bên hồ sen Kỳ-Hòa khi cơn mưa vừa dứt hột. Lần đó, tôi thấy mình vốn đã già quá mạng và ngồi nghe anh nói chuyện về thở và thiền mình mới thấy đọc thơ Đỗ Nghê mình phải thiệt là già mới thấu hiểu phần nào cái thâm thúy trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” . Chính vì vậy mà tôi mới mạo muội đặt tựa cho bài viết này là “Tuổi Già Thử Đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” “.
Còn khi nào thì mới gọi là tuổi già? Đó có lẽ, theo tôi là một câu hỏi hơi khó trả lời. Riêng tôi thì, tôi có cảm tưởng là mình nay đã già lụ khụ nhiều rồi, không còn hăng hái như hồi mình còn nhỏ, ít quan tâm tới những gì cao siêu nên có thể có những hiểu biết cùng sự lãnh hội không được thấu đáo qua những vần thơ ẩn mật của một tác giả già giặn như thi sĩ Đỗ Nghê qua tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” này, nhưng tôi cứ thử lần mò xem sao!
Mở trang đầu “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, tôi bắt gặp bài thơ “Trái Đất”, quả đúng như cái tựa sách, thì bài thơ này ngắn thật, chỉ vỏn vẹn có ba câu và mỗi câu chỉ có hai chữ, dưới bài thơ tác giả ghi: Boston, 1993:
“Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…”
(Trái đất, Boston 1993)
Nhờ tác giả ghi Boston, tôi mới lần mò ra bài thơ thật ngắn này nó gói ghém cả một vũ trụ. Chừng như năm 1993, năm tác giả sáng tác bài thơ này là lúc anh đang có mặt ở Boston (Hoa Kỳ) cho một khóa tu nghiệp về y khoa ở trường Đại học Harvard. Người đọc không cần phải tưởng tượng nhiều như hồi còn trẻ mà chỉ cần có chút tưởng tượng như người ở tuổi già, người ta có thể vẽ được một bức tranh với một bóng người ngồi giữa đêm khuya mà ở một góc đối diện phía bên kia biển Thái Bình Dương là mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Vì Boston đang giữa đêm thì Sài Gòn mặt trời đang đứng bóng, giữa ngày. Cái mà tôi thích nhất trong bài thơ này là thi sĩ Đỗ Nghê đã gợi được hình ảnh con người trong vũ trụ bao la này. Hình ảnh đó gói gọn trong hai chữ “thức giấc”. Ai thức giấc đây? Hẳn phải là tác giả và tác giả chính là sự hiện hữu của một con người bằng xương bằng thịt; còn trái đất thì có ngày và đêm. Và chính con người mới biết thế nào là thức giấc, thế nào là giữa đêm và thế nào là giữa ngày ! Bài thơ chỉ sáu chữ mà gom được trời, đất và con người vào cùng một vũ trụ! Nếu không có con người giữa trời và đất, tôi tin là trái đất này, vũ trụ này mất đi phần nào cái hấp dẫn vốn làm cho mọi sinh vật trên trái đất này kể cả loài người luôn luôn muốn sống!
Tôi mê cái ý tưởng của nhà nghệ sĩ gởi gấm nỗi lòng của mình vào thiên nhiên, vũ trụ ấy, và đặc biệt những câu thơ Đỗ Nghê làm ở nơi mà bên này là “giữa đêm”và bên kia đại dương bao la là “giữa ngày”, nên tôi mới lần mò tìm thêm nhiều bài nữa. Chẳng hạn bài Thu. Những năm tháng tác giả viết về mùa Thu ở Boston cùng những nỗi niềm của kẻ xa nhà, cùng thời điểm ấy tôi cũng có mặt ở Boston, nên tôi mới thấy thấm thía những chữ mà tác giả đã dùng, anh đã chẳng những ghi lại được những giây phút của một chiều thu nghe tiếng quạ kêu rồi chợt giật mình nỗi xa nhà để biết tê tái trong lòng mà thốt nên lời, làm nao nao trong lòng đã đành mà còn làm cho người đọc già như tôi cũng nao nao buồn nhớ những năm tháng cách nay hơn hai mươi lăm năm mình cũng bồi hồi nỗi nhớ nhà như vậy!
Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!
(Thu, Boston 1993)
Đúng rồi, thi sĩ ơi! Nhớ sao mà nhớ quá đi thôi!
Chưa hết, tác giả khắc họa mùa Thu xong rồi, anh lại diễn tả tiếp về mùa Đông ở Boston. Bạn có bao giờ tận mắt nhìn thấy mùa Đông ở Boston lần nào chưa? Bạn có bao giờ đứng nhìn tuyết rơi bay bay trong tiết trời giá lạnh ở Boston lần nào chưa? Và bạn có bao giờ nhìn ngắm những thân cây ở Boston vào mùa Đông lá rụng trơ cành không? Vâng thưa bạn, bạn thử đọc mấy câu thơ của tác giả Đỗ Nghê ghi lại, bạn sẽ cùng cảm với nhà thi sĩ về mùa Đông lạnh lẽo ấy:
Còn cây
trơ lại với cành
Với linh hồn lá
ngập ngừng trút qua…
(Đông, Boston 1993)
Vâng mùa Đông ở Boston ngày dài lắm, nhưng dưới cái nhìn của nhà nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê không như chúng ta, những người ở tuổi già muốn kể chi li về những rừng cây với cành nhánh khẳng khiu trụi lá trơ cành mà anh còn muốn đi xa hơn cái cảm xúc của người thường là chỉ thấy cái thực ngoài đời của cảnh vật, nhà nghệ sĩ muốn chia sẽ cùng người đọc cái lạnh, cái buồn, cái cô đơn không những của những cành cây trụi lá mà anh còn muốn nói lên giùm linh hồn những chiếc lá rừng bay bay đâu đó vào những ngày mùa Thu mà chừng như là cũng không đành rời bỏ cành nhánh một thời nuôi sống đời lá những ngày nắng ấm ngày nào! Lá rụng về cội, đã đành rồi, nhưng lá đâu phải tự ý mình muốn rụng hồi nào đâu? Chính vì vậy mới “ngập ngừng trút qua” Những chữ “linh hồn”, “ngập ngừng” quả là những chữ làm cho câu thơ thêm thần sắc, tuyệt diệu! .
Cây khẳng khiu bên bờ hồ Weymouth, Boston với đàn vịt trời trên mặt hồ đóng băng. (Hình do chị Lộc Tưởng chụp)
Bạn có thể nhìn thấy những cành cây khẳng khiu trụi lá vào mùa lá rụng nhưng bạn có lần nào đi dưới tuyết giữa phố Tàu của thành phố Boston chưa?
Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo.
(Tuyết, Boston, 1993)
Tôi có cảm tưởng những chữ “giật mình”, “nỗi xa nhà” ở bài Thu; “ linh hồn lá”, “ngập ngừng” trong tiết trời mùa Đông; cùng “ co ro” và “đìu hiu” trong bài Tuyết này là những chữ dùng mà tôi thấy giản dị nhưng không đơn giản, không dễ dàng chút nào với người đọc nhà quê già như tôi.
Ngoài đặc điểm là trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, tác giả tập trung nhiều bài thơ ngắn đã đành, mà dường như tác giả còn muốn cho người đọc có dịp nhìn ngắm lại những hiện tượng thiên nhiên thường xảy ra trong trời đất mà vì quen quá, hoặc xảy ra thường quá, không phải mỗi ngày mà dường như lúc nào cũng có thể xảy đến, ai cũng thấy nhưng ít ai để ý hoặc không màng tới. Chẳng hạn như những lượn sóng bạc đầu cao vòi vọi nhiều khi giận dữ nỗi trận ba đào, nhưng sóng quên mình vốn là nước. Mà đã là nước thì phải ở chỗ trũng, chỗ thấp, phải biết cái yếu cái mềm của mình:
“Sóng
Quằn quại
Thét gào
Không nhớ
Mình
Là nước”
(Sóng)
Ai ai trong chúng ta, có lẽ cũng đã hơn một lần thấy sóng biển đập vào vách đá nơi Đèo Cả, nơi Hòn Chồng (Nha Trang) hay sóng trên dòng sông Hậu làm chòng chành ghe xuồng vùng Vàm Cống (Long Xuyên), Cái Vồn, Cái Côn (Cần Thơ) vào những ngày mưa dông bão táp vùng gió mùa; nhưng mấy ai nghĩ sóng “không nhớ mình là nước” như câu thơ của thi sĩ Đỗ Nghê! Chỉ vỏn vẹn chừng ấy chữ, nhưng tác giả đã gởi đi một thông điệp về căn nguyên của mỗi người, của chính mình!
Và sự có mặt của “nước” cũng như sự có mặt của con người là sự có mặt ngẫu nhiên, bất định. Không ai có thể trả lời một cách chính xác nước từ đâu đến và nước trôi về đâu? Và hỏi về nguồn cội của một người cũng là một câu hỏi không dễ trả lời và có thể cũng làm đau lòng nhiều người vì nó dễ chạm vào chỗ yếu nhứt, chỗ riêng tư nhứt của mỗi người, nên thi sĩ Đỗ Nghê có lời khuyên rất nhẹ mà tha thiết biết bao!:
“Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu…”
Nước
(Paris, 1997)
Còn bàn về “vũ trụ”, về “đất” , tác giả cũng gợi cho chúng ta thấy được, biết được vũ trụ vốn biến hóa giữa có và không, giữa không và có:
“Nhẹ như không có
Có mà như không…”
(Vũ trụ)
Và con người vốn từ đất từ bùn:
“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”
(Đất)
Nhớ có lần, tôi cũng có viết về “nỗi lòng của đất” với câu mở đầu rất thật lòng:
“Tôi là đất. Tôi là bùn. Bạn ơi! Bạn có bao giờ nghĩ rằng tôi đã làm đuợc những gì cho bạn không? “(…) Và câu kết :“Tôi là bùn. Tôi là đất. Bùn là bản thể của tôi lúc tuổi chưa già và đất là hình tướng của tôi khi bùn bị va chạm vào dòng đời của vũ trụ với những vòng quay đến chóng mặt. Bạn ơi, dường như đất là nơi chốn để bạn bắt đầu một đời sống và đất cũng là nơi chốn để bạn trở về sau một đời sống.” (2)
Tóm lại, ngoài những bài thơ vừa dẫn, trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” , còn có thêm những bài như “Biển mặn”, “Viết tên lên cát”, “Biển vắng” có thể nói đó là một kết hợp về sự liên đới giữa cát giữa biển và giữa trái đất với con người một cách khắng khít không rời!
“Thơ Ngắn Đỗ Nghê” với chừng ấy những bài thơ tôi vừa lược dẫn, kể cũng đã gói ghém khá nhiều ý thơ mà tác giả muốn chia sẻ cùng người đọc, nhưng sẽ còn thiếu nếu chúng ta quên những bài thơ ngắn khác như “Món quà”, “Không tên”, “Lá”, “Nỗi nhớ”, “Quấn quít”… những bài thơ rất hàm súc, nhưng tôi muốn bạn, những bạn đọc rất gần gũi và ái mộ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nên tìm đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” thì chắc sẽ thú vị hơn!
Nhưng ở đây tôi muốn thưa cùng bạn bài thơ “Mới Hôm Qua Thôi” mà với tuổi già như tôi nếu đã đọc qua mà không nhắc lại, tôi nghĩ quả là mình quá thiếu sót nếu không muốn nói là người già sợ những câu thơ trong bài thơ này như một thực tế mà mình cố tình không dám chạm mặt. Và thi sĩ Đỗ Nghê đã vẽ lại bức tranh rất thật này nơi một nhà dưỡng lão mà có lẽ đã một lần anh chứng kiến cảnh người già “mới hôm qua thôi”!
Xin mời bạn:
Mới hôm qua thôi
Họ ngồi đó
Bên nhau
Đàn ông
Đàn bà
Không nhìn
Không nói
Họ ngồi đó
Gục đầu
Nín lặng
Ngửa cổ
Giật nhẹ tay chân
Có người
Trên chiếc xe lăn
Chạy vòng vòng
Có người
Trên chiếc xe lăn
Bất động
Họ ngồi đó
Hói đầu
Bạc trắng
Móm sọm
Nhăn nheo
Mới hôm qua thôi
Nào vương
Nào tướng
Nào tài tử
Nào giai nhân
Ngựa xe
Võng lọng
Mới hôm qua thôi
Nào lọc lừa
Nào thủ đoạn
Khoác lác
Huênh hoang
Mới hôm qua thôi
Nào galant
Nào quý phái
Nói nói
Cười cười
Ghen tuông
Hờn giận
Họ ngồi đó
Không nói năng
Không nghe ngóng
Gục đầu
Ngửa cổ
Móm sọm
Nhăn nheo
Ngoài kia
Tuyết bay
Trắng xóa
Ngoài kia
Dòng sông
Mênh mông
Mênh mông…
Montreal, 1993
Bài thơ tác giả ghi: Montreal, 1993. Chắc thi sĩ sáng tác cùng năm với những bài thơ về mùa Thu, mùa Đông, về Tuyết ở phố Tàu thành phố Boston, cũng 1993, khi anh có dịp qua Canada vì từ Boston qua Montreal, đường tuy dài nhưng bạn đi qua đó không phải trở ngại gì nếu bạn muốn đi chơi cho biết.
Đọc bài thơ “Mới hôm qua thôi”, tác giả dưới con mắt của một vị thầy thuốc và dưới con mắt của một nhà nghiên cứu về đạo Phật, và dưới con mắt của một người thương người cùng chất lãng mạn của một nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê nắm tay chúng ta và anh đã dắt chúng ta đi qua một dòng sông đời trôi qua mấy mươi năm rồi với biết bao gian truân, vinh nhục, được và mất rồi ra chỉ còn là “mênh mông” với “ mênh mông…” thôi!!!. Chẳng còn lại gì! Chẳng còn lại chút gì!
Thưa bạn,
Trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” còn nhiều bài nữa rất đời mà cũng rất lãng mạn nữa. Nhưng tôi thấy bài thơ “Về thăm quê” hết sức ngắn mà theo thiển ý của tôi thì tôi nghĩ ý thơ trong bài này vô cùng thâm thúy.
“Lâu không về thăm quê
Những người xưa biền biệt
Lũ trẻ lớn lên
Ngơ ngác
“Ủa, chú là ai?
Làm sao chú biết…?”
Đúng vậy, lâu quá không về thăm quê nên khi mình về lại thì nhiều người, nhiều đời người ta đã ra người thiên cổ bộn rồi! Và trẻ nhỏ đời này, đời kia tiếp tục có mặt và hết sức ngơ ngác với người già. Nhưng có lẽ câu trả lời “Làm sao chú biết…?” mới là tuyệt diệu. Làm sao chú biết chú là ai? Làm sao tôi biết tôi là ai giữa cõi đời ô trọc này? Thực sự trong đời sống này mỗi mỗi chúng ta, có lẽ ai ai cũng tự cho rằng mình rất hiểu, và biết rất rõ về mình, nhưng thực tế không phải vậy! Làm sao mình nhận rằng mình biết hết mọi việc trên đời này!
Đó là chưa kể, người già nghe câu hỏi:“ Ủa, chú là ai?” và trả lời bằng mấy chữ:“Làm sao chú biết”, còn có nghĩa chú còn phải tìm tòi, phải học ở cháu nữa dù thế hệ của cháu đáng con, đáng cháu của chú! Hổng phải vậy sao? Vì nếu một người nói rằng chú biết hết mọi việc thì người đó đã đầy một bụng kinh luân rồi và đâu cần học hỏi ai điều gì nữa, nếu không muốn nói là người ấy chỉ mất thời giờ của họ thôi chứ đâu có ý lãnh hội điều gì và dĩ nhiên đâu có ích lợi gì. “Làm sao chú biết” là một lời đáp của một người biết khiêm nhường, của một người muốn nhận rằng mình dù thông thái cách mấy, dù giỏi cách mấy, dù già giặn cách mấy vẫn tự thấy mình vẫn chẳng là gì giữa dòng đời đầy nhiêu khê, bất trắc này vậy!
Nhưng, thưa bạn, khi mình ở tuổi được gọi là đang già hoặc đã già, thì cái vũ trụ mênh mông ấy cũng chính là một thực thể ở ngay trong chính mình như thi sĩ Đỗ Nghê, cũng là một bác sĩ hơn nửa thế kỷ lăn lóc với nghề qua biết bao kinh nghiệm dạn-dày với bệnh nhân và với chính bản thân mình nữa , nhà thi sĩ đã nhắc với bạn đọc của anh qua bài thơ Vũ trụ rất thực mà cũng rất gần. Nói cách khác, đây cũng là cách gởi gắm ý tưởng rất tế nhị, tác giả vốn là nhà nghiên cứu về Phật Giáo, muốn nhắn nhủ người đọc lời Phật dạy: “Hãy quay về nương tựa chính mình”:
“Khi mắt mũi kèm nhèm
Là áp thấp nhiệt đới
Khi bần thần rã rượi
Là áp thấp gần bờ
Khi huyết áp tăng cao
Là bão từ nổi dậy
Từ phía mặt trời xa
Vũ trụ chừng nhỏ lại
Còn chút xíu trong ta!”
Tóm lại, qua 103 trang sách với 56 bài thơ ngắn, quả thật tôi đã học hỏi ở thi sĩ Đỗ Nghê rất nhiều ý mới lạ qua những bài thơ ngắn cùng với chữ dùng rất bình dị mà thâm thúy, mà thực sự nếu muốn hiểu cặn kẽ những ý thơ qua từng dòng thơ của tác giả tôi nghĩ không dễ dàng chút nào. Về điềm này, tôi nghĩ rất khế hợp với lời nhận định của một thi sĩ Ba Lan, người nhận giải Nobel năm 1996, bà Wislawa Szymborska (1923-2012), có lần đã viết:”Trong ngôn ngữ thi ca, nơi mỗi chữ đều được cân nhắc, không có gì thông thường hoặc bình thường…”(3) Còn Lâm Ngữ Đường thì viết “Thi sĩ chỉ vẽ phác một cảnh, diễn một nỗi lòng thương cảm rồi để cho độc giả tưởng tượng.”(4)
Theo thiển ý của người đọc nhà quê già như tôi, tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” đều bao hàm cả hai nhận định của hai nhà vừa kể, một ở trời Âu và một ở trời Đông vậy!
Hai Trầu
Houston, ngày 22 tháng 11 năm 2017
………………………………………………………………………………………………………………………
Phụ chú:
1/ “Trò chuyện với Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc qua những lá thư từ kinh xáng” trong bộ sách Người Đọc & Người Viết, Quyển II, của Hai Trầu, ấn hành tháng 10-2017, trang 132. Houston, Hoa Kỳ.
2/ Trong cuốn “Nhớ Về Những Bến Sông”của Hai Trầu, Hoa Kỳ, năm 2013, trang 149 hoặc bạn có thể tìm đọc trên các trang nhà “Gio-o.com”, “thatsonchaudoc.com.”.
3/“Tôi-Không-Biết”:Giới thiệu, nhận định, dịch thơ Wislawa Szymborska, giải Nobel 1996” của nhà thơ Ngu-Yên biên soạn và dịch , Tập một, do Amazon ấn hành, lần thứ nhứt, tháng 3 năm 2017, Hoa Kỳ, trang 90.Toàn tập gồm hai quyển 1&2,dày 1303 trang.
4/”Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa “của Lâm Ngữ Đường do Nguyễn Hiến Lê dịch, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 117.
Vài ”phản hồi” về trang web dohongngoc.com
Ghi chú: Nhiều bạn đọc gần xa muốn gởi lời cảm tạ, khen ngợi, đến các ”bạn trẻ” đã giúp tôi thực hiện trang www.dohongngoc.com/web/ này bấy nay.
Đó chính là Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thùy Linh, Cty SGC là người đã thiết kế và hỗ trợ suốt nhiều năm qua trang web này từ ngày khởi sự, tháng 5 / 2009 đến nay. Đến bây giờ, khi gặp khó khăn, tôi vẫn phải làm việc từ xa ”Teamviewer” gì gì đó với các cháu vì tôi vốn dốt đặc vi tính. Lúc mới đầu, viết bài nào tôi đều phải gởi cho các cháu, rồi nhờ cháu Mai Quyên post lên. Sau thấy phiền quá, tôi học dần cách post bài, cách chèn hình… Lò mó làm riết rồi cũng quen, nhưng chậm như rùa.
Thỉnh thoảng có các clip xuất hiện trên youtube, đó là do bác sĩ TrươngTrọng Hoàng giúp, nhất là những đề tài liên quan ngành Y, Hoàng quay rồi post luôn, có khi chưa kịp coi lại! Gần đây Bs Hoàng vì ở xa và quá bận chuyên môn, ít có dịp cùng làm việc. Sau lại có em Trần Quang Hiếu cũng sẵn sàng xách máy tay đi quay những buổi nói chuyện của tôi đây đó…
Nhưng gần nhất, liên tục là các video clip là do các cháu Quyền và Nga… quay, khá chuyên nghiệp, âm thanh, hình ảnh tốt… đã kịp thời đưa lên buổi Nói chuyện về ”Thở và Thiền dưới góc độ khoa học” tại Tu viện Khánh An, và nhất là loạt trao đổi, sinh hoạt “”Phật học & Đời sống” tại chùa Phật học Xá Lợi Tp.HCM mỗi chiều thứ 7 vừa qua, được nhiều chia sẻ.
Bản thân tôi cũng dần dần ”rành” cách post các bài viết của mình, chọn hình ảnh… đưa lên cho vui. Già rồi, ngày càng lười, sắp thành ”Vườn Chuối lãn ông” (bắt chước ông Tổ Hải Thượng Lãn Ông của mình), có việc làm lai rai như vầy cũng tốt.
Tóm lại, tôi có được nhiều sự giúp đỡ của các bạn trẻ ở trang web này, đặc biệt Phùng Minh Bảo và Thùy Linh, và không biết phải chuyển lời bạn đọc gần xa đến các ”bạn trẻ” đã giúp mình thế nào cho phải, bèn trích vài đoạn dưới đây để lâu lâu cùng đọc với nhau cho vui vậy nhé.
Đỗ Hồng Ngọc.
Một vài “phản hồi” của bạn đọc (trích):
hiep54321@
Le ra trang web nay phai co mat truoc day chu khong phai den bay gio! Boi nhung dong chu ma bac si Do Hong Ngoc viet ra that su gia tri, that su huu ich, nhe nhang thoi nhung sau sac, nhu chinh cuoc doi anh, nhu chinh nep song cua anh!
quanconghl@
Em thich cai nhin trang nha cua website nay, cach dung “font”, “mau”, va cach trinh bay. Em de y xem anh co trang “doi thoai” khong, thi thay cach anh bay to y kien doi voi nhieu cau hoi bang cach dung mot bai viet de tom tat va huong dan. Em nghi day co le la cach hay nhat de duy tri “doi thoai” voi nguoi doc, gon gang hon cach “go roi to long” cua nhieu websites khac. (…) Gioi tre va nguoi doc co nhieu dieu hoc hoi duoc qua noi dung cua trang web: cai hon nhien, tu tai, cai nhin vo tu, tich cuc cua cuoc song…
phanthuy_baochau@
Khi tìm được trang web này con cảm thấy rất vui. Mỗi lần sau khi lên mạng tìm kiếm đủ thứ thông tin, trước khi offline, con lại vô đây đọc, những bài viết của thầy nhắc nhở con phải trở về. Tâm con bớt lung tung sau khi lang thang trên mạng… Àh, con còn một chuyện nữa. Đó là con đang là một sinh viên y dược. Con rất muốn được trở thành một bác sĩ như thầy…
thanhxuanadc@
Hôm nay tình cờ search trên mạng gặp được trang web của bác em rất vui mừng. Không ngờ hôm nay gặp được bác, em mừng như bắt được vàng. Em vội add vào favorite liền, em sợ bác “chạy” đi đâu mất.
trieuminh020708@
Web của Bác ngon lành nhá! có youtube nửa, cám ơn người giúp nó. TM sẻ nhớ họ đấy…
nhamnhan@
Đã từng cười rúc rich khi đọc “Thư gửi người bận rộn”,”Như thị..” và nhiều nhiều lắm những tạp văn của Bác sỹ (…). Những bài viết thật duyên, những cái nhin ý nhị, thấu suốt… Thật mong Bác sỹ mạnh khỏe, có nhiều bài tạp bút nho nhỏ cho mọi người cùng thưởng lãm. Thật vui vì biết blog này. Cảm ơn Bác sỹ.
thduong86@
… lần đầu gặp trang web này tự nhiên con thấy mừng mừng tủi tủi , vì từ này khỏi cần đi nhà sách ngó nghiêng xem bác có sách mới nào chưa để còn mua về thủ kĩ , đọc rồi để dành mai mốt già đọc tiếp . Hahaha , đừng tưởng con nói giỡn , con nói rất thiệt , tủi vì sao giờ này mình mới biết, mừng vì đã gặp ” người trong mộng ” ( mơ một lần gặp bác sĩ , ra đường lâu lâu ngó tới ngó lui coi có tình cờ gặp không). Những bài viết của bác sĩ cứ ngấm dần vào con, từng ngày từng ngày, từ khi con 16 tuổi ( lúc đó con mua tặng mẹ quyển ” Gió heo may đã về ” và đọc ké ) rồi cứ vậy, trẻ măng mà cứ suốt ngày “gió heo may ” với “già ơi ”, người nào không hiểu tưởng con không bình thường . Về sau này, những ” Như thị ” ” Bát nhã tâm kinh ” của bác vẫn theo con từng ngày, con chưa ngộ ra nhiều điều, nhưng có sao đâu, sống là trải nghiệm từng ngày mà phải không bác… Nhà con giờ rất nhiều người “nghiện” bác, có trang web này chắc sẽ rất vui, cảm ơn bác sĩ đã lập web, cảm ơn luôn người độc giả đã làm web cho bác sĩ…
huynhthi.maihuong@
Thật là đại phước,thật là hữu duyên khi con gặp được trang web này. Cuộc sống con vốn bận rộn, ở quê (Cai Lậy), yêu thích ngành y, yêu văn chương, yêu nhạc Trịnh, thích học Phật, lúc trước rất cầu toàn, bỗng dưng như trúng được kho báu… Thế giới phẳng thật kỳ diệu!!!
Con lưu ngay vào máy và đọc say mê khi vắng khách hàng, có lẽ chư Phật mười phương đã “gửi” đến cõi ta bà này một sứ giả để trị tâm bệnh và thân bệnh cho chúng sanh chăng?!
Con kính chúc bác sĩ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng cát tường để luôn là cầu nối giữa phật pháp – khoa học – văn học – và chúng sanh…
quynhanhdvtv@
…Tình cờ vào được trang web của bác, con rất mừng. Cứ như được gặp lại người quen cũ. Con “quen” bác từ khi con bắt đầu mang thai cháu đầu lòng. Năm nay, cháu đã 20 tuổi. Hồi đó, đúng là con đã gối đầu giường quyến sách “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác…
langthangtrada@
…Lại tra thêm trên mạng, ra trang nè; trang mạng của bác mang vẻ fiêu du lãng tử mà cũng thâm sâu lắm^^. Cháu học ở trường, học tôn giáo…
phuthuysimla1982@
Gặp được chú mừng quá không biệt hỏi cái gì trươc cái gì sau nữa. Bữa nay sao mò mẫm tìm được trang web của chú. Cám ơn trời hehe.
ngquynhtram@
Ngưỡng mộ chú lắm, đặc biệt là tài viết văn của chú, nhẹ nhàng mà thâm thúy. Đọc chú mới thấy tâm hồn con người trở nên đẹp với chút văn thơ. Đọc chú thấy sao tiếng Việt mình thật đẹp (đọc sách giáo khoa văn học có khi lại khó thấy!).
Cháu dốt văn số một, đọc chú cháu thấy cái ý nghĩa của văn chương. .
muitran1954@
Có “chôm” vài bài của BS đưa vào trang nhật ký của gia đình, dĩ nhiên là có ghi đủ đường link, để bạn bè và con cháu sau này có ghé mắt vào xem thì cũng theo đường link mà vào trang nhà của BS để mà suy gẫm thêm.
hodinhkhai@
Cảm cúm con uống vài viên tylenol …. Còn Stress quá thì con uống ” dohongngoc.com ” bớt liền . Mang ơn Bác lắm vì lòng tử tế của Bác dành cho mọi người trong đó có con . Mong Bác luôn an vui .
rosathythy@
… Từ ngày cháu phát hiện ra trang web này, cuộc đời cháu như có thêm niềm vui mới và cháu như tìm thấy sức mạnh, niềm tin mới. Đọc những bài viết của Bác Sĩ, nhiều khi cháu muốn phá lên cười, nhiều khi lại thấy bâng khuâng ray rứt muốn rơi nước mắt. Mỗi bài viết một cảm xúc và khi đọc lại, cháu lại tìm thấy cảm xúc mới. Cháu hiểu thêm về cuộc đời và về bản thân mình.
(…)
Nguyễn thị khánh minh: Đọc ”Thơ Ngắn Đỗ Nghê” (bản thảo, 2017)
CON ĐƯỜNG DÀI QUA NHỮNG BÀI THƠ NGẮN CỦA ĐỖ NGHÊ
Trong những điện thư gửi cho bạn hữu anh em, Nhà Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) thường cho đọc những bài thơ ngắn mà anh thường gọi là “thơ trời ơi.” Trời ơi là chuyện không đâu. Trời ơi là tiếng kêu ngạc nhiên. Trời ơi để diễn tả sau đó một vui mừng, một âu yếm. Trời ơi là tiếng than trong cơn bi sầu. Trời ơi đôi khi lại là bótay.com. Mà vì sao lại thốt lên như thế? Vì cảnh đời tang thương ngẫu lục. Vì sáng trưa chiều tối vút qua thoắt cái tất cả đều biến dịch trong từng khoảnh khắc. Trời ơi, Mới Hôm Qua Thôi…
Đến và đi là chuyện thường, biết những thay đổi kia là đương nhiên, thế nên, như hành giả đi ngao du trong đất trời thưởng thức phút giây đang đến rồi đi không vướng bận, sảng khoái đón nhận tất cả như chuyện trời ơi mà nhắn nhe chia sẻ với bạn đồng hành.
Đó là một thái độ sống nhẹ thường với cuộc phù du. Cho nên những bài thơ ngắn này là những trân trọng bật sáng ngay phút giây lúc đang là. Như Thiền sư Chadgud nói, “Thể xác, lời nói, ý nghĩ của chúng ta biến dịch nhanh như thời gian mũi kim xuyên qua cánh hoa hồng.”* Trong tích tắc ấy, Nhà Thơ đã cảm nhận cái trùng phùng của nghìn năm và phút giây, xẹt qua cảm xúc tức thì, lóe lên trong từng nhích kim xuyên qua thời gian lá mỏng.
Tôi cảm nhận như thế vì tính nhanh và chậm cùng cư ngụ trong mỗi bài thơ của Đỗ Nghê (ĐN). Cảm xúc như một đường tơ nối nghìn dặm không gian, thời gian vào lúc con chữ tượng nên lời thơ.
Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…
Boston, 1993
(Trái Đất, tr. 7)
Tôi thấy cả một nỗi trăn trở trên ba dấu chấm kia… Lăn về phía đêm hay ngày… lăn qua trở lại bỗng thấy phương em mặt trời đang chiếu sáng, trời ơi quê nhà! Thử hỏi nỗi nhớ xuyên qua đêm và ngày để thấy đây và kia gần quá trong một thức giấc?
Tiếng quạ vừa nhấn chiều thu, phản xạ là giật mình bật ra ánh chớp nỗi xa nhà, kêu, nhớ quá, kêu nhanh như vừa thả dây cung. Cái rơi xuống của mũi tên nhớ là một nỗi im lặng dài. Mà âm ba cảm xúc ngân ngân… Tôi không nhớ một nhà phê bình văn học đã nói, đó là “tính Trì Cữu và Trực Tốc ở một bài thơ,” tôi rất thích ý lời này, và thấy thật đúng trong không khí thơ ngắn Đỗ Nghê.
Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!
Boston 1993
(Thu, tr. 74)
Khởi đi từ cánh hoa vàng phố thị, người chỉ thấy nhà cao, đi khơi khơi qua những con đường rồi lọt vào cơn gió bấc nhà quê, vỡ trái tim xanh nỗi nhớ nhà, thử hỏi thời gian giữa cánh hoa vàng và cơn gió bấc?
Đi giữa Sài Gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết
Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay xuân về
Vỡ òa ngực biếc!
(Gió Bấc, tr. 67)
Trong một tức thì nhìn thôi, mà mùa đang ở đang qua, mà xong bao đời lá, nhờ biết lẽ thay đổi mà người sống rất trọn vẹn từng chớp mi, vậy không phải sao, người sống được miên viễn trong khoảnh khắc?
Còn cây
trơ lại với cành
Với linh hồn lá
ngập ngừng trút qua…
Boston, 1993
(Đông Boston, tr. 72)
Cũng vậy ở bài thơ sau, tính nhanh chậm xô thời gian chập chùng trên cảm xúc chợt đến, ai ngàn năm xa kia bỗng trở thành một làn thơm tho. Trong cột gỗ vô tri bỗng nghe hồn Đường Thi ngân nga trên nét khắc nghìn xưa. Chắc là phút giây thinh lặng lắm nên đôi bên có sức thần thông giao cảm nhau?
Dưới những tàng cây
Con đường quanh co
Khúc khuỷu
Ai đã qua đây
Ngàn năm cũ
Mà hơi thở còn thơm tho vậy
Ta sờ tay vào cột gỗ
Nghe thì thầm
Đẽo gọt
Nét Đường thi.
1995
(Văn Miếu, tr. 77)
Thời gian ở đây quả là một con đường bất tận của không điểm bắt đầu không nơi kết thúc, mang mang tự hỏi quê nhà ấy là đâu, là nơi chôn nhau cắt rốn hay là nơi mà sinh tử chạm nhau để kết thúc và bắt đầu. Cũng như một vòng biến hóa của hạt nước kia,
Lâu không về thăm quê
Những người xưa biền biệt
Lũ trẻ lớn lên
Ngơ ngác
“ Ủa, chú là ai?
Làm sao chú biết…?”
(Về Thăm Quê, tr. 52)
Nước từ đâu đến
Nước trôi về đâu
Từ con suối nhỏ
Từ dòng sông sâu
Từ khe núi lở
Từ dưới nhịp cầu
Từ cơn thác lũ
Từ giọt mưa rơi
Nước đến từ đâu
Nước trôi về đâu
Từ cơn gió thoảng
Từ làn mây trôi
Từ hơi biển mặn
Từ phía mặt trời
Nước vẫn muôn đời
Không đi chẳng đến
Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu…
Paris, 1997
(Nước, tr. 9)
Ta bay vù vù trong không gian
Mà cứ tưởng nằm im
Trên gối
Mỗi ngày ta rơi rụng
Mỗi ngày ta phục sinh
Mà cứ tưởng không hề thay đổi…
(Vô Thường, tr. 49)
Có rơi rụng mới có đâm chồi, có ngày qua đi mới có ngày nay, như hạt nước kia, dòng sông kia luôn chảy và biến hóa phát sinh ra cái khác, có phải người thơ đã nhận biết và chấp nhận nhẹ nhàng những đổi thay, sinh hoại diệt, nên có được an nhiên tự tại, không còn đinh ninh vào ý nghĩ lẫn sự vật?
Sông ơi cứ chảy
Cứ chảy về trời
Cứ về biển khơi
Cứ làm suối ngọt
Cứ làm thác cao
Cứ đổ ầm ào
Cứ làm gió nổi
Cứ làm mây trôi…
Sông ơi cứ chảy
Chảy khắp châu thân
Chảy tràn ra mắt
Chảy vùi bên tai
Dòng sông không tắt
Dòng sông chảy hoài…
(Giỗ một dòng sông, tr. 28)
Có chút man mác nguyện cầu trong tình ý bài thơ này ở những “cứ, hoài…”
Ở Hội An Sớm, thấy rõ sự thay đổi nối tiếp nhau theo thời gian trong một vài bước, bước vừa chạm xuống bước cất lên, trăng đã tàn, Hội An, Ta và Gà cùng giật mình vì tiếng chổi sớm, ba câu đầu đều động, nhưng tiếng “gà gáy vàng trong sương” lại u tĩnh vậy…
Hội An còn ngái ngủ
Mái chùa ôm vầng trăng
Giật mình nghe tiếng chổi
Gà gáy vàng trong sương
(Hội An Sớm, tr. 38)
Đâu có gì thường còn, sự vật cùng ý nghĩ ta cứ quay như kính vạn hoa, vậy nên
nhắn bạn đồng hành hãy yêu thương nhau ngay lúc này, tại đây, cái sắc màu vừa hiện,
Giả sử sóng thần ập vào Nha Trang
Ập vào Mũi Né
Anh chỉ kịp quẳng em lên một chiếc thuyền thúng
Vút qua những ngọn dừa
Những đồi cát trắng
Em nhớ mang theo đôi quả trứng
Vài nắm cơm
Vài hạt giống
Đừng quên mấy trái ớt xanh…
Biết đâu mai này
Ta làm An Tiêm
Trở về làng cũ
Nơi này ta sẽ gọi là Nha Trang
Nơi kia gọi là Mũi Né…
Cho nên
Sao chẳng sớm mà thương nhau hơn?…
2011
(Giả Sử, tr. 21)
Trong tập những bài thơ ngắn này, tôi xúc động nhất là bài về Mẹ và những bài về đứa con gái yểu mệnh La Ngà, đọc lên là thấy tim mình phản xạ để đập đồng hành với cảm xúc của người thơ,
Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…
2012
(Bông Hồng Cho Mẹ, tr.12)
Đâu còn khái niệm sinh tử mất còn, rờ rỡ từng bước hiện thực trong phút giây giao cảm nhất của con và Mẹ, lạ thay phút chia ly lại hoan hỷ đến thế…
Mỗi năm
Mỗi người
Thêm một tuổi
Chỉ mình con
Mãi mãi
Tuổi đôi mươi…
1990
(La Ngà 3, tr. 26)
Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút
Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con
Nỗi mất!
1990
(La Ngà 5, tr. 27)
Thử đặt mình vào khoảng thời gian con mãi mãi đôi mươi và cha mỗi ngày một thêm tuổi, thì mới thấm thía cảm động nỗi mất con để lại cho cha, và từ đây cha lại học thêm được cách vượt qua phiền não.
Từ đó mà tôi hiểu nghĩa lý bài thơ: Đừng nói điều hạnh phúc / Chẳng ai tin đâu / Hãy nhắc điều bất hạnh / Ai nấy đều vui… (Niềm Tin, tr .54)). Nhắc có nghĩa là chia sẻ, là thương và hiểu, nhắc để cùng nhau tìm cách vượt qua nỗi đau, và vui vì hiểu ra lẽ vô thường.
Việc cùng-tìm cách vượt qua mọi phiền não nghiệp chướng là nguyện của người đang tu tập?
Tham chẳng còn
Sân cũng hết
Si đã tuyệt
Niết Bàn
Tịch diệt
Để làm chi?
(Ngộ, tr. 51)
Khi đoạn diệt được Tham Sân Si thì người hẳn sẽ đạt được thân tâm thanh tịnh. Nhưng người tu kia lại tự hỏi Để làm chi, hưởng một mình sao? Khi tôi hỏi, Nhà Thơ bảo, “Niết Bàn này chỉ là ‘hóa thành’ như trong kinh Pháp Hoa nói, còn phải tiến thêm: Phát tâm Bồ Đề để tiếp tục hành Bồ Tát đạo với lòng Từ Bi và Trí Huệ, không chỉ Tự Lợi mà còn Lợi Tha”. (A.Tôi thấy thích thú khi đã viết từ bài Niềm Tin trên, tôi vô tình chạm khẽ vào Tự Lợi Lợi Tha này).
Trong một bài giảng của Thầy Thích Quảng Lục chùa Hội Phước cũng nói, “Có nhiều hành giả đắm chìm trong cảnh giới an lạc tịch tĩnh mà quên mất chí nguyện chia sẻ cho người khác nên đạo hạnh của họ cũng dừng lại ở mức tương đối, vì chỉ có tâm mở rộng đến tha nhân thì trí tuệ mới trải rộng khắp…”** Ra Để làm chi là một nhắc nhở về một chặng đường tiếp nối của đạo hạnh.
Con đường rất dài… và phải chăng phải tu tập hằng ngày để mình được vững vàng và theo khả năng đó mà chia sẻ nhắc nhở người khác? Như người thơ đã và đang theo đuổi hằng ngày qua những bài thơ bài viết của mình?
Thiền. Tôi rất thích một thiền đường có lần tôi đến đứng nhìn vào qua ô cửa sổ. Ở đó, thời gian không gian và ý tưởng gặp nhau ở nhịp nhàng hơi thở. Cái không khí lắng trong ấy như tỏa ra bao phủ và thấm vào người tôi. Tôi thích một góc nhỏ trong nhà nơi tôi tập thiền để chữa bịnh, người bạn bảo, cứ tập trung vào hơi thở, nhưng, bao nhiêu thứ trong đầu cứ lăng xăng, tôi thầm nguyện, bước đầu rồi sẽ vượt qua, vượt thêm để đạt được chánh niệm tự thân, vượt nữa… “Hãy nhắm mắt lại, và nghĩ đến niệm lành cho chính bạn, nếu bạn không thể cảm thấy một khát vọng chân thực cho hạnh phúc riêng của bạn- sẽ không có cách nào bạn có thể chân thực ước muốn cho kẻ khác có hạnh phúc.” (Đại SưThanissaro Bhikkhu)***
Thả lỏng toàn thân
Như treo móc áo
Ngồi xếp bằng tròn
Vai ngang lưng sổ
Dõi theo hơi thở
Như mượn từ xa
Khi vào khi ra
Khi sâu khi cạn
Chú tâm quãng lặng
Pranasati
Hơi thở xẹp xì
Thân tâm an tịnh
Không còn ý tưởng
Chẳng có thời gian
Hạt bụi lang thang
Dính vào hơi thở
Duyên sinh vô ngã
Ngũ uẩn giai không
Từ đó thong dong
Thõng tay vào chợ…
(Vè Thiền Tập, tr. 96)
Lại nghe nói, tu ở chợ mới thật là công đức viên mãn, vì tới đây hành giả đã thực sự “tâm bồ đề kiên cố” thõng tay vào chợ để Lợi Tha…
Nguyễn thị khánh minh
Santa Ana
11.2017
* Theo Phật Giáo Thực Hành Pháp Đại Hoàn Thiện
**chuahoiphuoc.net
*** https://thuvienhoasen.org/p22a24158/huong-dan-thien-tap
Những bài thơ trích từ tâp Bản Thảo 2017 THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ (ĐỖ HỒNG NGỌC) với sự trình bày của Họa Sĩ Lê Ký Thương
Thư gởi bạn xa xôi,
“Thơ Ngắn Đỗ Nghê” bản thảo 2017
Vừa mới nhờ Lê Ký Thương layout và làm bìa xong, mình gởi ngay cho bạn coi còn đang nóng hổi đây. Bạn nói đúng. Năm 1967 mình in tập Thơ đầu tay, Tình Người, thơ Đỗ Nghê, bìa do Lữ Kiều Thân Trọng Minh trình bày, và nay 2017, tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê này do Lê Ký Thương trình bày. Mới thôi! Mà đã nửa thế kỷ.
Đúng rồi. Thơ ngắn và rất ngắn. Thời hiện đại, người ta không có nhiều thì giờ như xưa bạn ơi.
Và, vài lời ”phi lộ” trích trong bài phỏng vấn Đỗ Hồng Ngọc của Ngô Nguyên Nghiễm (2010):
‘’Như không thôi đi được…’’
Phút tâm giao với nhà thơ Đỗ Nghê ( Đỗ Hồng Ngọc)
Ngô Nguyên Nghiễm: Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 – 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt Y học rồi Phật học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?
Đỗ Hồng Ngọc: Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm tạm thời” thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi để tránh nhầm lẫn. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Đỗ Nghê là bút hiệu do ghép họ Cha và Mẹ đó bạn ạ. Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Còn đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?
Ngô Nguyên Nghiễm: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?
Đỗ Hồng Ngọc: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, “ngũ uẩn giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ…
Ngô Nguyên Nghiễm: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc/ Đỗ Nghê, là Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?
Đỗ Hồng Ngọc: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. “Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”. Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). “Như không thôi đi được”, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó, “như không thôi đi được”…!
(…)
(Ngô Nguyên Nghiễm, Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm,
NXB Thanh Niên, 2010)
Một bài viết trên Bách Khoa 426
Nguyễn Hiến Lê và Tôi
Đỗ Hồng Ngọc
Ghi chú: Gs Huỳnh Chiếu Đẳng vừa gởi tặng tôi bài viết về Nguyễn Hiến Lê của tôi trên báo Bách Khoa số 426 tháng 4/1975. Đây cũng là số báo cuối cùng của Tạp chí Bách Khoa sau hơn 18 năm có mặt ở Miền Nam. Gần đây, anh Phạm Phú Minh cũng đã sưu tầm và ”số hóa” toàn bộ 426 số báo này trên một CD. Đây là một công trình rất đáng khen ngợi.
Tôi chưa được quen biết Gs Huỳnh Chiếu Đẳng, nhưng mến mộ ông qua quanvenduong, một địa chỉ rất dễ thương sưu tầm được rất nhiều sách báo, ca cổ… phương Nam và các mục hướng dẫn sử dụng vi tính, đặc biệt mục “bắt vịt”… giúp mọi người tránh bị lừa gạt vì những… con vịt cồ trong thời buổi internet ”bát nháo” hiện nay. Ông gởi tặng tôi bài viết này được chụp nguyên trang báo BK nên với tôi, là một kỷ niệm quý giá. Xin chia sẻ cùng các bạn.
Đa tạ Gs Huỳnh Chiếu Đẳng,
Đỗ Hồng Ngọc.
Vài nét về “Chân dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa”
của Ngô Thế Vinh
Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê)
Ngô Thế Vinh là một thầy thuốc, một bác sĩ y khoa. Nên dù là một nhà văn, nhà báo, nổi tiếng với nhiều tác phẩm, đặc biệt những cuốn sách viết về dòng Mekong gần đây của anh, thì người ta vẫn thấy thấp thoáng bóng blouse trắng. Anh luôn nhìn con người như một tổng thể, thân tâm nhất như. Cho nên những bài viết của anh về các văn nghệ sĩ và các nhà văn hóa trong cuốn tuyển tập này luôn có những chi tiết, những góc nhìn của người thầy thuốc, lấp lánh tình người trong mỗi câu chữ.
Võ Phiến “nhà văn lưu đày”
Những ai từng đọc Võ Phiến, từng đọc “Đất nước quê hương’’ với nào áo dài, bánh tráng, tô cháo, chén chè, rụp rụp, đất nước, con người… thì coi bộ khi phải rời xa những thứ quấn quít đó của quê nhà, Võ Phiến đã khốn khổ thế nào!
Trong bài ‘’Một cốt cách ở đời’’ về cuốn sách có tựa là Cuối Cùng của Võ Phiến, tôi viết:
“Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẻ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc
Xưa từng có xóm có làng
Bà con cô bác họ hàng gần xa
Con trâu, con chó, con gà
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.
(…)
Rồi bây giờ:
Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.
(Mộc Mạc, Võ Phiến)
Một người như thế thì đúng là một kẻ bị lưu đày. Lưu đày tự trong tâm khảm. Cho nên thầy thuốc Ngô Thế Vinh đã có một chẩn đoán chính xác, chỉ cần một dấu chứng (sign): ‘’… bữa ăn ở nhà ông bà Võ Phiến với bánh tráng thuần túy Bình Định nhúng nước, chấm nước mắm nhỉ chanh ớt đỏ au…” Rồi anh cho biết thêm: chanh, ớt đều hái ở vườn nhà, ngay tại Mỹ quốc!
Đinh Cường “đốn ngộ’’
Đinh Cường từng nói: “Tôi đã vẽ trong mọi hoàn cảnh, nơi chốn. Không biết để làm gì. Có lúc gần như tuyệt vọng, đôi khi thấy mình được cứu rỗi. Và tôi lại tiếp tục vẽ, tiếp tục suy nghiệm”.
Và, Huỳnh Hữu Ủy nhận xét về tranh Đinh Cường :“Không rực rỡ, không lạc điệu, một chất màu ủ và quánh mà vẫn nhẹ nhàng và reo ca như vàng kim. Một thứ dạ kim với bao nhiêu hào quang quay trở vào bên trong”. Phải. Quay trở vào bên trong. Là một Đinh Cường đốn ngộ vậy.
Ngô Thế Vinh cho biết có lúc Đinh Cường ‘’muốn loại bỏ mô thể /forme của sự vật để chỉ còn giữ lại cái chất liệu /matière thuần túy của sơn dầu” nhưng rồi cuối cùng anh vẫn trở về với hội họa tạo hình!
Bởi, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” (TCS). Sắc tức thị không/ không tức thị sắc rồi đó thôi! Ngô Thế Vinh nói đúng: giờ đây không cần ký tên dưới bức tranh, người ta vẫn nhận ra là tranh của Đinh Cường.
Nhớ năm 1993, khi tôi ở Boston thì Đinh Cường gởi tôi: “Mỗi lần moa đến thác Niagara, moa đều có cảm giác muốn nhảy ùm xuống thác như con diều rơi cho vực thẳm buồn theo của TCS vậy”.
Rồi mới thôi (2014), Đinh Cường trong bài thơ Phương nào viết “gởi Đỗ Hồng Ngọc”:
Vậy đó. ngàn năm trước ngàn năm sau
chỉ nghe Không Lộ hú dài tiếng thơ
hữu thời trực thượng cô phong đỉnh
trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
Những ngày tháng nằm bệnh của Đinh Cường, chúng tôi bàn bạc tìm nhiều cách cứu vãn tình thế, không xong, như trong bài Pain, Painter, Paintings dạo đó tôi đã viết:
… Thân Trọng Minh thầy thuốc/ lắc đầu sợ khó qua/ con trăng này, không chắc/ cơn đau đã dập vùi…/ Ngô Thế Vinh tìm kiếm/ một pain specialist/ cho một người painter/ suốt đời tìm cái đẹp… (ĐHN).
“Khoảng trống’’ Nghiêu Đề
Lần nọ, Ngô Thế Vinh xin một tấm hình của ông cậu tôi, Nguiễn Ngu Í. Anh nói để viết về Nghiêu Đề, một người bạn mà anh gọi là ‘’bạn tấm cám’’. Có một bài phỏng vấn Nghiêu Đề của Nguiễn Ngu I trên Bách Khoa thời đó (khoảng 1970), trong loạt bài Sống và Viết với… ; Sống và Vẽ với…v.v… Họa sĩ Nghiêu Đề bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình: Ở quê tôi, có một giống chim lạ, sắc trắng, và dáng mong manh lắm, thường bay một mình trong đêm trăng. Người ta bảo nó bay mãi lên cao, và tan vào mặt trăng, không bao giờ trở lại. Tên nó là Nguyệt. Tiếng hót hay vô cùng. Không biết vì sao tôi yêu nó. Chỉ biết mỗi lần nó bay ngang cùng tiếng hát đã làm tôi xúc động. Bây giờ tôi nghĩ Nghệ Thuật tôi muốn là một cái gì hết sức tự nhiên như tiếng hót của chim Nguyệt vậy’’…
Trong ‘’Người bạn tấm cám Nghiêu Đề’’, Ngô Thế Vinh cho biết: Đó là “… một người bạn không ham muốn sở hữu một thứ gì. Sự nghiệp của anh chỉ là những dấu chân chim trên cát, mau chóng bị xóa nhòa bởi lớp sóng thời gian”. Cho nên đã có rất ít bài viết về Nghiêu Đề cho đến nay. Anh muốn lấp ‘’khoảng trống” đó. Bài viết của Ngô Thế Vinh là một kỳ công, không chỉ đầy đủ tiểu sử, quan niệm sống, quan niệm sáng tác mà còn sưu tập được một số hình ảnh, bìa sách, bìa báo quý giá của Nghiêu Đề.
Và tôi thật sự giật mình khi được xem bức Bố Cục Sen của Nghiêu Đề, vẽ năm 1986 khi anh đến Mỹ. Nghiêu Đề từng trả lời Nguiễn Ngu Í : “Nói về mình đã khó, giải thích cả tác phẩm mình nữa, thì thật quá sức…” nhưng với cảm nhận của một người thưởng ngoạn, tôi tự giải thích cho mình được quá chớ phải không? Tôi không tin cái đẹp của tranh chỉ ở ‘’chất liệu’’, màu sắc, ánh sáng, hình thể… mà cái chính vẫn là ý tưởng, dù nhiều khi còn nằm trong tiềm thức của người họa sĩ ‘’bất khả thuyết’’. Tranh Nghiêu Đề với tôi không chỉ để ngắm nghía, mà để ngẫm suy.
Bố Cục Sen là một. Bố Cục Sen dĩ nhiên không phải Sen. Sen chỉ là cái cớ. Hãy nhìn kỹ mà coi. Từ những làn sóng cuồn cuộn xô bồ dưới kia vươn lên nhưng búp sen e ấp rồi đột ngột tách ra, vút lên trời cao, một đóa sen vừa nở: thiếu nữ!
Mà thiếu nữ trong tranh Nghiêu Đề, đến thi sĩ Luân Hoán cũng choáng: “… thế gian được mấy góc trời / để tay Thánh chúa vẽ môi mắt tình / dẫu từ đường nét hiển linh / nghìn năm em vẫn một mình khói sương”…
Nhưng thiếu nữ ở đây cũng chẳng phải thiếu nữ. Đôi mắt to để nhìn rõ nhân gian, tiếng kêu trần thế, một tay nâng cành dương liễu, một tay rưới giọt cam lồ: Quán Thế Âm Bồ-tát!
Hình như Nghiêu Đề đã tìm ra một lối thoát, như tiếng hót của chim Nguyệt… bay ngang bầu trời!
Cảm ơn Ngô Thế Vinh đã lấp “khoảng trống Nghiêu Đề”.
Và, “Tìm lại thời gian đã mất”
Trong Tìm lại thời gian đã mất, viết về người Thầy của chúng tôi ở trường Y thời đó (Y khoa Đại học đường Saigon) – Giáo sư Y khoa Phạm Biểu Tâm – anh đã vẽ nên một nhân cách của vị thầy, một trí thức chân chính, bằng những hồi ức cảm động.
Viết về Thầy nhưng cũng là viết về một thế hệ những người áo trắng, từ thuở còn là sinh viên đến khi là người thầy thuốc trong buổi nhiễu nhương của cuộc chiến tương tàn. Cũng là đoạn hồi ký của chính anh, chính tôi, những ngày gian khó dưới mái trường Y đầy uy nghiêm, đầy lý tưởng. Ngô Thế Vinh học trên tôi một năm nhưng cùng chung mái trường Y khoa suốt 6-7 năm trời, cùng làm báo Tình Thương với nhau nên gần gũi, thân thiết. Dưới mắt tôi, anh là một người bạn thâm trầm, kín đáo, đa cảm, mà như ráng giấu đi những cảm xúc để chỉ bày tỏ trên trang viết!
Tôi còn nhớ khi thầy Phạm Biểu Tâm đón lứa tân sinh viên chúng tôi vào trường Y ở 28 Trần Quý Cáp Saigon, Thầy ân cần dặn dò: “Nghề Y là một nghề cao quý, nếu mình muốn cao quý, nhưng cũng là một nghề thấp hèn, nếu mình muốn thấp hèn!”. Rồi Thầy nói thêm: “Trong đời làm nghề Y, không tránh khỏi đôi khi lầm lỗi, nhưng chỉ nên là những lỗi nhẹ để ân hận mà không nên để phải hối hận!”.
Năm 1988, khi Saigon (tp HCM) chuẩn bị thành lập trường Y riêng (nay là ĐHYK Phạm Ngọc Thạch), tôi đã đến thăm Thầy, xin thầy cho vài lời chỉ dạy. Thầy nói, “Trước hết phải Nghiêm”. Đúng vậy. Sinh mệnh bệnh nhân nằm trong tay người thầy thuốc. Thế hệ thầy thuốc chúng tôi đều đã học được điều này từ tấm gương của chính Thầy trong nếp sống, trong nghề nghiệp.
Hình như ai trong chúng ta rồi cũng có lúc ”tìm lại thời gian đã mất” phải không Vinh?
(ĐHN, Saigon, 8/2017)
tặng THT
còn nhớ không
căn nhà ốm nhom khu bàn cờ
bạn từng trú mấy hôm
đi coi mắt vợ
ngày đó mới thôi…
bọn mình rớt mồng tơi,
dĩa bánh cuốn ly café đã khó
tôi nằm chờ giải ngũ
bạn trốn trại về…
khu mình chẳng có gì vui…
ngoài mấy nhà bảo sanh
một nhà thương thí
phòng mạch bác sĩ
văn phòng luật sư…
nhà thuốc tây thuốc bắc
khu mình chẳng có gì vui
ngoài cái chợ ồn ào
mấy dãy phố thời trang dị hợm
quán ăn đầy ngõ hẽm
vài ngôi chùa trang nghiêm
và mấy trại hòm…
đâu có cần ra khỏi cổng thành
đâu có cần vượt sông anoma
chỉ quanh quẩn nơi đây
cũng đầy sanh bệnh lão tử…
ngày đó mới thôi,
căn nhà ốm nhom khu bàn cờ
bạn từng trú mấy hôm
đi coi mắt vợ…
rồi bảo sanh
rồi bệnh viện
rồi nursing home…
cuộc đời đầy kinh ngạc
phải không?
Đỗ Nghê
(8-2016)
Thư gởi bạn xa xôi (9.17)
“Con đường sỏi đá vẫn quanh co…”
Có bao giờ bạn thấy một đám đàn ông có tuổi ngồi xúm xít ”cụng dừa” không? Chắc là không. Lứa tuổi này, cụng là cụng rượu thôi! “Một chiều ngồi say một đời thật nhẹ ngày qua…” (TCS). Vậy mà có đó. Chuyến rồi mình về Mũi Né và ngồi ”cụng dừa” với các bạn…trẻ ở đó. Bạn trẻ? Phải, tất cả đều mới ngoài 60, mới hưu đôi ba năm! Đa số mình mới gặp lần đầu! Cả bọn kéo vào một quán cafe. Một bạn ôm bình rượu thiệt to nhưng mình nói mình không biết uống rượu, vậy là mọi người chiều ý đành cụng nước dừa mới dễ thương làm sao!
Từ trái: Mai Chí, Đặng Văn Quân, Đỗ Hồng Ngọc, Ngô Đình Miên
Sau đó mỗi lúc mỗi thêm đông, lại tiếp tục cụng dừa, để chờ đến giờ hẹn về dốc Bà Banh, đình Khánh Thiện tụ tập ở nhà anh 7 Du ”giao lưu” với Đỗ Nghê, tác giả bài thơ Mũi Né… một bữa!
Ối trời, mình về MN nhiều lần, chưa có lần nào họp mặt đông vui và cảm động như vậy.
Bạn coi hình thôi nhe. Làm biếng viết quá rồi.
Có người tận Ma Lâm xuống, có người từ Phan Thiết ra, có vài người ở Mỹ về, tình cờ tham dự buổi họp mặt đặc biệt này.
Ngô Đình Miên, Tuyết Nhi, Võ Đình Lang (mà các bạn đùa gọi là Võ Đại Lang, anh Võ Tòng), một cây đờn đáng nể, soạn cả một bản nhạc phỏng thơ Đỗ Nghê. Hôm đó Võ Đình Lang vừa đờn vừa hát thiệt hay. Rồi Đặng Văn Quân, Hồ Nhữ Phước, Mai Chí (người tổ chức buổi họp mặt này, nhà ở Rạng, đã cương quyết bảo bài thơ Mũi Né của Đỗ Nghê thiệt ra là viết cho Rạng chớ chả dính dáng gì tới Mũi Né!). Rồi còn có Hoàng Như Bảo, Hiếu (Hàm Thuận Nam), Võ Văn Trọng, Lê Ngư, Thu Thảo (Mũi Né), anh 7 Du và Cô Tuyết… chủ nhà.

Võ Đình Lang hát Mũi Né (do anh sáng tác, phỏng theo bài thơ Mũi Né của Đỗ Nghê) Anh cho biết bài này anh viết đã từ lâu, viết đi viết lại năm lần bảy lượt mới xong…
Hôm sau, Lang gởi bản nhạc tặng mình để kỷ niệm. Hóa ra anh là một người rất thân quen.
Rồi Lang đệm đàn cho Thu Thảo hát, cho Lê Ngư hát. Rồi không chỉ Lang, Mai Chí cũng ôm đàn hát… thì ra một buổi ”văn nghệ” bỏ túi bên ”con đường sỏi đá vẫn quanh co” ngày nào… Gần 60 năm rồi còn gì!
Thu Thảo bảo bài thơ Mũi Né ra đời trước cô một năm! Cô vẫn thuộc nằm lòng. Lê Ngư bảo cô giáo Mai Nương, xưa dạy Hải Long – hiện đang ở Mỹ- là người ”truyền tụng” bài thơ này cho các em những năm 70 ! Lê Ngư vừa phone cho cô giáo nói hôm nay gặp tác giả bài thơ, cô bèn gởi lời thăm Đỗ Nghê.
Không thể không nhắc Mai Chí. Chính anh bạn trẻ này (mới 63 tuổi) nhà ở Rạng, viết một bài trên Facebook “Chợ Rạng ngày xưa” có một đoạn về bài thơ Đỗ Nghê, thú vị với những nhận xét rất riêng của anh.
Đây là bài viết của Mai Chí:
Chợ Rạng ngày xưa! (tt).
Đầu thập niên 70, anh Đỗ Nghê đã làm những chàng trai cô gái vùng Mũi Né phải tốn không biết bao nhiêu là giấy mực và công sức, để nắn nót chép cho nhau bài thơ của anh, bài thơ Mũi Né!
Em có về thăm Mũi Né không
Hình như trời đã sắp vào xuân
Hình như gió bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân…
…
Dài 20 câu, chia làm 5 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, nhưng đoạn nào cũng xuất hiện 2 chữ Mũi Né. Nếu tính cả cái tựa đề, thì có cả thảy 6 chữ Mũi Né! Chỉ có điều là đoạn nào cũng hay cả, cứ đọc qua một lần là tự nhiên thuộc lòng!
Anh Đỗ Nghê bây giờ thì ra là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, có lẽ anh có nhiều sáng tác, nhưng đối với tôi, bài thơ này là một ấn tượng quá đẹp, đọc đoạn nào cũng cảm thấy hình như có mình trong đó!
Từ khi lớn lên rồi đi đây đi đó khắp nơi, tôi đã có cái suy nghĩ cho rằng rừng dừa ở Rạng là đẹp nhất, và kỳ lạ thay, cho đến giờ cái suy nghĩ đó vẫn không thay đổi! Chính vì vậy mà bài thơ Mũi Né của Đỗ Nghê đã nghiễm nhiên đi vào và ở luôn trong tiềm thức, suy cho cùng với tôi, nó không khác gì so với truyện Kiều hay Chinh phụ ngâm học hồi nhỏ!
Dưới đây tôi có chép lại 20 câu thơ của bài thơ Mũi Né, quí vị sẽ thấy hai chữ “Mũi Né” được liên tục lặp đi lặp lại.
Thế nhưng, suy nghĩ một lát, sẽ thấy rằng cả bài thơ đều nói về Rạng! Không thể tìm thấy Mũi Né trong bài thơ!
Không có Bãi trước bãi sau, không có Động Bà Lựa (bây giờ kêu là Đồi cát Mũi né), không có dốc Bà Banh, không có trung học Hải Long và Lục thị Đậu phụng cúng, không có hòn Cù Lao Gành đá, không có Đồi Hồng hòn Rơm! Không có và không có, đúng không?
Chẳng hạn: “… Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng. Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong…” là hình ảnh một cô gái Rạng, vừa mới uống xong một trái dừa xiêm mà đôi môi hãy còn… ngọt lịm và ngất ngây!
Xin phép thêm rằng biển Rạng đẹp quá, có mấy con thuyền bé nhỏ ngoài kia đã in hình vào đôi mắt “trong” của cô gái, đang ngồi ngắm biển mà mơ mà mộng!
Ngày Chủ nhạt, rảnh rang, viết chơi để góp vui, có gì sai sót, xin lượng thứ mà bỏ qua, một ông già lẩm cẩm!
Mai Chí (Rạng)
Mũi Né
Em có về thăm Mũi Né không
Hình như trời đã sắp vào xuân
Hình như gió bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân…
Em có về thăm Mũi Né không
Mùa xuân thương nhớ má em hồng
Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng
Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong
Em có về thăm Mũi Né xưa
Con đường sỏi đá vẫn quanh co
Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc
Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ
Em có về thăm Mũi Né yêu
Mười năm như một thoáng mây chiều
Mười năm vườn cũ chim bay mỏi
Áo trắng chân mềm em hắt hiu
Mũi Né ơi, người xưa đã xa
Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ
Năm nay người có về ăn Tết
Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ?
Đỗ Nghê (1970).
sent by my Samsung
(chiphanthiet@gmail)
”Con đường sỏi đá vẫn quanh co…”
Dĩ nhiên mình vẫn không quên đi lại trên ”con đường sỏi đá vẫn quanh co…” ngày xưa, không xa lạ lắm, dẫu bước chân đã khập khiểng, đắn đo. Những ngôi nhà đơn sơ bên bờ sóng còn đó, và cả những căn nhà xưa cũ đầy dấu rêu phong…
Thôi vắn tắt, hẹn thư sau nhé,
Đỗ Hồng Ngọc
(9.2017)
Tùng địa dũng xuất
(Pháp Hoa)
Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên
hết ngày này sang ngày khác?
vì sao núi lửa cứ phun trào?
vì sao băng tan vì sao bão táp…?
vì sao trẻ con người già bị cuốn trôi bị thiêu đốt
thành phố tan hoang cửa nhà đổ nát như món đồ chơi
của một đứa trẻ đang giận dữ
vì sao và vì sao?…
Nhưng hãy lắng nghe
Dù trong giây lát
Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao
những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?
vì sao những dòng sông nghẽn tắt?
vì sao những mủi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?
vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân
vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt
vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…
vì sao và vì sao?
Ta nương tựa vào nhau.
Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!
Đất rùng mình phận đất…
Người rùng mình phận người…
Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
BRIVIDI !
Rabbrividendo, l’Uomo chiede :
Perche’i terremoti e gli tsunami
Continuano ad arrivare un giorno dopo l’altro?
Perche’ i vulcani continuano ad eruttare?
Perche’ i ghiacciai si sciolgono, i tifoni distruggono?
Perche’ i bambini e i vecchi vengono trascinati e inceneriti?
Le case crollano e le citta’ sono distrutte come fossero i giocattoli
di un bambino arrabbiato.
E perche’, perche’..???
Ed ora ascolta
Solo un istante……
Rabbrividendo anche la Terra chiede:
Perche’ le montagne continuano a crollare ?
Perche’ i fiumi vengono bloccati?
Perche’ si continua a perforare il fondo della terra?
Perche’ gli uccelli delle foreste, i pesci del mare non hanno un posto dove stare?
Perche’ gli alberi secolari vengono sradicati?
Perche’ il riso, il granoturco vengono modificati geneticamente?
E perche’, perche’ ?
Una volta ci si appoggiava uno all’altro
Sembra che ora non abbiamo più bisogno l’uno dell’altro
La Terra rabbrividisce
L’Uomo rabbrividisce
Ognuno per proprio conto.
Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Ý của Trương Văn Dân e Elena Pucillo Truong)
FRISSONS !
Frissonant, l’Homme demande:
Pourquoi les tremblements de terre et les tsunamis
Continuent à arriver un jour après l’autre?
Pourquoi les volcans continuent à éclater ?
Comment arrive-t-il que les glaciers fondent, les typhons détruisent?
Pourquoi les enfants et les personnes âgées
Sont entraînés et sont reduits en cendres ?
Les maisons s’effondrent et les ville sont détruites
Comme si elles étaient des jouets d’un enfant en colère.
Et pourquoi, pourquoi ?
Et maintenant écoute
Seulement un instant…..
Frissonant la Terre demande également:
Comment arrive-t-il que les montagne continuent à s’effriter ?
Pourquoi les rivières viennent bloquées?
Comment arrive-t-il qu’on continue à percer le fond de la terre?
Pourquoi les oiseaux de forêts, les poissons de la mer
n’ont plus un endroit où vivre?
Pourquoi les arbres sont déracinés?
Pourquoi le riz , le maïs sont génétiquement modifiés?
Et pourquoi, pourquoi?
Une fois on s’appuyait l’un à l’autre
Il semble que maintenant nous n’avons plus besoin les uns des autres.
La Terre frissonne
L’Homme frissonne
Chacun pour son propre compte.
Đỗ Hồng Ngọc
(2011)
( Bản dịch tiếng Pháp của Elena Pucillo Truong)
………………………………………………………………………………………………………………………………..
Ghi chú: Bão Harvey ập vào Houston, bão Irma ập vào Florida, rồi bão số 10 Doksuri ập vào miền Trung…Việt Nam.
Đất vẫn run từng cơn của Đất, nước run từng cơn của Nước, và Gió và Lửa…
Cảm ơn Trương Văn Dân, tác giả của Bàn tay nhỏ dưới mưa, cảm ơn Elena Pucillo Trương đã… rùng mình dịch Rùng mình…
Đỗ Hồng Ngọc
(9-2017)
