Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Phan Trang Hy: TRÒN TRĂNG THÁNG TƯ

29/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

TRÒN TRĂNG THÁNG TƯ

Phan Trang Hy

Kênh Nhiêu Lộc Tp HCM. ( theo vncphathoc)

Nắng hạ về ươm mật. Trên từng ngõ ban sơ hạnh ngân dài (Bùi Giáng), cùng những con phố ánh vàng rực rỡ, mặt người rạng rỡ hoan ca. Cờ ngũ sắc cùng Phật kỳ reo vui mở hội. Hội mừng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáng trần.

Dẫu là người ngoại đạo, nhưng ở tôi, thi thoảng cũng thích cơm chay. Có lúc cũng bập bẹ dăm ba câu chú, đọc ít kinh ít kệ. Cứ gọi là có chút tâm Phật – nếu Phật cho phép – ngộ được cái ngộ của Nguyễn Tiên Điền: Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Và cứ thế, chữ tâm ở chốn hồng trần đã giúp tôi mơ. Có lúc, tôi mơ thấy mình chắp tay như những Thanh Văn cung kính hầu Đức Phật, nghe Ngài thuyết pháp cõi người ta (chữ của Nguyễn Du). Cũng có lúc, tôi mơ về bến giác, được chu du cõi Ta-bà như trăng, như gió, như mây. Cũng có lúc, tôi vui mừng như thể được ánh đạo vàng. Tôi như là bằng hữu của mọi người; tôi như là anh em của chúng sinh. Tôi nghe lời của Đức Từ Phụ sáng ngời đạo lý Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Cũng có lúc đớn đau, có lúc bệnh tật, có lúc thất tình lục dục nổi lên. Tôi than khóc ở cõi đời này. Tôi đã kêu Trời Phật. Và Người như dỗ dành tôi, xoa dịu nỗi đau nhân thế. Tôi như mang cái nghiệp, cái duyên, cái nợ ở kiếp này. Và tôi chấp nhận vác những bụi trần như thể “trời sinh ra ta có ý”.

Mỗi năm một lần, tôi cùng vợ con đi chốn Phật đường. Đó là giây phút giao thừa. Hương trầm lan toả không gian, ánh sáng diệu huyền như rửa sạch mọi nỗi ưu tư. Tôi cùng mọi người lễ bái, nguyện cầu trước huệ nhãn của Đức Từ Phụ. Tôi thấy ai cũng tử tế, cũng tâm bình an trong giây phút linh thiêng. Ai cũng tay bắt mặt mừng, lòng tràn hạnh phúc. Trong tiếng nhạc mừng xuân dịu nhẹ, tôi thấy Đức Phật trên đài sen vẫn trầm tư. Ngài vô ưu, vô tư lự?

Và tháng tư về. Vẫn linh thiêng như phút giao thừa! Vẫn ánh sáng viên diệu chốn trần gian! Hương lan, hương huệ thơm cả trời đêm. Tất cả các từng trời, các thế giới vang lên khúc nhạc hát mừng Đản Sinh.

Tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kinh cầu như lời của chúng sinh dâng lên Đức Phật. Trên trời, trăng xanh trong như thể mang sự huyền diệu đến muôn dân, đến với thế gian luân hồi này.

Tháng tư huyền diệu tròn trăng. Tháng tư huyền diệu Đản Sinh. Huyền diệu cả đất trời hát mừng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Tròn trăng viên mãn tháng tư. Tròn trăng hát mừng thế gian được ánh đạo vàng chỉ lối.

Bất chợt, tôi nhớ đến bài thơ của Từ Đạo Hạnh :

Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không.

Hữu, không như thuỷ nguyệt,

Vật trước hữu không không.

Dịch thơ :

Có thì có tự mảy may,

          Không thì cả thế gian này cũng không.

         Vừng trăng vằng vặc in sông,

          Chắc chi có có, không không mơ màng.

(Huyền Quang dịch?)

 

Đêm. Tôi ngước nhìn trời. Sáng trên trời trăng tháng tư. Sáng trong tôi trăng tháng tư. Cùng chư tôn Phật tử trên thế gian hát mừng Đức Phật, tôi cũng hát theo. Tôi hát mừng, hát nguyện cầu thế gian được an bình, được gặp điều viên diệu ở cõi trần.

Trầm hương thơm cả đất trời. Ngời ngời trăng sáng tháng tư. Đất trời thị hiện Đức Thế Tôn.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

 

(P.T.H)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Nghĩ từ trái tim

Trò chuyện về “Thở và Thiền” với nhóm Yoga

29/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Vài hình ảnh về buổi Trò chuyện về Thở và Thiền với nhóm bạn Yoga ở An Lạc Trang (Củ Chi) ngày CN 27.5.2018

 

Các bạn học viên đa số trẻ, khoảng 30 người, đến An Lac Trang từ ngày hôm trước, thực tập Yoga Trị liệu và ‘nghỉ dưỡng’ ở một nơi rất thiên nhiên. Sáng Chủ nhật 27.5.2018 này các bạn muốn có một buổi trò chuyện với một bác sĩ… về Thở và Thiền. Tôi được mời đến để trao đổi cùng các bạn và tôi cũng muốn đến để học hiểu thêm về Yoga từ các bạn.


Trong buổi trao đổi chân thành và thân mật này, tôi bắt đâu bằng cách đưa ra vài ‘trò chơi’ để các bạn mở rộng cách nhìn, cách nghĩ… cũng là một hình thức giải trí, nhưng tuy vậy vẫn là một vài… bài học kinh nghiệm.

 

Khung cảnh An Lạc Trang rất thiên nhiên, nhiều cây xanh, dòng nước mát, hít thở ở đây thật sảng khoái. Dịp này tôi nói về bộ máy Hô hấp, về phương pháp Thở bụng (abdominal breathing, diaphragmatic breathing), về cơ-thể-học, sinh-lý-học của hô hấp, đến Trung khu hô hấp nằm bên dưới vỏ não hoạt động ra sao. Vấn đề là tại sao Phật chọn ‘hơi thở’ làm đề mục của Thiền, tại sao Thiền Anapanasati có cơ sở khoa học nhất trong Tứ Niệm Xứ, có thể thực hành đứng đắn mà không phải sợ “side effect”. Dĩ nhiên cũng nói đến Tinh cần, Chánh niệm, Tỉnh giác; về Thiền chỉ (Samatha) và Thiền quán (Vipassana). Sau cùng, tôi chia sẻ với các bạn bài Vè Thiền Tập của mình (Tham khảo thêm: www.dohongngoc.com/web/ bài “Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?” và bài “Ai có thể thở giùm ai?”.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Với vài ba phút ‘thực hành’

 

 

 

 

 

 

 

 

và, một bữa ăn trưa… chay đầy ‘chánh niệm’

 

 

 

 

 

 

 


Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Thiền và Sức khỏe

Tôi học Phật

28/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Tôi học Phật

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

… Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà. Ngài lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỳ khưu:
– “Này các Tỳ khưu, cái gì là nhiều hơn, số lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay số lá trong rừng Simsapà?”.
– “Bạch Thế Tôn, số lá Simsapàmà Ngài nắm lấy trong tay thật là quá ít, còn số lá trong rừng Simsapà thật là quá nhiều”.
– “Này các Tỳ khưu, cũng giống như thế…

Cho nên, với tôi, “lõm bõm” học Phật cũng là quá đủ rồi vậy!

 

hình Internet

1. La-hầu-la là… con Phật lúc Phật còn là Thái tử. Một người con huyết thống. Trong cái đêm rời bỏ cung điện, “quyết tìm đạo sáng cứu chúng sanh” đó, Thái tử Tất-đạt-đa hẳn đã ít nhiều quyến luyến. Khi Phật thành đạo, có dịp về thăm vua cha thì La-hầu-la đã lên bảy tuổi. Và ngay dịp đó, La-hầu-la cũng xin theo Phật, xuất gia.
Hãy coi Phật đã dạy La-hầu-la những gì… để học lóm cũng hay!

Liễu Quán 14. tháng 5.2018, PL 2562

Trước hết, Phật giao La-hầu-la cho… ông “thầy dạy kèm” là Xá-lợi-phất. Sao lại Xá-lợi-phất mà không phải ai khác như Mục-kiền-liên chẳng hạn? Xá-lợi-phất thì mới đúng là một ông giáo, kiến thức uyên bác, đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật mà. Phật giao cậu bé La-hầu-la cho Xá-lợi-phất dạy dỗ là muốn La-hầu-la đi vào con đường tu tập bằng trí tuệ trước hết. Nếu Mục-kiền-liên mà làm thầy có khi La-hầu-la mê… thần thông mất! Phật không trực tiếp dạy La-hầu-la vì cha mà dạy con không dễ, nhứt là ông con có máu làm vua!
Và bài học đầu tiên Xá-lợi-phất dạy La-hầu-la là thở. Tức là dạy kỹ năng đầu tiên của thiền định. Bởi đây cũng chính là con đường khai mở trí huệ. Có chánh định rồi mới mong có chánh kiến, chánh tư duy… chớ, phải không? Cuộc sống càng căng thẳng, càng đam mê, càng nhiều  tham sân si mạn nghi tà kiến… thì người ta càng dễ quên thở. Người ta chỉ thoi thóp thở, khò khè thở, hời hợt thở, cà giựt thở, cà hước thở cho qua ngày đoạn tháng! Cho nên phải dạy thở trước hết cho La-hầu-la là đúng. Nhưng thở không chỉ là thở. Thở để thấy một kiếp người. Thở để thấy vô thường, vô ngã. Thở để thấy duyên sinh, thấy thực tướng vô tướng.

Rồi khi La-hầu-la lớn dần lên, Phật dạy những bước tiếp theo.

Hãy học hạnh của đất. Hãy như đất. Đất ở khắp nơi. Đất trong ta. Đất trong vũ trụ. Không có đất, ta không nên hình nên dạng. Không có đất, nhựa nguyên không thành nhựa luyện. Điều quan trọng: đất không hề phân biệt. Ném một thỏi vàng hay một đống rác, đất vẫn “như như bất động”…

Hãy học hạnh của nước. Hãy như nước. Nước ở khắp nơi. Nước ở trong ta chiếm đến ba phần tư thể trọng. Cũng như biển cả sông ngòi chiếm ba phần tư mặt địa cầu. “Nước trôi ra biển lại tuôn về nguồn” (Tản Đà). Chẳng thêm chẳng bớt…

Hãy học hạnh của gió. Hãy như gió. Gió ở khắp nơi. Gió trong ta. Trong bầu khí quyển. “Gió không có nhà/ Gió đi muôn phương…”. Đâu cũng là nhà của gió. “ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…” (TCS).

Hãy học hạnh của lửa. Hãy như lửa. Lửa ở khắp nơi. Lửa trong ta. Lửa trong vũ trụ. Lửa ở mặt trời. Lửa giữa lòng đất. Lửa ở trong cây. Không có lửa sao cọ xát thì cây bốc lửa? Lửa đốt cháy hết tham sân si. Lửa tam muội ngùn ngụt trong chánh định…
Tứ đại “đất, nước, gió, lửa”, chính là những chất liệu, như Nitrogen (đất), Hydrogen (nước), Oxygen (gió), Carbon (lửa) tạo nên protein. Từ đó mà có sắc, thọ, tưởng, hành, thức…

Và Phật đã không quên nhắc đi nhắc lại với La-hầu-la: “không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta”. Giới Định Huệ chính là thuốc đặc trị cho Tham Sân Si.

 

2.“… 30 năm trước khi chưa tu thấy núi là núi, sông là sông. Sau nhân được thiện tri thức chỉ cho chỗ vào thì thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông. Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh lại thấy núi là núi, sông là sông…”
Cái thấy của 30 năm trước là cái thấy của nỗi lo âu vì vô thường:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai…
(Tú Xương)
Cái thấy của 30 năm trước là cái thấy của nỗi sợ hãi vì chấp ngã:
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi…
(Vũ Hoàng Chương)

theo Internet

Ta sống trong vô thường vô ngã mỗi phút giây mà chẳng biết. Mỗi ngày Trái đất bay vòng quanh Mặt trời 2,5 triệu cây số; mỗi giây hàng trăm triệu tế bào hồng cầu tự hủy đi để hàng trăm triệu tế bào hồng cầu mới sanh ra… Ta vẫn cứ tưởng còn ngồi lại bên cầu để than thở: “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ…”.  Cho đến lúc thảng thốt nhận ra: “Con sông là thuyền/ mây xa là buồm/ từng giọt sương thu hết mênh mông…” (TCS).

Người thiện tri thức đã chỉ cho chỗ vào? Vào đâu? Vào cái thấy “như thực”: thấy mọi thứ và cả cái ta nữa, luôn biến dịch, luôn đổi thay, bởi nó từ duyên mà khởi, từ duyên mà sinh. Ta thì từ đất nước gió lửa. Núi thì từ đá, đá thì từ cát, cát thì từ gió…  Nhìn cho rõ ngọn nguồn. Thấy cái thực tướng vô tướng. Rồi mừng rỡ reo lên: À, thì ra là Không.
Núi chẳng phải núi. Sông chẳng phải sông!… Nhưng  chấp Không còn tệ hơn chấp Có.

May thay, khi thể nhập vào chốn yên vui tịch tĩnh thì núi vẫn cứ là núi, sông vẫn cứ là sông. Núi là núi mà còn đẹp hơn xưa. Sông là sông mà còn đẹp hơn xưa. Chơn không mà Diệu hữu.

 

3. Làm sao nghe tiếng vỗ của một bàn tay ư? Một bàn tay làm sao vỗ cho ra tiếng được?
Phật bảo đánh một tiếng chuông. Hỏi có nghe không, Anan? Dạ, có nghe. Nghe gì? Nghe tiếng chuông. Tiếng chuông dứt, Phật hỏi có nghe không, A-nan? Dạ không. Không nghe gì? Không nghe tiếng chuông. Phật cho đánh lại tiếng chuông lần nữa. Nghe không? Dạ có nghe. Nghe gì? Nghe tiếng chuông. Phật cười: Tôi hỏi ông có nghe không chớ đâu có hỏi ông có nghe tiếng chuông không?
Giữa hai lần gióng chuông ông vẫn nghe đó chứ, ông nghe sự im lặng, nghe sự “không-có-tiếng” đó chứ. Vậy cái sự “nghe” của ông đâu có mất dù cái tiếng chuông kia khi có khi không.
Tiếng là thanh trần, từ bên ngoài, luôn thay đổi. Còn “nghe” –  “tánh nghe” – là tự bên trong, không hề thay đổi, luôn có đó.

 

4. “Ngày nào còn một chúng sanh…, thì quyết không thành Phật.”
Đó là lời thệ nguyện của một vị Bồ-tát. Mà có lẽ cũng là của tất cả các vị Bồ-tát. Ngày nào còn một chúng sanh… nghĩa là Bồ-tát muốn thành Phật thì phải “độ” cho tất cả các “loài” chúng sanh vào Niết bàn sạch trơn mới xong. Bồ-tát phải giúp cho ‘’vô lượng vô số vô biên chúng sanh được… diệt độ, mà thiệt ra chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả’’(Kim Cang). Vậy chúng sanh là gì mà ngày nào còn một chúng sanh thì Bồ-tát chưa thể thành Phật? Chúng sanh là mọi người trên hành tinh này ư? Là mọi loài sinh vật, cỏ cây, muôn thú ư? Vậy đưa hết chúng sanh vào Niết bàn thì ta… thành Phật để làm chi? Bởi ước nguyện thành Phật là để mang lại hạnh phúc, an lạc, giải thoát cho mình và cho chúng sanh kia mà! Kim Cang nói rõ: “Chúng sanh không phải là chúng sanh nên gọi là chúng sanh” (chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh). Nghe thiệt điếc con ráy! Nhưng điếc con ráy là tại ta hiểu lầm thôi, chớ chúng sanh ở đây chỉ có nghĩa là những gì do nhiều (chúng) yếu tố tạo thành (sanh) thì gọi là chúng sanh. “Chúng duyên nhi sanh” thế thôi.
Cũng với 3 nguyên tố C (Carbon), H (hydrogen) và O (Oxygen), với những điều kiện nhiệt độ, áp suất nào đó và với tác dụng của một enzym nào đó thì kết hợp với nhau, khi thì cho ra dấm, khi cho ra đường, ra rượu… Đường, dấm, rượu là những “chúng sanh” do ‘’duyên’’ (điều kiện) sanh đó vậy. Một lời nói xúc phạm của ai đó, lúc đầu lời qua tiếng lại, lát sau động tay động chân, cũng sẽ tạo ra vô lượng vô số vô biên… “chúng sanh” đó thôi! Lòng tham, nỗi giận, sự si mê, tà kiến, kiêu căng, ngạo mạn…đều là những chúng sanh dắt díu nhau xuất hiện trong ta.
Chúng sanh đầy dẫy trong tâm. Nó không từ ngoài vào. Cho nên phải: Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh (Lục tổ Huệ Năng).
Và, như thế, Bồ-tát nguyện “ngày nào còn một chúng sanh… quyết không thành Phật” là có lý quá chớ!

 

Kinh Pháp Hoa khắc trên gỗ thị đỏ hơn 300 năm trước được tìm thấy tại Chùa Cát (Phật Quang), Phan Thiết. (ĐHN, 2009).

5.  Một hôm Phật nói ta sắp nhập Niết bàn rồi, ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi.
Các vị Bồ-tát nhao nhao hỏi:
– Thế Tôn, có pháp môn nào giúp cho mau thành Phật không? (kinh Pháp Hoa)
Ối trời! Thành Phật đã là chuyện hy hữu, tu hành nhiều đời nhiều kiếp chưa ăn thua gì mà bây giờ còn muốn cho mau thành Phật nữa ư?
Vậy mà, Phật tủm tỉm cười:
– Có đó. Có một pháp môn giúp cho mau thành Phật. Pháp môn này gọi là Vô Lượng Nghĩa”!
– Sao gọi là Vô Lượng Nghĩa?
– Vô Lượng Nghĩa này từ một pháp sanh ra, một pháp ấy là “Vô tướng”.
– Sao gọi là Vô tướng?
– Vô tướng đây nghĩa là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thật tướng.
Thì ra để thấy được Thật tướng thì phải tu pháp Vô tướng. Vì còn thấy có tướng, còn dính mắc vào tướng, còn loay hoay trong tướng – cái trình hiện, cái biểu kiến bên ngoài – thì không thể thấy Tánh.

 

6. Phật hỏi Duy-ma-cật: “Như ông muốn thấy Như Lai thì quán Như Lai như thế nào?”. Duy-ma-cật thưa: “Như tự quán cái ‘thật tướng’ của thân, quán Phật cũng như vậy”.

Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Phật là Như Lai bởi Phật luôn sống trong Như Lai, sống với Như Lai, nói khác đi, Phật luôn sống trong pháp thân, trong thật tướng.
Thấy được cái pháp thân của Phật, cái thực tướng của Phật thì mới thấy… Như Lai. Còn nếu chỉ nhìn vào 80 vẻ đẹp hay 32 tướng tốt thì còn lâu mới thấy Như Lai. Dùng âm thanh chũm chọe, ánh sáng chớp lòe… thì chẳng những không thấy Như Lai mà còn bị Phật chê là “hành tà đạo”. Bởi Như Lai không có cái gì để thấy cả!

Phổ Hiền Bồ-tát bảo khi gặp Phật thì phải kính lễ (Lễ kính chư Phật), còn khi gặp Như Lai thì chỉ còn có cách xưng tán (Xưng tán Như Lai!), tức khen ngợi, trầm trồ, thán phục, gật gù, ú ớ, bởi vì “nói không được”!
Duy-ma-cật giải thích thêm: Như Lai thì vô danh, vô tướng; không sạch, không nhơ; không phải hữu vi cũng không phải vô vi…; không định, không loạn; không trí cũng không ngu; không đến không đi; không vẩn đục, không phiền não, không tác, không khởi, không sanh, không diệt, không sợ, không lo, không mừng, không chán…; không thể lấy trí để biết; không thể lấy thức để nhận ra; dứt tuyệt tất cả con đường ngôn thuyết; không thể bằng tất cả ngôn thuyết để hiển thị hay phân biệt…

Do vậy, muốn thấy Như Lai thì phải quán, mà trước hết là quán cái “thực tướng” của chính thân mình.  Cho nên Phật dạy: “Hãy nương tựa chính mình!”.

 

7. Rồi học hạnh Chân thành của Dược Vương, vị Bồ-tát “Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến”, ai thấy cũng vui, ai gặp cũng mừng. Dược Vương tự “đốt thân” (Thiền định) để vào Chánh định, đạt “nhân vô ngã”, rồi đốt cả hai cánh tay, giải trừ chấp pháp, đạt ‘’pháp vô ngã’’, từ đó mới ung dung tự tại, chân thành, trung thực… Thân khẩu ý là một. Nụ cười toát ra tự bên trong, không làm bộ làm tịch, vẽ vời, trau chuốt, không mang mặt nạ, không nói một đằng làm một nẻo…

Rồi học hạnh Thấu Cảm của Quán Thế Âm, vị Bồ-tát có khả năng “nghe được tiếng kêu của trần thế!”. Với lòng đại từ đại bi, với vô úy thí, nghìn mắt nghìn tay, nước cam lồ rưới mát cõi nhân sinh đầy thù hận, sợ hãi. Sợ gì? Sợ chết, sợ khổ, sợ nghèo, sợ xấu xí, sợ bệnh hoạn, sợ già nua… Cho nên làm cho hết sợ là đủ để mang lại an lạc, đủ để “cứu vớt chúng sanh” thoát biển trầm luân. Nhưng vì đâu mà sợ? Vì tưởng. Vô thường tưởng là thường. Vô ngã tưởng là ngã…Nuôi mộng muôn năm trường trị, nhất thống giang hồ…
Quán Thế Âm không đến từ bên ngoài mà đến từ bên trong của người “hành thâm Bát Nhã”.

Rồi học hạnh Thường Bất Khinh, vị Bồ-tát chỉ làm mỗi việc: chắp tay xá lạy mọi người, bất kể là ai và nói với họ rằng: Tôi không dám coi thường ngài. Ngài là một vị Phật tương lai. Nghe ông nói, ai cũng nổi giận. Phật ư? Giỡn chơi sao chớ. Chế giễu hả? Và người ta đánh đuổi ông, nguyền rủa ông, ném đá ông. Mặc kệ, ông vẫn kiên trì, không một chút nao lòng. Nghe một lần hai lần thì khó chịu, nghe trăm lần ngàn lần thì giật mình, ơ hay, cũng dám lắm chớ. Ai cũng có hạt giống Phật mà, chịu khó tưới tẩm có ngày dám mọc lên một cây Bồ đề lắm chớ.
Cho nên Tôn trọng, đức tính thứ nhất để thiết lập truyền thông hiệu quả. Thiếu tôn trọng thì truyền thông lập tức gẫy đổ.

Chân Thành (Genuine), Thấu Cảm (Empathy), Tôn Trọng (Respect)… là những hạnh cốt lõi của Bồ-tát đó vậy./.

theo Internet

(Đỗ Hồng Ngọc)

Phật Đản 2018

…………………………………………………………………………………..

(Tạp Chí Liễu Quán số 14, Phật Đản, PL 2562 (tháng 5.2018)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Phật học & Đời sống

“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”

26/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Một vài cảm nghĩ khi đọc Tản Văn Thi của Nguyễn Thị Khánh Minh

“ Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (*)

 

 Tôi không tin Tản Văn Thi của Khánh Minh là giấc mơ, là huyền thoại, là chiêm bao. Trái lại, nó rất hiện thực. Nó rất ở đây và bây giờ. “Đó là bức tranh sắc mầu cuộc sống”: bức tranh của một gia đình hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ như ‘Me tôi ngồi khâu áo bên cây đèn dầu hao/ Cha tôi ngồi xem báo… Tôi nghe tiếng còi tàu… ’(Kỷ Niệm, Phạm Duy).

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng chim trao lòng tin cậy; chỉ ở đó mới có bờ vai nương tựa sớm hôm; chỉ ở đó mới có những ánh mắt sao trời thơ trẻ; và đôi cánh bay lên những ước mơ đằm thắm ngọt ngào của người thi sĩ, luôn nhắc nhở mình “đừng như bóng mây tan”.

Phải rồi. Chỉ ở đó mới có tiếng reo vui Tát-bà-ha của Tâm kinh Bát nhã khi thấy biết ‘”ngũ uẩn giai không/ độ nhất thiết khổ ách”. Bát nhã (Prajnã) là cái nhận thức có trước nhận thức, là cái trí tuệ có trước trí tuệ, không đếm đo, toan tính,  nó vậy là nó vậy. Và chỉ ở đó, người ta mới thực sự hồn nhiên, thực sự reo vui: Tát-bà-ha!

Tiếng chim ríu rít mách tôi sự trong trẻo ban mai trao lòng tin cậy.

Bóng đêm mở nỗi sợ cho tôi tìm ra ánh sáng bờ vai nương tựa.

Những vì sao tặng tôi cách nhìn ngây thơ trong sáng.

Gió cho tôi đôi cánh và đường bay mơ ước con người.

Bóng mây tan nhắc tôi mỗi phút giây ở lại bên mình yêu dấu.

Tiếng cười bé thơ cho tôi nghe reo vui lời tâm kinh bát nhã.

(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ)

 

Cho nên người thơ viết: Nên tôi quý những điều tôi đã nhận/ Nên tôi tận lòng với những điều đang ở.

Còn có cách nào hơn là “mở con đường trú ngụ hơi thở tịch lặng” – Anapanasati- ở đó, hiện tại là sát-na mênh mông không ngằn mé…

Và chỉ ở đó:

“Trong sáng láng ấy tôi đã gặp nhà thơ Mặt Trời. Lồng lộng nắng phương đông, chắt chiu hết tinh khôi nhân ái rắc xuống cánh đồng thơ diễm ảo. Tôi thức giấc từ lời hát của một bông cỏ dại người ban tặng và mảnh vỡ trái tim tôi thành những hạt pha lê được nuôi sáng bằng lời thơ dâng hiến…”

Phải, đã gặp một Tagore lồng lộng nắng phương đông, một Tagore viết nên những lời thơ dâng hiến! Còn phải tìm kiếm đâu xa?

Và một khi đã thấy biết (tri kiến) như thế, khi đã reo vui như thế, thì người ta sống với yêu thương, sống trong yêu thương, sống vì yêu thương:

“Yêu thương nhé” “ nói cùng lá cứ sống hết mình xanh”,

“yêu thương ơi xin thức dậy cùng người…”

“yêu thương ơi khoảnh khắc sum vầy đơn sơ thế xin một lần được cất cánh bay”.

Rồi tự dặn với lòng: “yêu thương ơi chút lòng riêng xin chắt chiu nghe…” “ Cho dẫu chiều rồi phai nắng...”

(Khánh Minh, Yêu thương ơi)

 

Rồi một hôm, người Bạn sẽ đến. Thế nào cũng sẽ đến. “ trong chiếc áo mầu nắng mang theo chân trời rất lạ của phương đông”. Phải chính là người Bạn “nơi con đường vừa mới có tên mọc đầy hoa Nguyện Ước”: ‘Lưu ly reo âm thanh trái tim. Và sẽ tặng tôi phép mầu của câu thơ đi vào cuộc sống. Tôi run rẩy chờ đợi… “. Người bạn đầy Nguyện Ước phương đông đó chính là Dược sư lưu ly quang Như Lai đó vậy!

Và dĩ nhiên người thơ sẽ đến điểm hẹn dầu giữa đêm tuyết giá. “Sẽ đem theo trái tim đầy tin cậy”. Trái tim đầy tin cậy, ấy chính là ‘Tín tâm”. Hãy giữ lấy. Dù “Ngày xám đục những mây/ đứng dưới một cây phong bay những chiếc lá khô/ Không có loài chim nào đến hót/ Cơn bão rớt đem mưa làm nước mắt…”. Cơn bão rớt sẽ đến rồi sẽ qua. Vô thường sẽ là ‘đóa hoa’ của Trịnh.

Rồi cũng có lúc “ngũ ấm xí thịnh”, người thơ hoang mang: Nếu có tìm tôi… Nếu có tìm tôi…? Ai tìm ai? Hãy nương tựa chính mình thôi nhé!

Nếu có tìm tôi. Xin trông chờ mảnh sáng sao băng.

Nếu có tìm tôi xin hát bằng nhịp tim bổng trầm lời tình tự…

Nếu có tìm tôi. Xin theo dấu sáng đom đóm quyện hương bờ giậu quê nhà. (…). Cho tôi đôi cánh hoa bay về miền đồng lúa chín vàng. Ngôi làng không bận lòng gì hơn là sống bình yên. Có con tầu đi về chở chuyên hội ngộ. Mỗi tiếng cửa mở ra là một tiếng reo sum vầy. Mỗi bếp lửa là mỗi báo tin mùa màng no đủ.

Nếu có tìm tôi…Trên bước gió mở ngàn khơi nơi cuối cùng là phương Đông ấm một mặt trời…

(Khánh Minh, Khoảnh khắc giấc mơ, 2018).

Hoang mang thế nhưng rồi, như một nhà thơ từng viết: Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!

“Tôi đi tìm những trang bản thảo, mảnh đất tị nạn bình yên của tôi. Nơi có trò chơi trốn tìm dưới ánh chớp những chùm sao đang va vào nhau vang dội. Âm thanh ẩn mật là chiếc chìa khóa cuối cùng tôi phải mở, cõi thách thức cảm xúc phục sinh.

Tôi nhặt được một trang bản thảo lem luốc đầy vết xóa và tôi nghe tiếng tim mình còn hồi hộp đập…”.

(Khánh Minh. Trong cơn bệnh).

Phải, “Còn hồi hộp đập” nghĩa là còn sẽ nhặt nhạnh thêm.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” thôi mà! Phải không?

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 24.5.2018)

…………………………………………………………………..

(*) Trịnh Công Sơn

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Huỳnh Ngọc Chiến:NHÀN ĐÀM CÁI GIẬN CHỐN THIỀN LÂM

25/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

NHÀN ĐÀM CÁI GIẬN CHỐN THIỀN LÂM

Huỳnh Ngọc Chiến

Trong tam độc “tham − sân − si” thì nóng giận là một cảm xúc dễ bộc phát nhất, và bởi thế, khó kiềm chế nhất. Khi giận, khó ai mà có thể kiềm chế được bản thân. No mất ngon, giận mất khôn. Nhan Hồi – một cao đệ yểu mệnh của đức Khổng Tử – được hậu nho ca ngợi, tôn xưng là á thánh cũng nhờ vào ba chữ “bất thiên nộ”, có nghĩa là “không giận lây” theo kiểu “giận cá chém thớt”. Giận mà biết kiềm chế thì phải có công phu hàm dưỡng. Phật giáo dùng nhẫn nhục như là pháp môn để đối trị sân, nhưng ngay cả đối với những bậc thượng trí hoặc những người nghĩ rằng mình đã “ngộ” thì cái sân đôi khi vẫn thường sinh khởi ở chỗ rất đỗi tế vi.

Thiền tông Nhật Bản còn lưu truyền một câu chuyện rất thú vị. Yamaoka Tesshu (Sơn Cương Thiết Chu 1836 − 1888) là một kiếm sĩ lỗi lạc của Nhật Bản. Khi còn trẻ, ông đi tham bái hết vị thầy nầy đến thầy khác để học thiền. Và ông ta nghĩ rằng mìng đã nắm được giáo nghĩa tinh yếu cả Phật pháp. Nên một ngày kia, ông đến tham bái Dokuon (Địch Dã Độc Viên 1819–1895), một thiền sư thuộc dòng Lâm Tế, ở Shokoku. Muốn trình bày sở đắc của mình, Yamaoka nói : − Tâm, Phật, cùng các loài hữu tình rốt ráo đều không hiện hữu. Chân tánh của mọi hiện tượng đều là Không. Không ngộ, không mê, không thánh, không phàm. Tam luân không tịch, không có người cho, không có người nhận, cũng chẳng có vật được cho.

Dokuon ngồi lặng lẽ hút thuốc, không nói gì. Thình lình, vị thiền sư cầm ống điếu tre quất Yamaoka một phát, khiến anh chàng nổi xung lên. Dokuon liền hỏi : − Nếu tất cả đều không hiện hữu, vậy cơn giận của anh từ đâu đến? (theo http://www.101zenstories.org/tag/tesshu/)

Giữa một tràng ba hoa thuyết thoại “nhất thiết giai không”, chỉ một cú quất của cái điếu tre cũng đủ để biến không thành hữu! Đó là một lối cảnh tỉnh kiểu Đức Sơn hay Lâm Tế, mà ta thường thấy chốn thiền đường. Nếu sau câu nói đó mà cái sân kia vẫn là sân thì Yamaoka đáng ăn thêm ba mươi gậy của Đức Sơn hay vài trăm hèo của Lâm Tế, để những kẻ đọc kinh sách theo kiểu trích cú tầm chương trong thiên hạ hết đường thuyết thoại. Nhưng nếu câu nói đó khiến Yamaoka hoát nhiên đại ngộ thì cái sân kia sẽ chuyển thành cái hỷ.

(theo Internet)

Nhưng giai thoại trên vẫn chưa lý thú bằng giai thoại về Tô Đông Pha, cũng lưu truyền trong thiền lâm Trung Quốc. Giai thoại này đã quá quen thuộc, nhưng tôi cũng xin ghi lại đây. Chuyện kể rằng, có một lần, Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của đức Phật. Ông thấy rất hài lòng, nên sai thư đồng đem qua bên kia sông để tặng thiền sư Phật Ấn, lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn. Bài thơ như vầy:

Khể thủ thiên trung thiên

Hào quang chiếu đại thiên

Bát phong xuy bất động

Đoan tọa tử kim liên.

(Cúi đầu đảnh lễ Pháp Vương, Mười phương tỏa sáng hào quang. Tám gió thổi, tâm không động, Ngồi nghiêm trên đóa sen vàng).

“Thiên trung thiên” (trời trong trời) dùng để chỉ Đức Phật. Trong kinh điển, thế gian có tám thứ khiến tâm con người phải điên đảo, không an. Đó là bốn cặp đối lập nhau : thịnh và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc. Hưng thịnh và suy vi; hủy báng và danh dự; xưng tụng và chê bai; khổ đau và lạc phúc. Tám thứ này giống như tám ngọn gió thổi làm con người nghiêng ngã, nên được gọi là “bát phong”. Chỉ những người có định lực và đạo hạnh cao mới có thể giữ tâm bất động trước bát phong để có thể “Khen, chê phơi phới ngọn đông phong” như cụ Nguyễn Công Trứ. Ý định của Đông Pha là muốn Phật Ấn xem bài thơ để ấn chứng công phu thiền định của nhà thơ thâm viễn đến đâu. Nào ngờ, Phật Ấn xem qua liền phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm) bên cạnh bài thơ, rồi bảo thư đồng đem về trình lại cho Đông Pha. Đông Pha xem xong, đùng đùng nổi giận, lập tức qua sông, đến chùa Kim Sơn để gặp Phật Ấn hỏi cho ra lẽ. Đến nơi, thấy cửa phòng Phật Ấn khép kín, bên ngoài có dán hai câu thơ :

Bát phong xuy bất động,

Nhất thí đả quá giang.

Tám gió ào ào, tâm chẳng động, Một hơi đánh rắm đẩy qua sông.

Đông Pha giật mình, chợt hiểu công phu hàm dưỡng của mình vẫn còn nông lắm. Cứ nghĩ mình tâm đã tịch nhiên bất động, tám ngọn gió kia có ào ào thổi thì tâm vẫn vững như bàn thạch, nhưng đâu ngờ chỉ một hơi đánh rắm cũng đủ sức đẩy mình, cả thân lẫn tâm, văng tuốt qua bên kia sông, khi hăm hở muốn mở một trận chất vấn! Hai câu thơ của Phật Ấn giống như câu kệ khai ngộ cho Tô Đông Pha. Câu chuyện trên hiển nhiên chỉ là giai thoại. Tôi tin rằng không thể có chuyện một thi tài quán tuyệt như Tô Đông Pha lại làm một bài thơ xoàng xĩnh như một người mới tập làm thơ để xưng tán cảnh giới giải thoát của Đức Phật, rồi lại đem bài thơ xoàng xĩnh đó trình cho Phật Ấn − vốn cũng là một “tay tổ trong làng bút mực”? Cả hai giai thoại lý thú trên cho thấy nóng giận là cảm xúc rất khó kiềm chế. Đã là người dĩ nhiên không thể không có lúc nổi giận, nhưng để giữ cho cơn giận không vượt qua chữ lý thì đó phải là người có công phu hàm dưỡng lâu dài.

Tôi có lần làm bài thơ Tứ Đại để bỡn người quen là một bác sĩ tính tình rất nghiêm túc, thường hay viết sách về thiền.

Tưởng đã ưng vô sở trụ,

Rong chơi tâm ý siêu nhiên.

Em phô xác thân tứ đại,

Hoang mang rơi cả gậy thiền.

Hiểu rành “Tứ đại giai không” là thế, nhưng nhìn xác thân tứ đại tuyệt diễm phô ra kia, chắc gì tâm đã “tịch nhiên bất động” mà không “Hoang mang rơi cả gậy thiền.”? Xác thân tứ đại kia tác động hiển nhiên phải mạnh cái điếu tre của Dokuon hay cái “đánh rắm” của Phật Ấn. Anh đọc xong, không giận, mà gởi lại hai câu thơ, nói tôi ba lơn!

Phật giáo dạy dùng nhẫn nhục để đối trị sân, nhưng trong giới thiền lâm vẫn có thiền sư lấy sân làm công phu đạo hạnh. Sư Khế Tung (1007-1072) là một cao tăng uyên bác đời Tống, văn tài và đạo hạnh nổi bật đương thời. Vẻ mặt ông thường lộ vẻ cau có, người ta chưa từng thấy ông cười. Ta thử nghe Tô Đông Pha viết về ông: Thiền sư Khế Tung thường sân; người ta chưa từng thấy sư cười. Sư Hải Nguyệt Tuệ Biện thường vui, người ta chưa từng thấy sư giận. Tôi ở Tiền Đường, tận mắt thấy hai vị đó đều ngồi kiết già mà hóa. Khế Tung khi đã trà tỳ, lửa không hủy hoại nỗi, thêm củi cho lửa mạnh, nhưng có năm món rốt cuộc vẫn không bị hư hoại. Hải Nguyệt đến khi táng mà diện mạo vẫn như lúc còn sống, lại còn cười mĩm. Thế mới biết, hai vị đó lấy cái sân và cái hỷ mà làm Phật sự vậy”.

Tôi cho rằng đạo hạnh chân thực của một thiền sư không phải được thể hiện qua tên tuổi lúc sinh tiền, cũng không phải qua những sáng tác hay những lời thuyết giảng hùng hồn uyên bác cho đạo hữu, mà được thể hiện qua thể cách viên tịch hoặc phong cách lúc tuổi già.

Một thiền sư có thể đăng đàn thuyết pháp tràng giang đại hải về những pháp môn đem lại “thân an tâm lạc” cho mọi người, được môn độ tung hô xưng tụng, nhưng khi về già lại sống trong cảnh khổ não của lão thì giáo pháp mà họ giảng dạy cho môn đồ cũng không có giá trị gì cho lắm. Giống như vào tiệm thuốc bắc để bốc thuốc, nếu ông chủ tiệm thuốc không phải là người phương phi, hồng hào khỏe mạnh, mà là một ông lão ho hen, lọm khọm thì liệu ta có thể tin tưởng được các phương thuốc mà ông ta bán hay không? Cho nên, với tôi, Bùi Giáng vẫn là một thiền sư thực sự. Ông sống bỡn cợt giữa đời, rong chơi đầu đường xó chợ, làm thơ viết sách rồi an nhiên mà đi. Nó mang phong cách của một thiền sư. Sư Khế Tung thường giận, nhưng an nhiên ngồi kiết già mà hóa, làm lễ trà tỳ mà có năm món bất hoại, lửa không thiêu nỗi, đó mới là chân thiền sư. Cái sân của Tô Đông Pha, của Yamaoka lại giúp ta thấu ngộ được những điều mà lúc bình thường ta không hiểu nỗi. Ngẫm ra, khi có đạo hạnh cao thâm, như sư Khế Tung, thì cái sân cũng là Phật sự, đâu cần phải bỏ sân mà giữ hỷ. Đâu cần phải đợi đến lúc viên tịch mới hiểu được giá trị của cái hỷ, cái sân.

(theo Báo GIÁC NGỘ số 266)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Kỳ 23: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

25/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

                 Kỳ 23: Phật Học & Đời Sống

            tại Chùa Xá Lợi, Tp HCM, ngày Thứ bảy 19.5.2018

                         Từ Bi Với Mình

            Hô hấp và 16 hơi thở “Thân Thọ Tâm Pháp”

Rất cảm ơn nvquyen đã gởi sớm video clip này đến các bạn.

Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………………………………….

Ghi chú: Thứ bảy 26.5.2018 Lớp tiếp tục sinh hoạt từ 15-16h30

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp HCM

Chủ đề : “NGHIỆP”

Thân mời các bạn tham dự.

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Kỳ 22: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG ngày 12.5.2018

17/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 22: Phật Học & Đời Sống

Ngày 12.5.2018 tại Chùa Xá Lơi Saigon (Tp.HCM)

                          TỪ BI VỚI MÌNH (tiếp theo):

Thực phẩm cho Thân và Tâm

(Đoàn thực; Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực)

…………………………………………………………………………………………………….

Kỳ 23:   Ngày 19.5.2018 lúc 15-16:30

tại Chùa Phật học Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3

Từ Bi Với Mình phần cuối với đề tài

Hô Hấp và 16 hơi thở Thân Thọ Tâm Pháp

Thân mời các bạn tham dự,

Trân trọng

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Cảm ơn nvquyen.

Ghi chú thêm: nvquyen cũng vừa thông báo cho biết đến nay đã có khoảng 1400 người đăng ký theo dõi ”PH & ĐS”.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống, Thiền và Sức khỏe

Nguyên Quang: CHÂN ĐẾ và TỤC ĐẾ

14/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

CHÂN ĐẾ và TỤC ĐẾ

Nguyên Quang

Ghi chú: Một bài viết rất căn bản để học Phật từ nhiều năm trước của Nguyên Quang trên quangduc.com và sau đó trên Tuvien.com. Xin phép tác giả cho chia sẻ nơi đây dành cho các bạn đang sinh hoạt trong Lớp Phật học & Đời sống.

Trân trọng cảm ơn,

Đỗ Hồng Ngọc. 

………………………………………………………………………………..

Trong các danh từ chuyên môn của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai từ “Chân Đế” và “Tục Đế”.  Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khổ sinh tử nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế. Cũng vì thế mà ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng “… Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế.  Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa.  Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn…”  Tục đế là một hợp từ: “tục” nghĩa là thế tục hay phàm tục, “đế” nghĩa là chân lý.  Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là  chân lý tương đối.  Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, giác tánh, chân như… Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ.  Các ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được.  Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài “dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh” , cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.  Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm.  Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không.  Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà “khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài.  Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn… Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác…”  Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp “có không” nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng.  Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận.  Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, “giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, … Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác…”.  Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong kinh Pháp Hoa, Phật dùng bẩy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bá Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, …  Các thí dụ Ngài nói trong kinh dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên. Chư tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi.  Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe.  Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội.  Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế.   Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được.  Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: “Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế”.  Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.  Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói.  Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp.  Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp: “- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: “Ta có nói pháp”.  Ông chớ nghĩ như vậy.  Bởi vì sao? – Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.  Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp.”  Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị.  Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật. Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát long Thọ đã nêu trên phần mở đầụ.  Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật.  Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói “Không thể nói pháp Tuyệt Đối”, mà cho là Đức Phật nói “Không nói pháp tương đối” là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật.  Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

Nguyên Quang 

Nguồn: Tuvien.com

………………………………………………………………………

(Xin cảm ơn Anthony Huynh)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Có một ”Không Gian Đọc” ở Hội An

13/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Có một ”KHÔNG GIAN ĐỌC” ở Hội An

Thiệt ít ai ngờ ở Hội An có một Không Gian Đọc dễ thương vậy! Đó không chỉ có sách cho người lớn mà còn nhiều sách cho trẻ em. Đó là nơi thỉnh thoảng diễn ra những buổi sinh hoạt dành riêng cho trẻ rất sinh động, thú vị và hữu ích, giúp trẻ làm quen với sách… gần gũi với những cuốn sách lành mạnh thay vì cứ mãi chúi mũi vào điện thoại… bấm bấm chỉ làm cho trẻ thêm mụ người!

Không Gian Đọc còn có những buổi Giao lưu với các tác giả, các buổi trình diễn ”áo dài” cho trẻ làm quen và cho người lớn ”sực nhớ”… rồi những buổi vẽ tranh, làm bánh, ca hát…

Năm ngoái, ngày Đọc Sách Việt Nam, Không Gian Đọc ở Hội An đã tổ chức buổi trò chuyện cùng nhà văn, giáo sư triết học Thái Kim Lan ở Đức về, với tác phẩm Thư gởi con, Huệ Tím (dịch Hermann Hess), rồi với nhà thơ Trần Tiến Dũng ở Saigon ra, với tác phẩm “Ba ơi, tại sao?”, tiếp đó là buổi Trò chuyện cùng Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Một Nếp Sống An Lạc. Dịp này, Đài truyền hình Quảng Nam đã ghi lại một số hình ảnh trong Chương trình Văn hóa Văn nghệ của đài.

Dưới đây là một clip nhỏ riêng cho Không Gian Đọc, xin được chia sẻ cùng bè bạn. Mong cho Không Gian Đọc Hội An ngày càng phát triển, góp phần nâng cao sinh hoạt văn hóa của Hội An.

Xin chân thành cảm ơn các bạn,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Và đây, một clip của VTV3 cũng đã có bài giới thiệu Không Gian Đọc ở Hội An từ năm 2015:

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Kỳ 21: Phật học & Đời sống, chùa Xá Lợi 21.4.2018

09/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 21: Phật học & Đời sống

Chùa Xá Lợi, Saigon (Tp.HCM) ngày Thứ bảy 21.4.2018

Đề tài:     Từ Bi Hỷ Xả

                Từ bi với minh (tiếp theo)

Do tôi bận đi Huế và Hội An nên buổi sinh hoạt kỳ 21 (Tb 21/4/2018) tiếp tục về Từ Bi Với Mình sẽ do thầy Minh Ngọc và Cư sĩ Tô Văn Thiện phụ trách, chủ đề tiếp theo ĐOÀN THỰC (thức ăn cho Thân- Sắc) là 3 nhóm Thức ăn cho Tâm (Thọ/ Tưởng/ Hành/ Thức):

“XÚC THỰC – TƯ NIỆM THỰC – THỨC THỰC”

Ngày Thứ bảy 28/4 và 5/5 LLL sẽ nghỉ… ”hè”.

…………………………………………………………

Chú ý: Lớp sẽ sinh hoạt lại vào ngày Thứ bảy 12-5-2018 lúc 15h-6h30 tại Chùa Xá Lợi, 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3. Tp HCM.

Thân mời các bạn tham dự,

Trân trọng

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

………………………………………………..

Cảm ơn nvquyen đã gởi clip Kỳ 21.

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Ghi chép lang thang (tiếp theo 3)

08/05/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chép lang thang (tiếp theo 3)

Hội An

(ảnh: Đỗ Hồng Ngọc)

Từ giả các anh chị, các bạn ở chùa Từ An, hẹn sẽ trở lại một dịp khác, có nhiều thì giờ hơn để đàm đạo, trao đổi… mình vội vả ra xe về Đà Nẵng-Hội An như đã hẹn. Ni cô Thuần Thiện thân thiết đưa ra tận xe, còn tặng chút quà chùa: một hủ ruốc chay thiệt ngon!

Về Huế-Đà Nẵng nhiều lần cứ qua lại bằng cách chui đường hầm đèo Hải Vân chán ngắt, nhất là gần đây cả mấy đèo như đèo Phước Tượng, đèo Phú Gia cũng đều chui hầm! Không hiểu sao người ta thích chui hầm vậy nhỉ? Đèo Phú Gia chẳng hạn, ở trên cao mới được nhìn bao quát đầm Cầu Hai quá đẹp. Cảnh trời nước mênh mông đó không sao không nghĩ đến một đêm trăng, với chiếc thuyền con và tiếng đàn tiếng tiêu vi vút… hoặc tệ lắm cũng nhớ Phạm Lãi với Tây Thi giong giũi chiếc thuyền nan như trong thơ Tagore

“Sớm mai dậy tiếng thầm/ Ta giong chiếc thuyền nan/ Về nơi không bến hẹn/…Nào ai người biết được/ Cuộc hành hương chúng mình/ Trên cõi đời ô trọc/ Nào ai đôi mắt xanh…” (Tagore. Hành Hương. ĐHN dịch).

Mình quyết định đi đường đèo qua Hải Vân, không đi đường hầm. Và sẽ ghé Lăng Cô, sẽ ghé Hải Vân Quan…

Lăng Cô… đẹp nín thở!

 

May vẫn còn đường xe lửa! Phía xa là đầm Cầu Hai, phần cuối của Phá Tam Giang.

Đường đèo bây giờ cũng không còn ”rùng rợn” như thuở xưa. Đường được mở rộng, đẹp, các ”cùi chỏ” cũng không còn là cùi chỏ.

Lên tới đỉnh đèo may quá, Hải Vân Quan vẫn còn đó. Đông du khách. Xưa nghe vua Lê Thánh Tông đã gọi nơi đây là ”thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Hải Vân quan là ranh giới giữa Huế và Đà Nẵng. Chỉ cách một ngọn đèo thôi mà nếp sống đã khác, ngôn ngữ, phong tục cũng đã khác rồi! Hồi xưa ”Con trai xứ Quảng ra thi/ thấy cô gái Huế chân đi không đành…”  thì nay không biết có còn cảnh bịn rịn đó không nũa!

 

Hải Vân Quan

Nhớ năm ngoái, Nguyễn Quang Chơn còn đưa Tâm (bà xã Chơn) và mình lên Hải Vân Quan ngắm… sương mù! Hôm đó sương mù dày đặc, không thấy đường, nếu không đã vọt luôn qua đèo vì có hẹn với Nguyễn Trọng Chức và Ngô Tiến Nhân, Thanh Bình dưới chân đèo bên kia. Rốt cuộc cả nhóm cũng đã gặp nhau ở Đà Nẵng và nhớ mãi 3 chàng đã cưa đứt chai Chivas lớn… (Mới thôi mà Chơn đã phải đặt một stent, Nhân đặt 3 stents… còn Chức vẫn là một chàng ”KT” hào hoa phong nhã sau chuyến đi Tây Nguyên vừa rồi).

Lần này mình không ghé Nguyễn Quang Chơn. Đà Nẵng đang ồn ả quá rồi, pháo bông ì ầm nữa. Bạn bè của Chơn từ Bắc chí Nam về đông vui. Chơn vất vả chỉ phone thăm và hẹn anh Ngọc dịp khác.

Và… Hội An đây rồi!

Cứ thấy Chùa Cầu là thấy Hội An. Nhất là khi có những nàng tiên áo trắng thấp thoáng.

 

Chùa Cầu nhìn từ bên kia sông Hoài.

Ai đã đặt tên cho dòng sông nhỏ nhắn thơ mộng tách từ sông Thu Bồn chảy vào phố cổ với cái tên rất hoài nhớ đó vậy nhỉ?

Buổi tối, nhằm ngày 14 âm lịch, sông Hoài trở nên sống động diệu kỳ với muôn màu sắc hoa đăng đằm thắm rực rỡ, với những chiếc thuyền lang thang xuôi ngược làm ta có cảm giác như được sống trong huyền sử nào xa…

Nhớ bài thơ viết về Hội An năm nào:

Hội An đêm: ”Bập bềnh con sóng rợn/ Nghìn lồng mắt chao nghiêng/ Những linh hồn thức dậy/ Thở cùng Hội An đêm…” (Thơ Ngắn Đỗ Nghê).

 

 

Tối ngày 14 âm lịch, đèn bỗng tắt ngúm hết, trong vài tiếng đồng hồ, thả cho người ta mặc sức sống về đêm dưới ánh trăng huyền ảo tuyệt đẹp. Nhưng một ông… hơi già như mình, đi lang thang chen chúc giữa đám đông chỉ càng thấy… tủi thân, cô đơn và cô độc. Trong bóng mờ thấy một người ngồi thiền bên bờ sông Hoài là có vẻ gần gũi nhất, nhưng không tiện hỏi han. Một nhóm thanh niên đàn hát quyên tiền làm từ thiện, một nhóm chơi trò chơi… đâp niêu ầm ỉ. Có một cái chợ đêm trời ơi bán đủ thứ trên đời, quà lưu niệm, thức ăn các thứ… hết sức náo nhiệt.

Mình có một buổi đi thăm làng gốm, được nắn nót chút đất sét thấy thương làm sao.

Rồi đi tắm biển ở bãi An Bàng. Rất thích. Tây ta, già trẻ lớn bé lũ lượt… Và phải nói người dân buôn bán ở đây rất đàng hoàng tử tế, không có cảnh tranh giành chèo kéo như ở một số bãi biển đông người khác.

 

Gặp bác sĩ Huỳnh Kim Hơn, dân Hội An, người tự nhận là học trò mình, dù tốt nghiệp Y khoa Huế. Hơn đến sớm, đưa mình đi một quán cafe đặc biệt: Cafe Lạc Viên. (Phải mở ngoặc nói thêm, trước đây nhà thơ Hoài Khanh đã từng sống nhiều tháng ngày cùng với bs Hơn ở Hội An).

Rồi hẹn Khiếu Thị Hoài cùng đến Lạc Viên, quán cafe của anh Minh, chị Mai. Nói quán cafe ”đặc biệt” vì đích thân hai vợ chồng chủ nhân pha chế, bưng bê… và chỉ bán đến 10g sáng là đóng cửa, trời kêu cũng không mở. Cafe thì tự chủ nhân xay lấy, tự pha chế. Bàn cafe thì đặt đâu để đó, không được di chuyển. Có ba bốn tủ sách bao quanh. Mà trời ơi, bất ngờ có hằng chục cuốn của Đỗ Hồng Ngọc. Quán Lạc Viên nằm trong cái hẽm nhỏ mà đông nghẹt. Gần như chỉ bạn bè quen biết. Không nhạc, không thuốc lá. Chủ nhân mừng gặp mình, cùng chụp chung mấy tấm hình kỷ niệm.

Từ trái: Khiếu Thị Hoài, Hường, Huỳnh Kim Hơn, ĐHN. (Quán cafe Lạc Viên, Hội An, 1.5.2018). Dĩ nhiên không quên ”phát hành” Thơ Ngắn Đỗ Nghê cho các bạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sáng đó, Hoài còn đưa mình đi thăm chùa Bảo Châu. Chùa Ni. Thầy đi vắng. Chùa rất thanh nhã. Có một câu đối thấy Hoài ghi chép kỹ: ”Châu tự tâm sinh vô giá châu/ Bảo tùng tha đắc phi chân bảo”…

Ngày hôm sau, 2/5 đã phải bay về Saigon rồi. Mình ghé thăm thêm một ngôi chùa nhỏ ở ven Hội An nhìn ra sông Thu Bồn mênh mông: chùa An Lạc. Gặp thầy trụ trì Đồng Nguyện đàm đạo rất hay.

Chùa Bảo Châu trên đường Cửa Đại.

Chùa An Lạc

 

Đàm đạo cùng Thầy Đồng Nguyện, trụ trì chùa An Lac, (Hội An 2.5.2018)

 

Nơi sông Thu Bồn tẻ nhánh chia một sông Hoài cho Phố Cổ, Hội An (ĐHN, tháng 4.2018)

 

 

 

 

 

 

 

 

“Thanh tịnh bổn nhiên” mãi nhé Hội An!

 

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(8.5.2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Và, một cuốn tái bản: Chẳng Cũng Khoái Ru?

21/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chẳng Cũng Khoái Ru?

 

 

Tựa:  Chẳng cũng khoái ru?

Mười năm trước, gần tuồi 70, tôi gom góp một số bài viết rải rác đây đó để đọc lại cho vui, những chuyện rất đỗi “đời thường’’, chuyện ăn chuyện ngủ, chuyện hít thở, chuyện vệ sinh, ốm đau bệnh hoạn như Ai biểu già chi, Thở không chỉ là thở, Ăn không chỉ là ăn, Càng già càng dẻo, Bác sĩ nhà quê…v.v. và in chung trong một tập với tựa là Chẳng Cũng Khoái Ru?

Không ngờ sách bán chạy, gần như tôm khô, in nối mấy lượt, tái bản mấy lần. Có ông bạn già ở Hà Nội gọi phone hỏi nghe nói mới có cuốn Khoái cũng chẳng ru hay Ru cũng chẳng khoái gì đó phải không, gởi gấp cho một cuốn. Ông bạn khác ở miền Tây bảo ở đâu bán Chẳng khoái cũng ru. Chẳng ru cũng khoái gì đó để… sưu tầm!

“Chẳng cũng khoái ru?” là một câu trong Luận Ngữ “bất diệc lạc hồ” nói về học với hành, về gặp lại người bạn xưa… Sau này Kim Thánh  Thán (Thế kỷ 17) viết 33 nỗi vui đơn sơ của ông như trời đang nóng bức mà ập tới cơn mưa rào, như mở cửa sổ cho con ong bị kẹt bay ra, như đốt bỏ đống giấy nợ cũ…và chuyện nào cũng kết: chẳng cũng khoái ru? Nghĩ lại, mình cũng có nhiều thứ ‘’khoái ru’’ lắm chứ mà sao chẳng hay chẳng biết?…

Hầu như chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nên chẳng có lúc nào ta khám phá được những ‘’khoái ru’’ ở đây và bây giờ. Anh ngữ có một từ hay: Present, vừa có nghĩa là hiện tại, vừa là sự có mặt, vừa là món quà tặng. Nói khác đi, “sự có mặt trong hiện tại chính là một món quà tặng” của cuộc sống. Khi ta chợt thấy ra và reo lên trong lòng: Chẳng cũng khoái ru? ấy là lúc ta sống với hiện tại, sống trong hiện tại. Và ‘’phép lạ’’ quả thật đầy dẫy quanh ta, trong từng phút giây mà ta không “thấy biết”.

Chẳng cũng khoái ru? tái bản lần này có “cập nhật” và bổ sung thêm ít bài mới. Tuy nhiên, khi đọc mà bắt gặp một vài bài nghe quen quen, hình như đã đọc đâu đó rồi, thì cũng hãy mỉm cười rằng: “chẳng cũng khoái ru?” nhé!

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon 1, 2018)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Có một cuốn sách mới: Thoảng Hương Sen

21/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thoảng Hương Sen

 

Tập hợp đa số các bài viết từ suy gẫm về Phật học & Đời sống trên Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo để chia sẻ cùng bè bạn thân quý gần xa.

Ngắn gọn. Chữ to. Dễ đọc cho người có tuổi.

Và dĩ nhiên, dành cho cả các bạn trẻ quan tâm đến một nếp sống an lạc, hạnh phúc…

Đỗ Hồng Ngọc.

 

T h a y l ờ i t ự a

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(Ca dao/ Quốc văn Giáo khoa thư)

Từ những ngày còn thơ dại ai mà chẳng nghêu ngao

Trong đầm gì đẹp bằng sen/

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng…

Thế rồi khi dấn bước vào đời người ta đã quên bài học
ngày xưa đó. Mải mê tìm kiếm một búp sen vàng sen bạc
rực rỡ hào quang ở tận chân trời. Cho đến một hôm giật
mình ngó lại: thì ra cái Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
kia rốt cuộc cũng chỉ là Nhị vàng bông trắng lá xanh đó thôi.
Chẳng thêm chẳng bớt.

Nó vậy đó. Nó như thị. Nó Như Lai.
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng coi lăng xăng, chen
chúc, quần quật, xanh đỏ tím vàng vậy cũng chỉ để rồi rốt
cuộc Nhị vàng bông trắng lá xanh…

Đừng tìm đâu nữa cho mất công.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích (Trần Nhân Tông).

Của báu trong nhà sẵn đó rồi! Viên ngọc trong chéo áo

người cùng tử sẵn đó rồi. Chẳng qua vì không thấy biết.

Cái đóa sen đó cứ xòe ra rồi khép lại. Khép lại rồi xòe ra.
Từ nghìn xưa cũ. Đóa sen của thiên thu vẫn lung linh giữa
gió và nước, như tủm tỉm cười, thoảng ngát hương thơm…

Mà chợt ngộ một điều cốt lõi: Gần bùn mà chẳng hôi
tanh mùi bùn!

Nó tuyệt vời bởi nó giản đơn. Nó chung thủy. Nó chẳng
vì ai để tỏa hương. Nhưng cũng đủ làm cho cái mùi bùn kia
trở nên nhu mì, yểu điệu…

Khai thị là để ngộ nhập. Nhập về đâu? Về Như Lai tạng.
Về bào thai Như Lai. Về Chơn tâm thường trú. Về Thể tánh
tịnh minh.
Nhưng, không chỉ vậy. Nhập còn là nhập thế. Đóa sen
không chỉ nhập vào cõi Phật mà còn nhập vào cõi bùn nhơ
giữa chốn Ta-bà.
Sen vậy đó. Tìm kiếm đâu xa.

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 3.2018)

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Nghĩ từ trái tim

Kỳ 20: Phật học & Đời sống: Từ Bi Với Mình

19/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kỳ 20:              PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Ngày 14.4.2018 tại chùa Xá Lợi , Saigon (Tp.HCM)

TỪ, BI, HỶ, XẢ (tiếp theo)

                             Từ Bi Với Mình

 

Cảm ơn nvquyen.

ĐHN

……………………………………………………………………………………

Thông báo:

Thứ bảy 21.4.2018 sinh hoạt bình thường từ 15-16h30 tại Chùa Xá Lợi 89 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Tp.HCM.

Thân mời các bạn tham dự.

Lớp nghỉ 2 buổi Thứ bảy 28.4 và 5.5.2018.

Sẽ tiếp tục sinh hoạt lại vào ngày Thứ bảy 12.5.2018.

Trân trọng,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Nghĩ quanh khi đọc “cao huy thuần người khuân đá”

18/04/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nghĩ quanh khi đọc “cao huy thuần người khuân đá”

Đỗ Hồng Ngọc

Cao Huy Thuần, vẽ bởi Đỗ Hồng Ngọc, 2014, tại tòa soạn báo Giác Ngộ, Saigon.

Có khi nào nâng một bình trà uống đến giọt cuối cùng tưởng đã cạn sach rồi nhưng đợi một lúc thì trà lại như tự chắt ra thêm mấy giọt rồi lại tươm thêm vài giọt nữa, càng lúc càng đậm đặc càng ngất ngây không?

Đọc Cao Huy Thuần cũng vậy đó. Cứ tưởng anh nói lung tung đầu ngô mình sở đến lúc nghĩ lại mới giật mình. Cho nên đọc Cao Huy Thuần phải chậm rải, phải ‘cảnh giác’ coi anh có giấu giếm cái gì trong mỗi chữ mỗi câu đó không?

Tôi đọc Người Khuân Đá của anh với một thứ cảnh giác cao độ như thế. Cái ông Giáo sư đại học kiêm ‘’thầy giáo làng’’ này tính cái gì đây với Người Khuân Đá nhỉ? Ai khuân, khuân đi đâu, khuân để làm gì? Dã tràng xe cát biển đông/ Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì ư? Sao biết? Chỉ có dã tràng mới biết. Cũng như chỉ có Phật với Phật mới biết nhau, không cần phải nói ra lời. Ông Bồ-tát Duy Ma Cật làm thinh, tưởng bí, mà Văn Thù vỗ tay ca ngợi hết lời. Cái sự làm thinh đó mới đáng sợ. Dã tràng có nói gì đâu. Thiên  hà ngôn tai. Ai biết Dã tràng kia đã làm cái trò gì, xe cát hẳn phải có lý do gì chớ, cũng như con bọ hung kia hùng hục chui vào đống phân trâu bò vo tròn từng cục lớn cục nhỏ, hì hục lăn về ổ là để chuẩn bị thức ăn cho vợ đẻ con đó thôi. Nó vậy là nó vậy. Cứ hỏi Như Lai thì biết.

Tự dưng một ông giáo hơn 80 tuổi đầu, bỗng cao hứng nói về tình yêu, về hạnh phúc, về cái chết về lẽ sống… và về Phật pháp chẳng đáng đọc sao?

Và ông ‘’nói’’ gì về Tình yêu? Ông khẳng định tình yêu là tương quan: cái này sinh thì cái kia sinh. ‘’Đó là bước đầu. Bước thứ hai: hãy mất cái ‘’tôi’’ đi, vì ‘’tôi’’ đã nằm trong tương quan’’ (tr 48). Ý ông muốn nói duyên sinh, nói vô ngã đó thôi. Dĩ nhiên rồi. Tình yêu mà đến cao trào thì đâu còn cái ngã nào nữa! Thây kệ thiên đường và địa ngục/ Không hề mặc cả họ yêu nhau. Ghê chưa? Ấy là Cao Huy Thuần trích Huy Cận.

‘’Ôi vui! Ôi hạnh phúc! Ôi ngất ngây! Trong một phút, trong một giây, ta quên ta, tôi quên tôi, tôi ra khỏi tôi, tôi mất tôi…”. Ai vậy? Cao Huy Thuần đó. Nhưng, nói vậy mà không phải vậy. Ông đang nói về trạng thái vô ngã, niết bàn tịch diệt.

Tỉnh lại, ông can: Đâu hề có một tình yêu sung sướng!

Có tình yêu nào mà không đau khổ

Có tình yêu nào mà chẳng xót xa

Thì ra vậy. Ông dẫn bằng một bài thơ của Aragon. ’’Il n’y a pas d’amour heureux’’  (tr 49)

Rồi ông mượn cả Platon, Aristote, Spinoza… Rồi kết: tình yêu cần phải ‘’thiếu’’ mới hạnh phúc. Hèn chi mà Mỹ nói: I miss you nghĩa là I love you! ‘’Phải nhìn thấy cái khổ của thiếu để biết hạnh phúc của cái đủ (tr 54). Thì ra ‘’khổ, tập, diệt, đạo’’ đó mà!

Ông nói về cái chết. Khi chết đến (tr 70): “… chỉ ở đây thôi. Sẵn sàng gặp bất cứ cái gì kế tiếp, không mong chờ, không thiên kiến, không định kiến. Chỉ hỏi: cái gì đây? Cái gì đây? Kỳ lạ thế?’’ “Tôi nhìn mọi vật và thời gian chẳng qua chỉ là một ý nghĩ’’. Phải, một Niệm.

Cao Huy Thuần đọc thơ cả với Freud (tr 76 ). Hình như ông ráng moi bên dưới tiềm thức của Freud còn có cái gì khác nữa không? Có đó. A-lại-gia-thức hay Tàng thức đó. Chỉ cần A-lại-gia thức chuyển thành Đại viên cảnh trí hay Nhất thiết chủng trí thì xong… Mạt-na thức lúc đó đã chuyển thành Bình đẳng tánh trí, không cần phải đắn đo, toan tính, phân biệt chi nữa!

Nhưng trước hết, có lẽ nên nghiền ngẫm thử cái bìa sách. Ông vẽ một con bướm phấp phớp cánh bay, và viết cùng một font, một size: cao huy thuần người khuân đá. Rõ ràng ông cố ý nói Cao Huy Thuần vốn là một người khuân đá… suốt cả đời! Khuân để làm gì vậy anh Cao? Thì ra để tìm hạnh phúc. Như Sisyphe hạnh phúc (tr 342), từ Le mythe de Sisyphe của Camus.

 

 

Không phải bỗng dưng ông nhớ Camus đâu. Câu hỏi đó ông hỏi hồi còn trẻ, còn say sưa với ‘’hiện sinh’’ của Sartre, của Camus lận. Nhưng bây giờ ’’lúc xế chiều, câu hỏi về ý nghĩa của cuộc đời thường lảng vảng trong đầu’’. Khuân đá lên rồi khuân đá xuống, cứ mãi vậy cho đến chết, có phi lý không cơ chứ? Rồi Camus nói ‘’phải tưởng tượng Sisyphe sung sướng’’ (tr 343). Tại sao lại phải tưởng tượng? Chắc chắn là sung sướng quá rồi đó chớ, chẳng qua vì không ‘’thấy biết’’ (tri kiến) đó thôi: ‘’Thanh tịnh bản nhiên/ Tùy chúng sanh tâm/ Chu biến pháp giới/ Tùng nghiệp phát hiện’’ mà. Mắc mớ gì ông Camus phải thắc mắc nọ kia.

“Sisyphe là thân phận của chúng ta: Chính chúng ta vác trên vai gánh nặng của cuộc đời, lên núi, xuống núi, lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác, xuân nọ đến xuân kia, rồi chết’’ (tr 345). Camus viết: “Cứ khinh bỉ nó, số phận nào cũng thua’’. Sisyphe khinh bỉ cái số phận của anh ta. Và chiến thắng. Nếu anh ta biết nghiệp báo, luân hồi, duyên khởi, vô thường, vô ngã… thì mọi chuyện đã khác mà không cần phải ‘’khinh bỉ cái số phận’’ để thấy mình ‘’chiến thắng’’ kiểu AQ.

Nhưng bởi Cao Huy Thuần không phải là Camus. Anh là một người học Phật, một người hành thiền. Anh biết Vô minh, anh biết Ái, Thủ, Hữu… tại sao, thế nào, nên anh… thoát: “Tôi không đối kháng tôi với cuộc đời. Tôi không vướng bận gì với Thượng đế như Camus” ông nói. ‘’Không còn ý thức về vô lý nữa mà ý thức về vô thường’’(tr 355). Và ý thức về vô thường cũng có nghĩa là ý thức về vô ngã. Niết bàn ở đó. Sisyphe cứ khuân đá, vừa đi vừa thở vào thì biết mình thở vào, thở ra thì biết mình thở ra. Một người thiền hành. Một khi ’’Sisyphe cứ bước như một người thiền hành’’ (tr 355) thì Sisyphe hết càu nhàu, Sisyphe trở nên tếu. Cười chứ. ‘’Để lại thiên thu hình dáng nụ cười’’ (Trịnh Công Sơn) mà! Nụ cười này không phải giả bộ cười, ráng cười, gượng cười, mà là cái cười từ trong từng tế bào cơ thể! Bây giờ nhiều tượng Phật ráng cười, toe toét cười đầy giả tạo… Không phải vậy đâu. Cái cười đó phải từ bên trong. Từ trong Từ bi hỷ xả. Từ trong ở đây và bây giờ. Từ trong hạnh phúc, an lạc.

Và đến một lúc, con nhộng hóa bướm. Lúc nhộng nằm trong kén, thì cứ nhả tơ đi. Rồi khi nhộng hóa bướm thì cứ nhởn nhơ bay lượn cùng trời xanh nắng ấm đi.

Cho nên ‘’cao huy thuần người khuân đá’’ bỗng bay lượn như cánh bướm. Ấy là lý do cái bìa  bí hiểm của anh.

Trong “Khoảnh khắc và vô tận” (tr 117) ông dẫn Nietzsche: “Tình yêu không muốn một quãng thời gian, nó muốn khoảnh khắc và vô tận’’. Và đây là một câu rất hay của Cao Huy Thuần, một câu như thơ: “Tôi thấy vô tận trong khoảnh khắc muốn khóc ấy”. Có không một khoảnh khắc muốn khóc ấy? Có đó. Nó chính là một sát-na của Phật. Nơi không có thời gian lẫn không gian. Một sát-na là một khoảnh khắc? Hay là vô tận? Hay vừa khoảnh khắc vừa vô tận. Phải ‘sống’ trong sát-na đó thì mới biết.

Như đã nói, tôi rất  “cảnh giác” khi đọc Cao Huy Thuần. Chắc chắn không phải tình cờ mà anh đưa bài Bếp xưa (tr 14) làm bài mở đầu cho tập sách này và để kết thúc với bài “Sisyphe hạnh phúc” (tr 342) sau khi vác đá lên đồi xuống đèo suốt cả một đời người. Hóa ra có một đường dây. Đường dây nối từ quá khứ đến hiện tại đến tương lai của một kiếp người.

ĐHN.

(Saigon 4.2018)

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 26
  • Trang 27
  • Trang 28
  • Trang 29
  • Trang 30
  • Interim pages omitted …
  • Trang 55
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email