Vài hình ảnh Tết Mậu Tuất Saigon, 2018
Đỗ Hồng Ngọc ghi
Ở đường hoa Phú Mỹ Hưng:
Ở Đường Sách Nguyễn Văn Bình Tp.HCM
Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Thư gởi bạn xa xôi,
”Ở một nơi ai cũng quen nhau”
Đó là tựa một tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Hình như là tình yêu, Cô bé treo mùng, Học Trò… hồi đó nhớ không? Nhưng ở đây mình chỉ ”mượn” để nói về buổi họp mặt, ra mắt Quán Văn số 52, Xuân Mậu Tuất 2018 của Nguyên Minh và nhóm bạn.
Ngộ lắm! Hình như từ ngày có Internet mọi người cứ xa dần nhau, dù ngồi đối diện mà cứ như xa cách muôn trùng, mỗi người trú vào cái ”pháp giới” riêng mình và sống ảo trong đó. Cho nên, bỗng dưng có một buổi họp mặt ”offline” tay bắt mặt mừng như vầy thì mọi người đều có vẻ hạnh phúc như chưa bao giờ có. Họ như ngắm nghía nhau, hít thở nhau và… chuyện cứ nổ như bắp rang như đã hẹn nhau ”từ muôn kiếp trước”.
Mà thực vậy, Quán Văn giống như một tập san… hoài cổ, với những bài viết không mới, không có hậu hiện đại, không có tân hình thức… gì ở đây cả. Chỉ là những tâm tình, sẻ chia, thẳng thắn, ngọt ngào, cay đắng…
Nhiều người chưa từng gặp nhau, chưa từng biết nhau mà như đã quen đã từ lâu, dù người từ Canada, từ Mỹ, từ Ý, từ Hà Nội, từ Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Vũng Tàu, Phan Thiết… chỉ nghe cái tên thôi mà đã vô cùng thân thiết. Phải rồi, chỉ cần gặp gỡ, chỉ cần nói năng, chuyện chung chuyện riêng gì cũng được… Ca hát nhảy múa chỉ là một cái cớ, một sự ồn ào cần thiết, bởi nhiều khi chỉ cần một sự im lặng, một ánh mắt nhìn.
Mình chia sẻ với bạn mấy tấm hình ở đây, và dành cho bạn sự…tưởng tượng. Bởi bạn biết đó, mình già rồi, làm biếng tổ rồi!
Nguyên Minh vẫn tấm thân gầy gò nhỏ xíu đó mà sức làm việc dẻo dai rất đáng nể phục. Mỗi ngày 4 giờ sáng đã thức dậy hì hục… làm báo… Anh kêu mệt quá mệt quá, chỉ đến khi báo ra gặp gỡ anh em mới vui. Anh mới sắm cái mũ lưỡi trai, lúc nào cũng đội che mái đầu còn loe hoe mấy sợi. Lâu nay mình đã đặt cho NM một cái tên, bây giờ đâm ra ai cũng biết và ai cũng gọi anh là Cập Thời Vũ Tống Công Minh… Nhờ sống rất chân thành nên anh em ai cũng quý cũng thương. Có lần bệnh nặng, nằm bệnh viện suýt chết, mình biết tin đến thăm, nói với người bác sĩ đàn em đây là nhà văn Nguyên Minh, bạn thầy đó em. Cứ như Tống Giang sắp bị mổ thịt làm bánh bao…
Địa điểm có vẻ đã quá chật chội rồi đó. Lần sau nên tìm cái sân rộng rãi hơn thì tốt.
Cô áo tím là Ban Mai đã cùng ông xã từ Quy Nhơn đi xe lửa suốt đêm qua mới kịp đến.
Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội vào. Trông anh hiền như bụt. Hỏi sao lạ vậy? Anh cười: ai cũng hỏi vậy! Rồi mình hỏi thăm Phùng Hoàng Anh, cháu ông Nguyễn Hiến Lê cũng ở Sơn Tây cùng NXD.

Và “Nhóm Ý Thức” cũng luôn có mặt bên cạnh Quán Văn. Từ trái; Đỗ Nghê, Nguyễn Ước, Lữ Kiều, Nguyên Minh, Lê Ký Thương… nhắc Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư và các bạn thời xa xưa đó…
Tịnh Thy, cô giáo Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế giới thiệu vài nét về bài ”đọc Thơ Ngắn Đỗ Nghê: ”Sao lòng ta chưa nguôi” của cô và giữ bí mật để mời mọi người đọc trực tiếp trong Quán Văn 52.
Cô dành thời gian kể về chuyến đi Hà Nội của Quán Văn vừa rồi với nhiều hấp dẫn…
Hẹn thư sau nhé,
Đỗ Hồng Ngọc.
Ghi chú: Tôi đọc được truyện này trên trang Luân Hoán, rất dễ thương. Xin phép Tâm Thanh chia sẻ cho bà con đọc Tết nhé. Đa tạ. (ĐHN).
Tâm Thanh
Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một chuyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu ‘Cứ yên tâm’.
Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói ‘bả không phải vợ tôi’? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.
– Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!
‘Chát!’ Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời ‘vu cáo’ trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:
– Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?
Được dịp ‘đáp lễ’ sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:
– Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.
Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:
– ‘Toa với lết’. ‘Lết’ đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà ‘lết’.
Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:
– Bà có biết đọc … xa tới đằng kia nổi không?
– Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!
– Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà … đái.
Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:
– Ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!
Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận ‘tội ác’ của mình, chỉ giúp bà mở khóa
dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:
– Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.
Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:
– Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?
Tôi tính nói ‘bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu’, nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:
– Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?
Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lễ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:
– Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!
Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:
– Ông bà tình ghê!
Câu này, chắc hôm đó bà không nghe đâu, nhỉ? Về chỗ, tôi vẫn ngồi vào cái ghế đã bị đổi, đầu tràn ngập những dấu hỏi về người đàn bà kỳ lạ.Bà đi với ai? Đi đâu? Làm gì? Khi bà trở lại, lò dò mãi không tìm thấy chỗ, tôi phải vẫy tay, kêu:
– Bà ơi! Đằng này nè!
Tôi nghe từ hàng ghế sau, phía bên trái có giọng đàn bà, tiếng Việt:
– Ông già lấy được bà vợ đẹp, chỉ tội quê không để đâu hết.
Bụng tôi thon thót theo mỗi bước chân của bà, chỉ lo ngại cho những cái đầu người ngồi dẫy bìa bị tay bà quơ phải, lỡ mà bà nhằm cái đầu tóc giả của một ông Tây mà vịn thì tôi phải tuyên bố ‘ly dị’ ngay tại chỗ. Nhưng tôi thở phào khi cuối cùng bà tới được chỗ ngồi bình an, gieo bàn tọa cái rầm, thả ra mùi ‘eau de Cologne’ pha lẫn mùi dầu cù là lổn ngổn.
– Bà đi máy bay lần đầu?
– Chớ lần mấy?
– Bà đi đâu ạ?
– Phần-lan.
– Bà đi thăm bà con bên đó, chắc?
– Bà con hồi nào? Theo chồng.
– Ông nhà sang Phần-lan lâu chưa?
– Chả người Phần-lan …
Bà kể bà làm nghề chèo ghe đưa khách tại bến đò Vĩnh Long. Chở bạn hàng cũng có, mà sau này chở khách du lịch cũng có. Thường thì bà chậm chân, không tranh được mấy mối khách du lịch béo bở. Một hôm bà để ý có một ông khách Tây cứ ngồi uống cà phê đá mà nhìn bà cả buổi, ‘cái đầu xồm không nhúc nhích’ và ‘cái môi đỏ chót liếm lia’. Cuối cùng ông đứng lên ra bến, đưa tay gạt hết mấy thằng giành mối ra một bên, mà tiến thẳng lại ghe bà, chẳng nói chẳng rằng, bước xuống, và bà chèo ghe cho ông coi cảnh trên sông Cổ Chiên. Bà nói tiếp:
– Tối về chả rút bóp ra một xấp tiền đô. Tui hổng dám lấy. Thằng chả xòe ra biểu lấy một ít cũng được. Nhưng chú tính coi – ai lấy kỳ vậy?
Cô tiếp viên đưa khay ăn tới. Tôi giúp bà hạ bàn con xuống, chọn nước uống, và chỉ bà cách dùng mấy thứ lỉnh kỉnh như dao nĩa, khăn ăn v.v. Và tôi ngạc nhiên tại sao một người chèo đò nhà quê mà có bàn tay búp mang đẹp như vậy. Bà cầm dao ăn như cầm búa, nhưng ăn vén khéo và rất … bạo -so với các mệnh phụ phu nhân khác. Vẻ tự nhiên của bà và những món ăn hấp dẫn với rượu vang khiến tôi phấn chấn tinh thần. Tôi thấy đã đủ thân mật để nói đùa:
– Bà không lấy tiền, chứng tỏ bà mê ông rồi?
Bà cười khinh khích:
– Mê cái mốc xì họ. Bộ ghe chùa sao? Tôi lấy cái tờ có vẽ số 1.
– Sao bà không lấy tờ vẽ số 10 hay 20?
– Lấy đủ công mình thôi chớ.
– Rồi sau đó?
– Sau đó hả? Mấy bữa sau, bữa nào chả cũng trở lại thuê ghe tui đi chơi lòng vòng… Rồi chả đòi lấy tui.
– Ý! Chết mẹ người ta chưa!
Dầu biết trước bà đang trên đường đi về nhà chồng, tôi buông ra một câu sững sờ như thế vì hồi kết cuộc tới một cách đột ngột quá. Không ngờ tiếng reo của tôi đã đậm đà giọng của bà, thốt ra mà thấy sướng cổ họng. Nhưng thấy sau đó bà im bặt, tôi lại lo bà giận tôi lỗ mãng.
– Xin lỗi nhé!
– Lỗi gì?
– Dạ, không.
Tôi chờ đợi một câu truyện hấp dẫn, có đầu đuôi hơn. Tôi muốn biết buổi hẹn hò đầu tiên ở đâu? ông tỏ tình thế nào? tại sao bà biết ông thương mình thiệt? cái gì làm cho bà thích ông? ông làm nghề gì? có tổ chức đám cưới không? Nhưng bà không kể nữa, tiếp tục ăn món tráng miệng, khen ngon.
Tôi uống sang ly Cognac thứ ba, nghe ra giọng nhừa nhựa của chính mình:
– Dô! Dô! Mừng cho mối tình của bà! Đẹp thấy … mẹ!
Bà nhìn tôi, cau mặt:
– Ê! Chú hổng nên bắt chước tui ăn nói cái kiểu ẩu tả đó.
Thế ra bà vẫn biết mình ăn nói khác thường. Tôi chữa:
– Bà nói ngon lành hết xảy, chứ đâu có … ẩu tả.
– Chú nói thiệt tình hay xí gạt tui?
– Tui xí gạt bà làm mẹ gì? Bà là người tốt muốn chết.
– Chú coi bộ cũng được, nên tui khuyên chú đừng bắt chước tui. Tui trót học thói xấu, không sửa được. Không muốn sửa. Thằng khốn nạn đó …
Tôi ngạc nhiên, tại sao mới ‘thằng chả’ thân mật đã lên cấp ‘thằng khốn nạn’?
– Bà nói ai … khốn nạn?
– Thằng chồng của má tui.
– ‘Chồng của má’, tức thị là cha ?
– Cha ghẻ tui đó. Mà tui có kêu chả bằng cha đâu.
– Sao vậy?
– Nó nhậu say rồi đánh đập mẹ tui tối ngày. Một hôm nó định giở trò súc vật với tui, mẹ tui bắt gặp, nó đánh mẹ tui bất tỉnh nhơn sự, tui quơ con dao yếm, huơ cho nó ớn mà giang ra, ai dè nó tự lao thây vào lãnh dao, chết ngắt. Đúng là số chả chết. Bị thần Lưu Linh vật. Tui .. tui không cố ý. Ông ta cũng thông cảm cho tui như vậy. Tui chỉ bị ba năm cải tạo. Lúc má tui đau nặng, người ta lại thả cho về sớm gần năm để nuôi bả.
Bà ngưng kể, khóc. Tôi im lặng để bà khóc tự nhiên, nhưng thấy bà khóc mãi, tôi an ủi:
– Việc đã qua rồi. Bà đừng buồn nữa.
Bà mủi lòng, khóc mùi hơn:
– Tui nhớ má tui với thằng Mẫn quá. Tui bỏ đi thiệt là tệ. Không ai coi chừng má tui với nó hết trơn.
– Thằng Mẫn là ai?
– Nó là em cùng mẹ khác cha với tui. Nó bị tàn tật, què giò.
– Cha em là ai?
– Thằng chồng mắc toi của mẹ tui, chứ ai?
Tôi quay nhìn khuôn mặt hiền lành đẫm nước mắt và nghĩ có lẽ chính khuôn mặt này đã làm cho các quan tòa giảm khinh cho bà tội vô ý giết người. Phải tay tôi, đã cho bà trắng án. Rồi như bấm nút, bà nín bặt, chùi nước mắt, nói ráo hoảnh:
– Bảy năm cãi lộn với thằng cha ghẻ và hai năm cải tạo, hết thảy chín năm, tui quen ăn nói ba trợn. Sửa lại thấy … miệng lạt nhách.
Bà nói xong than:
– Tui mắc ói quá. Trước khi lên máy bay đã uống ba viên thuốc, mà còn mắc ói.
– Hèn gì bà vừa lên máy bay đã ngủ li bì.
Tôi vừa kịp banh cái bao ói thì bà ọc ra. Bà lại lấy dầu cù là ra xức. Cái nồng nàn của những chuyến đò đêm, cái ngất ngưởng của những chuyến xe đò trưa nắng, cái bệnh viện lưu động đó, dầu cù là con hổ. Hai mươi năm mới gặp lại, gặp lại vẫn nồng. Tôi bật ghế cho bà nằm nghỉ.Tôi cũng ngả người, nhắm mắt, suy nghĩ miên man về câu truyện của bà. Thỉnh thoảng tôi hé mắt, thấy bà chăm chú coi phim trên bàn ảnh truyền hình. Tôi chỉ cho bà đeo ống nghe. Tay chạm phải bộ tóc thật rậm, khỏe mạnh.
Không biết máy bay đã bay tới đâu và mấy giờ ở dưới mặt đất. Tôi có cảm tưởng thời gian và không gian như đọng lại ở một nơi xa lạ, không liên quan tới trái đất. Nhưng tôi vẫn tưởng tượng dưới đó hàng mấy tỉ người đang lao xao cười, khóc, nói thật và nói dối, thông cảm và ngộ nhận, bằng nhiều thứ ngôn ngữ, chân ngôn xen lẫn ngụy ngôn.
Tôi thức giấc đã nghe nhiều người rục rịch. Bà đã bật ghế thẳng, ngồi đan áo, tôi hỏi:
– Bà không ngủ?
– Ngủ mẹ gì được. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng gà gáy.
Tôi ngạc nhiên:
– Trên máy bay, làm gì có gà kìa?
Bà không do dự:
– Chắc nó gáy trong đầu tui. Bị ở nhà quê, nghe gà gáy riết, quen đi, cứ gần hừng sáng là nghe gà gáy trong tai.
Hình như bà giao tiếp với thế giới bên ngoài bằng trực giác. Thuần trực giác. Tôi chắc người đàn ông gặp bà trên bến đò Vĩnh Long cũng có trực giác rất mạnh. Tôi thích nghe tiếp câu truyện về họ.
– Tại sao ông không về Việt Nam … rước dâu?
– Chú đừng kiêu ngạo tui… Chả đòi sang đó chớ. Nhưng tui không cho. Tui nói dìa chi tốn tiền. Tui xin món tiền đó cho thằng Mẫn ăn học, chả bằng lòng, gởi tiền dìa rồi.
Khi bà dẹp len và kim đan để chuẩn bị ăn điểm tâm, tôi hỏi:
– Bà đan áo cho ông?
– Bển nghe nói lạnh lắm.
Chúng tôi ăn xong, máy bay qua một vùng ‘ổ gà trời’, hổng lên hổng xuống. Đèn báo nhắc cài dây an toàn. Lần này tôi chỉ cho bà cái khóa.Hành khách đi máy bay gặp những báo hiệu cài dây thế nào cũng ít nhiều lo lắng. Rủi ro, ai biết? Loa phóng thanh loan báo có bão, nhưng hành khách có thể yên tâm. Tôi lòn tay dưới gầm ghế, lấy cái phao cấp cứu. Bà hỏi:
– Cái gì vậy?
– Cái phao cấp cứu. Tôi chỉ kiểm soát xem nó có đó không, để mình yên tâm.
– Tui đi sông đi nước hai chục năm trời, chẳng phao phiếc gì, cũng chẳng chết. Hôm đầu thằng chả xuống ghe cũng bày đặt hỏi phao, tui nói không cần, chả cũng chịu. Riết rồi chả nói đi ghe với tui mà không mang phao mới thích.
Bà không lộ một thoáng lo âu nào. Tôi có cảm tưởng người đàn bà này bay trên 10 ngàn bộ cao mà tưởng mình đang bơi xuồng trên sông Cổ Chiên, xuồng lật, chỉ việc nhào xuống nước bơi. Tôi cất phao trở lại chỗ cũ, hỏi:
– Bà có chắc ông sẽ ra đón không?
– Tui chắc mà. Tui biết ai là người tin được. Tui biết thằng cha này không bao giờ nói xạo.
Tôi nhớ một sự tích trong Tân ước: Một hôm thuyền của các môn đệ gặp sóng gió, Chúa Giêsu đi trên mặt nước ra với họ, nhưng họ càng sợ hơn vì tưởng là ma. Chúa nói ‘Thày đây, đừng sợ’. Đại môn đệ Phêrô mừng quá nói ‘Nếu là Thày thì xin cho con đi trên mặt nước đến với Thày’.Chúa phán ‘Con lại đây!’ Phêrô bước xuống, đi trên mặt nước, được mấy bước, thấy sóng to quá, ông đâm hoảng, và chìm xuống, Chúa phải đưa tay ra đỡ lên thuyền. Ngài trách yêu ‘Cái đồ yếu lòng tin!’
Tôi cảm phục lòng tin của bà lắm, bà ạ: Bà bước thẳng lên mây đến với chồng. Tôi nghĩ mọi người trên chuyến bay này đều biết trước về cuộc hành trình, và biết điểm tới. Chỉ có bà nhắm mắt mà bước lên mây, không biết điểm tới nằm chỗ nào trên mặt đất. Bà đi tới với chồng, chứ không đi tới một nơi nào cả. Không một giây hồ nghi. Câu hỏi ‘Liệu ông chồng có tới đón không?’ chỉ bám vào đầu tôi, một con người thường thấy quá nhiều sóng lớn trên biển đời, lòng tin thường bị nhận chìm, đến nỗi mỗi bước đi về sau trở thành một dấu hỏi.
Tôi phải chờ bảy tiếng đồng hồ tại Copenhagen để được chuyển máy bay đi Oslo. Lịch trình bay đã ghi như vậy từ đầu. Còn bà, theo lịch trình lẽ ra chỉ phải chờ ba tiếng để chuyển máy bay, nhưng vì trục trặc đình công sao đó, phải thêm hai tiếng trễ nải. Chính hai tiếng trễ nải này khiến cho tôi lo ngại giùm bà. Tôi đề nghị:
– Bà nên báo cho chồng bà biết máy bay trễ.
– Chả biết mà … Cái gì chả cũng biết hết đó.
‘Cái gì chả cũng biết’, đã tin ắng đi như vậy, thì thôi, kệ bà. Tôi hướng dẫn bà đi coi các gian hàng trong sân bay. Bà bị kích thích mạnh vì vẻ choáng lệ và đồ vật bày trong các cửa hiệu. Bà trầm trồ, reo vui. Tôi hỏi bà có định mua cái gì làm quà cho chồng không, vì đồ ở đây miễn thuế, rẻ hơn ở ngoài, bà nói:
– Tui mang theo nhiều đồ lắm, khỏi cần mua. Chú đừng cười nghe, tôi may ba bộ birama, kho một nồi tôm, và mua năm ký bánh phòng tôm, hai ký kẹo dừa. Nghe nói mấy thứ này ở bên tây không có. Mèn ơi! Tây u gì mà nó thích ăn tôm kho tầu gì đâu …
Đi với bà, tôi có cái vui thích như đi bên cạnh một đứa trẻ tò mò. Trẻ ngoan nữa, vì bà từ chối khi tôi đề nghị mua tặng một cái máy sấy tóc mà bà rất thích.
– Ai lại để chú mua, kỳ chết. Để chả mua cho tui, nếu tui còn thích.
Theo tôi, bà có một bộ tóc mây quá đẹp. Tôi hy vọng ông chồng sẽ thuyết phục được bà đừng uốn tóc. Tôi thăm dò:
– Tóc bà để tự nhiên như thế đẹp hơn.
– Biết đâu thằng chả.
‘Biết đâu thằng chả’, thế là cả nhan sắc bà cũng giao cho ông luôn.
– Hèn gì.
– Chú lẩm bẩm cái gì?
– Dạ, không. À, tôi định nói con gấu bông kia nhỏ bé quá, hèn gì ai cũng muốn bồng.
Tuy nhiên, bà càng tin tưởng, phó thác một cách ngây thơ, đầu óc đầy sạn của tôi càng nghi ngại. Rủi chồng bà không tới, bà sẽ xoay xở ra sao ở nơi xa lạ? Khi đi qua một trạm điện thoại, tôi đề nghị:
– Bà nên điện thoại cho ông báo tin báy bay trễ, để ông khỏi lo.
Bà ngẫm nghĩ, rồi trả lời:
– Chú nói có lý. Nhưng làm sao ra nhà dây thép gió bây giờ?
Tôi lấy cái thẻ nhựa của tôi tra vào máy điện thoại, và quay số bà ghi trong một tờ giấy nhét cẩn thận trong bóp. Chuông điện thoại reo. Bỗng tôi ngại ngùng, có thể nào người đàn ông nghe tiếng tôi ở đầu dây bên này, biết tôi đứng bên cạnh vợ ông và đâm ghen không. Tôi vội trao máy cho bà trước khi đầu dây bên kia trả lời. Tôi nghe bà la oang oang bằng tiếng Việt :
– Ê! Ông Ron đó hả! Ê ông có nghe không, Ron, Ron, Ron?!
Bà nói liên hồi, xăng xái. Bà bụm bàn tay trước ống nói mà hét lên, cũng không có tiếng trả lời. Tôi nhớ chúng ta thử lại nhiều lần, bà nhỉ.Nhưng không ai trả lời. Tôi an ủi:
– Có lẽ ông đã đi đón bà, và đang chờ ngoài phi trường.
Sắp tới giờ bà phải lên máy bay, tôi cần được giải đáp vấn nạn lớn nhất rằng tại sao một con người ăn nói mộc mạc như bà lại có thể làm cho một người đàn ông lạ say mê cưới làm vợ. Và, mặc dầu bà thường kể ‘chả biểu, chả nói’, nhưng nói bằng ngôn ngữ gì? Suốt cuộc hành trình, tôi biết bà không hiểu một chữ tiếng Tây tiếng Mỹ, làm cách nào ông bà hiểu nhau, hiểu một cách thâm sâu như thế? Cụ thể nhất là có thiệt ông hẹn bà sang Phần-lan chuyến này? Và có chắc tất cả mọi truyện không bắt đầu từ một sự … hiểu lầm nào đó do bất đồng ngôn ngữ? Tôi hắng giặng hỏi:
– Tôi hỏi không phải, ông bà nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Phần-lan?
Bà xăng xái:
– Tiếng Việt mình, thằng chả có hiểu con mẹ gì. Còn cái tiếng quỉ tiếng ma gì của chả, tui cũng đách hiểu.
Cũng hay. Nhờ không biết tiếng Việt, ông khỏi cần hiểu ‘con mẹ’ với ‘cái đách’ là gì. Có lẽ chỉ cần hiểu gật đầu là ‘có’ và lắc đầu là ‘không’ , hai tín hiệu mà nếu thông suốt, minh bạch, con người đỡ được bao nhiêu phiền trược trong cái biên giới u minh nửa không, nửa có, của ngôn ngữ. Tôi nghe nói bộ óc điện toán cũng chỉ biết ‘gật đầu’ và ‘lắc đầu’. Phương chi, con người, không phải chỉ có bộ óc, mà còn trái tim kỳ diệu. Điều này làm cho tôi, khi tiếng loa mời hành khách đi Helsinki vang lên, cảm thấy bớt áy náy. Cái gì làm cho một người đàn ông từ Helsinki sang tận bến đò Vĩnh Long gặp bà, thì cũng đang hướng dẫn bà từ Vĩnh Long sang Helsinki bình an.
Bà le te ra cổng số 39, tươm tất trong cái áo vét xanh đậm và quần tây thẳng nếp. Tôi đứng ngoài, bịn rịn nhìn theo, bà quay lại vẫy tay. Cái vẫy tay cũng không giống ai, bàn tay đưa ngang vai, lòng úp xuống, ngón tay phẩy phẩy ra phía ngoài, như giục tôi cứ đi đi. Cứ yên tâm.
Tâm Thanh
(Nguồn: QGHC Miền Đông)
Em nvquyen vừa gởi video clip buổi ”Gặp gỡ & Đối thoại” về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati) dưới góc độ khoa học tại Cà phê Thứ 7, ngày 20.1.2018.
Xin gởi đến các bạn để Tùy nghi và Tùy hỷ,
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Quán Văn số 52 Xuân Mậu Tuất sẽ “linh đình” họp mặt bạn bè ở Cafe Embassy Nhà hát Bến Thành sáng Chủ Nhật 28.01.2018.
Nghe nói có người từ Huế, có người từ Quy Nhơn, có người từ nhiều nơi xa xôi khác nữa cũng “vân tập” về chung vui cùng nhà văn Nguyên Minh, “chủ xị” và nhóm bạn.
Lai nghe nói có nhiều bài vở đặc sắc lắm, trong đó bài Sao Lòng Ta Chưa Nguôi, của Nguyễn Thị Tịnh Thy đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”(!?).
Tôi vẫn chưa biết nội dung bài viết này vì Nguyên Minh và Tịnh Thy đều muốn giữ bí mật đến giờ chót cho nên tôi cũng sẽ “khăn gói quả mướp” đến một phen.
Bạn mình rảnh, đến nhe,
Đỗ Hồng Ngọc.
Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở”
(Anapanasati dưới góc độ khoa học)
Thư gởi bạn,
Cà-phê Thứ Bảy do nhạc sĩ Dương Thụ làm ”chủ xị” khá nổi tiếng từ nhiều năm nay ở Saigon (và nay ở cả Hà Nội), không chỉ là một nơi có những buổi Giao lưu văn hóa, gặp gỡ và đối thoại thân tình giữa bạn bè anh em bên tách café sáng về nhiều vấn đề từ triết học, văn hóa, xã hôi, tôn giáo… mà còn thường xuyên có những buổi trình diễn Âm nhạc thính phòng hấp dẫn.
Nơi đó, ta có thể gặp nhiều bạn bè thân quen, Gs Nguyễn Văn Trọng, nhà văn Nhật Chiêu, luật gia Ngô Tiến Nhân, Gs Nguyễn Đăng Hưng, Bs Nguyễn Chấn Hùng…
Và chính mình cũng đã đến ”làm diễn giả” mấy buổi nơi đây về Nếp sống An lạc, về Thiền và Sức khỏe v.v…
Lần này nhạc sĩ Dương Thụ mời chia sẻ về Thiền ”Quán Niệm Hơi Thở” (Anapanasati), còn gọi là ”Nhập tức xuất tức niệm” hay ”An-ban Thủ ý”, một thứ thiền rất cơ bản, rất khoa học, mà Đức Phật đã truyền đạt cho các đệ tử từ xa xưa trong kinh Tứ Niệm Xứ (Satipathana) sau này thành một kinh riêng Anapanasatisutta (bản dịch HT Thích Minh Châu).
Vậy thứ bảy 20.1 này nếu rảnh, đến chơi nhé.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc.
Thư Mời của Càphê thứ 7:
Ghi chú: Tết tây 2018, có người chuyển tới tôi bài viết cũ của mình như là một lời nhắc. Có lẽ người bạn đó nghĩ rằng tôi đang ở cái tuổi đẹp nhất của mình mà không biết, cứ hay nhắc ”hồi đó, hồi đó” hoài thấy dễ ghét!
Bèn chia sẻ cùng bạn vậy.
Thân mến,
ĐHN
Một chút lan man Ngày Tết
Đỗ Hồng Ngọc
Ngẫm lại sự đời, tôi thấy hình như hầu hết chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Hừm! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại.
Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy tại sao ta không nghĩ ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải…. nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!
Còn đối với các vị phụ nữ cũng có khi gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Thân thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần hỏi han ta, không cần biết ta có “chịu” không! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.
Trái lại, nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Từ ngày “thế giới phẳng” thông qua internet, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với người nhà nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện với mọi người bên cạnh thì nhiều khi đã lỡ nhịp!
Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn. Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai. Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.
Từ ngày biết thương “thân thể” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho thân thể của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá!
Một người bạn tôi mắc bệnh “ăn không được”, “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương ông quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được?
Giá ông nghèo một chút còn hay hơn! Kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn ông ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho thân thể của mình ngủ hơn. Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được!
Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!
Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!
Nên nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe được, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy được, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!
Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là mắt xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.
Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.
Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả! Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút. Có lẽ như vậy hay hơn!
(ĐHN)
ĐỖ HỒNG NGỌC (Đỗ Nghê)
* Lê Ngọc Trác
Cô đọng, đầy đủ ngữ nghĩa, giai điệu nhẹ nhàng, cuốn hút, nội dung thể hiện chủ đề của bài thơ, gợi mở cho người đọc suy nghĩ về một không gian kỷ niệm, gần gũi trong cuộc sống. Đó là một bài thơ hay:
“…Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay xuân về
Vỡ òa ngưc biếc!”
(Trích “Gió bấc” của Đỗ Hồng Ngọc)
Những ai đã từng sống ở miền cực Nam Trung bộ hay ở phố biển La Gi tỉnh Bình Thuận đều có chung một cảm nhận: “Gió bấc” ở miền quê này là lúc đất trời chuyển sang mùa, Tết đến, xuân về với quê hương và con người. Thời gian đi được tính bằng nhịp sóng vỗ bờ. Và gió, gió bấc cũng là nhịp mùa đi của đất trời. Gió là những lằn roi của cuộc đời. Gió là tín hiệu của mùa xuân vui… Những người dân quê hương La Gi chúng tôi đã từng yêu những câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc gắn bó với quê hương như thế.
Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc còn có bút danh là Đỗ Nghê. Anh sinh năm 1940. Đỗ Hồng Ngọc là niềm tự hào của quê hương La Gi và dòng họ Đỗ, một trong bốn dòng họ (Huỳnh, Đỗ, Từ, Nguyễn) sinh sống và gắn bó với La Gi từ thời mở đất lập làng thời xa xưa. Lúc sinh thời, Châu Anh – Đỗ Đơn Chiếu thường nói về Đỗ Hồng Ngọc – người cháu thân yêu của mình với những tình cảm trìu mến: Chúng tôi nhớ nhất là tiếng cười hào sảng nhắm tít đôi mắt đờ mi của ông khi ông đang nhắc chuyện gì sảng khoái nhất. Đỗ Hồng Ngọc bước vào con đường văn chương khi còn đang theo học Đại học Y khoa những năm 60 của thế kỷ trước. Trước năm 1975 thơ của anh đã có chỗ đứng trên thi đàn miền Nam. Nhà văn học giả Nguyễn Hiến Lê đã từng viết về Đỗ Hồng Ngọc: “Một bác sĩ, lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị…”.
Theo dõi cuộc đời và sáng tác của Đỗ Hồng Ngọc, chúng ta vừa ngạc nhiên vừa cảm phục sức lao động và sáng tạo của anh. Từ năm 1967, Đỗ Hồng Ngọc đã xuất bản thi phẩm: “Tình Người”. Từ đó đến nay, anh đã viết và xuất bản rộng rãi gồm 5 tập thơ: Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh…(2010). Bên cạnh anh còn xuất bản các tập văn và tùy bút được đông đảo bạn đọc yêu thích như: Gió heo may đã về (1997), Già ơi chào bạn (1999), Những người trẻ lạ lùng (2001), Cành mai sân trước (2005), Nghĩ từ trái tim (2003), Thư gửi người bận rộn (2005), Như thị (2007)…
Ngoài ra, Đỗ Hồng Ngọc còn viết nhiều đầu sách về y khoa; “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” là cuốn sách gối đầu giường của nhiều đôi vợ chồng trẻ gần 50 năm qua.
Đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, người đọc vừa thích thú, vừa ngạc nhiên trước sự đổi mới phong cách và bút pháp của anh. Cách đây gần 3 năm, chúng tôi tình cờ đọc trên trang cá nhân của nhà văn Nguyễn Nghiệp: 4 câu thơ của chính Đỗ Hồng Ngọc viết trên giấy sổ tay đã được chụp hình:
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho Mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông”…
(2012)
Đọc xong 4 câu thơ ngắn chỉ với 20 từ, lòng chúng tôi rung lên như bị chạm điện, thốt lên: Tuyệt tác! Chúng tôi thầm nghĩ, với 4 câu thơ trên của Đỗ Hồng Ngọc là đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca. Anh đã đặt một dấu son ngời sáng cho con đường sáng tạo thi ca của mình. Có lẽ một bài văn viết nhiều trang chưa chắc đã vượt qua được 4 câu thơ của Đỗ Hồng Ngọc về tình mẫu tử. Một bài thơ ngũ ngôn chỉ với 4 câu mang chủ đề “Bông hồng cho mẹ” trong mùa báo hiếu sẽ bay xa, vươn cao, làm lay động tâm hồn biết bao người yêu thơ trong chúng ta. Ai cũng có mẹ và trong chúng ta ai cũng là người con có hiếu. Với vỏn vẹn 4 câu thơ, Đỗ Hồng Ngọc đã nói lên được “cõi người” và tấm lòng của những người con trong cuộc đời. Nhiều nhà phê bình văn học đã từng đề cập 4 câu thơ trên với nhiều cung bậc, và cho rằng thơ Đỗ Hồng Ngọc đượm tư tưởng Phật giáo. Riêng chúng tôi xem đây là tuyệt chiêu của Đỗ Hồng Ngọc. Làm thơ cũng như làm những công việc khác trong cuộc sống. Một người thợ mộc lành nghề đục đẽo những lỗ mộng, đường nét tinh xảo. Một bác sĩ tận tâm với nghề, có bàn tay vàng khi phẫu thuật cho người bệnh không có vết sẹo, chỉ để lại những hoa văn tuyệt đẹp trên cơ thể người bệnh. Chỉ với 3 điều: Chân, Thiện, Mỹ. Ai làm được và đạt được 3 điều trên sẽ thành công. Làm thơ cũng như thế. Đọc xong một câu thơ, người đọc nhớ mãi là thơ hay và nhận ra tác giả là một người tài hoa.
Từ thi phẩm “Tình người” năm 1967 đến năm 2017, Đỗ Hồng Ngọc có “Thơ Ngắn Đỗ Nghê“. Người yêu thơ đều nhận ra: Đỗ Hồng Ngọc sáng tạo không ngừng, tạo ra nét riêng trong thơ của mình và thu hút được đông đảo người yêu thơ. Đỗ Hồng Ngọc viết cô đọng, từ ngữ bình dị. Không lên gân, không hô hào sáo rỗng. Thơ của anh không bi lụy hay cay cú bất cứ điều gì. Đỗ Hồng Ngọc viết một cách chân thật về những điều bình dị trong cuộc sống mà lay động đến con tim người yêu thơ. Anh không triết lý lộ liễu. Thơ của anh bên trong những câu chữ bình dị làm cho người đọc tự cảm, tự hướng đến một chân trời mênh mông mới. Chúng tôi không dám triết lý cao xa, chỉ nhận ra giữa Đạo và Đời không có khoảng cách trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Tất cả rất đời, an nhiên, đầy ắp tình cảm trong cuộc sống. Là những người đọc bình thường, chúng tôi biết: Những nhà thơ tài hoa và Đỗ Hồng Ngọc viết những câu thơ từ trái tim mình. Chúng tôi cảm nhận thơ bằng trái tim mình. Xin phép được trích tản mạn những bài thơ ngắn của Đỗ Hồng Ngọc, để bạn đọc yêu thơ tự đọc, tự cảm, như thế thú vị hơn!:
“Sóng
quằn quại
thét gào
Không nhớ
mình
là nước”.
(Sóng)
“Nước từ đâu đến
Nước trôi về đâu
Từ con suối nhỏ
Từ dòng sông sâu
…
Từ cơn gió thoảng
Từ làn mây trôi
Từ hơi biển mặt
Từ phía mặt trời
…
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu…”
(Nước)
“Lắng nghe hơi thở của mình
Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa
Một hôm hơi thở tình cờ
Dính vào hạt bụi thành ra của mình
Của mình chẳng phải của mình
Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”.
(Thở)
Khi đang viết bài viết tản mạn này, chúng tôi chợt nghe cơn gió bấc ùa về với phố biển La Gi. Trong cái lạnh của những ngày cuối năm, chúng tôi chợt nhớ đến những câu thơ Đỗ Hồng Ngọc viết về quê nhà:
Biển xanh lùa sóng bạc
Cát vàng hoàng hôn xưa
Tiếc em về chốn cũ
Tình vương đến bao giờ
Tiếc đời phơ tóc bạc
Thương mãi núi mây xa
…
Nụ mai vàng trước ngõ
Góc phố bờ quạnh hiu
Con đường xưa đứng đợi
Ta làm chi đời ta
Thương em còn thương mãi
Nắng vàng thơm quê nhà”.
(Trích: “Quê nhà“)
Chúng tôi nghe “nắng vàng thơm quê nhà” trong thơ Đỗ Hồng Ngọc. Nắng. Gió. Thấm đẫm yêu thương trong cuộc đời này khi mùa xuân đang đến gần với con người và đất trời…
(Lê Ngọc Trác)
(Phố biển La Gi 20/12/2017)
Thư gởi bạn xa xôi (12/2017)
Lâu quá phải không? Thiệt ra cũng có nhiều chuyện để kể bạn nghe lắm. Mà lười. Bệnh ”Làm biếng” ngày càng nặng. May nhờ có internet mà vẫn biết được tình hình bè bạn các nơi. Được xem mấy bức chân dung Nguyệt Mai, Duyên cho Trương Vũ vẽ tuyệt đẹp, đúng như bài thơ của Phạm Cao Hoàng: vẽ tâm hồn bạn. Nhưng nghe ”nghề làm người mẫu” cũng khổ, mỗi sitting cả 3 tiếng đồng hồ, mà nhiều lần như vậy mới xong. Vậy người mẫu phải tập thiền chăng? Rồi nghe nhạc sĩ Vĩnh Điện đã ”rửa tay gác đàn” (theo lời kể của Ngọc Vân trong “gánh hát” vừa có bài thơ Vườn Xưa do Vĩnh Điện phổ nhạc). Vĩnh Điện cùng… tuổi với mình, đã phổ nhạc bài Mới Hôm Qua Thôi nhớ không? Thu Vàng cũng đã bay qua họp mặt với các bạn. Chương trình Thu Vàng và các bạn xa xôi nghe xôm quá. Thiệt vui.
Thôi, gởi vài tấm hình, kèm ”tào lao” mấy dòng chú thích cũng đủ phải không.
Nguyệt Mai về thăm mẹ đâu giữa tháng 10. Nghe nói mẹ NM gần 90, có con về bỗng đi đứng hoạt bát chớ không nằm đừ một chỗ như mấy tuần trước đó! Hay quá. Bạn bè gặp NM ai cũng vui. Một ”cô bé” hồn nhiên rất mực, chẳng thấy nét thời gian. Hẹn nhau ở Đường Sách, rồi cùng gặp một bữa ”linh đình” ở nhà Thân Trọng Minh/ Thanh Hằng. Với Khuất Đẩu, Huyền Chiêu, Thu Vàng, Lê Ký Thương, Kim Quy, Đỗ Hồng Ngọc, Ngọc Vân, nói chung gần đủ cả ”gánh hát”, chỉ thiếu Duyên / Tùng, Khánh Minh… Lẽ ra có cả Hoàng Quốc Bảo mà chàng bận đi thu nhạc không kịp về.
Buổi ”văn nghệ bỏ túi” tại nhà Thân Trọng Minh.
Từ trái: Huyền Chiêu, Thu Vàng, Ngọc Vân,TTMinh, ĐHNgọc, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Kim Quy, Nguyệt Mai. Thu Vàng ôm đàn hát mấy bài, kể cả bài HQB phổ thơ TTM, ĐHN, rồi Huyền Chiêu, Ngọc Vân cùng… thi ca. Nhìn kỹ, sẽ thấy có mấy chai rượu nặng, mà chỉ có TTMinh và KĐ cụng ly nên có vẻ buồn, bởi ĐHN và LKT chỉ cụng… trà đá! Tiếc HQB chưa về kịp.
Cái ”chuồng cu” tòa soạn Quán Văn của Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, TKTS, thầy cò, thợ xếp chữ, thợ nhà in, lon-ton… Nguyên Minh coi vậy mà hay, là nơi quy tụ quần hùng khắp nơi hội ngộ. Nguyên Minh vừa làm chuyến Bắc du về nên vung tay kể chuyện tíu tít. Nghe nói chuyến đi rất thành công.
Từ trái: Hoàng Quốc Bảo, Đỗ Nghê, Nguyên Minh, Thân Trọng Minh, Hiếu Tân, Lê Ký Thương, Kim Quy. Lúc sau thì có cả Elena, Trương Văn Dân, Nguyễn Sông Ba…
Hôm đó tình cờ cũng là hôm Nguyên Minh đang in thử vài trang Bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” vừa được Lê Ký Thương layout rất độc đáo xem sao!
Cũng ngộ. Năm 1967, mình đang còn là sinh viên y khoa, đã in tập thơ đầu tay Tình Người, thơ Đỗ Nghê, do người bạn cùng lớp là Lữ Kiều Thân Trọng Minh trình bày bìa. Đúng nửa thế kỷ sau, 2017, in tập Thơ Ngắn Đỗ Nghê do họa sĩ Lê Ký Thương, người bạn cùng nhóm Y thức layout và trình bày bìa. Quả là rất thú vị khi hôm nay cả Đỗ Nghê, Lữ Kiều, Lê Ký Thương cùng gặp nhau nơi đây!

Mấy bạn trẻ của nửa thế kỷ trước đang hì hục in thử vài trang bản thảo Thơ Ngắn Đỗ Nghê coi chơi: Nguyên Minh gò lưng trên máy, Lê Ký Thương… giám sát!

Những tập thơ Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) từ Tình Người(1967) đến Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017): Thơ Đỗ Nghê, Giữa Hoàng Hôn Xưa, Vòng quanh, Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác…
Phải nói thêm rằng tập Thơ Đỗ Nghê 1974 cũng do nhóm bạn thực hiện ở Đà Lạt: Lữ Kiều, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba… với tranh bìa Nguyễn Trung, họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận trình bày. Tập thơ do Hoàng Khởi Phong mang từ Đalat về Saigon cho Đỗ Nghê thời đó. Mới tìm thấy cái bìa, ở bìa bốn, chữ viết tay của Lữ Kiều, giới thiệu các tác phẩm do Ý Thức sắp xuất bản, có Hoàng Khởi Phong, Trần Hữu Lục, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương, Thụy Văn, Lữ Kiều, Nguyễn Mộng Giác… Ơi, một thời để nhớ!
Mấy hôm sau lại có dịp họp mặt cùng nhà thơ Ý Nhi, Nguyễn Tường Giang, Nguyệt Mai, Hoàng Quốc Bảo… ở nhà Lê Ký Thương. Ái chà, chuyện vãn nổ như bắp rang… nhất là có 3 tay y khoa cùng thời là Nguyễn Tường Giang. Thân Trọng Minh, Đỗ Hồng Ngọc!
Nguyễn Tường Giang, bạn nhớ không? Bác sĩ Giang là con của nhà văn Thạch Lam, Gió đầu mùa và Hà Nội băm sau phố phường… đó mà! Anh cũng là một nhà văn, nhà thơ…

Và mọi người không quên chụp chung cái hình kỷ niệm: Nhà thơ Ý Nhi đứng giữa, sau Thu Vàng.(hình Thân Trọng Minh)
Vậy đó. Định viết mấy dòng thôi mà cũng hơi nhiều rồi đó nhé.
Hẹn thư sau,
Đỗ Hồng Ngọc.
TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “THƠ NGẮN ĐỖ NGHÊ”
Hai Trầu (Houston)
Thi sĩ Đỗ Nghê và Hai Trầu bên hồ sen Kỳ Hòa (Sài Gòn) sau cơn mưa chiều, ngày 06 tháng 6-2017. (Hình do chị HT chụp)
Nhớ có lần, khoảng tháng 5 năm 2013, tôi bắt đầu làm quen với thi sĩ Đỗ Nghê (Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) qua trao đổi trên trang nhà Dutule.com, tôi có hỏi:
“Bài thơ đầu tiên bác sĩ gởi đăng ở tạp chí nào? … Bác sĩ có làm thơ tình lãng mạn không, nếu có, xin bác sĩ cho bạn đọc được đọc một bài mà bác sĩ ưng ý nhứt nhe bác sĩ?
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trả lời:
(…)
Những bài thơ học trò thôi không nhắc, thí dụ kiểu: “Những bước chân mềm trên cát thơm/ Em đi sa mạc rợn trong hồn?/ Buổi chiều lên đọng hai vành mắt/ Màu áo hôm nào làm sao quên…” Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…) rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…)
Năm 1967, đang là sinh viên y, tôi in tập thơ đầu tay: Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)… (1)
Thế rồi từ đó, thỉnh thoảng tôi có thư từ liên lạc qua lại với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và một hôm có duyên may, tôi từ dưới quê Lấp Vò lên Sài Gòn và gặp được anh lần đầu vào một buổi chiều tháng 6-2017 bên hồ sen Kỳ-Hòa khi cơn mưa vừa dứt hột. Lần đó, tôi thấy mình vốn đã già quá mạng và ngồi nghe anh nói chuyện về thở và thiền mình mới thấy đọc thơ Đỗ Nghê mình phải thiệt là già mới thấu hiểu phần nào cái thâm thúy trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” . Chính vì vậy mà tôi mới mạo muội đặt tựa cho bài viết này là “Tuổi Già Thử Đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” “.
Còn khi nào thì mới gọi là tuổi già? Đó có lẽ, theo tôi là một câu hỏi hơi khó trả lời. Riêng tôi thì, tôi có cảm tưởng là mình nay đã già lụ khụ nhiều rồi, không còn hăng hái như hồi mình còn nhỏ, ít quan tâm tới những gì cao siêu nên có thể có những hiểu biết cùng sự lãnh hội không được thấu đáo qua những vần thơ ẩn mật của một tác giả già giặn như thi sĩ Đỗ Nghê qua tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” này, nhưng tôi cứ thử lần mò xem sao!
Mở trang đầu “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, tôi bắt gặp bài thơ “Trái Đất”, quả đúng như cái tựa sách, thì bài thơ này ngắn thật, chỉ vỏn vẹn có ba câu và mỗi câu chỉ có hai chữ, dưới bài thơ tác giả ghi: Boston, 1993:
“Giữa đêm
Thức giấc
Giữa ngày…”
(Trái đất, Boston 1993)
Nhờ tác giả ghi Boston, tôi mới lần mò ra bài thơ thật ngắn này nó gói ghém cả một vũ trụ. Chừng như năm 1993, năm tác giả sáng tác bài thơ này là lúc anh đang có mặt ở Boston (Hoa Kỳ) cho một khóa tu nghiệp về y khoa ở trường Đại học Harvard. Người đọc không cần phải tưởng tượng nhiều như hồi còn trẻ mà chỉ cần có chút tưởng tượng như người ở tuổi già, người ta có thể vẽ được một bức tranh với một bóng người ngồi giữa đêm khuya mà ở một góc đối diện phía bên kia biển Thái Bình Dương là mặt trời đang ở trên đỉnh đầu. Vì Boston đang giữa đêm thì Sài Gòn mặt trời đang đứng bóng, giữa ngày. Cái mà tôi thích nhất trong bài thơ này là thi sĩ Đỗ Nghê đã gợi được hình ảnh con người trong vũ trụ bao la này. Hình ảnh đó gói gọn trong hai chữ “thức giấc”. Ai thức giấc đây? Hẳn phải là tác giả và tác giả chính là sự hiện hữu của một con người bằng xương bằng thịt; còn trái đất thì có ngày và đêm. Và chính con người mới biết thế nào là thức giấc, thế nào là giữa đêm và thế nào là giữa ngày ! Bài thơ chỉ sáu chữ mà gom được trời, đất và con người vào cùng một vũ trụ! Nếu không có con người giữa trời và đất, tôi tin là trái đất này, vũ trụ này mất đi phần nào cái hấp dẫn vốn làm cho mọi sinh vật trên trái đất này kể cả loài người luôn luôn muốn sống!
Tôi mê cái ý tưởng của nhà nghệ sĩ gởi gấm nỗi lòng của mình vào thiên nhiên, vũ trụ ấy, và đặc biệt những câu thơ Đỗ Nghê làm ở nơi mà bên này là “giữa đêm”và bên kia đại dương bao la là “giữa ngày”, nên tôi mới lần mò tìm thêm nhiều bài nữa. Chẳng hạn bài Thu. Những năm tháng tác giả viết về mùa Thu ở Boston cùng những nỗi niềm của kẻ xa nhà, cùng thời điểm ấy tôi cũng có mặt ở Boston, nên tôi mới thấy thấm thía những chữ mà tác giả đã dùng, anh đã chẳng những ghi lại được những giây phút của một chiều thu nghe tiếng quạ kêu rồi chợt giật mình nỗi xa nhà để biết tê tái trong lòng mà thốt nên lời, làm nao nao trong lòng đã đành mà còn làm cho người đọc già như tôi cũng nao nao buồn nhớ những năm tháng cách nay hơn hai mươi lăm năm mình cũng bồi hồi nỗi nhớ nhà như vậy!
Chiều thu
Nghe tiếng quạ
Giật mình
Nỗi xa nhà
Nhớ sao
Mà nhớ
Quá!
(Thu, Boston 1993)
Đúng rồi, thi sĩ ơi! Nhớ sao mà nhớ quá đi thôi!
Chưa hết, tác giả khắc họa mùa Thu xong rồi, anh lại diễn tả tiếp về mùa Đông ở Boston. Bạn có bao giờ tận mắt nhìn thấy mùa Đông ở Boston lần nào chưa? Bạn có bao giờ đứng nhìn tuyết rơi bay bay trong tiết trời giá lạnh ở Boston lần nào chưa? Và bạn có bao giờ nhìn ngắm những thân cây ở Boston vào mùa Đông lá rụng trơ cành không? Vâng thưa bạn, bạn thử đọc mấy câu thơ của tác giả Đỗ Nghê ghi lại, bạn sẽ cùng cảm với nhà thi sĩ về mùa Đông lạnh lẽo ấy:
Còn cây
trơ lại với cành
Với linh hồn lá
ngập ngừng trút qua…
(Đông, Boston 1993)
Vâng mùa Đông ở Boston ngày dài lắm, nhưng dưới cái nhìn của nhà nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê không như chúng ta, những người ở tuổi già muốn kể chi li về những rừng cây với cành nhánh khẳng khiu trụi lá trơ cành mà anh còn muốn đi xa hơn cái cảm xúc của người thường là chỉ thấy cái thực ngoài đời của cảnh vật, nhà nghệ sĩ muốn chia sẽ cùng người đọc cái lạnh, cái buồn, cái cô đơn không những của những cành cây trụi lá mà anh còn muốn nói lên giùm linh hồn những chiếc lá rừng bay bay đâu đó vào những ngày mùa Thu mà chừng như là cũng không đành rời bỏ cành nhánh một thời nuôi sống đời lá những ngày nắng ấm ngày nào! Lá rụng về cội, đã đành rồi, nhưng lá đâu phải tự ý mình muốn rụng hồi nào đâu? Chính vì vậy mới “ngập ngừng trút qua” Những chữ “linh hồn”, “ngập ngừng” quả là những chữ làm cho câu thơ thêm thần sắc, tuyệt diệu! .
Cây khẳng khiu bên bờ hồ Weymouth, Boston với đàn vịt trời trên mặt hồ đóng băng. (Hình do chị Lộc Tưởng chụp)
Bạn có thể nhìn thấy những cành cây khẳng khiu trụi lá vào mùa lá rụng nhưng bạn có lần nào đi dưới tuyết giữa phố Tàu của thành phố Boston chưa?
Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo.
(Tuyết, Boston, 1993)
Tôi có cảm tưởng những chữ “giật mình”, “nỗi xa nhà” ở bài Thu; “ linh hồn lá”, “ngập ngừng” trong tiết trời mùa Đông; cùng “ co ro” và “đìu hiu” trong bài Tuyết này là những chữ dùng mà tôi thấy giản dị nhưng không đơn giản, không dễ dàng chút nào với người đọc nhà quê già như tôi.
Ngoài đặc điểm là trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê”, tác giả tập trung nhiều bài thơ ngắn đã đành, mà dường như tác giả còn muốn cho người đọc có dịp nhìn ngắm lại những hiện tượng thiên nhiên thường xảy ra trong trời đất mà vì quen quá, hoặc xảy ra thường quá, không phải mỗi ngày mà dường như lúc nào cũng có thể xảy đến, ai cũng thấy nhưng ít ai để ý hoặc không màng tới. Chẳng hạn như những lượn sóng bạc đầu cao vòi vọi nhiều khi giận dữ nỗi trận ba đào, nhưng sóng quên mình vốn là nước. Mà đã là nước thì phải ở chỗ trũng, chỗ thấp, phải biết cái yếu cái mềm của mình:
“Sóng
Quằn quại
Thét gào
Không nhớ
Mình
Là nước”
(Sóng)
Ai ai trong chúng ta, có lẽ cũng đã hơn một lần thấy sóng biển đập vào vách đá nơi Đèo Cả, nơi Hòn Chồng (Nha Trang) hay sóng trên dòng sông Hậu làm chòng chành ghe xuồng vùng Vàm Cống (Long Xuyên), Cái Vồn, Cái Côn (Cần Thơ) vào những ngày mưa dông bão táp vùng gió mùa; nhưng mấy ai nghĩ sóng “không nhớ mình là nước” như câu thơ của thi sĩ Đỗ Nghê! Chỉ vỏn vẹn chừng ấy chữ, nhưng tác giả đã gởi đi một thông điệp về căn nguyên của mỗi người, của chính mình!
Và sự có mặt của “nước” cũng như sự có mặt của con người là sự có mặt ngẫu nhiên, bất định. Không ai có thể trả lời một cách chính xác nước từ đâu đến và nước trôi về đâu? Và hỏi về nguồn cội của một người cũng là một câu hỏi không dễ trả lời và có thể cũng làm đau lòng nhiều người vì nó dễ chạm vào chỗ yếu nhứt, chỗ riêng tư nhứt của mỗi người, nên thi sĩ Đỗ Nghê có lời khuyên rất nhẹ mà tha thiết biết bao!:
“Ai người nỡ hỏi
Nước đến từ đâu
Ai người nỡ hỏi
Nước trôi về đâu…”
Nước
(Paris, 1997)
Còn bàn về “vũ trụ”, về “đất” , tác giả cũng gợi cho chúng ta thấy được, biết được vũ trụ vốn biến hóa giữa có và không, giữa không và có:
“Nhẹ như không có
Có mà như không…”
(Vũ trụ)
Và con người vốn từ đất từ bùn:
“Đất động ta cũng động
Sóng thần ta cũng sóng
Giật mình chợt nhớ ra
Vốn xưa ta là đất”
(Đất)
Nhớ có lần, tôi cũng có viết về “nỗi lòng của đất” với câu mở đầu rất thật lòng:
“Tôi là đất. Tôi là bùn. Bạn ơi! Bạn có bao giờ nghĩ rằng tôi đã làm đuợc những gì cho bạn không? “(…) Và câu kết :“Tôi là bùn. Tôi là đất. Bùn là bản thể của tôi lúc tuổi chưa già và đất là hình tướng của tôi khi bùn bị va chạm vào dòng đời của vũ trụ với những vòng quay đến chóng mặt. Bạn ơi, dường như đất là nơi chốn để bạn bắt đầu một đời sống và đất cũng là nơi chốn để bạn trở về sau một đời sống.” (2)
Tóm lại, ngoài những bài thơ vừa dẫn, trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” , còn có thêm những bài như “Biển mặn”, “Viết tên lên cát”, “Biển vắng” có thể nói đó là một kết hợp về sự liên đới giữa cát giữa biển và giữa trái đất với con người một cách khắng khít không rời!
“Thơ Ngắn Đỗ Nghê” với chừng ấy những bài thơ tôi vừa lược dẫn, kể cũng đã gói ghém khá nhiều ý thơ mà tác giả muốn chia sẻ cùng người đọc, nhưng sẽ còn thiếu nếu chúng ta quên những bài thơ ngắn khác như “Món quà”, “Không tên”, “Lá”, “Nỗi nhớ”, “Quấn quít”… những bài thơ rất hàm súc, nhưng tôi muốn bạn, những bạn đọc rất gần gũi và ái mộ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nên tìm đọc “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” thì chắc sẽ thú vị hơn!
Nhưng ở đây tôi muốn thưa cùng bạn bài thơ “Mới Hôm Qua Thôi” mà với tuổi già như tôi nếu đã đọc qua mà không nhắc lại, tôi nghĩ quả là mình quá thiếu sót nếu không muốn nói là người già sợ những câu thơ trong bài thơ này như một thực tế mà mình cố tình không dám chạm mặt. Và thi sĩ Đỗ Nghê đã vẽ lại bức tranh rất thật này nơi một nhà dưỡng lão mà có lẽ đã một lần anh chứng kiến cảnh người già “mới hôm qua thôi”!
Xin mời bạn:
Mới hôm qua thôi
Họ ngồi đó
Bên nhau
Đàn ông
Đàn bà
Không nhìn
Không nói
Họ ngồi đó
Gục đầu
Nín lặng
Ngửa cổ
Giật nhẹ tay chân
Có người
Trên chiếc xe lăn
Chạy vòng vòng
Có người
Trên chiếc xe lăn
Bất động
Họ ngồi đó
Hói đầu
Bạc trắng
Móm sọm
Nhăn nheo
Mới hôm qua thôi
Nào vương
Nào tướng
Nào tài tử
Nào giai nhân
Ngựa xe
Võng lọng
Mới hôm qua thôi
Nào lọc lừa
Nào thủ đoạn
Khoác lác
Huênh hoang
Mới hôm qua thôi
Nào galant
Nào quý phái
Nói nói
Cười cười
Ghen tuông
Hờn giận
Họ ngồi đó
Không nói năng
Không nghe ngóng
Gục đầu
Ngửa cổ
Móm sọm
Nhăn nheo
Ngoài kia
Tuyết bay
Trắng xóa
Ngoài kia
Dòng sông
Mênh mông
Mênh mông…
Montreal, 1993
Bài thơ tác giả ghi: Montreal, 1993. Chắc thi sĩ sáng tác cùng năm với những bài thơ về mùa Thu, mùa Đông, về Tuyết ở phố Tàu thành phố Boston, cũng 1993, khi anh có dịp qua Canada vì từ Boston qua Montreal, đường tuy dài nhưng bạn đi qua đó không phải trở ngại gì nếu bạn muốn đi chơi cho biết.
Đọc bài thơ “Mới hôm qua thôi”, tác giả dưới con mắt của một vị thầy thuốc và dưới con mắt của một nhà nghiên cứu về đạo Phật, và dưới con mắt của một người thương người cùng chất lãng mạn của một nghệ sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê nắm tay chúng ta và anh đã dắt chúng ta đi qua một dòng sông đời trôi qua mấy mươi năm rồi với biết bao gian truân, vinh nhục, được và mất rồi ra chỉ còn là “mênh mông” với “ mênh mông…” thôi!!!. Chẳng còn lại gì! Chẳng còn lại chút gì!
Thưa bạn,
Trong tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” còn nhiều bài nữa rất đời mà cũng rất lãng mạn nữa. Nhưng tôi thấy bài thơ “Về thăm quê” hết sức ngắn mà theo thiển ý của tôi thì tôi nghĩ ý thơ trong bài này vô cùng thâm thúy.
“Lâu không về thăm quê
Những người xưa biền biệt
Lũ trẻ lớn lên
Ngơ ngác
“Ủa, chú là ai?
Làm sao chú biết…?”
Đúng vậy, lâu quá không về thăm quê nên khi mình về lại thì nhiều người, nhiều đời người ta đã ra người thiên cổ bộn rồi! Và trẻ nhỏ đời này, đời kia tiếp tục có mặt và hết sức ngơ ngác với người già. Nhưng có lẽ câu trả lời “Làm sao chú biết…?” mới là tuyệt diệu. Làm sao chú biết chú là ai? Làm sao tôi biết tôi là ai giữa cõi đời ô trọc này? Thực sự trong đời sống này mỗi mỗi chúng ta, có lẽ ai ai cũng tự cho rằng mình rất hiểu, và biết rất rõ về mình, nhưng thực tế không phải vậy! Làm sao mình nhận rằng mình biết hết mọi việc trên đời này!
Đó là chưa kể, người già nghe câu hỏi:“ Ủa, chú là ai?” và trả lời bằng mấy chữ:“Làm sao chú biết”, còn có nghĩa chú còn phải tìm tòi, phải học ở cháu nữa dù thế hệ của cháu đáng con, đáng cháu của chú! Hổng phải vậy sao? Vì nếu một người nói rằng chú biết hết mọi việc thì người đó đã đầy một bụng kinh luân rồi và đâu cần học hỏi ai điều gì nữa, nếu không muốn nói là người ấy chỉ mất thời giờ của họ thôi chứ đâu có ý lãnh hội điều gì và dĩ nhiên đâu có ích lợi gì. “Làm sao chú biết” là một lời đáp của một người biết khiêm nhường, của một người muốn nhận rằng mình dù thông thái cách mấy, dù giỏi cách mấy, dù già giặn cách mấy vẫn tự thấy mình vẫn chẳng là gì giữa dòng đời đầy nhiêu khê, bất trắc này vậy!
Nhưng, thưa bạn, khi mình ở tuổi được gọi là đang già hoặc đã già, thì cái vũ trụ mênh mông ấy cũng chính là một thực thể ở ngay trong chính mình như thi sĩ Đỗ Nghê, cũng là một bác sĩ hơn nửa thế kỷ lăn lóc với nghề qua biết bao kinh nghiệm dạn-dày với bệnh nhân và với chính bản thân mình nữa , nhà thi sĩ đã nhắc với bạn đọc của anh qua bài thơ Vũ trụ rất thực mà cũng rất gần. Nói cách khác, đây cũng là cách gởi gắm ý tưởng rất tế nhị, tác giả vốn là nhà nghiên cứu về Phật Giáo, muốn nhắn nhủ người đọc lời Phật dạy: “Hãy quay về nương tựa chính mình”:
“Khi mắt mũi kèm nhèm
Là áp thấp nhiệt đới
Khi bần thần rã rượi
Là áp thấp gần bờ
Khi huyết áp tăng cao
Là bão từ nổi dậy
Từ phía mặt trời xa
Vũ trụ chừng nhỏ lại
Còn chút xíu trong ta!”
Tóm lại, qua 103 trang sách với 56 bài thơ ngắn, quả thật tôi đã học hỏi ở thi sĩ Đỗ Nghê rất nhiều ý mới lạ qua những bài thơ ngắn cùng với chữ dùng rất bình dị mà thâm thúy, mà thực sự nếu muốn hiểu cặn kẽ những ý thơ qua từng dòng thơ của tác giả tôi nghĩ không dễ dàng chút nào. Về điềm này, tôi nghĩ rất khế hợp với lời nhận định của một thi sĩ Ba Lan, người nhận giải Nobel năm 1996, bà Wislawa Szymborska (1923-2012), có lần đã viết:”Trong ngôn ngữ thi ca, nơi mỗi chữ đều được cân nhắc, không có gì thông thường hoặc bình thường…”(3) Còn Lâm Ngữ Đường thì viết “Thi sĩ chỉ vẽ phác một cảnh, diễn một nỗi lòng thương cảm rồi để cho độc giả tưởng tượng.”(4)
Theo thiển ý của người đọc nhà quê già như tôi, tập bản thảo “Thơ Ngắn Đỗ Nghê” đều bao hàm cả hai nhận định của hai nhà vừa kể, một ở trời Âu và một ở trời Đông vậy!
Hai Trầu
Houston, ngày 22 tháng 11 năm 2017
………………………………………………………………………………………………………………………
Phụ chú:
1/ “Trò chuyện với Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc qua những lá thư từ kinh xáng” trong bộ sách Người Đọc & Người Viết, Quyển II, của Hai Trầu, ấn hành tháng 10-2017, trang 132. Houston, Hoa Kỳ.
2/ Trong cuốn “Nhớ Về Những Bến Sông”của Hai Trầu, Hoa Kỳ, năm 2013, trang 149 hoặc bạn có thể tìm đọc trên các trang nhà “Gio-o.com”, “thatsonchaudoc.com.”.
3/“Tôi-Không-Biết”:Giới thiệu, nhận định, dịch thơ Wislawa Szymborska, giải Nobel 1996” của nhà thơ Ngu-Yên biên soạn và dịch , Tập một, do Amazon ấn hành, lần thứ nhứt, tháng 3 năm 2017, Hoa Kỳ, trang 90.Toàn tập gồm hai quyển 1&2,dày 1303 trang.
4/”Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa “của Lâm Ngữ Đường do Nguyễn Hiến Lê dịch, Ca Dao xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 117.
Một người bạn vừa gởi ”Rất Người” của Hoshi Shinichi, do Quỳnh Chi dịch. Xin Quỳnh Chi cho phép chia sẻ nơi đây nhé.
Chúng ta cũng đang lo tình trạng ”Rất Robot” nữa đây phải không?
ĐHN
RẤT NGƯỜI
“Ningen teki” của Hoshi Shinichi – Quỳnh Chi dịch
Ông R là một người cao tuổi có gia sản bề thế, đến thăm một học giả trẻ tuổi là tiến sĩ F. Chuyện trò hồi lâu, ông R nói:
-Robot thì cũng tốt rồi, nhưng có thể nào làm cho khá hơn một chút được không? Ở nhà tôi cũng đã có sử dụng robot từ lâu rồi, nhưng không vừa ý lắm.
Tiến sĩ F bèn hỏi lại:
-Bác không vừa ý về điểm nào ạ? Cháu cũng là một chuyên gia về ngành này, nên cũng muốn biết để tham khảo ạ.
– Nói tóm lại là nhạt nhẽo vô vị. Quả là robot rất chính xác, là một thứ tiện lợi thật đấy, nhưng bảo gì cũng đáp vâng hiểu ạ, rồi chỉ biết làm đúng y như thế. Làm thật đúng một cách máy móc. Tôi hiểu là phải biết ơn thành quả này của khoa học, nhưng vẫn thấy chán làm sao ấy.
Những tưởng sẽ bị phản luận là chỉ được voi đòi tiên, nào ngờ tiến sĩ F gật đầu nói:
-Cháu hiểu được tâm trạng ấy. Từ lâu rồi, cháu đã đoán là thế nào cũng sẽ đến lúc có người đưa ra ý kiến này.
-Thật không ngờ lại được nghe những lời như vậy thốt ra từ một học giả về robot. Cậu nói thế, hẳn là đang nghiên cứu cách giải quyết, phải không?
-Vâng đúng thế. Thật ra là cháu cũng mới chế thử một robot kiểu mới. Và đã cho đi tu tập làm người rồi ạ.
-Tu tập làm người là làm sao? Tôi chưa bao giờ nghe nói tới chuyện cho robot đi tu bao giờ cả. Như thế là thế nào?
Ông R rất đỗi ngạc nhiên, mắt trợn tròn cả lên. Tiến sĩ F bèn giải thích:
-Robot từ trước đến nay khi được chế tạo thì đồng thời cũng được cài sẵn những ký ức cơ bản. Tuy nhiên đó chỉ là những ký ức đủ dùng sau này khi cần đến. Nhưng robot mới lần này thì khác. Bộ phận ký ức được chừa lại một khoảng, rồi cho sống chung với người. Vì thế so với robot từ trước đến nay thì có thêm phần trội hơn này.
-Ra là vậy, nghĩa là robot sẽ mang tính người hơn. Thế kết quả ra sao rồi?
-Dạ, chưa biết có thể nói như thế nào ạ. Là vì robot đi tu vừa mới trở về vào ngày hôm qua. Giai đoạn sắp tới là dùng thử để quan sát xem robot làm trò trống ra sao.
Vừa nghe tiến sĩ F nói xong, ông R đã hăm hở nói:
-Vậy thì cậu cho tôi đem về nhà dùng thử có được không. Tôi sẽ viết báo cáo về cảm tưởng khi sử dụng. Tôi đã chán ngấy, không còn chịu nổi những robot lâu nay, chỉ được mỗi một cái là bảo sao làm vậy. Robot mới này không có gì nguy hiểm chứ nhỉ.
-Về điểm đó thì xin bác yên tâm. Robot này đã được thiết kế để tuyệt đối không làm hại người. Thế nhưng, robot đã lĩnh hội được tính nết gì từ người, thái độ làm việc ra sao, thì hiện hoàn toàn chưa rõ ạ.
-Như thế mới là hay cậu ạ. Cậu cho tôi mượn đi. Nếu phải trả lệ phí sử dụng, tôi cũng xin trả.
Ông R cố hỏi mượn cho bằng được nên cuối cùng cũng khiến tiến sĩ F phải xiêu lòng. Thế là ông mượn được robot của tiến sĩ F và đem về nhà.
***
-Xem nào..
Ông R vừa buông mình xuống ghế và nói thế, thì robot đã đáp ngay:
-Dạ thưa ngài, có việc gì ạ?
-Xem ra thì chú mày cũng chẳng khác những robot từ trước đến giờ là bao. Nhưng thôi cũng được vậy. Ta muốn uống rượu. Hãy pha cho ta một ly cốc tay Blue Nova. Nếu không biết cách pha thì có trong sách để trên giá đấy.
Nếu là những robot từ trước đến nay thì đã bắt tay vào việc ngay, nhưng robot lần này vẫn cứ đứng yên. Ông R giục:
-Ơ kìa, sao không pha đi hả? Chú mày không pha được à?
-Dĩ nhiên là được ạ. Nhưng uống rượu là không nên. Không tốt cho sức khỏe. Hoàn toàn không có lợi lộc gì cho cả ruột gan lẫn trí óc.
-Không phải lo. Nếu đau dạ dày thì đã có thuốc uống.
-Chính vì thế nên mới là không ích lợi gì cả. Ngài nên bỏ rượu ạ. Dĩ nhiên là nếu ngài không quyết chí bỏ được, thế nào cũng bảo phải pha rượu thì robot tôi sẽ pha thôi.
-Thôi được, ta hiểu rồi. Chú mày làm ta chẳng còn hứng thú đâu mà uống rượu. Để khi nào ta tự pha lấy mà uống vậy. Thôi, thay vì uống rượu, bây giờ lái xe ra ngoại ô dạo mát vậy. Chú mày hãy lái xe cho ta.
Ông R bèn sai việc khác, nhưng robot vẫn đứng ì một chỗ. Ông R càu nhàu thì robot đáp:
-Dạo này tai nạn xe cộ ngày càng tăng, là vì phải chi giao cho robot lái thì an toàn xong vẫn có những người thích tự mình lái xe. Hễ đụng phải những hạng ấy thì không biết làm sao. Ngài nên ở yên trong nhà cho được an toàn. Nếu muốn ngắm cảnh thì xin hãy dùng tivi mầu lập thể. Nếu muốn hít thở không khí mới thì vặn nút thiết bị điều chỉnh không khí. Trừ phi ngài bảo dù có bị tai nạn cũng không sao, cứ lái xe đi thay đổi không khí, thì dĩ nhiên là tôi xin tuân lệnh. Cơ thể tôi thì dù có thế nào cũng không hề gì, không hỏng được.
-Chỉ nói toàn những chuyện dở hơi làm người ta chẳng còn muốn đi đâu nữa. Ta đi ngủ đây. Chú mày hãy dán giấy tường mới cho căn phòng này.
Thế nhưng robot lại đáp:
-Nếu vậy, ngài nên đợi thêm ít lâu nữa thì hơn ạ…. Là vì chẳng bao lâu nữa người ta sẽ phát minh ra loại giấy dán tường mới, so với các loại giấy từ trước đến nay thì bền, không bẩn, tuyệt hảo về mọi mặt như màu sắc hay âm hưởng. Nếu thay giấy dán tường bây giờ thì sẽ phí đi, vì rồi sẽ dán lại ngay thôi.
-Chú mày không phải lo về chuyện tiền bạc.
-Dạ vâng. Nếu ngài đã biết rõ là phí phạm vô ích mà vẫn ra lệnh thì..
-Thôi được. Không làm nữa. Chú mày hãy ở đấy mà nghỉ đi.
Ông R chán nản không sai robot làm gì nữa. Ông cũng gọi điện thoại cho công ty sản xuất giấy dán tường để hỏi thử xem sao, thì quả đúng như lời robot, công ty này dự định chỉ trong may mai sẽ bán ra loại giấy mới.
Ngày hôm sau, ông R đem robot đến chỗ tiến sĩ F. Tiến sĩ hỏi:
-Bác dùng thấy thế nào ạ?
-Quả là có vẻ như người, khác với những robot từ trước đến nay. Nhưng lại có vẻ người quá. Hễ mình ra lệnh sai bảo điều gì thì nó lại khuyên bảo mình, nào là không tốt cho cơ thể, nào là nguy hiểm hay vô ích. Như thế cũng là trung thành với chủ đấy, nhưng mà khó dùng quá. Hình như nó đã học được khi đi tu làm người hay ở đâu đấy, cái thói dạy đời thì phải.
-Nhưng mà có cho nó đi tu ở những chỗ hay dạy đời đâu chứ.
-Thế nhưng thực tế là như vậy. Cậu hãy xem kỹ lại cho.
Tiến sĩ F lấy làm lạ, bèn xét nghiệm thật kỹ, rất tốn thì giờ. Ông R tò mò muốn biết kết quả, thì chẳng bao lâu được tiến sĩ F cho biết:
-Ra là vậy, đúng là khác với những robot từ trước đến nay, robot này đã có tính người.
-Chắc là vậy rồi. Nhưng mà, tại sao lại có cả cái thói hay dạy đời thế chứ?
-Thưa bác, đấy không phải là thói dạy đời đâu ạ.
-Thế thì là cái gì?
-Đấy là tính lười, chỉ giỏi nại cớ để trốn việc.
Quỳnh Chi dịch “Ningen teki” của Hoshi Shinichi
Một bài viết trên Bách Khoa 426
Nguyễn Hiến Lê và Tôi
Đỗ Hồng Ngọc
Ghi chú: Gs Huỳnh Chiếu Đẳng vừa gởi tặng tôi bài viết về Nguyễn Hiến Lê của tôi trên báo Bách Khoa số 426 tháng 4/1975. Đây cũng là số báo cuối cùng của Tạp chí Bách Khoa sau hơn 18 năm có mặt ở Miền Nam. Gần đây, anh Phạm Phú Minh cũng đã sưu tầm và ”số hóa” toàn bộ 426 số báo này trên một CD. Đây là một công trình rất đáng khen ngợi.
Tôi chưa được quen biết Gs Huỳnh Chiếu Đẳng, nhưng mến mộ ông qua quanvenduong, một địa chỉ rất dễ thương sưu tầm được rất nhiều sách báo, ca cổ… phương Nam và các mục hướng dẫn sử dụng vi tính, đặc biệt mục “bắt vịt”… giúp mọi người tránh bị lừa gạt vì những… con vịt cồ trong thời buổi internet ”bát nháo” hiện nay. Ông gởi tặng tôi bài viết này được chụp nguyên trang báo BK nên với tôi, là một kỷ niệm quý giá. Xin chia sẻ cùng các bạn.
Đa tạ Gs Huỳnh Chiếu Đẳng,
Đỗ Hồng Ngọc.
Thư gởi bạn xa xôi: HÒN ĐÚ
Từ Mũi Né đi Bàu Trắng ta có dịp thấy Hòn Đú. Mũi Né thì có nhiều hòn lắm. Hòn Rơm nổi tiếng thì ai cũng biết, nhưng Hòn Đú thì ít người biết hơn. Đú là tiếng địa phương gọi Rùa biển. Ở vùng mình, ngày xưa thỉnh thoảng bộ hành đi đường biển dễ gặp mấy ổ trứng đú, hốt về cả trăm trứng như vậy. Trứng đú vỏ dai, chắc, mềm, trắng, giống như trái bóng bàn. Người ta ngâm muối rồi luộc ăn…
Chuyến về Lagi, Mũi Né, Bàu Trắng… kỳ này mình đi với vợ chồng bác sĩ Thân Trọng Minh/ Thanh Hằng, vợ chồng họa sĩ Lê Ký Thương/ Kim Quy và ca sĩ Thu Vàng. Dĩ nhiên lâu lâu mới được đi với cả nhóm bạn trong ”gánh hát” như vậy về quê mình nên mình đã ”tranh thủ” đưa các bạn thăm nhiều điểm trên đường đi. Chẳng hạn, ghé qua Đồng cừu ở Suối Nghệ, Châu Pha cho các bạn được dịp… ôm cừu chụp hình! Rồi ghé khu rừng nguyên sinh Bưng Riềng, Bình Châu thăm rừng, thăm suối…
Không thể không ghé nhà mình, căn nhà tuềnh toàng cấp 4 còn đó với biết bao kỷ niệm. Nhớ xưa vợ chồng Thân Trọng Minh, cùng Lữ Quỳnh/ Kim Nhung đã đến trú một đêm trên nền gạch. Rồi Hoàng Quốc Bảo cũng từng ghé uống dừa Lagi. Cũng phải tạt ngang Đập Đá Dựng một chút. Ghé Ngảnh ăn cơm, nơi có ngôi mộ cậu Nguiễn Ngu Í. Đi qua rừng thanh long ngút ngàn dưới chân núi Tà Cú về Phan Thiết, Mũi Né. Sáng hôm sau đã đi Bàu Trắng và ghé Hòn Đú ăn trưa. Chuyến này về Phan Thiết có ghé thăm nhà thơ Liên Tâm và dĩ nhiên không quên cho các bạn ăn bánh căn! Thôi, coi hình cho vui thôi nhé. Lúc này mình làm biếng viết quá rồi bạn ơi.

ĐHN, TTM… hai bạn già nhắc năm xưa đi với Hoàng Quốc Bảo về đây! Thời đó, HQB còn râu tóc dựng ngược, chưa thành Sư cụ như hôm nay… Mới thôi, đã hơn mười năm rồi! (Phóng lớn hình coi đoàn người trên đồi cát phía xa xa)

Lần đó cũng cùng ngồi thiền trên đồi cát mênh mông với HQB.
Hãy phóng to để nhìn đoàn người trên đỉnh đồi phía xa nhé…

“Cụng dừa” sắp trở thành ”truyền thống” rồi đó bạn ơi. Leo đồi cát rã rời rồi thì không gì thú bằng cụng dừa dưới bóng mát chân đồi…

Hòn Đú… xa xa … Bãi biển nơi đây đã đầy màu sắc tuyệt đẹp. Nếu có nhiều thời gian, đi bộ thì có thể đến sát cận Hòn Đú.
Hẹn thư sau.
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc
(14-16/10/2017)
Thư anh Hai Trầu gởi Đỗ Hồng Ngọc
Kinh xáng Bốn Tổng ngày 05 tháng 9 năm 2017
Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,
Xin cảm ơn Bác sĩ gởi cho đọc bài:”Yếu tố bất ngờ trong bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” của tác giả Tịnh Thy. Một bài viết được phân tích khá chặt chẽ, kinh điển.
Trong lần lên Sài Gòn hôm đầu tháng 6-2017, vợ chồng tôi ghé thăm Bác sĩ , dịp này tôi có ghi lại trong bài ký sự:”Lên Sài Gòn, Ghé Thăm Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc”, nhơn đây, xin trích phần nhắc về hai bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” và “Mũi Né” của thi sĩ Đỗ Nghê ( bác sĩ ĐHN) mà tôi rất thích để chia sẻ cùng Bác sĩ :
“Buổi chiều hôm ấy Sài Gòn trời mưa lớn. Khi chúng tôi đứng chờ dưới bóng cây trong công viên nơi của ra vào thì Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng vừa tới trong chiếc xe Uber. Dù tôi và Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chưa ai gặp ai bao giờ nhưng cả hai bên cùng nhận ra nhau liền. Nhứt là tôi không thể quên tấm lòng của anh dành cho Hai Trầu với bài viết “Còn Thương Rau Đắng” nhằm giới thiệu cuốn “Mùa Màng Ngày Cũ” của tôi dịp in lại lần thứ nhứt vào năm 2015. Thế là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mời tui tôi đến ngồi nơi cái bàn ở chỗ góc hồ sen mà anh hay ngồi với bằng hữu của anh. Xa xa bên kia bờ hồ có cây phượng vĩ già đang mùa trổ bông đỏ rực. Có cái vui trong lần gặp đầu tiên này là cả hai chúng tôi rất thân nhau như bạn lâu ngày, trò chuyện rất tự nhiên, cởi mở, và thân ái. Dịp này tôi được Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhắc qua một chút về nếp sống an lạc. Tôi thì nhắc về thơ Đỗ Nghê với hai bài thơ mà tôi rất thích: “Bông Hồng Cho Mẹ” cùng bài “Mũi Né” của anh. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ký tặng vợ chồng tôi cuốn “Trò chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Nếp Sống An Lạc”, để đáp lại tôi thân tặng anh cuốn “Nhớ Về Những Bến Sông” của tôi trong đó có những bài như “Đám cưới trên đồi”, “Lời tự sự của rừng già, nhân ngày trái đất”, “Nỗi niềm của loài cá sặt”, “Lời tự sự của loài cá rằm”… mà tôi rất thích.
Nói về bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ”, tôi có nói với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bài thơ hay là do chữ dùng cùng vần điệu đã đành, nhưng cái hay ở bài thơ này chính là cái thần trong bốn câu thơ ngắn ngủi đó:
“Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông”
(Bông Hồng Cho Mẹ)
Đỗ Hồng Ngọc
Ở đó người đọc thử để lòng mình lắng xuống rồi nghĩ về Mẹ, về Ngoại rồi đọc thầm từng chữ từng câu, người đọc sẽ nhận ra trong bài thơ này không có sự chết, không có nỗi buồn, mà là tình thương yêu, là lòng hiếu thảo, là mạch sống mãi mãi nối tiếp dạt dào từ đời này sang đời khác. Con nhận cho mình bông hoa trắng, và dành cho me bông hồng và căn dặn mẹ nhớ gài lên ngực, vì Ngoại cũng đang chờ Mẹ bên kia sông… Chỉ có vỏn vẹn chừng ấy, giản dị, đơn sơ thế đó và ở đó không có thứ triết lý gì bí hiểm mà chỉ có tình yêu thương ruột thịt và một đạo lý mà thời nào cũng cần. Đó chính là đạo hiếu. Đạo làm con. Con hiếu với Mẹ. Mẹ hiếu với Ngoại… Nói rộng ra là đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ, đối với ông bà!
Sở dĩ thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc làm cho người đọc thích bài thơ “Bông Hồng Cho Mẹ” cũng như bài thơ “Mũi Né”, và nhiều bài thơ khác của anh , theo tôi vì tác giả không dùng chữ nào mới, cao siêu, và cũng không muốn làm cho thơ khó hiểu mà chỉ muốn viết ra những vần thơ từ những rung động thật nó dâng lên tự chính trong lòng mình!
Chẳng hạn như bài thơ “Mũi Né” dưới đây, buổi chiều ngồi bên hồ sen Kỳ Hòa êm đềm sau cơn mưa nặng hạt ấy, tôi có nói với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, chỉ cần anh mở đầu bài thơ bằng một câu hỏi mà chừng như không phải là câu hỏi để được chờ đợi một câu trả lời của một người mình muốn hỏi, mà nhiều lúc để tự hỏi lòng mình, thì cũng đã làm tâm hồn mỗi chúng ta, những người đọc thơ anh, đã thấy nao nao xao xuyến rồi: “Em có về thăm Mũi Né không”.
Rồi bài thơ cứ thế liên tiếp hết câu hỏi nay bắt qua câu hỏi khác:
“Em có về thăm Mũi Né không
Hình như trời đã sắp vào xuân
Hình như gió bấc lùa trong Tết
Những chuyến xe đò giục bước chân
Em có về thăm Mũi Né không
Mùa xuân thương nhớ má em hồng
Nhớ môi em ngọt dừa xứ Rạng
Nhớ dáng thuyền đi trong mắt trong
Em có về thăm Mũi Né xưa
Con đường sỏi đá vẫn quanh co
Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc
Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ
Em có về thăm Mũi Né yêu
Mười năm như một thoáng mây chiều
Mười năm vườn cũ chim bay mỏi
Áo trắng chân mềm em hắt hiu
Mũi Né ơi người xưa đã xa
Mùa ơi gió bấc nhớ không ngờ
Năm nay người có về ăn Tết
Có ngậm ngùi nghe chút ấu thơ …
(Mũi Né)
Đỗ Nghê
(Trích trong thi phẩm “Thư Cho Bé Sơ Sinh & Những Bài Thơ Khác”)
Những câu hỏi trong bài “Mũi Né”, mà thi sĩ Đỗ Nghê cố ý lập đi lập lại đó làm tôi nhớ những câu hỏi trong thơ xưa có một thời làm xao xuyến lòng người, mà tôi là người đọc nhà quê già nay vẫn còn mê mẫn dù tôi không còn nhớ tên tác giả là ai. Chẳng hạn:
“Mai chị về em gửi gì không
Mai chị về nhớ má em hồng…”
Hoặc:
“Sao anh không về thăm thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…”
Đó là chưa kể những chữ dùng trong bài thơ “Mũi Né” rất quen, rất gần mà âm điệu lúc nào cũng êm đềm, tha thiết, có những chữ như “gió bấc lùa”, “giục bước chân”, “mười năm vườn cũ”, “mùa ơi…”, theo thiển ý của tôi tác giả đã làm cho nỗi niềm nhớ nhung thêm tha thiết, dạt dào…
Chiều hôm ấy, trời Sài Gòn tiếp tục mưa lớn, chúng tôi chia tay sau buổi gặp dù ngắn ngủi nhưng mãi đến nay tôi vẫn nhớ trong lòng mình với niềm an lạc hiếm hoi giữa Sài Gòn đô hội. Tụi tôi không quên gởi lời cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, dù bận rôn nhiều, thời giờ của anh rất eo hẹp, nhưng ảnh vẫn nhín chút thời giờ hẹn gặp vợ chồng người nhà quê già tụi tôi từ dưới ruộng mới lên Sài Gòn ghé thăm anh trong thân tình và lưu luyến biết bao!”
Hai Trầu, Lương Thư Trung
Dĩ nhiên là có. Phải thơ thẩn cho vui chớ phải không. Mình hay làm thơ kiểu ”trời ơi” như vậy mà. “Tháng” Sinh nhật này của mình, ngoài những buổi cà phê, cà pháo trò chuyện ”tào lao” với bạn bè, mình cũng có cao hứng viết một… bài thơ dài… vài câu! Chia sẻ liền với bạn… xa xôi chứ. Chẳng ngờ được đáp ứng mau lẹ, gọi là ”cảm tác” gì đó. Cũng vui quá. Đọc nhé.
Sinh nhật
anh không có ngày sinh nhật
nên mỗi ngày
là sinh nhật của anh
cảm ơn em
nhớ đến anh
ngày sinh nhật!
Đỗ Nghê
Ngay tức khắc có một bài cảm tác của Nguyệt Mai:
Mỗi ngày mỗi mới
(Kính tặng anh DHN)
Nếu mỗi ngày
đều là sinh nhật của anh
thì niềm vui không bao giờ tắt
để em bắt gặp
mỗi ngày
mỗi điều mới nơi anh
vẫn là anh
rất mới
nguyệt mai
Rồi một bài của duyên:
mừng “sinh nhật”
mỗi ngày tôi chọn một niềm vui (*)
nên anh chọn mỗi ngày là “sinh nhật”.
nhớ anh ngày sinh nhật
là nhớ anh cả đời…
duyên
……………………………………………………..
(*) TCS
Và khánh minh viết mấy dòng lúc còn đang dưỡng bệnh:
Niềm vui
(Mừng sinh nhật anh Ngọc)
Vì mỗi ngày anh chia sẻ
Quà vui cho mọi người
Nên mỗi ngày đều là
Sinh nhật của anh
Nên mỗi ngày
Ai cũng nhớ
Sinh nhật của niềm vui…
khánh minh
Không ngờ lại có một bài đầy thiền vị của Vũ Hoàng Thư:
sinh nhật
gửi bác sĩ ĐHN
anh vốn
không
có ngày sinh?
tự vòng tròn
một chỗ thình lình ra
tìm điểm mốc
em khéo đùa
sinh là khởi
cơn gió lùa về không
Vũ Hoàng Thư
Dĩ nhiên không thể thiếu thơ… thấm thía của ”bạn già” (vieux ami) TVL:
Mừng Tháng “Sinh nhật” bạn mình
Bạn sinh vào tháng Tám mà…chẳng có Ngày Sinh. Hồi đó, hồi chiến tranh, làm khai sinh…khai vậy!
Cho nên bạn nói đúng: Mình Chỉ Có Tháng Sinh! Tháng hay ngày, long lanh của đôi vầng Nhật Nguyệt…
Dòng thời gian mải miết, coi như chẳng có ngày, chẳng có phút, có giây, chẳng có gì bận trí!
(…)
Hôm nay, cuối tháng Tám, gửi bạn một lời Mừng. Tôi không thể dửng dưng…vì tôi yêu quý Bạn!
Trần Vấn Lệ

Nhóm bạn cũ Trung tâm Truyền thông & Giáo dục sức khỏe (T4G)… đang xẻ bánh…
Từ trái: Hòa Bình, Thục Đoan, Kim Phượng, Hoàng, Huệ Trinh, và Bích Thủy (chụp hình)
