Trong ba tháng đầu đời, trẻ ít bệnh là nhờ những kháng thể của mẹ còn dự trữ, sau đó bé phải “ tự lực” nên những tháng tiếp theo, trẻ mắc rất nhiều thứ bệnh nếu không được chủng ngừa đầy đủ: ban đỏ, ho gà, viêm phổi, tiêu chảy, … Ngoài những bệnh do vi trùng, sịêu vi trùng gây ra, trẻ còn dễ mắc những bệnh do sai dinh dưỡng trong thời kỳ này như “ ban khỉ”, còi xương, phù thủng, thiếu sinh tố… hoặc ngược lại béo phì, dư cân đều không tốt. Khi mắc bệnh, bé cũng “mắc” không giống như người lớn: nhức đầu, đau bụng ở người lớn có thể là cảm cúm xoàng nhưng ở bé có thể là viêm màng não. Người lớn tiêu chảy 5-7 lần chỉ hơi mệt nhưng bé có thể nguy vì tình trạng mất nước cấp tính. Cùng một thứ bệnh, cùng do một tác nhân gây ra, ở người lớn và trẻ con bệnh cảnh cũng khác nhau xa lắc. Do đó, ta không thể lấy kinh nghiệm bản thân để “ suy ra” cho bé được. Thuốc dùng cũng vậy. Đã có trường hợp bé chết giấc vì nhỏ mũi bằng thuốc của người lớn, bé bị ngộ độc vì một loại xi-rô ho của ta! Một câu nói đã cũ nhưng vẫn còn rất đúng: “ Trẻ con không phải là một người lớn thu nhỏ lại”. Cho nên không thể coi thường mà phải lo lắng, thận trọng nhiều hơn những lúc bé ốm dau. Nhưng lo lắng cho con là một chuyện, lo lắng đến nỗi mất bình tĩnh, ai bày vẽ gì cũng nghe, chạy thầy này thuốc nọ, kiêng cữ, cúng vái, bùa ngải chỉ làm cho bệnh nặng thêm, mất thì giờ vô ích, vì diễn biến bệnh của bé rất mau lẹ, chóng đưa đến hiểm nguy.
NHẬN BIẾT TRẺ MẮC BỆNH
- Trẻ không biết nói, không biết diễn tả các triệu chứng của bệnh, hoặc nếu có biết thì cũng thừờng không chính xác. Lúc được khám bệnh, trẻ sợ không dám khai rõ bệnh tình. Ngược lại, có khi kể lung tung…Nhiều bé mới học được từ “ nhức đầu”, “ đau bụng” đã đem ra sủ dụng liên tục khiến cho mẹ và thầy thuốc cũng hết sức lúng túng.
- Thân nhân trẻ em, cô nuôi dạy trẻ, người giúp việc… cũng không nắm rõ bệnh sử, đôi khi cũng không trung thực vì quá lo âu hoặc quá lơ đễnh.
- Do vậy, phải có kinh nghiệm và một vài nguyên tắc để phân biệt trẻ khỏe, trẻ mệt và trẻ bệnh như dưới đây:
Trẻ khỏe
- Vui vẻ, hài lòng, tươi tỉnh, thích nhìn ngắm chung quanh, phá phách, chống cự mạnh mẽ khi không vừa ý.
- Ăn được ( bú mạnh ), ngủ được, lên cân đều.
Nếu một trẻ được như trên thì dù đi tiêu chảy ngày 5-7 lượt cũng không sao, dù nghẹt mũi, sụt sịt thường xuyên cũng không sao.
Trẻ mệt
Thỉnh thoảng một đôi lúc nào đó trong ngày, ta có thể thấy trẻ mệt do đói, do khát, do thiếu tình thương, lúc đó trẻ thường yên lặng, xuị lơ, không hoạt bát linh động nữa; hoặc ngược lại, khóc lóc, cằn nhằn, khó chịu, bứt rứt không yên… Nếu được âu yếm, cho ăn uống đầy đủ, trẻ sẽ ngủ say và tỉnh giấc sẽ vui vẻ, hoạt bát như cũ.
Trẻ bệnh
Trẻ dã dượi, mệt mỏi, lừ đừ, nằm vùi suốt ngày. Người mẹ dễ nhận biết trẻ có vẻ gì khác thường, bỏ ăn, bỏ chơi, ngậm vú mà không nút hoặc khóc thét lên, v.v…Trẻ cũng có thể bứt rứt, dỗ không nín.
Trẻ bị bệnh nặng
Nếu trẻ nằm li bì, gọi không dậy hoặc sốt cao, lơ mơ nói nhảm là bệnh nặng.
Các dấu hiệu bệnh nặng phải đưa đến cơ sở y tế gấp:
- Quá nóng hoặc quá lạnh
- Thở khò khè, co kéo cơ lồng ngực.
- Tay chân lạnh, mạch nhanh, tím tái, rịn mồ hôi.
- Mắt lõm, thóp lõm, miệng khô, khát nước
- Làm kinh ( co giật)
- Thóp (mỏ ác) phồng,
- Có dấu xuất huyết dưới da, vết bầm ở da
- Các tai nạn…
Riêng trẻ sơ sinh khi thấy các triệu chứng sau đây cũng là bệnh nặng:
- Da tím tái hay trắng bệch.
- Bú yếu, bỏ bú.
- Ói mửa.
- Co giật ( làm kinh) hoặc giật mình, chới với.
- Thịt nhão hoặc cứng ngắt.
- Thóp phồng căng.
- Khóc thét dỗ không nín.
- Thở nhanh hơn 60 lần/phút.
- Vỗ tay không giật mình, hoặc chỉ giật một bên ( trái hay phải).
SĂN SÓC TRẺ BỆNH
Cần biết trẻ nặng bao nhiêu ký
Nếu đã theo dõi cân nặng hàng tháng hoặc có Biểu đồ tăng trưởng thì rất tốt, Nếu không biết, nên cân thỉnh thoảng để biết hoặc cân lúc khám bệnh, lúc chủng ngừa.
Phải biết cân nặng của trẻ bác sĩ mới cho thuốc đúng liều lượng, bệnh mới mau khỏi. Và cũng để đánh giá trẻ có lên cân đều không, có phát triển tốt không?
Cần biết rõ bệnh sử
Phải biết rõ bệnh khởi sự vào lúc nào ( nhớ rõ ngày giờ càng tốt), triệu chứng gì xảy ra trước. Thí dụ: nóng rồi mới ho, đau bụng hay đau bụng rồi mới nóng? Nếu cần, phải biết rõ chi tiết như ho thì ho hiểu nào? Ho từng cơn dài hay ho khan, ho có đàm hay khạc có máu? Ho ngày hay ho đêm? Tiêu chảy thì tiêu ngày mấy lần, phân loãng hay đàm máu? Đi có rặn không? Phân màu gì, mùi gì?… Tốt nhất là nên ghi ra giấy cho khỏi quên.
Tất cả những chi tiết đó đều rất cần thiết để chẩn đoán bệnh và điều trị đúng, do đó, cần hết sức chú ý theo dõi diễn tiến bệnh của trẻ để hợp tác tốt với thầy thuốc hoặc có các biện pháp xử trí đúng.
Cũng cần biết rõ tiền căn bản thân và gia đình. Cần biết cân nặng lúc sanh, các bệnh cũ đã mắc phải từ trước, đã chủng ngừa được những loại bệnh nào, dinh dưỡng ra sao?
Nhiều thứ bệnh ở trẻ do ăn uống sai lầm gây ra, chỉ cần sửa chữa cho đúng là khỏi bệnh mà thuốc men không cần thiết hoặc chỉ thêm có hại. Trong nhi khoa “ phải chú ý đến bếp ăn hơn là tủ thuốc” là thế! Tiền sử rất quan trọng: tiền căn cá nhân, gia đình và sản khoa. Bé sinh non, sinh đôi, sinh ngộp dĩ nhiên là có “ vấn đề”. Gia đình có ngừơi bị suyễn, bị lao phổi…, bé cũng có thể mắc những bệnh đó.
Lúc thăm khám bác sĩ
- Dưới 6 tháng: nên khám nằm.
- Trên 6 tháng: khám ngồi, đỡ sợ hơn, có thể ngồi trên gối mẹ.
- Trẻ lớn : có thể đứng hay ngồi, tùy trường hợp, khi cần thiết lắm mới phải khám nằm.
- Nên bỏ hết áo, tã, giầy, vớ, chăn mền, khăn lông trùm quấn quanh bé mới khám kỹ được. Nhiều bà mẹ sợ gió, chỉ dám mở hé hé thì không thể quan sát toàn diện được. Tuy nhiên lúc khám cũng không đựơc để trẻ bị lạnh.
- Thường chú ý những dấu hiệu quan trọng trước, rồi mới lần lượt khám toàn diện sau.
Thí dụ :
Tiêu chảy thì chú ý dấu hiệu mất nước.
Làm kinh thì chú ý dấu hiệu màng não (mê man? thóp phồng?).
Sốt xuất huyết thì chú ý khám mạch và vùng gan là những dấu hiệu cho biết giai đoạn tiền sốc để can thiệp kịp thời.
Ho thì đếm nhịp thở, nghe phổi, v.v…
Xét nghiệm
Một đôi khi cần làm xét nghiệm để giúp cho việc chẩn đoán. Các xét nghiệm thông thường như thử máu, thử phân, thử nước tiểu, thử nhớt họng, chụp phim X-quang, v.v… Cần thiết lắm mới phải làm xét nghiệm, không nên tự ý làm, cũng không nên đòi hỏi khi không có chỉ định của bác sĩ. Trái lại khi có chỉ định, thì cần hợp tác với thầy thuốc giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn. Thí dụ trong bệnh sốt xuất huyết, chưa đến lúc cần thử máu mà đòi thử sớm quá sẽ thấy máu bình thường rồi mất cảnh giác, trái lại khi bệnh diễn tiến xấu, có khi phải thử máu nhiều lần (đo Hematocrite) trong ngày…
Dùng thuốc
Các thứ thưốc trong toa thường đã được cân nhắc tính toán, phối hợp để có tác dụng tốt nhất. Liều lượng rất quan trọng ở trẻ. Tự ý thay đổi thuốc, uống không đủ liều lượng, bệnh sẽ không khỏi được. Cần so sánh thuốc mua và thuốc ghi trong toa. Đã có trường hợp nhà thuốc bán nhầm thuốc.
Ở trẻ nhỏ, càng dùng ít thuốc càng tốt. Chỉ nên dùng thuốc khi thật sự cần thiết. Và khi đã dùng thì cho đúng để đạt hiệu quả tốt nhất. Và nhớ nên cho trẻ “ăn” thuốc hơn là uống. Nhớ đừng “ cưỡng bức” trẻ uống thuốc viên có thể làm sặc thuốc nguy hiểm.
Thường trong các trường hợp nặng, ở bệnh viện, trẻ mới cần phải chích thuốc. Không đáng chích mà chích, trẻ sẽ “giận” mẹ lâu và nhìn thầy thuốc với “đôi mắt hình viên đạn”!.
Các loại thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, nhỏ tai, có thể “ tranh thủ” nhỏ lúc trẻ ngủ, đỡ khó chịu cho trẻ hơn. Thuốc nhét hậu môn có thể gây tiêu chảy, chỉ dùng khi thật sự cần thiết, nên ngâm lạnh cho thuốc đặc cứng trước khi nhét hậu môn cho trẻ (thuốc không bị vỡ)…
Dĩ nhiên thuốc không rõ tác dụng, thuốc cũ quá hạn, thuốc không có liều lượng, cách dùng thì không nên dùng. Rủi có gì thì khổ. Uống vào không lấy ra được và hối hận thì đã muộn.
Ta có xu hướng chìu chuộng quá đáng khi bé ốm đau. Thương bé thì để trong lòng. Thái độ bên ngoài phải bình tĩnh, nghiêm trang nhưng dịu dàng và từ tốn. Không tỏ ra quá lo lắng hốt hoảng làm bé sợ hãi thêm. Cử chỉ lời nói cố tự nhiên, bình thản, bé mới làm theo đúng chỉ dẫn của ta. Có thể cho bé các đồ chơi giải trí như xếp hình, cắt giấy, xem truyện tranh…sẽ giúp bé quên bệnh trong thời gian điều trị. Thuốc chỉ là một phần trong điều trị, cách săn sóc mới là quan trọng. Trẻ bệnh cần ăn, cần uống đầy đủ để có sức chống bệnh. Kiêng cử là một sai lầm lớn làm bệnh kéo dài thêm. Chẳng hạn trong bệnh tiêu chảy, trẻ chết thường không do vi trùng gây ra mà do khổ nước, do bị đói vì người nhà không dám cho ăn, cho uống! Bệnh ban cũng vậy, thường chết vì đói vì kiệt sức do kiêng cữ sai lầm, nhiều trẻ bị mù loà hết sức oan uổng vì cái “ dốt” của chúng ta. Trẻ bệnh, muốn mau khỏi cần được thoải mái, dễ chịu. Nếu cứ nhốt trẻ trong phòng kín bưng, ủ ấm, mặc nhiều lớp quần áo khiến mồ hôi không thoát ra được, da không thở được thì bệnh càng nặng thêm. Do đó, trẻ bệnh vẫn cần được tắm rửa sạch sẽ ( nước ấm, dĩ nhiên ). Tránh gió, đồng ý, nhưng phải thoáng khí. Quần áo mát mẻ, thoáng, hút mồ hôi, bú mớm đầy đủ chắc bệnh sẽ mau khỏi.
BS Đỗ Hồng Ngọc

Để lại một bình luận