Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Kỳ 50: PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

29/12/2018 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

Kỳ 50: Phật học & Đời sống

Chủ đề : Ngũ Minh… trong thời hiện đại (tiếp theo):

             Thanh minh- Công xảo minh- Y phương minh

Chùa Phật học Xá Lợi Tp HCM, ngày 22.12.2018

Sau buổi học này, Chương trình Phật học & Đời sống sẽ tạm nghỉ… Tết Tây và Tết Ta dài dài để mọi người “ôn tập” và thực hành, trải nghiệm…

Xin lưu ý: Họp mặt Tất niên “Phật học & Đời sống” lúc 9h sáng, ngày 20.1.2019 (tức Rằm tháng Chạp) tại Cafe Đông Hồ, 197 Cao Thắng nối dài, Q10. Thân mời các bạn tham dự.

Trong thời gian từ 29.12.2018 đến 23.2.2019 Chùa Xá Lơi có nhiều sinh hoạt Tất niên và Đón mừng Năm Mới. Các lớp được tiếp tục ngày Thứ bảy 23.2.2019 (tức 19 tháng giêng Kỷ Hợi).

Rất cảm ơn nvquyen đã gởi clip Tất niên rất đẹp (kỳ 50).

 

 

Dưới đây là bài viết của Gs Lê Tự Hỷ:

VỀ MỘT SỐ TỪ KHÓ HIỂU TRONG KINH NIỆM XỨ
(satipaṭṭhānasutta) 

Lê Tự Hỷ

 

Kinh Niệm Xứ (satipaṭṭhānasutta) là kinh thu gọn của Kinh Đại Niệm Xứ(Mahāsatipaṭṭhānasutta). Kinh này là một kinh rất quan trọng trong việc giải thích cách thực hành bốn phép quán, đã được nhiều bậc thầy đạo cao đức trong dịch từ nguyên văn Pāli ra Việt văn. Một trong những bậc thầy là Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Phật học, nguyên Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh trước 1975, nguyên Trù trì Thiền viện Vạn Hảnh, Tp Hồ Chí Minh cho đến khi viên tịch cách đây vài năm.
Cách đây vài tháng một vị thầy có nói với tôi rằng thầy nghi các bậc thầy dịch thành câu “quán thân trên thân” là dịch từ bản Anh ngữ chứ không phải dịch từ bản Pāli, và hỏi tôi có rành Pāli không và xem lại thử sao. Tôi thưa chỉ biết chút chữ Phạn chứ Pāli thì biết sơ sơ. Nhưng tôi vẫn ghi nhớ lời thầy. Nay tôi xin trình bày ý kiến như sau.
Ngài Minh Châu đã dịch từ Pāli ra Việt bốn câu ứng với bốn phép quán:

(1) “kāye kāyānupassī viharati” = (vị Tỷ-kheo) sống quán thân trên thân

(2) “vedanāsu vedanānupassī viharati” = (vị Tỷ-kheo) sống quán thọ trên các thọ

(3) “citte cittānupassī viharati” = (vị Tỷ-kheo) sống quán tâm trên tâm
(4) “dhammesu dhammānupassī viharati” = (vị Tỷ-kheo) sống quán pháp trên các pháp [1]
Một số vị khác đã thay chữ “trên” trong bản dịch của Hòa thượng Minh Châu bằng chữ “trong” hay “như”. Vậy chúng ta có 3 câu:
Sống quán thân trên thân, Sống quán thân trong thân, Sống quán thân như thân

Mặc dầu đoạn kế tiếp của bài kinh giải thích chi tiết khá dài thế nào là “sống quán thân trên (/trong/như) thân”, nhưng về mặt ngữ nghĩa của tiếng Việt thì câu “sống quán thân trên (/trong/như) thân” cũng như  “thân trên (/trong/như) thân” chứa hai chữ “thân” hai bên chữ “trên /trong/như” là một cấu trúc “lạ”, không tạo  cho người đọc một ý nghĩa rõ ràng, xác định nào cả, có vẻ mơ hồ, nên gây hoang mang …

Trong nhiều bản dịch ra Anh ngữ thì câu tương ứng cũng có biến đổi như:

(i) A monk dwells contemplating (the nature of) the body in the body = một vị tăng sống đang quán (bản chất của) thân trong thân [2]
(ii) The monk contemplates the body as body = Vị tăng quán thân như thân [3]
(iii) He dwells contemplating his/the body = Vị tăng sống đang quán thân của mình [4]
(iv) He dwells as a body-contemplator in relation to the body = Vị tăng sống như một người quán thân đối với thân [5]
(v) A monk remains focused on the body in and of itself = Vị tăng liên tục chú tâm trên thân trong và của chính thân [6]

Như vậy tất cả những câu Anh ngữ trên đây cũng có vẻ xa lạ với Anh ngữ thông thường và không rõ nghĩa, không cho người đọc một ý nghĩa rõ ràng, xác định nào cả.
Bây giờ chúng ta xem nguyên văn Pāli của câu này để thử coi có ý nghĩa gì sáng tỏhơn các câu Việt dịch và Anh dịch trên đây không. Câu Pāli là:  “kāye kāyānupassī viharati” .
Về mặc cú pháp, chúng ta nhận ra:
(a) kāye là Locative (Vị trí cách) số ít của kāya (m) [danh từ giống đưc] = thân (body)
(b) kāyānupassī là Nominative (Chủ cách) số giống đực của kāya-anupassin, bổ nghĩa cho chủ từ của viharati [là vị tăng]; anupassin (a) [tính từ] = đang nhìn, đang quan sát thấu đáo (look thoughtfully for a long time at) , đang nhận biết rõ — >  kāyānupassin (a) = kāya-anupassin (a) = đang quan sát thấu đáo về thân; đang quán thân [7]; ngoài ra, chúng tacũng có thể phân tích anupassin = anu-passin; trong đó anu là tiền tố (prefix), ở đây có nghĩa “liên tục” [8]; passin là tính từ suy ra từ động từ passati, tức [dis + a; dis is changed to pas.] sees; finds; understands [9] — > anupassin = anu-passin (a) = đang nhận biết liên tục — > kāyānupassin (a) = kāya-anu-passin (a) = đang nhận biết liên tục về thân — > đang nhận biết  liên tục [về các hiện tượng xảy ra] trong thân.
(c) viharati là ngôi ba số ít Thì hiện tại của động từ vi+har+a, có nhiều nghĩa như: lives; abides; dwells; sojourns [10],[11], trong này có các nghĩa “lives = nó sống”; “abides = nó tuân theo, nó tiếp tục”; “sojourns = nó tạm trú”; riêng với “dwells” thì các dịch giả nêu trên chỉ dùng nghĩa “To live as a resident, to reside, to exist in a given place  = sống tại, cư trú tại”.
Có lẽ bởi vì chỉ dừng ý nghĩa của viharati tại đây cho nên các bậc thầy như Hòa thượngThích Minh Châu và các vị khác đã phân câu “kāye kāyānupassī viharati” làm hai phần là (a) viharati = (vị ấy) sống; và (b) kāye kāyānupassī = quán thân (kāyānupassī) trên (/trong/như) thân (kāye). Vì vậy ghép lại dịch thành “sống quán thân trên (/trong/ như) thân

Nhưng theo ý của tôi thì “dwells” ở đây còn một nghĩa rất quan trọng mà các vị không quân tâm tới, đó là : “to exist in a given state” = đắm mình vào một trạng thái cho trước” , như “dwell in joy = đắm mình vào niềm vui”, rõ hơn là nghĩa “to fasten one’ s attention on something, especially persistently = buộc chặt sự chú tâm vào một sự vật, đặc biệt một cách liên tục”. Như vậy, ở đây “viharati”  = “vị ấy quán”. Cho nên theo tôi, câu “kāye kāyānupassī viharati” có thể được chia làm hai phần khác với cách chia của quí vị nêu trên; đó là (a)  kāye viharati = (vị ấy) quán thân; và (b) kāyānupassī  = đang nhận biết liên tục về thân — >  đang nhận biết liên tục [những hiện tượng đang xảy ra] trong thân. Ghép lại, câu ấy được dịch thành “vị ấy) quán thân là đang nhận biết liên tục những hiện tượng xảy ra trong thân.
Như vậy sự khác biệt ở đây là: trong khi các ngài hiểu “viharati” là “sống” còn tôi hiểu là “quán” nên tôi ghép nó với “kāye” thành “kāye viharati” = “quán thân”; các ngài hiểu “kāyānupassī” = “quán thân” nên ghép nó với “kāye” thành “kāye kāyānupassī” = quán thântrên (/trong/như thân); còn tôi hiểu “kāyānupassī” = “đang nhận biết liên tục [những hiện tương xảy ra] trong thân. Và do đó cách hiểu của tôi cho biết “kāyānupassī” được dùng như định nghĩa của “quán thân” = “ kāye viharati”

Tóm lại, theo ý tôi bốn câu:

“quán thân trên (/trong/như)  thân”, “quán thọ trên (/trong/như) các thọ”, “quán tâm trên (/trong/như) tâm”, “quán pháp trên (trong/như) các pháp” có thể được dịch lại thành như sau:
“kāye kāyānupassī viharati” = “quán thân là đang nhận biết liên tục những hiện tượng xảy ra trong thân”.
tương tự:
“vedanāsu vedanānupassī viharati” = “quán thọ là đang nhận biết liên tục những hiện tượng xảy ra trong các thọ”
“ citte cittānupassī viharati” = “quán tâm là đang nhận biết liên tục những hiện tương xảy ra trong tâm”
“dhammesu dhammānupassī viharati,” = quán pháp là đang nhận biết liên tục những hiện tượng xảy ra trong các pháp”

Tôi, trước sau vẫn một mực vô cùng tôn kính các bậc tôn túc và vẫn biết việc tu học của bản thân không nghĩa lí gì so với bất cứ vị nào lấy Chánh Pháp của Phật giáo làm kim chỉ nam của cuộc sống, nhưng đã xin trình bày suy nghĩ như trên, kính mong quí thầy, quí cô và các thiện tri thức chỉ giáo cho.

05/01/2018
Lê Tự Hỷ

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Phật học & Đời sống

Bình luận

  1. Văn Minh Hồng (nam) viết

    02/01/2019 lúc 10:14 chiều

    (Xin được ẩn danh)

    Kg. Bs ĐH Ngọc,

    Tôi là 1 độc giả từ xa, nhân được đọc trên trang nhà của Bs, “Phật Học & Đời Sống, kỳ 50” có đề cập về một số từ khó hiểu trong Kinh Niệm Xứ, nên xin được phép góp 1 ít thiển ý về vấn đề này. Xin thưa là hoàn toàn không có ý tranh luận, chỉ là góp ý riêng theo cái thấy của mình, mong chúng ta có thể cùng nhau thảo luận, tự chiêm nghiệm và thực hành, để vấn đề được thêm sáng tỏ:
    – { Về một số từ khó hiểu trong kinh Niệm Xứ:
    Theo như bài dịch của HT Thích Minh Châu : … “sống quán thọ trên các thọ”…
    Và được Gs. Lê Tự Hỷ dịch và bổ xung nghĩa: “quán thọ là đang nhận biết liên tục những hiện tượng xảy ra trong các thọ”… }
    Trước đây vài tháng, tôi đã có dịp đọc bài này của Gs Hỷ trên “Thư Viện Hoa Sen” online và nhận thấy ông đã bổ xung câu “đang nhận biết liên tục” rất lý thú.
    Có lẽ chúng ta cũng nên xem qua lại 1 phần của bài Kinh Niệm Xứ (bản dịch HT TMChâu)
    ___________________
    { Kinh Trung Bộ: 10- Kinh niêm xứ:
    Như vầy tôi nghe.
    Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
    — Này các Tỷ-kheo.
    Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
    — Bạch Thế Tôn.
    Thế Tôn thuyết như sau:

    — Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ.
    Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
    (Quán thân)
    Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”.
    …
    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”, hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”, hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”, hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
    Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
    Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
    …
    Tỷ-kheo NHƯ THẤY một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy
    …
    (Quán thọ)
    Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”.
    …
    (Quán tâm)
    Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: “Tâm có tham”; hay với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không tham”. Hay với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; hay với tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Hay với tâm có si, tuệ tri: “Tâm có si”; hay với tâm không si, tuệ tri: “Tâm không si” …
    (Quán pháp)
    Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
    Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có sân hận”. … }

    ____________________________

    Như trên, chúng ta có thể thấy các pháp quán thân, thọ, tâm, pháp của 4 niệm xứ có thể xem là quán hiện tiền, quán cái liên tục đang xảy ra của thân thọ , tâm, pháp. Nó đang xảy ra thế nào thì “thấy như thế ấy “, không xen tạp tư tưởng khen-chê, thích-ghét . Chính cái quán này giúp hành giả nhận rỏ cái đang “vướng mắc”, đang “tồn tại” (hay không tồn tại, vướng mắc) của chính bản thân mình, mà không bị tư tưởng khen-chê, định kiến, làm méo mó đi cái “đang là” biến nó thành cái “phải nên là “ hay “không nên là”.
    Do vậy, theo tôi thấy, “Quán thọ trên / (trong)/ (như) thọ“ hay “quán thọ là đang nhận biết liên tục những hiện tượng xảy ra trong các thọ”… ĐA SỐ TRƯỜNG HỢP, nên được hiểu là “quán thọ trên các hiện tượng thọ đang xảy ra” (Đương nhiên khi quán cái “đang liên tục xảy ra” thì hành giả cũng đồng thời “đang liên tục nhận biết”, nhưng đôi khi đảo ngược lại thì không đúng, vì có thể “Đang liên tục nhận biết “ cái “Không đang xảy ra”.

    Riêng về quán thân bất tịnh bài kinh có nói: “Tỷ-kheo NHƯ THẤY một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”, cũng nghiên về quán tánh chất, mang tính đối trị, và cũng được nói rõ là NHƯ THẤY, chớ không phải chỉ tưởng tượng ra)

    Chủ yếu, theo tôi, mình đang vui gì, giận gì, thích gì, ghét gì, đau gì, khoái trá gì, … thì nên quán, theo dõi, với sự nhẹ nhàng cảm thông (từ bi với chính mình), không phê phán những cái vui , giận, thích, ghét, đau, khoái trá … đang hiện tiền đó, cho đến lúc “chúng sinh” này hoàn toàn chuyển hóa (tự tánh, tự độ – Pháp Bảo Đàn – Lục Tổ Huệ Năng ?).
    Nếu để tư tưởng, lòng “nhị nguyên” xen vào, nó sẽ đổ thêm dầu vào lửa, tăng thêm cường độ cho các cái vui-buốn-thích-ghét … và rôi trong cái “thất niệm” đó, các xúc tình tiêu cực này, do không được liên tục quán chiếu, theo dõi, để tỏ tường và chuyển hóa, sẽ lắng đọng vào tiềm thức (A Lại Da?) rồi chờ dịp để trổi dậy lại, để “tái sinh”.
    Xin xem thêm vài đoạn kinh điển PG lưu truyền về cái quán “tự tại” (Không viết hoa) này, để quán và biết rõ nội tâm mình đang như thế nào …
    ________________________________________

    Tương Ưng: Tập IV Thiên Sáu Xứ VIII: Có Pháp Môn Nào?
    …
    — Có một pháp môn, này các Tỷ-kheo, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí; vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận… trạng thái này nữa”.
    6) Pháp môn ấy là gì, do pháp môn ấy… “…không còn trở lui trạng thái này nữa”?
    7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si, biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội tâm có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta có tham, sân, si”; hoặc nội tâm không có tham, sân, si biết rõ: “Nội tâm ta không có tham, sân, si”. Này các Tỷ-kheo, biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy, có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương pháp được hiểu biết, hay do kham nhẫn, thích thú về biện luận được hiểu biết?
    …
    8-11) Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng… khi mũi ngửi hương… khi lưỡi nếm vị… khi thân cảm xúc…

    Kinh Tương Ưng Bộ, Tập 5 Thiên Đại Phẩm, Chương 10 Tuơng Ưng Hơi thơ vô, hơi thở ra

    II. Phẩm Thứ Hai
    11. I. Icchànangala
    1) Một thời, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khóm rừng ở Icchànangala.
    2) Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
    — Ta muốn sống độc cư Thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại.
    — Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
    Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến viếng Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn lại.
    3) Rồi Thế Tôn, sau khi ba tháng ấy đã mãn, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:
    — Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi các Ông: “Với sự an trú nào, này chư Hiền, Sa-môn Gotama an trú nhiều trong mùa mưa?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy trả lời cho cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”.
    4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh niệm Ta thở vô, chánh niệm Ta thở ra.
    5-10) Hay thở vô dài, Ta rõ biết: “Ta thở vô dài”. Hay thở ra dài, Ta rõ biết: “Ta thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở ra ngắn”… “Quán từ bỏ, Ta thở vô”, Ta rõ biết như vậy. “Quán từ bỏ, Ta thở ra”, Ta rõ biết như vậy.
    11) Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
    _____________________
    Thực ra việc dịch thuật, theo tôi thấy, rất phức tạp, nhất là từ cổ văn, để có thể trình bài được ý kiến nguyên thủy. Chưa kể các bản văn xưa, qua hàng ngàn năm lưu truyền, có thể không còn hoàn toàn chính xác. Mình nên hoàn toàn thông cảm cho quí vị dịch giả đã bỏ công sức nghiên cứu và dịch thuật.
    Ngay cả trong sinh ngữ đôi khi cũng không khác. Lấy 1 thí dụ, trong English, chử “pavement” theo tôi được biết, đối với người Anh, nó có nghĩa là lề đường cho người đi bộ, trong khi trong American English lại có nghĩa là lòng đường cho xe chạy. Nếu qua Anh Quốc và nói với 1 người Mỹ là “hãy đi trên pavement” thì có thể họ sẽ bị xe tông ! Tương tự trong tiếng Việt, hai chử “áo lạnh” và “áo ấm” ám chỉ cùng 1 đồ vật. Nếu nói cho 1 em bé người Bắc “trời lạnh hãy bận áo lạnh vào” thì em có thể nghĩ “đã lạnh rồi sao còn bận thêm áo lạnh nữa” ? !
    Xin đóng góp 1 ít thiển ý, nếu có gì không hợp ý, hay không hợp lý, xin Bs hoan hỷ bỏ qua.
    Kính chúc Bs. luôn vui vẻ và an bình, chương trình “PH & ĐS” luôn phát triển và đem lại lợi ích cho nhiều người.

    Độc giả từ xa

  2. Bùi Thị Quế Anh viết

    23/04/2019 lúc 5:53 sáng

    Kính thưa bs
    Con hân Hạnh có duyên lành theo dõi, học hỏi Từ các buổi học ” Phật học & đời sống ” của bác trên youtube ( theo con biết số cuối Cùng ngừng lại ở 50). Con không tìm Ra các số Tiếp theo nữa. Vậy có phải là lớp học của mình không tồn tại nữa ?? Nếu vậy thì thật đáng tiếc…Vì con hiện đang sống bên Pháp nên chỉ có thể theo “học lóm “kiến thức Phật pháp của bs và các Thành Viên trong cái “lớp lỏng lẻo” mà bác hay ví von qua internet thôi. Con xin mạo muội kính mong bs và các Thành Viên hãy Tiếp tục bỏ công sức tổ chức , Thu Hình các buổi học và đăng trên yt được không ạ. Cũng như bs có nói trong 1 buổi học là “pháp thí” còn quý hơn cả “tài thí”nữa…
    Cuối Cùng con xin kính chúc với tất Cả Thành tâm bs có được một sức khoẻ dồi dào và 1 cuộc sống thật An lành ạ.
    Ps: con đã nghe không biết bao nhiên lần bài ” Nghĩ Từ Trái Tim ” của bác. Có lẽ do có 1 sự đồng cảm(?) đều học về ngành Chăm sóc suc khoe ( con tốt Nghiệp Đh duợc ở sg khóa 93 ) mà nghe các bài giảng của bác con thấy nó thấm sâu vào từng Tế bào của con một Cách dễ dàng chăng???

  3. Bac Si Do Hong Ngoc viết

    23/04/2019 lúc 2:24 chiều

    Cảm ơn Quế Anh. “LLL” vẫn duy trì hàng tuần em ạ. Có điều… không thu hình và đưa lên Yt nữa. Thỉnh thoảng, có một “show” gì đó, đặc biệt một chút, thì sẽ có clip trên Yt nhưng không đánh số thứ tự! Thí dụ, em có thể xem trên Yt bài Nói chuyện về “Chuyến đi Nepal” của tôi, cũng nằm trong Ct Phật học & Đời sống.

  4. Bac Si Do Hong Ngoc viết

    26/04/2019 lúc 7:16 sáng

    Loi Cung
    Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ((())) Con xin cảm ơn Cô Chú thiện hữu tri thức, đã chia sẽ những kiến thức và kinh nghiệm học Phật cho mọi người! Qua nội dung của Video clip này, Con xin chia sẽ quan điểm cá nhân Con về vấn đề “Y Phương Minh” : Con nghĩ từ “Y phương minh” nếu dich theo nghĩa của từng từ là người Thầy thuốc có nhiều sáng kiến phương hướng đúng để chữa trị và mang lại kết quả tốt nhất cho bệnh nhân. Còn nghĩa rộng hơn theo quan điểm từ bi và trí tuệ của đạo Phật con nghĩ chủ ý muốn nói đến một Vị BS có đầy đủ kiến thức về y khoa và kiến thức về nhân quả mang ra chữa trị giúp đỡ bệnh nhân và mang lại kết quả tốt nhất cho họ. Một vị Bác Sĩ dùng Trí Tuệ để chữa trị bệnh sẽ hiệu quả cao hơn Vị Bác Sĩ dùng Trí thông minh để chữa. Theo Phật dạy có 3 nguyên nhân để gây ra bệnh : Bệnh do thân và Bệnh do hoàn cảnh bên ngoài thì điều trị bằng phương pháp y học theo khoa học. – Bệnh do nghiệp thì phải trị bằng Tâm. – Con VD như: + Nếu một người BS có kiến thức khoa học rất giỏi và đầy đủ kinh nghiệm chữa trị –> kết luận một bệnh nhận là không còn phương pháp để chữa và thật đúng là như vậy. Đối với lương tâm và nhiệm vụ một người BS xem như đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kết thúc ớ đó. Rồi cũng là bệnh nhân đó nếu được một Vị BS dùng Tuệ Trí để trị bệnh ( nhìn được nghiệp nhân quả của bệnh nhân) thì sẽ đưa ra đơn thuốc trị bệnh tâm giúp bệnh nhân vững chãi tinh thần để đón nhận sự thật ( hướng dẫn họ những việc cần và không nên làm với gia đình ở lại và với bản thân họ). Ngoài ra còn hướng dẫn cho gia đình, người thân phương thức hỗ trợ, chăm sóc bệnh nhân để người ra đi được thanh thản và người ở lại được an lạc. + Như BS Đỗ Hồng Ngọc có nói việc chữa trị cho Bà mẹ bị tắt sữa bất ngờ không hiểu lý do. ( có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có một nguyên nhân mà không phải BS nào cũng biết) và Cách điều trị cho một nguyên nhân ít phổ biến đó là không cần dùng thuốc hay phương thức vật lý trị liệu nào mà chỉ cần giáo dục tư tưởng của ông Bố thì tự nhiên Bà Mẹ lại có lại sữa cho con bú bình thường. Trường hợp này có thể hiểu theo tư tưởng học Phật đây là bệnh do nghiệp: nghiệp của Ý sân giân của Bà Mẹ cộng với nghiệp Tà dâm của người Bố, cộng với nghiệp thiếu phước của đứa con đủ duyên nên trổ quả là Bà Mẹ tắt sữa. BS Ngọc đã dùng Y Phương Minh để điều trị. Giúp được bệnh nhân được hết bệnh hiện tai và chữa luôn các bệnh do nghiệp không tốt đã tạo biết chuyển đổi gieo nghiệp thiện về sau. Theo sự hiểu biết hạn hẹp của Con là như thế. Con không biết có đúng với Ý Phật dạy không. Mong nhận được ý kiến đánh giá để Con được thông rõ hơn trên bước đường tiến tu học Phật ! Con xin cảm ơn ! Zenda

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”
  • Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Họa sĩ Đỗ Duy Ngọc lên tiếng về “Toàn Láo Cả”…
  • CHUYẾN VỀ CẦN THƠ (tiếp theo)

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Dung Luong trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email