Ghi chú: Bài này đã được trích một phần đăng trên báo Phụ Nữ Tp.HCM nhân ngày Thầy thuốc VN 27.2 vừa qua. Nay đăng lại toàn văn để chia sẻ cùng các bạn về một vấn đề “nóng” hiện nay của ngành Y.
ĐHN.
Quá tải bệnh viện đang là một vấn nạn lớn của ngành y tế nhiều năm qua chưa giải quyết được. Thực ra, giảm tải bệnh viện không khó ! Câu hỏi cần đặt ra là : Tại sao quá tải ? Quá tải ở đâu ? Làm cách nào để giảm tải ?…
Và câu trả lời đơn giản: Quá tải là bởi vì bệnh nhân quá đông, bệnh viện không đủ giường nằm, nhân viên thiếu… ; y tế tuyến dưới không đủ điều kiện cơ sở vật chất, không tạo được niềm tin, bệnh nhân dồn về tuyến trên v.v…
Vậy nếu có cách nào đó làm cho dân ít bệnh đi, giường dôi ra, tăng niềm tin vào y tế ở tuyến dưới ( gọi là y tế cơ sở), sẽ giải quyết được vấn đề.
Tại sao bệnh nhân đông ?
Vì dân số gia tăng. Vì giao thông thuận tiện. Vì môi trường sống ngày càng xấu đi. Vì đời sống căng thẳng, đầy lo lắng, bất an. Vì kỹ thuật y học… tiến bộ… Bệnh diễn biến thường bất ngờ, thà đi xa mà gặp thầy hay thuốc giỏi vẫn hơn đến trễ bị mắng sao đến trễ vậy! Kỹ thuật y học tiến bộ không ngừng : Siêu âm màu, CT Scan, MRI, nội soi, xạ hình v.v… đầy bí hiểm, có khả năng phát hiện… vô số bệnh tật từ lúc còn trong bào thai đến lúc sắp từ giả cõi đời. Xét nghiệm máu cho kết quả mấy chục thứ một lúc, kèm theo là những chỉ số bình thường để mọi người mặc sức so sánh, suy đoán, băn khoăn, lo lắng, sợ hãi. Thông tin y học tràn ngập, thượng vàng hạ cám. Lên mạng tìm càng thêm hoang mang. Tốt nhất đến bệnh viện. Bệnh viện càng cao càng tốt, càng chuyên sâu càng tốt!
Bệnh nhiều cũng vì người ta sống lâu hơn xưa. Từ năm 1000 đến 1900, suốt gần ngàn năm, tuổi thọ bình quân của con người chỉ tăng từ 24 lên đến 30 tuổi. Trong khi từ 1900 đến 2000, một trăm năm thôi, tuổi thọ từ 30 lên 65. Ngày nay, tỷ lệ sống trên 80 tuổi ngày càng đông. Tuổi thọ tăng cao, sinh nhiều bệnh mạn tính, trầm trọng, kéo dài, khó chữa, đòi hỏi có sự chăm sóc đặc biệt.
Mặt khác, người dân bệnh nhiều cũng do bị… hù dọa. Thông tin « y tế » tràn ngập, không kiểm soát nổi, quảng cáo đủ mánh khóe, gây tâm lý sợ hãi hoang mang. Mở TV ra coi sẽ thấy đầy quảng cáo thuốc, quảng cáo cơ sở khám chữa bệnh này nọ với những danh từ đao to búa lớn, hình ảnh rùng rợn, người dân muốn không bệnh cũng không được!
Có người kể chuyện cả làng đang yên ổn thì một hôm có đoàn « từ thiện » ở trên xuống, vác theo máy móc thuốc men, khám bệnh siêu âm các thứ phát hiện lu bù bệnh tật, cho vài ngày thuốc rồi rút êm. Từ đó cả làng nháo nhào, đi đâu cũng nghe bàn toàn chuyện bệnh hoạn, ăn không ngon ngủ không yên nữa. Dĩ nhiên khám bệnh « từ thiện » là việc làm rất đáng quý, đáng khuyến khích nhưng vấn đề là nên quan tâm thế nào để giúp cho đến nơi đến chốn.
Mặt khác, nhiều khi các nhà y học chỉ cần thay đổi vài… chỉ số tham khảo thì bệnh sẽ tăng lên ào ạt. Thí dụ xưa bảo huyết áp trên 14/9 mới có vấn đề, nay bảo chỉ cần 13/8 là có vấn đề rồi. Xê dịch chút xíu vậy thôi đủ nhiều trăm triệu người rơi vào… bệnh lý ! Dĩ nhiên những kết luận đó đều có cơ sở khoa học cả. Thế nhưng những lời khuyên về phương pháp phòng bệnh và điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc chẳng ai nghe. Nào ăn ít muối, ít đường, nào uống ít rượu, không hút thuốc lá, nào tập thể dục…. vất vả quá. Nhưng rồi những thứ thuốc mới nào đó được tung hô ầm ỉ ít lâu bỗng bị cấm… lưu hành vì gây phản ứng phụ không phải là hiếm! Có lần thậm chí người ta còn nghi ngờ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cố tình hù dọa đại dịch cúm để… giúp một công ty sản xuất thuốc chủng ngừa!
Giảm tải cách nào ?
Chuyện đau ốm bệnh hoạn của người dân nhiều hay ít không phải là chuyện của y tế mà là chuyện của…lãnh đạo. HIV/AIDS là một bằng chứng rõ rệt nhất. Nơi nào nhà lãnh đạo biết quan tâm, trực tiếp lo chương trình phòng chống HIV/AIDS, đưa chương trình này vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia thì nơi đó dịch bệnh được khống chế và giảm rất nhanh. Nơi nào lãnh đạo thờ ơ, để mặc cho ngành y tế xoay sở thì dân mắc bệnh ngày càng đông dẫn tới suy sụp cả nền kinh tế và gây rối loạn xã hội. Cho nên sự cam kết chính trị (political commitment) là yếu tố quyết định để khống chế bệnh tật, giúp người dân sống yên vui, hạnh phúc. Nếu lãnh đạo coi y tế là “mủi nhọn kinh tế”, thì để dân bệnh càng nhiều càng tốt, càng « quá tải » càng hay !
Một « cam kết chính trị » tốt, thực sự vì dân, là khi nhà lãnh đạo tập trung xây dựng hệ thống dự phòng vững chắc, tăng cường cán bộ “chuyên khoa phòng bệnh » xuống cơ sở (cả ê-kíp gồm bác sĩ, nhân viên y tế công cộng, giáo dục sức khỏe, nhân viên công tác xã hội, phát triển cộng đồng, xây dựng nông thôn mới v.v…) để tổ chức phòng bệnh, nâng cao dân trí- cho người dân biết tự chăm sóc sức khỏe mình và gia đình, cộng đồng mình- đồng thời xây dựng mạng lưới y tế gần dân để chữa trị sớm các bệnh thông thường và triển khai các biện pháp phòng ngừa… Muốn vậy phải quan tâm đào tạo y khoa về hướng y học dự phòng, y học cộng đồng, biết làm việc ê-kíp và quan trọng hơn có chế độ chính sách thỏa đáng thu hút nhân lực về hướng này, thí dụ trả lương xứng đáng, cấp nhà ở, phương tiện đi lại, du học…- lương có thể cao gấp đôi ba lần khu vực điều trị. Một chuyên viên giỏi ở khu vực dự phòng có thể giúp cho một vạn dân trong khu vực họ chịu trách nhiệm ít phải mắc bệnh không khó… Một đồng bỏ ra cho phòng bệnh sẽ tiết giảm cả chục đồng cho điều trị.
Nhưng các chuyên viên phòng bệnh dù có giỏi thì một mình cũng sẽ không làm được gì. Phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng. Khi người dân hiểu cái gì là có lợi ích thiết thân cho sức khỏe của họ, họ sẽ ủng hộ, sẽ tham gia. Đó là sự tham gia cộng đồng (community involvement). Các tổ chức đoàn thể như phụ nữ, thanh niên, công đoàn, mặt trận… chính là cơ sở tốt để tạo ra sự tham gia cộng đồng này. Nhưng thế vẫn chưa đủ, còn phải có sự phối hợp của nhiều ngành dưới sự điều phối chung của một « nhạc trưởng », của một nhà lãnh đạo. Chẳng hạn ngành truyền thông phải dành bao nhiêu thời lượng, tiền bạc công sức để nâng cao dân trí; ngành môi trường, ngành xây dựng, giao thông, lương thực… đều phải xắn tay vào cuộc. Cái đó gọi là sự phối hợp liên ngành (intersectoral cooperation). Chỉ có cách đó, người dân mới bớt mắc bệnh, mới giải quyết căn cơ vấn đề quá tải của bệnh viện tuyến trên và nói chung, chỉ có cách đó mới làm cho người dân có hạnh phúc, đạt đến « một trạng thái sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội » như định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về sức khỏe.
Trước mắt, một giải pháp « tình thế » là mở thật nhiều bệnh viện đáp ứng nhu cầu của người dân để giải tỏa quá tải ở bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến trên. Thực ra chuyện “quá tải” bệnh nhân đâu chỉ thấy ở bệnh viện? Một thời « Nước cá thần », rồi chùa Pháp Hoa ở Đồng Nai, thần y Nam Hải ở ngoài Bắc, ông thầy ở Bình Phước, ngôi vườn kỳ lạ ở Long An… cũng từng « quá tải » đó thôi.
Nói khác đi, người bệnh đến với thầy thuốc trước hết là vì lòng tin, hy vọng được chữa hết nỗi đau và nỗi khổ của mình. Do vậy, dù xa xôi, khó khăn, đắt đỏ cách mấy họ cũng lặn lội tìm đến. Một số bệnh viện luôn quá tải không chỉ vì chuyên môn giỏi mà vì “tiếng tăm” (thương hiệu). Vậy tại sao không mở thêm nhiều “đại lý” của các bệnh viện đó ở khắp nơi? Nếu đảm bảo được chất lượng như “bệnh viện gốc” thì bệnh nhân dại gì đi xa cho tốn kém, vất vả. Bệnh viện “gốc” sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về chất lượng. Họ phải huấn luyện nhân viên, tổ chức “quy trình” quản lý chặt chẽ để giữ uy tín của mình. Với công nghệ thông tin hiện nay, việc chẩn đoán từ xa, can thiệp từ xa không còn là quá khó. Một giáo sư giỏi ở tuyến trên không cần phải “luân chuyển” xuống cơ sở mà ở tại chỗ chỉ đạo hướng dẫn cho hàng chục vệ tinh, « chi nhánh », “đại lý”, sẽ hiệu quả hơn, năng suất sẽ cao hơn. Họ sẽ phân cấp, phân loại để làm sao điều trị tốt nhất cho bệnh nhân và nhờ đó bệnh viện gốc sẽ không còn bị tràn ngập bởi những trường hợp không đáng vào viện, chỉ vì « thương hiệu » mà tìm đến.
Vài đề xuất cụ thể
Ai cũng biết bệnh trẻ em phần lớn tự khỏi nhờ sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Nhờ có nhiều bệnh « lặt vặt » thường xuyên như vậy mà sức đề kháng được phát triển, tạo « miễn dịch » suốt đời. Vấn đề là làm sao biết lúc nào bệnh nặng, lúc nào nhẹ để xứ trí cho đúng. Cái đó là nghề của bác sĩ. Bác sĩ « mát tay » hay không, giỏi hay dở là ở chỗ biết « phân biệt » này. Chính vì nhiều bệnh ở trẻ em tự khỏi nên không ngạc nhiên thấy nhiều khi chỉ cần nước lã, lang băm… cũng chữa được bệnh.
Trước tình hình quá tải ở các bệnh viện Nhi đồng thành phố, trên báo Tuổi Trẻ trước đây tôi có đề xuất giải pháp nên có bệnh viện Nhi đồng 3. Chữ « Bệnh viện Nhi Đồng 3 » nằm trong ngoặc kép. Đó chính là nên phục hồi lại hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh sẵn có trước đó ở khắp các quận huyện đã bị « phế bỏ ». Có lẽ nhiều người cho rằng chăm sóc trẻ đang « lành mạnh » là một điều… vô lý, tốn kém ! Thực ra hệ thống chăm sóc trẻ em lành mạnh là biện pháp phòng bệnh tích cực nhất dành cho trẻ dưới 6 tuổi, thực hiện bởi các chuyên viên nhi khoa, các chuyên viên tâm lý, nhân viên công tác xã hội… ở cơ sở, gần gũi với nơi người dân sống. Ở đó trẻ được theo dõi sức khỏe định kỳ hằng tháng, cân đo, chủng ngừa, hướng dẫn dinh dưỡng, giải đáp thắc mắc cho các bà mẹ từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ ; khi đau ốm thì có bác sĩ nhi tại chỗ khám chữa trị sớm, khi cần thì chuyển đi đúng nơi đúng lúc. Các bác sĩ nhi này được đào tạo và huấn luyện ở các bệnh viện Nhi đồng, được « quản lý » chất lượng để có đủ kiến thức và kinh nghiệm. Các bà mẹ nhờ đó sẽ rất yên tâm, tin cậy, gắn bó. Việc gì cứ mỗi mỗi phải chen chúc vào bệnh viện tuyến trên cho khổ, cho mất thì giờ, bực bội, tốn kém ? Để duy trì một hệ thống như thế phải đầu tư đúng mức. Nó vừa giúp giảm tải cho tuyến trên và quan trọng hơn, mang lại hạnh phúc cho người dân.
Các bệnh viện Ung Bướu thì có một đặc thù riêng. Thường có khoảng 20% bệnh nhân đang nằm tại các bệnh viện Ung Bướu là ở vào giai đoạn cuối. Ta biết, ở giai đoạn này vấn đề điều trị không quan trọng bằng Chăm sóc giảm nhẹ (Palliative Care), nhằm nâng cao chất lượng cuốc sống, giải quyết các vấn đề xã hội, tâm linh. Đây là một « chuyên khoa » mới của ngành y ngày càng phát triển ở các nước tiên tiến. Việc chăm sóc không chỉ đơn thuần y khoa mà bao gồm cả tâm lý xã hội… Nếu bệnh viện có một địa điểm thuận lợi, một « chi nhánh » dành riêng cho bệnh nhân giai đoạn cuối này sẽ giảm tải đáng kể. Đây cũng là điều rất có lợi cho bệnh nhân vì ở đó ngoài thuốc men họ sẽ còn được hướng dẫn về thiền, yoga, dinh dưỡng, được chăm sóc về tâm linh, tình cảm, được hỗ trợ về xã hội bởi các chuyên gia, bác sĩ, nhà tâm lý, nhân viên công tác xã hội, các tu sĩ, bà sơ, ni cô…
Nếu Nhi Đồng có hệ thống Chăm sóc trẻ em lành mạnh, nếu Ung Bướu có hệ thống Chăm sóc giảm nhẹ, Chấn thương chỉnh hình, Phụ sản… có những hệ thống « chi nhánh », « đại lý » phù hợp, đảm bảo chất lượng, thì giảm tải bênh viện sẽ không còn khó lắm nữa.
Tóm lại, để giảm tải bệnh viện cần có giải pháp toàn diện, vừa căn cơ vừa tình thế. Một mặt tăng cường hệ thống chữa bệnh, đảm bảo chất lượng điều trị, dưới dạng hệ thống vệ tinh, chi nhánh của các bệnh viện đang quá tải và mặt khác, quan trọng hơn, là củng cố mạng lưới y tế cơ sở, đẩy mạnh dự phòng, đầu tư đúng mức và đúng nghĩa. Công việc đó phải là việc của nhà lãnh đạo để đề ra các chính sách phù hợp với một triết lý nhân bản, vì dân, từ đào tạo nguồn nhân lực cho đến tổ chức guồng máy mới mong giải quyết tận gốc. Sức khỏe của người dân là nguồn lực chính của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nên không thể khoán riêng ngành y tế !
BS. Đỗ Hồng Ngọc


Để lại một bình luận