Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ

09/01/2026 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ 

Salon Văn hóa Cà phê Thứ Bảy

9h sáng Thứ bảy 10.1.2026

Tại 79A Phan Kế Bính, P Đakao, Quận 1, Tp.HCM

Rảnh đến chơi nhe,

Thân mến,

ĐHN

 

Chủ nhật 11.01.2026

Gởi bạn vài tấm hình coi trước nha:

Cafe Tb Dương Thụ ngày  10/01/2026

 

 

 

 

 

 

 

Hội trường nhỏ hẹp. chật cứng

 

Một độc giả: Tôi nay 70, nhờ đọc ĐHN mà bây giờ coi cũng còn trẻ bộn!

 

Một độc giả: Tui tận Đồng Tháp lên đây, còn đi lạc, vô trễ, người giữ xe còn biểu hết chỗ, về đi. Bực mình quá, chen vào đại! Có người nói đi từ Ninh Thuận 350km vào tới đây. Người thì từ Nha Trang, Kiên Giang… Lỗi tại Nhạc sĩ Dương Thụ… có hội trường nhỏ xíu!

 

Có khá nhiều độc giả trẻ đặt những câu hòi rất hay…

Không giống như bữa Ra mắt sách CHUYỆN HỒI ĐÓ ở Đường Sách (10.8.2025), buổi Gặp gỡ và Đối thoại lần này đi sâu vào nội dung như Học y khoa hồi đó thế nào? Hiện nay AI sẽ ảnh hưởng đến ngành Y ra sao? “Thành tựu” của anh trong nghề nghiệp là những gì? Ai là người ảnh hưởng đến anh nhiều nhất? Cơ duyên nào đưa anh đến với Thiền?… Buổi chuyện trò thân mật, chân thành và gần gũi giữa SG đang vào mùa lạnh…

Thân mến,

ĐHN

(Cám ơn Thủy và Ngọc Uyên đã gởi cho hình)

Một vài comments

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)

27/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (Noel 2025)

Nhiều chuyện để kể bạn nghe lắm, mà làm biếng tệ! Bạn nhắc, đành phải lược thuật đôi lời.  Nhớ lúc này anh Hai Trầu Lương Thư Trung cũng 84 rồi chớ chơi sao. Mà hình như… chỉ còn mình anh là ham đọc ham viết. Mừng ghê đó nhe.

Tuần trước Tạp chí Quán Văn tổ chức một buổi Văn nghệ “MiềnTrung vọng tiếng” khá đông anh chị em tham dụ, mỗi người góp tí để các bạn QV về thăm bạn bè văn nghệ miền Trung , do Hoàng Kim Oanh, Quang Đặng, Hoài Huyền Thanh… lên đường. Mình cũng có đến dự, tiếc không gặp Nguyên Minh (đang bệnh), Thân Trọng Minh (đang bận), Châu Văn Thuận… (đang kẹt)… Tóm lại, nhóm Ý Thức xưa chẳng gặp ai. Lữ Quỳnh thì xa lắc, Lê Ký Thương, Trần Hoài Thư… thì xa lơ!

Nhiều bạn hỏi thăm Quán Văn giờ ra sao? Nghe HKO bảo: Nguyên Minh “chủ xị” tuy đang bệnh cũng ráng “layout” một số Xuân đặc biệt! Thương quá!

Mình bây giờ làm gì ư? Làm biếng. Hàng tuần học với Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi. Thỉnh thoảng gặp nhóm bạn NNT ( lớp Phật học và Đời sống), trò chuyện offline ở Đông Hồ. Mình vốn thích không khí thiên nhiên như vậy..Dịp này, có cuốn sách về Thiền học của Phan Tấn Hải, do Chùa Tây Tạng Bình Dương ấn tống, mình mang biếu các “đạo hữu”. Mình cũng đề nghị năm tới nên học và hành 10 hạnh Phổ Hiến thì hay.

Một cô bạn trẻ, tuổi gần 75, ở Mỹ viết thư nói Noel bọn con cháu tụ về thăm bà Nội bà Ngoại, thấy tụi nhỏ già… bắt ớn! Thì ra, mình có bao giờ già đâu! Tới “nóc” rồi, già sao nổi nữa phải không?

Thân mến.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Thư gởi bạn xa xôi (tháng 12/2025)

05/12/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi

(tháng 12/2025)

Sáng nay mở “meo” được thư anh Hai Trầu Lương Thư Trung mới gởi, còn nóng hổi, thì ra lúc này trời trở lạnh, ảnh đem mấy chậu cây trái vào trong nhà cất để giữ ấm… bỗng nhớ tới người bạn già xa xôi, bèn làm bảng cập nhật Tác phẩm xưa nay của Đỗ Hồng Ngọc gởi về tặng. Dễ thương chưa? Xin phép anh Hai Trầu cho post lên đây với lòng biết ơn không biết nói sao nhe anh Hai.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………………………..

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc thân mến,
Dà, tôi mới vừa cập nhật thêm ba cuốn sách mới của anh Ngọc (tôi có tô đậm ở Phần II, mục 22, 23, 24 ) và xin gởi để anh Ngọc giữ chơi cho vui và nếu thiếu xin anh Ngọc bổ túc thêm giùm.

(5.12.2025)

 

TÁC PHẨM BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

(Hai Trầu Lương Thư Trung sưu tập, tháng 7.2020- tháng 12 năm 2025)

I.Thơ

1/ Tình Người (1967)
2/ Thơ Đỗ Nghê (1973)
3/ Giữa hoàng hôn xưa (1993)
4/ Vòng quanh (1997)
5/ Thư cho bé sơ sinh & những bài thơ khác (2010)
6/ Thơ Ngắn Đỗ Nghê (2017)
7/ Những Bài Viết Về Thơ Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc):   “Như Không Thôi Đi Được” (2020).
8) Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc (Ngôn Ngữ, 2024)

II Văn: Tùy bút, tạp văn

1/ Gió heo may đã về (1997)
2/ Già ơi…Chào bạn! (1999) Bản dịch tiếng Nhật (Minagawa, Soshisha 2001),
3/ Những người trẻ lạ lùng (2001)
4/ Thầy thuốc & Bệnh nhân (2001)
5/ Như ngàn thang thuốc bổ (2001)
6/ Cành mai sân trước (tuyển tập, 2003)
7/ Thư gởi người bận rộn (2005)
8/ Khi người ta lớn (2007)
9/ Như thị (2007)
10/ Chẳng cũng khoái ru?(2008)
11/ Nhớ đến một người (2011)
12/ Thư gởi người bận rộn 2 (2011)
13/ Ăn vóc học hay (2011)
14/ Ghi chép lang thang (2014)
15/ Già sao cho sướng? (2015)
16/ Có một con mọt sách (2015)
17/ Một hôm gặp lại (2016)
18/ Nếp Sống An Lạc (2017)
19/ Về Thu Xếp Lại (2019)
20/ Biết Ơn Mình (2019)
21/ Để Làm Gì (2020)

22/ Áo Xưa Dù Nhàu (2022)

23/ Một Ngày Kia… Đến Bờ, tùy bút (2023)

24/ Bản dịch tiếng Anh “One Day… Reaching the Other Shore”

(MD, Thư viện Hoa Sen) 

25/ Bản dịch tiếng Đức: Eines Tages… das andere Ufer erreichen (Văn Công Tuấn và Prof. Beuchling) (2025)

26/ Con Đường An Lạc (2025)

27/ Chuyện Hồi Đó (2025)

 

III. Phật học:

1/ Nghĩ từ trái tim (về Tâm Kinh Bát Nhã, 2003)
2/ Gươm báu trao tay (về kinh Kim Cang, 2008)
3/ Handing down precious sword

(Giao Trinh, bản dịch tiếng Anh, 2015)
4/ Thấp thoáng lời Kinh (2012)
5/ Thiền và Sức khỏe (2013)
6/ Ngàn cánh sen xanh biếc (về kinh Pháp Hoa, 2014)
7/ Cõi Phật đâu xa (về kinh Duy Ma Cật, 2016)
8/ Thoảng Hương Sen (2018)
9/ Thấp Thoáng Lời Kinh (Thư viện hoa sen, 2019)
10/ Tôi Học Phật (2023) (Thư viện Hoa Sen 2019)

11/ Bông Hồng Cho Mẹ & Những cảm nhận học Phật (2022)

IV. Y học thường thức:
A- Sách dành cho tuổi mới lớn:
1/ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò (1972)
2/ Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn (1989)
3/ Bệnh ở tuổi hoc trò (1990)
4/ Viết cho Tuổi mới lớn (1995)
5/ Với tuổi mười lăm (1997)
6/ Bỗng nhiên mà họ lớn (2000)
7/ Bác sĩ và những câu hỏi của tuổi mới lớn (2003)
8/ Tuổi mới lớn (tuyển tập, 2005)
9/ Khi người ta lớn (2011)

B- Sách dành cho các bà mẹ:
1/ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng (1974)
2/ Chăm sóc trẻ từ sơ sinh đến 3 tuổi (1978)
3/ Làm sao để trẻ được khỏe mạnh và thông minh? (1991)
4/ Những bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em (1980)
5/ Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc (1986)
6/ Nuôi con (1988)
7/ Sức khỏe trẻ em (1991)
8/Câu chuyện Sức khỏe (1996)

Tổng cộng: 63 quyển (chưa kể còn vài tác phẩm trên liên mạng, chưa in)

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Lõm bõm học Phật, Một chút tôi

Trò Chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về Tình Yêu và Cuộc Sống

25/11/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Trò Chuyện với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

về Tình Yêu và Cuộc Sống

(Tiếp theo “Hỏi Chuyện Học Phật ”, Tạp chí Từ Quang, số 53)

 

Đỗ Hồng Ngọc & Minh Lê (NT)

 

Trong thời đại kết nối ảo nhiều hơn thật, anh nghĩ tình yêu sẽ thay đổi ra sao so với ngày xưa lúc người ta kết nối với nhau bằng cách gặp gỡ và thư từ?

Thay đổi nhiều chớ. Thay đổi đến chóng mặt! Hồi xưa hả? Còn có “phúc hôn” là hai trẻ yêu nhau từ trong bụng mẹ. Hai bạn bầu hẹn nhau, hai đứa là trai với gái thì sau này thành vợ chồng nhe. Rồi trao lễ vật làm tin.

Rồi tới thời phải có mai mối: “em tuy mới mười lăm, mà đã lắm người thăm, nhờ mối mai đưa tiếng…” (NNP).

Nhiều đôi vợ chồng không hề biết mặt nhau, đến ngày cưới còn có khăn che mặt, vậy mà họ ở với nhau tới đầu bạc răng long, con cháu đầy đàn. Thư từ ư? Con gái có thời không cho học chữ, sợ nó viết thư cho trai. Cái thời đó lạ lắm, ca dao có câu “trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng, dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai”… Còn thời không xa đây lắm, yêu nhau đâu có dám nói. Cho nên “…Bài thơ cứ còn hoài trong cặp/ giữa giờ chơi mang đến lại mang về!” (ĐTQ)…

Nghe những chuyện tình xưa như vầy, các bạn trẻ sẽ cười bể bụng! Một bức thư tình qua email có thể gởi cho nhiều người cùng lúc…  Tỏ tình thì xếp hoa thành hình trái tim trong sân trường…  cho máy bay phất phới “I love you” trong gió, quỳ gối nâng hộp kim cương… Nồng cháy lắm, mà lạ, tan vỡ rất nhanh.

Người ta còn yêu nhau xuyên đại dương, qua chat, qua máy tính, qua smartphone… Không biết sau này còn có những kiểu tình yêu gì khác nữa, với thời Robot, AI… Những mối tình giữa người với robot, giữa robot với robot  Con cái không phải lo. Tinh trùng và trứng có bán đầy ở… siêu thị!

Không đâu! Tôi tin đến một lúc, người ta quay lại thời xa xưa thôi. Tình yêu linh thiêng lắm.  “Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi/ lại thấy trong ta hiện bóng… con người” (TCS).

Trên thực tế, hiện vẫn thấy những cuộc tình, những cuộc hôn nhân tốt đẹp nhờ internet, kết nối, giúp tìm hiểu nhau, tâm đầu ý hợp, lại tìm thấy nhau như hẹn nhau từ muôn kiếp trước vậy! Cứ yên tâm.

Theo anh, câu “tình chỉ đẹp những khi còn dang dở” có đúng không?

Không đâu. Không ai mong cho tình dang dở để nó “đẹp mãi” đó đâu! Mấy nhà thơ thất tình bày đặt để tự an ủi đó thôi.

“Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề”…  là chuyện riêng của Hồ Dzếnh thôi, không phải của tất cả mọi người.

Anh có cho rằng phải có thử thách thì tình yêu mới trở nên sâu sắc không?

“Thử thách” là sao không hiểu? Có phải là làm cho tan vỡ, cho lìa xa, để hạnh phúc hơn khi tái hợp? Hạnh phúc và khổ đau có thể là một? “Tình yêu đến tình yêu đi ai biết? Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt?…” (Xuân Diệu) để “Rồi bị thương người ta giữ gươm đao/ không muốn chữa không chịu lành thú độc?” (XD) . Có người thích như thế, họ nuôi vết thương, khoét cho nó sâu thêm để  tìm “thú độc”, “thú đau thương” nhưng hình như nguời trẻ bây giờ thường tìm cách “chữa lành” đó thôi!

Có khi nào anh thử so sánh chức năng của trái tim của cơ thể và trái tim trong tình yêu không?

Ai lại đi so sánh chuyện như vậy? Trong tình yêu, trái tim của cơ thể đã hoàn toàn đổi khác. Nó loạn nhịp. Nó mềm nhũn. Nó thổn thức. Nó đau đáu… Và nó có lý trí riêng của nó. Nhớ phải lắng nghe và tôn trọng nó.

Anh có tin vào duyên phận không?

Có. Tôi tin duyên phận. Không duyên không phận sao nó đưa đẩy cho kết nối “đúng khớp” như vậy được? Nhưng cái gì làm ra duyên đó? Có cái phận, tức là cái nghiệp chăng?

Nghiệp, là kinh nghiệm được tích lũy và tồn tại trong nhiều đời sống. Không có thời gian, không có ký ức thì lấy đâu cho nghiệp vận hành, tạo tác, lưu trữ, lưu xuất, dị thục, nhân quả?  (Tuệ Sỹ).

Câu hỏi đặt ra là có thực không có nhiều đời sống? Một đời trước và đời sau – những đời sau- để cho ký ức gợi lại, dị thục, nhân quả. Bằng chứng đâu? Nhưng hỏi tôi tin không? Tôi tin. Tại sao tin? Không biết! Phải chăng, thỉnh thoảng ta gặp một người nào đó thấy như đã từng hẹn nhau từ muôn kiếp trước, hay một nơi chốn nào đó thấy như về mái nhà xưa?

Làm sao để giữ được sự dịu dàng trong tình yêu, khi xã hội ngày càng khắc nghiệt?

Đâu có mắc mớ gì đến “xã hội” ngày càng khắc nghiệt ở đây? Khắc nghiệt là chuyện bên ngoài, dịu dàng là chuyện bên trong. Đóng kịch “dịu dàng” cho vừa lòng xã hội ư? Trước sau gì cũng lộ tẩy, tan vỡ! Cứ tự nhiên. Nó vậy là nó vậy. Con gà mà bắt chưóc thiên nga, nhảy xuống hồ bơi thì biết!

 “Càng trưởng thành càng khó yêu.” Đúng không? Anh nghĩ trưởng thành có làm mất đi sự ngây thơ cần thiết cho tình yêu không?

Ai nói “ngây thơ” cần thiết cho tình yêu? Ý là càng ngây thơ càng dễ bị dụ, dễ bị sụp bẫy phải không? Vậy thì tội nghiệp cho cái gọi là tình yêu quá!  Tôi thấy nhờ trưởng thành mà tình yêu mới chín muồi, mới “rụng” cái rụp chớ. Yêu nhau đâu phải nhờ vào sự ngây thơ, ngu dốt, bị lường gạt, lừa đảo… ? Ồ, nhưng mà, ngày nay người ta giả bộ ngây thơ nhiều lắm thì phải? Bẫy giăng ra, bẫy sụp thì ai cũng… mừng!

Với anh, tình yêu và lòng từ bi có khác nhau không?

Khác xa chứ! Từ là Thương, Bi là giúp làm giảm khổ .  “Tứ vô lượng tâm: Từ bi hỷ xả” là rất quan trọng, trong đời sống hàng ngày: ” Từ năng dữ lạc. Bi năng bạt khổ. Từ mang tới niềm vui, Bi làm cho bớt khổ. Ở đây chắc  muốn hỏi về “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (TCS) phải không? Vậy là yêu vì thương hại, vì thấy tội nghiệp. Tình yêu chân chính chắc phải đòi hỏi sự tôn trọng và bình đẳng, không phân biệt.

Theo anh nên làm sao để “yêu” mà không hóa thành “ràng buộc”?

Là tại lòng tham.  Tại muốn “ràng buộc”! Cho nên Từ Bi phải luôn đi với Trí Tuệ. Người xưa khuyên “tương kính như tân”… lúc nào cũng như “tình đầu”. Mà, nếu không được như tình đầu thì… như tình cuối cũng tốt.

Làm sao để có thể yêu mà không đòi hỏi, khi mỗi cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn từ xã hội và gia đình?

Nhu cầu đòi hỏi đó có chính đáng không? Khi người ta đã thực sự yêu nhau thì người ta đâu cần để ý gì đến đòi hỏi của xã hội và gia đình. Người ta có thể chủ động vượt qua mà! “Mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” đó thôi.

Anh nghĩ tình yêu có thể cứu rỗi một người đang mất niềm tin vào cuộc sống không?

Có. Chắc chắn có. Đó là thứ tình yêu chân thật. Khi người ta mất niềm tin về cuộc sống thì tình yêu chân thật sẽ “cứu rỗi” được ta.

Nhìn lại thế giới hôm nay, anh thấy căn bệnh tinh thần lớn nhất của con người hiện đại là gì?

Là Tham Sân Si. Vì lòng tham thì không đáy. Lòng sân (giận) thì “nộ khí xung thiên”, và lòng Si vì không “thấy biết” (tri kiến) đúng. Không thấy biết cái Không, cái duyên sinh, cái nhân quả, cái thiện cái ác…! Hồi xưa có một ông Vua hùng mạnh dặn hầu cận mổi sáng nhắc ông: Nhà vua cũng chỉ là người!

Anh nghĩ sao về nỗi cô đơn thời kỹ thuật số, khi một người có thể nói chuyện với hàng trăm người mà vẫn thấy cô đơn?

Cho nên người ta chỉ  cần có một nguời để “nhìn nhau không nói” là đủ hạnh phúc lắm rồi!

Nếu có một “toa thuốc” cho xã hội hôm nay, anh sẽ kê những gì?

Quay về nương tựa chính mình và thực hành Giới Định Huệ. Sẽ nhìn ra vũ trụ mênh mông không ngằn mé kia là chính cơ thể mình. Nối các mao mạch của cơ thể, dài đủ 2 vòng trái đất. Mỗi ngày tim đập đủ nâng một sức nặng bằng đầu máy xe lửa…

Nhiều người trẻ đang hoang mang vì thế giới quá nhiều biến động. Theo anh, “bình an nội tâm” bắt đầu từ đâu?

Không từ bên ngoài mà từ bên trong. Thế giới phải luôn luôn “đầy biến động” như vậy mới là… thế giới. Biến động cũng như sóng biển thôi, có khi sóng lăn tăn, có khi ầm ào đập vào bờ đá, tung toé khắp nơi, có khi sóng thần, có khi bão tố… Sóng ít khi yên tĩnh. Nó luôn xao động, bởi có gió, bờ cát, vách đã, bê tông chắn sóng… Nhưng dù thế nào thì nó vẫn là nước. Nếu nó biết nó vốn là nước thì nó “bình an”.

“Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh” (TCS) nhớ không? Bát chánh đạo là phương pháp tốt nhất để mình được bình an như thế! Chánh kiến/chánh tư duy/chánh ngữ/chánh nghiệp/chánh mạng/chánh tinh tấn/ chánh niệm/ chánh định. Nghe lùng bùng lỗ tai, thiệt ra nó chỉ là Tam học: Giới Định Huệ, để trừ Tam độc là Tham Sân Si đó thôi.  Nhờ giới, ta bớt tham, nhờ định ta bớt sân (giận) và nhờ huệ (Tuệ) ta bớt si. Bớt thôi nhe. Bớt là quý rồi.

Anh có nghĩ rằng con người đang sống quá nhanh nên không còn kịp lắng nghe chính mình không?

Đúng là “quá nhanh quá nguy hiểm”! Nhưng con người vốn “tự do” mà. Do mình muốn chậm thì chậm, muốn nhanh thì nhanh đó thôi. Đừng đổ thừa. Nếu biết sống “thiểu dục tri túc” (biết đủ, ít ham muốn), biết “nguỵệt lai môn hạ nhàn” (trăng treo cửa sau là Nhàn) thì còn kiếm đâu xa. Ta sẽ có nhiều thì giờ hơn để lắng nghe chính mình thôi.

Khi thế giới đầy bạo lực và điều ác, niềm tin vào cái thiện còn chỗ đứng không?

Thiện thắng ác, chánh thắng tà. Ngàn đời nó vậy.  Nhân quả nó vậy. Nhưng từ nhân đến quả, phải có cái gì đó gọi  là “duyên” xúc tác phải không? Cẩn thận với duyên. Cây quít ở Giang Nam thì có trái ngọt, đem qua Giang Bắc thì sinh trái chua, đó là do thổ ngơi, do cách chăm sóc, tưới bón…

Trong y học và đời sống, anh đã nói về “sống chậm”. Với nhịp sống ngày càng nhanh như hiện nay, liệu sống chậm có còn phù hợp không?

Tuỳ mục đích sống của mỗi người. Như một hoàng tử ngày xưa được vị thần cho cuộn chỉ thời gian, chàng kéo thật nhanh để mau được làm vua, xây tam cung lục viện, đánh nam dẹp bắc, khi nhìn lại, giật mình, cuộn chỉ sắp hết, chàng vội cuốn ngược lại mà không sao được nữa! Nó vậy đó. Tuỳ mục đích sống mỗi người.

Gần đây thấy có mấy du khách ở Âu Châu về Việt Nam chơi, chỉ thích đi xe lửa chạy chậm như rùa của mình, khoái trá lắm vì có dịp thấy phong cảnh hai bên, thấy sinh hoạt của con người… nói chung họ thưởng thức sự nhẩn nha hiếm thấy ở xứ sở họ. Tôi cũng có dịp đi xe lửa “đầu đạn” ở Nhật, xe vèo vèo không thấy được phong cảnh hai bên coi nó thế nào nữa! Tóm lại, tuỳ mục đích đời sống của mọi người thôi nhe.

Theo anh, ý nghĩa cuộc sống của con người nằm ở đâu?

Tôi nghĩ, ở chỗ tìm kiếm hạnh phúc. Hạnh phúc có đó rồi mất đó, lại hùng hục chạy đi tìm kiếm cái khác. Sau cùng thì thấy hoá ra hạnh phúc ở ngay đây, ở sát na này. Thì ra tất cả là chân Không, tất cả là Diệu hữu. Chân Không mà diệu hữu. Diệu hữu mà chân Không. Thật thú vị. Ai thấy biết vậy thì đã an lạc, ở đây và bây giờ. Biết tri Túc, Biết tri Nhàn.  Đó là cái “tri kiến” của Phật, đã “khai thị” cho chúng sanh để “ngộ nhập” từ Kinh Pháp Hoa, ngag dưới chân núi Linh Thứu… hơn hai ngàn năm trước. Tiếc thay, có đến mấy ngàn người đã lẳng lặng bỏ đi, không thèm nghe!

Nhưng chuyện không dừng ở đó. Ý nghĩa cuộc sống có lẽ phải bắt đấu từ câu hỏi, ta là ai, ta từ đâu đến? và sẽ đi về đâu?

Cho nên ý nghĩa cốt lõi của con người cũng như mọi sinh vật là sự tồn tại cá nhân và duy trì loài giống. Để tồn tại, con người phải thích nghi được với môi trường. Người Eskimo sống khác với người nhiệt đới xích đạo. Người Tây Tạng khó mà trường chay được. Và phải có nhiệm vụ “truyền giống” bằng cách nào đó để duy trì giống loài. Tại sao thì không biết. Không chỉ con người mà con giun cái kiến cũng phải vậy. Hình như nó có một thiết kế vĩ đại, tuy có thể không có nhà thiết kế như nhà bác học Hawking đã nhận định.

Với một người trẻ chưa có gì trong tay, anh sẽ nói gì để giúp bạn ấy tin vào tương lai

Nếu hỏi hồi tôi còn trẻ, “chưa có gì trong tay” thì tôi “nói với tôi” điều gì thì còn có thể trả lời được. Thời đại ngày nay thì tôi chịu! Người trẻ bây giờ không ít bạn mơ thành tỷ phú một đêm, đi dạo trong vũ trụ với các phi thuyền giữa các hành tinh, hẹn với người yêu cách xa ngàn năm ánh sáng chỉ cần cái nhấp chuột… Dĩ nhiên bên cạnh đó là nhưng người trẻ sống một cách khác, tìm kiếm an lạc, hạnh phúc một cách khác cho mình và cho người.

Thời tôi, khi mới lớn, tôi đọc Tương lai trong tay ta, Bảy bước đến thành công,  Rèn nghị lực để lập thân, Gương danh nhân, Gương kiên nhẫn… nhất là cuốn Tự học để thành công v.v… của Nguyễn Hiến Lê. Rồi đọc Đông châu liệt quốc, Tam quốc, Thuỷ Hử, Liêu trai chí dị… Sử ký Tư mã thiên, Kinh Dịch, và  đọc các nhà Hiền triết Đông Tây… và Phật học. Tôi nhớ mình rất mê đọc sách, chăm chỉ học…  Sau này, tôi cũng bắt đầu viết cho đàn em: Ăn vóc học hay, Khi người ta lớn, Nếp sống An lạc, Thiền và Sức khoẻ… nhưng hình như thế hệ này cũng đã qua rồi. Bây giờ các bạn trẻ có lối sống hiện đại. Nhiều bạn mất rất nhiều thì giờ chơi games, sống với internet, với AI và Robot, phi thuyền, du hành vũ trụ v.v…

Tương lai nằm trong lối sống hiện tại của ta. Có hai yếu tố, chánh báo và y báo. Chánh báo là bản thân ta, có thể do di truyền, và y báo là môi trường sống. Có nhiều bạn trẻ nhờ chuyển đổi môi trường mà thành đạt. Thầy Mạnh Tử nhớ không? Phải ba lần nhờ bà mẹ dời nhà mới có cơ hội học hành mà trở thành một bậc thánh …

Anh thấy văn hóa Việt ngày nay đang cần điều gì nhất?

Cần “văn hoá” nhất! Mà văn hoá thì từ lối sống xã hội và lối giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng, nhân bản là rất cần thiết. Theo tôi, có lẽ nên cho học sinh cấp một học lại một số bài trong Quốc văn Giáo khoa thư ngày xưa. Những chuyện kể thì nhớ dai lắm. Không phải lên giọng dạy đời, đao to búa lớn gì cả!… Nếu trong sách giáo khoa ngày nay không còn có những bài học đơn giản mà sâu lắng này thì thầy cô giáo có thể kể cho học trò mình nghe. Nó sẽ nhớ suốt đời đó…, như một truy ện ngắn của Sơn Nam, “Tình nghĩa giáo khoa thư”, bây giờ đọc lại vẫn thấy rưng rưng.

Người làm thầy không phải là người bán kiến thức nữa rồi! Kiến thức đầy trên mạng. Chưa kể ngày nay còn có AI. Thầy chỉ cần là người truyền cảm xúc, học trò sẽ tự mình “khai mở” cho mình về dài về lâu… Chừng mươi bài là đủ nên người: Thương người như thể thương thân.  Không nên hành hạ loài vật. Không nên phá tổ chim. Chuyện quả dứa, Không tham của người.  Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa. Con hổ và con chuột nhắt. Cái thú nhà quê và cái thú kẻ chợ. Kẻ ở người đi. Chuyện anh em nhà họ Điền. Con chó và miếng thịt…(Quốc văn giáo khoa thư).

Tuổi già với anh là một mùa thu an tĩnh, hay là một mùa chuẩn bị gieo hạt mới?

Cả hai. Tôi nghĩ vậy! Trong Phật học, có giới thiệu vị Phật tượng trưng cho tuổi già đó là Phật Asucbệ (Akshobhya), còn gọi là Phật Bất động, Phật Vô sân, sống ở xứ “Diệu Hỷ”!  Ngài là một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên Cảnh Trí. Thấy chưa? Một người già, lòng thanh thản, không còn tham muốn gì nữa, không còn sân hận gì nữa, thường… nằm một chỗ (bất động), lúc nào cũng an nhàn, nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều kỳ diệu (xứ Diệu Hỷ).

Còn nói là mùa gieo hạt mới vì không biết cánh cửa của sự chết mở ra trước mắt sẽ cho ta thấy khung trời nào ở bên kia. Chính vì thế, ngay ở đây và bây giờ ta đã có thể gieo những hạt thiện lành!

Anh từng viết đại ý “già mà không vui là lỗi tại mình”. Vậy “vui” có phải là một kỹ năng cần rèn luyện không?

Nó không phải một kỹ năng để “rèn”. Kỹ năng là giả tạo. Nó phải đến từ bên trong. Già có cái vui của già. Chiếc lá thu vàng chắc phải có niềm vui gì đó để rụng chớ, phải không?

Trong kinh Phật cũng có giới thiệu một vị Phật tên là “Bất không thành tựu” (Amoghasiddhi), nghĩa là vị Phật không có gì mà không thành tựu, không có gì mà không đạt kết quả tốt đẹp. Nhờ gì? Nhờ biết sử dụng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, xúc giác) biến thành “Thành sở tác Trí”. Nghĩa là mắt tai mũi lưỡi gì cũng đã thấu triệt được cái thấy biết “chân không diệu hữu”, thấy đúng như “nó là” (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh cũng vốn là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi!).

Khi về già, mọi thứ sẽ đều đổi khác… cho nên không muốn vui cũng vui, cũng tức cười một mình!

Bên trời xanh mãi
Những nụ mầm mới
Để lại trong cõi thiên thu
Hình dáng nụ cười”

(TCS)

Anh có sợ chết không?

Sợ chớ sao không! Nhưng tại sao lại sợ?

Krishnamurti nói ai cũng chết, tại sao phải sợ chết! Rồi ông trả lời: Sợ là tại vì không biết nên sợ, vì chưa có kinh nghiệm, chưa có trải nghiệm, nên sợ. (Nói khác đi, nếu đã chết rồi thì hết sợ!). Krishnamurti c ũng nói người ta thực sự không phải sợ cái chết mà sợ mất đi cái sống!

Trong Thiền định sâu (Phổ Hiền tam muội), hay trong Diệt thọ tưởng định thì ta sẽ có dịp “trải nghiệm”. Ta sẽ thấy biết vô tướng, “không còn ta còn người còn chúng sanh còn thọ giả” gì nữa! (Kinh Kim Cang)!  “Thọ tưởng” đã không còn thì “hành thức” cũng dứt. Dĩ nhiên, một khoảnh khắc sát- na cũng đã là vĩnh cửu.

Tuệ Sỹ viết: Thời kinh nói “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người (Tổng quan về Nghiệp).

Đạt Lai Lạt Ma thì nói chết như cánh cửa mở ra một khung trời mới. Không biết mới sợ. Biết thì chờ đợi cái mới đó. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Do thường thực tập tiến trình chết trong khi thiền định, một thiền giả có thể sử dụng lúc chết của mình để đạt những chứng ngộ lớn lao.

Về y học: mỗi giây có hàng trăm triệu tế bào hồng cầu già tự huỷ diệt và có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu mới trẻ  khoẻ thay thế, các chất liệu sẽ được sử dụng lại  để “tái chế” tập trung lưu giữ ở lá lách còn gọi là “nghĩa địa hồng cầu”, chớ không bị mất đi.

Anh thấy điều gì là quan trọng nhất để một người luôn giữ được khỏe mạnh? Có phải mỗi người đều có sẵn thứ thuốc trong chính mình?

Điều quan trọng là bệnh nhân phải tự ý thức về điều đó. Các thứ thuốc không ở đâu xa: trong hơi thở là một, trong thức ăn là hai. Biết thở đúng cách, biết đưa hơi xuống huyệt đan điền (ruộng thuốc) ở dưới rún là đã có một thứ thuốc quý. Trong kiếm hiệp, ta thấy các vị hiệp khách một khi bị thương tích thì vội trốn vào một hang động dưỡng thương, ngồi xếp bằng hít thở “điều tức” (thở bụng) chờ ít lâu sau ra đánh tiếp vì đã phục hồi công lực rất nhanh chóng. Nhờ gì? Nhờ biết thở bụng để đưa hơi xuống huyệt đan điền.

Sau hơi thở là th ức ăn. Bởi thức ăn sẽ hợp với hơi thở tạo ra năng lượng. Nhưng “trăm thứ bệnh đi qua đường miệng”. Ăn không đúng chất và lượng thì lại dễ bị béo phì, huyết áp, tiểu đường v.v… Các thứ “thuốc” đều có quanh ta, trong thức ăn, trong nước uống.

Có một câu châm ngôn trong ngành y: “Chỉ có người bệnh chớ không có bệnh”, ý nói rằng tuy bệnh cùng do một nguyên nhân gây ra mà mỗi người sẽ “bệnh” một cách khác nhau, không ai giống ai. Bệnh lao chẳng hạn, do vi trùng Koch gây ra nhưng mỗi người sẽ “lao” một cách khác. Vì thế mà có người dễ chữa, có người chữa khó hơn, có người thậm chí chữa không khỏi..

Với các bệnh mạn tính không lây cũng vậy, bệnh tăng huyết áp, tiểu đường… chẳng hạn, có thể nói bệnh thì có một mà người bệnh thì ít nhất có hai: một người thì tìm đủ mọi cách tiêu diệt bệnh, nghĩ rằng phải diệt hết bệnh thì mới có sức khỏe, nhưng vì là bệnh mạn tính, kinh niên, nên đành phải khổ đau, thất vọng dài dài, lệ thuộc vào thầy vào thuốc; trong khi người kia thì tìm cách “tuỳ thuận chúng sanh” với bệnh, chấp nhận nó, kiểm soát nó, sống chung hòa bình với nó, để “hai bên cùng có lợi”, quan tâm tới chất lượng cuộc sống của chính mình, chủ động thay đổi hành vi, lối sống để nâng cao sức khỏe của mình, hợp tác tốt với thầy thuốc, bệnh hoạn nhờ đó mà cũng “dễ thương” hơn. Nhà văn Mai Thảo có bài thơ Dỗ bệnh rất hay:

(…)

Bệnh ở trong người thành bệnh bạn

Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân

Gối tay lên bệnh nằm thanh thản

Thành một đôi ta rất đá vàng.

 

Người thầy thuốc ngày nay không chỉ quan tâm đến bệnh mà còn phải quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để cuộc sống họ có ý nghĩa, có hạnh phúc ở một mức độ cao nhất có thể được là vậy.

“Chất lượng cuộc sống” đặt trọng tâm trên cảm nhận chủ quan của người bệnh, chớ không phải  dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy móc xét nghiệm!

Cơ thể con người có thể tự sinh các thứ Hormones hạnh phúc: Dopamin, Seretonin, Endorphines, Oxytocine là do cách sống của ta.

Anh học được gì từ các bệnh nhân của anh?

Học được nhiều chớ! Bác sĩ có thể biết được phần nào “bệnh”của người bệnh qua triệu chứng, qua bệnh sử, qua xét nghiệm này nọ, nhưng chính người bệnh mới biết “sức khoẻ” của họ. Bởi sức khoẻ, như định nghĩa là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái về thể chất, tâm thần và xã hội chớ không phải chỉ là không có bệnh tật. Mà sự “sảng khoái” của họ thì làm sao bác sĩ biết được? Còn về chuyện mối tương giao, tương tác trong gia đinh, xã hội và cả đời sống của họ thì càng không thể biết. Thậm chí nhiều khi bác sĩ vô tình mà thành hù doạ bệnh nhân, làm họ suy sụp, lo lắng và sợ hãi, thậm chí từ đó mà lệ thuộc vào thầy vào thuốc. Do đó, mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân phải được dạy rất kỹ ở trường y về Y đức, chẳng hạn như: 1.Trước hết không gây hại (primum non nocere);  2.Tôn trọng sự tự chủ của người bệnh; 3.Không kỳ thị, phân biệt đối xử v.v…

Con người có thể đạt được sự bình an trong tâm hồn dù vẫn còn nhiều đam mê không?

Vấn đề là “đam mê”cái gì? Đam mê, khao khát, muốn gồm thâu lục quốc,  nhất thống giang hồ, muôn năm trường trị, trường sanh bất tử … thì dù xây bao nhiêu cái vạn lý trường thành cũng công cốc.  Phật khuyên “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý” là đủ. Việc ác không làm. Việc thiện thì làm. Tự mình làm cho tâm ý mình an tịnh. Lúc đó, ta nhìn thấy các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên sinh, thực tướng vô tướng thì thoát.

 “Buông bỏ” là cụm từ gần đây được nói đến khá nhiều. Theo anh, “buông bỏ”  là gì? Có khác gì với “vô cảm” không?

“Buông bỏ” là  Xả, là không còn dính mắc. Hai ông Tỳ kheo trên đường về chùa,  vừa đến bờ sông thì thấy một cô gái sắp chết đuối. Một ông lao xuống nước cứu cô gái, cõng cô vào bờ. Trên đường về, vị tỳ kheo thứ hai cằn nhằn trách móc mãi chuyện Tỳ kheo mà dám phạm giới.  Vị tu sĩ trẻ trả lời đệ đã đặt cô ấy xuống lâu rồi sao sư huynh vẫn cứ còn cõng cô ấy đến tận cổng chùa vậy hử?

“Buông bỏ” không vô cảm. Trái lại còn quả cảm, đa cảm nữa! Có thể nói Buông xả… chỉ là không bị dính mắc, trói buộc, mà đã từ bỏ tham ái, chấp thủ.. Buông Xả là một trong “Tứ vô lượng tâm” (Từ bi hỷ xả). Buông xả không phải là từ bỏ mọi thứ, trốn tránh trách nhiệm, mà là để tâm trí được trở nên tự do và thanh thản. Nhờ đó mà sáng suốt, tỉnh thức hơn.

Có khi nào anh mất niềm tin vào con người không? Nếu có, anh đã làm gì để tìm lại nó?

Không có niềm tin vào con người thì còn biết tin ai? Đã làm gì ư? Im lặng. Rồi ngẫm lại mình.

 Vậy bài học khó nhất trong yêu thương là gì?

Nhiều gia đình kêu là rất thương yêu nhau mà thường cắn đắng, phiền trách, ghét bỏ, thậm chí…  oán hận nhau?  Bài học khó nhất trong yêu thương là gì ư? Chính là Từ Bi Hỷ Xả. Hãy lấy một thí dụ:

Khi một bà mẹ mang thai đứa con trong lòng, một tình thương vô bờ bến đã tràn vào tâm hồn bà, một tình thương vô điều kiện,  sẵn sàng chấp nhận, hy sinh, để bảo vệ đứa con, sẵn sàng làm mọi thứ tốt lành cho đứa con, mỉm cười với nó, nhẹ nhàng với nó, hãnh diện vì nó… Có phải là Từ không?

Rồi khi con bi bô, chạy nhảy chơi đùa, u đầu sứt trán, tróc vảy trầy da , cha mẹ nào cũng đau cái đau của con,  đau còn hơn con,  muốn đau thay cho con mà không được, quan tâm, chăm sóc, làm giảm đau,… Có phải là Bi không?

Rồi con lớn lên, đi học, lớp này lớp khác,  đạt thành tich này thành tích khác mẹ nào chẳng hân hoan sung sướng nhìn con, chia sẻ cùng con nỗi mừng vui, không hề có chút lòng ganh tị ! Vui cái vui của con như của chính mình. Có phải là Hỷ không?

Rồi khi con lớn khôn, ra trường, có sự nghiệp, người làm cha mẹ nào cũng cảm nhận đựơc sự bình an, hạnh phúc, đã làm hết những gì cần làm cho con với tấm lòng rộng mở. Có phải là Xả không?

Nếu có thể gởi cho người trẻ một lời khuyên, anh sẽ nói gì?

Hãy quay về “nương tựa chính mình” và thực hành Giới Định Huệ. Hãy bắt đầu từ 5 Giới: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không nói dối, Không tà dâm và Không nghiện ngập. Chừng đó, giữ được là đã có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Làm nền móng cho cuộc sống An vui cho mình và cho người, cho xã hội vậy.

 

(ĐHN)

Saigon, 22.11.2025

 

 

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Thầy thuốc và bệnh nhân

Lương Thư Trung (Hai Trầu): TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “CHUYỆN HỒI ĐÓ” (ĐHN)

14/11/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

TUỔI GIÀ THỬ ĐỌC “CHUYỆN HỒI ĐÓ”

CỦA BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

Ghi chú: Anh Hai Trầu (Lương Thư Trung), tác giả Lá thư từ Kinh Xáng, Mùa màng ngày cũ, Bến bờ còn lại... là những tác phẩm đặc sắc về đời sống Nam Bộ thuở xưa, tự xưng mình là “Người đọc nhà quê già miệt ruộng Lấp Vò”, vừa gởi tôi bài này, thiệt ra là những trích đoạn anh tâm đắc khi đọc Chuyện Hồi Đó của tôi (Phanbook, 2025).

Anh Hai Trầu năm nay mới lên 84, thua tôi vài tuổi, vẫn luôn tự coi mình là người già khú đế… nhưng anh vẫn còn trẻ lắm, chịu đọc chịu viết lắm, rất đáng phục.

Bài gọi là “đọc” này chỉ ghi lại vài trang anh thích thú và chấm phá vài nét bình luận rất dễ thương…

Thân mến,

ĐHN

…………………………………………………..

Thưa bạn,

 

Dà, được biết cuốn sách này rất dày nhưng khi in thì nhà in rút gọn chỉ còn lại gần 500 trg.

Sách gồm bảy chương:

Chương I MỘT CHÚT TÔI

Chương II NGHỀ và NGHIỆP

Chương III DẠY ĐỂ HỌC

Chương IV ĐI ĐỂ HỌC

Chương V CHÚT VĂN CHƯƠNG CHỮ NGHĨA

Chương VI NHỮNG GẦN GŨI & THÂN THIẾT

Chương VII CON ĐƯỜNG AN LẠC

 

 

Dà, thưa bạn, tuổi tôi năm nay cũng tạm gọi là “già khú đế” rồi vì nhớ hồi tụi tôi còn con nít thì các chú các bác ở quê tôi mà ở vào tuổi chừng năm chục có hơn thì trong giao tiếp hằng ngày bà con đã được thỉnh lên ngồi bàn dài giữa nhà mỗi khi có đám tiệc như cưới hỏi hoặc giỗ chạp rồi! Huống hồ gì ngày nay tôi cũng ở ngoài tám chục thì không gọi là già thì gọi là gì? Nhưng có điều đọc “Chuyện Hồi Đó” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc xuất bản tháng ba năm 2025, theo tôi là thú vị nhứt vì trong đó có những điều mà tác giả ghi lại nó xảy ra cùng thời với thế hệ của tôi mới lớn nên có nhiều chi tiết khá thích thú mà hồi trước đó, lúc mình còn nhỏ không được nghe ai nói và chính mình cũng không hế biết nữa. Chẳng hạn như về việc thi vô trường Y Khoa Đại Học Đường Sài Gòn với điều kiện và thể thức thi như thế nào, làm sao mình biết được vì hồi đó ít ai dám thi vô mấy trường khó ăn này, nhứt là học trò tỉnh lẻ như tụi tôi làm sao thi đậu vô trường danh giá này cho được; mà nếu có may mắn được đậu chăng nữa thì lấy tiền đâu lên Sài Gòn ăn ở để học ròng rã tới bảy năm trới! Do vậy, mà nghe tác giả kể mình mới mê:

 

“Năm 1962, tôi thi đậu vào Dự bị Y khoa (APM) Đại học Y khoa Sài Gòn. Đây là khóa thi APM đầu tiên, trước đó, chỉ cần đậu bằng PCB hoặc SPCN bên Đại học khoa học thì có thể vào thẳng y khoa. Hồi đó y khoa học bảy năm, gồm một năm Dự bị (APM) – học tại Đại học Khoa học – cuối năm nếu đậu thì học tiếp sáu năm nữa ở Y khoa Đại học đường Sài Gòn, đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần, ra trường với một luận án Tiến sĩ Y khoa Quốc gia, hay thường gọi là “Bác sĩ”. Thi vào APM không dễ chút nào! Tỷ lệ đậu chỉ vào khoảng 10%. Tôi còn nhớ lúc đó thi APM có các môn lý, hóa, sinh, sinh ngữ và đặc biệt có thi môn “kiến thức tổng quát” với 20 câu hỏi: Thủ đô Brazil là gì? Ai là ông tổ y khoa thế giới? Ai là ông tổ y khoa Việt Nam? Người thầy thuốc nổi tiếng thời Tam Quốc tên gì? Người thầy thuốc nổi tiếng thời Xuân Thu tên gì?… và… Giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký? Giá than bao nhiêu một ký? Nhờ hồi nhỏ đọc cả bụng truyện Tàu nên tôi không lạ Hoa Đà, Biển Thước, lại nhờ ở trọ ăn cơm tháng trong xóm nghèo Bàn Cờ nên không lạ giá gạo giá than! Vậy là đậu, đậu khá cao, dù là dân tỉnh lẻ lên Sài Gòn “du học”. Khi vào năm thứ nhất y khoa thì ấn tượng là buổi giáo sư khoa trưởng, Bác sĩ Phạm Biểu Tâm gặp gỡ với các tân sinh viên. Thầy nói: “Y khoa là một nghề cao quý nếu ta muốn cao quý, cũng là một nghề thấp hèn nếu ta muốn thấp hèn. Bác sĩ là một sinh viên y khoa suốt đời. Trong khi hành nghề khó tránh khỏi đôi lúc ân hận nhưng đừng bao giờ để phải hối hận”. Những lời thầy nói từ ngày đó vẫn được lứa học trò chúng tôi nhắc lại trong những buổi họp mặt đồng khóa hằng năm.

Tại Mỹ, Canada và các nước phát triển hiện nay, đa số các trường y khoa đào tạo bác sĩ sau cử nhân. Thí sinh buộc phải có chứng chỉ MCAT (Medical College Admission Test) cùng một số điều kiện khác như điểm học lực, giấy giới thiệu, năng khiếu hoạt động ngọai khóa (thể thao, văn nghệ…) và qua một cuộc phỏng vấn sàng lọc. MCAT là một cuộc thi tổng hợp, gồm 4 phần: vật lý và hóa vô cơ, sinh học và hóa hữu cơ; một trắc nghiệm nhằm đánh giá khả năng suy luận, giải quyết tình huống của thí sinh; và một bài luận văn để đánh giá kỹ năng viết, bình luận, nhận định về một hoặc hai chủ đề cho sẵn. MCAT như vậy không chỉ nhằm để khảo sát kiến thức các khoa học liên quan đến ngành y mà đặc biệt chú trọng đến các năng lực khác của người thầy thuốc tương lai.

Tại Singapore, ngoài hệ đào tạo bác sĩ sau cử nhân đòi hỏi phải có MCAT như trên thì hệ đào tạo sau phổ thông (Tú tài) cũng sàng lọc đầu vào rất chặt chẽ. Không chỉ dựa vào học lực hàn lâm, điểm của các môn sinh học, vật lý, hóa học mà còn xem xét nhiều khía cạnh khác. Điểm của ba môn khoa học căn bản trên dù cao cũng không được coi là ưu tiên. Theo họ, nghề y là một nghề đặc biệt, muốn đào tạo người thầy thuốc vừa có năng lực chuyên môn vừa có lòng nhân ái thì điều kiện tuyển chọn cũng phải đặc biệt. Tại Singapore, năm 2007 chẳng hạn, điều kiện tuyển chọn như sau: Ngoài các môn sinh, lý, hóa phải đạt điểm A, thí sinh phải qua hai đợt phỏng vấn, một của Hội đồng khoa nhà trường và một của nhóm bác sĩ, điều dưỡng, sinh viên đàn anh. Đây quả là

một điểm lý thú trong tuyển sinh. Phỏng vấn viên được chọn lựa, tập huấn kỹ để cuộc phỏng vấn trung thực và chất lượng. Nếu thí sinh là người quen thì phỏng vấn viên phải từ chối để chọn người khác. Trước đó thí sinh phải nộp một bộ hồ sơ gồm hai giấy giới thiệu, bản cam kết, một lý lịch hoạt động ngoại khóa. Hồ sơ này sẽ được nghiên cứu kỹ trước khi phỏng vấn. Thí sinh còn phải viết luận văn về một đề tài cho ngay tại chỗ trong vòng 45 phút để đánh giá trình độ nhận thức, kỹ năng viết của họ.

Từ nhiều năm qua, các trường y khoa của nước ta từ Bắc chí Nam thi tuyển sinh chỉ dựa vào một kỳ thi có 3 môn là toán, hóa, sinh. Hai môn hóa và sinh “ai cũng như ai” nên chỉ hơn thua nhau chủ yếu ở môn toán. Như vậy, có thể nói chỉ những ai giỏi toán mới dễ đậu vào y khoa. Đây quả là một nghịch lý đối với một ngành học đặc biệt đòi hỏi nhiều đức tính khác ngoài khả năng suy luận toán học.

Có lẽ đã đến lúc coi lại “đầu vào” khi tuyển sinh đào tạo người thầy thuốc tương lai, nhất là vào thời buổi “hội nhập” như hiện nay chăng?

 

Niên khóa Y khoa đầu 1946-1947 chỉ có 12 người cho tất cả các lớp. Niên khóa 1947-1948 có 32 người. Niên khóa 1948-1949 tăng lên tới trên 80 người. Vào thập niên 1970 Trường Y khoa có 1.400 sinh viên theo học và mỗi năm cho ra trường hơn 200 người. Số sinh viên nộp đơn dự tuyển là hơn 5.000 để chiếm 200 chỗ nhập học mỗi năm.

Thời đó ở Việt Nam cũng như bên Pháp, muốn đậu bằng y khoa bác sĩ phải đậu xong hai phần Tú tài (I và II), qua một năm đầu tiên tại Đại học Khoa Học và sáu năm y khoa. Từ 1954 đến 1962, muốn vào y khoa phải có chứng chỉ PCB (Physique – Chimie – Biologie) rồi ghi danh vào học. Từ 1962 đến 1969, nhà trường tuyển sinh từ Tú Tài 2, sau đó gởi sang Đại học Khoa học học chứng chỉ APM (Année Pré-Medicine, Dự bị Y khoa).

Văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia được cấp phát sau khi bảo vệ thành công luận án trước hội đồng do khoa trưởng bổ nhiệm.

Theo tài liệu của GS Nguyễn Đức Nguyên, tổng số luận án được trình và chấp thuận tại Y khoa Đại học đường Sài Gòn từ năm 1947 cho tới 1972 là 1.779 luận án. Số luận án từ 1972 tới 1975 là bao nhiêu không rõ vì không có ghi chép trong tài liệu nào. Tuy nhiên với sĩ số 200 người một lớp, ta có thể ước tính là có vào khoảng trên dưới 600 luận án đã được trình trong thời kỳ đó. Như vậy, tổng số luận án ra trường của Y khoa Đại học đường Sài Gòn từ 1947 cho tới 1975 là vào khoảng 2.380 luận án.”

 

Phần hấp dẫn tiếp theo là các chương trả lời phỏng vấn của nhiều người, đặc biệt tôi thích bài phỏng vấn của độc giả về việc trình luận án Tiến sĩ:

Hỏi: Kính thưa Bác sĩ, tôi năm nay cũng đã 64 tuổi. Qua diễn đàn y khoa tôi được biết Bác sĩ đã tốt nghiệp khá lâu trước 1975. Nhờ Bác sĩ vui lòng giải đáp thắc mắc sau đây của tôi: Khoảng những năm 1965 đến năm 1974, những sinh viên y khoa năm cuối đã trình luận án được chấm đậu thì được cấp văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia và sẽ hành nghề bác sĩ để chữa bệnh.

Thế còn những người không trình luận án thì có được hành nghề bác sĩ để chữa bệnh không? Có được gọi là bác sĩ không? Cám ơn nhiều, chúc Bác sĩ khỏe mạnh.

(Độc giả Khanh, 29/7/2014) 

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trả lời:

Kính chào anh Khanh. Tôi học Y khoa Sài Gòn (thời đó gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn) từ 1962 đến 1969 thì tốt nghiệp. Thời đó học y khoa chương trình bảy năm, ra trường phải thi tốt nghiệp, đậu bốn môn bệnh lý (nội, ngoại, sản, nhi) thì được gọi là bác sĩ và hành nghề bác sĩ, sau khi đã đăng ký vào Y sĩ đoàn và thực hiện đúng Nghĩa vụ luận Y khoa. Sau đó, những ai làm luận án và bảo vệ thành công thì được nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia (Doctorat en Médecine, Diplôme d’Etat). Có nhiều người không làm luận án, có người ba – bốn năm sau mới xong luận án vì là thời chiến, nhiều khó khăn. Tôi trình luận án vào năm 1970, một năm sau khi ra trường, đề tài về bệnh Sốt rét ở trẻ em, hội đồng giám khảo gồm Giáo sư Phan Đình Tuân, Giáo sư Nguyễn Văn Út và Giáo sư Nguyễn Thế Minh, nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia vào năm 1972. Cùng lượt trình luận án với tôi có Bác sĩ Nguyễn Dương, Bác sĩ Nguyễn Kim Hưng…

Xin nói rõ thêm với anh Khanh và các bạn là chữ y sĩ trong “Y sĩ đoàn” ngày xưa có nghĩa là người bác sĩ, người hành nghề y chớ không phải chỉ cho một cấp bậc (y sĩ), thấp hơn bác sĩ như ta biết sau này. Ngoài Y sĩ đoàn còn có Dược sĩ đoàn, Nha sĩ đoàn v.v. Họ quản lý các thành viên bằng luật chuyên ngành, gọi là Nghĩa vụ luận Y khoa (Déontologie médicale), có những điều đảm bảo y đức trong hành nghề như đối với bệnh nhân phải thế nào, đối với đồng nghiệp ra sao, và đối với cộng đồng có nghĩa vụ gì…

Từ năm thứ năm y khoa, sinh viên phải được học rất kỹ để chuẩn bị ra trường. Khi ra trường phải ghi danh vào Y sĩ đoàn mới được mở phòng mạch (phòng khám). Vì cùng trong nghề, họ tổ chức “tự quản” rất tốt để điều chỉnh hành vi người thầy thuốc và đồng thời bảo vệ họ, bảo vệ nghề nghiệp để luôn có được sự tôn trọng của xã hội.

30/7/2014 (trang 64-trang 65)

 

Dá, cái hấp dẫn thứ hai của cuốn “Chuyện Hồi Đó” là các trang sách tác giả trả lời cho bạn đọc trẻ, cho học trò, ví như bài trả lời phỏng vấn của sinh viên Phạm Bảo Hồng:

 

Hỏi: Đọc các bài viết của bác, lúc nào trong cháu cũng cảm thấy một nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác. Bác thường trích dẫn những lời nhạc của Trịnh Công Sơn, những lời thơ của bạn bè bác. Những người thân quen, những mối quan hệ xung quanh có phải là nguồn cảm hứng cho bác?

BS ĐHN: Cảm ơn đã đặt một câu hỏi rất “nhẹ nhàng, man mác” như vậy, khiến tôi cũng lúng túng không biết trả lời sao. Cái “nỗi niềm nhẹ nhàng, man mác” đó – khi đọc những bài viết của tôi – hẳn là một lời khen, cho thấy bài viết đã chia sẻ được những cảm xúc, nghĩ suy cùng người đọc, ít ra trong một cuộc sống đầy bon chen, căng thẳng… hiện nay, không chỉ riêng ta mà cả một thế giới phẳng, toàn cầu hóa! Tôi thường trích dẫn những ca từ của Trịnh Công Sơn, những câu thơ của người này người khác… khi thì Bùi Giáng, khi thì Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… (không phải bạn bè tôi đâu!) chẳng qua vì nó phù hợp với tâm trạng tôi lúc đó, nó tự nhiên đến với tôi chứ không phải do tôi cố ý kiếm tìm. Và, thực ra, với người viết nào thì những mối quan hệ, những người thân quen… bao giờ chẳng là nguồn cảm hứng bất tận?

 

Hỏi: Từ khi nào bác nhận ra trong bác có cả hai con người: một vị thầy thuốc hết lòng yêu nghề, nghiêm túc và một người cầm bút, tâm hồn nghệ sĩ? Bác làm sao để dung hòa hai tính cách trong một con người mình? Có bao giờ hai tính cách này đấu tranh lẫn nhau, buộc bác phải suy nghĩ?

BS ĐHN: Không. Tôi chẳng bao giờ thấy “nó” đấu đá hay tranh giành gì cả. Trái lại, nó cứ quấn quít lấy nhau, bổ sung cho nhau. Giống như đất sét thì phải có nước mới nặn nên hình được. Ai bảo nghệ sĩ không yêu nghề, không nghiêm túc còn thầy thuốc sao lại không thể có tâm hồn bay bổng… nhỉ? Y khoa là một khoa học nhưng cũng là một nghệ thuật mà! Dĩ nhiên khi trả lời y học thì phải hết sức thận trọng, chính xác và phải luôn quan tâm tới góc cạnh tâm lý xã hội của vấn đề chứ không đơn thuần chỉ ở góc độ bệnh lý. Khi làm thơ, viết tùy bút chẳng hạn thì có thể tự cho phép mình bay bổng hơn…

 

Hỏi: Lượng độc giả yêu thương và dõi theo bác gồm mọi lứa tuổi, từ thanh thiếu niên, trung niên và cao niên. Viết cho mỗi lứa tuổi là một cách hành văn khác nhau, phải luôn thay đổi, làm mới cho phù hợp với nội dung. Làm sao bác có thể “phân thân” mình được như vậy? 

BS ĐHN: Thường tôi không viết theo sách vở mà theo trải nghiệm của riêng mình. Như khi viết cho tuổi mới lớn thì vì tôi cũng vừa trải qua tuổi mới lớn; khi viết cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi dạy con thì vì tôi đã có vài ba nhóc tì; viết cho tuổi gió heo may vì tôi đã hườm hườm, còn viết cho tuổi già vì tôi đã bắt đầu thấy mình gần… khú! Tóm lại, phải có kinh nghiệm bản thân rồi mới chia sẻ được chứ phải không? Do vậy, tôi viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” nên bạn đọc của tôi khi đọc thấy có mình trong đó. Mỗi khi viết, tôi thấy mình không phải… viết mà đang trực tiếp được trò chuyện, trao đổi với người đọc của mình.

 

Hỏi: Có bao giờ bác cảm thấy mệt mỏi, như mình không muốn viết nữa, hay những gì viết ra chỉ để “cất cho riêng mình một chút thôi vấn vương gió mây hoài niệm”, không muốn sẻ chia, dù rằng bác đã viết “sẻ chia, ấy chính là hạnh phúc”? Trong trường hợp đó, động lực nào thúc đẩy bác vượt qua giai đoạn ấy?

BS ĐHN: Dĩ nhiên có lúc mệt mỏi chứ. Tôi phụ trách trang mục “Phòng mạch Mực Tím” báo Mực Tím của tuổi mới lớn hằng chục năm trời, mỗi tuần nhận cả đống thư các em gởi về (hồi đó toàn viết tay rất dễ thương). Sau tôi đầu hàng. Phải nhờ một đồng nghiệp trẻ thay thế. Vả lại, càng về sau, các em càng hỏi những điều “trời ơi” tôi không trả lời nổi. Sau đó tôi giữ mục “Thư gởi người bận rộn” trên báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần cũng được vài ba năm, rồi mục “Gia đình vui khỏe” trên báo Phụ nữ TP.HCM cũng được vài năm… Viết báo, với tôi là một cách giữ cho mình một “áp lực” thường xuyên, không để cho mình làm biếng. Nhưng viết hoài cũng oải chứ. Oải quá thì nghỉ. Vậy thôi. Động lực nào ư? Có người đọc là vui rồi. Vả lại, cái nghề thầy thuốc của tôi, mệt cũng phải… làm mà!

 

Hỏi: Dù biết trên đời này không có gì là hoàn hảo, nhìn lại quãng thời gian đã qua, có khi nào bác cảm thấy hối tiếc vì một việc nào đó mà mình chưa hoàn thành trọn vẹn, hoặc kết quả không như ý?

BS ĐHN: Tôi không đặt nhiều kỳ vọng, mục tiêu gì cao vời cho mình cả. Tôi thường lững thững, đôi khi lang thang và chấp nhận mình như mình. Vậy vậy thôi. Ngay từ hồi trẻ, tôi vừa thích “làm bác sĩ” lại thích làm nhà văn, nhà giáo… nên vừa học y khoa lại vừa học văn khoa, vừa học xã hội học ở… 3 trường đại học khác nhau. Tôi “học cho đã” và thấy vui trong việc học. Bây giờ tôi vẫn cứ còn mê học. Có cơ hội thì học. Tôi chủ trương dạy học, viết lách cũng chính là để học. Còn thế nào là “hoàn thành trọn vẹn, kết quả như ý” thì quả thật tôi… không biết.

 

Hỏi: Ngày càng có nhiều cây bút trẻ xuất hiện trên văn đàn, với nội dung tác phẩm na ná nhau về các vấn đề hiện nay trong xã hội (như đồng tính, yêu người đã có gia đình, những bế tắc, sự thất vọng, buồn bã trong cuộc sống dù họ còn khá trẻ), bác nghĩ sao về vấn đề này?

BS ĐHN: Tôi chấp nhận và tôn trọng điều đó. Chính vì “họ còn khá trẻ” nên họ thấy những điều mà tôi không thấy. Thời nào cũng vậy. Có người trẻ và có người già. Họ nhìn, họ thấy, họ nghĩ, họ cảm khác nhau chớ sao. Văn hoá nền cũng khác nhau, môi trường xã hội và thiên nhiên cũng đã thay đổi. Điều đó càng làm phong phú thêm cuộc sống. Các nhà văn trẻ có những vấn đề thời đại của họ. Họ phản ánh nó qua văn chương là điều đáng quý. Quan trọng là cần có giọng điệu riêng, bản sắc riêng của mỗi người. Do vậy họ phải tự đào luyện không ngừng và có một không gian để thể hiện và chia sẻ. Họ cần tự do và cô đơn.

 

Hỏi: Là người hiểu nhiều, đọc nhiều, bác có yêu thích tác giả nào không? Vì sao? Nếu có, cách viết của bác có bị ảnh hưởng bởi họ không? 

BS ĐHN: Tôi đặc biệt quý mến Nguyễn Hiến Lê. Dù không học trực tiếp với ông ngày nào, tôi vẫn coi ông là thầy mình. Cách viết của ông trong sáng, giản dị. Viết từ trải nghiệm, không lý thuyết viển vông. Còn dịch, ông nói phải dịch sao cho người đọc không thấy dấu vết dịch, nghĩa là phải thật thấu hiểu, thật nhuần nhuyễn cả hai nền văn hóa, ngôn ngữ. Ông làm việc nghiêm túc, khắc kỷ, đọc sách lúc nào cũng có cây viết chì trên tay. Ông nói: viết là để học và học là để viết. Muốn “học” một điều gì cho thấu đáo thì hãy “viết” về nó. Tôi cũng thấy vậy. Viết sách hay dạy học… với tôi đều là những cơ hội tốt để học tập, rèn luyện, thể nghiệm, chia sẻ. Tôi cũng đặc biệt thích André Maurois và Lâm Ngữ Đường… Tôi thấy hình như họ hạp với cái tạng của mình. Dĩ nhiên tôi viết theo cách của riêng tôi.

 

Hỏi: Bác có hài lòng với cuộc sống hiện tại? Hạnh phúc vẫn luôn hiện diện xung quanh bác chứ? Bác có thể bật mí những dự định sắp tới của mình? 

BS ĐHN: Tôi cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại, bởi “dĩ vãng đã qua rồi, tương lai thì chưa tới”. Hiện tại là món quà của cuộc sống. Trong tiếng Anh có một từ dễ thương, đó là “present”, cùng lúc có ba nghĩa: hiện tại, sự có mặt, và món quà. Sống trong hiện tại, ở đây và bây giờ, là sống trong hạnh phúc. “Hạnh phúc rất đơn sơ” như một nhà thơ đã nói. Đơn sơ nhưng không dễ thấy biết. Phải khám phá. Nó như một bí mật, chập chờn, khi ẩn khi hiện quanh ta, nên phải biết khám phá. Nhiều khi phải nhìn một cách khác, phải nghe một cách khác, phải nếm ngửi một cách khác… Quyết tâm tìm kiếm nó, lùng sục nó… thì nó biến mất. Nó thường gặp gỡ, vui đùa với trẻ thơ, nên em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh (Trịnh Công Sơn) là vậy.

Sài Gòn, 25/10/2011(trang 95- trang 99)

Phạm Bảo Hồng (thực hiện) 

 

Và đây là bài trả lời vừa khéo, vừa hấp dẫn nữa, tại Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khoẻ, Tp HCM (2010):

 

“Biết tôi sắp thôi làm việc ở trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe TP.HCM sau 25 năm công tác tại đây, các bạn trẻ của Trung tâm đã có sáng kiến tổ chức một buổi giao lưu thân mật giữa “thầy-trò” với nhau vào dịp cuối năm. Chủ đề buổi giao lưu hoàn toàn mở rộng. Các em có thể đặt bất cứ câu hỏi gì về chuyện đời, chuyện nghề, chuyện tình…

Để giúp các em “mạnh dạn” đặt câu hỏi, tôi đề nghị hỏi bằng giấy và nặc danh…

 

Hỏi: Thầy ơi, cho con hỏi ước mơ của thầy bây giờ là gì? 

BS ĐHN: Hơn hai ngàn năm trước, Khổng Phu Tử có lẽ cũng khoảng tuổi thầy bây giờ, một hôm dẫn các đồ đệ đi tắm sông, một đồ đệ hỏi: Thầy ơi, cho con hỏi ước mơ của thầy bây giờ là gì? Khổng Tử cười bảo ước mơ của ta bây giờ là dẫn tụi con đi tắm sông!

Dĩ nhiên thầy không phải là… Khổng Tử, nên ước mơ của thầy là… dẫn tụi con đi chơi núi Thị Vải, ở đó có một con đường đèo đẹp như Đà Lạt, dẫn xuống một cái dốc sâu rồi đi vào khu rừng có một con suối róc rách gọi là Suối Tiên – cẩn thận đó, đừng tắm lâu quá sẽ biến thành trẻ con đó nghe! Quanh đó còn có những ngôi chùa cổ dưới những tàng cây… (Cho con đi với, cho con đi với, nhiều cánh tay đưa lên…).

Dĩ nhiên thầy cũng ước mơ được truyền trao kinh nghiệm sống, kinh nghiệm học tập, kinh nghiệm làm việc cho các bạn trẻ… nếu họ muốn. Thầy ra trường đã hơn 40 năm, làm ở phòng cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn (Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM) 16 năm nên đã tập một thói quen rất chính xác về giờ giấc. Ở phòng cấp cứu nhi, trễ một phút đã có thể gây chết người. Cho nên phải quý từng giây phút. Hôm nay chúng ta đã bắt đầu trễ 10 phút rồi đó. Thầy làm ở cấp cứu ngày nào cũng thấy trẻ con chết, nhiều cái chết rất “vô duyên” vì có thể phòng tránh được. Chẳng qua vì thiếu kiến thức, vì mê tín dị đoan, cho nên thầy tình nguyện về công tác ở Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe này tới nay đã 25 năm! 25 năm, thời gian khá dài đó chứ. Hồi thầy về đây, mẹ QA mới sanh QA vài tháng, mà nay QA đang ngồi đây với chúng ta, làm việc cùng chúng ta rồi đó! Tụi con đang làm trong một ngành thấy như không có gì… hấp dẫn như trong bệnh viện nhưng thật ra có ích cho đời sống, nhằm nâng cao dân trí, làm cho người dân hiểu biết để tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe của mình, giảm bệnh tật và tử vong, nhất là cho trẻ con… Ngành của ta có lợi ích rất lớn mà nhiều khi không thấy hết. Một bài báo có hàng trăm ngàn người đọc, một chương trình truyền hình hàng triệu người xem. Tác động lớn lắm, nên ta phải hết sức thận trọng trong từng thông điệp, không thể coi thường.

 

Hỏi: Thầy ơi, tuổi trẻ của thầy khác gì tuổi trẻ tụi con bây giờ? Theo thầy trong cuộc sống, điều gì là quan trọng đối với thầy? 

BS ĐHN: Tuổi trẻ thời nào cũng giống nhau, cũng đầy nhiệt huyết, năng động, lý tưởng, nhiều hoài bão, ước mơ. Nhưng hình như thời của thầy sống đơn giản hơn, nhiều lý tưởng hơn, lãng mạn nhiều hơn. Con người bây giờ tất bật mà hạnh phúc hiếm hoi, lúc nào cũng căng thẳng, thậm chí trong những tình huống không cần thiết như những va chạm lặt vặt trong mối quan hệ làm việc. Chúng ta biết quá nhiều chuyện xa vời, chuyện trên cung trăng, nhưng bản thân mình thì ít biết, bạn bè xung quanh cũng ít biết nhau vì ta không quan tâm, lơ là. Thử hỏi phòng con đang ngồi làm việc có bao nhiêu cửa sổ, cầu thang lên tầng 1 này có bao nhiêu bậc, chưa chắc con đã biết. Tại sao? Tại không quan tâm. Chúng ta sống bên nhau trong một cơ quan làm việc hằng ngày gặp nhau 7 – 8 giờ mà như xa lạ, không hiểu tâm ý nhau, dễ căng thẳng, thấy ai cũng toàn tính xấu… Thử nhìn một cách khác xem, chẳng hạn lấy giấy ghi ra những… tính tốt của kẻ mà mình không ưa…

Trong cuộc sống, điều quan trọng nhất có lẽ là thấy mình sống có ích, sống hạnh phúc và sống thảnh thơi. Có lúc thầy cũng được mời vào vị trí này khác, nhưng thầy đều từ chối, vì chỉ muốn làm điều mình thích, trong khả năng mình, nhờ vậy mà làm việc gì cũng thấy vui, thấy hăng say. Một người làm việc trong tinh thần bất mãn, không hài lòng với chính mình, căm ghét những người xung quanh hoặc làm việc chỉ vì sợ hãi, vì kiếm sống, vì đồng lương thì rất dễ so đo tính toán, thiếu nhiệt tâm, thiếu sảng khoái… và công việc được giao trở nên một gánh nặng…

 

Hỏi: Thưa thầy, em rất khâm phục sức lao động miệt mài của thầy trong suốt hơn 50 năm qua (em lấy tuổi thầy trừ khoảng gần 20 năm tuổi thơ của thầy để đề ra tuổi nghề). Thầy làm thế nào để có được một sức khỏe dẻo dai, một tinh thần vững chãi cũng như một tâm hồn trẻ trung để sống và làm việc trong bao nhiêu năm như vậy?

BS ĐHN: Thực ra chính hai mươi năm đầu đó mới là bệ phóng, định hướng cho tương lai ta. Thầy sớm mồ côi cha, 12 tuổi vào ở trong chùa với người cô. Cô thầy bị tật hai chân không đi lại được nhưng rất mê đọc truyện, tiểu thuyết. Cô thường bắt thầy đi mướn truyện ở ngoài phố và cấm thầy đọc truyện vì nghĩ con nít đọc truyện không tốt, sợ mê, phải để thì giờ lo học. Nhưng khi đi mướn truyện như vậy thầy tranh thủ đọc dọc đường, có khi ngồi ở gốc cây mà đọc, có khi đang đi trên thuyền qua sông cũng đọc. Hết cuốn mới đem về cho cô. Cũng có lúc trùm mền mà đọc lén nữa! Nhờ vậy thầy ngốn hết truyện Tàu, Tự Lực Văn Đoàn, kiếm hiệp, tiểu thuyết trinh thám, tình cảm… không chừa thứ nào. Nhờ vậy truyện xưa tích cũ, đông tây kim cổ gì cũng biết. Dĩ nhiên sau này thì đọc có chọn lọc, nghiên cứu sâu hơn, nhưng cái tính ham đọc, ham học đã sẵn có. Không ai thành công mà không tự học. Học ở trường không đủ đâu. Thầy thấy thói quen đọc sách rất có lợi cho thanh niên. Phải đọc, vì đó là túi khôn của muôn đời. Đọc các danh gia ngày xưa ta như được sống cùng họ, trò chuyện cùng họ, làm bạn với họ chẳng thú sao? Sau này, thầy đọc sách Nguyễn Hiến Lê, học với ông, nào Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, rồi nào Gương danh nhân, Gương chiến đấu, Gương kiên nhẫn… nó rất cần thiết cho thanh niên. Tóm lại thầy học qua sách nhiều lắm. Bây giờ ít thấy bạn trẻ đọc sách, mê sách. Họ để thì giờ lên mạng, chơi games, đi shopping, ngồi quán cà phê, tán gẫu… nhiều hơn. Sinh viên không đọc sách văn học, học y mà không đọc Cronin, Somerset Maugham, Chekhov, Lỗ Tấn thì uổng quá! Tâm hồn sẽ cằn khô đi và chỉ còn biết kỹ thuật, dễ trở thành máy móc, lạnh lùng, vô cảm. Tụi con thử đọc Liêu trai chí dị, đọc 24 giờ trong đời một người đàn bà xem… hoặc đọc Alexis Zorba, Câu chuyện dòng sông… xem. Dĩ nhiên ta không bỏ qua những sách viết ở thời đại ta. Nhờ đọc, kiến thức ta mới mở rộng, cảm thức nghệ thuật được nâng cao, cuộc sống thêm hạnh phúc, nhưng quan trọng hơn ta hiểu được con người, ta nuôi dưỡng được tình người…

Còn để có một sức khỏe dẻo dai thì phải rèn luyện thôi. Cách đây hơn mười năm, thầy bị một cơn tai biến mạch máu não nặng, mổ cấp cứu, đục sọ, đặt hai ống dẫn lưu. Tưởng đã hết đi hết nói được nữa rồi. Sau mấy ngày nằm liệt giường, khi đi được vài bước lẫm đẫm như em bé, thầy thấy quả là một phép lạ, một hạnh phúc rất tuyệt vời! Khi đứng được trong toilet như mọi người quả là một hạnh phúc lớn. Thầy nhìn vào gương soi, thấy cái đầu trọc lóc… dễ thương của mình và liền lấy viết vẽ mấy tấm hình thú vị! Sau đó thầy nghiền ngẫm thực tập phương pháp thở bụng, thiền… để dần dần hồi phục sức khỏe. Thầy rút kinh nghiệm bản thân và chia sẻ với bạn bè, viết vài cuốn sách như Nghĩ từ trái tim, Như thị, Gươm báu trao tay… Vừa rồi, thầy mới nói chuyện về “Thiền và Sức khỏe” cho các nhà doanh nghiệp trẻ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức, rồi năm kia cũng nói chuyện về đề tài này tại chùa Từ Đàm, rồi ở Nha Trang trong tuần Văn hóa Phật giáo, thỉnh thoảng thầy cũng được mời nói chuyện với các bác sĩ về “quan hệ thầy thuốc bệnh nhân”, với các nhà báo, thầy cô giáo về cách giảm stress trong nghề nghiệp… có khi nói chuyện với phụ huynh học sinh về giáo dục giới tính cho con em v.v. (hôm nào thầy nói về thiền cho T4G một bữa nha thầy!).

Rèn luyện thân thể phải gồm cả việc nghỉ ngơi, ăn uống, thể dục, thiền… một cách toàn diện. Quan trọng là giữ tâm hồn thanh thản. Việc làm có phù hợp, đúng sở thích thì mới làm hăng say, bền bỉ được.

 

Hỏi: Thầy cho con hỏi làm sao để mình tăng tính kỷ luật với bản thân để làm tốt công việc? Vì con biết kẻ thù lớn nhất của đời mình là chính mình… 

BS ĐHN: Phải có ý chí và nghị lực thôi. Nghĩa là cũng phải rèn luyện. Thầy nhớ hồi trẻ mình rèn luyện bằng cách đọc cuốn Bảy bước đến thành công, Rèn nghị lực để lập thân chẳng hạn, rất có ích. Nhưng không chỉ đọc, chỉ học mà phải hành. Có khi phải khắt khe với mình một chút. Nghị lực sẽ tăng tiến dần. Và từ đó mình mới tự tin hơn. Loại sách này ngày nay cũng có rất nhiều. Phải biết chọn lựa để đọc, không thì dễ bị “tẩu hỏa”!

Đừng bao giờ coi mình là kẻ thù của mình. Hãy biết yêu thương mình, cho nó ăn, cho nó ngủ, và dạy dỗ nó. Nó có hư thì đánh nó vài roi, rồi thương nó nhiều hơn. Một người mà không thể từ bi với chính mình thì làm sao có thể từ bi với người khác được?

 

Hỏi: Thầy nghĩ thế nào về tiền tài và danh vọng?

BS ĐHN: Tiền rất cần cho cuộc sống. Nhưng biết đến đâu là đủ thì phải có ý thức, biết tự hạn chế, không chạy theo đồng tiền, nhất là đồng tiền phi nghĩa. Sự giàu có do đồng tiền phi nghĩa không bền vững, gia đình có thể đổ vỡ, con cái hư hỏng nữa. Phải chọn lựa. Kiếm tiền chính đáng, tiêu dùng chính đáng thì sẽ có được hạnh phúc. Người giàu có là người ít nhu cầu chứ không phải nhiều tiền, vung tiền qua cửa sổ. Bây giờ nhiều bạn trẻ ỷ lại cha mẹ, chạy theo hàng hiệu, rượu, thuốc… tốn kém thật đáng tiếc. Danh vọng cũng vậy. Cũng cần thiết, nhưng phải chính đáng, và phải biết dừng lại đúng lúc, lui về đúng lúc. Nếu danh vọng xây trên năng lực thực sự của mình thì là điều đáng mừng. Còn “danh vọng” mà xây trên một cái nền giả tạo rất dễ sụp đổ.

 

Hỏi: Thưa thầy, là thanh niên thế kỷ 21, theo thầy, mỗi buổi sáng / buổi chiều (sau giờ làm việc) điều gì nên nghĩ đầu tiên và cuối cùng trong ngày? Cảm ơn thầy. 

BS ĐHN: Kahlil Gibran có hai câu thơ dễ thương: ”Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta được thêm ngày nữa để yêu thương”. Ngày nữa để yêu thương, thấy chưa, chớ không phải ngày nữa để oán thù, căm giận. Dù ở thế kỷ nào đi nữa, mỗi sớm mai thức dậy cũng nên “cảm ơn đời” đã cho ta một ngày mới, một ngày mới để yêu thương! Dĩ nhiên thanh niên phải rèn luyện thể lực. “Bắp thịt trước đã”, có một cuốn sách như vậy. Thanh niên mà đi đứng co ro, lụm cụm, bụng to, thịt nhão, sáng sáng ngồi đốt thì giờ trong quán cà phê nhả khói mù trời thì thật đáng tiếc. Một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện, nhớ không? Sau đó phải thực hiện cho được những dự định đã vạch ra từ… ngày hôm trước. Dĩ nhiên phải chọn ưu tiên, linh hoạt. Cái nào phải làm, cái nào nên làm. Vui mà làm, thích mà làm. Hòa mình với bạn bè chung quanh. Buổi chiều, buổi tối, là cơ hội học tập thêm. Nhiều thứ cần phải học lắm. Ngoại ngữ, vi tính, kỹ thuật chuyên môn. Rồi học một thứ để nuôi dưỡng tâm hồn: văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, hội họa… ngay cả làm bánh, nấu ăn, cắm hoa… Một giấc ngủ êm đềm sẽ đến thay vì nhậu nhẹt ở quán bia ôm để rồi sáng mai dậy trễ, uể oải và nhìn mọi người với ánh mắt… mang hình viên đạn!

 

Hỏi: Thưa thầy, kinh nghiệm của thầy khi đi nước ngoài, bài học thầy áp dụng vào ngành truyền thông – giáo dục sức khỏe của Việt Nam? 

BS ĐHN: Thầy không có nhiều dịp đi nước ngoài, nên mỗi dịp đều là một cơ hội tốt để được học thêm và rút kinh nghiệm đem về áp dụng những điều hay. Lần nào thầy cũng mang về một lô sách và tài liệu để sử dụng cho ngành mình và kể cả về đào tạo y khoa, như lần dự hội nghị về “Đào tạo chuyên viên phát triển sức khỏe” của WHO tại Ai Cập. Thầy đã tham gia trong nhóm sáng lập Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ thời gian tu nghiệp ở Đại học Harvard, thầy về triển khai hình thành bộ môn Khoa học Hành vi & Giáo dục Sức khỏe cho trường. Lúc tu nghiệp ở CFES, Paris, thầy thấy họ làm nghiên cứu về Giáo dục Sức khỏe rất bài bản, dựa trên đó xây dựng các chương trình can thiệp có hiệu quả; khi về, thầy củng cố thư viện T4G, lập bộ phận tổ chức tư liệu (documentation) và đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học trong lãnh vực giáo dục sức khỏe. Khi đi Ấn Độ dự Hội thảo quốc tế về HIV/AIDS thầy ứng dụng “truyền thông thay đổi hành vi” cho nhiều lớp huấn luyện theo phương pháp giáo dục chủ động, tạo tham gia… Tóm lại, học đối với thầy bao giờ cũng phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì không thể nào “chín” được. Thầy cũng mong các em: đi học, nhất là du học không chỉ để lấy cái bằng cấp về treo, để “hù” thiên hạ…

 mà phải rút ra được bài học gì ứng dụng phù hợp vào hoàn cảnh nước ta với sự sáng tạo riêng của mình. Nhân dịp cũng nói thêm với các em rằng khi tiếp các đoàn chuyên gia quốc tế, đừng thụ động lo đối phó, lo trả lời những câu hỏi của họ đặt ra mà phải chủ động… đặt lại câu hỏi, đưa ra những ý tưởng của mình để tranh luận, từ đó mới có cơ hội học hỏi lẫn nhau…

 

Hỏi: Thưa thầy, trong thời gian 25 năm công tác tại T4G, điều gì làm cho thầy cảm thấy buồn nhất, điều gì làm cho thầy vui nhất? 

BS ĐHN: Vui nhất ấy là cho đến nay, ngành Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe đã trở thành một hệ thống – một mạng lưới rộng khắp trên cả nước, và có những con người thực sự yêu nghề, hết lòng với nghề, thấy được cái “y đạo” của nghề – thực hiện quan điểm phòng bệnh tích cực; vui nhất nữa là hiện nay có nhiều bạn trẻ được học bài bản về lãnh vực này, ngành Y tế Công cộng đã và đang phát triển. Tại T4G, như các em thấy, cũng đã có nhiều cán bộ trẻ xuất thân từ Y tế Công cộng. Còn buồn nhất là trên thực tế, ngành y tế nước ta vẫn lấy “điều trị làm chính”, vì điều trị mới mang lại nhiều tiền, danh vọng. Chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho dự phòng, trong đó có giáo dục sức khỏe, nâng cao sức khỏe. Nhiều cán bộ giỏi bỏ cuộc vì đời sống khó khăn, chạy về bệnh viện tư, về kỹ thuật cao hoặc làm dự án kiếm tiền nhiều hơn…

 

Hỏi: Trong suốt quãng đường thành công, thầy có mấy lần “vấp ngã” chưa ạ? 

BS ĐHN: Thầy không biết thành công hay vấp ngã là sao? Nhưng hình như sự thành công nào cũng là kết quả của 95% cố gắng và 5% may mắn, còn vấp ngã thì cũng là một cơ hội. Thầy được đi học rất trễ. Cha mất sớm, tản cư trên rừng về, thầy được người cậu dẫn vào cho học lớp Ba một trường tư, vài tháng sau, thầy giáo cho lên lớp Nhì, rồi lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) ngay sau đó vì cho rằng đủ “năng lực”. Học trong chùa. Cuối năm thi đậu Tiểu học hạng cao, rồi đậu vào Đệ thất (lớp 6), được học bổng.

Đùng cái bỏ học, về quê, bán hàng xén ở chợ Lagi. Thất học ba năm. Khi tỉnh mới có lớp Đệ thất đầu tiên đặt trong một nhà thờ, thầy lại cắp sách đến trường. Thầy tổ chức tự học, học nhảy hai ba lớp liền, đậu Tú tài 1 và 2 rồi đậu vào y khoa. Miệt mài bảy năm (thời đó y khoa học bảy năm) ra trường với bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia… Vì thích ngành Nhi nên thầy làm nội trú ủy nhiệm vài năm liền ở Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn, nhờ vậy mà có thể nói là một bác sĩ có kinh nghiệm về Nhi khoa. Thầy có cảm tưởng trong cái rủi có cái may, trong cái vấp ngã có cái mầm của sự… thành công. Vấp ngã, mình càng rèn chí, quyết tâm tự học, và may thay, đức tính này vẫn còn tới bây giờ. Tự học rất sướng các em ạ, vì học cho mình, không ai ép buộc mình cả. Nhưng tự học cũng phải có phương pháp. Thầy rất biết ơn ông Nguyễn Hiến Lê, tác giả cuốn Tự học để thành công. Thầy thấy những người thành công nói chung đều nhờ tự học. Abraham Lincoln, Benjamin Franklin… chẳng hạn, cũng là những tấm gương tự học. Ông Châu Trí quét lá đa ở chùa mà đỗ giải nguyên… Các sinh viên đậu thủ khoa ở các trường đại học bây giờ thường cũng là những em ở nhà quê tự học là chính, không học thêm, không kèm cặp gì cả! Thầy thích Nguyễn Công Trứ, lúc làm quan to, lúc làm lính thú đều… vui cả. Ông là một nhà nho khoáng đạt, một thi sĩ đích thực. Thầy cũng thích Tô Đông Pha nữa…

 

Hỏi: Suốt một đời sống và làm nghề, thầy còn đọng lại điều gì? 

BS ĐHN: Thầy sống theo một triết lý… thảnh thơi, có bạn bảo là hồn nhiên, ngây thơ nữa. Làm việc hơi tùy hứng, linh hoạt mà không theo một kế hoạch cứng ngắc… Bút hiệu từ nhỏ của thầy là Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ) nhưng các bạn bảo nghe dễ thương vì có vẻ gì đó ngô nghê! Người cậu có ảnh hưởng nhiều nhất tới thầy có bút hiệu là Nguiễn Ngu Í. Ông tự cho mình luôn có những ý ngu! Là một bác sĩ Nhi khoa khá có tiếng tăm, bệnh nhân đông, muốn làm giàu không khó, nhưng thầy chỉ làm… vừa đủ. Vẫn luôn nhớ câu thơ của Nguyễn Công Trứ: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc / Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn! (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ cho đủ? / Biết nhàn thì nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn?) Nhỏ thì thích dấn thân, khi có tuổi thì thích an nhàn và về… già thì say mê nghiên cứu Phật học để ứng dụng vào đời sống, vào nghề nghiệp! Lúc còn là sinh viên y khoa, thầy đồng thời ghi danh học thêm Xã hội học và Văn khoa. Học nhiều mới đã, mới sướng! Bây giờ có tuổi cũng không biết mình già, vẫn còn ham học lắm. Chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn đàn em là mơ ước của thầy… vì đó cũng là cơ hội để học.

“Còn đọng lại điều gì” ư? Có lẽ là nỗi băn khoăn về sự phát triển của ngành Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe (health education), Nâng cao sức khỏe (health promotion) của mình. Ngoài chuyện lãnh đạo chưa nhận rõ vai trò của nó trong thời đại “nhiễu loạn” thông tin, gây hại sức khỏe cho con người, dẫn đến bệnh tật triền miên và phải liên tục mở bệnh viện để đáp ứng… còn là vấn đề nhân sự của ngành, vì không chỉ cần có kỹ năng, có học thuật mà còn cần đến tấm lòng, vì đó là con đường của y đức và y đạo.

 

Hỏi: Rung động đầu đời của thầy lúc thầy bao nhiêu tuổi?

BS ĐHN: Ồ, cái này nói nhỏ thôi nha! Thầy nhớ không lầm thì “rung động đầu đời” của thầy hồi đó, lúc thầy… tám tuổi! (Nhiều tiếng ồ, nhưng có một tiếng: hơi trễ đó thầy!). Quả là có hơi trễ. Con gái út của thầy nói nó… rung động đầu đời lúc ba tuổi! Thực ra tám tuổi là tuổi có hoạt động của kích thích tố sinh dục rồi, phân biệt trai gái rồi. Thầy nhớ hồi đó tản cư, học trong rừng, thầy giáo rất dữ, đánh học trò bằng roi mây, bắt quỳ xơ mít. Thầy giáo có thói quen bắt đứa học trò có lỗi nằm sấp trên bục, rồi kêu một học trò khác lên đánh ba roi. Có lần thầy được kêu lên đánh bạn như vậy, thầy đánh ba roi nhẹ hều nên bị bắt nằm xuống cho bạn đánh lại. Có lần thầy còn bị bắt quỳ xơ mít vì dám bắt chước thầy giáo gõ thước lên bàn để các bạn im lặng lúc thầy giáo đến trễ.

Gần trường có một con suối sâu. Trưa nào học trò cũng kéo nhau đi tắm suối. Trai gái đều tắm trần truồng cả. Riêng thầy, khi đang tắm mà trông thấy một cô bạn – chỉ cô bạn đó mà thôi – xuất hiện ở bờ suối thì thầy vội vàng chạy lên mặc quần áo lại ngay. Mắc cỡ! Cũng lạ! (cười ồ!). Nhưng phải nói là đến 12 tuổi thầy mới thực sự “mê” một cô trong lớp… Đó đúng là mối tình đầu. Trong một vài bài thơ của thầy còn nhắc đến. Cái thời đó, ở một thành phố nhỏ, học trò còn đi học với guốc xuồng lộp cộp trên vệ đường lót gạch… Nhà cô có tiệm chụp hình, trong tủ có chưng tấm hình cô ấy. Ngày nào thầy cũng phải qua lại ngắm một cái, mặc dù đã gặp nhau trong lớp. Lúc đi ngang nhà phải xách guốc lên, sợ lộp cộp cô bắt gặp! Khi thầy phải bỏ học, theo gia đình về quê, và bị thất học mất ba năm, mọi chuyện đã khác. Mấy năm sau, có dịp gặp lại, thầy viết trong một bài thơ: Em đến nắng vàng theo tóc xanh / Tôi nghe xa vắng vạn ân tình / Có gì vương víu trong hơi thở / Ơi những ngày xưa của chúng mình… Thơ xưa quá! Đã nửa thế kỷ rồi còn gì!

 

Hỏi: Thầy ơi, thầy tâm sự tiếp chuyện tình của thầy…

BS ĐHN: Thầy nghĩ tất cả đều có duyên số. Thầy gặp cô – vợ thầy – trong một tình huống cũng ngộ. Bạn thầy có người yêu tự nguyện làm em nuôi của thầy. Một hôm thầy theo bạn đến nhà cô chơi thấy cô đang ngóng một ai đó ở ngoài cửa. Thầy hỏi, cô nói “đợi má về”. Một lúc “má” về tới… Thì ra là một cô gái xinh xắn, có vẻ hiền lành, là chị ruột của cô, tại khó tánh nên các em trong nhà gọi là “má”… Thầy bị “choáng” và nhận ra đây là người mình tìm kiếm bấy lâu. (Thầy có gọi cô bằng má không vậy thầy?) Có, “Má sắp nhỏ”.

 

Hỏi: Thầy ơi, khi nào thầy sẽ hết yêu?

BS ĐHN: Không biết. Hình như người nào đã bắt đầu yêu hồi 8 tuổi thì sẽ hết yêu vào tuổi 88 thì phải?

(…)

2010

(trang 100 – trang 114)

 

Thay lời kết:

Trước tiên xin chân thành cảm ơn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tác giả cuốn “Chuyện Hồi Đó”cho người đọc già khú đế như tôi có dịp biết nhiều điều mà thế hệ tôi hồi còn nhỏ (chỉ nhỏ hơn tác giả vài ba tuổi) nhưng thú thật chúng tôi, những học trò tỉnh lẻ tuốt dưới Lấp Vò này, không biết chút gì về ngành y khoa mà tác giả đã học.

Thêm nữa, qua các cuộc trò chuyện với những câu hỏi rất khó của bạn đọc, của những người trẻ, của học trò nhưng tác giả đã thực lòng bày tỏ hết nỗi lòng của mình qua những câu trả lời rất rõ ràng mạch lạc khó có thể nào rõ ràng hơn và hay hơn thế được và có lẽ chính vì thế mà cuốn sách này vô cùng bổ ích và hấp dẫn là do vậy!

Hai Trầu

(Người đọc nhà quê già miệt ruộng Lấp Vò)

Houston, ngày 12 tháng 11 năm 2025.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Một vài góp ý về Video Podcasts trên dohongngoc com.

18/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi

Một vài góp ý về Video Podcasts trên dohongngoc com.

 

Mai Trần

Trưa nay trong giờ lunch ở sở em đã xem / nghe thử. Cảm phục Phùng Minh Bảo đã dùng AI để thực hiện 2 người trò chuyện với nội dung từ sách của anh Ngọc. Có lý lắm nhất là cho những người lớn tuổi thích nghe hơn đọc. Bữa nào anh nói PMB thử với giọng nói miền Nam coi ra sao.

Cảm ơn anh Ngọc đã giới thiệu.

Minhle NT.

Họ làm bằng AI phải không anh? Em thấy cũng được, cho đại chúng phổ thông. Còn cho bạn đọc đã quen với style của anh thì… chưa quen lắm. Cách chọn giọng Bắc và tất nhiên hơi cứng rồi!

Thảo Nhiên ĐL.

Thật sự bất ngờ khi lắng nghe, theo dõi… Đây là clip được tạo nên từ AI dựa trên nội dung của anh viết đúng kkhông? Có lẽ tại quen nghe tác giả trao đổi thật rồi nên em thấy nó “máy móc” thế nào í…!  Thế hệ trẻ có thể sẽ nghĩ thẳng luôn rằng phần nội dung cũng do AI viết luôn đó Anh!

GS VVT

Đơn điệu. Monotone. Phương ngữ phương Bắc thích hạp với các em cháu, không thấy văn khí, văn phong của anh… thiếu một chất… già sướng!

Hai Trầu LTT

Dà, hai video này rất hay và hợp với tuổi già.

Trí PHDS

Dạ, em xin có một vài nhân xét sau khi nghe video podcast “Già sao cho sướng?”:
– Đúng chuẩn video podcast: hai MC trò chuyện, ngồi đối thoại, chia sẻ quan điểm.
– Nội dung trò chuyện rất gần gũi với đời thường và rất hữu ích cho mọi người, không chỉ cho người cao tuổi. Nó có phân đoạn rõ ràng bao gồm phần giới thiệu – phần chính – phần kết.
– Có phần tương tác với khán giả như đặt câu hỏi gợi mở ở phần cuối video. Tôi nghĩ, nếu có phản hồi thì MC sẽ trích dẫn phản hồi của khán giả trong tập sau.
– Âm thanh có chất lượng rõ ràng. Hình ảnh MC rất sáng, biểu cảm tốt tạo được sự gần gũi.
– Phụ đề có vài chỗ sai lỗi chính tả, dấu ngắt câu chưa rõ lắm. Video podcast không chỉ để nghe, mà còn để xem nên phần phụ đề cũng rất quan trọng để giữ sự tập trung của khán giả.

DS HTrinh (Bỉ)

Em thấy hình thức này hay lắm, phù hợp, thuận lợi, dễ tiếp cận cho người không có điều kiện mua sách, đọc sách…, phù hợp cho nhiều đối tượng, nhất là người già. Nội dung sách được chuyển tải sinh động hơn qua sự dẫn dắt, tương tác, nhấn nhá của 2 nhân vật nam nữ . Giọng nói tiếng Bắc chuẩn, rõ ràng, dễ nghe, diễn cảm..Nếu có thêm phiên bản MC tiếng miền Nam chắc sẽ phù hợp cho người quen nghe giọng miền Nam… Có vài lỗi câu chữ chạy chữ trên màn hình theo lời nói nếu chỉnh cho chính xác được thì rất tốt, 10 điểm.

……………………………………………………………………………………….

 

Thăm Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh, (Vũng Tàu, tháng 5/2025)

Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh, hai vợ chồng người bạn trẻ không quen biết, năm 2009, bế con đến thăm tôi và nói giúp tôi làm trang Web dohongngoccom. Đã 16 năm qua. Đứa bé lúc đó còn đang bú mẹ, thì nay đã sắp vào đại học. Nhờ trang Web này mà tôi lưu trữ được các bài viết, các tương tác cùng bè bạn, độc giả khắp nơi, đã  là một trong những nguồn tư liệu giúp tôi viết “Chuyện Hồi Đó”.

Mới đây, hình như thấy tôi… già quá rồi, mà các bạn bè cùng lứa tôi cũng vậy, PMB muốn giúp tôi “làm mới” các bài viết của tôi qua những bình phẩm, tương tác của 2 Avatar dễ thương, thành những video podcast sinh động cho người cao tuổi. Tôi mù tịt công nghệ thông tin. Nghe AI mới đầu cũng ngại. Nhưng thôi, cứ thử xem sao. Lâu nay tôi cũng được nhiều nơi mời làm podcast nhưng luôn từ chối. Già rồi. Nay video podcast thì không cần phải xuất hiện, cũng hay.

ĐHN

(18.9.2015)

Đây là những trao đổi giữa chúng tôi (từ 15.9.2025)

Phùng Minh Bảo (PMB)

Con mới tạo video podcast từ một bài viết của chú. Chú coi thử nhe.

ĐHN: Hay đó con. 2 nhân vật này là ai vậy?

PMB: là Avatar do AI tạo ra… Con định lấy một số bài viết của chú, chuyển thể thành video podcast giúp người thích nhìn và nghe cũng như thêm góc nhìn khác về bài viết… để  làm rõ thêm… chớ không phải là tóm tắt. Bài gốc đọc chỉ 5-7 phút, video 17 phút, thảo luận, chia sẻ thêm những góc nhìn về bài viết của chú…

ĐHN: Chú hiểu và cũng nghĩ như con. Chính sự tương tác, thảo luận sâu hơn, rộng hơn về một bài nào đó của chú cũng hay đó. Và có 2 avatar đối thoại trực tiếp cũng sôi nổi hơn. Dĩ nhiên, đối tượng chính của mình là những nguời cao tuổi, đọc trên mạng cũng khó, nghe tiện lợi  hơn. Cảm ơn con.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(18.9.2025)

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định

“TFS phóng sự” Chuyện hồi đó của một vị bác sĩ

12/09/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân thành cám ơn Hoạ sĩ Hà Thảo và nhóm các bạn TFS đã có một “phóng sự” ngắn gọn, súc tích. ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Nghe bác sĩ đầu tiên của Phòng mạch Mực Tím kể ‘Chuyện hồi đó’

26/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Nghe bác sĩ đầu tiên của Phòng mạch Mực Tím kể ‘Chuyện hồi đó’

NAM KHA (Mực Tím)

Chủ nhật, 10/08/2025

Trong cuốn sách mới “Chuyện hồi đó”, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã chia sẻ kỉ niệm của những ngày phụ trách chuyên mục Phòng mạch Mực Tím từ những số báo đầu tiên.

Sáng ngày 10-8, tại Đường sách TP. Hồ Chí Minh, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc – bác sĩ đầu tiên của chuyên mục Phòng mạch Mực Tím đã gặp gỡ độc giả mọi lứa tuổi và giới thiệu cuốn sách mới nhất của mình với tên gọi Chuyện hồi đó.

 

Nghe bác sĩ đầu tiên của Phòng mạch Mực Tím kể 'Chuyện hồi đó'

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ về con đường nghề nghiệp mình đã chọn –

Ảnh: NAM KHA

Bằng giọng văn thủ thỉ, dung dị, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông đã từng đặt chân đến, những người đã từng gặp gỡ và trò chuyện, những điều đã được học và truyền dạy…

Tất cả đều là những kiến thức, trải nghiệm có giá trị truyền động lực và cảm hứng cho độc giả, đặc biệt là giới trẻ đang lựa chọn và theo đuổi đam mê nghề nghiệp.

Trong sách, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhắc đến kỉ niệm những ngày phụ trách chuyên mục Phòng mạch Mực Tím từ số báo đầu tiên.

Nghe bác sĩ đầu tiên của Phòng mạch Mực Tím kể 'Chuyện hồi đó' - Ảnh 3.

Cuốn sách mới của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vừa ra mắt độc giả – Ảnh: PHANBOOK

“Bác nhận được vô số thắc mắc, vô số câu hỏi. Mỗi lần chỉ có thể chọn ra mươi câu để trả lời chung, còn thỉnh thoảng trả lời thư riêng cho các em nữa khi có vấn đề khó nói trên báo. Chẳng bao lâu… thư về gom lại cả bao bố! Thời đó chưa có internet, toàn là thư tay mới dễ thương làm sao!” – Bác nhớ lại.

Bí quyết “chinh phục trái tim” độc giả tuổi mới lớn của bác là luôn viết với sự chân thành và thấu cảm, không “làm văn chương” để bạn đọc có thể thấy mình trong đó, như được trò chuyện, trao đổi trực tiếp.

 

Bài thơ mà bác sĩ đã sáng tác dành tặng báo Mực Tím nhân dịp sinh nhật tuổi 15, năm 2003

Nghe bác sĩ đầu tiên của Phòng mạch Mực Tím kể 'Chuyện hồi đó' - Ảnh 4.

– Ảnh: NVCC

Trong dịp kỉ niệm 15 báo Mực Tím, Phòng Mạch Mực Tím do bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc phụ trách đã được đông đảo độc giả bình chọn là trang mục hấp dẫn, bổ ích. Và bác đã sáng tác một bài thơ để tặng lại toà soạn rất dễ thương.

Sau này khi có tuổi hơn, bác lại tiếp tục “chinh phục” ba mẹ, ông bà của các bạn độc giả bằng những cuốn sách tâm tình, chia sẻ như: Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Nghĩ từ trái tim, Già ơi… chào bạn…

NAM KHA

(https://muctim.tuoitre.vn/nghe-bac-si-dau-tien-cua-phong-mach-muc-tim)

Thuộc chủ đề:Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn, Bỗng nhiên mà họ lớn, Ghi chép lang thang

Giao Lưu-Ra Mắt Sách Chuyện Hồi Đó của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

21/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

Video Clip: Giao Lưu – Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của Đỗ Hồng Ngọc (10.8.2025)

Nguyễn Văn Quyền:

Cám ơn Nguyễn Văn Quyền đã thực hiện Video Clip này.

Đỗ Hồng Ngọc.

(21.8.2025)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nếp sống An Lạc

21/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ghi chú: Đây là LỜI NGỎ cho cuốn Nếp Sống An Lạc của tôi, xuất bản năm 2016. Tôi bất ngờ mới nhận được từ Vy Trầnkim (em ruột ca sĩ Hà Thanh) gởi về hỏi có phải bài của anh không? Lại chèn rất nhiều hình ảnh và đặc biệt cả bài Thoi Tơ, thơ Nguyễn Bính, nhạc Đức Quỳnh qua tiếng hát Ý Lan.

Xin gởi bạn đọc lại vui nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(21.8.2025)

Nếp sống an lạc – Đỗ Hồng Ngọc

An lạc không phải là hạnh phúc, sảng khoái, hài lòng, vui sướng… nhất thời, trái lại nó như dòng suối mát tưới tẩm ở bên trong. An lạc là một trạng thái hỷ lạc tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác.
cắm hoa nghệ thuật nhật bản

An lạc là một trạng thái hỷ lạc tự bên trong mỗi cá nhân, nhẹ nhàng, bền bỉ, mang lại sự bình an cả thân và tâm cho chính mình và lan tỏa đến người khác.

An lạc thường đến từ tuệ giác, đưa đến sự tự tại, ung dung, cân bằng cả về vật chất lẫn tinh thần.

Một người trúng số độc đắc, một thí sinh hoa hậu đoạt vương miện, một người có tên trên bảng vàng, có thể đang cảm nhận rất hạnh phúc, rất sướng vui… nhưng chẳng bao lâu sự bất an sẽ dồn dập đến, nỗi khốn khổ sẽ kề bên…
cắm hoa nghệ thuật nhật bản

Một người thực sự an lạc chẳng thấy có hào hứng rộn rã bộc phá tầm ĩ nào cả; chẳng có đám đông vỗ tay với những tiếng hò reo, chẳng có vòng nguyệt quế, mà chỉ có sự lặng im, nhiều khi một mình, âm thầm, lặng lẽ. Nụ cười đến tự bên trong, nụ cười của toàn thân, của từng tế bào, không ở đầu môi khóe miệng…

Cho nên an lạc không dễ. Nó đòi hỏi sự kham nhẫn, tri túc, và cả Từ, Bi, Hỷ, Xả.

Nhiều khi phải qua cái tuổi nào đó, thấm đẫm một chút cuộc đời, nghe được cái tiếng kêu ‘trần thế’ thì mới nhận ra sự thiết yếu của tự tại. Nhưng đợi đến lúc  “nhìn lại mình đời đã xanh rêu” (Trịnh Công Sơn) thì thường đã trễ.
cắm hoa nghệ thuật nhật bản

Bởi người ta có thể an lạc ở đây và bây giờ.

Ta hay chúc nhau “Thân tâm thường an lạc” như một ước vọng. Phải, an lạc thì phải cả thân và tâm. Thân tâm nhất như. Tâm có an thì thân mới lạc. Tâm có lạc thì thân mới an. Mà đời thì vô thường. Làm sao thấy thường trong vô thường đây. Trừ phi thấy Thực tướng, thấy Chơn Như…

Mấy năm gần đây, tôi thường được mời nói chuyện về “Một nếp sống an lạc” nơi này nơi khác. Có khi ở một ngôi chùa, có khi ở một trung tâm mục vụ, có khi ở một hội quán, câu lạc bộ doanh nhân, một nhóm bạn trẻ, hoặc cùng các bậc trí thức ở một quán café thân quen… Những buổi chuyện trò đó, với tôi, đều là một cơ hội để học hỏi, giao lưu, chia sẻ. Lời lẽ do vậy mà nhiều khi rề rà, cà kê… chớ không mạch lạc, khúc chiết. 
cắm hoa nghệ thuật nhật bản
Có một số buổi được thu âm, ghi hình. Thế rồi một hôm, có bạn đề nghị hay là ta gom mấy bài nói chuyện này lại, chọn ra một ít rồi in thành tập sách chia sẻ với mọi người cũng hay! Nhưng nghe thì thoáng qua, trực tiếp, còn in sách thì không dễ tí nào. Nói thì cà kê, rề rà được, lại còn có những phụ trợ như chiếu slides, vẽ viết lên fl ipchart, có ‘body language” (ngôn ngữ hình thể) diễn tả… trong truyền thông trực tiếp, bây giờ phải làm sao? 
cắm hoa nghệ thuật nhật bản
Dù vậy, người bạn cũng đã gom được 31 bài có thu băng, ra đĩa gì đó, cả trên mạng, chọn ra mấy bài có chung chủ đề “Nếp sống An lạc” rồi nhờ ‘’phiên tả’’, rồi biên tập… Tôi yêu cầu làm sao giữ được giọng điệu trò chuyện cà kê, kể cả tiếng địa phương, kể cả chuyện tếu táo của mình… để người đọc như đang nghe trực tiếp thì tốt. Tóm lại, đây là một cuốn sách “nói’’ chớ không phải sách viết. Người đọc thì… nghe chớ không phải xem.
cắm hoa nghệ thuật nhật bản

Hôm rồi, ngồi với một người bạn trẻ trong một quán café nhỏ, chúng tôi bàn với nhau về hai chữ “An lạc”. An lạc có phải là well-being, là bien-être không? hay An lạc là eudaimonia, một tiếng cổ Hy Lạp thời Aristote gồm “eu” (“good”) và “daimon” (“spirit”), một đức hạnh, đòi hỏi có sự rèn tập?

Phải chăng đó cũng chính là điều Phật đã dạy trong “An lạc hạnh”, một phẩm của kinh Pháp Hoa hơn hai ngàn năm trăm năm trước: biết sống trong Hành xứ và thân cận xứ, biết an trụ trong pháp Không, trong Tùy hỷ, trong đại Từ đại Bi?

Thử “chiết tự” từ Hán Việt xem sao, thì ra An là ‘dưới mái nhà có người con gái’, còn Lạc là ‘ngôi nhà tràn đầy ánh sáng, có vườn cây xanh mát, có tiếng hát, tiếng đàn, tiếng dệt cửi, quay tơ…’:.
cắm hoa nghệ thuật nhật bản

Rồi cùng mà cười. “Em lo gì trời gió/ em lo gì trời mưa…/ em cứ yêu đời đi/ như lúc ta còn thơ/ rồi để anh làm thơ/ và để em dệt tơ…” . (Thoi tơ, thơ Nguyễn Bính, nhạc Đức Quỳnh)

.

Đỗ Hồng Ngọc

 

Thuộc chủ đề:Chẳng cũng khoái ru?, Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Đỗ Hồng Ngọc kể ‘Chuyện hồi đó’

17/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đỗ Hồng Ngọc kể ‘Chuyện hồi đó’

Thu Giang:

(https://vnexpress.net/do-hong-ngoc-ke-chuyen-hoi-do-4925525.html)

Tên sách Chuyện hồi đó xuất phát từ ý niệm đời người như một vở kịch ba hồi. “Chuyện hồi đó” là hồi thứ ba, sau thơ ấu và trung niên. “Khi người ta bắt đầu thường nhắc chuyện hồi đó thì người ta đã già”, ông viết.

Không theo lối viết hồi ký truyền thống, cuốn sách là chuỗi những cuộc trò chuyện, nơi tác giả dẫn dắt người đọc từ ký ức tuổi thơ tại quê nhà La Gi, Lâm Đồng (Bình Thuận cũ) qua hành trình theo học và hành nghề y, rồi đến con đường nghiên cứu, ứng dụng đạo Phật vào đời sống.

Bìa sách Chuyện hồi đó. Ảnh: Đỗ Hồng Ngọc.

Với hơn 30 năm tìm hiểu và thực hành Phật pháp, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho biết con đường này đã giúp ông giữ được sự an nhiên trước tuổi già, bệnh tật và những biến động của cuộc sống.

Những chiêm nghiệm ấy không chỉ đến từ sách vở hay thiền đường, mà còn từ những trải nghiệm cá nhân của tác giả. Ông từng nhiều lần đối mặt với bệnh tình “thập tử nhất sinh”, trong đó có ca phẫu thuật sọ não khi tuổi đã xế chiều. Nhờ giữ tinh thần lạc quan trong giây phút nguy kịch, ông vượt qua bệnh tật và kể lại trải nghiệm “bác sĩ mà cũng bệnh” bằng giọng văn hóm hỉnh. “Trách móc điều chi? Để làm chi? Ngay cả bệnh tật, nhiều khi cũng có ích”, ông viết.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc trong buổi giao lưu sách Chuyện hồi đó. Ảnh: Phanbook.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc trong buổi giao lưu và ra mắt sách “Chuyện hồi đó”. Ảnh: Phanbook

Từ góc nhìn giao thoa giữa y học và Phật học, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đưa ra nhiều lời khuyên thực tiễn về chăm sóc sức khỏe trong sách. Ông đề cao lợi ích của thiền, đồng thời nhấn mạnh việc điều trị song song thể chất và “tâm bệnh” – vấn đề phổ biến nhưng thường bị bỏ sót trong quá trình chữa trị.

Trong buổi giao lưu ngày 10/8 tại Đường Sách TP HCM, tác giả Đỗ Hồng Ngọc cho biết thông điệp trung tâm của cuốn sách là lời nhắc nhở mỗi người tìm về chính mình. Ông nói: “Khi quay trở lại với chính mình, con người sẽ tìm thấy sự an lạc”. Theo tác giả, quá trình này không phải là quay lưng với thế giới bên ngoài, mà là học cách lắng nghe nội tâm giữa những xô bồ, biến động của đời sống hiện đại.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc (giữa) trong buổi giao lưu sách Chuyện hồi đó. Ảnh: Phanbooks.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc (giữa) trong buổi giao lưu và ra mắt sách “Chuyện hồi đó”. Ảnh: Phanbook

Tại sự kiện ra mắt sách, độc giả Hoàng Kim Oanh nhận xét: “Chuyện hồi đó cho chúng tôi những giây phút được lắng lại với đứa trẻ trong mình”. Hòa thượng Thích Thiện Đạo – một độc giả – cho rằng cuốn sách mới kế thừa “cái nhìn an lạc và xuyên suốt” có trong nhiều tác phẩm trước đó của Đỗ Hồng Ngọc.

Bác sĩ, tác giả Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Phan Thiết (Lâm Đồng), hiện sống tại TP HCM. Ông từng là bác sĩ khoa Nhi Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM, sau đó giữ chức giám đốc Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe TP HCM.

Ông đã xuất bản hơn 60 đầu sách, được xem là một trong những người tiên phong viết về sức khỏe cộng đồng và kỹ năng sống. Trong số đó, nhiều tập tản văn như Gió heo may đã về, Khi người ta lớn, Thư gửi các bà mẹ sinh con đầu lòng được nhiều độc giả yêu thích.

Thu Giang

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Ở tuổi 86, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ra mắt ‘Chuyện hồi đó’

16/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Ở tuổi 86, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ra mắt ‘Chuyện hồi đó’

Nguyên Hoài
(Znews)

Bác sĩ – tác giả Đỗ Hồng Ngọc vừa ra mắt quyển sách “Chuyện hồi đó”, tập hợp những câu chuyện bình dị thấm đẫm chiêm nghiệm qua hành trình sống cùng văn học, y học và Phật học.

Ở tuổi 86, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vẫn duy trì sự minh mẫn khi chia sẻ những câu chuyện từ thời sinh viên y khoa đến hành trình văn chương kéo dài hơn 6 thập kỷ. Cuốn Chuyện hồi đó không theo định dạng hồi ký thông thường mà tập hợp những trải nghiệm được chắt lọc qua 7 chương, từ “Một chút tôi” đến “Con đường an lạc”.

Từ “thầy thuốc” đến triết lý làm người

Cuốn Chuyện hồi đó không viết theo lối hồi ký thông thường mà tập hợp những câu chuyện được chắt lọc qua 7 chương: “Một chút tôi”, “Nghề và nghiệp”, “Dạy để học”, “Đi để học”, “Chút văn chương chữ nghĩa”, “Những gần gũi thân thiết” và “Con đường an lạc”.

Xuyên suốt tác phẩm là triết lý về nghề thầy thuốc mà tác giả theo đuổi: “Trong tên gọi “người thầy thuốc” có 3 phần – người có nhân đạo, thầy có nhân đức, thuốc có nhân thuật. Ba yếu tố này hợp lại thành y đức”. Đây cũng chính là kim chỉ nam giúp ông vượt qua những thử thách trong nghề y, từ việc chọn chuyên khoa nhi vì “thích trẻ em” đến những kỷ niệm đỡ đẻ thời sinh viên.

Tại buổi giao lưu, tác giả cũng chia sẻ về mối liên hệ giữa y học và văn chương trong hành trình của mình. Từ bài thơ Thư cho bé sơ sinh viết năm 1965 sau ca đỡ đẻ đầu tiên, đến những tác phẩm về Phật học sau tai biến não năm 1997, mỗi giai đoạn đều đánh dấu sự trưởng thành về tâm hồn và trí tuệ.

“Mỗi người phải trở lại chính mình. Nếu biết quay về chính mình, sẽ thấy sự an lạc, hạnh phúc hơn, chứ không phải tìm kiếm bên ngoài” – tác giả nhấn mạnh thông điệp chính của cuốn sách.

Những câu chuyện đời thường và giá trị truyền cảm hứng

Cuốn sách được viết bằng giọng văn thủ thỉ, dung dị như một buổi thưởng trà cùng bạn bè tri kỷ. Tác giả đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông từng đặt chân, những người đã gặp gỡ và những điều được học, truyền dạy.

Đặc biệt, tác phẩm không chỉ là những hồi ức tuổi thơ mà còn có những chia sẻ mang tính “truyền trao kinh nghiệm” và không ít câu chuyện từng được bạn bè, đồng nghiệp, báo chí viết tặng tác giả, nay được sắp xếp thành một hồi ức liền mạch.

bac si do hong ngoc anh 2

 

Quang cảnh buổi ra mắt sách Chuyện hồi đó hôm 10/8 tại Đường sách TP.HCM.

Tất cả đều là những kiến thức, trải nghiệm có giá trị truyền động lực và cảm hứng cho độc giả, đặc biệt là giới trẻ đang lựa chọn và theo đuổi đam mê nghề nghiệp. Cuốn sách như một hành trình nhìn lại những điều đã trao đi và nhận được, là món quà dành tặng cho chính tác giả và những người thân quý đã đồng hành suốt nhiều năm qua.

Tại buổi ra mắt sách, nhiều khách mời đã chia sẻ cảm nghĩ về tác phẩm. Các đồng nghiệp, bạn bè lâu năm đánh giá cao giá trị nhân văn trong từng câu chuyện, khẳng định đây là tác phẩm mang tính định hướng cho những ai đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Đặc biệt, nhiều độc giả trẻ tuổi bày tỏ việc tác phẩm đã tạo động lực để họ trân trọng hơn các mối quan hệ gia đình và tìm lại những giá trị đích thực trong cuộc sống.

Nguyên Hoài

Znews (12.08.2025)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Đọc sách

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ

13/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

Vài hình ảnh về buổi Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ

Thật bất ngờ. Buổi Ra Mắt Sách CHUYỆN HỒI ĐÓ của mình ở Đường Sách Saigon không ngờ mà đông vui đến vậy.

Tin thời tiết doạ sắp có bão, nhưng may quá, vẫn nắng đẹp.

Rất nhiều bạn bè y khoa của mình, Thân Trọng Minh, Nguyễn Chấn Hùng, Võ Văn Thành, Trương Xuân Liễu, Định, Hải Sơn, Quốc Việt, Trương Trọng Hoàng, Hải Ngươn… Ls Ngô Tiến Nhân, Cô Mỹ Yến SIY, Và các điều dưỡng ở Bệnh viện Nhi Đồng Saigon những năm 1960s thuở đó. Các “bạn đạo” trong Lớp Phật học & Đời sống, Nhóm học Phật chùa Xá Lợi… Hòa thượng Thích Thiện Đạo, Ni cô Phước Ngọc (đệ tử Ni Sư Trí Hải)… Các bạn văn: Ban Mai từ Quy Nhơn, Hồ Đắc Thiếu Anh, Hoàng Kim Oanh, Trương Văn Dân với Elena… và các bạn Quán Văn ở Sg,… các nhà báo Ngân Hà, Hồng Vân… Rồi những bạn từ các nơi xa, Đà Lạt, Vũng Tàu, Tuy Hoà, Đà Nẵng… cùng các độc giả nhiều thế hệ…

Thật vui phải không? Mình chỉ có thể nói lời chân thành cám ơn tất cả nơi đây.

Mình đã 86 tuổi rồi, hai chân đã bắt đầu lỏng lẽo, tay bắt mặt mừng… mà không sao tránh khỏi thiếu sót.

Tha cho nó đi nhe.

Chia sẻ vài hình ảnh coi vui thôi.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

Bs Nguyễn Chấn Hùng… Gs chuyên khoa đầu ngành về Ung Thư, hào hứng nhảy lên sân khấu giành làm MC kể chuyện… Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên Gs nên viết Y học thường thức… như Đỗ Hồng Ngọc mới phổ cập được cho mọi người…!

Bs Thân Trọng Minh, chuyên khoa tim mạch, cùng khoá với mình ở Y khoa Đai học đường Saigon (1962-1969) là kịch tác gia, nhà văn với bút danh Lữ Kiều, người đã làm bìa tập Thơ TÌNH NGƯỜI của Đỗ Nghê, năm 1967, nhắc chuyện hồi đó…

 

 

 

Ls Ngô Tiến Nhân, trong Nhóm học Phật cùng mình ở Chùa Xá Lợi 10 năm nay nói về “Cách học Phật” của ĐHN.

 

 

Hoàng Kim Oanh, nhóm Quán Văn của Nguyên Minh… nhà văn, nhà báo,

nhà giáo…

 

Cô Ngọc Ngyuễn, đệ tử của cô Nguyễn Thị Oanh năm xưa, nói về những buổi học với Thầy Ngọc về Chăm sóc Sức khoẻ Ban đầu ở Khoa Công Tác Xã Hội, Đại học Mở Bán Công Thành phố HCM những năm 80s.

 

BS Vũ Hải Sơn cho biết anh là Sinh viên Y khoa cùng lớp vói Đỗ Châu La Ngà…

 

Các Cô Võ Kim Sa, Cầm, Nhung, Dung, Gấm… điều dưỡng cùng làm việc với ĐHN o BV Nhi Đồng Saigon trước 75 (sau này là BVNĐ 1 Tp HCM).

 

Hoà Thượng Thích Thiện Đạo… Viện chủ chùa Phi Lai Tuy Hoà, Phú Yên và chùa Phi Lai Đồng Nai.

Thân mến,

ĐHN

(11.8.2025)

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Chủ nhật 10/08/2025: Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

04/08/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chủ nhật 10/08/2025:

Có một buổi trò chuyện cùng Đỗ Hồng Ngọc ở Đường Sách.

 

 

CHUYỆN HỒI ĐÓ
của Bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Tôi đã nhận được tập sách này đã một tháng nay do Bs. Ngọc riêng gởi, góc trang bìa sau ghi rõ Bản thảo 2025-Sách tặng, dày 930 trang. Tôi rất ngạc nhiên sao lại dừng ở chỗ “Bản thảo” nhưng vui vì thấy có lý, khi vừa nhận tin nhắn là sáng CN 10/8 này tại Đường Sách TP/HCM tổ chức ra mắt tập sách này và có buổi giao lưu của chính tác giả. Tôi càng tin mình nghĩ đúng, vì trước đó tôi đã coi đây với một nội dung không khác gì một tác phẩm Văn học đích thực. Và đúng vậy, Phanbook và Nxb Phụ Nữ nhạy bén đã thuyết phục được anh để chuyển qua xuất bản chính thức, dù còn 460 trang, để giới thiệu đến mọi người từng yêu mến Bs. Đỗ Hồng Ngọc qua trên 60 đầu sách đã xuất bản.

Đọc ở “Lời Ngỏ”, anh viết: “Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói… chuyện “Hồi đó”. Và tiếp “mà chuyện gì Hồi Đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ”. Ồ, vậy là cái tựa tập sách Chuyện Hồi Đó không phải là Tập Hồi Ký, quá tinh tế, sâu sắc dù có nói về cuộc đời mình. Bs. ĐHN muốn tránh đặt “loại” cho tập sách này là Hồi ký đang lan tràn hiện nay… Anh coi đây là chuyện của mình -cũng đáng kể, đáng viết lại- Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay vậy. Cách phân trần dí dỏm nhưng đúng với tính cách khiêm nhường, chân thật của anh.

Tập sách (sơ thảo) gồm 7 chương và phần Phụ lục… Nội dung đã phản ánh những “cái đáng nhớ”, đáng trân trọng về bản thân, gia đình, bè bạn, quê hương… Những dấu ấn qua các tác phẩm văn học, những công trình nghiên cứu y học, Phật học… Đặc biệt, ở tập sách này đã hội tụ được những anh tài, trí thức học giả, nhà văn nổi tiếng đã nói về tác phẩm của anh… hiếm lắm!

Có thể nói Chuyện Hồi Đó, theo anh là những chuyện cũ, xưa, kể lại bởi một người có tuổi, già khú, có thể trong một buổi “trà dư tửu hậu” cùng bạn bè… hãy coi đây là một ghi chép (ký) theo thời gian. Bs. Ngọc vẫn băn khoăn dù danh chánh ngôn thuận tập sách đã có nhà xuất bàn làm bà đỡ là vui và tập sách xứng đáng với tư cách một tác phẩm, một công trình của một đời văn, một đời không mệt mỏi cho hoạt động khoa học…

*PHAN CHÍNH
La Gi – 6/8/2025

 

Vài cảm nghĩ về “Chuyện Hồi Đó” của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Nhân ngày Ra Mắt Sách 10.8.2025 tại Đường Sách Tp.HCM) 

  • Thời gian có thể làm mờ nhiều thứ, nhưng lại khiến vài người, vài điều trở nên lấp lánh hơn. Có những mối duyên, càng lâu càng sâu và cũng có những câu chuyện, càng xưa càng đáng để kể lại. Nhất là những câu chuyện gắn liền với hành trình trưởng thành – những nơi đã đi qua, những người đã từng gặp, những nghề đã làm và cả những điều âm thầm đã góp phần tạo nên chúng ta của hiện tại.

Và đôi khi chúng ta chọn kể lại chuyện hồi đó không phải để níu giữ thời gian, mà như một cách để tri ân những điều đã nhận, những người đã tin yêu và đồng hành.

Và hôm nay, một buổi sáng cuối tuần đẹp trời chúng ta có dịp cùng nhau gặp gỡ và lắng nghe một vị bác sĩ, một người thầy, một nhà văn, người hành thiền đã đi qua hơn 85 năm cuộc đời kể về rất nhiều câu chuyện hồi đó đầy giá trị.

 

  • Hầu hết chúng ta đều biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ Nhi khoa có tiếng trong ngành, đồng thời cũng có một khoảng thời gian dài giảng dạy tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP.HCM.

Bên cạnh đó, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn là một cái tên quen thuộc với bạn đọc qua các đầu sách về sức khỏe, giáo dục, đời sống tinh thần như:          Viết cho những bà mẹ sinh con đầu lòng, Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò, Già sao cho sướng? để có một tuổi già hạnh   phúc;  Thiền và sức khỏe; Một ngày kia … đến bờ; Buông; Khi người ta lớn; Ăn vóc học hay… Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chinh phục được mọi giới, mọi        lứa tuổi từ các em tuổi mực tím mộng mơ, sinh viên y khoa, các vị phụ huynh đến quý vị lão niên không chỉ bởi nội dung sách đa dạng mà trong         cách viết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn nhẹ nhàng, hóm hỉnh, chân thành tạo cảm giác dễ chịu như một người bạn đang đối thoại trực tiếp với người  đọc.

Ở tuổi 85, tác giả – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc một lần nữa trở lại cùng độc giả với tác phẩm mang tên Chuyện hồi đó. Cuốn sách không viết theo lối        hồi ký thông thường, mà tập hợp những câu chuyện bình dị, thấm đẫm chiêm nghiệm được chắt lọc qua năm tháng tác giả sống cùng văn học, y        học, Phật học và thiền định.

  • Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ đưa độc giả theo từng trang sách về với những nơi ông đã từng đặt chân đến, những người đã từng gặp gỡ và trò chuyện, những điều đã được học và truyền dạy…

Trong cuốn sách này, ông dành hẳn một phần để nói về chuyện học nhưng không theo cách thông thường. Bác viết “Dạy để học” và “Đi để học”.         Hai cụm từ tưởng như đơn giản, mà thật ra là cả một quá trình khám phá: vì sao dạy lại là để học? Và bác đã “đi để học” như thế nào trong           hành trình làm nghề của mình?

Có lẽ, ở ngã rẽ chọn ngành nghề ban đầu,  người ta đều ít nhiều mang theo một chút mơ hồ, một chút tò mò, có người chọn nghề vì đam mê, có        người vì hoàn cảnh, cũng có người chỉ nhận ra ý nghĩa của con đường mình đi sau rất nhiều năm đã bước. Vậy ngày đó bác đã chọn và học              ngành y ra sao? Có khó khăn gì hay không? Và vì sao bác lại chọn khoa Nhi?

  • Bác giải thích thêm cho các độc giả về ý nghĩa của từ “Y đức” được không ạ? Và theo bác Y đạo – Y đức – Y thuật khác nhau như thế nào?  trong suốt nhiều năm làm nghề, bác không chỉ chữa bệnh mà còn rất kiên trì với một điều tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng nền tảng đó là thực hiện Chương trình Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu (Primary Health Care). Cụm từ này ngày nay được nhắc đến nhiều hơn, nhưng có lẽ không phải ai cũng hiểu đúng. Với bác, Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu thật sự là gì? Và bác đã từng góp phần làm gì để thực hiện cho chương trình này?
  • Có một câu nói nghe qua thì có vẻ nửa đùa nửa thật nhưng lại khiến người trong nghề y đôi khi phải ngẫm nghĩ: “Bác sĩ mà cũng bệnh à?” Ở vị trí là một bác sĩ, bác nghĩ thế nào về câu hỏi này? Và bác có thể chia sẻ thêm những trải nghiệm thực tế khi bác sĩ bệnh thì khác gì với mọi người?

Những tác phẩm của bác luôn cho thấy mối liên hệ bền chặt giữa nghề y và đời sống tinh thần. Vậy tất cả những trang viết về văn chương, thơ          ca, những bài học từ Thiền… có mối liên hệ như thế nào với nghề y của bác?

  • Có lẽ nhiều người từng là học sinh, sinh viên vào thập niên 80–90 vẫn còn nhớ một chuyên mục rất đặc biệt trên báo Mực Tím mang tên “Phòng mạch Mực Tím”. Ở đó, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không chỉ là người giải đáp sức khỏe mà còn như một người bạn lớn nhẹ nhàng, thân tình. Thưa bác, cơ duyên nào đã đưa bác đến với chuyên mục đặc biệt này? Và trải nghiệm ấy đã để lại cho bác những điều gì đáng nhớ nhất không chỉ với tư cách một bác sĩ, mà còn là một người viết cho tuổi trẻ?
  • Bs Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cầm ống nghe, mà còn cầm bút viết về sức khoẻ, về Phật học, về thi ca mà điều đặc biệt là dù viết gì, chữ của bác cũng khiến người ta thấy nhẹ lại, lắng lại, và đôi khi được “chữa lành”. Với bác, chữ nghĩa có phải cũng là một hình thức chữa lành không? Và bác bắt đầu hành trình viết như thế nào?

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng ít nhất một lần tự hỏi: Giữa cuộc sống bộn bề và nhiều bất an này có hay không một con đường dẫn tới an             lạc? Là một người đã có quãng thời gian dài chiêm nghiệm từ y học đến Phật học, vậy theo bác liệu có một con đường an lạc thật sự? Và trong         nhịp sống hối hả ngày nay, bác nghĩ bước đầu tiên mỗi người có thể làm gì để tìm được sự an lạc, không chỉ cho thân mà còn cho tâm?

Hiện nay có một cụm từ thường hay được nhắc đến đó là “chữa lành”, đặc biệt là đối với người trẻ – những người thường xuyên đối diện với rất         nhiều áp lực và cần tìm kiếm các phương pháp “chữa lành” để hồi phục lại năng lượng cũng như tinh thần. Vậy theo bác có thể giúp “chữa lành”         cho người trẻ được hay không?

Là một người đã tự học, nghiên cứu, chiêm nghiệm và chia sẻ về đạo Phật rất nhiều. Vậy nếu trước một người muốn bớt đau khổ nhưng chưa           biết về đạo Phật, bác sẽ có lời khuyên như thế nào?

  • Tham dự buổi trò chuyện ngày hôm nay cũng có rất nhiều độc giả trẻ tuổi – những người đang trong hành trình chinh phục đam mê và sự nghiệp hay thậm chí cũng có rất nhiều người vẫn đang đi tìm niềm đam mê thật sự của mình. Điều đó đôi khi khiến người trẻ cảm thấy kiệt sức và hoang mang. Vậy bác có thể cho thế hệ trẻ một lời khuyên khi chọn và đi trên con đường nghề nghiệp của mình?

Những ai đã biết đến bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đều biết từ xưa đến tận bây giờ bác vẫn luôn cần mẫn và dành hết tâm huyết cho cả y học lẫn văn           chương và Phật pháp. Vậy bác có thể chia sẻ bí quyết để có thể cân bằng được nhiều việc như vậy không ạ?

Thảo Nguyên (theo Phanbook).

……………………………………

Vincent Ngô phỏng vấn Bs Đỗ Hồng Ngọc về cuốn sách mới: CHUYỆN HỒI ĐÓ

(Ghi chú: Vincent Ngô ở Úc về, hẹn Cafe với tôi ở Press Coffee Tp.HCM ngày 20.7.2025, lúc sách chưa kịp ra mắt. Buổi trò chuyện có ghi hình. Và anh mới gởi tôi clip video đặc biệt này do anh dàn dựng, thực hiện nhân dịp có buổi Ra Mắt Sách tại Đường Sách ngày 10.8.2025).

Cảm tạ Vincent Ngô.

Và xin chia sẻ đến bạn bè.

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Đỗ Nghê  Đỗ Hồng Ngọc, Như Không Thôi Đi Được*

21/07/2025 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đỗ Nghê  Đỗ Hồng Ngọc, Như Không Thôi Đi Được*

TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”… Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v… qua những phương tiện truyền thông khác. Cũng nên thêm, trong mục “Chuyện trò trên dutule.com”, tác giả Đỗ Hồng Ngọc là người có nhiều độc giả tham gia, đặt nhiều câu hỏi nhất, kéo dài với con số kỷ lục 24 kỳ và số lượt người vào đọc mỗi kỳ dao động trong khoảng từ 4.273 đến 7.500 (tính cho đến ngày 12-3-2024). Cuộc đời của ông cũng rất thú vị. Từ một đứa trẻ sinh ra trong thời loạn lạc, phải tản cư đến nhiều nơi không có trường học, cha bị bệnh mất sớm… Ông rất may mắn được người cậu (nhà văn Nguiễn Ngu Í) giúp đến trường và tình cờ sở hữu được cuốn sách “Kim chỉ nam của học sinh” của học giả Nguyễn Hiến Lê bày bán “xôn” trên lề đường. Vốn rất thông minh, lại thêm ý chí và nghị lực, ông quyết tâm thực hành những điều trong sách để có thể học nhảy lớp theo kịp các bạn cùng trang lứa và thi đậu các kỳ thi…

Bài viết này chỉ là những mảnh ghép đó đây góp nhặt từ sách báo hoặc trên các trang mạng hầu giúp bạn đọc được biết thêm về một tác giả mà mình yêu mến. Hy vọng hành trình đến với cuộc đời của ông sẽ tạo cảm hứng và động lực cho những bạn trẻ muốn vươn lên và tiến xa (the sky is the limit).

CHÂN DUNG TỰ HỌA

Đỗ Hồng Ngọc là tên thật và cũng là bút hiệu. Trước năm 1975, ông dùng bút hiệu Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ) khi sáng tác. Bút hiệu Giang Hồng Vân chỉ được dùng một lần khi viết bài Dẫn nhập cho tập “Qê hương” của Nguiễn Ngu Í. Khi viết về y học, ông dùng tên thật Đỗ Hồng Ngọc, thậm chí ghi rõ Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, theo nguyên tắc, để chịu trách nhiệm chuyên môn về những bài viết của mình. Trả lời phỏng vấn của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm (2010) về câu hỏi, “Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt Y học rồi Phật học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc?” Ông cho biết, “Không phải ‘rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê’ đâu. Chỉ là ‘rửa tay gác kiếm tạm thời’ thôi! Thời đó có quá nhiều ‘Ông Đồ xứ Nghệ’, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi để tránh nhầm lẫn. Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao?”

Ông viết sách dành cho mọi người ở mọi lứa tuổi và được biết đến với nhiều tư cách: bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà tư vấn tâm lý…

Đỗ Hồng Ngọc tự nhận xét về mình: “Tôi vốn ít hay cười. Ngay từ nhỏ, người ta đã gọi tôi là “một ông cụ non”, vì lúc nào cũng có vẻ đạo mạo, nghiêm túc quá. Sau này ra hành nghề, làm một người thầy thuốc, một người dạy học, tôi như càng nghiêm túc, đạo mạo hơn. Tại cái tạng, biết sao! Thấy bạn bè vui vẻ, khoái hoạt… tôi cũng thích lắm mà không làm sao bắt chước được. Chỉ đôi khi đọc sách có chỗ nào dí dỏm thâm trầm kín đáo một chút, tôi mới tủm tỉm cười một mình. Tôi cũng không biết hút thuốc, không uống rượu, không bia bọt, thường chỉ ‘phá mồi’ trong những bữa họp mặt đông vui làm bạn bè vừa thương vừa giận! Cũng tại cái tạng thôi.”
(Trích Lời ngỏ Như Ngàn Thang Thuốc Bổ)

“Đó là một người có cái tên rất ‘đàn bà’ nhưng lại là một người đàn ông thứ thiệt. Hồi tôi giữ mục Phòng mạch Mực Tím trên báo Mực Tím dành cho tuổi mới lớn, nhiều em viết thư: Thưa cô, em có điều này rất bí mật, không dám nói với ai…

Thứ hai, đó là một ông già mà nhiều người tưởng hãy còn trẻ lắm, nhờ tóc chưa bạc nhiều và viết lách lăng nhăng làm cho người ta cười…

Thứ ba, đó là một bác sĩ nhà quê đến nỗi người ta không biết là bác sĩ, vì toàn nói chuyện làm sao cho người ta biết tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe mình, ít phải lệ thuộc vào thầy vào thuốc…”
(Trích Phụ lục Biết Ơn Mình)

TUỔI THƠ TRONG THỜI LOẠN

Cha ông tên Đỗ Đơn Trì và mẹ là bà Nghê Thị Như, nhưng khi đi làm thẻ căn cước, người làm hộ tịch ghi bừa là họ Lê. Ngày còn nhỏ, ông thường được nghe mẹ đọc truyện Kiều, ca dao, hát ru…

Ông tâm sự, “mình chỉ có ‘Tháng Sinh Nhựt’ (!). Vì bà Má nói tuổi thì Canh Thìn (1940), sanh tháng 8, ở nhà bảo sanh Cô mụ Bé, dưới chân cầu sắt Phan Thiết, ngày thì Bà không nhớ, giờ thì hình như… sáng sớm, vì thế tử vi coi cũng không được! Tản cư trong rừng bảy năm, về thành trễ học, phải làm lại Thế vì Khai sanh 1943 (con Dê) để vào lớp. Tóm lại tuổi thì vừa Rồng vừa Dê.”

“Lúc 5 tuổi, tôi cùng gia đình từ La Gi (Bình Tuy, nay là Bình Thuận) tản cư lên rừng ở vùng Láng Găng, Bưng Riềng (Xuyên Mộc, Bà Rịa – Vũng Tàu). Bị sốt rét triền miên, kiết lỵ, suy dinh dưỡng… đủ thứ.

Lúc 10 -11 tuổi (khoảng 1950), tôi ở nhà Ngoại đi học trường Gò Ông Nồm (gần Gò Đình bây giờ). Xung quanh lớp học, có đào nhiều hầm chữ U, chữ V, chữ Z để khi có máy bay đến thì tất cả nhào xuống hầm tránh bom… Ngày ngày đi học chân trần trên bờ ruộng, có mấy gốc mù u rậm rịt nghe nói có ma cũng ớn. Hàng ngày chỉ mang theo lủng lẳng cơm bó trong mo cau, kèm với con cá khô nướng. Buổi trưa cả bọn tắm ở mấy cái mương lớn, rồi đi móc đất sét vò thành mấy viên bi, bỏ vào lò gạch gần đó, đợi ít ngày thì viên bi chín cứng, màu sắc khá đẹp. Thời đó, bắn bi với đánh chõng là thú vui duy nhất của đám học trò. Các anh chị lớn, 15, 16 tuổi cũng học chung. Chỉ có tới lớp Ba là hết.”

Người bạn cùng quê – nhà văn Nguyễn Hiệp – cũng chia sẻ, “Trường Gò Ông Nồm, đó là ngôi trường nhỏ vài ba lớp tiểu học, được cất sơ sài trong thời kháng chiến, trên gò đất cao thuộc thôn Hiệp Trí, xã Tân Hiệp, quận lỵ Hàm Tân (nay thuộc xã Tân Thuận, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận), nơi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có những buổi học đầu tiên trong đời. Ngày nay trường không còn nữa nhưng thỉnh thoảng những người thân trong nhà cứ nhắc câu chuyện đôi giày của cậu bé Ngọc như một giai thoại đáng yêu của tuổi học trò miền quê. Chuyện rằng: Bé Ngọc được mẹ đi Phan Thiết mua cho đôi giày vải mới, cậu quý lắm, cứ ngắm hoài không chán. Sáng hôm sau, Ngọc mang đôi giày mới đến lớp với niềm vui thích hân hoan trong lòng, nhưng khi gần vào đến sân trường, nhìn chân các bạn hầu hết là mang guốc gỗ hoặc không giày dép gì cả, bé Ngọc dừng lại hồi lâu, nghĩ rằng mình mang giày mới mà các bạn thì không ai có, sợ các bạn buồn, Ngọc cởi giày đem giấu trong lùm cây và đi chân trần vào lớp cho giống các bạn. Chuyện của con nít, không có gì lớn lao, nhưng quả thực nó là tín hiệu nhạy cảm, tinh tế đầu tiên được biểu lộ của tâm hồn một con người biết thật sự quan tâm, thật sự yêu thương những người sống quanh mình.”

Ý CHÍ VÀ NGHỊ LỰC VƯƠN LÊN

Theo lời ĐHN, cha ông bị bệnh lao mất khi tản cư ở rừng Bàu Lời vì thiếu thầy, thiếu thuốc khi ông mới 12 tuổi (1952). Ông theo mẹ về tá túc trong một ngôi chùa với người cô bị tật nguyền. Lúc đó ông chỉ cân nặng 25kg, da xanh mét, lá lách sưng to, mỗi ngày phải đi nhà thương thí để chích thuốc. Riết rồi ghiền cái mùi nhà thương. Và cũng từ lúc đó ông có ý muốn học Y khoa.

Ông kể, “Thế rồi, một hôm cậu Ngu Í điên của tôi đến thăm. Người ta nói ông điên vì ngộ chữ dù ở quê tôi ông là người hay chữ nhất, được bà con rất quý trọng. Thấy tôi 12 tuổi rồi mà học hành ấm ớ trong rừng, ông dẫn tôi tới trường tiểu học của một người bạn gửi cho học miễn phí. Ông còn tặng tôi một đống sách báo từ Sài Gòn mang về. Tôi mê tít. Mới đầu, nhà trường cho tôi vào học thử lớp 3. Vài tháng sau nói tôi học được cho lên lớp nhì (lớp 4 bây giờ). Vài tháng sau nữa cho tôi vào thẳng lớp nhất (lớp 5). Trường tư, trong một ngôi chùa, nếu học giỏi thì được miễn phí. Tôi học giỏi. Cuối năm nhất lớp, chở phần thưởng về chùa bằng… xe xích lô! Cô tôi khen ngợi thưởng cho 10 đồng, đủ ăn năm chén chè sâm bổ lượng với mấy người bạn thân!

Tôi thi đậu cao vào đệ thất (lớp 6) Phan Bội Châu. Hằng ngày vừa đi học, vừa lo cơm nước cho mẹ tôi bán hàng ngoài chợ. Thế rồi, giữa chừng lại bỏ học vì cả gia đình dời về quê cũ La Gi. Tỉnh mới thành lập, chưa có trường trung học. Tôi thất học, phụ bán hàng xén với mẹ ở chợ La Gi. Ba năm sau mới có lớp đệ thất đầu tiên trong một ngôi nhà thờ. Nhớ lại hồi nhỏ học nhảy tưng bừng của mình, tôi tính chuyện học nhảy tiếp. Nhân một chuyến theo xe chở cá nước đá về Sài Gòn bổ hàng cho mẹ, tôi lang thang lề đường nơi bán sách cũ, vớ được cuốn “Kim chỉ nam của học sinh” của tác giả Nguyễn Hiến Lê. Tôi đọc thấy trúng ý mình quá, bèn đánh bạo viết thư hỏi ý kiến ông nói muốn học nhảy có nên không. Ông trả lời ngay: “Cháu có thể học nhảy được, vì đọc thư thấy sức cháu có thể học lớp đệ tứ (lớp 9) rồi đó”. Tôi bèn lập chương trình học nhảy.

Thi đậu ngay Trung học đệ nhất cấp, lại nhảy tiếp bỏ đệ tam, đậu tú tài I rồi tú tài II. Khi đó tôi băn khoăn trước ngã ba đường giữa học y, học sư phạm hay học văn khoa. Cái nào cũng thích. Ông Nguyễn Hiến Lê lần nữa khuyên nên học y để giúp gia đình, giúp đời, nếu học giỏi có thể dạy học và nếu có tâm hồn vẫn có thể viết lách được. Đã có nhiều nhà văn là bác sĩ như Chekhov, Cronin, Sommerset Maugham… Tôi đã làm đúng như thế. Tôi học y nhưng ghi danh học thêm văn khoa, xã hội học, những ngành tôi thích. Những năm này tôi đã vào Sài Gòn ‘du học’, ở nhà trọ, ăn cơm tháng trong khu ổ chuột Bàn Cờ (Q.3) và thường xuyên đến thăm ông Nguyễn Hiến Lê. Ông luôn động viên, khuyến khích việc học của tôi. Khi báo Bách Khoa ra số đặc biệt kỷ niệm 100 đầu sách của ông, tôi viết bài ‘Ông Nguyễn Hiến Lê và tôi’. Ông nói đây là ‘món quà’ quý nhất của ông. Ông đã coi tôi như một người học trò ‘chân truyền’ rồi vậy.”

NHỮNG NGƯỜI CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN

Trong một trả lời phỏng vấn, ĐHN cho biết: “Chính là nhờ mẹ tôi luôn động viên khuyến khích – bà là người rất có ý chí – lại nhờ cậu tôi là nhà văn Nguiễn Ngu Í dẫn đến trường và nhất là nhờ những cuốn sách quý giá của ông Nguyễn Hiến Lê đã ảnh hưởng lớn đến tôi như Kim chỉ nam của học sinh, Gương danh nhân, Gương can đảm, Gương kiên nhẫn… Tuổi thơ tôi gặp nhiều khó khăn nhưng may mắn là luôn có những tấm gương tốt quanh mình để tôi noi theo.”

Về nhà văn Nguiễn Ngu Í, tên thật Nguyễn Hữu Ngư (1921-1979), ĐHN chia sẻ:

Mẹ tôi và ông là chị em cô cậu ruột. Mẹ ông họ Nghê nên ông còn có bút danh là Ngê Bá Lí, với cách viết “đặc biệt” của ông. Tôi gọi ông bằng cậu, gần gũi và thân thiết. Cha tôi mất sớm, mẹ con tôi về trú ngụ ở nhà cô tôi trong một ngôi chùa nhỏ ở Phan Thiết, lúc đó ông đang làm báo ở Saigon về thăm, thấy tôi thất học bèn dẫn tôi tới gởi vào trường tiểu học của bạn ông là cô Hồ thị Tiểu Sính (con ông Hồ Tá Bang) để tôi được đi học lại. Sau này khi vào Saigon học, tôi gần như sống hằng ngày bên ông.

Ông viết văn, làm báo, có nhiều bút hiệu: Trinh Nguiên, Tân Fong Hiệb (ghép địa danh quê nhà Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa), Ngê Bá Lí, Trần Hồng Hừng, Ki Gob Jó Cì, Fạm Hoàn Mĩ… Bút danh Nguiễn Ngu Í được nhiều người biết đến, nổi tiếng là một ký giả chuyên phỏng vấn các vấn đề văn học nghệ thuật cho tạp chí Bách Khoa thập niên 1960s tại Sài Gòn.

Ông có lối viết tiếng Việt rất đặc biệt, rất riêng, gây ít nhiều tranh cãi, ít nhiều khó chịu cho người đọc, nhưng vẫn có cái lý riêng của ông. Thí dụ ông thấy không hợp lý khi ta viết NGA, nhưng lại NGHE (ông sửa lại NGE), GA nhưng GHE (ông sửa lại GE…).

Ông có một vài tác phẩm về sử, đặc biệt về Quang Trung và về Hồ Quý Ly trong thời gian dạy sử ở vài trường trung học, ký Fạm Hoàn Mĩ; ông cũng có vài cuốn tiểu thuyết như “Suối Bùn Reo”, “Khi người chết có mặt”, v.v… Nhưng tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Sống và Viết với …”, do Ngèi xanh xuất bản (1966), tập hợp các bài phỏng vấn trên báo Bách Khoa với các nhà văn nổi tiếng đương thời Nhất Linh, Đông Hồ, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường, Sơn Nam, Doãn Quốc Sỹ… (sau này Xuân Thu in lại ở nước ngoài). Ông cũng chuẩn bị ra mắt các cuốn “Sống và Vẽ với…” phỏng vấn các họa sĩ, và “Sống và Đàn với…” phỏng vấn các nhạc sĩ. Tiếc thay ý nguyện chưa tròn. Ngoài ra ông còn có một tập thơ “Có những bài thơ”, do Trí Đăng xuất bản, 1973.

Trong thời gian nằm ở Dưỡng trí viện Biên Hòa vì bệnh thần kinh, ông cùng các “bạn điên” có ra một tập thơ, lấy tên là “Thơ điên thứ thiệt” rất thú vị, do ông làm chủ biên (có mấy bài của Bùi Giáng). Thời đó, ngoài thuốc men, các bác sĩ ở Dưỡng trí viện Biên Hòa còn khuyến khích bệnh nhân làm thơ, vẽ tranh, đánh cờ, lao động tay chân, v.v… như một liệu pháp chữa trị tâm bệnh. Khi được hỏi vì sao gọi là “Thơ điên thứ thiệt”, thì ông cười bảo vì lúc này có nhiều người làm thơ giả điên quá!

Ông thường xuyên ra vào các nhà thương điên Biên Hòa và Chợ Quán:

Cũng tưởng một đi không trở lại
Nào ngờ duyên nợ lại dằng dai
Bỗng nhiên sực tỉnh nằm trong “khám”
Khám của lòng ai, ai của ai…
(Bài thơ tái ngộ Dưỡng trí viện, 1966)

Trong một bài thơ khác, ông viết:

Ta đi lang thang
Ta nói tàng tàng
Ta cười nghinh ngang
Ta chửi đàng hoàng
…
(Bài thơ tự giết, 1966)

“Chửi đàng hoàng” quả không phải là chuyện dễ, nhưng với ông thì ông làm được. Hỏi chửi ai? Ông nói: “Chửi cả và thiên hạ, trong đó có mình!”

Ông có nhiều bài thơ hay. Bài thơ viết cho Mẹ rất cảm động:

Má ơi con má điên rồi
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi…

Năm 1960, một lần tôi có dịp đi với ông trên bãi biển từ La Gi về Ngảnh Tam Tân (Bình Thuận) đến Nước Nhỉ, ông dừng chân nghỉ và nằm lim dim trên đống cát gạch vụn, dưới bóng mát của các bụi dứa gai um tùm nhìn lên trời mây… Một lúc ông gọi tôi đến và đọc cho nghe bài thơ vừa làm xong. Tôi còn nhớ mấy câu:

Nằm đây mà ngó lên trời
Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa
Nằm đây mà nhớ mơ hồ
Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu…

Thì ra ông nhớ mấy người bạn cũ, trong đó có Ba tôi, đã cùng nhau xây cái giếng Nguồn Chung ở Nước Nhỉ này cho khách bộ hành qua đường nghỉ ngơi, uống bụm nước ngọt, nhỉ ra từ động cát, giữa trưa nắng gắt trên đường dọc biển mênh mông đầy nắng và gió.

Cuộc đời ông nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có lần ông nằm giữa xa lộ Biên Hòa cho xe Mỹ cán, nhưng họ kịp dừng, chở thẳng vào nhà thương điên. Có lần ông trốn viện, bắt đom đóm làm đèn đi trong giờ giới nghiêm cũng bị bắt lại…

Trước đó, hình như ông biết trước cái chết của mình, viết một bức thư như là một di chúc cho vợ ông. Ông ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục thủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để được nhìn trời mây nước cho thỏa thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho “Ngư về với Cá”. Thế nhưng ông chết với lửa. Ông được hỏa táng ở An dưỡng địa Phú Lâm và đưa về đặt kề ông bà và dì Nga ở Ngảnh Tam Tân. Tôi nhớ hai câu thơ từ lâu của ông:

Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi
Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi.

Ông là bạn cùng lớp, cùng trường Pétrus Ký với Trần văn Khê, Lưu Hữu Phước… Gia đình có làm một tập tư liệu về ông: Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư, qua ký ức người thân, do mợ tôi, bà Nguyễn Thị Thoại Dung thực hiện (1996), gồm các bài viết của Bà Tùng Long, Trần Văn Khê, Lê Ngộ Châu, Lê Phương Chi, Phan Chính, Hoàng Hương Trang, Hồ Trường An, Trần Huiền Ân, Tô Dương Hiệp, Đỗ Đơn Chiếu, Phan Khắc Khoan, Đỗ Hồng Ngọc…

Sau này, khi về La Gi – Tam Tân, tôi có một bài thơ viết cho ông:

Đêm trên biển La Gi
(tặng cậu tôi, Nguiễn Ngu Í)

Sóng cuốn từng luồng trăng lại trăng
Đêm Hòn Bà dỗ giấc ai nồng
Phẳng lì bãi cát buồn hiu ngóng
Cao vút hàng dương quạnh quẽ trông
Đá cũ mòn rêu hoài đá Ngảnh
Nguồn xưa cạn nước vẫn Nguồn Chung
Về đâu mái tóc xanh ngày ấy
Câu hỏi ngàn năm có chạnh lòng…
 (ĐHN 1990)

Còn về học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), trả lời câu hỏi của ông Hai Trầu trên trang dutule.com (2013), ĐHN cho biết, “Tôi may mắn được quen biết với ông NHL từ năm 1957 đến năm ông mất, 1984. Suốt thời gian đó, tôi thường gặp ông, khi trực tiếp khi thư từ qua lại. Đến nay tôi vẫn còn giữ nhiều thư viết tay của ông như một kỷ niệm. Tôi học được ở ông lối sống và lối viết. Ông là tấm gương nghị lực, gương tự học, chọn con đường làm văn hóa suốt đời mình.

Câu ‘châm ngôn’ của ông là ‘Viết để học và học để viết’. Tôi chịu lắm. Chỉ có cách đó mình mới học được nhiều, học được sâu. Tôi bây giờ còn đi dạy và vẫn nghĩ: ‘Dạy để học và học để dạy’.

Ấy là bắt chước ông đó.

… Tôi vẫn luôn nghĩ ông là một ‘người hiền’ – người hiền Nam bộ, dù sinh ở đất Bắc. Khiêm tốn, giản dị, chính trực. Ông sống tri túc, kham nhẫn, hết lòng vì sự nghiệp “trồng người”. Năm 1986, hai năm sau ngày ông mất, báo Thanh Niên nhờ tôi viết một bài về ông. Đó là bài đầu tiên viết về NHL sau 1975. Tôi đặt tựa là ‘NHL, nhà giáo dục’, nhưng tòa soạn sửa thành ‘NHL, một tấm gương kiên nhẫn’. Tôi nghĩ ông xứng đáng được gọi là ‘Nhà giáo dục’. Anh biết không, thật bất ngờ khi sách của ông bây giờ được rất nhiều bạn trẻ ở miền Bắc đọc, nghiền ngẫm, ứng dụng. Họ thực hiện các tủ sách Nguyễn Hiến Lê, trao đổi cho nhau…”

Trong bài viết “Nguyễn Hiến Lê và tôi” (tạp chí Bách Khoa số 426 ngày 24-4-1975), ĐHN cũng nhắc đến, “Quen biết ông mới thấy ít ai yêu tiếng mẹ như ông. Muốn cho ông ‘thao thao bất tuyệt’ thì cứ việc nói đến tiếng Việt, nói về tiếng Việt với ông. Ông chịu không nổi khi thấy một chữ bị dùng sai. Còn nhớ khi bọn sinh viên chúng tôi vận động chuyển ngữ Việt tại trường Y khoa, ông đã hỗ trợ bằng những bài báo nẩy lửa. Lúc đó giọng không còn cái vẻ nghiêm túc, hiền lành, điềm đạm thường ngày nữa mà sôi nổi, gay gắt, phẫn nộ, đầy khích động.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi, ‘Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò’, chỉ là phần bổ túc cho cuốn ‘Kim chỉ nam của học sinh’. Sau tôi viết thêm một cuốn khác, cũng loại y học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.

Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự.

Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông Kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương triết học Trung Quốc, Ngữ pháp Việt Nam… và những Chiến tranh và hòa bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hóa miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực… Và nhất là bộ Gương danh nhân của ông.

Cuộc đời ông quả thật là một tác phẩm lớn. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi cũng đã khác; nên tuy không được may mắn học với ông một ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!”

NGHỀ

Nghe theo lời khuyên của học giả Nguyễn Hiến Lê, ĐHN đã nộp đơn và trúng tuyển kỳ thi vào Lớp Dự bị Y khoa (APM) năm 1962. Bên cạnh đó, ông cũng ghi danh ở Văn Khoa và về sau học thêm Xã Hội Học ở Đại học Vạn Hạnh. Theo chương trình thời đó, Y khoa học 7 năm, sinh viên năm thứ ba được đi thực tập tại các bệnh viện. Ra trường phải thi tốt nghiệp, đậu bốn môn Bệnh lý (Nội, Ngoại, Sản, Nhi) thì được gọi là bác sĩ và hành nghề bác sĩ, sau khi đã đăng ký vào Y sĩ đoàn và thực hiện đúng Nghĩa vụ luận Y khoa. Sau đó, những ai làm luận án và bảo vệ thành công thì được nhận Văn bằng Tiến sĩ Y khoa Quốc gia (Doctorat en Médecine, Diplôme d’Etat). Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã đậu kỳ thi tốt nghiệp năm 1969 và trình luận án Tiến sĩ, đề tài “Bệnh Sốt rét cấp tính ở Trẻ em” vào năm 1970 với Hội đồng Giám khảo gồm GS Phan Đình Tuân, GS Nguyễn Văn Út và GS Nguyễn Thế Minh…

Ông là Bác sĩ chuyên khoa Nhi. Nguyên nội trú ủy nhiệm Bệnh viện Nhi Đồng Sàigòn (1968-1969), Trưởng phòng cấp cứu Nhi (1973-1975), sau 1975 là Trưởng khu Phòng khám Cấp Cứu BV Nhi Đồng 1 TP. HCM (từ 1975-1985), Giám đốc Trung tâm Truyền thông – Giáo dục Sức khỏe TP. HCM (1985-2005), Tu nghiệp Y tế công cộng tại Đại học Harvard Hoa Kỳ (1993) và Giáo dục sức khỏe tại CFES, Pháp (1997), Giảng viên thỉnh giảng Bộ môn Nhi, Đại học Y dược TP. HCM (1981-1995), Trưởng Bộ môn Khoa học hành vi & Giáo dục sức khỏe, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (1995- 2014). Từ 2014 là cố vấn Bộ môn Y Đức – Khoa học hành vi, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. HCM. Hiện nghỉ hưu ở Sài Gòn.

ĐHN chia sẻ, “Ngay từ khi còn là một sinh viên y khoa, đi thực tập ở Bệnh viện Nhi Đồng, tôi đã mê trẻ con để trở thành một bác sĩ nhi khoa. Khám chữa bệnh cho trẻ con có cái thú là chúng không… biết nói, thỉnh thoảng còn giật kiếng cận và ống nghe của mình, lúc cao hứng còn… tè vào mặt mình. Thú vị nữa là chỉ cần bẵng đi một thời gian, đã thấy chú nhóc bệnh nhi dạo nọ bế trên tay một… chú nhóc khác – là con của chú – đến nhờ khám chữa bệnh tiếp!”

Nói về nghề thầy thuốc, Bs ĐHN cho biết, “Tôi nghĩ y đức không chưa đủ. Còn phải có tay nghề, kỹ thuật chuyên môn nữa. Không nên tách bạch bởi hai cái là một. Nói y đức suông mà không có tay nghề thì… hại người ta nhiều hơn, làm người ta “đau” nhiều hơn. Còn giỏi kỹ thuật chuyên môn mà thiếu y đức thì làm cho người ta “khổ” nhiều hơn. Người thầy thuốc phải quan tâm cả cái đau và cái khổ của con người. Y đức không đơn giản, không phải là một khẩu hiệu, phải được học tập và rèn luyện xuyên suốt quá trình học y khoa và hành nghề.

Tôi không cảm thấy có bước chuyển nào cả khi bước vào tuổi hưu. Y khoa vốn là một nghề độc lập. Người thầy thuốc có thể làm việc suốt đời nếu còn đủ sức khỏe. Nghề văn cũng vậy, là một nghề tự chủ, có thể làm việc suốt đời, nếu còn thấy hứng thú. Tôi rất hoan nghênh các bạn trẻ muốn theo nghề y. Đây là một ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội. Nhưng chọn học y là chọn con đường gian nan, tiếp xúc thường trực với những nỗi đau, nỗi khổ của kiếp người (sinh, lão, bệnh, tử)… Phải thật sự yêu nghề và có năng lực. Nói chung, học y cần có lý tưởng nhân đạo, một “tiếng gọi sâu thẳm” (vocation) của nghề nghiệp. Nếu học y để mong đầu tư… làm giàu trên bệnh nhân thì không nên! Thật ra, học y cũng rất thú vị, nhiều thử thách, đòi hỏi trách nhiệm cao. Người bác sĩ luôn đứng trước lương tâm của mình. Hạnh phúc rất lớn khi thấy mình sống hữu ích cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Cứu sống một mạng người bằng lập năm bảy kiểng chùa, phải không?

VÀ NGHIỆP

ĐHN chia sẻ, “Tôi mê văn thơ từ hồi nhỏ, đọc gần hết tủ sách trong một tiệm cho mướn sách ở Phan Thiết. Cô Hai tôi (đi xe lửa trúng mìn, bị gãy cả hai chân) cư ngụ trong một ngôi chùa nhỏ, thường kêu tôi đi mướn sách về cho cô đọc, nhưng lại cấm tôi đọc vì con nít đọc truyện không tốt, mê, bỏ học. Mỗi lần đi mướn truyện, tôi lén đọc hết dọc đường đi, có khi ngồi gốc cây đọc xong mới về. Tôi còn ghi chép tóm tắt nội dung, các nhận xét của mình vào một cuốn vở.

Tôi nhớ những bài văn của mình hồi học lớp Nhứt (lớp 5) thường được thầy khen và đọc trước lớp. Rồi cậu tôi là ông Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư làm báo ở Saigon về thăm, cho một đống sách báo, tranh ảnh. Tôi mê tít.

Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh, Trần Mộng Lâm…), rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…).

Năm 1967, đang là sinh viên Y, tôi in tập thơ đầu tay Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng Quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (2010) …

Tôi không viết ‘chuyên nghiệp’ được như Nguyễn Hiến Lê, tôi chỉ viết khi có hứng. Bây giờ có máy vi tính cũng tiện. Khi hứng đến, tôi cứ viết ào ào rồi để đó, năm bảy ngày sau cho nó ‘hoai’ đi mới ‘chỉnh’ lại đôi chút. Tuy nhiên, khi báo đặt bài gấp thì cũng viết ngay được. Lâu lâu gom lại có thể in thành một cuốn sách như Thư gởi người bận rộn, Chẳng cũng khoái ru, Nhớ đến một người, … Tôi không viết được truyện, vì không có khả năng… hư cấu!”

Đến nay, họ Đỗ có khoảng 60 đầu sách thuộc ba tủ sách Văn học, Y học, và Phật học được xuất bản, trong đó vài cuốn được dịch ra ngoại ngữ. Có thể nói nhờ có văn chương mà sách Y học và Phật học của ông dễ đi vào lòng người, được độc giả ưa chuộng.

Riêng về phần thơ, với người viết, thơ Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc không bí hiểm, kiểu cách hoặc màu mè… Những từ, những chữ rất đời thường được ông khéo léo đặt vào đúng vị trí nên thành “đắc địa”, rất tuyệt, khiến người đọc có thể cảm được cái không khí, cái thời tiết được nhắc đến trong bài thơ nên rất thích và rất thấm. Chẳng hạn:

Đi giữa Sài Gòn
Phố nhà cao ngất
Hoa nở rực vàng
Mà không thấy Tết

Một sáng về quê
Chợt nghe gió bấc
Ơ hay xuân về
Vỡ òa ngực biếc!
(ĐHN – Gió bấc)

Hay là:

Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố Tàu

Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo
(ĐHN – Tuyết)

Người viết rất đồng thuận với nhà thơ Trịnh Y Thư, “Thơ ông là tiếng nói, tiếng nói thầm thì nhưng trong veo và có sức mạnh chuyển tải cảm xúc, biểu hiệu cho một tâm hồn thơ giàu suy cảm. Nhờ thấm đẫm Thiền vị, thơ Đỗ Nghê thắt buộc sự hiện hữu của con người vào thế giới xung quanh, và quan trọng hơn, tìm ra được quan hệ hài hòa giữa sự hiện hữu ấy với thế giới.”

VÀ CŨNG CÓ MỘT “HỌA SĨ” ĐỖ HỒNG NGỌC

Có lẽ ít người biết ĐHN vẽ tranh, trừ nhóm bạn của ông. Những tranh bút sắt ông vẽ rất “tới” như Đà Lạt, Quê Nhà, Tà Cú, Phan Thiết, Harvard Square… Ông cũng vẽ những phác thảo chân dung bạn bè: Thầy Tuệ Sỹ, Đinh Cường, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Nguyễn Lệ Uyên, Trần Vấn Lệ… Và cả những bức chân dung rất thú vị khi “len lén” quan sát những nhân vật mà ông có dịp gặp gỡ đã được kể lại trong “Áo Xưa Dù Nhàu…” như nhà thơ Huy Cận (1996), Giáo sư Trần Văn Khê (1997).

Còn nhớ năm 2014, khi biết tôi về thăm nhà lúc cuối năm, họa sĩ Đinh Cường “bỏ nhỏ”: “Khi nào về Sài Gòn nhớ nói Ngọc vẽ cho một bức…” Tôi chỉ trả lời: “Em không dám đâu…” vì nghĩ tới Khánh Minh… Thời đó, anh Ngọc toàn vẽ các bạn nam, chưa người nữ nào có hân hạnh được anh vẽ. Một bữa, chị KM nói anh Ngọc vẽ cho một bức chân dung, nhưng anh thoái thác bằng một bài thơ:

thục nữ
gởi khánh minh

em bảo vẽ cho em một bức chân dung
chân dung người làm thơ
một người làm thơ nữ
trời đất ơi
làm sao vẽ được chân dung
một người làm thơ nữ
đom đóm hái sao

tôi nhắm mắt lại nhìn em
cho rõ
lần đầu gặp ở trương thìn,
đây khánh minh
rồi làm thinh

tôi thấy em thục nữ,
tại sao mà làm thơ
rồi nhìn thêm lần nữa
oan oan thư cưu

cho đến một hôm nơi ồn ào kia
quanh bè bạn thân quen đâu từ kiếp trước
em tặng mỗi người tập thơ còn ướt
những bài thơ hình hiện muôn đời
như không thôi đi được…

tôi nhắm mắt nhìn em cho rõ
thử hình dung ra cái hình dung
rồi vẽ vào không gian trong
một người làm thơ nữ

khi mở mắt ra
em tan biến
đành ghi vội mấy dòng
tạ lỗi!

Đỗ Hồng Ngọc
(9.2014)

Nhưng cuối cùng, chị KM đã đạt được ước mơ có một bức phác thảo chân dung do anh Ngọc vẽ vì cảm bài thơ “Sắc Màu Bay” của chị.

Nghĩ mình kém cỏi, không thể nào làm thơ hay được, nên tôi chọn im lặng… Chẳng ngờ, anh Đinh Cường nói với anh Ngọc sao đó, nên rốt cuộc tôi cũng được một bức phác thảo anh vẽ tặng. Vui ơi là vui! Anh Đinh Cường khen bức đó lắm “nét là tài hoa hồn là người”… Sau này, anh Ngọc còn vẽ cho chị Duyên và Thu Vàng nữa…

BÀI THƠ “THƯ CHO BÉ SƠ SINH”

Giáo sư Huỳnh Như Phương nhận xét, “… Với bài ‘Thư cho bé sơ sinh’, ngòi bút Đỗ Nghê không chỉ tranh đấu cho hòa bình như một lẽ phải đương nhiên, mà còn suy ngẫm về thân phận con người trong một thời buổi nhiễu nhương và phả hơi ấm tình yêu con người trong một cấu trúc ngôn ngữ hiện đại. Thật kỳ lạ, ở tuổi 25, Đỗ Hồng Ngọc đã tự đặt cho mình một cột mốc thơ ca mà chính ông không dễ gì vượt qua. Ni sư Giải Nghiêm ở Canada có lý khi cho rằng nhiều bài thơ và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc về sau này dường như là một sự nối dài ‘Thư cho bé sơ sinh’.

‘Thư cho bé sơ sinh’ còn đặc trưng cho thơ Đỗ Hồng Ngọc ở điểm này: tác giả khai thác nhiều khía cạnh tương phản của đời sống: tiếng khóc và nụ cười, màu sáng và màu tối, thực chất và nhãn hiệu, cái bé bỏng nhỏ nhoi và cuộc đời rộng lớn; nhưng không đẩy nó vào thế đối lập mà đưa những tương phản đó thành những hợp thể. Phải chăng đây cũng là dấu ấn của lý tưởng hòa hợp trong thơ ông sau này, khi ông viết những bài thơ mang hơi thở thế sự hay mang tâm thức thiền học.”

Trường hợp sáng tác bài thơ này được Bác sĩ ĐHN chia sẻ:

“Bài thơ ‘Thư cho bé sơ sinh’ tôi viết năm 1965, trong một đêm trực ở Bệnh viện Từ Dũ, sau một ca đỡ đẻ đầu tiên trong đời của một sinh viên y khoa thực tập. Hồi đó, phải học đến năm thứ ba y khoa chúng tôi mới được phép đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 ‘ca’ sanh thường, không bệnh lý. Tối tối, chúng tôi túc trực ở phòng nhận bệnh để ‘bắt ca’. Một hôm, tôi bắt được ca ‘4 cm’, nghĩa là ca mà cổ tử cung đã nở gần trọn, sắp sanh. Tôi đưa sản phụ lên phòng sanh, thăm khám, làm vệ sinh các thứ, theo dõi cơn co tử cung, ghi chép cẩn thận vào hồ sơ bệnh án rồi ngồi bên trò chuyện cho sản phụ quên đau. Tôi nghĩ đến mẹ mình, đến những giọt mồ hôi của biết bao bà mẹ chờ sanh khác. Đến gần sáng thì cơn đau đã rột. ‘Lúng túng’ một cách lành nghề, tôi cũng đã đỡ được ca đầu tiên mẹ tròn con vuông! Lòng lâng lâng tôi đẩy xe cho hai mẹ con về phòng, rồi viết bản ‘phúc trình’. Trời đã hửng sáng. Bên ngoài khung kính cửa phòng sanh, Sài Gòn tấp nập và hừng hực không khí ngột ngạt những ngày tháng này của năm 1965.
Đột nhiên, một cảm xúc trào dâng, tôi viết liền một mạch ngay sau phần bệnh án một bài thơ nhỏ:

Thư cho bé sơ sinh

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến

Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút đó
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng, với hoang mang,
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận
Con người…

Đỗ Nghê
(Đỗ Hồng Ngọc, Bv Từ Dũ, 1965)

Sáng hôm sau, giáo sư HNM đọc bản phúc trình của tôi, gọi tôi vào rầy: ‘Đỡ đẻ không lo đỡ đẻ, lo làm thơ!’. Chẳng ngờ bài thơ viết vội trong đêm trực đã phổ biến nhanh trong giới sinh viên và nữ hộ sinh thời đó. Không biết ai đã viết lên bảng đen! Bài thơ được đăng trên báo Tình Thương, rồi in lại trong tập thơ ‘Tình Người’ của tôi, năm 1967.

Số phận bài thơ khá ly kỳ. Năm 1973, Bác sĩ Lương Phán đăng lại ‘Thư cho bé sơ sinh’ trong một tạp chí y học do ông phụ trách, và đã trả nhuận bút rất hậu! Tôi nhớ thời đó thơ ít khi được trả nhuận bút. Ngay cả báo Bách Khoa cũng chỉ trả trung bình 50 đồng cho một bài thơ, nhưng bác sĩ Lương Phán đã trả tôi… 5000 đồng! Ông nói, ‘vì tôi rất thích bài thơ này’. Điều cảm động là sau ngày đất nước thống nhất, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu (sinh ở Phnom-Penh 1935 và mất ở Saigon 1998, tốt nghiệp nhạc viện Paris, còn có bút danh là Phạm Trọng) chống nạng đến thăm tôi – trước đó chúng tôi chưa từng quen biết nhau – nói chỉ để tặng cho tác giả thơ bài hát ‘Thư cho bé sơ sinh’ mà anh đã phổ nhạc từ trong nhà tù nhờ đọc được cuốn tạp chí y học của bác sĩ Lương Phán. Anh nói anh viết bài này là để dành riêng cho ca sĩ Thái Thanh hát! Và cũng từ đó nhạc sĩ đã rất thân thiết với tôi. Chúng tôi vẫn thường gặp nhau luôn, nhất là mỗi khi anh có bài hát mới, thường kêu tôi tới để hát cho nghe! Anh luôn ‘mày tao’ rất dễ thương, vì anh lớn hơn bọn tôi đến mấy tuổi!

Còn chú bé – hay cô bé? – sơ sinh của tôi lúc đó thì nay đã gần 40 rồi còn gì! Biết đâu cũng đang là một người “bận rộn”, chẳng có thì giờ để đọc những dòng chữ này. Dầu vậy, tôi vẫn rất muốn nói cảm ơn em!

Khoảng năm 1995 tôi có dịp làm việc với ba vị bác sĩ, là giảng viên của Trường Trung học Y tế tỉnh Phú Thọ ở miền Bắc lần đầu vào Saigon. Trong lúc chuyện trò, có người tình cờ nhắc bài thơ ‘Thư cho bé sơ sinh’ của tôi thời sinh viên thì thầy Nguyễn Hồng Hải, một trong ba vị bác sĩ đến từ Phú Thọ bỗng chồm lên, ôm lấy tôi, mừng rỡ: ‘Thế ra anh là tác giả bài thơ đó ư?’.

Rồi thầy đọc liền một mạch. Thầy nói gần 20 năm nay, năm nào dạy lớp nữ hộ sinh ở Phú Thọ, thầy đều đọc cho họ nghe bài thơ mà thầy không biết tác giả là ai, chỉ nói ‘khuyết danh’ thôi. Gần đây, tôi tình cờ phát hiện trên mạng, có một bản dịch sang tiếng Anh bài ‘Thư cho bé sơ sinh’ của Phát (Phat’s blog), một người không quen biết, với những lời bình thật sâu sắc!”

NHỊP CẦU Ô THƯỚC

Nhà văn Trần Hoài Thư chia sẻ, “Tôi có được cơ duyên gần gũi với nhà thơ họ Đỗ này trong một thời gian khi tôi làm lính vùng hai. Cứ mỗi lần đi phép, tôi hay chọn SG để về. Có hai nơi để tôi qua đêm. Đó là cái cabin của vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức & Bé Ký và căn lầu của Đỗ Nghê tại một hẻm gần khu Bàn Cờ.

Và những lần rảnh rỗi, Đỗ Nghê vẫn hay chở tôi bằng chiếc Vespa đi rong chơi các phố SG, hoặc có khi đêm đêm hai đứa ghé tại một quán bánh cuốn lộ thiên ở đầu hẻm. Một chàng bác sĩ luôn luôn chỉnh tề chững chạc, miệng hay nở nụ cười, với đôi kính trắng, dáng người phốp pháp, đi đứng thì ung dung, nói năng từ tốn, không bao giờ chửi thề, hiền như bụt… lại làm bạn với một tên lính bụi đời, phóng đãng, thì quả là chuyện lạ, khiến một số bạn bè ngạc nhiên không ít.

Làm sao họ biết có một thứ chung như keo kết dính chúng tôi. Đó là lòng yêu mến nghệ thuật, thi ca chảy trong máu huyết.

Bằng chứng? Hãy nhìn quanh ông: bạn bè toàn là nhà văn, nhà thơ.

Với mẫu người như vậy, nào ai biết ông đã lập một kỳ công là xây cái nhịp cầu Ô Thước ngay tại con đường Phan Đình Phùng SG gần tòa soạn Bách Khoa để giúp một chàng Ngưu Lang từ chót vót Trường Sơn và nàng Chức Nữ ở mút tận đồng bằng châu thổ gặp nhau! Cái cầu ấy được thực hiện bằng chiếc Vespa mà ông đã làm tài xế để thả chàng xuống trước tòa soạn, rồi sau đó dzọt lẹ!”

ĐHN cũng kể: Trần Hoài Thư từ xa về, ở tạm nhà tôi mấy hôm để tôi đưa đến Tòa soạn Bách Khoa “coi mắt” người trong mộng đã hò hẹn qua thư. Nàng ở tận miền Tây, mê THT qua thơ văn… Hai người chưa hề biết mặt nhau. Suốt mấy ngày, THT đi vào đi ra nôn nao lắm. Tôi đưa anh đi bằng cái xe Vespa cà tàng của tôi nơi này nơi khác, lúc café, lúc bánh cuốn nóng đầu hẻm cho vui, nhưng anh không vui mấy mà có vẻ lo lo. Đi phép có mấy ngày. Thời chiến. Bách Khoa có Lê Ngộ Châu như ông mai, môi giới cho hai trẻ…

Hôm đó đúng hẹn với Y, người trong mộng tại báo Bách Khoa, tôi thấy anh hồi hộp lắm, ăn mặc có chút chải chuốt hơn như chàng rể đi coi mắt vợ. Tôi lấy xe Vespa cà tàng của mình đưa anh đến BK và lén bỏ đi ngay cho họ tự do tâm tình mà không có mặt mình. Ai dè lát sau THT về nhà, tiu nghỉu, đầy vẻ thất vọng vì nàng không đến như lời ước hẹn mà cũng không một lời giải thích. Ngay sáng sớm hôm sau, anh “cuốn gói” lên đường, trong một nỗi tuyệt vọng rã rời chưa bao giờ tôi thấy ở một chàng trai “giang hồ” đầy khí phách nơi gió cát như vậy. Tôi không dám có một lời khuyên. Đành đưa anh lên đường và hai bạn vào một quán café góc phố trên con đường Phan Đình Phùng xóm Bàn Cờ quen thuộc.

Tôi nhìn anh rít thuốc lá như nuốt hết khói vào trong. Thời chiến. Mùa hè đỏ lửa. Tôi biết anh đi không chắc trở lại. Bỗng dưng tôi viết rất nhanh:

Ta cũng muốn ngâm tràn câu tống biệt
Đưa người đi tiếng sóng ở trong lòng
Nhưng khói thuốc đã cay sè đôi mắt
Có ai còn thổi sáo trên sông…

Trời buổi sáng mù sương lớp lớp
Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời
Và khí phách thôi một thời trẻ dại
Ta nói gì cho bớt chút chia ly…

Rồi đột nhiên không cầm lòng được, tôi bỗng viết tiếp:

Người yêu thương cũng vội vàng lỗi hẹn
Còn gì không hay một thoáng chiêm bao
Ơi cánh chim của mùa xuân lỡ đến
Khoảng trời xanh còn chất ngất xôn xao

Ta bè bạn dám đâu lời can gián
Một giờ yêu cũng đủ một đời vui
Hãy tin tưởng có hôm nào trở lại
Cho trời xanh và mây trắng đẹp đôi…

Rồi tôi quay trở lại với dòng thơ “tống biệt” của mình:

Đưa người ta nâng ly cà phê nhỏ
Rồi quan san rồi bụi đỏ người đi
Rồi khói súng người tập tành nỗi chết
Ta trở về hiu hắt đường khuya

Ta đã nói gì hình như chưa nói
Những dặn dò những hứa hẹn bâng quơ
Rồi người bước đường hoang lạnh quá
Ta đứng nhìn nghe ngày tháng đong đưa…
(Đỗ Nghê, 1972)

Khi in tập Thơ Đỗ Nghê năm 1974 – (Ý Thức xuất bản, ronéo, dành tặng bạn bè anh em – do Lữ Kiều Thân Trọng Minh, Trần Hữu Lục, Nguyễn Sông Ba … thực hiện ở Đà Lạt với hình bìa tranh Nguyễn Trung do Hoàng Đăng Nhuận trình bày, rồi Hoàng Khởi Phong mang xe chở sách về tận Saigon cho Đỗ Nghê) thì tôi đã đăng nguyên 6 khổ của bài Buổi tiễn đưa này, thế nhưng 20 năm sau, khi in lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa, tôi cắt bỏ hai khổ giữa, vì nghĩ đây là chuyện rất riêng tư, không nên nhắc, có thể khiến THT buồn! Vả lại, bài thơ cắt gọn sẽ cô đọng hơn.

May thay, tôi còn giữ được bản thảo do Lữ Kiều gởi lại cho. Chuột gậm, mối nhấm, nhưng có hề gì! Bản thảo đánh máy trên giấy pelure mỏng, máy chữ Olivetti, cắt dán, phết keo phía sau thời đó trông cứ tưởng như bài thơ bị xóa.
Không đâu, keo hồ đó thôi, phải không Trần Hoài Thư?

ĐỖ CHÂU LA NGÀ

La Ngà là con sông lớn chảy qua La Gi quê nhà của Đỗ Hồng Ngọc. Theo Wikipedia, sông La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ven khu vực thành phố Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai. Đó cũng là tên người con gái đầu lòng của ông đã mất năm 1990 vì tai nạn giao thông trong một chuyến đi công tác xã hội tại Bình Chánh với các bạn ở trường Y.

Câu chuyện được Bác sĩ / Nhà văn Minh Ngọc, người bạn cùng lớp với Đỗ Châu La Ngà, hiện ở Nữu Ước, Hoa Kỳ, là Clinical Assistant Professor khoa Gây mê, Chăm sóc chu phẫu và Thuốc giảm đau tại Trường Y khoa NYU Grossman Long Island, chia sẻ trong tùy bút “Người Bạn Trong Mơ” sau đây:

“Đỗ Châu La Ngà, con gái đầu lòng của BS. Đỗ Hồng Ngọc, là bạn cùng lớp với tôi hai năm đầu sinh viên. Lúc đó BS. Đỗ Hồng Ngọc phụ trách Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe Sở Y Tế, ông bà dạy con rất nghiêm theo nề nếp gia đình trí thức hồi xưa nên Ngà giản dị hồn nhiên, bạn bè ai cũng thương mến. Tôi bây giờ gần nửa đời, gặp gỡ không biết bao nhiêu người, vẫn thấy hiếm có ai như Ngà, luôn luôn nở nụ cười tươi tắn trên môi, hòa nhã ôn tồn với mọi người, không hề thấy Ngà cao giọng hay lớn tiếng, giận hờn trách móc ai.

Lúc đó chúng tôi chuẩn bị lên năm thứ ba. Nghỉ hè, các lớp được phân công trực đêm ở trường. Đêm đó lớp tôi trực, cũng đủ trò như mọi khi, ăn uống, cười giỡn, kể chuyện ma, đánh bài, đàn hát. Đám con gái ngồi bàn tán chuyện mua sách giáo khoa vì đã lâu trường chưa tái bản nên rất khó tìm. Tôi khoe vừa mua được ở tiệm sách cũ gần trường Dự bị Đại học, Ngà biết tiệm đó nhưng không hiểu sao một mực bắt tôi hứa phải đi mua sách với Ngà, tôi hứa để hai ba bữa nữa rồi đi. Sáng, chúng tôi thu dọn đồ đạc đi về, Ngà ngồi một mình trên băng đá trước phòng bảo vệ đọc cuốn “Kiến và chim bồ câu” của Leo Tolstoy. Tôi hỏi sao chưa về, Ngà cười nói Ngà chờ đoàn công tác xã hội của trường. Tôi nói vậy đi vui nghe, rồi tôi về nhà ngủ.

5

Buổi chiều trời mưa dông nên sập tối sớm, tôi mới ngủ dậy thì nghe đám con trai trong lớp kêu cửa inh ỏi. Chị tôi ra mở cửa và lấy nước cho rửa chân. Kim Minh thấy mặt tôi nói liền: “Bà thay đồ đi với tụi tui. La Ngà chết rồi!”. Tôi nói: “Giỡn gì kỳ vậy?”. Mân và Thái Minh kể sáng hôm đó Ngà đi theo đoàn công tác xã hội lên trường khuyết tật ở Bình Chánh. Ngà đạp xe đi song song với Thúy Nga, tới Phú Lâm thì bị chiếc xe buýt từ phía sau tông trúng. Lúc đó đường vắng không có xe, anh trưởng đoàn phải kêu chiếc xích lô chở Ngà về Chợ Rẫy, một nhóm chạy về nhà báo tin cho ba mẹ Ngà. BS. Đỗ Hồng Ngọc chạy tới phòng cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy thì Ngà đã tắt thở trên đường đến bệnh viện, ông đứng khóc ròng. Ngà bị thương tích quá nặng.

Tôi vào hỏi ba má tôi, chắc mặt tôi thất thần lắm nên ba má tôi khuyên để hôm sau hãy đi, sợ tôi xúc động quá (tôi vốn bị loạn nhịp tim nhanh, supraventricular tachycardia). Chiều hôm sau tôi đến, đã có một nhóm bạn trong lớp. Ngà nằm trên chiếc giường trong phòng khách, mặc chiếc áo trắng quen thuộc, thanh thản như ngủ say. Chúng tôi lên thăm căn phòng xinh xắn của Ngà, những cuốn nhật ký, sổ tay chép thơ dán ảnh trang trí, Ngà cũng có làm thơ nữa mà chúng tôi không biết. Ngày đưa tang Ngà lên nghĩa trang nằm bên bờ sông La Ngà quê nội, trời mưa dầm sụt sùi. Chúng tôi nhìn tấm ảnh Ngà tươi cười lồng trên bia mộ mà không cầm được nước mắt, nụ cười và đôi mắt tinh nghịch sau cặp kính đó vĩnh viễn chúng tôi không bao giờ còn thấy được nữa.

Sau ngày đưa tang Ngà, đêm nào ngủ mơ tôi cũng thấy Ngà mặc chiếc áo trắng, năn nỉ đi mua sách với Ngà đi. Má tôi bàn hay là đem cuốn sách đốt cho Ngà rồi khấn cho Ngà siêu thoát.

Chưa kịp làm thì cuốn sách của tôi tự nhiên biến mất tìm không ra, rồi tôi cũng không thấy Ngà nữa.

Ngày Ngà mất, BS. Đỗ Hồng Ngọc làm một bài thơ với những câu cuối như sau:

Cô học trò Minh Khai
– Gia Long của mẹ –
Cô sinh viên trường thuốc
– Tuổi trẻ của ba –
Con đã lớn lúc nào ba má không hay biết
Cứ tưởng con còn nhỏ xíu thôi
Đến khi con mất đi rồi
Mới biết con đã lớn!”

Minh Ngọc
Tháng 10/2018

Đó là vết cứa sâu thẳm trong tim, nỗi đau âm ỉ vô cùng, và sự mất mát quá lớn mà bậc cha mẹ phải gánh chịu, dù vẫn nhận biết: “Cuộc sống tự nó là nỗi hiểm nguy và sự bất an, sự chuyển động bất tuyệt, và tự nó cũng là nỗi hân hoan, là niềm cực lạc. Thật là tuyệt khi ý thức cuộc sống là vô thường, luôn thay đổi, chuyển động… để rồi tuyệt vọng, thất vọng vì không được như ý”.

Đã bao nhiêu năm qua nhưng không lúc nào ông quên người con yêu với nụ cười hiền dịu, tươi tắn. Những bài thơ ông viết cho La Ngà là những bài thơ xót xa nhất, xúc động nhất, không thể ngăn được dòng lệ tiếc thương.

Tình yêu

Trước mộ con còn ướt
Ba nói với bè bạn ba rằng
Hãy yêu thương con mình cách khác
Đừng như ba
Giấu kín trong lòng

Bởi tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa
Ba đã sai lầm bao nhiêu

Hãy tỏ bày đi
Vồ vập đi
Âu yếm ồn ào đi
Tình yêu
Có bao giờ cho đủ
Có đâu sợ dư thừa

Ba đã sai lầm bao nhiêu
Vì cứ chờ cứ đợi
Có biết đâu
Đời như mây nổi
Như gió thổi
Như chiêm bao
Ơi bài học tự thuở nào
Sao bây giờ mới hiểu

Muốn vồ vập con hôm nay
Muốn âu yếm con mãi mãi
Thì đã muộn rồi
Có bao giờ thừa thãi
Tình yêu?
 (ĐHN 1990)

La Ngà 5

Ba dạy con
Mỗi ngày
Một chút

Không bài học nào
Như ba đã học
Từ con:

Nỗi mất! (ĐHN – 1990)

Ngày giỗ con, ông viết bài thơ “Giỗ một dòng sông” se sắt được nhạc sĩ Thuần Nhiên Nguyễn Đức Vinh ở Đà Lạt phổ thành bài nhạc “Sông ơi cứ chảy…” vào mùa Giáng sinh 2017 như một khúc réquiem cho nước mắt lặng lẽ trôi ngược vào tim.

Giỗ một dòng sông

Sông ơi cứ chảy
Cứ chảy về trời
Cứ về biển khơi
Cứ làm suối ngọt
Cứ làm thác cao
Cứ đổ ầm ào
Cứ làm gió nổi
Cứ làm mây trôi…

Sông ơi cứ chảy
Chảy khắp châu thân
Chảy tràn ra mắt
Chảy vùi bên tai

Dòng sông không tắt
Dòng sông chảy hoài… (ĐHN)

MỘT NGÀY CỦA BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

Trò Chuyện với Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc (Nhà thơ Đỗ Nghê) kỳ 23 – 30.9.2013
(Nguồn: dutule.com)

Sáng thức dậy, không cần biết mấy giờ. Trừ những ngày phải đi dạy học còn thì cứ ngủ… thẳng giấc. Ngủ cần thiết cho tuổi già lắm. À, mà già chưa nhỉ thì không biết. Vệ sinh cá nhân các thứ xong,… ngồi thiền chừng 30 phút, tựa lưng vào giường, lim dim nhìn vào vách (diện bích?) vì nhà chật quá. Chỉ theo phương pháp thiền “quán niệm hơi thở” (Anapanasati) vì đây là một phương pháp thiền có cơ sở khoa học, sinh học, đáng tin cậy nhất, dưới cái nhìn của một bác sĩ, không có chuyện thần bí, mê tín dị đoan ở đây. Mươi năm nay, ngày nào cũng vậy, đã thành một thói quen, thiếu thì thấy… thiếu! Tiếp đó là thể dục, cũng chừng 30 phút, với những động tác tự “sáng chế” riêng phù hợp với thể chất mình, sức khỏe, tuổi tác mình. Phật dạy “hãy quay về nương tựa chính mình” là vậy. Bởi nếu có thầy dạy cho thì thầy thường ép mình phải theo cách của thầy. Chỉ nên nắm lấy nguyên tắc thôi! Nhờ thiền và thể dục đều đều như vậy mà mươi năm nay không bị đau lưng, nhức mỏi như trước, làm việc dẻo dai hơn và không phải dùng nhiều thuốc. Chỉ dùng mỗi một thứ để ổn định huyết áp sau cái vụ stroke phải mổ năm xưa.

Từ những trải nghiệm bản thân này, tôi cũng vừa cho in cuốn “Thiền và Sức khỏe” để chia sẻ kinh nghiệm cùng bè bạn gần xa, nhất là những người có tuổi hay ốm đau, phiền muộn.

Tắm rửa xong thì tự pha cho mình một ly café filtre, với yaourt thay vì sữa đặc có đường (trừ những ngày đi dạy hoặc đi “nói chuyện sức khỏe” đâu đó thì tăng cường một gói mì gói cho đủ calo). Café-yaourt ư? Phải. Cũng tự chế ra vậy thôi, vì yaourt tốt hơn sữa đặc! Nhớ André Maurois kể, một hôm ngồi café vỉa hè Paris, đang dùng muỗng lách cách khuấy tách café sữa thì đột nhiên “ngộ” ra một điều thú vị: Thì ra cái dải Ngân hà (la Voie lactée) vĩ đại kia hình thành chỉ do ai đó tình cờ hí hoáy khuấy tách café sữa khiến dòng sữa vỡ ra thành những dải tinh vân xoay vần trong vũ trụ…

Lúc này tôi vẫn còn dạy chút ít ở Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Saigon, ít thôi, lai rai thôi. Đi dạy thì có cái thú được gặp sinh viên và nhớ lại thuở đôi mươi của mình. Tôi dạy kiến thức chút chút, những điều cốt lõi thôi, còn thì dành thì giờ kể chuyện xưa nay, đông tây kim cổ cho các em nghe, để từ đó rút ra bài học về cách sống, cách học, cách hành nghề sau này… Mấy năm nay tôi cũng ít trực tiếp khám bệnh, vì đã có đứa con “nối nghiệp”. Chẳng bao lâu nữa, tôi nghĩ mình cũng sẽ như người bắn cung thiện xạ nọ không còn biết cây cung, mũi tên là cái chi chi! Trái lại, tôi thường được mời đi đây đó để “nói chuyện sức khỏe” (health talk), với các đề tài như Thở để chữa bệnh, Thiền và sức khỏe, Một nếp sống hạnh phúc, Một tuổi già hạnh phúc, Cân bằng cuộc sống, Stress trong đời sống hằng ngày v.v… Mỗi buổi đi nói chuyện như vậy, với tôi, là một cơ hội để giao lưu và học hỏi.

Sau đó rồi thì ngồi vào máy vi tính. Trả lời “meo”. Đọc chút báo mạng. Có hứng thì lọc cọc gõ chút gì đó, sai be bét cũng mặc, đợi ít lâu cho nó “hoai” đi rồi sửa dần. Có cái vi tính cũng hay. Không khổ sở như hồi máy đánh chữ! Lại tiện lợi gởi “meo”, gởi hình trong nháy mắt. Ở Việt Nam, người ta đùa: “Dân ta phải biết sử ta / Ai mà không biết thì tra Google!”…

Từ ngày về hưu rồi thì thứ Bảy và Chủ nhật mới là ngày… làm việc thực sự! Lu bu nhất mấy ngày đó. Đi dự đám cưới đủ mệt. Thỉnh thoảng dạo cảnh chùa. Có dịp thì lang thang đây đó, lên rừng xuống biển, về quê. Tôi vẫn thường ngồi tán gẫu với bạn bè ở các quán café vắng vẻ, nơi bờ ao, bờ hồ, còn chút thiên nhiên… Nhớ lần ngồi café với Nguyễn Tường Bách ở Đức về, nói chuyện trên trời dưới đất, từ Big Bang đến Niết Bàn các thứ, lúc ra về Bách nói ai mà nghe mình nói chuyện sáng nay chắc nghĩ bọn mình điên!

Bây giờ đọc ít thôi. Mắt kém. Đọc trên mạng nhiều hơn sách báo vì có thể phóng to lên được. Lạ, từ ngày nghiền ngẫm kinh sách Phật, thấy cũng mê như đọc kiếm hiệp!

Xưa viết cho nhiều báo, nay gần như chỉ viết cho Văn hóa Phật giáo, Giác Ngộ, Từ Quang…

Nhớ năm đó nhóm bạn Ý Thức ngồi café cùng Nguyễn Mộng Giác, Giác bảo viết như Đỗ Nghê mà hay đó, hỏi tại sao, đáp tại vì Đỗ Nghê viết về “sanh lão bệnh tử”… của kiếp người! Lúc đó Giác vừa mới mổ gan về thăm anh em. Nhớ Jean Paul Sartre bảo cuốn La Nausée của ông không có ý nghĩa gì trước một em bé sắp chết đói ở Châu Phi! Lúc đó ông chỉ mong có một ổ bánh mì!

Cũng tại cái “nghiệp” thầy thuốc của tôi thôi! Nó thế. Tôi không có khả năng “hư cấu” nên không viết được truyện dài truyện ngắn tiểu thuyết như các bạn mình. Thơ tôi bây giờ cũng đặc quánh lại, có khi chỉ vài câu như khi viết mấy câu cho Mẹ trong ngày Vu Lan năm ngoái:

Con cài bông hoa trắng
Dành tặng mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông…

Hoặc một bài cho tình xa:

Lá chín vàng
Lá rụng về cội
Em chín vàng
Chắc rụng
Về anh…

Đại khái vậy. Không biết có phải là thơ không nữa!

Nhắc lại, giấc ngủ rất quan trọng. Phải ngủ đủ. Khoảng 7-8 tiếng một đêm ở tuổi này. Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ, không thì thôi. Bài viết “Có một nghệ thuật ngủ” của tôi được nhiều bạn bè chia sẻ. Nhà văn Hồ Anh Thái ở Hà Nội bảo đã photocopy ra khá nhiều để gởi cho bạn bè vì lúc này nhiều người mất ngủ quá! Trên thế giới thì thuốc ngủ vẫn là thuốc bán nhiều nhất! Tuổi càng cao, càng cần ngủ, như pin điện thoại xài lâu, sạc phải càng lâu. Ăn thì rất đơn giản thôi. Có gì ăn nấy. Tôi thường tự chế biến thức ăn cho mình, theo ý mình. Càng ngày tôi càng học tốt hơn hạnh sống “độc cư”, “kham nhẫn / tri túc”.

QUỸ THỜI GIAN

Hình như tôi không có ý niệm có một “quỹ thời gian” nào đó, bởi tôi không thể biết trước tôi có bao nhiêu, đã xài hết bao nhiêu, còn lại bao nhiêu để… lên kế hoạch. Bùi Giáng có câu “Một đời lận đận đo rồi đếm / Gối mỏi người đi đứng lại ngồi” nhớ không?

Tôi sống có vẻ hồn nhiên quá chăng? Lúc Mẹ tôi còn sống bà hay bảo tôi ngu hạng nhất, nhưng tôi cãi, chỉ ngu hạng nhì hay hạng ba thôi! Bà đành cười trừ!

“Xưa nay hiếm” là cái thời của Khổng Tử. Mới mấy hôm trước đây, tôi làm “em xi” (MC) cho một buổi “giao lưu” của những người cao tuổi, có bác sĩ-họa sĩ Dương Cẩm Chương, 103 tuổi, giáo sư nhạc sĩ Trần Văn Khê, 93 tuổi; nhà giáo Đàm Lê Đức, 83 tuổi, nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương. Với họ, tôi hãy còn quá trẻ! Kinh nghiệm là khi mình có tuổi, nên thường xuyên gặp gỡ những người cao tuổi hơn để lúc nào mình cũng “quá trẻ” như vậy! Nhớ nhà văn Võ Hồng ở Nha Trang năm xưa kể vào năm tuổi 70 của ông, người ta làm một buổi họp mặt long trọng mừng thầy Võ Hồng, ai cũng phát biểu chúc mừng thầy “cổ lai hy”. Khi đứng lên đáp từ, ông trịnh trọng đưa tay sờ vào cổ mình và nói thất thập cổ lai hy, rồi lần tay xuống ngực lục thập ngực lai hy, ngũ thập bụng lai hy… và tứ thập… làm mọi người la hoảng và cười vỡ một trận!

Lâu lâu gặp bạn cũ tôi giật mình thấy bạn già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi tôi… vẫn như xưa! Dĩ nhiên, lúc đó bạn tôi cũng thấy tôi già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi bạn vẫn như xưa. Thì ra, đó là một diễm phúc của cuộc sống! Không ai ngờ mình già cả. Nguyên Sa bảo “người ta chỉ có thể đo đếm được tuổi mình qua ánh mắt cố nhân”. Mà lạ, khi gặp lại “cố nhân”, bạn bè hồi niên thiếu, ôn lại chuyện xưa một lát, bỗng thấy mình nhỏ xíu lại, như không hề có thời gian. Mà thật, không hề có thời gian. Cái đồng hồ, cái ngày tháng nọ kia, chẳng qua là những giả định, vui thôi! Khi tôi viết những dòng này, thì tôi đang ở giữa trưa ngày thứ bảy trong khi bạn đang ở nửa khuya ngày thứ sáu! Cho nên Phật dạy: đừng bám vào ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thì mới “thoát” được. Thế nhưng, tuổi già sinh học thì có. Một lần nọ, một chị còn khá trẻ bồng đứa bé đến tôi khám bệnh. Đứa bé la khóc om sòm, chị dỗ: “Nín đi, nín cho ông ngoại khám con!”. Thì ra tôi đã đến ông ngoại rồi mà không hay. Tôi hỏi theo thói quen: Chị là gì của cháu? “Dạ, bà ngoại”. Chị trả lời ngon ơ. Rồi bỗng đâm ra bẽn lẽn. Tôi phải đánh trống lảng ngay! Nhưng chuyện đó xưa rồi, hai mươi năm trước rồi. Mới đây, tôi gặp lại một người quen cũ quê nhà, hơn nửa thế kỷ chưa gặp. Nàng nhắc chuyện đi câu cá, hái chùm ruột đến trèo động cát như mới ngày nào. Đột nhiên nàng nói bây giờ em đã có cháu gọi bằng bà Cố!

Tôi nhớ Trịnh Công Sơn viết: “Về thu xếp lại/ Ngày trong nếp ngày/ Vội vàng thêm những lúc yêu người… Cuồng phong cánh mỏi/…” mà tôi đã trích dẫn trong cuốn Gió heo may đã về (1997), nhưng khi gởi tặng cho anh bạn nhạc sĩ Miên Đức Thắng lúc đó đang ở Đức, anh phone phản đối: làm gì có chuyện vội vàng thêm những lúc yêu người! Tôi hiểu, anh vẫn đang còn rất… ung dung, từ tốn kia mà!

Phần tôi, đôi khi cũng thấy mình cần về thu xếp lại/ ngày trong nếp ngày mà… không dễ.

Bừa bãi quen rồi. Lười biếng quen rồi. Xung quanh chỗ ngồi là một chồng sách ngổn ngang, cao nghệu, rất mất trật tự, nhưng có ai lỡ tử tế sắp xếp lại thế nào tôi cũng la toáng lên! Mất trật tự mà tôi biết cái nào nằm ở đâu!

Còn “làm những việc mình thích” ư? Đương nhiên rồi. Nhân sinh quý thích chí. Không cần phải đợi “cổ lai hy” mới vậy. Phải làm những việc mình thích ngay bây giờ đi! Bởi già dẫn tới già cả, già khú đế mau lắm đó!

THI SĨ – BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một trong những tên tuổi rất quen thuộc những ngày này. Một bạn trẻ đã vào “còm” trên trang nhà của ông thật cảm động:

“Ngôn từ không thể diễn đạt hết sự biết ơn của con (hay của mọi độc giả). Trang nhà của Bác, nơi trở về của con. “Như không thôi đi được”, phải ghé qua, dạo qua, canh xem bài mới, đọc chầm chậm, thưởng thức, như sợ hết món ngon. Nghiền ngẫm, ứng dụng, tự nhắc nhở, và luôn thấy mình quá may mắn!!

Chúng con như có GPS dẫn đường, một đại lộ sáng sủa, với 26 “cửa hàng” là những hàng hiệu, chất lượng miễn bàn, an tâm, bình yên, thong dong mà well-being và well dying.”
– Đồng Xuân viết – 23/01/2024 lúc 6:34 sáng

Dù là Đỗ Hồng Ngọc hay Đỗ Nghê, ông đều được nhiều người yêu quý. Nói về ông, học giả Nguyễn Hiến Lê nhận định, “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị.”
Còn với nhà thơ Phạm Chu Sa, “Nhiều người nghĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ làm thơ, viết văn và gọi anh là bác sĩ – nhà văn. Nhưng tôi vẫn thích gọi anh là thi sĩ – bác sĩ bởi Đỗ Hồng Ngọc có cốt cách thi sĩ trong con người bác sĩ.”

Trần Thị Nguyệt Mai
Tháng 3/2024

(Nguồn: bienkhoi.com Số 107 Tháng 7.2025)


Tham khảo:
1) Trang nhà Đỗ Hồng Ngọc
2) Trang nhà Du Tử Lê
3) Thư Viện Hoa Sen và các trang mạng khác
4) Sách báo Đỗ Hồng Ngọc
5) Tạp chí Thư Quán Bản Thảo
——-

* “Có người hỏi rằng: Thơ tại sao mà làm ra? Ta giả nhời rằng: Người ta đẻ ra mà tĩnh, là tính Giời cho nguyên như thế; cảm ở vật ngoài mà mới động, thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ; đã có nghĩ phải có nói; đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ.” (Chu Hy, Bài tựa Thi tập truyện 詩集傳, Tản Đà dịch)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Một chút tiểu sử, Thư gởi người bận rộn

  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Interim pages omitted …
  • Trang 62
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

“MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” Tuỳ bút Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải
  • Tu viện Khánh An và Tôi
  • Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • Nguyễn Lanh trong THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong “Có một con Mọt Sách”
  • VIỆT THÁI trong Có một buổi Trò chuyện: Bs Đỗ Hồng Ngọc với Nhạc sĩ Dương Thụ
  • Dương Minh Trí trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Nguyễn Thời Trang trong “Có một con Mọt Sách”
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Thở để chữa bệnh!
  • Huỳnh thị Mai Hương (đồng Xuân) trong Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!
  • Ngọc Nguyễn Thị trong Thư gởi bạn xa xôi: Mấy câu hỏi khó cho người… già!

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email