<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	
	>
<channel>
	<title>
	Các bình luận về: Kỳ 37: Phật Học &#038; Đời Sống	</title>
	<atom:link href="https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ky-37-phat-hoc-doi-song/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ky-37-phat-hoc-doi-song/</link>
	<description>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</description>
	<lastBuildDate>Mon, 22 Oct 2018 08:00:13 +0000</lastBuildDate>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>
		Bởi: Bac Si Do Hong Ngoc		</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ky-37-phat-hoc-doi-song/comment-page-1/#comment-66500</link>

		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 22 Oct 2018 08:00:13 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=13471#comment-66500</guid>

					<description><![CDATA[Trả lời tới &lt;a href=&quot;https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ky-37-phat-hoc-doi-song/comment-page-1/#comment-66495&quot;&gt;Văn Minh Hồng (nam)&lt;/a&gt;.

Rất cảm ơn &quot;Độc giả từ xa&quot; đã đóng góp ý kiến rất sâu sắc cho PH &amp; DS kỳ 37 về vấn đề &quot;Tụng/ Niệm&quot;. 
Những buổi trao đổi về Phật học trong Chương trình PH &amp; DS -với một thời gian 90 phút- chỉ nhằm gợi ý để các bạn từ đó nghiên cứu sâu thêm... 
Vì thế, phần đóng góp của bạn rất quý báu. 
Xin đa tạ. (ĐHN)]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Trả lời tới <a href="https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ky-37-phat-hoc-doi-song/comment-page-1/#comment-66495">Văn Minh Hồng (nam)</a>.</p>
<p>Rất cảm ơn &#8220;Độc giả từ xa&#8221; đã đóng góp ý kiến rất sâu sắc cho PH &#038; DS kỳ 37 về vấn đề &#8220;Tụng/ Niệm&#8221;.<br />
Những buổi trao đổi về Phật học trong Chương trình PH &#038; DS -với một thời gian 90 phút- chỉ nhằm gợi ý để các bạn từ đó nghiên cứu sâu thêm&#8230;<br />
Vì thế, phần đóng góp của bạn rất quý báu.<br />
Xin đa tạ. (ĐHN)</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
		<item>
		<title>
		Bởi: Văn Minh Hồng (nam)		</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ky-37-phat-hoc-doi-song/comment-page-1/#comment-66495</link>

		<dc:creator><![CDATA[Văn Minh Hồng (nam)]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 18 Oct 2018 00:26:07 +0000</pubDate>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=13471#comment-66495</guid>

					<description><![CDATA[Kg BS ĐH Ngọc,


    Tôi là 1 độc giả ở xa, thỉnh thoảng có theo dõi trên trang nhà của BS về lớp &quot;Phật Học và Đời Sống&quot;. Tôi thấy cung cách thảo luận lớp học này hay và có thể giúp ích cho nhiều người muốn tìm hiểu, học hỏi thêm về PG với tinh thần tìm hiểu độc lập và thảo luận bình đẳng. Tôi thấy ở thời đại thông tin ở thế kỷ 21 này, độc lập trong suy nghỉ, và thẳng thắng vui vẻ thảo luậnđể tìm hiểu và học hỏi thêm có lẽ là phương pháp nên áp dụng trong học đường, sở làm, và ở cả ... giáo đường 


   Tháng 9 và 10/2018 tôi về VN (từ California) và đã dự định nếu có dịp sẽ ghé lớp học nhưng lai không xắp sếp được, nên đành góp 1 ít ý (từ xa) với bài 37 (Tụng Kinh, niệm Phật, trì chú, ...)


  Xin BS giử cho tôi ẩn danh (Độc giả từ xa) 


  Xin cám ơn BS.

________________


- Vấn đề tụng niệm:

     Tôi có người bạn người Mỹ gốc Ấn Độ, là giai cấp giáo sĩ Bà La Môn, có cho tôi biết trong tôn giáo của họ, kinh điển được truyền từ guru đến học trò bằng cách đọc nguyên văn theo lời kinh (Veda, Upanisad,...) cho đến  thuộc lòng. Chẳng những vậy, người thầy còn kiểm tra từng tu sinh xem đọc từng chử có chính xác và có đúng giọng trầm bổng không? Họ muốn chắc chắn là bài Kinh được truyền từ đời này sang đời khác đều được đọc tụng với từ và giọng như thuở nguyên thủy. Dường như người Bà La Môn (và ngay cả người Tây Tạng) tin rằng các giọng lên xuống, trầm bổng (chử Um chẳng hạn)  ẩn chứa &quot;năng lượng của vủ trụ&quot;  (?)

   Riêng với PG, dù  Phật Thích Ca bước đầu cũng tu tập theo  Bà La Môn, nhưng đã có 1 khuyến cáo khác biệt, như trong kinh điển PG còn lưu truyền:


___________


Tăng Chi Bộ V.209 :         Thuyết Pháp với Giọng Ca


Này các Tỳ khưu, có năm điều nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca ngân nga kéo dài. Thế nào là năm?

- Tự mình say đắm trong âm giọng ấy;

- Làm người khác say đắm trong âm giọng ấy;

- Các gia chủ phê bình: &quot;Như chúng ta hát, cũng vậy, các Sa-môn Thích tử này ca hát!&quot;;

- Vì vị ấy cố gắng rèn luyện cho âm thanh điêu luyện nên sự thiền định của vị ấy bị gián đoạn;

- Làm cho người khác bắt chước theo tà kiến ấy.

Này các Tỳ khưu, có năm điều nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca ngân nga kéo dài.


_________


 Có lẽ PG thời nguyên thủy chỉ đọc, lập đi lập lại để thuộc lòng để có thể truyền cho đời sau  biết được lời của Đức Phật (càng chính xác  càng tốt) chớ không có tụng ngân hay chuông mõ?


 Mình có thể nhớ lại hành trình của ông Huyền Trang đi thỉnh Kinh trong &quot;Tây Du Ký&quot;. Giai đoạn đầu đầy hầm hố, chông gai, núi lửa, quỷ dữ ( Tham-Sân-Si dạng thô) đến khi gần &quot;đạt đạo&quot; (đến được Tây Trúc, rồi được vô tự Kinh) vẫn còn &#039;dính&quot; vào vương quốc của Tiên nử , suốt ngày vui với ca ngâm, thơ phú  (dù là Tham-Si dạng tế, vẫn là Tham-Si và cũngphải bỏ đi)


     Không biết qua thời gian , ảnh hưởng của đạo Hindu có thấm trở lại cung cách thực tập của PG hay không? như ông HT Thích Minh Châu nhận định trong &quot;Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ&quot; (Trong Bản In Năm 1986) :
  

  &quot; ... Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành ...&quot;     (?)


    Tôi được biết là có guru Bà La Môn hiện tai (Nithyananda) có nói rằng Phật Thích Ca là 1 trong những Bậc đạo Sĩ Bà La Môn đã giác ngộ , và tính ra Phật Thích Ca hiên nay là bậc giác ngộ cao nhất trên trái đất này , còn ở những nơi khác cũng có những bậc khác.


   - Còn về vấn đề chuông mõ, dường như đó là phong cách của người Trung Hoa từ các thầy cúng tế, du nhập vào PG khi PG được truyền sang TH ? Có lẽ mình bị ảnh hưởng quá nặng từ người Tàu.


 - Về vấn đề niệm, tôi thấy dường như người Việt mình có thể đã dùng lẫn lộn giửa 2 chử tùy niệm và niệm . Theo tôi được đọc  từ 1 số vị biết ngôn ngữ Pali, có lẽ do phiên địch và cách xử dụng, người mình thường chỉ dùng 1 chử niệm cho cả 2 từ niệm (sati) và tùy niệm (anusati). &quot;Niệm&quot;, có lẽ nguyên gốc trong Kinh Điển PG muốn ám chỉ cái &quot;ghi nhận &quot;,  &quot;theo dõi&quot;,  &quot;quán sát&quot; mà không khởi tâm phân biệt, còn &quot;tùy niệm&quot; để ám chỉ việc đọc, đọc thầm , lập đi lập lại 1 danh hiệu, 1 hay nhiều từ nào đó.

   Theo nghĩa này , trong 1 số Kinh Điển nguyên thủy lưu truyền, nếu đọc, tùy niệm Phật (hay Pháp, Tăng,...) mà đồng thời giử được tâm không tham, sân, si thì sẽ đạt được cõi tịnh, và rồi nhập pháp lưu (bất thối) dù chưa &quot;có&quot; trí tuệ hoàn toàn (vì đây là Thiền Định, chưa phải Thiền Tuệ)
____________________

 

 Tương Ưng , chương 6 pháp, phẩm 1 :  tùy niệm

(X) (10) Mahànàma

1. Một thời, Thế Tôn trú giữa các vị Thích - ca, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

- Vị Thánh đệ tử này, bạch Thế Tôn, đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, đời sống gì vị ấy sống một cách sung mãn?

- Này Mahànàma, Thánh đệ tử nào đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, với nếp sống này, sống một cách sung mãn.

2. Ở đây, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: &quot;Ðây là Thế Tôn... Phật, Thế Tôn&quot;. Khi nào, này Mahànàma, Thánh đệ tử niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Như Lai. Và này Mahànàma, một Thánh đệ tử, với tâm chánh trực (nhất tâm bất loạn ?), được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. (Cõi Tịnh ?)

Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: &quot;Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật&quot;. (Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ ?)


________________________


   Còn niệm, với nghĩa là chính niệm tỉnh giác, là theo dõi, quán sát, không phê phán, mà nội dung đầy đủ trong 4 niệm xứ, khi  4 niệm xứ được sung mãn, sẽ đưa đến tam minh (rốt ráo) vì đây là &quot;Thiền Tuệ&quot;. Trong Kinh Điển Nguyên Thủy lưu truyền, chính bậc là A la Hán (giải thoát) cũng xử dụng thiền này.
________________________________


Kinh Trung Bộ: 10- Kinh niệm xứ:


 Như vầy tôi nghe.

 Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo.

Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn.

Thế Tôn thuyết như sau:


-- Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất (direct path ?) (Ekayāna is a Sanskrit word that can mean &quot;one path&quot; or &quot;one vehicle&quot;. It is used both in the Upanishads and in the Buddhist scriptures, taking on different meanings and notions) đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

...


Tương Ưng SN-XLVI25  : Người Bà-la-môn (Diệu Pháp tồn tại)


Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn ông Cấp Cô Ðộc. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:

--&quot;Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?&quot;

--&quot;Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài. Thế nào là bốn?

Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, trú, quán thọ trên các thọ ... trú, quán tâm trên tâm ... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Do không tu tập, không làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.&quot;]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Kg BS ĐH Ngọc,</p>
<p>    Tôi là 1 độc giả ở xa, thỉnh thoảng có theo dõi trên trang nhà của BS về lớp &#8220;Phật Học và Đời Sống&#8221;. Tôi thấy cung cách thảo luận lớp học này hay và có thể giúp ích cho nhiều người muốn tìm hiểu, học hỏi thêm về PG với tinh thần tìm hiểu độc lập và thảo luận bình đẳng. Tôi thấy ở thời đại thông tin ở thế kỷ 21 này, độc lập trong suy nghỉ, và thẳng thắng vui vẻ thảo luậnđể tìm hiểu và học hỏi thêm có lẽ là phương pháp nên áp dụng trong học đường, sở làm, và ở cả &#8230; giáo đường </p>
<p>   Tháng 9 và 10/2018 tôi về VN (từ California) và đã dự định nếu có dịp sẽ ghé lớp học nhưng lai không xắp sếp được, nên đành góp 1 ít ý (từ xa) với bài 37 (Tụng Kinh, niệm Phật, trì chú, &#8230;)</p>
<p>  Xin BS giử cho tôi ẩn danh (Độc giả từ xa) </p>
<p>  Xin cám ơn BS.</p>
<p>________________</p>
<p>&#8211; Vấn đề tụng niệm:</p>
<p>     Tôi có người bạn người Mỹ gốc Ấn Độ, là giai cấp giáo sĩ Bà La Môn, có cho tôi biết trong tôn giáo của họ, kinh điển được truyền từ guru đến học trò bằng cách đọc nguyên văn theo lời kinh (Veda, Upanisad,&#8230;) cho đến  thuộc lòng. Chẳng những vậy, người thầy còn kiểm tra từng tu sinh xem đọc từng chử có chính xác và có đúng giọng trầm bổng không? Họ muốn chắc chắn là bài Kinh được truyền từ đời này sang đời khác đều được đọc tụng với từ và giọng như thuở nguyên thủy. Dường như người Bà La Môn (và ngay cả người Tây Tạng) tin rằng các giọng lên xuống, trầm bổng (chử Um chẳng hạn)  ẩn chứa &#8220;năng lượng của vủ trụ&#8221;  (?)</p>
<p>   Riêng với PG, dù  Phật Thích Ca bước đầu cũng tu tập theo  Bà La Môn, nhưng đã có 1 khuyến cáo khác biệt, như trong kinh điển PG còn lưu truyền:</p>
<p>___________</p>
<p>Tăng Chi Bộ V.209 :         Thuyết Pháp với Giọng Ca</p>
<p>Này các Tỳ khưu, có năm điều nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca ngân nga kéo dài. Thế nào là năm?</p>
<p>&#8211; Tự mình say đắm trong âm giọng ấy;</p>
<p>&#8211; Làm người khác say đắm trong âm giọng ấy;</p>
<p>&#8211; Các gia chủ phê bình: &#8220;Như chúng ta hát, cũng vậy, các Sa-môn Thích tử này ca hát!&#8221;;</p>
<p>&#8211; Vì vị ấy cố gắng rèn luyện cho âm thanh điêu luyện nên sự thiền định của vị ấy bị gián đoạn;</p>
<p>&#8211; Làm cho người khác bắt chước theo tà kiến ấy.</p>
<p>Này các Tỳ khưu, có năm điều nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca ngân nga kéo dài.</p>
<p>_________</p>
<p> Có lẽ PG thời nguyên thủy chỉ đọc, lập đi lập lại để thuộc lòng để có thể truyền cho đời sau  biết được lời của Đức Phật (càng chính xác  càng tốt) chớ không có tụng ngân hay chuông mõ?</p>
<p> Mình có thể nhớ lại hành trình của ông Huyền Trang đi thỉnh Kinh trong &#8220;Tây Du Ký&#8221;. Giai đoạn đầu đầy hầm hố, chông gai, núi lửa, quỷ dữ ( Tham-Sân-Si dạng thô) đến khi gần &#8220;đạt đạo&#8221; (đến được Tây Trúc, rồi được vô tự Kinh) vẫn còn &#8216;dính&#8221; vào vương quốc của Tiên nử , suốt ngày vui với ca ngâm, thơ phú  (dù là Tham-Si dạng tế, vẫn là Tham-Si và cũngphải bỏ đi)</p>
<p>     Không biết qua thời gian , ảnh hưởng của đạo Hindu có thấm trở lại cung cách thực tập của PG hay không? như ông HT Thích Minh Châu nhận định trong &#8220;Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ&#8221; (Trong Bản In Năm 1986) :</p>
<p>  &#8221; &#8230; Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành &#8230;&#8221;     (?)</p>
<p>    Tôi được biết là có guru Bà La Môn hiện tai (Nithyananda) có nói rằng Phật Thích Ca là 1 trong những Bậc đạo Sĩ Bà La Môn đã giác ngộ , và tính ra Phật Thích Ca hiên nay là bậc giác ngộ cao nhất trên trái đất này , còn ở những nơi khác cũng có những bậc khác.</p>
<p>   &#8211; Còn về vấn đề chuông mõ, dường như đó là phong cách của người Trung Hoa từ các thầy cúng tế, du nhập vào PG khi PG được truyền sang TH ? Có lẽ mình bị ảnh hưởng quá nặng từ người Tàu.</p>
<p> &#8211; Về vấn đề niệm, tôi thấy dường như người Việt mình có thể đã dùng lẫn lộn giửa 2 chử tùy niệm và niệm . Theo tôi được đọc  từ 1 số vị biết ngôn ngữ Pali, có lẽ do phiên địch và cách xử dụng, người mình thường chỉ dùng 1 chử niệm cho cả 2 từ niệm (sati) và tùy niệm (anusati). &#8220;Niệm&#8221;, có lẽ nguyên gốc trong Kinh Điển PG muốn ám chỉ cái &#8220;ghi nhận &#8220;,  &#8220;theo dõi&#8221;,  &#8220;quán sát&#8221; mà không khởi tâm phân biệt, còn &#8220;tùy niệm&#8221; để ám chỉ việc đọc, đọc thầm , lập đi lập lại 1 danh hiệu, 1 hay nhiều từ nào đó.</p>
<p>   Theo nghĩa này , trong 1 số Kinh Điển nguyên thủy lưu truyền, nếu đọc, tùy niệm Phật (hay Pháp, Tăng,&#8230;) mà đồng thời giử được tâm không tham, sân, si thì sẽ đạt được cõi tịnh, và rồi nhập pháp lưu (bất thối) dù chưa &#8220;có&#8221; trí tuệ hoàn toàn (vì đây là Thiền Định, chưa phải Thiền Tuệ)<br />
____________________</p>
<p> Tương Ưng , chương 6 pháp, phẩm 1 :  tùy niệm</p>
<p>(X) (10) Mahànàma</p>
<p>1. Một thời, Thế Tôn trú giữa các vị Thích &#8211; ca, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:</p>
<p>&#8211; Vị Thánh đệ tử này, bạch Thế Tôn, đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, đời sống gì vị ấy sống một cách sung mãn?</p>
<p>&#8211; Này Mahànàma, Thánh đệ tử nào đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, với nếp sống này, sống một cách sung mãn.</p>
<p>2. Ở đây, này Mahànàma, Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: &#8220;Ðây là Thế Tôn&#8230; Phật, Thế Tôn&#8221;. Khi nào, này Mahànàma, Thánh đệ tử niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực, nhờ dựa vào Như Lai. Và này Mahànàma, một Thánh đệ tử, với tâm chánh trực (nhất tâm bất loạn ?), được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. (Cõi Tịnh ?)</p>
<p>Này Mahànàma, về vị Thánh đệ tử này, được nói như sau: &#8220;Với quần chúng không bình thản, vị ấy sống bình thản. Với quần chúng có não hại, vị ấy sống không não hại. Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật&#8221;. (Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ ?)</p>
<p>________________________</p>
<p>   Còn niệm, với nghĩa là chính niệm tỉnh giác, là theo dõi, quán sát, không phê phán, mà nội dung đầy đủ trong 4 niệm xứ, khi  4 niệm xứ được sung mãn, sẽ đưa đến tam minh (rốt ráo) vì đây là &#8220;Thiền Tuệ&#8221;. Trong Kinh Điển Nguyên Thủy lưu truyền, chính bậc là A la Hán (giải thoát) cũng xử dụng thiền này.<br />
________________________________</p>
<p>Kinh Trung Bộ: 10- Kinh niệm xứ:</p>
<p> Như vầy tôi nghe.</p>
<p> Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:<br />
&#8212; Này các Tỷ-kheo.</p>
<p>Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:<br />
&#8212; Bạch Thế Tôn.</p>
<p>Thế Tôn thuyết như sau:</p>
<p>&#8212; Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất (direct path ?) (Ekayāna is a Sanskrit word that can mean &#8220;one path&#8221; or &#8220;one vehicle&#8221;. It is used both in the Upanishads and in the Buddhist scriptures, taking on different meanings and notions) đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ.</p>
<p>Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.</p>
<p>&#8230;</p>
<p>Tương Ưng SN-XLVI25  : Người Bà-la-môn (Diệu Pháp tồn tại)</p>
<p>Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn ông Cấp Cô Ðộc. Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:</p>
<p>&#8211;&#8220;Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?&#8221;</p>
<p>&#8211;&#8220;Do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài. Thế nào là bốn?</p>
<p>Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, trú, quán thọ trên các thọ &#8230; trú, quán tâm trên tâm &#8230; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.</p>
<p>Do không tu tập, không làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không được tồn tại lâu dài. Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn niệm xứ này, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.&#8221;</p>
]]></content:encoded>
		
			</item>
	</channel>
</rss>
