<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</title>
	<atom:link href="https://www.dohongngoc.com/web/category/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://www.dohongngoc.com/web</link>
	<description>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</description>
	<lastBuildDate>Sun, 17 May 2026 01:03:57 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>SÁCH SONG NGỮ: “Con Đường Dẫn Tới An Lạc &#038; Hạnh Phúc &#124;&#124; The Path Leading to Peace &#038; Joy&#8221;</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/20408/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/20408/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 17 May 2026 00:56:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=20408</guid>

					<description><![CDATA[&#160; &#160; Giới thiệu sách song ngữ “Con Đường Dẫn Tới An Lạc &#38; Hạnh Phúc &#124;&#124; The Path Leading to Peace &#38; Joy&#8221; &#160; Song ngữ Việt-Anh CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC &#38; HẠNH PHÚC THE PATH LEADING TO PEACE &#38; JOY Tác giả: ĐỖ HỒNG NGỌC Dịch giả: Nguyên Giác Phan Tấn Hải Nhà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<header class="entry-header">
<h1 class="entry-title">Giới thiệu sách song ngữ</h1>
<h1 class="entry-title">“Con Đường Dẫn Tới An Lạc &amp; Hạnh Phúc</h1>
<h1 class="entry-title">|| The Path Leading to Peace &amp; Joy&#8221;</h1>
<div class="entry-date"></div>
</header>
<div class="entry-content">
<p>&nbsp;</p>
<p>Song ngữ Việt-Anh<br />
<strong>CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC &amp; HẠNH PHÚC<br />
THE PATH LEADING TO PEACE &amp; JOY</strong><br />
Tác giả: ĐỖ HỒNG NGỌC<br />
Dịch giả: Nguyên Giác Phan Tấn Hải</p>
<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class="" src="https://m.media-amazon.com/images/I/714bMwfzvDL._SL1500_.jpg" width="345" height="533" /></p>
<p>Nhà xuất bản Triết Văn 2026</p>
<p>“<i>Con Đường Dẫn Tới An Lạc &amp; Hạnh Phúc || The Path Leading to Peace and Joy</i>” là một tuyển tập song ngữ, phần tiếng Việt in nơi nửa đầu sách, và tiếng Anh in ở phần sau, sẽ thích hợp cho tất cả các gia đình gồm 15 bài viết về Phật học của Đỗ Hồng Ngọc, tất cả đều rất cụ thể, giải thích về thực hành cụ thể. Trong khi đó phần tiếng Anh của sách sẽ thích hợp cho thế hệ trẻ ở hải ngoại không đọc được tiếng Việt.</p>
<p>Sách được lưu hành ở mạng Amazon,<br />
xin bấm vào link sau đây để mua: <a href="https://www.amazon.com/dp/B0GZD4FS52" target="_blank" rel="noopener">https://www.amazon com/</a></p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
<p>(Nguồn: tranthinguyetmai.wordpress)</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/20408/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bv Đại học Y Dược Tp HCM:  Bs Đỗ Hồng Ngọc &#8211; Thiền và Sức Khỏe.</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/bv-dai-hoc-y-duoc-tp-hcm-bs-do-hong-ngoc-thien-va-suc-khoe/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/bv-dai-hoc-y-duoc-tp-hcm-bs-do-hong-ngoc-thien-va-suc-khoe/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 16 May 2026 12:53:10 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên cứu khoa học, giảng dạy]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=20397</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Thiền và Sức Khỏe Góc nhìn khoa  học Bv Đại học Y Dược Tp HCM (10.4.2026) &#160; Bs Đỗ Hồng Ngọc &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; &#160; Vui lòng bấm &#8220;Watch on Youtube&#8221; (góc phải) để xem va gởi bình luận. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<h1>Thiền và Sức Khỏe</h1>
<h2>Góc nhìn khoa  học</h2>
<p><strong>Bv Đại học Y Dược Tp HCM </strong></p>
<p><strong>(10.4.2026)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>Bs Đỗ Hồng Ngọc</strong></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-20400" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3487.jpg" alt="" width="640" height="450" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3487.jpg 640w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3487-300x211.jpg 300w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-20401" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3479.jpg" alt="" width="640" height="450" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3479.jpg 640w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3479-300x211.jpg 300w" sizes="(max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-20398 alignright" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3876-221x300.jpg" alt="" width="344" height="467" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3876-221x300.jpg 221w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3876.jpg 472w" sizes="auto, (max-width: 344px) 100vw, 344px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-20399" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3875-195x300.jpg" alt="" width="301" height="463" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3875-195x300.jpg 195w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2026/05/IMG_3875.jpg 416w" sizes="auto, (max-width: 301px) 100vw, 301px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><iframe loading="lazy" title="Thiền và Sức Khỏe. Góc nhìn khoa học- BS. Đỗ Hồng Ngọc(10-4-2026)" width="500" height="281" src="https://www.youtube.com/embed/FU87tmaMbbg?start=646&#038;feature=oembed" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture; web-share" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allowfullscreen></iframe></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Vui lòng bấm &#8220;Watch on Youtube&#8221; (góc phải) để xem va gởi bình luận.</p>
<p>Trân trọng.</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc.</strong></p>
<p>(16.5.2026)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/bv-dai-hoc-y-duoc-tp-hcm-bs-do-hong-ngoc-thien-va-suc-khoe/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/cac-loai-chung-sanh-la-coi-phat-cua-bo-tat/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/cac-loai-chung-sanh-la-coi-phat-cua-bo-tat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Mar 2026 03:06:58 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=20367</guid>

					<description><![CDATA[&#160; &#160; “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” Đỗ Hồng Ngọc Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>“Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát”</strong></h3>
<p><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></p>
<p>Khi được hỏi cõi Phật ở đâu? Phật trả lời “Các loài chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát” (chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ). Thì ra vậy. Thì ra cõi Phật của Bồ tát không ở đâu xa. Ở nơi các loài chúng sanh, quanh ta và trong ta thôi. Đó là những chúng sanh muôn hình vạn trạng, nheo nhóc, khổ đau, chằng chịt, quấn quít, xà quần sáu nẻo luân hồi bay nhảy không ngừng sáng trưa chiều tối, kiếp này kiếp khác, quần quật không an. Bồ-tát chỉ cần “thành tựu” chúng sanh đó, tức thì cõi Phật hiện ra ngay. Không phải tìm kiếm đâu xa. Nhưng thật không dễ. Chúng sanh ngoan cường, cứng cõi, lì lợm ở cõi Ta-bà này không dễ mà hàng phục, không dễ mà trụ lại một chỗ an vui. Nhưng cũng chính nơi cõi Ta-bà đầy gian khó này mới cần có Bồ-tát, và ngược lại, cũng là nơi Bồ-tát “thành tựu” chính mình. Không có chúng sanh thì cũng chẳng cần Bồ-tát! Cho nên khi Bồ-tát “thành tựu chúng sanh” thì chúng sanh cũng “thành tựu Bồ-tát” là vậy.</p>
<p>Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ do tâm tạo ra). Tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Tìm kiếm đâu xa. Hãy quay về nương tựa chính mình. Phật đã chẳng khuyên như vậy từ khởi thủy sao? Cớ sao ta cứ mãi loay hoay, mãi chạy vạy, mãi tìm kiếm đâu đâu? Mấy ngàn năm trước, đệ tử giải Không bậc nhất của Phật đặt câu hỏi: “<em>Vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?”</em> (An trụ tâm cách nào? Hàng phục tâm cách nào?). Phật nói dễ lắm, dễ lắm, chỉ cần “<em>Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm</em>” (đừng có trụ cái tâm vào đâu cả!) là xong. Nhưng đâu có dễ mà “vô trụ”. Ta hết trụ thứ này thì trụ thứ kia, hết trụ người này thì trụ người khác, chỉ quên… trụ vào chính mình.</p>
<p>Khi Bồ tát Quán tự tại (tức Quán Thế Âm) hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thì bỗng bừng ngộ thấy rõ ngũ uẩn đều <strong><em>không</em></strong>: “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, tức khắc “độ nhất thiết khổ ách”, nghĩa là đưa tất cả khổ đau ách nạn đi chỗ khác, tâm trở nên hoàn toàn thanh tịnh và như thế cõi Phật đã hiện tiền! Nhờ đó mà đã có thể “từ nhãn thị chúng sanh”, nhìn chúng sanh với con mắt đầy yêu thương, thấu cảm, bởi cõi Phật đó ai cũng sẵn có, chỉ vì không thấy biết mà “luân hồi sanh tử” mãi miết đó thôi!</p>
<p>Buổi mai hôm đó, Phật vừa rời khỏi tịnh thất sau ba tháng an cư kiết hạ, đưa mắt nhìn các đệ tử mình nghiêm trang tu tập, người ngồi dưới gốc cây, người ngồi trên tảng đá, tất cả đều tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác, tất cả đều sống một đời sống đạm bạc, kham nhẫn, tri túc đúng như lời dạy, Phật rất hài lòng. Đa số các vị này đã là A-la-hán, đã tròn đầy phạm hạnh, đã đặt gánh nặng xuống và đã… vô sinh, không trở lại cõi Ta-bà ô trược này nữa. Một số vị Bồ-tát thì đang rày đây mai đó, bươn chãi nơi này nơi kia, thuyết giảng cho chúng sanh con đường giải thoát còn số Bồ-tát mới tu thì đang quét lá, dọn dẹp chỗ trú sau mùa mưa bão.</p>
<p>Nơi Phật an cư kiết hạ mùa này không xa thành Tỳ-da-ly dưới kia, một thành phố lớn, một đô thị giàu có, dân cư đông đúc, nơi chúng sanh người thì nheo nhóc lặn ngụp trong bao nỗi lo toan, sợ hãi, ốm đau, già nua bệnh hoạn…, người thì trọc phú  huênh hoang, nứt đố đổ vách, lặn ngụp trong cảnh xa hoa, lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, bên cạnh là các vương tôn công tử áo gấm quần hoa ăn chơi trác táng, tửu điếm trà đình, và rất nhiều thanh lâu sang trọng với những cô kỹ nữ khuynh thành đón người cửa trước rước người cửa sau và rượu, và thuốc nghiện tràn lan; bên cạnh đó là những bậc trí giả ngày đêm tranh luận không ngừng về những triết thuyết cao siêu huyền bí, giải thích mọi hiện tượng của vũ trụ và loài người, ai cũng cho mình đúng nhất hay nhất.</p>
<p>Thành Tỳ-da-ly rực rỡ ánh đèn dưới kia khiến Phật thấy đã đến lúc phải thay đổi cách “tiếp cận” mới mong giải thoát chúng sinh. Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay đang tĩnh tọa xung quanh Phật bây giờ lại có thể tiếp cận được với các bậc vương tôn công tử, với các quan chức, với các nhà buôn dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng đã xuất gia theo Phật bấy nay tiếp cận được với các cô nàng kỷ nữ nhan sắc kiêu kỳ ở các thanh lâu trà đình tửu điếm dưới kia? Làm sao mà các vị A-la-hán, các vị Bồ-tát đạo cao đức trọng lại có thể vào tận các ổ mại dâm, động ma túy sa đọa dưới kia để thuyết giảng lời Phật? Ai đây có thể tiếp cận được? Cách nào đây có thể tiếp cận được? Ai đây sẵn lòng xâm nhập vào chốn bùn nhơ mà đủ năng lực giúp đỡ, hỗ trợ người khác vượt qua, không chỉ với những lời khuyên suông, lý thuyết trên mây, cao ngạo và xa cách, mà từ những thực tế của cuộc sống vì Phật đạo không xa cách thế gian, Phật đạo ở ngay trong lòng thế gian. Làm sao cho những cánh sen xanh biếc mọc lên từ chốn bùn nhơ?</p>
<p>Phật là một nhà sư phạm tuyệt vời, thường dùng phương pháp giáo dục chủ động, dựa vào “đối tượng đích” mà thuyết giảng, thế mà cũng có lúc hằng mấy ngàn thính chúng đã bỏ đi vì không thể tin, không thể hiểu được điều Phật dạy. Không thể tin có viên ngọc trong chéo áo kẻ bần cùng, không thể tin Đề-bà-đạt-đa, một người phạm tội vô gián như thế được Phật thọ ký thành Phật mai hậu!</p>
<p>Cách tốt nhất ở đây phải là phương pháp “tiếp cận dựa vào cộng đồng” (Community-based approach). Cộng đồng Tỳ-da-ly có những đặc thù của nó, phải tiếp cận dựa vào nó, tự trong nó. Không thể đưa các vị A-la-hán đạo cao đức trọng, phạm hạnh tròn đầy, đến thuyết phục được các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… Không thể đưa các vị Bồ-tát trí huệ thâm sâu đến thuyết phục các bậc vương tôn công tử, doanh nhân thành đạt, các cô kỹ nữ lầu xanh… về nhất thiết duy tâm tạo, vô thường, vô ngã, thực tướng vô tướng…! Phải có người tại chỗ. Phải từ bùn mà sen mọc lên. Đã có lần các vị Bồ-tát phương xa đến cõi Ta-bà tình nguyện giúp Phật, ngài từ chối và ngay lúc đó đã có vô số các Bồ-tát “tùng điạ dũng xuất” tại chỗ, từ đất vọt lên, sẵn sàng lãnh trách nhiệm. Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng này đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng (community involvement), và có kỹ thuật học thích hợp (appropriate technology) mới thành công. Không có sự tham gia của cộng đồng, không sử dụng kỹ thuật học thích hợp… thì các phương pháp dù hay cách mấy mà áp đặt, xa lạ, cũng trở nên vô ích, thui chột vì không hợp “thổ ngơi”!</p>
<p>Đối tượng đích (target population) lần này là năm trăm con nhà trưởng giả, trẻ tuổi, vương tôn công tử, đại gia, doanh nhân, trí thức của thành Tỳ-da-ly. Tất cả họ đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác) … nhưng chưa biết cách phải thực hành thế nào vì họ không thể xuất gia như các vị Bồ-tát kia.</p>
<p>Vấn đề là làm thế nào để các vị trưởng giả trẻ tuổi, doanh nhân, trí thức… này có thể trở thành Bồ-tát ngay tại cộng đồng của họ mà không cần phải cắt tóc, đầu tròn áo vuông của một vị sa môn?</p>
<p>Thực ra buổi thuyết giảng đặc biệt hôm nay của Phật tại Vườn Xoài không chỉ dành cho “đối tượng đích” nói trên mà chủ yếu còn dành cho tất cả các vị A-la-hán, Bồ-tát cùng các đệ tử gần xa của Phật, để chính họ tự nhìn lại chính mình và cũng phải tự thay đổi. Bởi thay đổi “cái nhìn” vốn là một sự thay đổi không hề dễ dàng! Phật muốn giới thiệu một phương pháp tiếp cận mới, tiếp cận dựa vào cộng đồng qua một “mô hình” Bồ-tát mới, “Bồ tát tại gia”, qua hình tượng một nhân vật kiệt xuất là Duy-ma-cật ở ngay trong thành Tỳ-Da-Ly vậy.</p>
<p>Bảo Tích thưa: “<em>Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, nay muốn nghe việc làm sao có được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ-tát.”</em><br />
Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ông đã vì chư Bồ-tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ông mà giảng thuyết.”</p>
<p>“Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ-tát. Tại sao vậy? Bồ-tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ-tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ-tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh.  Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không.”.</p>
<p>Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng (trực tâm) mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững (thâm tâm). Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, nếu Bồ-tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>(ĐHN, <strong>Cõi Phật đâu xa</strong>, viết về kinh Duy Ma Cật)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/cac-loai-chung-sanh-la-coi-phat-cua-bo-tat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/chuyen-3-anh-em-than-y-bien-thuoc/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/chuyen-3-anh-em-than-y-bien-thuoc/#comments</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 27 Feb 2026 03:50:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=20361</guid>

					<description><![CDATA[&#160; &#160; Thư gởi bạn xa xôi Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước &#160; 1. Bạn đã đọc chuyện này chưa? Chuyện kể ông Biển Thước (401-310 trước Công nguyên), một thầy thuốc người nước Triệu thời Đông Chu liệt quốc nổi tiếng là “Thần y”. Một hôm Ngụy vương hỏi Biển Thước: [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thư gởi bạn xa xôi</strong></p>
<h3>Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước</h3>
<p>&nbsp;</p>
<p>1. Bạn đã đọc chuyện này chưa? Chuyện kể ông Biển Thước (401-310 trước Công nguyên), một thầy thuốc người nước Triệu thời Đông Chu liệt quốc nổi tiếng là “Thần y”. Một hôm Ngụy vương hỏi Biển Thước: “ Ta nghe nói ba anh em nhà Thầy đều giỏi y thuật, thử nói ta xem trong ba người, y thuật của ai cao minh nhất?”</p>
<p>Biển Thước đáp: “Anh cả của thần y thuật cao minh nhất, anh hai của thần thứ nhì, còn thần kém nhất trong ba anh em”.</p>
<p>Ngụy vương ngạc nhiên: “Vậy sao Thầy nổi tiếng trong thiên hạ còn hai anh Thầy không ai biết đến?”</p>
<p>Biển Thước đáp: “ Vì anh cả thần chữa bệnh cho người khi bệnh chưa xảy ra, người bệnh trông như không có bệnh gì cả cho nên người ta không ai biết anh thần đã phòng bệnh cho họ từ trước; còn anh hai của thần trị bệnh ngay khi người ta mới phát bệnh, nên người ta cho rằng anh hai thần chỉ chữa được bệnh vặt mà không biết rằng nếu để bệnh trầm trọng thì nguy hiểm tính mạng nên chỉ nổi tiếng ở vùng quê, còn thần thì chữa khi bệnh tình người ta đã nguy ngập, tính mạng bị đe dọa… Điều thần làm là phá huyết mủ, phẫu thuật, đắp thuốc, những việc dính đến máu me, nên thần mới vang danh thiên hạ, nhưng dù bệnh có cứu được cũng thường để lại di chứng… Thần thua xa hai anh thần nhưng thiên hạ ít người biết vậy! (<em>Trang Tử tâm đắc</em>, Nxb Trẻ 2011).</p>
<p>Có thể nói Y đức… cao nhất chính là phòng bệnh, giúp cho người ta khỏe mạnh, ít đau ốm hoặc nếu có bệnh thì được chữa sớm khi bệnh chưa nặng vậy. Hải Thượng Lãn Ông cũng tự xưng mình là “Ông già lười Làng Hải Thượng” vì ước mong không còn ai bệnh tật để mình được rảnh rang làm thơ uống rượu ngoạn cảnh đó thôi…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>2. Có những nguyên tắc chung hay còn gọi là những giá trị cơ bản của Y đức (phổ quát trên toàn thế giới) được dạy ở các trường Y xuyên suốt quá trình nhiều năm học tập và khi ra trường được tiếp tục giám sát bởi Tổ chức nghề nghiệp (Ordre des médecins, Bác sĩ đoàn) với Nghĩa vụ luận y khoa (Deontologie médicale, Luật hành nghề) một cách chặt chẽ.</p>
<p><a href="http://www.dohongngoc.com/web/storage/2013/11/YDUC-Grecia1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-medium wp-image-7362" src="http://www.dohongngoc.com/web/storage/2013/11/YDUC-Grecia1-252x300.jpg" sizes="auto, (max-width: 252px) 100vw, 252px" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2013/11/YDUC-Grecia1-252x300.jpg 252w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2013/11/YDUC-Grecia1-861x1024.jpg 861w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2013/11/YDUC-Grecia1.jpg 862w" alt="YDUC Grecia1" width="252" height="300" /></a>  Dĩ nhiên Y đức không thể dạy lý thuyết suông mà cần có những bài học thực tiễn từ cuộc sống (hành nghề), những trải nghiệm trong ứng xử, giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân, với đồng nghiệp, với cộng đồng v.v… và nhất là có những tấm gương để noi theo.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>3. Các nguyên tắc chung hay còn gọi là giá trị cơ bản của Y đức:</p>
<p><i>              1) Làm điều có lợi nhất cho bệnh nhân (Beneficence)</i></p>
<p><i>             2) Trước hết, không làm điều có hại ( Primum non nocere),“</i>First,                   do no harm<i>”.</i></p>
<p><i>             3) Tôn trọng sự Tự chủ  (Autonomy)</i></p>
<p><i>             4) Bảo mật (Confidentiality)</i></p>
<p><i>             5) Công minh (Justice). Không kỳ thị , phân biệt đối xử (Non- discrimination).</i></p>
<p><i>             6) Tôn trọng nhân phẩm  (Dignity)</i></p>
<p><i>             7) Thỏa thuận với thông tin đầy đủ (Informed Consent)</i></p>
<p><i>             8) Nói sự thật (Telling the truth).</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thân mến,</p>
<p>Bs Đỗ Hồng Ngọc</p>
<p>(Ngày 27.2.2026)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/chuyen-3-anh-em-than-y-bien-thuoc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>1</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PNB giới thiệu: Sách &#8220;bỏ túi&#8221; CON ĐƯỜNG AN LẠC.</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/pnb-gioi-thieu-con-duong-an-lac-cam-nang-hoc-phat-danh-cho-nguoi-hien-dai/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/pnb-gioi-thieu-con-duong-an-lac-cam-nang-hoc-phat-danh-cho-nguoi-hien-dai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 16 Oct 2025 11:12:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=20188</guid>

					<description><![CDATA[&#160;  “CON ĐƯỜNG AN LẠC” Cẩm nang học Phật (sách bỏ túi dành cho người hiện đại) &#160; &#160; Công ty Sách Phương Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một ấn phẩm mới phát hành của BS. Đỗ Hồng Ngọc mang tên: CON ĐƯỜNG AN LẠC. Tác phẩm là lời chia sẻ tâm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong><strong>“CON ĐƯỜNG AN LẠC”</strong></p>
<p><strong>Cẩm nang học Phật </strong></p>
<p><strong>(sách bỏ túi dành cho người hiện đại)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-20192" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2025/10/IMG_9423-1.jpg" alt="" width="640" height="449" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2025/10/IMG_9423-1.jpg 640w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2025/10/IMG_9423-1-300x210.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 640px) 100vw, 640px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Công ty Sách Phương Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một ấn phẩm mới phát hành của BS. Đỗ Hồng Ngọc mang tên: <strong>CON ĐƯỜNG AN LẠC</strong>. Tác phẩm là lời chia sẻ tâm huyết, chân thành của một người thầy thuốc, một người học Phật đã tự mình thể nghiệm giáo lý nhà Phật và gặt hái được những kết quả tích cực, gợi mở một con đường tìm về sự bình an nội tại cho mọi người giữa cuộc sống hiện đại nhiều biến động.</p>
<p>Đỗ Hồng Ngọc được biết đến không chỉ là một chuyên gia y khoa mà còn là một cây bút tên tuổi trong làng viết và nghiên cứu Phật giáo ứng dụng tại Việt Nam, đã xuất bản nhiều tác phẩm về thiền và Phật học được đông đảo độc giả đón nhận, có thể kể đến như: <em>Thấp thoáng lời Kinh; Thiền &amp; Sức khỏe; Cõi Phật đâu xa; Nếp sống an lạc; Thoảng hương sen; Tôi học Phật, Buông,..</em>.</p>
<p>Theo Đỗ Hồng Ngọc, an lạc không phải là niềm vui sướng nhất thời, mà là dòng suối mát tưới tẩm từ bên trong, mang lại bình an thân tâm và lan tỏa đến những người xung quanh. Ở tuổi ngoài tám mươi, với những kinh nghiệm trong hơn nửa thế kỷ hành nghề y cùng những trải nghiệm tự thân về khổ – bệnh – phiền, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhận ra con đường Phật dạy từ hơn hai ngàn năm trước với lời cả quyết: <em>“Đây là con đường trực tiếp đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…”</em> chính là một “con đường an lạc”, một “khoa học thực nghiệm” quý báu về nghệ thuật sống hạnh phúc.</p>
<p>Một điểm độc đáo không thể không nhắc đến ở <strong><em>Con đường an lạc</em></strong> chính là sự kết hợp giữa giáo lý Phật Đà và góc nhìn y khoa để lý giải cơ chế của hơi thở, sự căng cơ, quá trình tiêu hao năng lượng,&#8230; từ đó, giúp độc giả nhận thấy được lợi ích khoa học của thiền định trong việc chữa lành thân và tâm.</p>
<p>Với hình thức nhỏ gọn, trình bày trang nhã, văn phong giản dị và gần gũi, <strong><em>Con đường an lạc</em></strong> sẽ là một cuốn sổ tay học Phật nhẹ nhàng, giúp mỗi người tìm thấy sự tĩnh tại, hạnh phúc ngay trong đời sống thường nhật. Cuốn sách cũng là lời nhắn nhủ rằng, dù cuộc sống có đổi thay hay bị công nghệ chi phối, sự an lạc đích thực vẫn luôn nằm trong mỗi chúng ta. Mong rằng <strong><em>Con đường an lạc</em></strong> sẽ thực sự đồng hành cùng bạn nuôi dưỡng <em>tâm tĩnh – trí sáng – lòng an.</em></p>
<p><em>(Phuongnambook)</em><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Sách đã có mặt tại hệ thống Nhà Sách Phương Nam trên toàn quốc và:</strong></p>
<p><a href="https://nhasachphuongnam.com/con-duong-an-lac.html"><strong>https://nhasachphuongnam.com/con-duong-an-lac.html</strong></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/pnb-gioi-thieu-con-duong-an-lac-cam-nang-hoc-phat-danh-cho-nguoi-hien-dai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>CON ĐƯỜNG AN LẠC  Bài 2: Tuổi già học Phật</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19674/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19674/#comments</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 23 Nov 2024 09:13:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=19674</guid>

					<description><![CDATA[GHI CHÚ: Bây giờ tôi đã 85 tuổi. Già thiệt rồi! Tai nghễnh ngãng, mắt lèm nhèm, đi đứng đã giống&#8230; cat walk, quên cũng bộn rồi&#8230; Không ít bạn gần xa khuyên tôi có kinh nghiệm học Phật lâu nay thế nào, chia sẻ với anh em cho vui, cũng là cơ hội để [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>GHI CHÚ:</strong></p>
<p><em>Bây giờ tôi đã 85 tuổi. Già thiệt rồi! Tai nghễnh ngãng, mắt lèm nhèm, đi đứng đã giống&#8230; cat walk, quên cũng bộn rồi&#8230; Không ít bạn gần xa khuyên tôi có kinh nghiệm học Phật lâu nay thế nào, chia sẻ với anh em cho vui, cũng là cơ hội để cùng nhau học hỏi thêm. Tôi bèn gom góp được một ít bài cho là &#8220;cốt lõi&#8221;, sắc ba chén sáu phân, lấy tên là </em>Con Đường An Lạc,&#8221;Sách bỏ túi&#8221; cho người cao tuổi<em>.Không ngờ có người bạn phương xa, chưa từng gặp gỡ, là một Phật tử thuần thành từ thuở nhỏ đã tu tập trong chùa, sống ở nước ngoài nhiều năm, chuyên nghiên cứu, phiên dịch kinh sách Phật học từ tiếng Anh, đề nghị được dịch sang Anh ngữ cho những người bạn trẻ phương xa không rành tiếng Việt, cũng được đọc hiểu, thực hành Phật pháp. Còn gì hơn! </em></p>
<p><em>Anh chính là Nguyên Giác Phan Tấn Hải. </em></p>
<p><em>Tôi post tất cả 10 bài lên www.dohongngoc.com này dưới dạng </em>song ngữ<em> để các bạn tuỳ nghi sử dụng nhe.</em></p>
<p><em>Chân thành cảm tạ Nguyên Giác.  </em></p>
<p><em>Trân trọng,</em></p>
<p><em>Đỗ Hồng Ngọc.</em></p>
<p><em>(Saigon, 20.11.2024)   </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;..</p>
<p><em><strong>“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.</strong></em></p>
<p><strong>CON ĐƯỜNG AN LẠC</strong></p>
<header class="entry-header">
<h3 class="entry-title">Bài 2: Tuổi già học Phật (*)</h3>
</header>
<div class="entry-content">
<p><strong><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></strong></p>
<p><em><strong>translated Nguyên Giác</strong></em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="" src="https://vietbao.com/images/file/wrOvUyft3AgBAHw0/w800/n-001-5-.jpg" alt="blank" width="413" height="232" /><br />
<em>Tranh: Nguyên Giác</em></p>
<p>Khi về già, tôi học Phật cách khác. Mỗi kinh sách, bài giảng dài dòng, thêm bớt… tôi chỉ học một câu, một chữ, một bài kệ và tự  nghiền ngẫm, đặt câu hỏi, giải đáp và thực hành trong đời sống hàng ngày. Con đường học Phật phải là con đường an lạc, con đường “diệt khổ”, chớ nếu học Phật mà “khổ thêm” thì chắc học sai!</p>
<p>Với Tâm Kinh Bát Nhã, chỉ cần học và hành một câu: “ Quán Tự Tại Bồ-Tát hành thâm Bát Nhã Balamatđa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai “KHÔNG”, độ nhất thiết khổ ách.”</p>
<p><em>Bồ-Tát Quán Tự Tại nhờ thực hành thâm sâu Bát Nhã Balamatda mà thoát mọi  khổ đau ách nạn!</em></p>
<p>Tôi tự hỏi: Quán Tự Tại là ai? Bồ-tát là gì? Hành thâm là sao? Bát Nhã Balamat là gì? “Độ” tất cả khổ đau ách nạn thiệt không?…<br />
<span id="more-52208"></span><br />
Rốt lại chỉ cần học một chữ KHÔNG (Prajna, Bát Nhã) đó là đủ. Khi hiểu chữ Không do “Duyên sinh” thì ta không dễ bị lường gạt nữa bởi những cái hình tướng, danh tự bên ngoài. “Thấy vậy mà không phải vậy!” “Nghe vậy mà không phải vậy!”, tránh được những “biến kế sở chấp” và “y tha khởi” tác động, không còn bị dích mắc và từ đó, có thể “vô sở trụ”. Trong đời sống hàng ngày, ta thường luôn bám chấp, nghe lời đường mật, thấy hình tướng bên ngoài mà tưởng thiệt nên bị gạt gẫm bao phen, tỉnh ngộ thì đã muộn! Thời đại ngày nay càng cần “cảnh giác” nào fake news, deep fake, AI… các thứ!</p>
<p>Với Kim Cang, chỉ cần học một câu <em>Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.</em> Thấy mọi sự do cái tâm mà sinh ra. Nhưng tâm sinh thì cứ sinh, miễn đường “trụ” vao đó, đừng dính mắc vào đó. Dính mắc khổ dài dài ráng chịu! Nếu Tâm sinh kệ nó, đừng thèm trụ vào đâu cả. Cho nên lấy Vô trụ làm Gốc (bản) trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục tổ Huệ Năng, lấy Vô Niệm làm tông. Tâm không “sinh sự” được nữa. Tâm bất sinh. Tâm trở về với “bổn lai diện mục” của nó. Trở về cái thể “vô tướng” thanh tịnh của nó. Muốn vậy, phải vào Thiền Định. Kim Cang dạy thiền định, dạy ly tướng, ly niệm, để đạt tới cái “Như Như bất động” của Như Lai.</p>
<p>Với Kinh Hoa Nghiêm, tôi nghĩ chỉ cần học Hội Thứ Nhất ở Bồ Đề đạo tràng, với các phẩm đầu là đủ. Dĩ nhiên sau đó là phần thực hành, “Nhập pháp giới”, nghĩa là thực hành, là “Vào đời”. Và mỗi chúng ta đều là Thiện Tài đồng tử, lòng rộng mở, khiêm tốn học tập với tất cả mọi người.</p>
<p>“Thế Chủ Diệu Nghiêm”- làm chủ thế giới- chắc chắn không phải là một ông thần, ông thánh, vua chúa, hoàng đế nào đó mà phải là một người đạt được “Diệu nghiêm”. Đó là một Bồ tát, ung dung, tự tại vô ngại, đã “hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai <em>Không</em>” mới được.</p>
<p>Như Lai vốn “vô tướng” tự nhiên lại “hiện tướng” ra một ông Phật làm chi cho vất vả, thì ra chỉ vì lòng Đại bi. Ta cũng từ “Như Lai tạng” mà được/bị “nặn” ra để chịu bao phiền não chẳng biết do duyên gì, y báo chánh báo gì, nói chung là do cái Nghiệp! Ngày nào trả xong Nghiệp thì trở về với cõi “vô sanh” đó thôi.</p>
<p>Để thấy biết “Như lai hiện tướng” ra sao thì phải vào Tam muội Phổ Hiền. Tam muội ấy là Samadhi, thứ Định sâu nhất. Vào định Phổ Hiền mới thấy từ Vô tướng “Một ông Phật hiện ra, Ba con ma biến mất!”. <em>Ma Tham, ma Sân, ma Si</em> không còn quậy phá ta!</p>
<p>Thế giới thành tựu đầy “hoa tạng” trước mắt ta, dĩ nhiên đều do từ Tâm ta mà hiện ra. Nào sanh diệt, nào đoạn thường, nào huyễn hoá… tuyệt vời như vậy mà ta không biết, cứ khổ đau, phiền não, chướng ngại, ráng chịu thôi. Cứ “nhập thế” dạo chơi một vòng như Thiện Tài đồng tử thì cuối cùng cũng thấy ra thôi. Thấy  gì? Thấy Tỳ- lô- giá- na (vairocana). Thấy <em>“Nhất thiết chư Phật tỳ- lô- giá- na như lai tạng thân”</em> (Kinh Hoa Nghiêm). Bây giờ ta biết vạn vật đều từ ADN mà ra, và ADN thì từ… không có gì mà ra (bổn lai vô nhất vật) đó thôi. Lý vô ngại rồi thì Sự Sự vô ngại. Cái núi Tu Di to đùng kia nhét vào hạt cải, bốn biến mênh mông nọ rót vào một lỗ chân lông…</p>
<p>Với Kinh Pháp Hoa thì cái hay là chỉ cách làm thế nào để “mau thành Phật”. Lâu nay ta cứ tưởng thành Phật không dễ, phải tu nhiều đời nhiều kiếp. Hôm đó dưới chân núi Linh Thứu, Phật nói với các đệ tử, ta nay đã già, sắp nhập Niết bàn rồi, các thầy có ai muốn hỏi gì thì hỏi ngay đi! Vị Đại Bồ tát dẫn đầu hỏi ngay: <em>Làm thế nào để “mau” thành Phật?</em> Tưởng Phật sẽ rầy la, ai dè Phật trả lời: Dễ lắm! Chỉ cần học Pháp môn “Vô lượng nghĩa xứ” thì xong ngay. Mà Pháp môn đó lại chỉ có một pháp thôi: “Đó là Vô tướng”. Rồi Phật giải thích thêm: “Vô tướng ở đây là vô tướng mà chẳng phải vô tướng, chẳng phải vô tướng mà vô tướng, nên gọi là Thực tướng”. Hoá ra, vô tướng chính là thực tướng. Thực tướng chính là vô tướng. Chẳng cũng khoái ru? Chìm đắm trong vô tướng là sai. Mà lặn ngụp trong thực tướng cũng sai. Cho nên “thấy như thực” không phải là thấy thực, chỉ là “như” (thực) mà thôi. Ta phải thấy cái “vô tướng” của nó kìa, mới biết nó vô thường, vô ngã, biết nó duyên sinh, duyên khởi, có mà không, không mà có. Thấy biết vậy, ta không còn dính mắc! Bất tận Hữu vi mà bất trụ Vô vi. Chẳng hữu chẳng vô gì cả. Ta cũng học được các đức tính <em>Tôn trọng</em> (Respect) của Thường bất khinh, <em>Chân thành</em> (Genuine) của Dược vương và  <em>Thấu cảm</em> (Empathy), biết <em>Lắng nghe</em> (Listening) của  Quán Thế Âm.</p>
<p>Với Pháp Hoa, tôi tự hỏi mục đích <em>Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật</em> là sao? “Tri kiến Phật” có gì hay? Sau khi ngẩm ngợi, nghiền ngẫm rồi mới thấy hay thiệt. Vô thường, vô ngã, khổ, bất tịnh… cũng chính là Thường Lạc Ngã Tịnh đó thôi, chẳng qua vì “điên đảo” mộng tưởng!</p>
<p>Với Kinh Duy Ma Cật<strong>, </strong>học rằng cõi Phật chẳng đâu xa. Cõi Phật trong ta đó thôi. Tâm ta mà thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh. Tâm ta chưa thanh tịnh thì thấy đâu cũng là gò nỗng, hầm hố, gai góc, thanh tịnh rồi thì cõi đất bỗng nhiên trở nên rộng lớn, nghiêm đẹp, ánh vàng khắp nơi nơi…</p>
<p>Học rằng phương tiện mà không trí huệ không xong. Trí độ là mẹ Bồ Tát. Tùy nghi phương tiện là cha. Phải có Trí độ (Bát Nhã) trước đã. Rồi, phương tiện mới tùy nghi được.</p>
<p>Học rằng Bồ-tát không đắm mê các tầng thiền để bỏ quên đời, phải thấu cảm cùng nỗi khổ đau vô tận của chúng sanh. Cho nên Bồ-tát “Tu học lẽ <em>không </em>mà chẳng lấy lẽ <em>không</em> làm chứng đắc. Tu học <em>vô tướng, vô tác</em>, mà chẳng lấy <em>vô tướng, vô tác</em> làm chứng đắc”.</p>
<p>Học rằng <em>tâm</em> khó mà nhận thấy! Làm sao để tâm an? Chỉ có cách tiếp cận qua <em>thân</em>. Cho nên “giả bệnh” như Duy Ma Cật là cách tốt nhất. Bệnh thì bình đẳng, không phân biệt. Mọi người đều bình đẳng trước… bệnh! Duy-ma-cật nói “Thân này không thể tin cậy được. Nó không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Phải thấy thân Phật, tức thấy <em>pháp thân</em>.”</p>
<p>Học rằng chúng sanh là những ảo vật do nhà ảo thuật là chính ta tạo ra. Mà nhà ảo thuật cũng là một chúng sanh. Chẳng qua là những bóng hình trong gương, mặt trăng đáy nước, dấu chân chim giữa hư không…</p>
<p>Học rằng bốn Ma là “thị giả”, luôn ở cạnh ta, giúp ta. <em>Ma phiền não</em> bủa vây và nhắc nhở sẵn có bốn vạn tám ngàn cách thoát ra; <em>Ma ngũ uẩn</em> thì thân thiết, nhắc rằng mấy thứ lăng nhăng nó quấy ta chỉ là những kết hợp tạm bợ, lắp ghép lai rai; <em>Ma trời</em> (thiên ma) là lời cảnh giác, đừng tưởng bở! Còn <em>Ma chết</em> (tử ma) lại là bạn thiết gắn bó với ta từ thuở còn trong bụng mẹ…</p>
<p>Học rằng có thứ hương thơm nuôi cả thân và tâm bất tận đó chính là Giới đức. Thứ hương thơm đó mới có thể bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió…</p>
<p>(&#8230;)</p>
<p>Nhìn lại chặng đường lõm bõm học Phật của mình,  tôi thấy có thể tự vẽ một phác đồ để nhắc nhở mình cho đừng quên:</p>
<p>Pháp Hoa là cốt lõi, ở trung tâm, vị Đạo sư đã mở tung một bí tạng, một “bí kíp” mà các Đức Phật xưa nay còn giấu nhẹm, không tiện nói ra, nay Phật Thích Ca đã “khai thị” cho ta thấy biết Như Lai, từ đó mà “ngộ nhập”, mà sống cùng, sống với, từ đó mà ung dung, tự tại, thuận với pháp, tùy với duyên, một khi biết tất cả đều cùng từ một Như Lai tạng, một “bào thai Như Lai”. Nó vậy là Nó vậy. Vô thủy vô chung. Tương tác từ <em>Như Lai tạng </em>mà hình thành pháp giới trong vũ trụ vô vàn… Với Trí Bát Nhã được “trang bị” ta không còn bị đắm chìm với những “phân biệt”, những “biến kế”, những “y tha” chằng chịt, quấn quít, khiến ta không thấy được cái Như như…</p>
<p>Thấy biết như vậy rồi thì ta mới có đủ Tự tin để Tự tại, hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về duyên về nghiệp của mình, mà không đổ thừa, không nhờ vả. Ta biết quay về “nương tựa” chính mình và nhận ra một khi đã “tịnh kỳ ý” thì cái tâm ta đã trở về với “Thanh tịnh bổn nhiên” như được Phổ Hiền Bồ-tát dẫn vào lâu các Tỳ-lô-giá-na vốn là Pháp thân của chính mình.</p>
<p>Cuối cùng Duy-ma-cật sở thuyết là nỗi hoài vọng của Phật, muốn lan tỏa đến mọi con người, mọi ngóc ngách đời sống, tạo nên một cõi Phật, một pháp giới bình đẳng, an vui, hạnh phúc cho kiếp người!</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong><br />
<em>(Saigon, 11.10.2024)</em></p>
<p>(*) Bài 1 https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/sach-bo-tui-cho-nguoi-cao-tuoi-con-duong-an-lac/</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;..</p>
<header class="entry-header">
<h3 class="entry-title"><b>Learning Buddhism in old age</b></h3>
</header>
<div class="entry-content">
<p><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></p>
<p><em>Translated by Nguyên Giác</em></p>
</div>
<p>As I grew older, I began to study Buddhism differently. When I encountered lengthy scriptures and lectures, regardless of how much was added or subtracted, I learned only one sentence, one word, or one verse. I would reflect on it, ask questions, seek answers, and apply it in my daily life. The journey of learning Buddhism should be a path of peace, a path toward the cessation of suffering. If studying the Dharma only increases my suffering, then I must be misunderstanding it!<br />
With the Heart Sutra, I need to learn and practice just one sentence: “Avalokitesvara Bodhisattva practices the profound Prajna Paramita, perceives the five aggregates as fundamentally empty, and transcends all burdens of sorrow.”<br />
I asked myself: Who is Avalokiteshvara? What is a Bodhisattva? What constitutes profound practice? What is Prajnaparamita? Is it true that one can overcome all the burdens of suffering?<br />
In the end, just learning the word EMPTINESS (Prajna) is enough. When you understand the word Emptiness due to Dependent Origination, you will not be easily deceived by external forms or names.<br />
What you see with your eyes is not really what it is. What you hear with your ears is not really what it is. Therefore, you are not mistaken by forms, and you are not affected by external forms; from there, your mind is not attached, and you live without clinging to anything.<br />
In our daily lives, we often cling to various things, listen to flattering words, and focus on external appearances, mistakenly believing they are genuine. As a result, we are deceived time and again, and by the time we awaken to the truth, it is often too late. In today’s world, we must be increasingly vigilant against misinformation, deepfakes, artificial intelligence, and similar threats.</p>
<p>With the Diamond Sutra, I need to learn just one sentence: when the mind is no longer attached to anything, the liberated mind will emerge. Recognize that everything originates from the mind. However, when thoughts arise, allow them to come and go; as long as you do not cling to those thoughts, you will find peace. If you allow the mind to become attached to anything, suffering will persist! When thoughts arise, let them be; do not dwell on any thought.<br />
Therefore, the Platform Sutra of the Sixth Patriarch Hui Neng states that one should regard the mind of No Abode as the foundation for cultivation and the mind of No Thought as the gateway to enter the Zen house. At that point, the mind will no longer be influenced by worldly conditions. The mind will cease to arise, returning to its true nature from its origin. To achieve this, one must engage in meditation. The Diamond Sutra instructs on meditation, emphasizing the importance of distancing oneself from appearances and thoughts. By doing so, one will arrive at the state where the Tathagata reveals the unmoving mind, the mind that perceives all dharmas as they truly are.<br />
With the Avatamsaka Sutra, I believe it is sufficient to study only the First Part in Bodh Gaya, focusing on the initial chapters. Following this, we move on to the practice aspect, which is Entering the Dharma Realm, signifying our engagement in practice and immersion in the world. Each of us embodies the young man Sudhana—open-minded, humble, and eager to learn alongside others.<br />
The Lord of the World, Diệu Nghiêm—the ruler of the world—is certainly not a god, a saint, a king, or an emperor; rather, he must be an individual who has attained remarkable solemnity. This person must be a Bodhisattva, who is leisurely, free, and unhindered, having practiced the profound wisdom of Prajna and recognized the emptiness of the five aggregates.<br />
Tathagata originally had no form but spontaneously manifested as a Buddha to propagate the Dharma with great difficulty, all out of profound compassion. We, too, are shaped by the Tathagatagarbha to endure numerous afflictions, often unaware of the reasons behind them or the environmental retributions that lead to our current retribution, ultimately resulting from Karma. When the day arrives that we have settled our Karma, we will return to the realm of non-birth.<br />
To understand how the Tathagata manifests, you must enter the Samadhi of Samantabhadra. This Samadhi represents the deepest state of meditation. Only by entering the Samadhi of Samantabhadra can you perceive that when a Buddha appears from formlessness, the three demons vanish. At that moment, the demons of Greed, Anger, and Delusion will no longer disturb you.<br />
The world has unveiled itself as a tapestry of flowers before our eyes, all of which emerge from our minds. Birth and death, the concepts of eternity and annihilation, and the myriad illusions are so captivating that we often remain unaware of their true nature. Consequently, we continue to suffer, face challenges, and encounter obstacles; we must simply endure. If we enter and navigate the world like Sudhana, the youth, we will ultimately gain clarity and understanding.<br />
What do you see? You see Vairocana Buddha. You perceive all Buddhas as embodying the same essence of Vairocana Tathagatagarbha, as stated in the Avatamsaka Sutra. We now understand that all things originate from DNA, which itself emerges from the void of nothingness that encompasses all worlds. Once you grasp this principle, you will no longer be constrained by the material aspects of this world. It is easy to comprehend that the immense Mount Sumeru can fit within a mustard seed or that the four vast oceans can be contained within a single pore.<br />
The remarkable aspect of the Lotus Sutra is that it illustrates how one can swiftly attain Buddhahood. For a long time, many have believed that becoming a Buddha is a challenging endeavor, requiring countless lifetimes of cultivation. On that day at the foot of Linh Thứu Mountain, the Buddha informed his disciples that he was aging and about to enter Nirvana. He encouraged the monks to ask any questions they had without hesitation. The leading Bodhisattva promptly inquired how they could quickly become Buddhas. I anticipated that the Buddha would reprimand the monks, but to my surprise, he replied that it was very easy! Simply learn the Dharma door of ‘Infinite Meanings,’ and it will be accomplished immediately. The Dharma door encompasses a single principle: No-form. The Buddha elaborated further, stating that  signifies no-form; yet it is not merely no-form. It is not no-form, but rather no-form, which is why it is referred to as True-form. Thus, no-form is the true form, and true form is no-form. Isn’t that extraordinary?</p>
<p>Being immersed in formlessness is misguided, just as being immersed in true form is also erroneous. Therefore, perceiving reality as it is does not equate to seeing the truth; it merely involves interpreting things as real. We must recognize formlessness to understand that it is impermanent and not a self. This awareness leads us to comprehend that while it exists, it is dependently arisen and ultimately empty. Although it embodies emptiness, it still exists. By seeing and understanding in this manner, we free ourselves from attachment. We do not seek to destroy the conditioned; rather, the mind refrains from fixating on the unconditioned. In this state, there is neither existence nor non-existence. Additionally, we learn the virtues of the Bodhisattva Never Disparaging, the genuineness of the Bodhisattva Medicine King, and the empathy and attentive listening exemplified by the Bodhisattva Avalokiteshvara.<br />
With the Lotus Sutra, I ponder whether its purpose is to guide sentient beings in understanding and penetrating the nature of reality and comprehending what the Buddha truly represents. After reflection and contemplation, I recognize its profound significance. Concepts such as impermanence, non-self, suffering, and impurity are also aspects of the Unchanging, the Blissful, the Essence of self, and True purity, yet they are often misinterpreted due to the delusions we experience in our dreams.<br />
With the Vimalakirti Sutra, I learned that the Buddha realm is not distant; it resides within the mind. When our mind is pure, the Buddha realm is pure. Conversely, if our mind is impure, we perceive obstacles such as hills, pits, and thorns all around us. However, when the mind is pure, the landscape transforms into a vast, majestic, and beautiful expanse, illuminated by golden light everywhere.<br />
I also learned that expedient means must be accompanied by wisdom. Prajnaparamita is the mother of Bodhisattvas, while the appropriate application of expedient means is the father. One must first possess Prajnaparamita; only then can one effectively apply expedient means.</p>
<p>I have learned that Bodhisattvas do not immerse themselves in meditation to the extent of neglecting life; rather, they must empathize with the endless suffering of all living beings. Consequently, Bodhisattvas practice the principle of emptiness without viewing emptiness as an achievement, and they embrace the principles of formlessness and actionlessness without considering formlessness and actionlessness as accomplishments.<br />
I have come to understand that perceiving the mind can be quite challenging. How can one achieve peace of mind? The most effective approach is to connect with it through the body. Therefore, emulating Vimalakirti’s experience of illness is a valuable method. In sickness, all individuals are equal; there is no discrimination. Everyone stands on equal ground before sickness! Vimalakirti emphasized that this body cannot be trusted; it is not mine, it is not me, and it is not a self belonging to me. Instead, one must recognize the Buddha body, which refers to the Dharma body.</p>
<p>I have come to understand that living beings are illusions crafted by the magician—ourselves. This magician is also a living being. We are nothing more than reflections in a mirror, like the moon’s image on water, or the fleeting footprints of birds in the sky.<br />
I have learned that the four Maras are our constant companions, always by our side to assist us. The Mara of afflictions surrounds us, reminding us that there are forty-eight thousand ways to escape our suffering. The Mara of the five aggregates serves as a friend, reminding us that the trivial distractions that disturb us are merely temporary combinations. The Mara from the heavens acts as a warning: do not be delusional! Finally, the Mara of death is a close companion who has been with us since we were in our mother’s womb.</p>
<p>I have discovered a fragrance that endlessly nourishes both the body and mind, and that fragrance is Virtue. Only this scent can soar high, travel far, and defy the wind.</p>
<p align="center">…. () ….</p>
<p>Looking back on my challenging journey of learning Buddhism, I realize that I can create a visual reminder to help me remember my experiences.</p>
<p>The Lotus Sutra is the essence and foundation of Buddhist teachings. The Master has revealed a profound secret, one that the Buddhas of the past have kept hidden until now. It is only in this time that Shakyamuni Buddha has allowed us to perceive and understand the Tathagata. From this understanding, we can realize the Buddha’s perspective and learn to live in harmony with it. This realization brings us ease and freedom, aligning us with the Dharma. At that time, we will live according to our circumstances, understanding that all beings originate from the same Tathagata-garbha, sharing the same Tathagata-womb.<br />
It is as it is, without beginning or end. Interacting from the Tathāgatagarbha to form the dharma realm within the infinite universe. With the cultivation of Prajñā wisdom, we are no longer ensnared by distinctions, contrivances, or the intertwined and entangled dependencies that obscure our perception of Suchness.<br />
Only when we recognize and understand this will we gain the confidence to be at ease, completely free, and accountable for our own circumstances and karma, without blaming or depending on others. We learn to turn inward, relying on ourselves, and realize that once we have purified our minds, they return to their original state of purity. It is as if we are being guided by Samantabhadra Bodhisattva into the Vairocana Palace, which represents our own Dharma body.<br />
Finally, the Vimalakirti Sutra embodies the Buddha’s aspiration to reach every individual and every aspect of life, aiming to establish a Buddha realm—a dharma realm characterized by equality, joy, and happiness for all of humanity!</p>
<p><em>(translated by Nguyên Giác)</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19674/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>1</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>CON ĐƯỜNG AN LẠC  Bài 3: Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19672/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19672/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 23 Nov 2024 08:50:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=19672</guid>

					<description><![CDATA[&#160; “Sách bỏ túi” cho người cao tuổi. CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 3: Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa? Đỗ Hồng Ngọc translated by Nguyên Giác &#160; Tranh: Nguyên Giác Đó là một câu chú, một “đà-la-ni” của riêng tôi mỗi buổi sáng sớm khi ngồi xuống… “diện bích”! Tôi nói diện bích [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p class="entry-title"><em>“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi.</em></p>
<p><strong>CON ĐƯỜNG AN LẠC</strong></p>
<h3 class="entry-header">Bài 3: Thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa?</h3>
<p><em><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong></em></p>
<p><em><strong>translated by Nguyên Giác</strong></em></p>
<div class="entry-content">
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="" src="https://vietbao.com/images/file/Y7T6z4bw3AgBANxY/w800/q-sitting-meditation.jpg" alt="blank" width="405" height="228" /><br />
<em>Tranh: Nguyên Giác</em></p>
<p>Đó là một câu chú, một “đà-la-ni” của riêng tôi mỗi buổi sáng sớm khi ngồi xuống… “diện bích”! Tôi nói diện bích vì chỗ tôi ngồi… thiền cách vách tường chưa tới một mét do nhà chật hẹp quá. Dĩ nhiên thiền không cứ phải là ngồi. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được. Nhưng ngồi thì… vui hơn, có lý hơn ! Tôi không ngồi được kiết già, bán già như truyền thống thì ngồi kiểu của… tôi, cũng như có kiểu ngồi của Tây Tạng, kiểu ngồi của Nhật bổn và kiểu ngồi của người Tây phương… Kiểu nào cũng tốt cả ! Từ hơn 25 năm nay, sáng nào tôi cũng ngồi cái gọi là thiền định của mình – vì không theo một trường phái nào cả, mà chỉ nắm nguyên tắc thiền Anapanasati mà Phật đã dạy từ thuở ban đầu, trong đó đã bao gồm cả thiền chỉ và thiền quán- chừng 30-40 phút, sau đó kết hợp với các động tác  thể dục nhẹ chừng 30 phút nữa mà tôi cũng coi là một thứ thiền « động », một cách « xả thiền » đó vậy. Mỗi động tác thể dục đều tác động trên từng « cơ, xương, khớp » của thân, sau thời gian tĩnh lặng, lắng nghe cái tâm mình lằng nhằng cỡ nào, và làm sao cho nó chịu yên tịnh.  Tôi thấy sức khỏe mình có tốt hơn lên, sức làm việc bền bĩ hơn, trí nhớ có phần tốt hơn… Hôm nào không ngồi thiền và tập thể dục như vậy thì thấy uể oải. Lâu ngày tôi thấy mình như « ghiền » vậy. Tôi viết một bài vè để giúp trí nhớ và giấu kỹ, luôn bắt đầu bằng với «đàlani»: <i>Thả lòng toàn thân thả lỏng chưa</i><br />
<span id="more-52216"></span><br />
Bài vè đó thế này:</p>
<p><i>Thả lỏng toàn thân</i><br />
<i>Như treo móc áo</i><br />
<i>Ngồi xếp bằng tròn</i><br />
<i>Vai ngang lưng sổ</i><br />
<i>Dõi theo hơi thở</i><br />
<i>Như mượn từ xa</i><br />
<i>Khi vào khi ra</i><br />
<i>Khi sâu khi cạn</i><br />
<i>Chú tâm quãng lăng</i><br />
<i>Pranasati</i><br />
<i>Hơi thở xẹp xì</i><br />
<i>Thân tâm an tịnh</i><br />
<i>Không còn ý tưởng</i><br />
<i>Chẳng có thời gian</i><br />
<i>Hạt bụi lang thang</i><br />
<i>Dính vào hơi thở</i><br />
<i>Duyên sinh vô ngã</i><br />
<i>Ngũ uẩn giai không</i><br />
<i>Từ đó thong dong</i><br />
<i>Thõng tay vào chợ…</i><br />
(Đỗ Hồng Ngọc)</p>
<p><b>Thả lỏng toàn thân/ Như treo móc áo</b><br />
Động tác thả lỏng toàn thân rất quyết định trước khi vào thiền. Vào thiền mà còn căng cứng thì hỏng bét. Cho nên tự hỏi mình thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa là hết sức cần thiết. Khi thả lỏng toàn thân như vậy, ta đã bềnh bồng trôi đi, không còn có ta có người có chúng sanh có thọ giả gì nữa thì được. Nếu thực sự thả lỏng được thì tức khắc ta đã giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể. Chim không cần vỗ cánh bay mà chỉ lượn nhẹ nhàng.</p>
<p>Nhưng thả lỏng cách nào?</p>
<p>Có người nói thả lỏng toàn thân như xác trôi trên sông bồng bềnh. Coi thân như cái túi da hôi, coi thân như xác trôi sông…Theo tôi, tốt hơn nên coi thân là cái áo, móc lên cái móc áo, lùng nhùng rủ xuống.  “Thay như thay áo”  bởi cái áo thì không vĩnh cửu, nó “vô thường”, nó cần được thay. Coi thân như cái áo móc trên móc áo thì thân sẽ tòng teng buông xả hoàn toàn, thả lòng hoàn toàn tấm thân tứ đại ngũ uẩn rồi vậy. Chỉ cần vậy, đã đủ vào thiền.  Thả lỏng, không còn cơ nào nào căng nữa, không còn dây thần kinh nào phải hoạt hóa nữa. Biết rằng sự căng cơ, tonus musculaire là cần thiết để giữ vững bộ xương, cho cơ thể  hoạt động, đã tiêu tốn gần 40% năng lượng của cơ thể. Khi thả lỏng, khi treo lên “móc áo” thì năng lượng căng cơ không cần phải tiêu tốn nữa. Người đã nhẹ hẫng đi: thân nhẹ nhàng như mây (TCS)!</p>
<p><b>Ngồi xếp bằng tròn/ Vai ngang lưng sổ</b><br />
Ngồi kiểu nào cũng được, ngồi trên ghế cũng được, nhưng nếu xếp bằng tròn được càng hay. Nó vững. Nó như kiềng ba chân. Mặc ai nói ngữa nói nghiêng. Cho nên cần có tinh tấn và nhẫn nhục là vậy. Không nhẫn nhục thì dễ bỏ cuộc. Bị chê cười mai mỉa thì bỏ cuộc. Ai cười mặc, cứ “lì” là xong! Ngồi xếp bằng còn giống cái tháp. Tháp báu. Ở trong tháp báu đó có Như Lai Đa Bảo tủm tỉm cười. Người ngồi thiền kiểu này dễ thấy Như Lai Đa Bảo của mình hơn. Đó là một cái xác khô, toàn là đất nước gió lửa C,H,O,N và các nguyên tố đồng chì sắt kẽm, Mangan, Ma nhê, Phospho, vôi vữa các thứ…  Nó là báu, vì nó dùng để tạo dựng nên một sinh vật khác, có thể là cỏ cây hoa lá, có thể là sinh vật muôn loài và có thể là cái ta tái sinh. Ngồi trong tháp báu là “nhập thất” vào chính thân xác mình. Vai ngang lưng sổ để nhắc mình giữ thẳng lưng, ngang vai, nếu không thì ngôi nhà sẽ khụy, sẽ vẹo.</p>
<p>Yếu tố ‘thẳng lưng’ rất quan trọng.</p>
<p><b>Dõi theo hơi thở/ Như mượn từ xa</b><br />
Dõi theo không phải là theo dõi. Dõi theo thì nhẹ nhàng sảng khoái. Nó sao thì thấy nó vậy, không phê phán. Còn theo dõi thì căng thẳng, dò xét, lo âu, hồi hộp. Tại sao không dõi theo gì khác mà dõi theo hơi thở? Vì hơi thở dễ thấy nhất, dễ dõi theo nhất. Nó nằm ngay dưới mắt, nó nằm ngay ở mũi. Mà lúc nào cũng có nó, bất cứ ở đâu, bởi ở đâu và chỗ nào mà chẳng thở? Chọn một đối tượng khác để “quán sát” cũng được, nhưng chọn hơi thở thì tiện hơn. Nó gắn liền với thân. Mệt bỡ hơi tai, mệt gần tắt thở. Nó lại gắn liên với tâm, lúc hồi hộp lo sợ thì thở khác với lúc an vui. Nó vô thường. Hơi thở là sợi dây nối kết thân với tâm. Nó lại quyết định sự sống. Đời sống chỉ là một hơi thở không hơn không kém. Hết thở, ngưng thở là chết. Nó ở ngoài ta. Nó cóc cần ta. Cho nên dõi theo nó cũng thấy ra nhiều điều ngộ nghĩnh. Đầu tiên là nó chẳng phải của ta. Nó ở đâu đó trong không gian, trong vũ trụ. Nó chứa Nitrogen và Oxygèn cùng một số khi linh tinh khác. Ta cần Oxy để oxyt hóa thức ăn mà tạo ra năng lượng cho sự sống. Không thở thì chết. Thế nhưng có những sinh vật sống chẳng cần O2 như cỏ cây, lại có những sinh vật sống đời sống yếm khi, thí dụ loại vi trùng clostridium, khi thiếu O2 nó sống trong một vỏ bọc dày gọi là “bào tử”, co cụm lại và không chết. Đợi đủ điều kiện thì bung ra. Người ở trong thiền định, phải chăng đã sống như trong một “bào tử”? Chữ “mượn’ cho thấy là tạm bợ, đến lúc nào đó thì phải trả lại thôi.</p>
<p><b>Khi vào khi ra/ Khi sâu khi cạn</b><br />
Hơi thở vào thì biết vào, ra thì biết ra, sâu thì biết sâu, cạn thì biết cạn… Tóm lại, dõi theo để « biết » nó vậy. Nó vào nó ra nó sâu nó cạn. Không cần giượng cầu, không cần ép uổng, nào phải hít cho thiệt sâu, nào phải thở cho thiệt chậm, thiệt đều. Còn lâu ! Cứ thong dong. Nó sao kệ nó. Cứ tự nhiên, Cứ thong thả. Cứ bình thường. Không cần phải ráng sức. Vấn đề chính là “dõi theo” nó. Cho đến một lúc, cũng chẳng cần biết nó vào nó ra nó sâu nó cạn ra sao. Nó mặc nó. Ta mặc ta. Ta đã hòa tan, đã tan biến với nó. Ta còn « không ta » làm sao thấy nó nữa cơ chứ? Ta chỉ mượn tạm ở giai đoạn đầu để dẫn ta vào « định ». Trong định, vượt cả tầm cả tứ, cả hỷ cả lạc, cả xả niệm lạc trú, vào thẳng  xả niệm thanh tịnh nếu có thể. Và vượt qua nữa. Gaté, Gaté, Para gaté… Trong kinh Tứ niệm xứ (Satipathana) Phật đã nói rõ. Đây là <b>con đường trực tiếp</b> <b>dẫn tới thanh tịnh</b> cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn… Từ Tứ niệm xứ, giản đơn thành thân hành niệm và từ thân hành niệm, giản đơn hơn nữa thành Anapanasati, An-ban thủ ý, thở chánh niệm, quán niệm hơi thở. Con đường càng lúc càng giản đơn mà tuyệt diệu của bậc Y vương.</p>
<p><b>Chú tâm quãng lặng/ Pranasati</b><br />
Như trong bản nhạc có những quãng lặng cần thiết, hai nhịp, bốn nhịp… Thở cũng vậy. Giữa thở vào và thở ra có một quãng lặng ngắn. Giữa thở ra và thở vào có một quãng lặng dài hơn. Đó là giai đoạn ngưng nghỉ. Những người tập khí công có thể điều khiển nhịp thở thành ba thì hoặc bốn thì. Ở đây chỉ nói người bình thường thì cần đặc biệt chú ý thì thở ra. Thở ra không cần năng lượng. Thở vào thì cần năng lượng. Cho nên trước khi thở vào cần một chút ngưng nghỉ để tập trung năng lượng. Trên thực tế, khi áp suất ở phổi bằng 0 (bằng không) thì khí bên trong phổi và bên ngoài phổi hoàn toàn không phân biệt, ở đó đã có sự hòa nhâp làm một với không gian và thời gian cũng không còn. Chỉ có sự tĩnh lặng. Người thiện xảo trong thiền có thể kéo dài quãng lặng này dài ra, nối các quãng lặng với nhau thành một <i>quãng dừng.</i> Quãng dừng này chính là giai đoạn người ta đã sống trong bào thai, trở về  bào thai Như Lai, Như Lai tạng. Dĩ nhiên vẫn có những nhịp thở rất nhẹ nhưng  không hề có sự nhích lên xuống của cơ hoành. Hình như người ta thở qua da (trong Phôi thai học – Embryology- thì da và phổi có cùng nguồn gốc). Những bậc thiền sư ở giai đoạn <i>tứ thiền </i>(xả niệm thanh tịnh) có lẽ đã ở trạng thái này.<br />
Prana chính là quãng lặng đó. Pra là trước, ana là thở vào. Prana là « trước khi thở vào », hay nói đúng hơn, trước khi thở. Nó chính là bào thai trong bụng mẹ, không cần phải thở.  Các tài liệu cổ xưa gọi Prana là nguồn sống. Sati là niệm, là nhớ nghĩ, là chiêm nghiệm, là quán chiếu. Nhớ nghĩ, quán chiếu giai đoạn « Prana » đó, ta thấy hóa ra nguồn sống là cõi không thở, cõi ngưng thở, cõi trước khi thở…</p>
<p>Anapanasati thi Ana là thở vào, Apana là thở ra, Sati là niệm, nhớ, nghĩ. Phật không nói đến Prana, nhưng trong Yoga có Pranayama, « kiểm soát prana ». Không nói đến là để mỗi người tự phát hiện, tự điều chỉnh, tự kiểm soát.</p>
<p>Chữ OM (trong Om Mani Padme Hum) thì theo nguyên ngữ, chữ OM viết là AUM: A <i>thở vào</i>, U <i>thở ra</i>, M <i>quãng lặng</i> đó vậy!</p>
<p><b>Hơi thở xẹp xì/ Thân tâm an tịnh</b><br />
“Xẹp xì” là đúng. Cơ thể vốn lúc nào cũng căng cứng, căng phồng, ( tonus musculaire, sự căng cơ thường trực để giữ tư thế) gây mệt mỏi và tốn hao năng lượng nhiều lắm. Bây giờ ở  quãng lặng… ta được nghỉ ngơi. Cũng giống như khi làm việc mệt mỏi, căng thẳng, ta kêu « nào, xả hơi một chút đi » thì thấy khỏe ra. Xả, xẹp, xì, xọp… chính là tạo nên trạng thái tĩnh lặng, an tịnh. An tịnh cả thân và tâm. Còn lăng xăng, còn « trạo cử » thì không thể ngồi yên. Còn ngủ gà ngủ gật (thụy miên) cũng không xong, vì phải luôn «chánh niệm, tỉnh giác ». Tham nổi lên, sân nổi lên, nghi nổi lên, cùng với thụy miên, trạo cử vốn là năm thứ cản ngại trong thiền! Thực tế, khi ngủ, cơ thể ta cũng đã giảm tiêu hao năng lượng đáng kể, giảm được 50%, chỉ còn chuyển hoá cơ bản. Thế nhưng, ngủ vẫn tốn năng lượng khi chiêm bao, cũng mệt mỏi toát mồ hôi hột như thường, không kể còn trằn trọc, lăn qua, lộn lại hoài không ngủ được. Thiền nếu đúng, giảm đến 40% năng lượng dành cho căng cơ và gần 30% năng lượng dành cho hoạt động não bộ, nói khác đi, thiền đúng cách đã tiết giảm đến 70% năng lượng cho cơ thể, do đó, tốt hơn so với giấc ngủ. Phật chẳng cần ngủ và các thiền sư rất ít khi phải ngủ!</p>
<p><b>Không còn ý tưởng/ Chẳng có thời gian</b><br />
Ở trạng thái xẹp xì, thân tâm an tịnh đó thì thân đã an, tâm đã tịnh. Một trạng thái “vô ngã” tràn ngập, đâu còn ý tưởng lăng xăng nào nữa. Khi còn ý, khi còn tưởng thì tức khắc còn sanh sự. Và tức khắc có sự nhộn nhạo. Nhưng coi vậy mà rất khó để dứt ý tưởng lăng xăng. Phật mà còn bị Ma vương quấy nhiễu, bao nhiều hình bóng chập chờn, xua đi không dễ ! Cho nên khi thấy những ý tưởng nọ kia xuất hiện cũng là chuyện bình thường thôi. Cứ để tự nhiên. Nó đến rồi nó đi. Đừng có ráng xua đuổi. Càng xua đuổi càng dính mắc, phan duyên. “Chẳng trừ vọng tưởng chẳng cầu chân”. Mặt hồ tĩnh lặng thì không cần ghi bóng hạc bay qua, không cần biết hạc vàng hay hạc đỏ, hạc trống hay hạc mái… Chánh niệm vào hơi thở là cách tốt nhất cắt đứt dòng ý, tưởng lăng xăng, nhộn nhạo. Lúc đầu, ý tưởng tràn ngập, dính mắc triền miên, lâu dần sẽ giảm bớt, đừng ráng xua đuổi, đứng « tham » muốn đạt kết quả này nọ. Trở lại với hơi thở càng nhanh càng có sự tiến bộ.</p>
<p>Khi thân tâm an tịnh, có thể cảm nhận một sự nhẹ nhàng, sảng khoái (thiền duyệt), cũng không cần bám víu. Có thể trong một sát na, cảm nhận trạng thái vô ngã, không thời gian, không không gian, không « ngã nhân chúng sanh thọ giả… ».</p>
<p><b>Hạt bụi lang thang/ Dính vào hơi thở</b><br />
Trạng thái đó không dễ, không phải lúc nào cũng có được (có lẽ trừ các vị thiền sư thiện xảo). Còn thì… dễ thấy hơn là hạt bụi « lang thang » rồi dính vào hơi thở mà… sinh sự bấy nay. Thiệt ra không có chuyện tự nhiên mà « dính vào » một cách tình cờ chi đâu. Tất cả đều có « duyên sinh » của nó, có nhân quả của nó. Nó chằng chịt, nó quấn quít với nhau đó. Nó « hẹn nhau từ muôn kiếp trước » cả đó thôi ! Dù là cát bụi tuyệt vời hay cát bụi mệt nhoài gì đi nữa thì nó vẫn phải có nghiệp báo nhơn quả. Tin không tin, tùy. Cứ hỏi tại sao ta có mặt trên cõi đời này ? Cha ta mà không gặp mẹ ta thì ta là ai ? Lúc đó mới thấy cái quấn quít cái chằng chịt, cái duyên sanh, cái này có cái kia có cái này không cái kia không. Tưởng là tình cờ mà chẳng tình cờ tí nào. Người đâu gặp gỡ làm chi đều có cái lý của nó. Nhưng không phải thuyết định mệnh. Mọi thứ vừa chặt chẽ vừa lỏng lẻo. Vậy mới khoái. Vậy mới tự do. Tuyệt đối Tự do. Tự chịu trách nhiệm. « Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa ». Ta chọn nghiệp, cải nghiệp, chuyển nghiệp.</p>
<p><b>Duyên sinh vô ngã/ Ngũ uẩn giai không</b><br />
Hiểu được duyên sinh, thấy được vô ngã thì đã « ngộ » phần nào. Vô ngã không thể nói bằng ngôn từ, khái niệm, biện luận. Phải cảm nhận vì nó là một trạng thái tâm. Đến để mà thấy. Tam giác cân Giới Định Huệ, tùy mỗi người tiếp cận tùy căn cơ nhưng nó vốn là một tam giác cân hai chiều tương tác. Cái này sinh cái kia, cái kia sinh cái nọ, hỗ trợ lẫn nhau. Anh chàng bán thịt buông dao mà đến, anh chàng trí thức suy gẫm mà tới, nhưng cả hai đều bước qua Giới, qua Định. Chánh định (Samadhi= Tam muội, Tam-ma-địa ) sẽ dẫn tới Chánh kiến, chánh Tư duy… trên  con đường « Bát chánh đạo ».  Để có Chánh định thì phải đi từ Thiền chỉ (Samatha), Thiền quán (Vipassana)… để thấy <i>thực tướng vô tướng</i>, thấy Như Lai.</p>
<p><b>Từ đó thong dong/ Thõng tay vào chợ</b><br />
Đó là nhập. Ngộ rồi phải nhập chứ. Là phải học phải hành. Tri hành hợp nhất. Vào “chợ” một cách thong dong đâu có dễ. Không bị cuốn hút vào bao nỗi lo toan, phiền não đâu có dễ. Cho nên có tám vạn bốn ngàn pháp môn để tùy cơ ứng biến, để giúp mình giúp người. Học được một chút hạnh của Thường Bất Khinh (tôn trọng), của Dược Vương (chân thành), của Diệu Âm. Quán Thế Âm (thấu cảm), của Phổ Hiền, từ bi hỷ xả… đâu có dễ. Rồi còn phải học Duy-ma-cật, huệ phương tiện với phương tiện huệ, phải làm quen với Bất Nhị, với cơm Hương Tích, với trà Tào Khê …</p>
<p>Cõi người ta vốn là nơi hành xứ, thân cận xứ. Không trốn chạy, không buông xuôi. Đâu có dễ mà buông bỏ, mà lạnh lùng.</p>
<p><i>Đỗ Hồng Ngọc</i></p>
<p><b>………………………</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b> </b><b>Have you relaxed your entire body?</b></p>
<p>That is my personal mantra, my own dharani, which I recite every morning when I sit down… facing the wall! I mention facing the wall because the space where I meditate is less than a meter away from it, as my house is quite small. Of course, meditation does not have to be done while sitting; it can also be practiced while walking, standing, or lying down. However, I find sitting to be more enjoyable and logical! I cannot sit in the traditional full lotus or half lotus position, so I adapt my own sitting style, just as there are Tibetan, Japanese, and Western approaches to meditation… Any method is valid!</p>
<p>For over 25 years, I have engaged in my personal meditation practice every morning. I do not adhere to any specific school; instead, I focus on the principles of Anapanasati meditation as taught by the Buddha, which encompasses both samatha and vipassana meditation. I typically meditate for about 30 to 40 minutes, followed by approximately 30 minutes of light physical exercises, which I also view as a form of moving meditation, a means to allow meditation to fade away.<br />
Every movement during exercise impacts every muscle, bone, and joint in the body. After a period of silence, I listen to my mind as it rambles and attempt to calm it. I find that my health improves, my work capacity becomes more resilient, and my memory is enhanced somewhat. When I neglect to meditate and exercise in this way, I feel lethargic. Over time, I have come to feel somewhat addicted to these practices. To aid my memory, I wrote a poem and concealed it carefully, always beginning with the dhāranī: Is your whole body relaxed?</p>
<p>The rhyme goes as follows:</p>
<p><i>Relax your whole body,</i><br />
<i>like hanging a coat hanger.</i><br />
<i>Sit cross-legged,</i><br />
<i>keep your shoulders level, your back straight,</i><br />
<i>and follow your breath,</i><br />
<i>as if borrowing air from afar.</i><br />
<i>Breathe in, then out,</i><br />
<i>sometimes deep, sometimes shallow.</i><br />
<i>Pay attention to the gaps between breaths.</i><br />
<i>Pranasati</i><br />
<i>The breath shrinks and deflates;</i><br />
<i>the body and mind are peaceful and pure.</i><br />
<i>No thoughts arise.</i><br />
<i>Time seems to vanish.</i><br />
<i>A speck of dust drifts,</i><br />
<i>clinging to the breath.</i><br />
<i>Because of dependent origination, there is no self.</i><br />
<i>And therefore, the five aggregates are all Empty.</i><br />
<i>Once you realize this truth, you will feel at ease</i><br />
<i>and be able to walk into the market with open arms.</i><br />
(Verse by Đỗ Hồng Ngọc)</p>
<p align="center"><b>Relax your whole body, like hanging a coat hanger</b></p>
<p>The act of relaxing the entire body is crucial before entering meditation. If you begin meditation while still tense, it can lead to a negative experience. Therefore, it is essential to ask yourself whether you have fully relaxed your body. When you achieve this state of relaxation, you begin to drift away; there is no longer a sense of self, no other individuals, no living beings, and no concept of a lifespan. If you can genuinely relax, you will significantly reduce your energy consumption. Just as birds do not need to flap their wings to fly, they simply glide effortlessly.<br />
How can I relax?</p>
<p>Some people suggest relaxing the entire body as if it were a lifeless corpse floating down a river. They encourage viewing the body as a decaying skin bag or a floating cadaver. However, I believe it is more beneficial to perceive the body as a shirt hanging on a hanger. Just as a shirt is not eternal and requires changing, so too does the body. By considering the body as a shirt on a hanger, one can fully release attachment to the physical form and the four elements and five aggregates. This perspective is sufficient to facilitate entry into meditation.</p>
<p>Relax; no more muscles are tense, and no more nerves need to be activated. Understanding that muscle tension, or tonus musculaire, is essential for maintaining skeletal stability and overall bodily function has consumed nearly 40% of the body’s energy. When relaxed, as if hanging on a hanger, the energy expended on muscle tension is no longer necessary. When one achieves a state of lightness, the body feels as light as a cloud (TCS)!</p>
<p align="center"><b>Sit cross-legged, keep your shoulders level, your back straight</b></p>
<p>Sitting in any position is acceptable, even on a chair; however, crossing your legs in a circle is even better. This position provides stability, much like a tripod. Regardless of what others may say, it is important to remain diligent and patient. Without patience, it is easy to give up, especially if you face ridicule or mockery. No matter who laughs, stay patient, and you will succeed! Sitting cross-legged resembles a tower—a treasure tower. Within this treasure tower resides Tathagata Prabhutaratna, who smiles upon those who meditate in this manner. Practitioners can easily connect with Tathagata Prabhutaratna. This connection is akin to recognizing the physical body, which is composed entirely of earth, water, wind, fire, and the elements: carbon, hydrogen, oxygen, nitrogen, as well as copper, lead, iron, zinc, manganese, magnesium, phosphorus, lime, and others.</p>
<p>It is a treasure because it is used to create another living being, whether that be grass, trees, flowers, or even ourselves being reborn. Sitting in the treasure tower is akin to “entering seclusion” within your own body. Your shoulders should be level, and your back straight, serving as a reminder to maintain proper posture; otherwise, the structure will become unstable and crooked.</p>
<p>The concept of a ‘straight back’ is crucial.</p>
<p align="center"><b>Follow your breath, as if borrowing air from afar</b></p>
<p>Following is not spying; it is light and refreshing. It involves observing things as they are, without judgment. In contrast, spying is tense, probing, anxious, and nervous. Why not focus on something else instead of the breath? Because the breath is the easiest thing to observe and follow. It is right under our noses, always present, as we cannot escape the necessity of breathing. While you can choose another object to observe, focusing on the breath is more convenient since it is intrinsically linked to the body. When you are tired and exhausted, you may feel almost out of breath. The breath is also connected to the mind; when you are nervous or afraid, your breathing differs from when you are happy. It is impermanent. The breath serves as the thread that connects the body to the mind and is essential to life. Life is merely a breath—nothing more, nothing less. When you stop breathing, you cease to live. The breath exists independently of us; it does not rely on us. Thus, following it can reveal many intriguing insights.<br />
First of all, breath is not inherently ours; it exists somewhere in space, within the universe. It consists of nitrogen and oxygen, along with various other gases. We require oxygen to oxidize food and generate energy essential for life. Without breathing, we cannot survive. However, some living organisms do not need oxygen, such as plants, and there are also anaerobic organisms, like Clostridium bacteria, which can thrive without oxygen. These bacteria form a thick protective shell called a spore, allowing them to clump together and remain dormant. When conditions become favorable, they can emerge from this state. Are people in meditation experiencing a state similar to that of a spore? When we say that breathing borrows air, it indicates that this process is temporary and that, at some point, the air must be returned.</p>
<p align="center"><b>Breathe in, then out, sometimes deep, sometimes shallow</b></p>
<p>When you breathe in, you are aware of inhaling; when you breathe out, you recognize exhaling. When you breathe deeply, you know it is deep; when you breathe shallowly, you are aware of its shallowness. In essence, simply observe your breath: it comes in, it goes out, it is deep, and it is shallow. There is no need to force it, to inhale deeply, or to breathe slowly or evenly. Don’t rush! Just take it easy. Whatever it is, allow it to be. Be natural, be relaxed, and be yourself. There is no need to exert effort. The key is to follow your breath. For a time, you need not concern yourself with how it enters, how it exits, or how deep or shallow it is. Let it be. Let me be. I have dissolved and disappeared into it. If I am not even myself, how can I perceive it? I only temporarily borrow this awareness in the initial stage to guide me into concentration.</p>
<p>In concentration, if possible, you will pass through placing the mind, passing through keeping it connected, passing through rapture, passing through bliss, passing through ‘equanimous and mindful, one meditates in bliss’ and entering the place of ‘pure equanimity and mindfulness.’ And passing through more. Gate Gate Pāragate…<br />
In the Sutra on the <b>Four Foundations of Mindfulness</b>, the Buddha clearly said that <b>this is the direct path leading to the purity of living beings</b>, the elimination of suffering and sorrow, the attainment of right wisdom, and the realization of Nirvana. The Four Foundations of Mindfulness can be distilled into mindfulness of the body, and further simplifying this leads to Anapanasati, the practice of mindful breathing and contemplation of the breath. The path becomes increasingly simple and profound, as taught by the King of Medicine.</p>
<p align="center"><b>Pay attention to the gaps between breaths / Pranasati</b></p>
<p>In music, there are essential pauses—two beats, four beats, and so on. The same principle applies to breathing. Between inhaling and exhaling, there is a brief pause, while the interval between exhaling and inhaling is longer; this is known as the resting period. Qigong practitioners can control their breathing in three or four phases. However, here we are focusing on the average person, who should pay particular attention to exhaling. Exhaling does not require energy, whereas inhaling does. Therefore, before inhaling, it is important to pause briefly to concentrate our energy.<br />
In fact, when the pressure in the lungs is zero, the air inside and outside the lungs becomes indistinguishable, resulting in a fusion with space and time. In this state, there is only silence. A skilled meditator can extend this silence, connecting the moments of stillness into a pause. This pause represents a return to the womb, akin to the Tathagata womb, or Tathagata-garbha. While there may still be very light breaths, there is no movement of the diaphragm. It feels as though one breathes through the skin, as both the skin and lungs share the same embryonic origin according to Embryology. Meditation masters who reach the fourth absorption, characterized by pure equanimity and mindfulness, likely experience this state.<br />
Prana represents silence. The word Pra means before, and the word ana means to breathe in. Prana is the state preceding inhalation, or more precisely, the stage before breathing. It is akin to the fetus in the mother’s womb, which does not require breathing. Ancient texts describe Prana as the source of life. Sati encompasses mindfulness, remembrance, contemplation, and observation. When we remember and contemplate the state of Prana, we recognize that the source of life exists in the realm of no breathing, the realm of apnea, the stage before inhalation.<br />
In the word Anapanasati, Ana is breathing in, Apana is breathing out, and Sati is mindfulness, remembering, and thinking. Buddha did not mention Prana, but in Yoga there is Pranayama, controlling Prana. Not mentioning is for each person to discover, adjust, and control themselves.</p>
<p>The letter OM (as found in the phrase Om Mani Padme Hum) is represented as AUM according to the original terminology: A signifies inhalation, U represents exhalation, and M denotes silence.</p>
<p align="center"><b>The breath shrinks and deflates; the body and mind are peaceful and pure.</b></p>
<p>The breath shrinks and deflates. The body remains tense and bloated (muscle tone: constant muscle tension to maintain posture), which leads to fatigue and depletes energy. Now, during this pause, we can rest. Just as we often say, when we feel tired and stressed from work, we can experience relief. Letting go, deflating, and releasing tension creates a state of stillness and tranquility—peace for both body and mind. If there is lingering agitation and restlessness, we cannot sit still. Similarly, if we are drowsy and dozing, we cannot achieve this state either, as we must remain mindful and alert. Greed, anger, doubt, drowsiness, and restlessness are the five obstacles to meditation!<br />
In fact, when we sleep, our bodies consume significantly less energy—reducing energy expenditure by 50%—leaving only the energy required for basic metabolism. However, sleep still consumes energy during dreaming, and it can be just as exhausting and sweaty as being awake, especially when tossing and turning and struggling to fall asleep. When practiced correctly, meditation can reduce energy expenditure by up to 40% related to muscle tension and nearly 30% related to brain activity. In other words, proper meditation can save up to 70% of the body’s energy, making it more efficient than sleep. The Buddha is said to have transcended the need for sleep, and meditation masters often require very little sleep.</p>
<p align="center"><b>No thoughts arise; Time seems to vanish.</b></p>
<p>In a state where you feel shrunk and deflated, both the body and mind can find peace; the body is at rest, and the mind is quiet. A sense of egolessness prevails and wandering thoughts dissipate. When thoughts linger and perceptions arise, something is inevitably happening, leading to disturbance. However, it is challenging to halt these wandering thoughts. Buddha was once harassed by the Devil, surrounded by many flickering shadows that were difficult to dispel. Therefore, when you notice these thoughts surfacing, it is entirely normal. Allow them to exist without resistance; they will come and go. Do not attempt to chase them away. The more you pursue them, the more you become attached and confused. There is no need to eliminate delusions or to seek the truth.<br />
The tranquil surface of a lake does not need to cling to the reflection of a crane flying by, whether it is a yellow crane or a red crane, a male crane or a female crane. Practicing mindfulness through breathing is the most effective way to interrupt the flow of wandering, restless thoughts. Initially, these thoughts may feel overwhelming and persistent, but with time, they will diminish. Avoid the temptation to chase them away or to become fixated on achieving specific results. The quicker you return your focus to your breath, the more progress you will make.</p>
<p>When the body and mind are calm and tranquil, you may experience a sense of lightness and comfort through the enjoyment of meditation. However, it is important not to cling to that feeling. In that moment, you might encounter a state of selflessness—where there is no time, no space, no self, no others, no living beings, and no lifespan.</p>
<p align="center"><b>A speck of dust drifts, clinging to the breath</b></p>
<p>The state just mentioned is not easy to achieve and is not always possible, except perhaps for skilled meditators. Otherwise, it is easier to observe how a speck of dust drifts and clings to the breath, leading to the emergence of various phenomena. In reality, there is no such thing as a natural or accidental attachment; everything has its own causes and effects. It is entangled and intertwined, shaped by countless previous lives. Whether it is delightful dust or burdensome dust, it still carries karmic consequences.</p>
<p>Believe it or not, the choice is yours. Consider asking why we exist in this world. If our father had never met our mother, who would we be? Only then can we perceive the entanglement, the intertwining, and the principle of dependent origination: this exists, that exists; this does not appear, that does not appear. It may seem like a coincidence, but it is not a coincidence at all. People meet for a reason, yet this is not fatalism. Everything is both interconnected and fluid. That is remarkable. That is freedom—absolute freedom. It entails self-responsibility. Do not blame the heavens above or the heavens beyond. We choose our karma, correct our karma, and transform our karma.</p>
<p align="center"><b>Because of dependent origination, there is no self.<br />
And therefore, the five aggregates are all Empty.</b></p>
<p>When you comprehend the law of dependent origination and perceive selflessness, you attain a state of partial enlightenment. Non-self cannot be adequately expressed through words, concepts, or arguments; it must be experienced, as it represents a state of mind. Come and see. The balanced triangle of Precepts, Concentration, and Wisdom, which varies according to each individual’s approach and capacity, forms an inherently balanced structure with two interdependent directions. This interplay gives rise to one aspect, which in turn leads to another, with each element supporting the other.</p>
<p>The butcher set down his knife and approached, while the intellectual contemplated and came. However, both had to navigate through the Precepts and Concentration. Right Concentration will lead to Right View and Right Thinking on the path of the Noble Eightfold Path. To achieve Right Concentration, one must progress from Samatha Meditation to Vipassana Meditation in order to perceive the true nature, which is formless, and to recognize the Tathagata.</p>
<p align="center"><b>Once you realize this truth, you will feel at ease<br />
and be able to walk into the market with open arms.</b></p>
<p>That is the process of entering. Once enlightened, one must take the step to enter. It is essential to learn and practice, as knowledge and practice are interconnected. Approaching the market with ease is challenging. Remaining free from worries and troubles is also difficult. Therefore, there are eighty-four thousand methods available to adapt to various situations and to assist oneself and others.<br />
Learning about the virtues of Bodhisattva Never Disparaging (respect), Bodhisattva Medicine King (sincerity), Bodhisattva Wonderful Sound, Bodhisattva Avalokiteshvara (empathy), Bodhisattva Samantabhadra, as well as compassion, kindness, joy, and equanimity, is not an easy task. Additionally, one must also explore Vimalakirti’s skillful wisdom, become accustomed to the concept of non-duality, and appreciate Hương Tích rice and Tào Khê tea.</p>
<p>The human world is fundamentally a realm of practice and affection. Do not flee; do not surrender. It is not easy to relinquish this world so coldly.</p>
<p><b>Đỗ Hồng Ngọc</b><br />
<i>Translated by <b>Nguyên Giác</b></i></p>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19672/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>CON ĐƯỜNG AN LẠC   Bài 4: Học cách Phật dạy</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19670/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19670/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 23 Nov 2024 08:32:11 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=19670</guid>

					<description><![CDATA[&#160; &#160; “Sách bỏ túi” cho người cao tuổi CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 4: Học cách Phật dạy Đỗ Hồng Ngọc &#160; Tôi học Kim Cang không ngờ cũng thấy “ghiền” như khi học Tâm Kinh Bát Nhã ngày trước. Đôi khi giật mình, đôi khi sửng sốt, đôi khi bỡ ngỡ, đôi khi chưng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b><em>“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi</em></b></p>
<p><b>CON ĐƯỜNG AN LẠC<br />
</b></p>
<h3><b>Bài 4: </b><b>Học cách Phật dạy<br />
</b><b></b></h3>
<p><b>Đỗ Hồng Ngọc</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi học Kim Cang không ngờ cũng thấy “ghiền” như khi học Tâm Kinh Bát Nhã ngày trước. Đôi khi giật mình, đôi khi sửng sốt, đôi khi bỡ ngỡ, đôi khi chưng hửng. Các kinh sách dù có nhiều truyền bản, nhưng rõ ràng là có một sự nhất quán, xuyên suốt, chỉ khác cách tiếp cận tùy “đối tượng đích” mà cách truyền đạt khác nhau chớ nguyên lý vẫn là một. Nắm được cái cốt lõi có thể bớt hoang mang, thấy được “chỗ vào” chăng?</p>
<p>Cái điều bỡ ngỡ và chưng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng được đọc, được nghe những lời hay ý đẹp, những khuôn vàng thước ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn mặc áo, ôm bình bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng, chẳng thèm ra oai tằng hắng lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hằng ngàn người, cả các vị Đại Bồ Tát, A La Hán, các vị “chức sắc” và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo huấn sâu xa thì Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm bình bát, vào thành khất thực. Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi mới ung dung trở lại “hội trường,” bày ra ăn, ăn xong, thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩ là … nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ! Tôi tưởng tượng lúc đó nếu mình cũng đang ngồi xớ rớ đâu đó, bên ngoài hành lang, dự thính, chờ nghe những lời thuyết giảng mà phát tức anh ách, cảm thấy hẫng, thất vọng. Bỗng dưng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông như mọi người bỗng ông đứng phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: Thật tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xưa nay chưa từng có! Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo trao truyền, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay! Lúc đó thì quả thực mới bùng nổ bài học vừa được truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó thì sự chưng hửng đã trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, nãy giờ không để ý, không theo dõi kỹ bài giảng không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những người không để ý quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc!<br />
Phật có cách dạy riêng của Ngài: không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một phương pháp giáo dục rất mới mà bây giờ người ta gọi là <i>“demonstration,”</i> tức là biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại. Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trước, nói sau. Hoặc cũng chẳng cần nói. Ta hiểu vì sao các vị thiền sư thường bắt học trò chẻ củi, nấu cơm, gánh nước, trồng rau, giã gạo… mà chẳng thèm dạy lấy một lời. Cho đến lúc nào học trò tự phát hiện ra một điều gì đó bức xúc trong tâm thì mới dạy, cũng bằng một cách kỳ cục nào đó: có khi lật thuyền, có khi gõ đầu, có khi trả lời trớt quớt, có khi hỏi ấm ớ kiểu ông đưa tâm đây tôi an cho, làm cho học trò ngớ ra rồi… sực tỉnh cơn mê! Cuối khoá học, trò cũng không nhận được một bằng cấp nào của thầy để khoe, thầy cũng chả có gì để trao cho trò. Bới “Cái đó” sẵn có trong trò, thầy chỉ giúp trò tự phát hiện, tự chứng nghiệm, tự “giải quyết” lấy vấn đề của mình. Đó gọi là tham vấn (counselling), một phương cách trị liệu tâm lý học và y học ngày nay. Người làm tham vấn ví như cô mụ đỡ đẻ, giúp bà mẹ có được cuộc đẻ mẹ tròn con vuông chớ không thể đẻ thay bà mẹ. Đứa con có sẵn trong bụng mẹ rồi.<br />
Trờ lại bài học, mọi người giật mình, sửng sốt nhớ lại thì mới hay Phật muốn dạy mình bài học đầu tiên: đói thì ăn, khát thì uống. Tới giờ ăn thì phải lo ăn. Ai nói không cần ăn là người không biết sống, hoặc giả dối. Gần hai ngàn năm sau, Trần Nhân Tông, ông vua nhà Trần ở nước ta, vị thiền sư sáng lập phái Trúc Lâm Yên Tử cũng nói trong bài Cư Trần Lạc Đạo: <i>Cơ tắc xan hề khốn tắc miên </i>(Đói thì ăn, mệt thì ngủ.) Phật tới giờ ăn mà còn phải lo mặc áo, xách bình bát đi khất thực, huống là ta! Điều đáng để ý ở đây, một bậc Thế Tôn như Đức Phật, chỉ cần nói một tiếng, không thiếu món ngon vật lạ cúng dường! Thị giả hẳn đã lo bữa cơm tươm tất cho Phật đâu đó rồi, chờ Phật thuyết giảng xong thì vào ăn. Nhưng không. Phật đã tự đi kiếm ăn lấy một mình. Không nhờ vả đến ai. Không ăn thức ăn dọn sẵn ngon lành, mà tự mình làm đúng những điều mình đã dạy. Cho nên không giật mình, sửng sốt sao được! Nhiều vị “chức sắc” có mặt hẳn … hết hồn nhìn lại mình, nào đệ tử cung phụng, nào bày biện các món ăn tuy là chay mà cũng “sơn hào hải vị” không kém! Ngày nay ta còn thấy có nhiều thức ăn chay giả giống hình con tôm, con cá, đùi gà… thật là đáng ngại! Giật mình, sửng sốt còn bởi vì Phật, địa vị cao nhất, bậc Thế Tôn kia, có hằng chục “chức danh” lừng lẫy mà vẫn giản dị làm sao, vẫn đi chân trần từng bước thanh thoát, vẫn bưng bình bát đi khất thực giữa nắng trưa để có cái ăn, có gì ăn nấy. Phật đi khoan thai, tự nhiên, mỗi bước đều chánh niệm, không “dính mắc” gì với chung quanh mọi người đang xì xầm hay bàn tán về mình, kẻ khen người chê mình. Ngài chỉ thở vào thở ra trên từng bước đi, ung dung, nhẹ nhàng, sảng khoái. Phật cũng không chọn các nhà giàu để đến khất thực hoặc chọn nhà nghèo dễ chịu hơn, hoặc những nhà quen biết cho chắc ăn, Phật cứ ung dung lần lượt đi từng nhà, từng nhà, bởi vì đâu có cần phải phân biệt, đâu có cnầ giúp riêng người giàu hay người nghèo. Ai cũng có vấn đề, ai cũng “khổ” như nhau thôi. Người nghèo khổ nghèo, người giàu khổ giàu! Có điều sau một vài tiếng đồng hồ đi bộ để khất thực như vậy thì món ăn nào cũng trở thành “cao lương mỹ vị,” nếu được ăn trong chánh niệm, được nhai kỹ từng chút một thì thức ăn nào cũng ngon, cũng dễ tiêu hoá. Hình như cái bình bát cũng vừa lớn đủ đựng thức ăn cho một người thôi, để không quá dư, không thừa mứa.</p>
<p>Ngày nay ít thấy cảnh khất thực, nhất là ở các đô thị, thành phố, thế nhưng khi ta có dịp thấy một người mặc áo ca sa, mang bình bát, từng bước ung dung, chánh niệm, đi khất thực từng nhà, từng nhà, ta không khỏi khâm phục vị Thầy từ ngàn xưa, và tự dưng trong lòng thấy cảm động. Ngày nay dù không còn phải đi khất thực từng bữa nữa, nhưng việc đi bộ hằng ngày vài tiếng đồng hồ cũng luôn rất cần thiết cho sức khoẻ; thức ăn đơn giản, nhiều rau, nhiều đậu, ít béo, ít đường, ít mặn, không quá dư cũng đã rất tốt cho sức khoẻ. Đặc biệt là ăn trong trạng thái ung dung, thư giản, một không khí an lành, với niềm vui có được bữa ăn vừa đủ, không cầu kỳ, không thừa mứa, thì bữa ăn nào cũng trở nên ngon, lành mạnh, khoẻ khoắn. Ăn xong, Phật thu dọn y bát đâu đó gọn gàng, rửa chân sạch sẽ rồi mới vào ngồi tĩnh toạ. Điều đáng để ý ở đây là không phải ăn xong thì đi… ngủ hoặc bắt đầu tranh luận căng thẳng mà là ngồi tĩnh toạ, vào thiền. Có lẽ đó là lúc tốt nhất để nghe cơ thể mình hoạt động, để thấy các thức ăn được bộ máy tiêu hoá, hấp thu, chuyển hoá thành năng lượng ra sao trong từng tế bào.</p>
<p>Bài học đã truyền trao. Nếu chịu khó quan sát kỹ tí nữa, lúc Phật bưng bình bát đi khất thực từng nhà, có lẽ ta còn phát hiện ra nhiều điều hay, thú vị khác. Chẳng hạn cái người đi khất thực kia không phải là người đi xin mà là người đi cho. Ta không thể phân biệt ai là người xin người cho ở đây. Khi người đi khất thực đứng trước cửa nhà nào thì gia chủ mừng húm, cảm thấy như mình có một hạnh phúc lớn, không phải chỉ vì người đi xin kia là đức Phật mà chỉ vì cái hành vi đi xin kia thực ra mang một ý nghĩa khác, ý nghĩa cảnh tỉnh, như một lời nhắn nhủ, nhắc nhở. Gia chủ sẽ có dịp nhìn lại chính mình, nghe ngóng một tiếng nói nào đó ở trong sâu thẳm tâm hồn mình. Có thể rồi sẽ chóng quên, nhưng hôm nào đó lời nhắc nhở sẽ lại vọng lại. Với người quyền quý cao sang, có thể giật mình một chút thấy cái người đi chân đất, để đầu trần, bưng bình bát đứng xin kia là người vì sao đã từ bỏ ngôi vị thái tử, đã từ bỏ gấm vóc lụa là, cung phi mỹ nữ.</p>
<p>Cũng có thể sẽ có những người xua đuổi, sỉ vả, để rồi cũng nhận được một ánh mắt biết ơn, một nụ cười trìu mến và những bước đi nhẹ nhàng của người khất thực kia. Để rồi đêm về, người đã xua đuổi sỉ vả nọ nhớ lại, ngạc nhiên nghe một thứ tiếng nói khác trong lòng mình. Có những người nghèo không có cái ăn, không có cái gì để cho thì lúc đó cái ánh mắt, cái nụ cười sẽ chia sẻ cùng nhau. Sự tôn trọng, không phân biệt, đã nói lên nhiều điều quá đỗi. Thực ra nếu quan sát kỹ chút nữa, có lẽ từ lúc Phật đứng lên mặc áo, cầm lấy bình bát… mỗi cử chỉ đều đã toát lên một cái gì đó khác với ta. Nếu có ai cắc cớ hỏi chuyện mặc áo, cầm bình bát của Phật đâu thấy khác gì mọi người, thì chắc Ngài sẽ cười nhẹ nhàng nói: có chứ, có chứ. Bởi Phật khoác áo, cầm bình trong chánh niệm còn ta thì hấp tấp, hổn hển chụp lấy áo, chụp lấy bình bát, tất tả vội vàng…<br />
Diễn tiến của một buổi giảng huấn bằng phương pháp <i>demonstration</i> đó thì mỗi cử chỉ, hành động đều phải được theo dõi, quan sát rất kỹ để có thể thực hành theo. Suốt bài giảng đó, ta đã học được nhiều điều hơn ta tưởng: bố thí mà không phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục mà không phải trì giới, nhẫn nhục, rồi tiết độ, tri túc, tinh cần, chánh niệm… và lúc nào cũng ở trong một trạng thái ung dung, an lạc, thảnh thơi, đầy trí tuệ. Cho nên ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Tu Bồ Đề cất tiếng ca ngợi: “Hy hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát.”</p>
<p>(ĐHN)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center">…. o ….</p>
<p style="text-align: left;" align="center"><em><b>A pocketbook for the elderly</b></em></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b>A PATH TO PEACE &amp; JOY</b></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b> </b></p>
<h3 style="text-align: left;" align="center"><b>Chapter 4: </b><b>Learning the way Buddha taught</b></h3>
<p><em><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong></em></p>
<p><em><strong>Translated by Nguyên Giác</strong></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>I studied the Diamond Sutra and, unexpectedly, found myself feeling as captivated as I had when I studied the Heart Sutra previously. At times, I was startled; at other moments, I felt astonished, bewildered, and even stunned. Although many versions of the sutras exist, a clear consistency runs through them. The approach may vary depending on the audience, and the method of conveyance differs, but the underlying principles remain the same. Is it true that by grasping the core concepts, a learner will experience less confusion and see the door to the path?</p>
<p>The first thing that surprised and stunned me while studying the Diamond Sutra was my expectation of encountering beautiful words and ideas, golden principles, and profound teachings. However, the Diamond Sutra immediately presented a very ordinary, if not trivial, narrative: the story of the Buddha during mealtime. Feeling hungry, he donned his robe, took his alms bowl, and went out to beg for food—without uttering a word or even bothering to clear his throat!</p>
<p>Just imagine, amid thousands of people—including great Bodhisattvas, Arhats, high-ranking monks, and esteemed disciples—sitting and waiting to hear profound teachings, the Buddha said nothing. He donned his robe, took his alms bowl, and went into the city to beg for alms. After gathering enough alms, he leisurely returned to the hall, set out the food, finished eating, and properly tidied his robes and alms bowl. He washed his feet, sat cross-legged, and began to breathe, seemingly entering meditation. He didn’t even bother to utter a single word of instruction!</p>
<p>I imagine that at that time, I was also sitting somewhere outside the hallway, listening and waiting to hear the sermons, feeling frustrated and disappointed. Suddenly, Subhuti appeared. Sitting in the middle of the crowd like everyone else, he stood up, respectfully bowed to the World-Honored One in accordance with the ritual, and then spoke words of praise: &#8220;How wonderful! How wonderful! How unprecedented! The World-Honored One has skillfully taught, skillfully transmitted, and skillfully entrusted the wonderful Dharma to all of you present here today.&#8221;</p>
<p>At that moment, I realized that an unexpected lesson had just been imparted! The surprise quickly transformed into anxiety. Oh no, I had not paid attention and had failed to closely follow the silent lecture of the Buddha! Fortunately, Subhuti had recognized it! Those who did not pay careful attention would have missed a regrettable opportunity.</p>
<p>Buddha had a unique approach to teaching: he conveyed lessons not through words but through actions. This method, commonly referred to as a demonstration way, aims to impart life skills. Once again, this approach emphasizes that learning and practicing Buddhism is about action rather than discussion. The principle is simple: do first, talk later, or sometimes there may be no need to talk at all. This is why Zen masters often have their students chop wood, cook rice, carry water, grow vegetables, and pound rice, all without explicitly instructing them.</p>
<p>Only when students confront their own concerns will they truly learn. In various unconventional ways, the teacher facilitates this process: sometimes by challenging them to capsize their metaphorical boat, other times by delivering a sudden jolt, or by providing vague answers. The teacher may pose questions such as, &#8220;Show me your mind, and I will grant you peace of mind.&#8221; These methods can surprise students and awaken them from their stupor. At the end of the course, students will not receive a diploma to showcase, nor does the teacher possess anything to give them. The knowledge and solutions are already within the students; the teacher merely assists them in discovering, experiencing, and resolving their own issues. This process is known as counseling, a contemporary method of psychological and medical therapy. The counselor acts like a midwife, aiding the mother in achieving a safe delivery, but ultimately cannot give birth for her. The child is already present in the mother&#8217;s womb.</p>
<p>Returning to the lesson, everyone was startled and astonished, recalling that Buddha aimed to teach them a fundamental principle: when hungry, eat; when thirsty, drink. At mealtime, one must focus on eating. Anyone who claims that eating is unnecessary either does not understand how to live or is being dishonest. Nearly two thousand years later, Trần Nhân Tông, the king of the Trần Dynasty in our country and the Zen master who founded the Trúc Lâm Yên Tử sect, echoed this sentiment in his poem Cư Trần Lạc Đạo, that when hungry, one should eat, and when tired, one should sleep.</p>
<p>Even the Buddha had to don his robes and carry his alms bowl to beg for food at mealtimes, let alone us! What is noteworthy is that a World-Honored One like the Buddha could simply speak, and an array of delicious dishes and exotic offerings would appear! The attendants should have prepared a proper meal for the Buddha, waiting for him to finish his sermon before serving. But no, the Buddha ventured out to find food on his own, without anyone&#8217;s assistance. He did not indulge in sumptuous, pre-prepared meals; instead, he practiced exactly what he preached. Therefore, witnessing this would be surprising! Many high-ranking monks present would likely reflect on whether they had ever allowed their disciples to serve them, preparing vegetarian dishes that were both elaborate and delectable! In modern times, we still encounter many vegetarian foods designed to resemble shrimp, fish, and chicken thighs. It is truly alarming!</p>
<p>We are both startled and amazed by the Buddha, the highest being, the World-Honored One, who possesses numerous illustrious titles yet remains remarkably simple. He walks barefoot with each graceful step, carrying his alms bowl to beg for food under the midday sun, accepting whatever is available to eat. The Buddha strolls leisurely and naturally, with each step taken mindfully, unaffected by the whispers and gossip of those around him—some praising him, while others criticize. He simply breathes in and out with each step, moving gently, refreshingly, and at ease.</p>
<p>The Buddha did not select affluent homes to beg for alms, nor did he prefer impoverished ones that might offer more comfort or familiarity. He moved leisurely from house to house, as there was no need to discriminate; both the rich and the poor had their own struggles. Everyone faced challenges, and all experienced suffering in their own ways. After several hours of walking to collect alms, any food became a delicacy. When consumed mindfully, savoring each bite, any meal could be delightful and easy to digest. It appeared that the alms bowl was just the right size to hold enough food for one person, ensuring that there would not be an excess left over.</p>
<p>In contemporary society, it is uncommon to witness monks begging for alms, particularly in urban areas and cities. However, when we encounter an individual clad in a kasaya, carrying an alms bowl, and walking mindfully from house to house, we cannot help but admire the ancient Great Master and feel a sense of reverence. Although monks no longer need to beg for alms for every meal, their daily practice of walking for several hours remains essential for maintaining good health. A simple diet rich in vegetables and beans while low in fat, sugar, and salt is also beneficial. Eating in a relaxed and peaceful environment, with the joy of having a sufficient meal—without fussiness or excess—transforms each meal into a delightful, healthy, and invigorating experience.</p>
<p>After eating, Buddha tidied up his bowl and clothes, washed his feet, and then sat down to meditate. It is noteworthy that after his meal, he did not go to sleep or engage in a heated argument; instead, he chose to meditate. This may have been the ideal moment to attune himself to his body in action, observing how food was digested, absorbed, and transformed into energy within each cell. The lesson was imparted.</p>
<p>If we take the time to observe more carefully, we may uncover many intriguing insights regarding the instance when the Buddha carried his alms bowl, soliciting donations from house to house. For example, the individual who sought alms was not merely a beggar but rather a giver. In this context, it becomes challenging to distinguish between those who are asking for alms and those who are giving. When the Buddha stood in front of a house, the homeowner experienced a profound sense of joy—not only because the beggar was the Buddha, but also because the act of begging conveyed a deeper significance. It served as a warning, a message, or a reminder.</p>
<p>The homeowner then had the opportunity to reflect on himself, listening to a voice deep within his soul. He might soon forget, but one day the reminder would resonate once more. For a noble person, it could be startling to realize that the individual walking barefoot, bareheaded, holding an alms bowl and begging, was the same person who had relinquished the position of crown prince, forsaken silk brocade, and given up a beautiful wife and royal maidservants.</p>
<p>There may have been individuals who chased and insulted a beggar, only to receive a grateful glance, a warm smile, and gentle steps in return. Later that night, the person who had chased and insulted the beggar was taken aback to hear another voice echoing in his heart. There were impoverished individuals who had nothing to eat and nothing to offer, yet in those moments, the shared look and smile conveyed so much. It was a message of respect, free from discrimination.</p>
<p>In fact, if we observe more carefully, we might notice that from the moment the Buddha stood to don his robe and pick up his alms bowl, each gesture exuded a quality distinct from our own. If someone were to ask the Buddha about his method of putting on his robe and picking up his alms bowl, he would likely smile gently and indicate that there is a difference. The Buddha approached these actions with mindfulness, while we often act hastily, gasping and grabbing our robes and alms bowls, rushing about in a flurry.<br />
During a demonstration teaching, every gesture and action must be observed and followed meticulously to ensure proper practice. Throughout this teaching, we learned more than we anticipated. The individual who gives alms does not truly give alms. The acts of observing precepts and exercising patience are performed, but they are not done with the intention of keeping precepts and practicing patience. Ditto regarding the practices of moderation, contentment, diligence, mindfulness, and maintaining a state of ease, peace, leisure, and wisdom. Thus, we should not be surprised when we hear Subhuti proclaiming, “Rare is the World-Honored One! The Tathagata has skillfully guided and protected the Bodhisattvas and has graciously entrusted them with his teachings.”<br />
<em>( </em><em>translated </em><em>by Nguyên Giác)</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/19670/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>CON ĐƯỜNG AN LẠC    Bài 5:  Thực hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/con-duong-an-lac-bai-5-thuc-hanh-10-hanh-nguyen-pho-hien/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/con-duong-an-lac-bai-5-thuc-hanh-10-hanh-nguyen-pho-hien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 23 Nov 2024 08:17:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=19668</guid>

					<description><![CDATA[&#160; &#8220;Sách bỏ túi&#8221; cho người cao tuổi Con Đường An Lạc Bài 5: Thực hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền Đỗ Hồng Ngọc Con đường “thay  đổi hành vi” từ biết đến muốn, rồi từ muốn đến làm không dễ chút nào (KAP = Knowledge/ Attitude/ Practice),  rồi từ làm đến… duy trì… quả là gian khó. Mà tu thì phải hành, chớ không thì chỉ là cái “đãy sách”. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: left;" align="center"><em><b>&#8220;Sách bỏ túi&#8221; cho người cao tuổi</b></em></p>
<h3 style="text-align: left;" align="center"><b>Con Đường An Lạc<br />
</b></h3>
<p style="text-align: left;" align="center"><em><b>Bài 5:</b></em></p>
<h3 style="text-align: left;" align="center"><b>Thực hành 10 Hạnh Nguyện Phổ Hiền</b></h3>
<p style="text-align: left;" align="center"><b>Đỗ Hồng Ngọc<br />
</b></p>
<p>Con đường <i>“thay  đổi hành vi” </i>từ <i>biết </i>đến <i>muốn</i>, rồi từ <i>muốn </i>đến <i>làm </i>không dễ chút nào (KAP = Knowledge/ Attitude/ Practice),  rồi từ <i>làm </i>đến… <i>duy trì</i>… quả là gian khó. Mà <i>tu </i>thì phải <i>hành</i>, chớ không thì chỉ là cái <i>“đãy sách”</i>.<br />
Nhưng, hành cách nào?</p>
<p>Phần lớn các chùa hiện nay thường thấy nơi chánh điện có tượng Phật Thích-ca đặt ở giữa, bên trái có Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi,  cưỡi sư tử, tay cầm kiếm; bên phải có Bồ Tát Phổ Hiền, cưỡi voi sáu ngà, tay cầm đóa hoa sen.<br />
Ai đã nghĩ ra các hình tượng tượng trưng này thật là hay để nhắc học Phật là con đường của <i>từ bi </i>và <i>trí tuệ</i>. Văn-thù (Manjusri) là Bồ Tát của <i>trí tuệ</i>, tay cầm kiếm chặt đứt phiền não, tiếng rống sư tử làm tắt ngấm vô minh. Phổ Hiền (Samantabhadra) là Bồ Tát của <i>từ bi</i>, cưỡi voi sáu ngà, chở bao nặng nhọc của bước đường thực hành và hoằng pháp. Tại sao voi 6 ngà? Tượng trưng cho Lục Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Thú vị là tượng Văn-thù luôn ở bên trái còn Phổ Hiền thì luôn ở bên phải Phật Thích-ca.  Khoa học bây giờ cũng thấy não trái là não của <i>trí tuệ</i>, não phải là não của <i>từ bi</i>. Hồi xa xưa đó không ngờ đã phát triển nền Khoa học não bộ (Neuro- sciences) đến vậy!<br />
Phổ là rộng, phổ quát (universal)  còn Hiền là đức hạnh (great conduct, virtue, goodness). Bồ tát Phổ Hiền đã làm một bảng Hướng dẫn thưc hành (Guideline in Practising Buddhism) gọi là Mười Hạnh Phổ Hiền rất cụ thể. Học 10 hạnh này, mỗi ngày một chút thôi cũng đủ rồi vậy.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b><i>1. Lễ kính Chư Phật. (To pay homage and respect to all Buddhas)</i></b></p>
<p>“Chư” Phật, chớ chẳng phải chỉ có một vị Phật duy nhất. Phật nhiều vô kể. Phật khắp mười phương. Khắp tam thiên đại thiên thế giới, cả 3 thời quá khứ hiện tại vị lai. Thời nào cũng có Phật, ở đâu cũng có Phật. Bởi ở đâu cũng có kẻ giác ngộ, lúc nào cũng có kẻ giác ngộ. Nhưng Phật Thích-ca vẫn là vị Phật lịch sử, vị đạo sư, kẻ dẫn đường, <i>“bổn sư” </i>của ta… Phật Thích-ca chẳng từng nói <i>“Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” </i>đó sao? Phật Thích-ca  cũng đã… không quên giới thiệu cho chúng ta các vị Phật khác ở khắp đông tây nam bắc để ta lễ kính.<br />
Kinh Pháp Hoa có Bồ Tát Thường Bất Khinh là vị Bồ Tát rất dễ thương, ông luôn vái lạy mọi người và nói với họ rằng: <i>“Xin kính lễ Ngài, vị Phật tương lai.” </i>Mặc cho người ta đánh mắng xua đuổi, ông cũng cứ lễ kính trân trọng chân thành như vậy, cho đến một hôm người ta giật mình nhìn lại, ừ đúng, sao không nhỉ?</p>
<p>Nếu ta tu tập đúng con đường Phật dạy, ta cũng có thể trở thành Phật lắm chứ?<br />
<b><i>2. Xưng tán Như Lai (To praise the Thus Come One- Tathagata).</i></b></p>
<p>Rất thú vị ở đây là không có chuyện <i>“lễ kính” </i>Như Lai mà chỉ <i>“xưng tán” </i>(khen ngợi) Như Lai mà thôi. Nói khác đi, với Như Lai không việc gì phải lễ kính! Phật thì <i>“lễ kính” </i>còn Như Lai chỉ <i>“xưng tán”</i>. Lý do? Như Lai là Như Lai, không phải Phật. Như Lai <i>“vô sở tùng lai diệc vô sở khứ” </i>(chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu!): <i>Thus come one-Tathagata</i>.  Nó vậy là nó vậy. Nhiều khi ta lầm tưởng Phật với Như Lai. Nhìn con chim đầy màu sắc kia xem. Nhìn thiên nga và bầy vịt kia xem. Nhìn mây trôi nước chảy kia xem. Như Lai đó. Con ong cái kiến là Như Lai. Đóa hoa muôn màu muôn sắc là Như Lai. Và Phật cũng là… Như Lai khi đã giác ngộ, đã <i>“thấy biết” </i>và từ đó sống trong Như Lai, sống cùng Như Lai, sống với Như Lai. Ta vẫn gọi Phật bằng nhiều danh xưng với lòng tôn kính: Như Lai, Bậc Ứng cúng, Thế gian giải, Thiên Nhân sư…<br />
Kinh nói <i>“vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai” </i>chớ không nói <i>“vào nhà Phật, mặc áo Phật…”</i>, cũng nói <i>“Như  Lai thọ lượng” </i>chớ không nói <i>“Phật thọ lượng” </i>(Pháp Hoa).</p>
<p>Nhớ lễ kính chư Phật mà xưng tán Như Lai nhé.<br />
<b><i>3. Quảng tu cúng dường (To make abundant offerings. &#8211; e.g. give generously)</i></b></p>
<p>Quảng tu là rộng tu. Tu mà bó hẹp, bịt mắt chỉ thấy một góc, một phía thì uổng lắm. Phật dạy lúc trước, lúc sau hay lúc giữa cũng chỉ có một, nhưng tùy theo <i>“căn cơ” </i>của đối tượng mà ứng biến, gia giảm cho phù hợp, nên đôi khi dễ tưởng là khác, là <i>“mâu thuẫn”</i>. Có lần trong một buổi thuyết giảng của Phật cả mấy ngàn người đã bỏ đi. Trước khi nhập Niết-bàn, Phật còn dặn dò <i>“xưa nay ta chưa hề giảng dạy điều gì cả, chưa hề giảng dạy cho ai cả”</i>. Hình như Phật biết trước, thời đại Internet, AI, đầy những deepfakes. Cái thấy biết của Phật thì như cánh rừng Simsapa kia mà điều nói ra chỉ là nhúm lá trong tay. Phần không nói ra, rồi sẽ tự biết. Phật gợi ý để rồi tự ta phát hiện, tự chứng, tự nội.<br />
<i>“Nhất thiết chủng trí” </i>rồi thì đã có <i>Bình đẳng tánh trí, Diệu quán sát trí</i>. Cúng dường là bố thí. Quảng tu cúng dường là bố thí rộng lớn. Bố thí là hàng đầu trong Lục độ (Bố thí, Trì giới…). Bố thí có tài thí, pháp thí và vô úy thí. “Bố thí thân mạng” (Thiền) mỗi ngày nhiều như cát sông Hằng… là tốt nhất.  Dược Vương Bồ Tát tự đốt cả thân mình, đốt cả hai cánh tay (đốt ở đây là dập tắt tham sân si, mạn, nghi, kiến… để có thân vô ngã, pháp vô ngã) được các vị Phật khen là <i>“món thí hạng nhứt!”<br />
</i></p>
<p><b><i>4. Sám hối nghiệp chướng (To repent misdeeds and evil karmas).</i></b></p>
<p>Chướng là trở ngại, gây phiền phức, gây rắc rối, không trơn tru. Cái gì gây trở ngại, gây chướng vậy? Nghiệp!</p>
<p>Nghiệp là gì? Phật dạy nghiệp là “tài sản” của ta. Ta là kẻ “thừa tự” của nghiệp. Nói khác đi, ta <i>“lãnh  đủ” </i>nếu ta tạo nghiệp. Dĩ nhiên đó là ác nghiệp. Thiện nghiệp thì sao? Thì ta không bị chướng, gì cũng thành tựu, tốt đẹp. Nhìn hôm nay biết nghiệp ngày xưa. <i>Nhân</i> hôm nay biết <i>quả</i> ngày sau. Nói khác đi, nó là kết quả, là nguyên nhân của đời sống ta, là hạnh phúc, là khổ đau của kiếp sống ta. Cải nghiệp được không? Được. Nghiệp do <i>thân khẩu ý </i>mà sinh. Hành vi chỉ là thân và khẩu. Có Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, nguồn gốc của sanh sự. Nhưng Ý nghiệp mới thật là ghê gớm. Ý dẫn đầu các pháp. Nhưng Ý thường làm bộ vô can. <i>“Tác ý” </i>là yếu tố chính xác định nghiệp. Người ta có thể tha thứ cho một sự vô tình, nhưng cố ý thì rắc rối to. <i>“Như lý tác ý”</i>, nghĩa là theo <i>“lý”  </i>mà làm. Lý đây là cái thấy biết như thực, cái chánh kiến, chánh tư duy, từ đó mà có chánh ngữ, chánh nghiệp. Còn sám hối là hối lỗi, thấy biết chỗ sai quấy mà <i>“từ nay xin chừa”</i>. Ta là chủ nhân của nghiệp. Sám hối cái sai quấy thì không đi vào ác nghiệp và từ đó, nghiệp hết… chướng!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b><i>5. Tùy hỷ công đức (To rejoice in others’ merits and virtues).</i></b></p>
<p>Là công đức do tùy hỷ mà có. Tùy hỷ là cái “vui theo người”. Người có chuyện vui thì mình vui theo. Dĩ nhiên chuyện vui đó phải là chuyện thiện. Nếu là chuyện xấu ác mà vui theo thì nguy. Tùy hỷ thực chất là để chữa trị bệnh đố kỵ, ghen ghét, là một trong những <i>“bản năng” </i>gốc của con người. Đố kỵ ghen ghét cũng vì tham, vì thấy thua sút người ta. Khi không còn tham sân si, khi biết vô ngã rồi thì không còn ganh ghét đố kỵ nữa. Tùy hỷ mà giả đò, tùy hỷ mà không thực lòng, tùy hỷ mà hùa theo thì không phải là tùy hỷ. Sẽ chẳng có <i>“công  đức” </i>gì ở đây! Thứ tùy hỷ giả, nói theo, làm vui lòng người, khen bừa cho người vui thì chưa gọi là tùy hỷ. “Nịnh” càng không phải là tùy hỷ. Cho nên phải coi chừng tùy hỷ. Coi chừng lời tùy hỷ, kẻ tùy hỷ. Ái ngữ không phải là tùy hỷ. Chánh ngữ mới đúng. Có chánh kiến, chánh tư duy thì mới có chánh ngữ.<br />
<b><i>6. Thỉnh Phật chuyển pháp luân (To request theBuddhas to continue teaching).</i></b></p>
<p>Pháp luân là <i>“Bánh xe pháp”</i>. Bánh xe pháp vẫn phải luôn chuyển không ngừng bởi đời sống như dòng sông vẫn trôi chảy. Cũng vẫn tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến đó thôi, cũng vẫn thất tình lục dục đó thôi, nhưng đã mỗi thời mỗi khác. Xưa cung tên giáo mác, nay hỏa tiễn hạt nhân… Xưa bệnh tật khu trú từng vùng, nay lan tràn trong nháy mắt… Thế giới trong lòng bàn tay. Trái đất nóng lên. Môi trường chết ngạt. Thức ăn đầy độc chất. Tin tức đầy fake news, deepfakes… Xưa, lên núi cao tìm thầy, vào hang sâu tìm kinh sách, chỉ một câu một chữ thôi đủ ngộ. Nay bấm cái nút, thiên kinh vạn quyển, tẩu hỏa nhập ma! Sinh học tạo con người từ ADN, công nghệ gắn thêm AI (trí thông mình nhân tạo), robot điều khiển con người từ xa…</p>
<p>Duy-ma-cật nói: Phải nắm bắt thật đúng đối tượng thì <i>“thuyết  pháp” </i>mới có hiệu quả. Phật dạy <i>“Ta chẳng có pháp gì để thuyết cả!”, </i>vì <i>“Pháp thuận với không, tùy theo vô tướng, ứng với vô tác. Pháp lìa khỏi tốt và xấu, thêm và bớt, sinh và diệt… há thuyết diễn được sao?”.</i></p>
<p>Lục tổ Huệ Năng nói: <i>“Thiện  tri thức, đạo cần phải linh động, chớ nên làm cho ngăn trệ. Tâm chẳng trụ pháp thì đạo được linh động, tâm nếu trụ pháp, gọi là tự trói.”</i></p>
<p>Cho nên vẫn phải thỉnh Phật chuyển pháp luân thôi.</p>
<p><b><i> </i></b></p>
<p><b><i>7. Thỉnh Phật trụ thế (To request the Buddhas to remain in the world).</i></b></p>
<p>Người có <i>“chứng ngộ” </i>thường dễ thấy <i>“phạm hạnh đã tròn đầy”</i>, muốn <i>“đặt gánh nặng xuống, bước vào cõi vô sanh, niết-bàn tịch diệt…”</i>. Nhưng, thế thì còn ai để lặn lội trong cõi Ta-bà đầy ô trược này mà <i>“hóa độ” </i>chúng sanh? Cho nên phải thỉnh Phật trụ thế.</p>
<p>Bồ Tát thì phải <i>“bất tận hữu vi, bất trụ vô vi”</i>. Hữu vi thì vô thường, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ như điển, giả tạm, hư vọng, dẫn đến nhàm chán, buông bỏ. Nhưng Bồ Tát thì không. Phải chịu khó ở lại giúp đời giúp người <i>“hộ trì chánh pháp”</i>. <i>“Vào sinh tử luân hồi như vào vườn cảnh, đức tánh vô niệm, trí huệ thực tướng, nhưng chẳng bỏ pháp thế gian. Từ bi hỷ xả mà không phóng dật, tu học lẽ Không mà không chấp Không, quán vô thường mà không chán cội lành, quán phiền não mà không đoạn phiền não.”<br />
</i></p>
<p><b><i>8. Thường tùy Phật học (To follow the teachings of the Buddhas at all times).</i></b></p>
<p>Phật không dạy nhiều và thậm chí còn nói <i>“Ta chẳng có pháp gì để thuyết cả!” </i>Nhưng chư Phật đều nhắc nhở <i>“Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành,tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”. </i>Nghĩa là việc ác đừng làm, việc thiện thì làm. Quan trọng nhất là phải <i>“tự tịnh kỳ ý”</i>. Cái mới khó! <i>Thanh tịnh bổn nhiên, tùy chúng sanh tâm, chu biến pháp giới</i>, <i>tòng nghiệp phát hiện</i>. Ấy chẳng qua vì nghiệp mà thấy vậy, ra vậy. Phải làm cho tâm được trở về với cái <i>“thanh tịnh bổn nhiên” </i>ấy của mình vốn sẵn. Cái khó ở chỗ phải tự mình làm, tự mình <i>“tịnh cái ý” </i>của mình chớ không thể nhờ ai giúp được. Chỉ có thể quay về nương tựa chính mình thôi. Tuệ giác, <i>insight</i>, là cái thấy bên trong. Tìm kiếm đâu xa. <i>Gia trung hữu bảo hưu tầm mích</i>. Tóm lại, thường tùy Phật học là học chính mình, quay về bên trong mình. Luôn tự hỏi mình đang tham đó ư? Đang sân (giận) rồi sao? Mê muội đến vậy hả? Thôi nhé.</p>
<p><i>“Có bốn thứ ma, tám vạn bốn ngàn thứ phiền não làm cho chúng sanh nhọc nhằn, mỏi mệt, chư Phật dùng chính những thứ ấy mà làm Phật sự.” </i>(kinh Duy-ma-cật).</p>
<p>Học Phật được vậy thì <i>“sự sự vô ngại”</i>.</p>
<p>Thiện Tài đồng tử trải qua 53 <i>“cửa ải”</i>, ở đâu cũng học, cũng hành đúng pháp, sau cùng thì mới <i>“thõng tay vào chợ” </i>được vậy!<br />
<b><i>9. Hằng thuận chúng sanh (To accommodate and benefit all living beings).</i></b></p>
<p>Chúng sanh bệnh thì mình cũng bệnh như Duy-ma- cật. Đồng bệnh tương lân, mới thấu cảm nhau. Bồ-đề-đạt-ma đã vội xua đuổi, bỏ rơi Lương Võ Đế cũng đáng tiếc.</p>
<p>Huệ Năng khi đã giác ngộ: <i>“Bổn lai vô nhất vật” </i>rồi, đã thấy Pháp thân rồi mà cũng mất 15 năm theo cùng nhóm thợ săn, săn thú, uống rượu, bán buôn… Hay là… ông cố tình xâm nhập để quan sát, học hỏi, tu tập? Nghe nói tuy sống chung với nhóm thợ săn 15 năm như vậy, ông chưa từng săn thú, ăn thịt, uống rượu? Biết đâu ông cũng đã <i>“độ” </i>được năm ba. Huệ Năng nói: <i>“Ngoài không dính mắc là thiền, trong không lay động là định…”</i></p>
<p>Chúng sanh nào thì Bồ Tát đó. Chúng sanh ở trong Bồ Tát, Bồ Tát ở trong chúng sanh. <i>“Hòa nhi bất đồng.” </i>Quán Thế Âm có 32 ứng hóa thân để biến hiện tùy cơ. Gặp vua quan thì vua quan. Gặp ốm đau bệnh hoạn thì ốm đau bệnh hoạn…  Mà bên trong vẫn là Bồ Tát Quán Thế Âm như như bất động, với bình cam lồ, với nhành dương liễu, với <i>“vô úy thí”</i>…</p>
<p>Tham vấn viên trong công tác xã hội ngày nay đóng vai kẻ mại dâm, người nghiện ma túy để hòa nhập với đối tượng, giúp họ giải thoát, bằng kỹ năng tham vấn với tôn trọng, chân thành, thấu cảm, lắng nghe…</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b><i>10. Phổ giai hồi hướng (To transfer all merits and virtues to benefit all beings).</i></b></p>
<p><i>“Hồi hướng” </i>là chia sẻ. <i>“Phổ” </i>là cùng khắp, rộng lớn. Chia sẻ cái gì? Cái công đức. Phước đức cũng chia sẻ được, nhưng phước đức thì hữu lậu, như Lương Võ Đế đúc chuông lớn, xây chùa to, nuôi tăng đoàn… cũng chẳng có tí <i>“công đức” </i>nào, bị Bồ-đề-đạt-ma quở. Có thể ông vua còn vênh váo, tự mãn, với cái ngã to đùng của mình thì càng đáng trách, trong khi công đức là cái tu bên trong, để có tuệ giác, và thấy biết vô ngã.</p>
<p>&#8212;</p>
<p align="center"><b>…. o ….</b></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b>A pocketbook for the elderly</b></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b>A PATH TO PEACE &amp; JOY<br />
</b></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b>Chapter 5</b></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b>Practicing the Ten Universal Vows of Samantabhadra</b></p>
<p><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></p>
<p><em>Translated by Nguyên GIác</em></p>
<p style="text-align: left;" align="center"><b><br />
</b></p>
<p>The journey of transforming behavior from knowledge to motivation, and then from motivation to action, is quite challenging. Furthermore, progressing from action to maintenance is particularly difficult. To truly practice, you must translate your learning into action; otherwise, you risk becoming merely a bag of books.</p>
<p>But how to practice?</p>
<p>Most temples today typically feature a statue of Shakyamuni Buddha in the center of the main hall, with Manjushri Bodhisattva riding a lion and wielding a sword on the left, and Samantabhadra Bodhisattva riding a six-tusked elephant and holding a lotus flower on the right.</p>
<p>Whoever created these symbolic images has done an excellent job of reminding us that studying Buddhism is a path of compassion and wisdom. Manjushri, the Bodhisattva of wisdom, wields a sword to sever afflictions and roars like a lion to dispel ignorance. Samantabhadra, the Bodhisattva of compassion, rides a six-tusked elephant, symbolizing the weighty responsibility of practicing and propagating the Dharma. Why the six-tusked elephant? It represents the Six Paramitas: Generosity, Precepts, Patience, Diligence, Meditation, and Wisdom. Interestingly, the statue of Manjushri is always positioned on the left side, while Samantabhadra is consistently on the right side of Shakyamuni Buddha. Modern science also recognizes that the left brain is associated with wisdom, while the right brain is linked to compassion. Who would have imagined that neuroscience would advance to such an extent?</p>
<p>Samantabhadra is known as Phổ Hiền in Vietnamese. Phổ means broad or universal, while Hiền means great conduct, virtue, and goodness. The Bodhisattva Phổ Hiền has established a specific guideline for practicing Buddhism known as the Ten Conducts of Phổ Hiền. Learning these ten conducts, even just a little each day, is sufficient.<br />
<b>1. To pay homage and respect to all Buddhas</b></p>
<p>There are not just one, but countless Buddhas present in every direction, across the three thousand worlds, and throughout the past, present, and future. Enlightened beings can be found everywhere and at all times. However, Shakyamuni Buddha remains the historical Buddha—our teacher, guide, and master. He once stated that he is the Buddha who has attained enlightenment, while sentient beings are the Buddhas who are yet to realize their potential. Shakyamuni Buddha also took the time to introduce us to other Buddhas in the east, west, south, and north, encouraging us to pay homage to them.</p>
<div>
<div id="nwwg_5643" class="nw_adspot nw_adspot_postcontent">
<div id="adspotgroup_id__5643" class="nw_boxing_padding nw_adspot nw_random_adspotgroup" data-effect="fade" data-time="10000" data-duration="600">
<div id="adspot_id__409" class="advcurrent" data-load="1">
<div data-load="1"></div>
<div class="clear"></div>
</div>
</div>
</div>
</div>
<p>In the Lotus Sutra, there is a beloved Bodhisattva named Never Disparaging. He consistently bows to everyone and tells them, “I respectfully pay homage to you, the future Buddha.” Despite being beaten, scolded, and chased away by some, he continued to pay homage to them with sincerity and respect. One day, they suddenly looked back and said, “Yes, that’s right, why not?”</p>
<p>If we follow the path taught by the Buddha, can we also attain Buddhahood? Is that correct?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>2. To Praise the Tathagata</b></p>
<p>What is interesting here is that there is no need to bow to or show respect to Tathagata; one only needs to praise Tathagata. In other words, while one bows to and respects Buddha, one only praises Tathagata. The reason for this distinction is that Tathagata is Tathagata, not Buddha. Tathagata does not originate from anywhere and does not go anywhere. It simply is what it is.</p>
<p>Sometimes, you may mistake Buddha for Tathagata. Observe that colorful bird, the swan, and the flock of ducks. Notice the drifting clouds and flowing water—these are Tathagata. The bee and the ant embody Tathagata, as does the vibrant flower. Buddha is also Tathagata when he attains enlightenment, having seen and understood the truth. From that moment on, he lives in Tathagata, with Tathagata, and as Tathagata. We continue to honor Buddha with many names: Tathagata, Worthy One, World-knower, Teacher of Gods and Humans…</p>
<p>Therefore, the Sutra instructs us to enter the Tathagata&#8217;s house, don the Tathagata&#8217;s robe, and sit on the Tathagata&#8217;s throne; however, it does not mention entering the Buddha&#8217;s house or wearing the Buddha&#8217;s robe. Similarly, the Lotus Sutra discusses the Tathagata&#8217;s lifespan but does not refer to the Buddha&#8217;s lifespan.</p>
<p>It is important to pay homage and show respect to the Buddhas while praising the Tathagata.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>3. To practice broadly the virtue of making immeasurable offerings</b></p>
<p>Broad practice encompasses practice without limitations. In contrast, narrow practice, which is blindfolded and only perceives one corner or one side, is a waste of effort. The Buddha taught that there is only one Dharma, whether before, after, or in the middle. However, depending on the circumstances of the individual, the teachings are adapted and adjusted to suit their needs. This can sometimes lead to the misconception that the teachings are different or contradictory.</p>
<p>Once, during a sermon by the Buddha, thousands of people departed. Before entering Nirvana, the Buddha advised that he had never taught anything in the past and had never instructed anyone. It seems that the Buddha foresaw that the age of the Internet and artificial intelligence is rife with misinformation and deepfakes. His vision and knowledge resemble the vast Simsapa forest, while what is spoken is merely a handful of leaves in one&#8217;s hand. The unspoken truths must be discovered by ourselves. The Buddha encouraged us to explore, understand, and experience these truths within our hearts.</p>
<p>When you possess the wisdom that understands everything, you also attain the insight that perceives all dharmas as equal, along with the wisdom that observes magnificently. Offering is the act of giving. Extensive offering refers to giving widely. Giving is the first of the Six Paramitas (which include Giving, Keeping Precepts, etc.). It encompasses the giving of wealth, the giving of Dharma, and the giving of fearlessness. As Zen teaches, you have as many lives each day as there are grains of sand in the Ganges River, and it is best to give all of them away. The Bodhisattva Medicine King is celebrated for having burned his own body, including both arms. In this context, extinguishing of greed, anger, ignorance, arrogance, doubt, and misguided views, leading to the realization that both the body and dharmas are not-self. This selfless act is praised by the Buddhas as a supreme offering.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>4. To repent misdeeds and evil karmas</b></p>
<p>Obstacles are challenges that create difficulties and disrupt smooth progress. What causes obstacles? Karma!</p>
<p>What is karma? The Buddha taught that karma is our inheritance; we are the heirs of our actions. In other words, we encounter numerous obstacles when we have generated negative karma. Conversely, if we cultivate positive karma, we will not face hindrances; instead, everything will flourish and prosper. Reflecting on our current circumstances, we can recognize the karma we have created in the past. Our actions today will yield results in the days to come. In simple terms, karma encompasses the outcomes, the causes of our existence, as well as the happiness and suffering we experience in life.</p>
<p>Can karma be changed? Yes. Karma arises from our body, speech, and mind. Actions primarily stem from the body and speech, and when these create karma, corresponding effects inevitably follow. However, karma in consciousness can be quite profound. The mind governs all dharmas, yet it often pretends to be innocent. Ultimately, it is intention that determines karma. While one can forgive an unintentional act, the involvement of intention can lead to significant consequences. The adage that one should follow the reason to guide the mind emphasizes the importance of adhering to principles. Understanding reality as it truly is encompasses right view and right thinking, which in turn lead to right speech and right action. Repentance involves acknowledging the mistakes we have made. By recognizing these errors, we can commit to avoiding them in the future. We are the architects of our own karma. Repentance for wrongdoing can help us steer clear of negative karma, allowing us to navigate our karmic path without obstacles as we move forward.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>5. To rejoice in others’ merits and virtues</b></p>
<p>There are significant benefits to rejoicing. Rejoicing involves feeling joy in response to the good deeds of others. When someone experiences happiness, it is natural to share in that joy. However, it is important that this happiness stems from positive actions; finding joy in negative circumstances can be harmful. Rejoicing serves as a remedy for jealousy and envy, which are fundamental human instincts. These feelings often arise from a greedy mindset, where an individual perceives themselves as inferior to others. When one overcomes greed, anger, and ignorance, and comes to understand the concept of non-self, the mind can be liberated from jealousy and envy.</p>
<p>If you pretend to rejoice, it means you are expressing joy insincerely; you are merely going along with the situation, which does not constitute true rejoicing. There is no merit in this! Fake rejoicing—saying the same things, pleasing others, and offering random praise to make people happy—is not genuine rejoicing. Flattery, in particular, is even further removed from true joy. Therefore, you must be cautious about what it means to rejoice. Be mindful of the words associated with rejoicing and the individuals who claim to rejoice. Loving words do not equate to true rejoicing. Right speech is essential. Only with right views and right thoughts can one achieve right speech.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>6. To request the Buddhas to turn the Wheel of Dharma</b></p>
<p>The Wheel of Dharma must always be turned because life is like a flowing river. Living beings continue to experience greed, anger, ignorance, arrogance, doubt, misguided beliefs, and the seven emotions alongside six desires, but these manifestations change over time, each instance differing from the last. In the past, conflicts were fought with bows and arrows, swords, and spears; today, they are waged with missiles and nuclear weapons. Epidemics that once remained confined to specific regions can now spread in the blink of an eye. The world is at our fingertips. The Earth is warming, the environment is suffocating, and our food is laden with toxins. Furthermore, the news is rife with misinformation and deepfakes.</p>
<p>In the past, one had to scale high mountains to seek out teachers and venture into deep caves to discover scriptures. During that time, simply hearing a sentence or reading a word was sufficient to attain enlightenment. Today, with the press of a button, one can access thousands of scriptures and countless books, easily witnessing the flames of temptation burning in the heart. Biology creates humans from DNA, while technology introduces artificial intelligence (AI), and robots are operated remotely.</p>
<p>Vimalakirti emphasized the importance of selecting the appropriate listener for the Dharma to be truly effective. The Buddha stated, &#8220;I have no Dharma to preach, for the Dharma is inherently aligned with emptiness, devoid of form, and responding to non-action. It is impossible to discuss the Dharma that separates it from good and bad, as it is inherently free from increase or decrease and devoid of birth and death.&#8221;</p>
<p>The Sixth Patriarch Hui Neng stated, “Good friends, when you embark on the Way, your mind must remain flexible; do not allow it to become stagnant. If your mind does not cling to the dharmas, then the Way will be adaptable. However, if your mind remains attached to the dharmas, it is referred to as self-binding.”</p>
<p>Therefore, we must still request the Buddhas to turn the Wheel of the Dharma.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>7. To request the Buddhas to Remain in the World</b></p>
<p>Those who have attained enlightenment can easily recognize that their pure conduct is complete. They desire to relinquish their burdens and enter the realm of nirvana and extinction. However, who remains to wander in this impure world of Samsara to assist sentient beings? Therefore, we must request the Buddhas to remain in this world.</p>
<p>Bodhisattvas must neither abandon the conditioned world nor remain solely in the unconditioned realm. Everything in the conditioned world is impermanent—like a dream, an illusion, a bubble, a shadow, dew, or lightning—temporary and illusory, ultimately leading to feelings of boredom and abandonment. However, Bodhisattvas must exercise patience, remaining present to assist the world and help people protect the Dharma. They enter the cycle of birth and death as one would enter a garden, embodying the virtue of non-thought and possessing the wisdom to perceive true nature, all while engaging with worldly affairs. Bodhisattvas must diligently practice the Dharma of compassion, kindness, joy, and equanimity without negligence. They should learn the principle of Emptiness without clinging to it, contemplate impermanence without growing weary of cultivating good roots, and reflect on afflictions without severing their connection to them.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>8. To follow the teachings of the Buddhas at all times</b></p>
<p>The Buddha did not teach extensively and even stated that he had nothing to preach. However, all Buddhas convey the essential message: “Do not commit evil; do good; purify your mind; this is the teaching of the Buddhas.” This means that one should refrain from wrongdoing and engage in virtuous actions. The most crucial aspect is to purify the mind, which can be quite challenging. This innate purity, which is dependent on the minds of living beings, permeates the Dharma realm and is revealed through karma. It is only due to karma that one perceives reality in this manner and appears in this way. One must strive to return the mind to that inherent purity that resides within oneself.</p>
<p>The challenge lies in the necessity of self-reliance; you must purify your own mind without seeking assistance from others. You can only turn inward and depend on yourself. Wisdom and insight are the abilities to see clearly within. Do not search outside your mind any longer, for there is a treasure within your own being. In essence, adhering to the teachings of the Buddhas at all times means learning from yourself and turning inward. Always observe whether your mind is generating thoughts of greed, anger, or ignorance. If that is the case, then direct those thoughts into the realm of non-existence.</p>
<p>The Vimalakirti Sutra states, “There are four types of demons and eighty-four thousand varieties of afflictions that cause living beings to feel tired and exhausted; however, Buddhas use these very challenges to accomplish their Buddhist actions.”</p>
<p>If you study Buddhism in this way, you will no longer perceive any obstacles.</p>
<p>The young Thiện Tài skillfully navigated 53 gates of obstacles, diligently studying and practicing the Dharma correctly at every turn. Ultimately, he attained a state of enlightenment, where his hands grasped nothing as he entered the marketplace.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>9. To accommodate and benefit all living beings</b></p>
<p>Similar to Vimalakirti, when a practitioner encounters a sick person, he too feels a sense of illness. Only by sharing in the same suffering can one truly cultivate compassion and empathy for one another. It is unfortunate that Emperor Liang Wu did not grasp the essence of the conversation, leading to Bodhidharma&#8217;s departure.</p>
<p>After Hui Neng attained enlightenment, he realized that originally there was nothing and perceived the Dharmakaya. However, he spent 15 years living among a group of hunters who engaged in hunting animals, drinking alcohol, and trading. Did he intentionally immerse himself in their lifestyle to observe, learn, and practice? It is said that despite living with the hunters for those 15 years, he never participated in hunting, consuming meat, or drinking alcohol. Perhaps he even saved a few individuals during that time. Hui Neng stated, “Outwardly unattached is meditation; inwardly unmoving is concentration.”</p>
<p>As sentient beings are, so is the Bodhisattva. Sentient beings exist within the Bodhisattva, and the Bodhisattva exists within sentient beings. Although he is in harmony with sentient beings, he does not allow himself to be assimilated. Bodhisattva Avalokiteshvara has 32 incarnations that adapt to various situations. When he encounters a king or a mandarin, the Bodhisattva manifests as a king or a mandarin. When he meets a sick person, he also takes on the form of a sick person. However, deep within, he remains Bodhisattva Avalokiteshvara—steadfast and unchanging, holding a vase of nectar and a willow branch while bestowing fearlessness.</p>
<p>Similarly, a social worker may need to adopt the perspective of a prostitute or a drug addict in order to connect with their clients effectively. This approach can facilitate the process of helping individuals escape their circumstances by employing counseling skills such as respect, sincerity, empathy, and active listening.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>10. To dedicate one&#8217;s merits to benefit all sentient beings</b></p>
<p>This concept refers to sharing in a vast and infinite manner. What is being shared? Merit. While worldly merit can also be shared, it is conditioned—much like Emperor Liang Wu, who cast a large bell, built an impressive temple, and supported a sangha. However, he lacked any unconditioned merit and was reprimanded by Bodhidharma. Perhaps the king remained arrogant and complacent, burdened by his inflated ego, which is even more blameworthy. In contrast, unconditioned merit involves internal cultivation, fostering wisdom, and recognizing the principle of non-self.<br />
(Nguyen Giac)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/con-duong-an-lac-bai-5-thuc-hanh-10-hanh-nguyen-pho-hien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Minh Lê: Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!”</title>
		<link>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/minh-le-la-thu-thu-hai-gia-oi-chao-ban/</link>
					<comments>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/minh-le-la-thu-thu-hai-gia-oi-chao-ban/#comments</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Bac Si Do Hong Ngoc]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 27 Oct 2024 06:35:06 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Vài đoạn hồi ký]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.dohongngoc.com/web/?p=19624</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!” Minh Lê (Nha Trang) &#160; &#160; Bạn thân mến, Có khi nào bạn tự hỏi, khi nào thì mình… già? Bạn muốn nghe câu trả lời là một lời nói thẳng hay một lời… an ủi? Lời an ủi là câu trích dẫn nguyên tác tiếng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<h3 dir="ltr">Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!”</h3>
<p>Minh Lê (Nha Trang)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-19637" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3474-2.jpg" alt="" width="423" height="427" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3474-2.jpg 634w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3474-2-297x300.jpg 297w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3474-2-150x150.jpg 150w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3474-2-100x100.jpg 100w" sizes="auto, (max-width: 423px) 100vw, 423px" /></p>
<p>&nbsp;</p>
<p dir="ltr">Bạn thân mến,</p>
<p dir="ltr">Có khi nào bạn tự hỏi, khi nào thì mình… già? Bạn muốn nghe câu trả lời là một lời nói thẳng hay một lời… an ủi?</p>
<p dir="ltr">Lời an ủi là câu trích dẫn nguyên tác tiếng Anh do Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dịch: “Tuổi tác là chuyện của cái tâm, nếu ta không thèm quan tâm, chả có vấn đề tuổi tác!” (tr. 13) Vậy nhưng Liên Hợp Quốc thì thẳng thừng: “Từ năm 1980, Liên Hợp Quốc coi tuổi 60 trở lên là tuổi già trong một quần thể dân số.” (tr. 23)</p>
<p dir="ltr">Thôi thì ta nghe lời nói thật không mất lòng của Bác sĩ vậy: “Có trẻ thì có già, đó là một nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau vì già, trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc.” (tr. 15)</p>
<p dir="ltr">Tuổi trẻ có hạnh phúc đã khó, làm sao có tuổi già hạnh phúc đây? Ông Bác sĩ cho bí quyết: “Chấp nhận mình là mình và thương mình nữa.” (tr. 35) Điều đó có nghĩa ta nên nhận ra những vấn đề của tuổi già về tinh thần và thể chất, chấp nhận và thích nghi để có cảm giác sảng khoái, hài lòng với bản thân.</p>
<p dir="ltr">Chương “Đời sống gia đình” nói chuyện cháu chắt và vợ chồng già. Bác sĩ khuyến khích cuộc sống gia đình nhiều thế hệ, với hai điều kiện. Một là cha mẹ tránh lệ thuộc về tài chính vào con cái, hai là cha mẹ và con cái cần điều chỉnh quan niệm và nếp sống của mỗi bên một chút sao cho “cha mẹ già có thể thành bạn của con, hiểu biết nhu cầu của nhau và giúp đỡ nhau.” (tr. 45)</p>
<p dir="ltr">Chương này có một đoạn vừa nên thơ vừa hóm hỉnh viết về tình cảm của những cặp vợ chồng cùng già đi với nhau: “Người ta có thể cùng nhìn cùng nghe cùng hiểu và có cùng cảm xúc như nhau với bao nhiêu kỷ niệm càng ướp càng nồng… Và còn một điều thú vị, như Andre Maurois nói, tình già yên tâm hơn, không sợ người yêu mình bị cuỗm mất, nghĩa là tình nồng nhưng nhẹ nhàng, êm mướt, không chua như giấm, người ta bớt ghen rồi, người ta có thể tin chắc là của nhau rồi.” (tr. 49) Thiệt vậy sao Bác sĩ?<img loading="lazy" decoding="async" class="alignright size-medium wp-image-19630" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3482-294x300.jpg" alt="" width="294" height="300" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3482-294x300.jpg 294w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3482.jpg 627w" sizes="auto, (max-width: 294px) 100vw, 294px" /></p>
<p dir="ltr">Chương “Cám ơn mình” là một chương lý thú. “Chưa bao giờ ta được dạy nói cám ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cám ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục và không cần thiết.” (tr. 55) Sau đó Bác sĩ lần lượt chỉ cho ta thấy các bộ phận trong cơ thể ta đã làm việc bền bỉ như thế nào, từ bộ xương, bộ máy tuần hoàn gồm tim và mạch máu, buồng phổi, đến bao tử và hệ tiêu hóa, răng, mắt, tai. Biết thương mình thì ta phải chăm sóc cho chúng tốt hơn, đừng hành hạ chính ta nữa!</p>
<p dir="ltr">Chương “Những bệnh vô duyên” bàn về “những bệnh không đáng có mà có mới dễ giận”. Đó là bệnh do người già tự gây ra như “tự ý gia giảm thuốc, tin lời bày vẽ, ai mách gì cũng nghe, gây tương tác thuốc lung tung” (tr. 97) Người cao tuổi thường muốn làm xét nghiệm để tìm bệnh, nhưng Bác sĩ khuyên “cần thiết lắm mới làm xét nghiệm và phải có chỉ định của bác sĩ” (tr. 100) Và không nên nghe “những lời nói gây hoang mang, lo lắng, làm mất ăn mất ngủ, gây kiêng cữ quá đáng làm cho tình trạng bệnh khó phục hồi hơn.” (tr. 100)</p>
<p dir="ltr">Lời khuyên về thể chất cho tuổi già là “dinh dưỡng đúng cách” và “thường xuyên rèn luyện”. Bác sĩ trích đoạn thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người sống đến 95 tuổi, và giải thích: “Măng trúc nhiều xơ, giá nhiều vitamin, mùa nào thức đó. Bơi lội, rèn luyện thể lực cũng theo mùa. Rượu chỉ “sẻ nhắp” chứ không tu, không nốc… Còn “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thì cái này Tổ chức sức khỏe thế giới chịu, không thể hiểu nổi nên không thể khuyên ta vậy!” (tr. 104)</p>
<p dir="ltr">Bác sĩ kết luận: “những người hạnh phúc là những người biết khám phá những niềm vui nho nhỏ, nó ở ngay trong ta, quanh ta thôi, miễn là ta biết sống ngạc nhiên, tỉnh thức, khám phá như trẻ thơ.” (tr. 113) và “Thích nghi có lẽ là một năng lực quan trọng nhất để có thể sống hạnh phúc ở tuổi già.” (tr. 115) Vì vậy sách mới có tựa “Già ơi… chào bạn!” nghe thân thiết và gần gũi, khác với “Buồn ơi… chào mi!” nghe như giận hờn, ghét bỏ! (Tên bản dịch Việt cuốn Bonjour Tristesse của Françoise Sagan).</p>
<p dir="ltr">T<img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-19629" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3476-300x247.jpg" alt="" width="326" height="268" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3476-300x247.jpg 300w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3476.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 326px) 100vw, 326px" />rong khi đọc, bạn đừng quên để ý tới các hình vẽ minh họa trong sách. Những bức vẽ xem chừng giản dị và “quái quái” đó có thể khiến bạn bật cười, hay cười tủm tỉm vì thấy sao mà ngộ quá. Đích thân ông Bác sĩ kiêm họa sĩ tự vẽ, và chỉ dùng ngón tay chấm mực Tàu để vẽ. Vậy mà những nét đậm, nét nhạt, mảng sáng mảng tối vẫn hòa hợp tạo nên hình người cử động hoàn chỉnh, sinh động pha chút hài hước. Khi sách in ở Nhật, nhà xuất bản Soshisha (Tokyo) định cho vẽ lại nhưng cuối cùng đành thôi vì không vẽ ra được cái “thần” của tranh gốc.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p dir="ltr">Lời chúc của mình đến bạn sau khi đọc xong sách là bạn sẽ có “một sức khỏe tương đối tốt, kinh tế không quá thiếu thốn, duy trì được mối quan hệ tình cảm, có bạn tâm giao để chia sẻ, duy trì hoạt động xã hội phù hợp để thấy mình luôn còn có ích và quan trọng hơn nữa là giữ một ngọn lửa nhiệt tình, một niềm an lạc, thanh thản trong tâm hồn.” (tr. 119) Lúc đó mình chắc chắn bạn sẽ có một tuổi già hạnh phúc!</p>
<p dir="ltr"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-19633" src="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3485-1-300x284.jpg" alt="" width="419" height="397" srcset="https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3485-1-300x284.jpg 300w, https://www.dohongngoc.com/web/storage/2024/10/IMG_3485-1.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 419px) 100vw, 419px" /></p>
<p dir="ltr">Thân mến,</p>
<p dir="ltr"><em>(Minh Lê)</em></p>
<p dir="ltr">* Các trích dẫn từ sách Già ơi… chào bạn!, Đỗ Hồng Ngọc, Nhà XB Trẻ 1999.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/minh-le-la-thu-thu-hai-gia-oi-chao-ban/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>4</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
