1. Các thời kỳ phát triển y học
Có thể chia ra 5 thời kỳ:
1. Thời kỳ Y học kinh nghiệm (trước 1850)
2. Thời kỳ Y học cơ sở (1850-1900) đánh dấu với sự phát hiện vi trùng
3. Thời kỳ Y học lâm sàng (1900-1950)
4. Thời kỳ Y tế công cộng và y học cộng đồng (1950-1975)
5. Thời kỳ Y học và phát triển (từ 1975…)
2. Từ vi trùng đến hành vi
Các bệnh do vi trùng gây ra nhờ kháng sinh, nhờ tiêm chủng đã dần dần bị khống chế. Nhưng con người vẫn tiếp tục đối đầu với các bệnh tật do chính nếp sống, hành vi của họ gây ra: Rượu, ma túy, có thai ngoài ý muốn, tai nạn giao thông, bệnh do thực phẩm. Các bệnh do vi trùng thì cũng có sự góp phần chủ yếu của hành vi như các bệnh lây qua đường tình dục (STIs), HIV/AIDS, H5N1…
Ở các nước đang phát triển thì cùng lúc phải đối phó với tình trạng bệnh do vi trùng gây ra và bệnh do hành vi gây ra hoặc phối hợp cả hai, nhất là trong một thế giới mà sự giao lưu và thông tin liên lạc bùng nổ như hiện nay. Mô hình bệnh tật thay đổi nhanh chóng và khá phức tạp. Việt Nam trong giai đoạn mở cửa, công nghiệp hóa, đô thị hóa phải cùng lúc đối phó với mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển cũng như đã phát triển, nhiều loại bệnh và nhiều vấn đề xã hội đặt ra liên quan đến tình trạng sức khỏe của cá nhân và cộng đồng.
Những năm 1950, Hochbaum-Rosenstock đưa ra mô hình thay đổi hành vi gọi là “Mô hình lòng tin Sức khỏe” (Health Belief Model).
Những năm 1980, Mc Guire tập hợp đưa ra 16 lý thuyết về thay đổi hành vi. Những năm sau đó, lý thuyết nổi tiếng là “Lý thuyết học tập xã hội” (Social learning theory) và nhiều nghiên cứu trong lãnh vực hoạt động, tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục sức khỏe được đúc kết đã đưa ra nhiều cải tiến. Việc lập kế hoạch giáo dục sức khỏe cho cộng đồng cũng được chuẩn hóa dần, giúp người làm công tác giáo dục sức khỏe có cơ sở để triển khai, đồng thời với các tiến bộ trong ngành truyền thông, nghe nhìn, các kỹ năng hoạt động nhóm nhỏ, khơi dậy và nâng cao năng lực của con người, việc tham vấn trực tiếp trên cá nhân có nhiều hiệu quả giúp cho công tác giáo dục sức khỏe và người làm giáo dục sức khỏe được trang bị những kiến thức về lý thuyết và những kỹ năng thực hành ngày càng tự tin hơn, có hiệu quả hơn.
3. Mở rộng khái niệm giáo dục sức khỏe
Ở thời kỳ đầu, giáo dục sức khỏe quan tâm nhiều đến các yếu tố bên trong cho sự thay đổi hành vi (Kiến thức, thái độ, lòng tin, thực hành…KABP). Sau đó, các yếu tố bên ngoài ngày càng được chú ý vì tính hiệu quả cao và nhanh của nó, yểm trợ cho việc thay đổi hành vi (hoàn cảnh, môi trường…). Thí dụ, rất khó cho một người nghiện thuốc lá bỏ thuốc nhưng từ lúc có lệnh cấm hút trong bệnh viện hay trên máy bay thì mọi người phải tuân thủ. Do vậy, yếu tố một môi trường thuận lợi cho việc thay đổi hành vi kết hợp với các tác động trực tiếp trên cá nhân tạo ra khái niệm mới, mở rộng phạm vi của Giáo dục sức khỏe gọi là “Nâng cao sức khỏe” (NCSK, Health Promotion), trong đó vai trò của Nhà nước, cộng đồng, tổ chức và cá nhân đều được xác lập và lồng ghép với nhau. Các hoạt động không chỉ tập trung vào cá nhân mà tác động đa tầng, liên ngành.
4. Định nghĩa giáo dục sức khỏe & nâng cao sức khỏe
Có nhiều định nghĩa về GDSK và định nghĩa đầu tiên có từ năm 1943. Cho đến nay việc định nghĩa GDSK vẫn chưa hoàn chỉnh, thống nhất.
“Giúp quần chúng đạt được sức khỏe bằng chính nổ lực của họ”
Badgly 1975
“Một hoạt động nhằm vào các cá nhân để đưa đến việc thay đổi hành vi”
WHO, 1977
“…bao gồm những hoạt động nhằm thông tin, động viên và giúp đỡ quần chúng chấp nhận và duy trì những hành vi có lợi cho sức khỏe…”
Taskforce on HE, NY 1976
“là sự kết hợp toàn bộ các kinh nghiệm rèn luyện có kế hoạch nhằm thúc đẩy sự thích nghi một cách tự nguyện những hành vi dẫn tới sức khỏe “
L.W Green, 1980
“là một quá trình nhằm giúp nhân dân tự thay đổi những hành vi có hại cho sức khỏe để chấp nhận thực hiện những hành vi tăng cường sức khỏe”
Bộ Y tế (1993)
“NCSK là sự kết hợp các tiến trình thay đổi tạo nên hoàn cảnh thuận lợi yểm trợ về môi trường, kinh tế, tổ chức và giáo dục dẫn tới sức khỏe”. Hay “NCSK là một loạt các tiến trình được sử dụng để thay đổi các điều kiện có tác động tới sức khỏe”. Còn GDSK là “một nghề nghiệp tận dụng các tiến trình giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe để đẩy mạnh hành vi sức khỏe và thay đổi các điều kiện ảnh hưởng đến hành vi này cũng như các điều kiện ảnh hưởng đến sức khỏe”.
Bruce G.Simons-Morton, Walter H.Greene, Nell Gottlieb (1995)
“NCSK là sự kết hợp các hỗ trợ giáo dục và môi trường cho các hành động và các điều kiện sống đem lại sức khỏe”
Coreen và Kreuter (1991)
“NCSK là một tiến trình làm cho nhân dân có khả năng tăng thêm sự kiểm soát sức khỏe của họ và cải thiện nó?”
WHO (1977)
Như vậy, NCSK là một quan niệm tích cực do nhấn mạnh đến các nguồn lực cá nhân, xã hội, chính trị. NCSK tác động rộng hơn GDSK, là kết quả của một chiến lược chung điều hòa giữa ngưòi dân và môi trường, kết hợp sự lựa chọn cá nhân với trách nhiệm xã hội đối với sức khỏe cho cá nhân và cho cả cộng đồng. NCSK không chỉ chú trọng đến hành vi lối sống mà bao gồm cả môi trường sống và đường lối, chính sách lành mạnh tạo điều kiện cho sức khỏe, do vậy nó có hiệu quả hơn GDSK.
5. Các khoa học nền tảng của giáo dục sức khỏe & nâng cao sức khỏe
5.1. Khoa học hành vi (Behavioral Science)
Các khoa học hành vi quan tâm đến tại sao và cách nào con người đã hành xử theo kiểu này hay kiểu khác. Đó là tâm lý học, Xã hội học, Tâm lý xã hội học, Nhân chủng học đã cung cấp những kiến thức căn bản về lý thuyết, khái niệm cũng như thực tiễn về hành vi, cách ứng xử của con người và sự thay đổi. Ngoài ra còn có các khoa học khác hỗ trợ như kinh tế học, chính trị học, triết học.
Khoa học hành vi cung cấp những kiến thức căn bản về cái cách con người ứng xử trên ba mức độ: cá nhân, tổ chức và cộng đồng, từ đó có thể hiểu được hành vi sức khỏe của con người và cộng đồng nên nó là nền tảng của giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe.
5.2. Khoa học giáo dục (Education)
Giáo dục học nghiên cứu và thực hiện việc giảng dạy, học tập và thay đổi. Tâm lý giáo dục, Sư phạm, Giáo dục tráng niên, Thiết kế chương trình đáp ứng cho mục tiêu đào tạo, huấn luyện cho từng đối tượng là những thành phần căn bản cho Giáo dục sức khỏe và Nâng cao sức khỏe vì Giáo dục sức khỏe không chỉ tập trung vào học sinh ở nhà trường nên giáo dục tráng niên là phần rất quan trọng. Phương pháp giáo dục chủ động, tạo tham gia, học đi đôi với hành là chủ yếu để tạo sự thay đổi hành vi, trong đó có hành vi sức khỏe.
5.3. Y học và Y tế công cộng (Medicine and Public Health)
Cung cấp những nội dung y học, cách xử trí đúng và sai trong việc tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng. Dịch tễ học, Vệ sinh môi trường, Dân số và Hướng dẫn các dịch vụ y tế. Đặc biệt dịch tễ học góp phần phát hiện các vấn đề sức khỏe, chọn vấn đề sức khỏe ưu tiên từ đó đề ra biện pháp can thiệp. Dịch tễ học cũng giúp phân tách vấn đề nào là y sinh học, vấn đề nào thuộc hành vi, nếp sống và vấn đề nào do môi trường. Công tác lập kế hoạch, quản lý và đánh giá chương trình sức khỏe, vận động chính sách y tế là những phần cơ bản cho Giáo dục sức khỏe và Nâng cao sức khỏe.
5.4. Khoa học truyền thông (Communication)
Khoa học truyền thông ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong truyền thông trực tiếp giữa người với người, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng. Truyền thông có ảnh hưởng trực tiếp làm thay đổi hành vi trong các chương trình truyền thông sức khỏe, tiếp thị xã hội ngày càng được quan tâm và trở thành nền tảng cho Giáo dục sức khỏe và nâng cao sức khỏe.
6. Nguyên tắc thực hiện giáo dục sức khỏe
1. Kế hoạch phải dựa trên cơ sở thông tin thích đáng, trên nhu cầu và lợi ích của đối tượng đích, các yếu tố tác động đến hành vi của họ và các hậu quả về sức khỏe của họ;
2. Xác định được tầm quan trọng của các yếu tố môi trường (xã hội và tự nhiên) chung quanh đối tượng đích;
3. Đối tượng đích phải được tham gia trong quá trình lập kế hoạch;
4. Dựa trên nguyên tắc tôn trọng trong quá trình tạo tham gia, công tác GDSK là sự chia sẻ, hợp tác chứ không phải là một sự ban bố;
5. Mục tiêu GDSK không dừng lại ở kiến thức mà phải đạt đến mức độ tự giác, tạo thành nhu cầu, đòi hỏi để đạt sức khỏe tốt nhất của đối tượng;
6. Áp dụng linh động các nguyên tắc và phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả cao dựa trên từng đối tượng đích;
7. Khi thiết kế kế hoạch can thiệp GDSK cần phải quan tâm không những đến các trở ngại về kỹ thuật mà còn đến các trở ngại kinh tế – xã hội. Chú trọng phương pháp và nhân lực. Linh động trong chiến lược sao cho phù hợp.
8. Không có một kế hoạch GDSK, Nâng cao sức khỏe nào là mẫu mực, duy nhất, tốt nhất. Kế hoạch tốt là một kế hoạch phù hợp, dựa trên đối tượng đích và hoàn cảnh cụ thể trong từng tình huống.
7. Các nguyên tắc của Nâng cao sức khỏe
1. NCSK thu hút toàn bộ người dân trong bối cảnh sống hàng ngày của họ, hơn là chỉ tập trung vào những người có nguy cơ cao cho một loại bệnh nào đó.
2. NCSK hướng tới các hành động nhằm tác động lên các yếu tố quyết định hay các nguyên nhân tạo nên sức khỏe. Nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành ngoài y tế (phối hợp liên ngành) chứng tỏ tính đa dạng của các điều kiện ảnh hưởng đến sức khỏe.
3. NCSK kết hợp với các phương pháp hay cách tiếp cận khác nhau, bao gồm: truyền thông, giáo dục, luật pháp, các biện pháp tài chính, những thay đổi về tổ chức, sự phát triển cộng đồng và các hoạt động tức thời của địa phương chống lại các mối nguy hiểm cho sức khỏe.
4. NCSK đặc biệt nhằm vào sự tham gia cụ thể và có hiệu quả của quần chúng. Nó đòi hỏi sự phát triển xa hơn nữa – các kỹ năng xác định vấn đề và ra quyết định của cá nhân cũng như của tập thể, và sự tăng cường các cơ chế tham gia có hiệu quả.
5. NCSK trước hết là một thể nghiệm về mặt xã hội và chính trị chứ không phải là một dịch vụ y tế, mặc dù các nhà chuyên môn y tế giữ một vai trò quan trọng trong việc ủng hộ và tạo khả năng cho công tác nâng cao sức khỏe.
Năm nguyên tắc của Hiến chương Ottawa WHO, 1986 về Nâng cao sức khỏe:
- Phát triển các kỹ năng cá nhân;
- Tạo môi trường hỗ trợ thuận lợi;
- Tạo tham gia cộng đồng;
- Cải tổ hệ thống Y tế để đáp ứng tình hình mới (dịch vụ, nghiên cứu, đào tạo…);
- Đề ra các chính sách công cộng lành mạnh hỗ trợ nâng cao sức khỏe.
Điều kiện cần thiết thực hiện NCSK:
1. Tạo khả năng (Enable)
2. Hòa giải (Mediate)
3. Vận động ủng hộ (Advocate)
Những chiến lược then chốt tạo ra các môi trường hỗ trợ:
1. Tăng cường sự ủng hộ thông qua sự tham gia cộng đồng, đặc biệt là thông qua các nhóm do phụ nữ tổ chức và các nhóm hưu trí, thanh niên….
2. Tạo khả năng cho các cộng đồng và các cá nhân để họ có thể tự kiểm soát sức khỏe và môi trường sống của mình thông qua giáo dục và nâng cao năng lực, tự chủ.
3. Xây dựng các liên minh vì sức khỏe và các môi trường hỗ trợ nhằm tăng cường sự phối hợp giữa y tế và các chiến lược về môi trường.
4. Dàn hòa các mâu thuẫn trong xã hội nhằm đảm bảo việc hưởng thụ công bằng các môi trường hỗ trợ cho sức khỏe.
BS.Đỗ Hồng Ngọc










Thưa BS Ngọc, đây là bài giảng cho SV năm thứ nhất Y KHOA?
Khong. Cho nam thu 2 va thu 4. Day chi la phan tom tat.
Em chào bác sĩ!
Cho em hỏi: 11 chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng gồm những chương trình nào vậy ạ?
Trong đó có: Giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên, giáo dục sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe răng miệng… và gì nữa thầy?
Trong những buổi thảo luận nhóm về nâng cao sức khỏe và giáo dục sức khỏe cộng đồng những câu hỏi nào với thầy là tâm đắc nhất? cho em xin một vài câu làm ví dụ nha thầy. Cảm ơn thầy rất nhiều. Em sắp thi hết môn TTGDSK. Thầy trả lời sớm giúp em nha. Cảm ơn thầy! (Tuy chưa được học với thầy nhưng mong thầy cho phép em gọi như thế thầy nhé)
Cảm ơn em. Nhưng em cần cho biết em học trường nào, ngành gi, thì mới trả lời được chứ? Nếu em học ở Đai học Y dược TP.HCM thì khác, DH Y Cần Thơ thì khác, DHYK PNT thì khác nữa. Nếu em học Y tế công cộng hay Yersin Đà Lạt đều rất khác nhau. Em nên bám theo chương trình giảng dạy của nhà trường mới chính xác và mới làm bàì thi tốt được em ạ. Chúc em thành công.