Trong ba nhà thơ bạn tôi ở Phan Thiết đó thì Nguyễn Như Mây mới là nhà thơ… ly kỳ nhất, “hấp dẫn” nhất! Không phải chỉ vì anh trẻ tuổi nhất trong nhóm mà còn bởi vì anh “sung sức” nhất. Anh mới gần 60 – nhưng với vẻ khắc khổ và mái tóc lưa thưa trơn bóng làm anh trông có vẻ già hơn tuổi khá nhiều, khiến nhiều người không đoán nổi tuổi thật của anh. Năm rồi anh mua một chiếc xe đạp cổ thời Pháp, đạp… từ Phan Thiết ra Hội An, Đà Nẵng thăm quê nội. Tôi bái phục, hỏi anh đạp xe vượt cà đèo Cả ư ? Không, thảy xe đạp lên xe đò chứ! Cũng như Từ Thế Mộng, Nguyễn Như Mây sống và lớn lên ở Phan Thiết nên mê Phan Thiết chết đi được, có điều anh không mê biển như Từ Thế Mộng mà mê sông, sông Mường Mán:
Archive for the Category ◊ Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác ◊
Nhắc Nguyễn Tường Bách người ta dễ nhớ ngay đến những tác phẩm biên dịch đặc sắc của anh từ Govinda, Krishnamurti, Herrigel, Capra… mà dễ quên đi một Nguyễn Tường Bách của tuỳ bút, của ký sự rất sâu lắng, rất hàm súc. Đọc anh, nhiều khi thấy nao nao. Có khi là một nỗi ngậm ngùi. Có khi là một niềm tiếc nhớ.
Mộng đời bất tuyệt là tác phẩm mới nhất của Nguyễn Tường Bách sau Mùi trầm hương , Lưới trời ai dệt… có cái tựa nghe chút gì xưa cũ, như những thành quách rêu phong của một Huế xưa, quê hương anh, nơi “dòng người bất tận” vẫn từ thế hệ này sang thế hệ khác đi về ngôi “chùa nhà” nho nhỏ của mình, nơi vị sư già nối tiếp những vị sư già có có không không.
xem tiếp…
Hơn bốn mươi năm cầm bút, chàng “nho sinh” kia vẫn chỉ có mỗi một việc để làm , miệt mài, không mệt mỏi, ấy là thử bút. Chàng nắn nót, nâng niu, đưa ngọn bút lông lên ngang tầm mắt, ngắm nghía từng sợi nhỏ, xoay tới xoay lui đôi ba bận một cách thuần thục mà ngập ngùng, rồi thè lưỡi liếm nhanh mấy cái như vót cho các sợi lông bút quấn quít vào nhau, cho nhọn hoắc lại như gom nội lực vào nhất điểm; rồi thận trọng, nhẹ nhàng chàng nhúng bút sâu vào nghiêng mực đã mài sẵn, ngập đến tận cán, rút nhanh ra rồi chắt vào thành nghiên, ấn ấn xoay xoay lúc nặng lúc nhẹ cho mực túa ra nức nở, ào ạt rồi thưa dần, đến lúc sắc nhọn vừa ý, chàng phết nhẹ một nét lên tờ giấy đợi chờ, như để đo độ đậm nhạt, hít một luồng chân khí, định thần, lim dim, phóng bút…Chàng “nho sinh” mỉm cười khoái trá, trút đi gánh nặng ngàn cân, kiệt sức, nhanh tay nhúng bút vào lọ nước trong… Những giọt mực thừa rơi lả tả…
Thử bút, không phải tùy bút, không phải tản mạn, không phải tạp văn… Nó ùa ra, nó túa ra, nó lan ra, có lúc tòe loe, có khi hụt hẫng, những cảm hứng, những ngẫu hứng, những xúc động bất chợt, như không kềm chế được. .
Với tôi, Phan Thiết không chỉ dễ thương với Mũi Né, Tà Dôn, Tà Cú…mà còn đặc biệt dễ thương với ba nhà thơ bạn mình, đó là Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn và Nguyễn Như Mây.
Hãy nói về Từ Thế Mộng trước. Không phải vì anh là nhà thơ… lớn hơn hai nhà kia nhưng bởi anh có tuổi… lớn hơn hết trong bọn chúng tôi. Năm nay anh đã 70 rồi mà tiếng cười vẫn rổn rảng, sảng khoái và sáng nào anh cũng đạp xe đạp đi tắm biển một mình, chỉ để ngắm ráng đỏ bên trời: Em ngữa mình gối sóng/ Ráng đỏ thoáng bên trời/ Anh rùng mình ngăn lại/ Một tiếng thầm đang rơi. Tôi hỏi tiếng gì thầm, anh im lặng không nói. Chắc phải gởi anh vài thứ thuốc! Anh là tác giả của các tập thơ Lời ca cỏ non, Lẽo đẽo một phương qùy, Trường ca Má thương yêu… và nhiều tùy bút, đoãn văn rất hay trên các báo. Tưởng anh mê biển mà không phải vậy, chẳng qua. Mấy hôm nay biển thở dài/ Mới hay em bệnh đã vài bốn hôm! Nhìn một cô gái đi trong mưa, anh kêu lên: Em về/ trong dịu dàng mưa/ Bước chân lửng thửng/ như chưa ướt gì…Làm ta không khỏi nhớ đến câu ca dao rất dễ thương của vùng Bình Thuận: Trời mưa ướt lá bồn bồn/…. Từ Thế Mộng tên thật là Nguyễn Đình Tư, được mọi người biết dưới tên Tư Đình, để phân biệt với những ông Tư khác ở Phan thiết. Vốn là một thầy giáo dạy văn, gốc Huế nhưng anh đã sống và lớn lên ở Phan Thiết từ thuở mới lên mười, cho nên anh mê Phan Thiết chết đi được.
Nếu như Từ Thế Mộng dễ thương vì thơ anh có sự lãng mạn chập chùng, đắm say lòng người như những đồi cát Mũi Né thì Nguyễn Bắc Sơn dễ thương ở chỗ thơ anh sừng sừng, ngạo nghễ mà cô đơn như …núi Tà Dôn. Nguyễn Bắc Sơn nổi tiếng từ đầu thập niên 70 với những bài thơ xót xa mà thời bọn tôi ít ai không biết, không thuộc lấy một vài bài, vài đoạn trong tập Chiến tranh Việt Nam và tôi (1972) của anh:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui…
(NBS)

Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!
Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.










Ý kiến bạn đọc!