Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Nhà thơ Khánh Minh đọc “Một ngày kia… đến bờ”

11/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Đọc tùy bút “Một ngày kia… đến bờ” của Đỗ Hồng Ngọc

Nguyễn thị khánh minh
(tranthinguyetmai.wordpress.com)

Sách Một Ngày Kia...Đến Bờ - Đỗ Hồng Ngọc

Bờ nào? Bờ bên kia hay bờ bên này?
Đáo bỉ ngạn? Là mong cho tới bờ bên kia? (Tr.7)

Có một nơi gọi là bờ để đến, người đang đi thuyền mong cho tới bến, bến ấy là bờ. Tỷ như có người đang ngộ nạn ở sông biển cũng mong mỏi sinh tử là bơi tới được bờ. Hiểu theo nghĩa đời thường của bờ là như thế. Nhưng khi nằm trong câu Một Ngày Kia Đến Bờ, bỗng trở nên lồng lộng của kinh điển, của pháp tu và tập tùy bút này của Đỗ Hồng Ngọc xoay quanh áo nghĩa của -Đến Bờ Bên Kia-, nghĩa theo Phật ngữ và cả thực hành tu tập, tùy theo sự tu tập mà đáo bỉ ngạn.

Ý rằng bờ bên kia hẳn là hay hơn, đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này? Sao biết? Đã có ai nói cho biết chưa? Có con rùa nào từng đi dạo lang thang từ dưới biển lên đất liền nói cho biết chỗ nào đáng sống hơn chăng? (Tr.7)

Trong các hạnh tu Ba La Mật là tu để đạt tới chỗ hoàn thiện. Bờ bên kia là cứu cánh, là chỗ hoàn thiện mong đạt tới, thì phải chăng, vô hình trung khẳng định bờ đó đẹp hơn, tốt hơn bờ bên này, dù con rùa kia đi khắp biển bờ vẫn câm lặng không hé một lời mách bảo.

Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté… một đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú… năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư ư? Sao người ta vẫn đọc hà rầm khắp nơi, đọc hằng ngày câu chú trong Tâm kinh Bát Nhã đó mãi mà vẫn thấy cứ còn khổ, thâm chí “cực khổ”, nên chỉ mong sao được mau về miền “cực lạc”, được vãng sanh qua nơi khác, qua bờ bên kia. Vậy mà lạ, hình như ai cũng muốn sống lâu, thậm chí trường sinh bất tử, nghĩa là ở mãi nơi này, nơi “cực khổ” này? Tại sao? (tr.8)

Tôi là một trong số người đọc hà rầm mỗi ngày Chú Đại Bi, là một trong muôn người còn chờ Phật Quán Âm độ cho mọi khổ ách. Ừ nhỉ, tại sao ai cũng muốn sống lâu ở cõi mà ai cũng kêu là trần ai này? Nghe như công án. Và qua những trang sách trong tập tùy bút này thấy Đỗ Hồng Ngọc cứ tủm tỉm đi trong hành trình well-being đến well-dying, làm thế nào để well, cực kỳ… không biết dễ hay khó. Thôi thì “tùy người đối diện”. Khi ta còn trong cõi bờ sinh tử, làm sao sống để có khỏe mạnh và hạnh phúc thoải mái? Đó là chủ đề của Đỗ Hồng Ngọc, qua thực hành Phật pháp, qua kinh nghiệm tu tập, qua tri thức vốn có của ông.

Tập tùy bút gồm 26 tiểu đề, Đỗ Hồng Ngọc bàn về những phạm trù mà xưa nay người học Phật đều đặt dấu hỏi, như Nghiệp, Có Ngã Không, Có Kiếp Sau Không?, Phật là Như Lai… Nhưng Như Lai Không Phải Là Phật, Một Là Tất Cả…  Rồi cả phương pháp tu tập Thở và Thiền Định, Tứ Niệm Xứ… Bạn phải có cuốn sách này, vì không thể đọc lướt, đọc một lần mà lĩnh hội được. Tuy Đỗ Hồng Ngọc nói chỉ “lõm bõm học Phật”, nhưng cách ông giảng giải về Phật pháp hiện rõ tinh chất uyên áo nằm dưới những câu, từ và ví dụ rất đời thường để người đọc nắm được ý chính của kinh điển, thật may mắn khi chúng ta có được văn bản của một người học Phật và chắt ra được cái cốt lõi của Phật pháp, của học và hành, như thể ta được chỉ đường. Vấn đề là biết đường đi rồi tự thân ta phải kiên trì tập cách đi cho vững cho thông.

Khởi đầu cuộc hành trình,
Tự nhiên có ta trong cõi đời. Ta tự nhiên như từ “vô tướng” mà hiện ra thành “hữu tướng” dù chỉ là giả, là tạm mà cũng xài được một thời gian. Cha mẹ gặp nhau, hàng tỷ tinh trùng mà chỉ có một con duy nhất được gặp cái trứng như hẹn hò nhau từ muôn kiếp trước, (tr.11)

Tinh cha huyết mẹ nên con (ntkm), thú vị thay, Đỗ Hồng Ngọc nói, như hẹn hò từ muôn kiếp trước, tôi cũng tin vậy, và rất rất nhiều người cũng tin thế. Duyên ư, nghiệp ư? Từ đâu mà ra? Tác giả đã đặt câu hỏi về vấn đề siêu hình bằng một giọng rất giản dị hồn nhiên,

Nhưng tôi tin có một cái gì đó, gọi bằng tên gì cũng được, tạo ra cái trò chơi này và ngắm nghía thú vị. Dù là một miếng đất sét được vọc bởi một em bé thành hòn bi hay thằng người… thì cũng có một em bé… đầy sáng tạo. Dù là từ Như Lai tạng thì cũng phải có một “nghệ sĩ” vẽ vời, nắn nót tạo nên mọi thứ và chịu trách nhiệm chớ?

Rồi, tủm tỉm, Nghĩ Tức Cười, là sao, tôi đồ chừng khi tạo ra con người này, ai đó, cái gì đó, cũng trong phút Tức Cười ấy, nên mới có đủ thứ hỷ nộ ái ố tréo ngoe trong kiếp người. Và chẳng phải chỉ một kiếp, vòng tuần hoàn cứ từ tro bụi thành mình mình thành tro bụi, đến đi, miết miết, huyền nhiệm,

Từ đâu mà ra? Từ cái duyên của cha mẹ, ông bà, từ muôn vạn thứ duyên khác từ đất, nước, gió, lửa (C,H,O,N…)… . Cho nên hàng tỷ hằng triệu triệu con người sau khi… hoàn thành nhiệm vụ, già nua hết xài được thì trở thành tro bụi. Tro bụi đó, vẫn xài lại, nặn lại… tiếp tục đợi duyên sinh.

Nên khi nhào nặn thì … chẳng cần phân biệt. Ta mải mê phân biệt chẳng đáng tức cười cho Như Lai ư? (tr.16)

Và sau khi phân tích các chất tạo nên con người dưới con mắt của một bác sĩ thì nhà Phật học Đỗ Hồng Ngọc đặt một kết luận khiến cỡ người học Phật i tờ như tôi luýnh quýnh bụi trần.

Nhưng gène hình như cũng chưa phải khúc cuối của Như Lai. Người ta đã tìm ra hạt ra sóng và chẳng bao lâu nữa sẽ kêu như Huệ Năng: Bổn lai vô nhất vật!  (tr.16)

Tiểu đoạn 3 có đề Có Kiếp Sau Không?
Tôi không biết. Nhưng tôi biết có kiếp trước. Làm sao biết? Bởi vì nếu không có kiếp trước, làm sau có tôi ở kiếp này? Chắc chắn phải có kiếp trước mới có kiếp này của tôi chứ. Còn có kiếp sau hay không. Tôi không biết. (tr.17)

Nếu ngồi đối diện ông ngay lúc này chắc tôi sẽ dũng khí cãi, biết có kiếp trước tức vô hình trung nói rằng có kiếp sau, vì kiếp này là kiếp sau của kiếp trước. Làm gan cãi vậy thôi chứ cũng ạ ạ ừ ừ biết gì mà cãi. Thiền giả khẳng định có kiếp trước. Và còn đưa ra một nghi vấn nữa,

Vậy tôi ở kiếp trước và tôi kiếp này có giống nhau không? (Tr.17)

Sao muôn thuở muôn nghìn tình nhân dang dở đều hẹn hò lai sinh, tức là họ tin kiếp sau mình y chang là mình, chàng (nàng) phải vẫn là chàng nàng thì mới biết dây mơ rễ má của mối tình xưa xa kia mà nối kết lại chớ, phải không? Ai cũng tin dù không biết vì sao, vì đâu mà tin! Kiếp này duyên đã phụ duyên/ Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. (Kiều)

Tôi không chắc sẽ giống, có chăng, giống một chút do cái nghiệp tôi mang theo. Nghiệp là cái tôi “thừa tự” mà, tôi phải mang theo chứ… (tr.17)

Nghiệp là gì? Không biết. Nó đeo đẳng mình, đòi nợ, phải “trả nghiệp”. Trả cách nào? Không biết. Có chuyển nghiệp được không? Chắc phải được chớ. (tr.21)

Hỏi làm cách nào? Hỏi như bịnh nhân hỏi một căn bệnh, bác sĩ trả lời:

Nghiệp “truyền” đi không chỉ từ gène mà còn từ môi trường… Ngành khoa học này gọi là epigenetic (ngoại di truyền, biểu sinh). Phật học nói về chánh báo và y báo là rất đúng. (tr.22)

Chế độ ăn uống, bệnh tật, nghiện ngập, lối sống là các cơ chế của y báo (ngoại di truyền, epigenetic mechanisms) có tác động đến hoạt động của các gène, điều hòa các gène. (tr.23)

Rồi ông nói tiếp, từ từ, nghe như đang giảng pháp,

Nghiệp do “thân, khẩu, ý” mà ra. Thì ra do thái độ, cử chỉ, do lời nói, ý nghĩ của mình mà sinh ra. Nói chung là cách sống. Tùy chọn. Ý nghiệp chưa phải là hành vi mà chính ý nghiệp mới dẫn dắt. “Ý dẫn đầu các Pháp” không phải sao? Ba “nghiệp” mà thanh tịnh thì hết chuyện. (tr.21)

Hỏi sao được thanh tịnh ung dung tự tại, giọng trả lời khiến tôi cảm tưởng như mình đang lọt vào một nơi chốn khác,

… Bệnh gốc của chúng sanh là Tham Sân Si. Tham sân si mà… triệt tiêu thì Niết-bàn đây chớ đâu! Bằng cách nào? Dễ thôi. Tứ Diệu Đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên… từng bước cho đến khi thấy Như Lai vô tướng, thấy được Như Lai tạng, nhìn mọi thứ bằng thật tướng của nó và từ đó… sẽ Ung dung, Tự tại, Vô ngại! (tr.47)

Bốn thứ ma thân thiết. Nó vây quanh ta từ khi ta chào đời. Phiền não ma, Ngũ ấm ma, Thiên ma, Tử ma. Nó vây quanh ta, kết bạn với ta, quậy phá ta, che chở ta. Phật bảo 4 thứ Ma đó là “thị giả” của ta, gần gũi và giúp đỡ ta. (tr.19)

Hẳn phải là người có nhiều kinh nghiệm làm bạn và chiến đấu với bốn con ma này nên mới có đủ nội lực để hóm hỉnh:

Kết bạn với 4 thứ ma đó đi. Vui đùa với chúng đi. Nhìn kỹ đi, chúng rất dễ thương, dễ bảo. Đừng căng thẳng gây gổ giận dữ với chúng làm gì. Chúng giúp ta mở mắt, nhìn rõ sự thực. Một cơn bệnh nặng chẳng phải đã giúp ta sực tỉnh cơn mê sao? (tr.20)

Tôi nhớ khi bị bịnh nặng, nằm một chỗ tôi thèm đôi chân đi đứng bình thường biết bao, Tôi thấy từng phút sống ý nghĩa biết bao, và tôi nguyện sẽ biết thương yêu hơn, tha thiết hơn với những gì xung quanh. Chả phải đức Phật khi cận kề cái chết mới giác ngộ chọn con đường khác để tu mà thành Phật đó sao.

Mục tiêu của Hoa Nghiêm hữu hóa là giúp ta có được cuộc sống an nhiên, tự tại, hạnh phúc ngay ở đây và bây giờ… Một “thế giới hoa tạng”, rực rỡ xinh đẹp sẽ được thành tựu tùy tâm mình.(tr.45)

… Chẳng vì ta mà hoa nở, hoa tàn. Chẳng vì ta mà gió mát trăng thanh. Nhưng ta biết thưởng thức. Ta “enjoy” cuộc sống của mình trong từng giây phút (tr.43)

Bệnh nhân nghe ra bỗng thấy sao sự việc giản đơn như vậy mà mình như con vụ bị xoay mù mù. Và ơ kìa, vị bác sĩ áo trắng mới đây giờ đi đâu, trước mặt tôi là một vị thiền giả áo màu của đất, giọng nói ấm và sâu thẳm như vang lên từ ngực

…Khi ngồi dưới bóng cây giữa cánh đồng mát mẻ, không bị “dính mắc” gì với buổi lễ Hạ Điền dưới kia, lúc đó ngài chẳng biết gì về tham thiền, nhập định hay tứ thiền bát thiền gì cả vì hãy còn rất nhỏ, chỉ biết hồn nhiên, trong sáng, vậy là đã ly dục, ly tầm ly tứ, vào sự sảng khoái lâng lâng gọi là hỷ lạc và đã thực sự thanh tịnh… Nếu sống hồn nhiên như một em bé, thảnh thơi, thanh tịnh thì đã vào Tam muội Phổ Hiền rồi vậy! (tr.55)

Con đường độc nhất “dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn” chính là Thiền Định. (tr.61)

Thiền mà bị phân tích, xếp loại, đánh giá… sẽ làm cho thiền tiêu vong, không tìm đâu được cái thanh tịnh, hồn nhiên nữa… (tr.62)

Thanh tịnh, hồn nhiên. Đấy là chiếc chìa khóa thiền giả đã trao cho.

Phải rồi. Phải “Tự tại” thôi. Phải dựa vào chính mình thôi. Phải thực hành thôi… có sẵn một con đường mà bấy lâu mình xa lạ. Thiền Quán Niệm Hơi Thở (Anapanasati, An-ban thủ ý, Nhập tức xuất tức niệm) “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra… Tìm hiểu thấu đáo, thực hành “miên mật” thì quả là có cơ sở để tin. tr.73

Tôi tin ông đã thực hành miên mật vì ông đã tìm đến phương pháp ấy bên bờ sinh tử và đã có được những kết quả khiến thiền hơi thở đã thuyết phục được ông kiên trì.

… yếu tố rất quyết định trong Thiền định là thả lỏng toàn thân – như thả trôi theo dòng nước hay treo thân trên móc áo. Thả lỏng toàn thân là làm cho toàn thân như rủ xuống (tr.77)

Thiền dạy buông xả. Mục tiêu của Thiền Định là Xả. (tr.85)

Thực hành, kiên trì thực hành thở và thiền theo Đỗ Hồng Ngọc viết trong tập sách này, hẳn chúng ta sẽ được well-being, được tới chừng nào vui chừng đó, hưởng chừng đó, và trong thời gian còn sống vui khỏe, sửa soạn làm sao để gánh nghiệp được nhẹ bớt lần lúc mang đi, đó là thời gian chuyển tiếp để ta chuẩn bị hành trang cho một cuộc hành trình mới, chuẩn bị, sửa soạn để biết được rằng hành trình cuối ấy là một điều tất yếu, và như thế, sẽ well-dying – Đỗ Hồng Ngọc nói vậy-.

Thiền giả để tách trà xuống khay một cách ung dung, nói nhẹ nhàng như chiếc lá thả xuống bờ vai:

Ai có thể thở giùm ai? Ai có thể thiền giùm ai? Cho nên chỉ có thể nương tựa vào chính mình thôi. (tr.78)

Thở luôn trong thì hiện tại, ở đây và bây giờ, không có thở của hôm qua hay của ngày mai.

Và, đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Lúc chào đời hít mạnh một hơi vào phổi để rồi khi lìa đời, thở hắt ra một cái: trả lại những gì mình đã vay mượn tạm! (tr.75)

Một luồng sảng khoái chạy khắp châu thân, tựa như một nút thắt vừa được mở ra, tựa như mình vừa mới biết thở, hơi thở vào ra nạp đầy năng lượng, đúng rồi, –hãy sống lúc đó-, đối với tôi đây là “mật chú” để được well-being.

Cái ở đây và bây giờ làm buổi sáng dài thêm ra, và vô lượng nắng đang tỏa vàng óng trên cánh bướm đang nhịp nhàng trong mùa vừa bắt đầu đông.

Thiền giả mỉm cười: Ta cũng có Phật tánh, có pháp thân, cũng từ Như Lai tạng đó thôi thì ta việc gì phải lo sợ khổ đau vì cái “sanh, bệnh, lão, tử” cơ chứ? (tr.65)

Nói rồi ông quay đi, mầu áo nâu nhẹ như khói…

Upland, Tháng 12.28.2023
Nguyễn thị khánh minh

—-

Sách hiện có bán tại các nhà sách hoặc trên mạng:
https://www.sachkhaiminh.com/mot-ngay-kia-den-bo-do-hong-ngoc

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

08/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

Gió Bấc

Đi giữa Saigon

Phố nhà cao ngất

Hoa nở rực vàng

Mà không thấy Tết

Một sáng về quê

Chợt nghe gió bấc

Ơ hay Xuân về

Vỡ oà ngực biếc…

(Đỗ Hồng Ngọc)

Bài thơ nhỏ, thiệt thà, viết đã lâu lắm rồi, vậy mà bây giờ nhiều người còn nhớ. Báo Trẻ xuân năm nay, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đã chọn đăng lại trong mục Thơ xuân…

Với tôi, Gió Bấc ớn lạnh xương sống y hệt cơn sốt rét rừng như còn đang hoành hành trong cơ thể gầy nhom của mình. Nó buốt. Nó nhọn. Nó xót… và nó lạnh dĩ nhiên rồi – với một đứa trẻ lên mười mỏng manh như tôi những ngày tá túc trong một ngôi chùa Tàu nghèo ở Phan Thiết- lộp cộp guốc xuồng gỗ trên con đường Gia Long rồi lang thang dọc bờ sông Cà Ty mà nghe mùi cốm mùi pháo…

Khi tôi viết bài Mũi Né, đã hơn nửa thế kỷ trước: Em có về thăm Mũi Né không/ Hình như trời đã sắp vào xuân/ Hình như gió bấc lùa trong Tết/ Những chuyến xe đò giục bước chân… (Mũi Né, ĐHN 1970), thì cũng lại gió bấc, thứ gió hình như ám ảnh người miệt biển quê tôi nhiều nhất.

Cho nên bây giờ muốn nghe Tết, muốn thấy Tết, thì tôi lại về Lagi, Phan Thiết để tìm Gió bấc khôn nguôi của tuổi thơ mình.

Mùa bấc, biển như sánh lại, sệt lại, đục hơn và sóng rát hơn, dữ dội hơn bao giờ hết. Bãi bờ bị xoáy toang…

Biển Lagi mùa Gió Bấc

vắng hoe người

“Biển sóng biển sóng đừng xô nhau/ Ta xô biển lại sóng về đâu?” (TCS)

Lagifarmstay quen thuộc, mỗi lần về thăm quê. Ở đó, còn một chút cho riêng mình…

Ở đó, còn có thể “nhìn nắng hàng cau nằng mới lên… ” (HMT)

Và vô vàn hoa thanh long ở Phong Điền, Hiệp Nghĩa, quê ngoại

 

Rồi từ Lagi tôi đi một mạch dọc biển về Phan Thiết, qua Mũi Né, Bàu Trắng, đến Phan Rí Cửa, rồi Long Hương, Cổ Thạch, thăm nhà văn Hồ Việt Khuê, Nguyễn Phương cùng các bạn vùng La Gàn, gặp lại thầy Huỳnh Đình Tám…

 

 

 

 

 

 

 

La Gàn (Long Hương) mùa Bấc thổi…

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

(1/2024)

 

T

 

T

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Thiền và Sức khỏe, Uncategorized

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024) tiếp theo

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Sáng 1.1.2024, về Lagi, ghé “Suối Đó Chùa Đây” thăm Thầy Thích Tấn Tuệ, nhà thơ Đinh Hồi Tưởng. Quen thầy đã lâu, có hơn 30 năm trước, khi thầy mới đến Lagi, lập cái chùa lá bên dòng Suối Đó, một con suối khá đẹp ngay trên đường chính vào Lagi.

Có lần đến thăm, thầy đi vắng, mình để lại mấy dòng:

Chùa đây suối đó thầy đâu

Mây ngàn hạc nội còn lâu mới về…

(ĐHN)

Bây giờ thầy đã là một vị Hoà Thượng, nhưng vốn là một nhà thơ, chùa vẫn được “bà con văn nghệ” đến chơi, đề thơ bên suối, nhưng còn khá ngổn ngang với bao nhiêu là cổ vật, thầy sưu tầm khắp nơi mang về. Mình khuyên thầy “về thu xếp lại” là vừa, cần một nhà kiến trức giúp sửa cho hoàn chỉnh ngôi chùa thơ mộng. Bè bạn thường chọc thầy Đinh Hồi Tưởng là “đương hồi tỉnh”, thầy vẫn cười cười, nói đương hồi tỉnh vẫn tốt hơn cứ mãi vô minh ư?

SUỐI ĐÓ Lagi

 

Thầy Thích Tấn Tuệ (nhà thơ Đinh Hồi Tưởng)

Đỗ Hồng Ngọc và Thích Tấn Tuệ (Chùa Đây Suối Đó, Lagi, 1/01/2024)

 

CHÙA ĐÂY (Thanh Trang Lan Nhã)

 

Thân mến,

ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Nghĩ từ trái tim

Thư gởi bạn xa xôi: Vài hình ảnh… Tết tây (2024)

07/01/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (1/2024)

Cảm ơn bạn đã nhắc. Lu bu thiệt. Mà lu bu được cũng vui chớ phải không? Tuổi mình mà cứ “Bất động” như Phật A- Súc thì cũng chán!

Gởi bạn vài hình ảnh Tết tây 2024:

Thầy Viên Thức Đàlạt nhắn gặp ở Đường Sách. Thầy cùng tuổi với mình. Thơ, hoạ, thư pháp… thầy nổi tiếng ai cũng biết. Lúc này thầy đi “tiếu ngạo giang hồ”, từ Nam chí Bắc, với cái xe 4 bánh, có đệ tử đưa đi, tới đâu ăn đó, ngủ đó. Vào quán cà phê Đường Sách giữa Saigon, thầy mặc kệ mọi người, mở túi xách lấy đồ ăn ra ăn, mở lon lấy nước uống ra uống… Mình gởi tặng thầy cuốn Một Ngày Kia… đến bờ, thầy khoái chí quá, cười khà khà rồi mở bị bày nào mực, nào giấy, viết lông, pha chế rồi hí hoáy viết…

Đỗ Hồng Ngọc và Thầy Viên Thức ở Đường Sách tp.HCM

 

Viên Thức (ký hoạ bởi Đỗ Hồng Ngọc).

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Họp mặt với Đỗ Hồng Ngọc ở quê nhà Lagi (Bình Tuy) 2022

31/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Buổi Họp Mặt với Đỗ Hồng Ngọc tại quê nhà Lagi 2022.

Tôi vừa nhận được clip này từ Nguyễn Văn Quyền gởi đến trong ngày cuối năm 31.12.2023. Cảm ơn Quyền và các cháu Dung Phan, Hà, Hải… ở Lagi đã ghi hình buổi Họp Mặt rất nhiều kỷ niệm của riêng tôi với quê hương Lagi, Hàm Tân, Bình Tuy…

Cảm ơn các nhà thơ Đỗ Ái Liên, Phan Chính, Cao Hoàng Trầm, Dũng Nguyên… và các thân hữu văn nghệ sĩ Lagi, cùng anh chị em, bà con họ hàng, bạn bè thân thiết … đã tham dự buổi Họp Mặt. Riêng cảm ơn các cháu Trí và Đông của LagiFarmstay.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư của anh Hai Trầu phúc đáp ĐHN

20/12/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Kính chào Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,

Dà, rất vui được anh Ngọc nhắc trong Thư gởi bạn xa xôi vừa rồi. Xin đa tạ bác sĩ nhiều lắm!

Thật tình là bây giờ ở tuổi ngoài 80 này thì cái gì cũng ngán hết bác sĩ ơi! Thấy cục đá chắn ngang lối đi cũng sợ vấp té! Thấy cái cây đang cần nước phải tưới gấp vậy mà muốn lấy cặp gàu gánh nước dưới mương để tưới vài gàu cho cây chống chọi với nắng gắt năm ba ngày mà cũng ngán, làm hổng nổi!

Còn ba cái vụ sách vở lại càng ngán ngẩm dữ lắm nữa vì tuổi già mắt kém, tai điếc, nên đọc sách nhiều lúc đọc bên này chữ chạy qua bên kia, ít khi còn nhớ mình đọc gì nhưng nhờ có cái vui là hối đó tới giờ, tôi có thói quen đọc sách là ngồi xuống ghi lại cảm tưởng của mình hoặc có cây viết trên tay rồi chỗ nào hay là mình gạch đít để dành có khi mình sẽ đọc lại, có khi lâu ngày mình ngồi xuống chép lai và nhờ vậy mà mấy chục năm nay có được bộ sách NGƯỜI ĐỌC & NGƯỜI VIẾT bốn cuốn I, II, III và IV như Bác sĩ nhắc bên trên.

Bộ sách đó chỉ là những cảm nghĩ vụn vặt khi đọc sách, ở đó không phải là văn chương mà là những cảm tưởng rất thực tình của một người đọc nhà quê già khú đế mê đọc sách từ hồi còn trẻ tới giờ mà cũng là cái thú vui của tuổi già khú đế này khi mấy đứa con giúp ba của các cháu in được thành sách để dành kỷ niệm trong gia đình.

Ngoài ra, tôi cũng có ghi chép một số cảnh vật cùng đời sống dân quê tôi qua những mùa màng rồi gom góp lại in được đâu cũng chừng bảy tám cuốn và có lần mới đây tôi có ghi lại “Thử nhìn lại các tựa sách của mình” trong đó có đoạn:

“Hôm nay ngồi nhìn lại các cuốn sách có trước mặt (mà tôi không dám gọi đó là những tác phẩm vì thực ra đó chỉ là những trang viết lan man chơi thôi chứ không có dụng ý làm văn làm sách gì nên hổng dám nhận là tác phẩm là do vậy); thiệt tình đó là món quà vô cùng quý báu mà mình không ngờ thực sự nó đã có trước mặt mình như vậy!

Việc đánh giá sách hay hoặc sách dở, sách có giá trị hay không có giá trị là do ở người đọc; còn riêng tôi, tôi không biết nó hay hoặc dở thế nào, nhưng chắc chắn ở trong mỗi trang sách ấy dường như là mỗi trang đời mà mình có lúc hít thở cùng nhịp sống chẳng những mình đang sống với chính những gì mình đã ngồi chép lại mà nó còn là những kỷ niệm, những trang đời mà có lúc mình đã sống qua với chính nó; ở đó chắc chắn là những chất liệu sống rất thật, không màu mè, không tô vẽ, không thêm thắt, không trau chuốt để cho các trang sách ấy thành văn, thành sách mà cốt chỉ như một thú vui, một cách trị bịnh mau quên khi tuổi già cứ theo thời gian vùn vụt ùa lên tóc mỗi ngày, mỗi ngày… không kịp thở vậy! Có lẽ chính vì thế mà các trang sách vừa gom góp lại được này, cách nào đó nó rất hợp với cái chất hiền hòa, chất phác của mình mà cũng hợp với những tình cảm nhớ nhung, những suy nghĩ từ một người nhà quê già như mình có lúc đã sống và đã suy nghĩ như vậy.”

Vài hàng kính gởi san sẻ cùng Bác sĩ và một lần nữa xin chân thành cảm ơn Bác sĩ nhiều lắm là lúc nào cũng nhớ và nhắc người đọc sách nhà quê già khú đế này vậy.

Thân mến,
Hai Trầu Lương Thư Trung

Houston (Lấp Vò), ngày 19/12/2023.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

16/11/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Một Ngày Ở Hà Nội

Từ Mèo Vạc, trở về Đồng Văn tính ghé Sông Nho Quế, tiện thì đi thuyền trên dòng sông tuyệt đẹp giữa hai vách núi dựng đứng đó nhưng sương mù dày đặc, đành uống Cafe ở Panorama mà nhìn Nho Quế mờ mờ nơi xa… Tiếc quá! Thời gian lại gấp rút, phải về Hà Nội ngay trong đêm. Đến Hà Giang còn bị kẹt đường vì núi lở, phải đợi. Trên đường, ghé Seo Mẩy mua ít quà bánh làm bằng Tam giác mạch về tặng bạn bè.

 

Đến Hà Nội đã gần nửa đêm. Oải, rả rời. Thế mới biết “già mà ham” leo đồi leo núi ỏ Cao Nguyên Đá cho đã đời là vậy! Tuy vậy, sáng Chủ nhật 5.11.23 khi nghe tiếng chuông Nhà thờ lớn đổ lúc 6h30, cũng vội vả đến Nhà Thờ lớn thăm chút, rồi ghé Chùa Bà Đá cũng gần đó. Thả dọc ra bờ hồ Hoàn Kiếm. Đã nhộn nhịp. Quán cafe Lạc Thuỳ ở bờ hồ đã đông đúc. Vài bà đẩy xe bán bánh cam, cốm vòng… và những cô nàng quang gánh cốm vòng mùa thu đợi khách như cái thuở trong tiểu thuyết của Hà nội 36 phố phường quen thuộc ngày xưa… nhờ đọc Tự lực văn đoàn hồi còn nhỏ! Gởi bạn vài hình ảnh sinh hoạt coi vui nhe.

Thân mến

Đỗ Hồng Ngọc

 

Bờ hồ Hoàn Kiếm

 

 

Cốm Vòng

Cầu Thê Húc.

Các bé thực hành tiếng Anh với du khách nước ngoài

Các bạn trẻ rất thích xăm hình

 

Vẽ chân dung

 

 

 

Mình đến phố Đinh Lễ, khu sách cổ (thiệt ra sách loại nào cũng có!) tình cờ bước vào Sách Mụ Hoa. Sách chồng chất từ sàn nhà lên tới nóc, chừa lối đi hẹp lé, mua cuốn nào trên cao thì nữ gia chủ trèo thang lên lấy, đúng ngay cuốn đó! Giỏi thiệt!

Rồi thăm hỏi. Chị kêu: Ối là  bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, “Già sao cho sướng” đó à? Tôi thì thấy chả có ai là già cả! Ở đây tôi có đến 30 tựa sách của anh rồi đó. Mình hỏi tại sao chị lấy tên “Mụ Hoa” có phải muốn ví mình là Cô Mụ, nâng đỡ và chăm sóc cho sách không? Chị cười to: “Đúng vậy đó, nhưng không dám nói ra. Nay mới thấy anh nói đó…!”.

Mình bèn tặng bà cuốn Bản thảo: “Một ngày kia… đến bờ” và bà không quên tặng lại một gói Cốm Vòng thiệt to! Vậy đó.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Vài cảm nghĩ nhân chuyến đi Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)

11/11/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (11.2023)

Vài cảm nghĩ nhân chuyến đi Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)

Y như là có “thần giao cách cảm”. Đang loay hoay chọn vài hình ảnh để kể cho bạn xa xôi nghe về chuyến “phiêu lưu” về thăm Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) của mình thì được ngay thư của anh Hai Trầu. Lạ thiệt.

“Dà, anh Ngọc ơi, anh chị dạo này có đi chơi đâu hông? Đang mong “Thư gởi bạn xa xôi tháng 11…” của anh Ngọc đây. Lương Thư Trung (11.11.2023)”

Muốn làm biếng cũng không được nữa rồi!

MÌnh vừa viết “chuyến phiêu lưu”  thì bạn hiểu rồi đó. Tuổi mình mà còn tính chuyện leo Cao Nguyên Đá Đồng Văn, Mèo Vạc, thăm Dinh vua Mèo, thăm nhà  Pao, dốc Thẩm Mã, sông Nho Quế… thì không phải “phiêu lưu” chớ là gì? Già cả lụm cụm rồi, khớp bắt đầu sinh sự rồi, huyết áp trồi sụt bất thường rồi, thế mà nghĩ lại, bây giờ mà không đi một chuyến… thì còn chờ đến bao giờ nữa…! Nhân có thằng con nghỉ phép mấy ngày chịu “dẫn đường” cho Ba Má thì còn gì hay hơn. Dặn trước, chỗ nào khoẻ, đủ sức thì đi, chỗ nào mệt thì thôi. Do vậy, mình cũng không thể đi theo “tua” cùng mấy bạn trẻ (dưới 80) được nữa rồi. Phải tự tổ chức “tua” riêng mà thôi.

Bạn nhớ Sông Lô không? Nhớ Trường ca Sông Lô của Văn Cao không? Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u/ Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu… Và Tiếng hát Sông Lô của Phạm Duy Trên nước sông Lô, thuyền tôi buông lái như xưa/ Sau lúc phong ba, thuyền tôi qua bến qua bờ … mà ngay từ hơn 70 năm trước bọn mình đã nhớ lõm bõm, nay thì Sông Lô đây rồi, mênh mông, xanh mướt. Cứ tưởng Sông Lô chỉ có ở Phú Thọ, Việt Trì, ai dè Sông Lô dài dằng dặc, xuyên suốt các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc…

Sông Lô (Hà Giang)

Lạ, ở TP Hà Giang có Cột mốc “Cây số 0 Km” được nhiều du khách chụp hình kỷ niệm. Mình hơi ngạc nhiên, không biết Cây số 0Km này nghĩa là sao. Ở Mũi Cà Mau, cực Nam, mình cũng có đến Cây số 0 Km, là đánh dấu cột mốc biên giới. Xưa, ở tả ngạn sông Bến Hải, cũng có Cột cây số 0 Km, lúc chia đôi hai bờ Nam Bắc. Hỏi ra mới biết Cột số 0 Km này chỉ có nghĩa là trung tâm Thành phố Hà Giang, từ đó toả đi các nơi. Nghe nói Hà Nôi cũng sẽ có Cây số 0 Km ở Hồ Hoàn kiếm thì phải?

Nghỉ đêm ở khách sạn Yên Biên, rất đẹp. Nhìn núi non tầng tầng lớp lớp. Núi vắt qua mây, núi bay trên mây… thật khác những nói khác, mây bay lửng lờ trên núi.

Hà Giang 2.11.2023

Thú vị, Hà Giang có Yên Biên, thì Kiên Giang có An Biên, An Giang có Tịnh Biên… Quả là niềm mơ ước lớn!  Lạ nữa, ở Tiền Giang có Xẻo Mây (Cái Bè), thì ở Hà Giang có Seo Mẩy! Trời đất. Nơi  Xẻo Mây, nơi Seo Mẩy. Thiệt là dễ thương hết sức!

Đi ngang Tuyên Quang, còn di tích thành Nhà Mạc, thế kỷ 15. Chỉ còn chút kỷ niệm.

Đã quá trưa, ghé vào một quán ven đường: cá suối, tôm sông, gà đồi, cua đay, rau luộc… tuyệt vời! Xôi thì xôi ngũ sắc, chè cũng chè ngũ sắc…

Đường sá ở Hà Giang nghe nói đã khá nhiều lắm rồi đó. Mà đi vẫn rợn người. Đèo cao, vực sâu, hun hút. Sương mù giăng mắc khắp nới. Núi “tai mèo” nhô lên trùng trùng điệp điệp, còn hở chút hẻm đất đá nào thì trồng bắp, trồng tam giác mạch (Kiều mạch). Có những khu vườn Tam giác mạch rực rỡ mùa  hoa. Tuyệt đẹp.

Hoa tam giác mạch (Kiều mạch)

 

Đèo Thẩm Mã có lẽ là đèo đẹp nhất, lãng mạn nhất. Nghe nói xưa, là nơi thử sức ngựa.

Đèo Thẩm Mã

Núi đôi ở Quản Bạ là một kỳ quan. Bắt đầu thu rồi, hình như núi đôi cũng bớt khoe sắc.

 

 

 

 

 

Mã Pì Lèng xuống sông Nho Quế sương mù dày đặc. Đành chịu, đứng nhìn từ quán Cafe Panorama.

Đến Đồng Văn đã tối. Mọi người dùng món đặc sản Lẩu gà đen. Mình chịu. Chỉ quen ăn cháo buổi tối. Rồi “tranh thủ” đi tham quan Phố Cổ Đồng Văn vào ban đêm. Có vẻ như… massage chân là đông khách nhất. Nhậu, nhảy nhót, ca hát… từng bừng. Những ngày Chủ nhật, Rằm… nghe nói nhiều chương trình đặc sắc lắm.

Phố cổ Đồng Văn

 

 

Sáng sớm, đi Mèo Vạc. Con đường đèo cam go, nay đã được mở rộng, nhưng vẫn rất… rùng rơn.

 

Pả Vi, H’mong là một khung cảnh đẹp.

 

 

 

 

 

 

Ngày thứ 3, từ Mèo Vạc về Đồng Văn rồi về lại Hà Nội, gần đến nửa đêm. Khá vất vả.

Hẹn thư sau nhe.

Thân mến.

Đỗ Hồng Ngọc

(11.11.2023)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định

Tuệ Sỹ: “Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn”

13/10/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

Chén trà lão Triệu mà chưng hoa ngàn

Đỗ Hồng Ngọc

Thị giả của Thầy Tuệ Sỹ nhắn tin tôi: Thầy Tuệ Sỹ đang ở Sài Gòn. Mời Bác đến Hương Tích chơi. Tôi đến. Tuệ Sỹ gầy ốm, xanh xao lắm. Nhưng vui vẻ, hoạt bát, thông tuệ như bao giờ!

Thầy Tuệ Sỹ và Đỗ Hồng Ngọc (ảnh Quảng Ngộ, 9.2023)

Thầy viết tặng tôi tập Thơ song ngữ: Dreaming the Mountain do Nguyễn Bá Chung và Martha Collins dịch (2023), cùng với cuốn Phạm Công Thiện của Nohira Munehiro (Võ Thị Vân Anh dịch) và Phật Học Luận Tập, số mới nhất.

Phần tôi, gởi tặng Thầy bản thảo “Một ngày kia… đến bờ” vừa mới viết xong. Trong đó tôi viết: Phật cũng già, cũng bệnh và… cũng chết; viết về Phật là Như Lai nhưng… Như Lai không phải Phật; về Thiền và những hormones hạnh phúc; về “Chất lượng cuộc chết” v.v…

Thầy đưa tôi coi mấy phiếu xét nghiệm và cười, nói: “Chỉ còn một nửa”. Đúng. Chỉ còn một nửa. Hématocrite chỉ còn 17%, Hémoglobine còn 7g/dL…

Mấy ngày sau tôi nghe sức khoẻ thầy đang rất yếu. Đã phải vào bệnh viện và được truyền 3 đơn vị hồng cầu lắng.

Trong bản thảo “Một ngày kia… đến bờ”, tôi có nhắc Je pense donc je suis của Descartes: Tôi tư duy, vậy có tôi. Vậy không tư duy là không… có tôi! Ta cũng có thể nói như một thầy thuốc: “Tôi thở, vậy có tôi”. Nghĩa là tôi không thở thì không có tôi. Nhưng cái thời tôi còn ở trong bụng mẹ, tôi cũng không thở mà vẫn có tôi đó thôi. Vậy phải chăng cái thời tôi… hết thở, tôi ngừng thở, thì tôi không còn nữa? Còn chứ! Tôi lúc đó lại trở về bào thai Mẹ, bào thai Như Lai (Tathagata-garbha) đó chứ!

Tuệ Sỹ viết trong Tổng quan về Nghiệp (2021), Thời kinh nói: “Thời gian đến, chúng sinh chín muồi; thời gian đi, chúng sinh bị hối thúc. Thời gian thức tỉnh chúng sinh…” Đây là tri giác về thời gian theo chu kỳ sống chết của sinh loại. Tri giác về thời gian cũng là tri giác về sự chết. Thời gian được biết đến từ tri giác về sự sinh thành và hủy diệt của một đời người.

Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng

Như sương mai, như bóng chớp, mây chiều. 

Thì ra là lời của kinh Kim Cang đó:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện.

Ưng tác như thị quán!

 

Thành ngữ kālaṃ karoti, “nó tạo tác thời gian”, nghĩa là nó chết. Đây không phải là tri giác mà là ám ảnh về thời gian như một thứ định mệnh không thể tránh, rồi ai cũng phải chết. Cho nên, về mặt ngữ nguyên, kāla, nghĩa là thời gian mà cũng có nghĩa là màu đen tối, màu của đêm tối, của sự chết. Kāla cũng được hiểu là do gốc động từ kal (kalayati) thúc giục, hối thúc, sự chết đang hối thúc ta (Tổng quan về Nghiệp,Tuệ Sỹ).

Lửa đã tắt từ buổi đầu sáng thế

Một kiếp người ray rứt bụi tro bay 

(Ngồi giữa bãi tha ma)

Trong bài “Phương nào cõi tịnh”, Tuệ Sỹ viết từ cảm hứng khi đọc cuốn “Cõi Phật Đâu Xa” của tôi về Kinh Duy Ma Cật (2017), ông dẫn 4 câu thơ, trích từ Giấc Mơ Trường Sơn:

Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh,

Ngoài hư không có dấu chim bay?

Từ tiếng gọi màu đen đất khổ,

Thắp tâm tư thay ánh mặt trời. 

(Giấc Mơ Trường Sơn)

Phải, chỉ có Trí Tuệ (thắp tâm tư thay ánh mặt trời) mới có thể Từ Bi giúp ta vượt thoát màu đen đất khổ đó vậy!

Tuệ Sỹ cho rằng, “vì trình độ ngôn ngữ và năng lực tư duy của chúng ta vốn hữu hạn, cho nên bằng con đường nghệ thuật mà đi vào ngõ đạo có thể tương đối dễ hơn” (Phương nào cõi tịnh), ông chủ trương thơ, nhạc, vũ, kịch… có thể là “ngõ đạo”.

Ông thường nói về vở nhạc vũ kịch Duy Ma Cật, ở đó có hình tượng một Thiên nữ rải hoa trời tán thưởng một lời không nói (của Duy Ma…) và cõi của một lời không nói đó chính là cõi thơ.

Giữa thế giới Ta-bà và cõi Phật Chúng Hương, tòa sư tử và thành Tì-la-da, cái vô cùng lớn đến trong cái vô cùng nhỏ, và cái nhỏ đi vào trong cái lớn: đây cũng là cặp phản diện bối cảnh làm lộ rõ thể tính tồn tại của thế gian, vũ trụ. Bằng hình ảnh đó mà tập luyện cho tư duy vượt ngoài khuôn sáo ước lệ, vượt qua thế giới thường nghiệm để vươn lên cảnh giới siêu nghiệm, bất khả tư nghị.

Như thế, đọc Duy-ma-cật sở thuyết như đang xem một kịch bản, với những nhân vật và bối cảnh phản diện, với những biến cố mang đầy kịch tính, đó là cách tự huấn luyện và tự trang bị cho mình một công cụ định hướng tư duy để vươn lên chiều cao của giác ngộ.

Da mồi tóc trắng, chính là cảnh giới của Duy Ma. Cảnh giới đó là cõi đối biện thượng thừa; cõi im lặng vô ngôn bát ngát của cư sĩ Duy Ma Cật. Và cũng là cõi tịch mặc nhưng tráng lệ của thi ca.

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh 

(Khung trời cũ)

 

Tâm Thiền thì không có ngôn ngữ gì khác biệt với ngôn ngữ thường tình. Nhưng còn ngại rằng khi đã cạo tóc mà tình thơ vẫn còn. Thôi thì, thiền đạo và thi ca là đồng hay là khác, cũng chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi.

Có lẽ “Những phím dương cầm” là bài thơ rất tình của ông tay em run trên những phím lụa ngà, anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt, nhưng ông đã dặn “chớ nên nghi ngờ mà tra hỏi” rồi đó!

Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca

Tay em run trên những phím lụa ngà

 

Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn

Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt

 

Mờ phố thị những chiều hôn mái tóc

Sóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa 

(Những phím dương cầm)

Bởi theo ông, đạt tới cõi thượng thừa của Thơ, như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo; cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền ba mươi năm, ba mươi năm đày đọa thân tâm, mà không thành. Phẫn chí, bỏ đi; bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông! Muốn cho lời thơ tuyệt diệu, thì phải là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh. Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời, mà thấy mình như nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng, chua chát; trong đó có cái hương vị tuyệt vời. Thơ và Pháp (Đạo) không chống trái nhau, không hại nhau. (Tô Đông Pha, những phương trời viễn mộng, Tuệ Sỹ)

Đọc thơ Tuệ Sỹ, tôi thường ngẫm ngợi tại sao thơ ông thường nhắc đến ngày hội lớn, cung trời hội cũ?

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang 

(Khung trời cũ).

 

Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn

Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao 

(Một thoáng chiêm bao)

Ngày hội lớn đó ở đâu? Cung trời hội cũ ở chỗ nào đó vậy? Sao nghe thấy quen quen!

A, có phải buổi hôm đó, dưới cội Bồ đề nơi Đức Phật thành đạo, Ngài nói đó là “quả an vui”, ở Hội thứ nhất của Avatamsaka, một thế giới hoa tạng mở ra bát ngát, Như Lai đã hiện tướng thành một vị Phật mắc biếc, ngây thơ, tủm tỉm cười… như hồi còn là chú bé 7, 8 tuổi ngồi xem Lễ Hạ Điền mà nhập định không hay?

Còn cung trời hội cũ kia phải chăng là Hội thứ chín, nơi rừng Thệ Đa, khi người ta nhập pháp giới, đi vào cuộc Lữ, để thấy được pháp giới thể tính mà thõng tay vào chợ?

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan 

Trên đỉnh Hy-mã-lạp- sơn kia là những vỏ sò và dưới đáy biển sâu thẳm nọ là những hạt muối lâu đài thành quách…

 

Cõi thơ, có đến và có đi, nhưng không hề có dấu vết. Một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm.

Tôi vẫn nghĩ, chính cõi thơ “không hề có dấu vết” kia đã “cứu rỗi” Tuệ Sỹ, một cánh chim Nhạn, một cánh chim Hồng ngoài ven trời vạn dặm, để ông được trở về với mái nhà tranh quen thuộc của mình mà “nâng chén trà lão Triệu”. (Phương nào cõi tịnh, Tuệ Sỹ).

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, tháng 9.2023)

 

 

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (9.2023 tiếp)

27/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (9.2023 tiếp)

Bạn thân mến,

Thứ bảy rồi, 23.9.23 mình có buổi “Trò chuyện” cùng các bạn trong Lớp Phật học & Đời sống ở chùa Xá Lợi, Tp. HCM. Lớp được Thầy Đồng Bổn trụ trì chùa Phật học Xá Lợi cho phép thực hiện từ 2017, đến nay cũng đã được 6 năm rồi chớ ít gì! Trước kia, tuần nào mình cũng có một buổi trao đổi rất “sôi nổi” vói các bạn, với sự trợ giúp của Cư sĩ Minh Ngọc và Cư sĩ Trí Tâm (Tô Văn Thiện). Các buổi thảo luận Phật pháp “ứng dụng” vào Đời sống này còn được Nguyễn Văn Quyền quay video clip đưa lên youtube với hơn 50 buổi để chia sẻ cùng bạn bè ở xa hoặc chưa có cơ hội đến lớp. Lúc đầu mình đặt tên lớp là “Lớp Lỏng Lẻo”, nghĩa là ai muốn học thì đến, cùng học, cùng chia sẻ với nhau, không ghi danh, không học phí… vậy mà cũng khá đông các bạn tham gia tích cực. Vài năm nay mình đã “già yếu”, không còn đến Lớp thường được như xưa, anh em bạn bè nhắc…

 

Buổi sinh hoạt Phật học & Đời sống ngày Thứ bảy 23.9.2023 tại chùa Phật học Xá Lợi.

Mình đọc một bài Thơ của Thầy Thích Từ Thông, Như Huyễn Thiền sư để các bạn cùng thảo luận. Thầy Từ Thông, sinh 1927 tại Trà Vinh, nay đã 96 tuổi, ở Lâm Đồng. Xưa, có lần được gặp Thầy ở Tân Uyên, Bình Dương lúc thầy hãy còn trẻ, ngoài 70. Lần đó thầy bảo sách của thầy đầy tủ, muốn lấy cuốn nào thì lấy. Lúc đó mình ôm cũng chừng 5,7 cuốn “Trực Chỉ” của Thầy, giảng kinh rất sâu sắc mà phóng khoáng. Thầy đã từng là Hiệu trưởng Trường Phật học Trung Cấp nhiều năm.

Thầy có bài thơ gần đây rất thú vị, nói về chuyện “tụng”:

Ta và Nó (Lời than của Phật)

Ta nói Kinh cho chúng nó nghe

Ai dè chúng Tụng bắt Ta nghe

Tuổi già tám chục nghe gì nữa?

Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè!

(Như Huyễn thiền sư).

Phật “nói” ra thì đã thành Kinh sách. Nói để dạy Đạo, dạy cách sống, giải thoát khổ đau cho kiếp người. Khi Phật nhập Niết bàn, được các đệ tử ghi chép lại thành Kinh. Bây giờ thiên hạ “tụng” không ngớt và mỗi lần Tụng kinh thì “thỉnh Phật” chứng giám. Đã mấy ngàn năm qua, người ta vẫn tụng, vẫn thỉnh Phật để Phật cùng “nghe”. Tuổi 80, Phật nhập Niết bàn, vẫn phải tiếp tục ngồi nghe… đến bây giờ!

Thầy Như Huyễn Thiến Sư gốc Trà Vinh, lời thơ có những từ rất Nam bộ như “bắt Ta nghe”, “sụm bánh chè” rất thú vị. Ngồi “trân” là ngồi ngây đơ,cứng ngắt, đứng dậy sụm đầu gối…

Vấn đề thảo luận là nên đọc Kinh cách nào cho hữu ích? Nhớ rằng, nhờ đọc kinh ê a mà tâm lắng đọng, nhờ đọc kinh to tiếng mà Huệ Năng nghe trộm câu Kinh “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà giác ngộ. Nhưng nếu đọc Kinh mà thành mê tín, dị đoan, vì không hiểu ẩn nghĩa, từ ngữ trong Kinh thì chỉ thêm mệt mỏi, đau ốm rồi “đổ thừa” Phật. Trước khi nhập Niết bàn Phật nói, ta chưa hề nói điều gì, ta chưa dạy ai điều gì, bởi vì Phật biết sau này có Internet, có AI… dễ bị xuyên tạc, làm sai, rồi đổ thừa lắm!

Trong tập Như Huyễn Thiền Sư Thi Tập, trang 320, có khác vài chữ. Trực Chỉ là lời giải của Thầy.

NHƯ HUYỄN THIỀN SƯ THI TẬP (TRỌN BỘ) – HT.TỪ THÔNG 

TA VÀ NÓ.
(Lời than của Phật)

Ta nói kinh nhằm dạy nó nghe,
Nào ngờ nó lại bắt ta nghe.
Tuổi già tám chục nghe gì nữa?
Chín tiếng ngồi trân sụm bánh chè!

TRỰC CHỈ.

Kinh :Gọi đủ là KHẾ KINH. Kinh là dùng văn tự ghi chép lời Phật dạy, do hàng đệ tử Phật kiết tập sau này. Sinh tiền Phật chỉ nói chớ chẳng thèm ghi. Bởi vì, những gì Phật nói không phải của Phật. Đó là tài sản chung của loài người, là tánh vốn có của vũ trụ thiên nhiên.

Tụng kinh, đọc kinh, nghe kinh, học kinh cốt để biết, để nhớ, để ứng dụng qua đời sống thực tiễn của con người. Ứng dụng lời Phật, ý kinh con người sẽ cởi mở, buông bỏ, gột rửa những nguyên nhân và quả khổ ràng buộc, bức bách , khổ đau trong cuộc sống. Chủ đích của sự tụng nghe, học kinh là ở đó.

Tụng kinh không cần thỉnh Phật nghe, Phật thuộc rồi mới nói ra, đệ tử ghi lại đó chứ. Tám mươi tuổi rồi. Từ khi viên tịch đến thế kỷ XXI này, hơn hai ngàn năm rồi. Vậy mà mời Phật dự những buổi tụng kinh 8, 9 tiếng đồng hồ, hãy tưởng tượng Như Lai chịu sao cho nổi? Mà Như Lai nghe để làm gì? Như Lai nghe để khen và ban phước ư? Như Lai không làm được điều đó!

Tu học Phật cốt yếu là “sửa” mình, sửa thân, khẩu , ý. Mong chờ ở đạo Phật cái gì khác sẽ thất vọng cho đến lúc vĩnh biệt trần gian.

NHTS.

…………………………………………….

Rồi nhớ tháng trước, mình có dịp đi cùng các bạn trẻ thăm Sư Viên Minh. Hôm đó Thầy tặng mình cuốn Thi kệ của Thầy, và thầy đọc cho mọi người nghe mấy câu thi kệ ở trang 330.

Bỏ Tông, về lại chính mình

Bỏ Dòng, bỏ Phái, bỏ Kinh ngôn từ

Ngay đây thấy pháp vốn như

Tuyệt không sở đắc: Vô Dư Niết-bàn!

Sư Viên Minh

 

Bạn nghĩ thế nào?

 

Thăm Sư Viên Minh ở Chùa Bửu Long, Q9,

Một bài kệ của Thầy Viên Minh trong cuốn Thi kệ Chân Như Thực Tại, trang 330

 

 

 

 

 

 

Vậy nhé,

Chúc An Vui,

Đỗ Hồng Ngọc.

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi (9.23): Lagi mùa nước nổi

26/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi (9.23)

Thân gởi bạn,

Đã lâu. Thật có lỗi. Người hiền lành như anh Hai Trầu mà cũng phải cằn nhằn. “Tui mong Thư gởi bạn xa xôi của anh để biết anh… còn khoẻ không và đang làm gi, mà mãi chẳng thấy…”. Khoẻ không thì mình cũng hổng biết anh Hai à. Chỉ thấy bây giờ thường uể oải khi thay đổi thời tiết. Làm biếng. Mưa bão triền miên. Saigon ngập lụt. Đà Lạt cũng ngập lụt, lún sụp, sạt lở…

Lúc này có dịp thì chạy về Phan Thiết, Lagi quê mình chơi, thường đi cùng mấy người bạn, tìm chỗ yên tĩnh, cụng cà phê, cụng dừa…

Dịp này mình cũng “ra mắt” tập Bản thảo Tuỳ bút: “Một Ngày Kia… Đến Bờ” vừa in ít mẫu pretesting.

(https://thuvienhoasen.org/a40038/mot-ngay-kia-den-bo)

Gởi bạn vài hình coi vui nha.

Cafe Cánh Đồng Lagi 9.2023

 

Cocobeach Ngô Tiến Nhân và ĐHN

 

 

Đập Đá Dựng (từ trái) Thanh Nguyên, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Phi Hùng, Diệu Viên (Mai Thuý), Ngô Tiến Nhân (Nhóm Học Phật chùa Xá Lợi Sàigòn)

 

Cafe sáng với nhà văn Nguyễn Lệ Uyên bên hồ nước

 

Vườn cau, ao cá. Tối ếch kêu, sớm gà gáy, đầy tiếng chim…

 

Đỗ Hồng Ngọc, “nhà quê thứ thiệt” và một chốn thân quen.

 

Vậy nhe,

Thân mến

ĐHN

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

Nguyễn Thị Khánh Minh: MƯA BAY THEO THỜI GIAN

25/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

MƯA BAY THEO THỜI GIAN

Nguyễn Thị Khánh Minh
Hoa phượng sân trường
 
     *tặng Duyên.
Những con đường nắng gọi. Leng keng tiếng chuông người đưa thư reo ngát cổng hoa sứ. Những lá thư hẹn hò năm tháng. Ta yêu nhau tuổi hai mươi. Trời sài gòn rất thơ. Nắng Sài Gòn rất lụa. Nên em hoài áo trắng. Nên anh yêu mầu áo ấy vô cùng.* Ơi thi sĩ nhịp tim dịu mềm cỏ mật.
Những con đường mưa xanh. Trời sài gòn rất nhạc. Nhạc sài gòn rất mộng rất điên mơ… thà như giọt mưa rơi trên mặt duyên em tóc ngắn học bài ngoan bên cửa sổ người từ trăm năm về ngang trường Luật chút đong đưa tiễn người mai xa phố, mộng mị hành trang nhớ hạt mưa thơm Sài Gòn hút bóng đường xa thương người thơ cô độc.**
Thảng thốt cánh phượng mùa Hè. Trời tung gió chướng. Giấc mơ sai bè thanh xuân cụt giọng đồng ca những nốt ngày rụng rơi bóng tối. Trời Sài Gòn phượng tan mùa nắng lửa. Đường Sài Gòn cuồn cuộn biển đưa chân. Ta chạy mòn hơi. Mưa khô trên tượng đa*** những duyên Sài Gòn những hạt mưa trong…
Run rẩy thời gian nghe thanh xuân chớm chở nhánh thu đông. Lá thư xưa giấy mềm như bụi những hẹn hò chờ mãi lãng quên. Mầu áo lụa phai rồi sắc nắng lời thơ người khô tượng đá xanh. Hạt mưa còn thơm trên mặt duyên để nghe Sài Gòn âm vang điệu thanh bình cũ ơi đâu rồi nước mắt mỏng tơ sương?
Con bọ cam trên chiếc lá đầy gai sáng nay gọi mặt trời thức dậy. Khóa Sol búng mình nhấp nháy. Một vòng mùa đệm mới những bổng trầm reo khúc hát thanh tân, những nốt nhạc long lanh hạt mưa trong ngày ấy. Ơi duyên những hạt mưa qua mùa. Sống sót. Ngân thời gian lệ vĩnh cửu hồn nhiên.
Em thấy anh trên con đường bình minh. Nắng tháng 3 anh đem tới. Mùa Xuân mở vàng daffodil. Và em. Vừa qua giấc ngủ đông. Mọc lên trái tim thanh khiết.
Trở lại. Cùng tháng năm. Mùa Xuân khoan thai khúc dạo đầu. Ta cũng vừa kịp tới. Rất đúng nhịp. Mưa mùa xuân rất trong. Trời Calif. rất xanh.
22.3.2017
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
(Nguồn: sangtao@org)
* Nguyễn Thị Khánh Minh
** Thơ Nguyên Sa.
*** Thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy
(nguồn: Nguyễn Xuân Thiệp phovan)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Nghĩ từ trái tim

Trần Vấn Lệ: Bây Giờ Ngày Nửa Ngày Thôi

22/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Bây Giờ Ngày Nửa Ngày Thôi

Bây giờ… ngày nửa ngày thôi:  sáng e ấp nắng, trưa trời âm u.  Sẵn sàng để đón mùa Thu, lá xanh đang úa rồi từ từ rơi…
Bây giờ, ngày nửa ngày thôi.  Dẫu còn một nửa hơn ngồi phủi tay?  Triệu người đi đó đi đây, sống tha hương để thấy ngày tha hương!
Dĩ nhiên ai cũng nói buồn, may ra đám trẻ đến trường thì vui?  Chiếc xe bus vàng thả hơi khói xanh mấy cọng chút bùi ngùi bay…
Hôm nay tôi nói về ngày:  chút gang tấc đủ ngất ngây it nhiều! Mai không có sáng, còn chiều, mùa Thu, Đông vẫn cố phiêu phiêu bồng!
 
Em à, thương chẳng nên đong… bởi bao nhiêu nhớ ở cùng tóc xanh!  Bờ sông gió có rập rình đủ khuây khỏa nhé lòng mình xót xa! 
 

Trần Vấn Lệ

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

LỜI BẠT viết cho cuốn Tuỳ bút “MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” của Đỗ Hồng Ngọc. 

06/09/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

LỜI BẠT viết cho cuốn Tuỳ bút “MỘT NGÀY KIA… ĐẾN BỜ” của Đỗ Hồng Ngọc. 

Nguyễn Minh Tiến

Tôi nhận được bản thảo này của anh Đỗ Hồng Ngọc với lời nhắn gửi thân tình:
“Anh nhờ em ĐỌC giùm, và viết cho anh một lời Bạt.” Chữ “đọc” anh cố ý viết in
hoa làm tôi hơi… sợ. Với một bậc đàn anh đa tài mà tôi luôn kính trọng, tôi tự biết
việc đọc và viết lời Bạt cho tập sách đặc biệt này của anh quả thật không dễ. Tôi
không dám chắc rằng mình có thể đọc hiểu đúng và đủ những ý tưởng độc đáo của
anh để có thể viết ra một lời Bạt đúng nghĩa.

Nhưng rồi hôm nay vẫn phải mở sách ra đọc để cố gắng viết một lời Bạt như lời
anh dặn, cũng là lúc một trong những người đàn anh thân thiết đã vĩnh biệt chúng tôi
để ra đi “về cõi hoang sơ” như lời thơ anh ấy nói. Có vẻ như khi mái tóc đổi màu
thì chúng ta càng có nhiều cơ hội hơn để cảm nhận những bài học về vô thường.

Anh Đỗ Hồng Ngọc là người từ lâu tôi quý mến, và anh cũng xem tôi như đứa em
thân thiết, nhưng không phải vì thế mà tôi dám dễ duôi tự cho phép mình quên đi
việc anh là một “cây đại thụ” trong thế hệ những người đi trước mà tôi may mắn
được biết tên. Tôi từng đọc Nguyễn Hiến Lê viết về anh: “Một bác sĩ, lại là một thi
sĩ thì luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị…” Tôi biết, không có
nhiều nhà thơ hay nhà văn đương thời tạo được ấn tượng tốt đẹp với lời ngợi khen
như vậy từ một người uyên bác và nghiêm túc như Học giả Nguyễn Hiến Lê, và
bọn hậu sinh như chúng tôi không thể không vui mừng khi may mắn có được tấm
gương sáng như anh để noi theo, trong sự học tập cũng như khi tập tành viết lách.
Và bây giờ thì anh đã cho tôi thêm một sự ngạc nhiên thú vị nữa qua tập sách này,
khi anh còn là một tấm gương sáng trong sự tu tập Phật pháp. Tôi bỗng dưng muốn
lặp lại nhận xét của Học giả Nguyễn Hiến Lê, tất nhiên là với một chút “cải biên”
của riêng tôi: “Một nhà văn, bác sĩ, lại là một thiền sư thì luôn làm cho chúng ta
ngạc nhiên một cách thú vị…”

Tôi biết là anh không muốn và thậm chí có thể sẽ trách nhẹ tôi vì đã gọi anh là
“thiền sư”, nhưng tôi không… sợ. Vì tôi tin là tôi có thể chứng minh rằng tôi nói
đúng. Sự kết hợp những phẩm tính của nhà văn, bác sĩ và thiền sư trong anh đã hòa
quyện, biểu lộ rất rõ với tập sách này.

Ngay cái tựa đề “Một ngày kia đến bờ” mà anh mượn trong ca từ nhạc phẩm Phôi
pha của Trịnh Công Sơn cũng đã cho thấy cái tố chất mơ màng lãng mạn của một

nhà văn. Nhưng trong khi Trịnh Công Sơn gây cho chúng ta một nỗi buồn man
mác khi nhìn lại “đời người như gió qua” thì Đỗ Hồng Ngọc lại chuẩn bị cho “một
ngày kia đến bờ” với tinh thần tích cực của một người học Phật và hiểu Phật, cho
một cuộc viễn du với tấm thông hành đóng dấu “well-dying”.

Và khi nghe anh bàn về “well-being” với “well-dying” thì chúng ta không còn nghi
ngờ gì điều đó nữa. Anh nói về những chuyện này với tư cách là người trong cuộc,
không giống như bàn chuyện người khác. Những gì anh nói, ta có thể thấy rõ đều
là những cảm nhận, những trải nghiệm của riêng anh, bằng chính cuộc đời mình.
Anh đã “well-being” ngay cả trong nhiều hoàn cảnh khắc nghiệt, bệnh tật, thiếu
thốn… từ thời thơ ấu, và tiếp tục “well-being” cho đến nay vào độ tuổi U90, độ tuổi
của những chiếc lá vàng hiếm hoi cùng thời với anh còn sót lại. Vì thế, chúng ta có
đủ căn cứ để tin rằng những gì anh nói, anh làm, hoàn toàn có thể bảo đảm cho anh
một viễn cảnh “well-dying” tốt đẹp như dự tính.

Nhà Thiền có câu “sinh tử sự đại”, nay anh đã đối diện, giải tỏa và vượt qua được
cái ngưỡng “sự đại” đó thì chuyện “một ngày kia đến bờ” hẳn cũng là một lẽ
đương nhiên, và chắc chắn rồi sẽ đến trong sự thản nhiên của một “người vô sự”
theo đúng tinh thần của nhà Thiền.

Điều đáng nể phục nơi anh là ở độ tuổi vào bậc huynh trưởng của hàng “cổ lai hy”
nhưng ngòi bút của anh vẫn không mất đi nét dí dỏm, hài hước xưa nay vẫn thường
gặp ở giọng văn anh. Cái chất hài hước nhẹ nhàng ấy như bàng bạc trong mọi tác
phẩm của anh, dù là khi anh viết về chuyện sức khỏe, chuyện văn chương hay ngay
cả về Phật học. Tôi đã gặp không ít người trì tụng hoặc tìm hiểu kinh Pháp Hoa,
nhưng đọc kinh Pháp Hoa mà nhìn thấy được Phật Thích-ca bước vào bảo tháp
“tay bắt mặt mừng” với Phật Đa Bảo thì duy nhất chỉ có anh. Những vấn đề khô
khan trong y học, phức tạp và siêu hình trong Phật học, qua ngòi bút của anh đều
trở nên nhẹ nhàng, vui vui, dễ tiếp nhận.

Và lần này, giọng văn hài hước của anh không ẩn giấu nữa mà khởi đầu ngay từ
tiểu mục “Nghĩ tức cười”, ấy là anh muốn công khai nêu ra những cái “tức cười”
trong cuộc tồn sinh của vạn hữu từ muôn triệu năm nay (hay còn lâu hơn nữa?)…
mà thật ra ai cũng nhìn thấy nhưng lại chẳng biết cười như anh. Bây giờ nghe anh
nói rồi thì thấy đúng là thật “tức cười”.

Nhưng với Đỗ Hồng Ngọc thì cười không chỉ để… mà cười. Cái cười của anh thật
ra là thâm trầm, sâu lắng, khởi đi từ manh mối của sự “Nhìn lại mình”, vốn là khởi
đầu cốt yếu của mọi pháp môn tu tập trong Phật pháp. Không “nhìn lại mình” thì
có bỏ nhà lên núi tu hành miên mật năm bảy chục năm cũng không mong gì đạt
được sự giải thoát hay giác ngộ. Bởi vậy, anh cười như kiểu “vui thôi mà” nhưng
lại bật ra một câu hỏi làm nhiều người choáng váng: “Có kiếp sau không?”
Choáng váng là vì đối với những con người còn đầy tham chấp hỷ nộ ái ố, vất vả
lắm mới quên đi được câu hỏi ấy để sống vui thì bỗng dưng anh khơi lại vấn đề
khiến họ không thể nào vui sống.

Mà thật ra thì anh cũng chỉ đùa thôi. Bởi anh không hỏi để tìm câu trả lời, mà chỉ
để gợi ra những phương thức rất tuyệt vời giúp mọi người vui sống. Đó chính là rõ
biết và chấp nhận “bốn thứ ma” (bởi không nhận thì chúng cũng đang có đó) và
“bắt tay làm hòa”, vui sống với chúng. Nhưng thử nghĩ mà xem, làm được như anh
nói chẳng phải đã là một thiền sư “thõng tay vào chợ” rồi đó sao? Đâu còn bận
lòng gì với tử sinh, sinh tử?

Nhưng rồi anh quá rõ biết tâm niệm “chúng sinh” nên tuy nói vậy mà vẫn ân cần
giải thích. Hẳn anh biết là rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn luôn ưu tư, thắc
mắc. Anh nói về “nghiệp”, về “bản ngã” và rồi cuối cùng chỉ ra một sự thật để ta
thấy rằng mỗi người chỉ có thể nỗ lực tự tu tập để cứu lấy chính mình, bởi vì “Phật
cũng già, cũng bệnh”, và tất nhiên là rồi… cũng chết.

Chỉ qua mấy đoạn văn ngắn với cách đề cập “vui vui” rất đặc thù của riêng anh,
người đọc như bừng tỉnh để nhìn lại chính mình và tự thấy ra cái “cuộc đời như
gió qua” này thật không đáng để chúng ta ôm giữ mãi quá nhiều khổ đau mà hầu
hết đều do chính mình tạo ra. Một cái nhìn nhẹ nhàng nhưng sáng rõ về cuộc đời sẽ
giúp cho cuộc sống của chúng ta cũng tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn. Phải chăng
đây là định nghĩa thiết thực và dễ hiểu nhất của sự giải thoát?

Tập sách khá mỏng nhưng anh đã đề cập đến hầu hết các phần giáo lý quan trọng
từ những bộ kinh quan trọng của Phật giáo như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Kim
Cang, Duy-ma-cật… Đây thật đúng như tinh thần mà anh tự bộc bạch: “Tôi chỉ học
lõm bõm ít kinh Phật…, và cũng chỉ học lấy cái ‘cốt lõi’”.
Thì quả đúng vậy. Những kinh anh đã đọc qua và nhắc đến, nếu so với số lượng
Kinh điển Phật giáo hiện còn trong hai tạng Nam truyền và Bắc truyền thì quả thật

là quá ít. Nhưng hai chữ “lõm bõm” của anh thì tôi thật không khỏi hoài nghi, bởi
lời anh nói là “chỉ học lấy cái cốt lõi” thì quả thật không phải ai cũng làm được.
Bởi muốn làm được cái việc “đãi cát chọn vàng”, từ vô số những ngôn từ phương
tiện Phật đã thuyết trong kinh mà trích xuất ra được “cái cốt lõi” thì phải hết sức
thông thuộc, am hiểu thấu đáo mới có thể làm được.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng “cái cốt lõi” mà anh rút ra từ Kinh điển là “cái cốt
lõi” cho riêng anh, anh không hề có ý đưa ra để làm khuôn mẫu cho ai khác. Chính
cái tinh thần tự khai phá, tự tìm tòi trong sự tu tập của anh mới là tấm gương sáng
để chúng ta noi theo. Anh nói rõ: “Có tới 40 đề mục để thiền quán, tôi chỉ chọn
một…” Với tôi, chính sự chọn lựa này có thể đã quyết định phần lớn khả năng
thành công trong tu tập. Rất nhiều người khi mới đến với thiền phải loay hoay rất
lâu giữa các lựa chọn khác nhau, bởi không biết chắc được mình thích hợp với đề
mục nào, phương pháp nào. Khi hành giả xác định được một chọn lựa thích hợp
cho chính mình, sự tu tập sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn rất nhiều, bởi có thể tập trung
toàn bộ tâm ý vào đề mục đó mà không bị phân tán bởi các lựa chọn khác.
Tôi cũng thực sự thán phục khi đọc qua những tiểu mục anh nêu đại lược chặng
đường anh tìm đến và đi qua nội dung những bộ kinh lớn.

Tôi có cảm giác anh như một nghệ sĩ tài hoa đang ngắm nhìn và cảm thụ một bức
tranh đẹp, không mất nhiều thời gian cho những họa tiết, phông nền… mà có thể dễ
dàng nhận biết ngay những đường nét chính yếu, những ý nghĩa ẩn tàng mà tác giả
muốn thể hiện. Bởi vậy, những bộ kinh đồ sộ đối với nhiều người trong chúng ta
thì qua mô tả của anh trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận hơn, nhưng không vì thế mà
mất đi phần tinh túy. Tôi cũng từng đọc Pháp Hoa, Duy-macật… như anh, nhưng
tôi chưa bao giờ có được khả năng “tóm lược” một cách rõ ràng các điểm tinh yếu
của giáo pháp theo cách như anh.

Một sự “ngạc nhiên thú vị” khác cần đề cập đến ở đây là anh cũng “tóm lược” cả
cuộc đời mình từ ấu thơ cho đến… U90 một cách mạch lạc, dễ hiểu nhưng đầy đủ,
cũng như điểm qua được hầu hết những thành tựu từ ngòi bút của anh trong cả ba
lãnh vực: văn chương, y học và Phật học. Anh chỉ điểm “sơ sơ” thôi mà có đến 7
tập thơ, hơn 60 đầu sách… Những con số hẳn là phải gây ấn tượng với bất kỳ người
cầm bút nào.

Sự “đầy đủ” trong những tóm lược của anh nên được hiểu theo ý nghĩa do chính
anh nêu ra, “bởi chính đó là một trong những yếu tố của ‘chất lượng cuộc chết’”,
và nếu nói theo thuật ngữ chuyên ngành cũng do anh đề nghị thì đó là “well-
dying”. Hẳn độc giả sẽ không khỏi ngạc nhiên đầy thú vị khi thấy hành trình cả
một đời người rồi sẽ chi phối như thế nào đến “chất lượng” của chuyến đi xa cuối
đời.

Có 26 tiểu mục được anh đưa vào tập sách, với những chủ đề dàn trải hầu như đề
cập đến tất cả những vấn đề quan trọng trong sự tu tập, từ sự nhận hiểu tinh yếu
giáo pháp cho đến kinh nghiệm thực hành. Độc giả có thể từ từ, thong thả “nhâm
nhi” từng tiểu mục ngắn trong sách này, mà theo tôi rất nên đọc lại nhiều lần để
thấy hết được sự tài tình của anh khi biến mọi vấn đề khô khan hay trừu tượng,
siêu hình trở nên gần gũi, dễ hiểu, thiết thực và… hấp dẫn. Nhưng đối với riêng tôi,
những phần “hấp dẫn” nhất chính là khi anh chia sẻ “vài kinh nghiệm riêng”,
những điều không thể tìm thấy trong bất kỳ bài thuyết giảng hay luận văn Phật giáo
nào. Đó là những điều theo tôi hoàn toàn thể hiện được “dấu ấn Đỗ Hồng Ngọc”.

Chẳng hạn, anh chia sẻ một câu “thần chú” chưa từng có ai tụng đọc trong Phật
giáo, nhưng đúng là sẽ rất ư “linh nghiệm” đối với nhiều người. Câu thần chú đó là
“thả lỏng toàn thân thả lỏng chưa” mà anh thường “tụng” khi ngồi xuống bắt đầu
thiền tọa.
Thật ra, “thả lỏng” hay “buông thư” là điều mà bất cứ vị thầy nào khi hướng dẫn
thiền tập cũng đều nhắc đến, nhưng chia sẻ quan trọng của anh ở đây là sự nhấn
mạnh phải “thả lỏng toàn thân” cũng như tính chất quyết định của việc này, mà
anh cho rằng nếu không làm được thì sẽ “hỏng bét”.
Dù vậy, không phải ai cũng may mắn có được khả năng “thả lỏng toàn thân” ngay
tức khắc khi ngồi xuống bắt đầu thiền tập. Một số người, thật ra là đa số, tuy vẫn
muốn làm thế nhưng chưa thể làm được. Điều này cũng bình thường thôi, vì cần
phải có công phu luyện tập qua thời gian. Nhưng nguyên tắc chung được áp dụng
cho mọi trường hợp là thân và tâm luôn tương quan chặt chẽ với nhau. Do vậy, nếu
khi bắt đầu thiền tập mà toàn thân chưa buông thư hoàn toàn thì cũng không nên lo
lắng, chỉ cần tiếp tục giữ tâm an tĩnh, chú ý vào đề mục thiền đã chọn thì sau một
thời gian, chắc chắn mọi việc sẽ tốt hơn. Khi tâm an tĩnh thì thân cũng sẽ dần dần
đi vào trạng thái buông thư, cơ bắp giãn ra, không còn “căng cứng” nữa. Tuy nhiên,

vì điều này thực sự rất quan trọng nên việc “tụng thần chú” như anh nói để
nhắc nhở chính mình khi bắt đầu thiền tập là rất hữu ích.

Một chia sẻ quan trọng khác của anh cũng hết sức thú vị là mối tương quan giữa
tình trạng thiếu oxy kinh niên (chronic hypoxia) của não với trạng thái hỷ lạc, lâng
lâng sảng khoái của thiền giả. Anh giải thích theo cách nhìn của khoa học thì có
thể là do tình trạng thiếu oxy làm cơ thể tạo ra các hormone liên quan đến trạng
thái hạnh phúc, sảng khoái đó. Anh cũng liên kết hiện tượng này với kinh nghiệm
riêng của anh sau những cơn bệnh sốt rét và cho rằng có thể việc thiếu hồng cầu
khiến cơ thể thiếu oxy đưa đến trạng thái sảng khoái sau mỗi cơn sốt rét hồi nhỏ. Và anh
cũng đưa ra giả định rằng các thiền sư thường tìm lên núi cao để dễ tu tập vì trên
đó không khí loãng, tỷ lệ oxy thấp, như vậy tất nhiên hành giả dễ rơi vào tình trạng
thiếu oxy, từ đó có được trạng thái thiền duyệt, sảng khoái.

Tất nhiên, đây là những dữ kiện rất lý thú và chắc chắn cần được nghiên cứu thêm
trước khi có thể vận dụng vào thực tiễn. Nhưng người học thiền cũng nên dè dặt
với những mối liên kết giả định như vậy. Việc hạn chế cung cấp oxy cho cơ thể
qua việc kiểm soát hơi thở là điều mà người tập thiền hoàn toàn có thể làm được,
nhưng nếu như có ai muốn thử nghiệm dùng cách này để đạt được thiền duyệt thì
chắc chắn là không nên, thậm chí còn rất nguy hiểm. Khi thiền giả đi sâu vào định
thì hơi thở sẽ chậm dần đi cho đến lúc gần như chỉ còn duy trì ở mức tối thiểu.
Nhưng đó là một hiện tượng tự nhiên do nhu cầu oxy của cơ thể giảm mạnh chứ
không phải do thiền giả cố ý tạo ra, và tình trạng cơ thể khi đó tiêu thụ rất ít oxy
chứ không phải thiếu oxy. Đỗ Hồng Ngọc cũng nhắc trong thiền tập phải hết sức
thận trọng, không nên “nín thở” để mong được mau vào thiền vào định!

Tuy nhiên, việc đề cập đến mối tương quan “thân – tâm” này quả thật vô cùng lý
thú. Điều này cũng cho thấy rằng thiền tập chẳng những thiết yếu cho một cuộc
sống hạnh phúc mà còn luôn mang lại cho mỗi chúng ta những khám phá mới,
những điều mới mẻ và cuốn hút.

Tôi đã đọc say mê cả tập sách này không một lần dừng lại, không chỉ bởi lối văn
nhẹ nhàng mà hấp dẫn của anh, mà còn phần lớn là do cách anh trình bày những
vấn đề rất độc đáo, rất ư là… Đỗ Hồng Ngọc, nghĩa là không thể nhầm lẫn với ai
khác.

Lời cuối cùng muốn nói ở đây là tôi mong gặp lại anh biết bao! Từ lần cuối ghé
nhà thăm anh đến nay e cũng đã gần chục năm rồi chưa gặp lại, và giờ thì tôi với
anh ở hai đầu… trái đất. Mặc dù thường liên lạc với anh qua email, qua điện thoại,
nhưng tôi vẫn luôn muốn gặp lại để được ngắm nhìn khuôn mặt anh, khuôn mặt
như lúc nào cũng ẩn chứa một nụ cười hoan hỷ và sẵn sàng nở ra để lan tỏa niềm
vui sống đến với người đối diện.

Cảm ơn anh rất nhiều đã một lần nữa cho tôi “những ngạc nhiên đầy thú vị”.
Mong cho tập sách này sớm ra đời và đến tay bạn bè thân hữu, để một lần nữa “có
dịp chí chóe cho vui” như lời anh nói.

Quế Minh Đường (Westminster), California
Tháng 9 – 2023
Nguyễn Minh Tiến

………………………………………………………………………………………….

Có thể đọc Ebook “Một Ngày Kia… Đến Bờ” V2 ngày 11.9.2023 trên dohongngoc.com

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Nhân mùa Vu Lan, đọc lại bài thơ Bông hồng cho mẹ của Đỗ Hồng Ngọc

29/08/2023 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Nhân mùa Vu Lan, đọc lại bài thơ Bông hồng cho mẹ của Đỗ Hồng Ngọc …

Nguyên Hậu

Năm 2013, khi đang tìm hiểu về thơ miền Nam giai đoạn 1954-1975, tôi có dịp gặp gỡ nhà thơ Đỗ Nghê (bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc) tại Sài Gòn và được ông tặng cho tập thơ đầu tay mang tên Tình người (xuất bản năm 1967). Tôi đọc tập thơ và ấn tượng nhất là bài thơ Thư cho bé sơ sinh. Khi biết ông là một bác sĩ, viết bài thơ đó khi còn là một thực tập sinh tại bệnh viện Từ Dũ sau khi hoàn thành ca hộ sinh đầu tiên trong cuộc đời y nghiệp, tôi vừa khâm phục, vừa xúc động. Khâm phục vì một bác sĩ lại có thể làm một
bài thơ với những ý tứ chân thành, sâu sắc đến thế. Còn cảm động vì những điều mà vị bác sĩ nhắn chủ đến em bé sơ sinh lúc đó. Thông điệp mà ông nhắn đến em có lẽ cũng là thông điệp ông dành cho tất cả chúng ta, vì ai cũng từng lớn lên từ một đứa trẻ, còn xúc động là khi đặt bài thơ vào bối cảnh ra đời, những thập niên 60 của thế kỷ XX tại miền Nam, khi mỗi số phận được sinh ra đều phải đối mặt với chiến tranh, chết chóc, hiện thực phi lý mỗi ngày. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, trọn vẹn chỉ trong một buổi sáng, tại một quán cà phê nằm trong một con hẻm nhỏ trên đường Cao Thắng, bây giờ tôi cũng không nhớ rõ quán tên gì. Đó là lần duy nhất tôi có dịp gặp gỡ ông. Sau này, tôi được nhìn thấy ông trong một vài buổi ra mắt sách dạy về thiền, hoặc giao lưu về một chuyên đề y khoa nào đó. Vẫn là ông với phong thái nhẹ nhàng, nụ cười thường trực trên gương mặt phúc hậu, ông nhanh chóng thu hút được nhiều khán giả tham dự.

Sau khi hoàn thành đề tài nghiên cứu liên quan đến thơ miền Nam, tôi chuyển sự quan tâm sang vấn đề khác nên không còn chú ý đến những sinh hoạt văn nghệ như vậy, tôi cũng ít khi về Sài Gòn. Công việc cá nhân làm tôi xao nhãng, không thường xuyên lên đọc các bài viết trên Blog cá nhân của ông. Thế rồi một hôm, tình cờ tôi vào trang Blog cá nhân ông (https://www.dohongngoc.com/) và đọc được bài thơ Bông hồng cho Mẹ. Bài thơ này được ông sáng tác vào mùa Vu Lan năm 2012, in trong tập Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác (2013) nhưng phải vài năm sau tôi mới được đọc. Tôi đã không thể kiềm được nỗi xúc động, nói đúng hơn là một “chấn động” nho nhỏ trong lòng. Có lẽ đây là bài thơ thứ hai của Đỗ Hồng Ngọc đã chiếm trọn lòng tôi ngay từ khoảnh khắc đầu tiên như thế. Tôi đã gửi bài thơ cho một số người bạn cùng đọc.
Đó cũng là lúc trên trang cá nhân của ông có rất nhiều độc giả văn chương gần xa (trong nước và hải ngoại) gửi bài viết chia sẻ cảm nhận về bài thơ. Tôi cảm nhận được sức lan tỏa, lay động của bài thơ lúc bấy giờ là rất lớn. Thế nên tôi đành giữ những cảm xúc mà tôi có được sau khi đọc bài thơ cho riêng mình qua vào dòng ghi chép và lưu vào máy tính.
Cách đây vài tháng, trong quá trình dọn dẹp chiếc máy tính cũ, tôi tình cờ gặp lại những dòng cảm nhận mà tôi thảo ra từ mấy năm trước. Đọc lại bài thơ, và, vẫn vẹn nguyên cảm xúc, thậm chí lúc sau này có phần mạnh mẽ hơn, tôi bật khóc.

Có lẽ sau bao nhiêu năm, trải thêm nhiều biến cố trong cuộc đời, tôi lại càng thấm thía hơn ý tứ trong bài thơ và cả những gì bàng bạc phía sau bài thơ ấy.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho Mẹ, 2012, Đỗ Hồng Ngọc)

Chỉ có bốn câu thôi nhưng ý tứ và thông điệp truyền tải thì mênh mông. Đã có rất nhiều người cảm nhận, phê bình bài thơ nhưng với riêng tôi, bài thơ hiện lên thật đẹp, thật bất ngờ, thật linh diệu, như một đóa hoa… Nó đã lay động, đánh thức lòng tôi thật mãnh liệt. Bốn câu thơ mà chứa trong đó cả ba thế hệ, một dòng chảy uyên nguyên, bất tận: ngoại, mẹ, con và một sự hóa thân tuyệt đẹp: từ bông hoa trắng đã hóa thành đóa hồng. Đặc biệt hơn là, phải có bông hoa trắng dành cho con thì mới có đóa hồng dành
cho mẹ; từ cảm thức đau buồn, mất mát lập tức hóa hiện thành niềm hạnh phúc, sum vầy.
Quả là một tứ thơ đẹp và lạ đến bất ngờ! Đọc xong cứ thấy lòng đau nhói, vì chưa lần nào ta đã nghĩ cho mẹ như cách nhà thơ đã làm. Với Bông hồng cho mẹ, Đỗ Hồng Ngọc đã làm cho ta ngộ ra nhiều điều…
Từ khi mẹ là mẹ của ta, ta lúc nào cũng nghĩ cho ta, chưa bao giờ ta nghĩ cho sự hoán vị và nỗi mất mát của mẹ: mẹ từ một người con trở thành một người mẹ, mẹ đã hy sinh bớt phần hạnh phúc được làm con để toàn tâm làm mẹ của ta. Vậy mà chẳng bao giờ ta nghe mẹ thổ lộ điều đó. Nước mắt chảy xuôi là vậy. Trong những lần chỉ có mẹ và con, mẹ thường nói rằng mẹ sợ một ngày mẹ ra đi, chúng tôi sẽ buồn khổ lắm. Lúc ấy tôi chưa
thể hình dung được nỗi buồn khổ mà mẹ nói là gì, vì chúng tôi vẫn đang hạnh phúc khi có mẹ cơ mà. Và lại càng không biết rằng mẹ đã lấy lòng mình để nghĩ cho các con. Mẹ đã chịu kiếp mồ côi từ khi còn rất nhỏ…

Mẹ! Một từ gọi lên nghe thật ấm ám, tự nó đã viên mãn, đong đầy yêu thương. Thế nhưng số lần mẹ được gọi từ đó ít hơn rất nhiều lần so với chúng tôi. Bây giờ tôi cũng đã làm mẹ, đã hiểu thế nào là mẫu tử thiêng liêng, đã thấu hiểu và yêu thương mẹ hơn rất nhiều lần, tình yêu thương được bồi đắp nhiều lên đến từ sự đồng cảm, thấu hiểu, không giống với tình yêu mẹ khi còn là một đứa trẻ, yêu mẹ, giữ mẹ như của báu. Và khi
càng yêu ta càng sợ mất. Hồi nhỏ, mỗi lần thấy một ai đó mất mẹ, ta chỉ hiểu đơn giản là từ đây họ mất đi tình yêu thương của mẹ, mất đi một người thân. Lớn lên, ta hiểu rằng mất mẹ là mất đi nguồn thương, mất đi cái đặc ân mà đất trời ban tặng cho ta. Nói tóm lại, quẩn quanh cũng chỉ nhìn thấy khía cạnh của sự mất mát, vẫn là nghĩ cho bản thân mình.
Từ khi đọc bài thơ của Đỗ Hồng Ngọc, tôi mới thấy thêm một chiều kích khác của sự ra đi ấy.

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng

Ngày mẹ rời khỏi vòng tay ta là ngày mẹ trở về làm con bên ngoại. Thấy được điều đó, tự nhiên cảm giác mất mát trong ta vơi đi phần nào. Từ nay mới đúng thật là ta thương mẹ. Và từ bây giờ, tôi đã có thể tập cách chấp nhận một cách nhẹ nhàng khi nghĩ đến một ngày mẹ rời xa chúng tôi.
Đó là phần của con. Còn phần mẹ:

Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

Mẹ ơi, từ nay mẹ hãy nghĩ cho mẹ, mẹ đừng buồn gì khi phải xa chúng con. Mẹ rời xa chúng con cũng là lẽ tất yếu. Mẹ hãy vui lên vì ngoại đang chờ đón mẹ về, ngôi nhà của riêng ngoại và mẹ, mẹ có quyền được tận hưởng tình cảm của ngoại, tận hưởng niềm hạnh phúc vô biên của tình mẫu tử. Trần gian bao cảnh đã chia cách ngoại và mẹ, nhưng ở “bên kia sông” sẽ không còn trần ai, không còn điều gì khiến ngoại và mẹ phải
xa cách nữa. Ngoại đã chờ đợi mẹ từ rất lâu rồi. Mẹ hãy vui lên đi.

Lời thơ dung dị nhưng thật minh triết, thật dịu hiền, như lời của Bụt. Nhà thơ nhắc chúng ta về lẽ tuần hoàn của tạo hóa mà chúng ta chưa hiểu, hoặc có khi đã hiểu nhưng vì quá yêu mẹ, quá yêu mình mà quên đi mất. Lời thơ tỏa ra một năng lượng lành giúp xoa dịu nỗi đau, sưởi ấm tâm hồn cả người ra đi và người ở lại. Còn gì tuyệt vời hơn: Mẹ vui, con ấm lòng. Rồi đến một ngày, mẹ cũng sẽ chờ đón con “bên kia sông”, con sẽ không
còn lý do gì để buồn tủi nữa.
Bài thơ Bông hồng cho Mẹ của Đỗ Hồng Ngọc đã cho ta thấy được sự vi diệu, tính đa chiều kích của đời sống. Trong cùng một bối cảnh, niềm vui và nỗi đau cùng tồn tại, chuyển hóa cho nhau, cái ta nhìn thấy đều do góc nhìn của mỗi chúng ta. Cái chết, nhìn từ đứa con thì đó là nỗi mất mát, chia ly còn nhìn từ người mẹ thì đó là sự sum họp, hạnh phúc, hoặc cũng là hoa hồng, nhưng trên ngực con là hoa màu trắng, trên ngực mẹ là đóa
hồng tươi nguyên. Phải chăng mọi thứ trong cuộc sống này vốn dĩ là như vậy, có những việc tưởng như là nghịch lý nhưng nếu hiểu đến tận cùng thì không còn nghịch lý nữa vẫn là sự cân bằng, như muôn đời vẫn vậy. Nhà thơ là người đã hiểu, đã nắm bắt được chân lý ấy và truyền đến cho chúng ta. Và, ai biết được quy luật này, người ấy sẽ an nhiên…

(MH, Đh Thủ Dầu Một)

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Interim pages omitted …
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Trang 6
  • Trang 7
  • Interim pages omitted …
  • Trang 63
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email