Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Ghi chép lang thang
  • Nhận bài mới qua email

Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ

19/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

CHUYỆN HỒI ĐÓ

Đỗ Hồng Ngọc (trích)

 

LỜI NGỎ

Tôi nay 85 tuổi. Nhiều bạn khuyên viết cái gì đó như “Hồi Ký” cho vui đi! Hồi Ký ư? Để làm gì? Viết cho ai? Viết cách nào? Tôi ngần ngại mãi. Rồi cuối cùng cũng thấy nên viết cái gì đó, gọi là Hồi Đó (thay vì Hồi Ký) cho vui. Bởi, như người ta thường nói, cuộc đời có “3 Hồi”, một là Hồi thơ ấu, hai là Hồi trung niên và ba là Hồi đó. Tới một tuổi nào đó, người ta hay nói chuyện… “hồi đó”. Chuyện gì Hồi đó cũng hay, cũng đẹp, cũng ngon… hơn bây giờ! Khi người ta bắt đầu thường nhắc chuyện Hồi đó thì người ta đã già thiệt rồi, hết chối cãi! Già cả, già nua, già khú đế… rồi đó thôi. Người ta bắt đầu lú lẫn (dementia) rồi quên tuốt mọi thứ (alzheimer)… là xong.

Ôi thôi, nhiều chuyện quá. Mà chuyện gì “của mình” hồi đó cũng… hay cả, cũng đáng kể, đáng viết lại cả! Lòng tham không đáy nó vậy! Cái “Ngã” tích cóp to đùng 85 năm nay nó vậy. Tha cho nó đi. Vấn đề tiếp theo tôi tự hỏi viết cho ai đây? Nghĩ đi nghĩ lại, chắc chỉ có mình mình đọc thôi. Chớ ai thèm đọc! Đọc để làm gì? Nhưng nhớ lại trong một bài viết “Để giúp cha mẹ già được vui”, tôi có khuyên con cái nên kể những “chuyện xưa tích cũ” hay ho của ông bà già cho họ được vui? Thí dụ hồi nhỏ từng… học giỏi, từng lãnh cúp bóng bàn, cờ vua… Tôi cũng từng bàn về “Chất lượng cuộc chết”, rằng các chuyên gia tâm lý cũng khuyến khích nên kể những thành tựu tốt đẹp trong đời cho một người sắp nhập “Niết bàn” để họ mang theo làm hành trang cho một cái “Nghiệp” an lành tái sinh… nếu có! Vậy thì Viết Chuyện Hồi Đó là để cho mình chớ còn cho ai nữa! Mình đọc một mình nếu còn đọc được. Tủm tỉm một mình cũng chẳng khoái ru?

Vấn đề tiếp theo là Viết cách nào đây? Tôi may mắn 15 năm trước (2009), tự dưng có hai vợ chồng người bạn trẻ không quen biết là Phùng Minh Bảo và Lê Thị Thuỳ Linh, bế con đến thăm tôi, nói nghe chú Ngọc về hưu, tụi con làm cho chú một trang Web nha, để chú đăng bài lên đó, chia sẻ cho mọi người và cũng để lưu trữ… Thì ra hai bạn trẻ tuổi 30 này chuyên về IT, từng là độc giả báo Mực Tím và nuôi con theo “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của tôi nên thực lòng mến mộ và muốn giúp tôi. Tôi chưa biết gì về Web về IT thấy họ rất chân thành bèn đồng ý ngay. Vui thôi mà! Bây giờ mới thấy nó là một nguồn tư liệu quý, đáng tin cậy. Hồi đó, chưa có nhiều “nền tảng”  Facebook, Instagram…chưa có AI với fake news, deep fakes các thứ như bây giờ, nên những bài tôi viết “post” lên được nhiều phản hồi thú vị của bạn bè gần xa và rất nhiều bạn đọc không quen biết… trở thành thân thiết. Nhiều “còm’ trên trang Web rất cảm động:

Khi tìm được trang web này con cảm thấy rất vui. Mỗi lần sau khi lên mạng tìm kiếm đủ thứ thông tin, trước khi offline, con lại vô đây đọc, những bài viết của thầy nhắc nhở con phải trở về. Tâm con bớt lung tung sau khi lang thang trên mạng… Àh, con còn một chuyện nữa. Đó là con đang là một sinh viên y dược. Con rất muốn được trở thành một bác sĩ như thầy… phanthuy@

Cảm cúm con uống vài viên tylenol …. Còn Stress quá thì con uống “ dohongngoc.com ” bớt liền . Mang ơn Bác lắm vì lòng tử tế của Bác dành cho mọi người trong đó có con . Mong Bác luôn an vui… hodinh@

Thật là đại phước,thật là hữu duyên khi con gặp được trang web này. Cuộc sống con vốn bận rộn, ở quê (Cai Lậy), yêu thích ngành y, yêu văn chương, yêu nhạc Trịnh, thích học Phật, lúc trước rất cầu toàn, bỗng dưng như trúng được kho báu… Thế giới phẳng thật kỳ diệu!!!
Con lưu ngay vào máy và đọc say mê khi vắng khách hàng, có lẽ chư Phật mười phương đã “gửi” đến cõi ta bà này một sứ giả để trị tâm bệnh và thân bệnh cho chúng sanh chăng?!
Con kính chúc bác sĩ vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng cát tường để luôn là cầu nối giữa phật pháp – khoa học – văn học – và chúng sanh…
huynhthi@

Ôi cái thời @ này cũng vui quá chớ phải không? Những người xa lạ bỗng gần gũi thân thiết đến vậy.

Ngoài trang Web dohongngoc.com này,  tôi lại may mắn gặp một người bạn không quen biết khác nữa là anh Nguyễn Hiền Đức. Một hôm đi café về tôi ngạc nhiên thấy cả chục cuốn 4, 5 trăm trang A4 đóng tập những tác phẩm của tôi. Nhờ có để lại số Điện thoại tôi hẹn gặp anh. Thì ra hàng chục năm trời nay anh đã rị mọ đánh máy các tác phẩm của tôi rồi hôm nay gởi lại tặng tác giả làm sao không cảm động! Anh còn sưu tầm rồi viết hẳn một “Phác thảo chân dung Đỗ Hồng Ngọc” và “Đỗ Hồng Ngọc, Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương” đăng trên Thư viện Hoa sen      mà tôi cũng chẳng hề hay biết!

Sau này, nhà thơ Luân Hoán ở Canada, tôi vốn mến mộ từ những năm 60 thế kỷ trước nhưng chưa từng gặp, cùng bằng hữu ở hải ngoại làm một Số báo “Ngôn Ngữ Số đặc biệt/ Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc/ Bằng hữu & Văn chương”… dày cộm, trong đó có nhiều bài viết của bè bạn khắp nơi trên chốn ”online” cũng giúp tôi nhiều tư liệu nhắc Chuyện Hồi Đó…

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon, 12.2024)

 

“Một chút tôi”

Theo “truyền thống” của một Trang nhà (Website), www.dohongngoc.com, tôi phải viết đôi lời tự giới thiệu mình gọi là “About me” mới là phải phép. Lúc đó, tôi lần lữa mãi. Biết viết gì đây? Sau cùng nghĩ rằng hay là gom góp vài tư liệu đâu đó trong các Lời Ngỏ tự giới thiệu các sách của mình thành “Một chút tôi” cũng hay để làm quen nhau.

 

(Trích Lời ngỏ Gươm Báu Trao Tay) 

Người xưa tìm thuốc lên non hái lá. Thử nếm. Thử chữa bệnh cho mình. Rồi mới dám mà sẻ chia cho bạn bè hàng xóm, giữa chốn thân quen. Phải phơi nắng, phơi sương, phải chẻ, phải sao, phải sắc. Ba chén sáu phân. Tùy bệnh trạng mà gia giảm. Thuốc chữa đựơc bệnh cũng là thuốc độc. Chỉ cần một chút sơ sẩy, hững hờ!

Tôi là một người thầy thuốc, một bác sĩ, mà cũng là một bệnh nhân, lắm nỗi lao đao, đi tìm thuốc chữa cho chính mình. Mới thấy tốt nhất là đừng nên có bệnh! Đừng phải cần đến thuốc men. Nhưng “Không hẹn mà đến, không chờ mà đi, bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta…” (TCS)

 

(Trích Thay lời ngỏ Thư gởi nguười bận rộn)

Tôi là một kẻ làm biếng, lại “hành” cái nghề mà ông tổ là Hải thượng Lãn Ông, ông già Lười ở làng Hải Thương, vậy mà bỗng trở thành một người bận rộn lúc nào không hay!

Số là ông bạn nhà báo của tôi, ông Trần Trọng Thức, một hôm gõ cửa bảo: “Nghe nói ông sắp về hưu, rỗi rảnh, viết cái gì đó cho báo Doanh nhân Saigon Cuối tuần cho vui đi”! Nghe “doanh nhân” tôi đã hoảng vì cái sự bận rộn của họ. Biết ý, ông cười: Đây là “Doanh nhân cuối tuần”, không phải chuyện làm ăn đâu! Viết cái gì cũng đựơc, miễn là cà kê dê ngỗng, có hơi hướm sức khỏe một chút… là đựơc! Tôi bèn tra tự điển: cà kê, có nghĩa là dài dòng, hết chuyện này sang chuyện khác, còn dê ngỗng thì ai cũng biết! Thôi thì nể bạn…

Tôi nhớ André Maurois, người mà tôi rất mến mộ đã từng víết Lettres à l’inconnue (Thư gởi người đàn bà không quen biết, bản dịch Ngyễn Hiến Lê). Tôi thử bắt chước tạo ra cái mục “Thư gởi người bận rộn”, lấy ý từ chữ business, là ‘bận rộn’ xem sao. Và tôi cũng tưởng tượng ra “người bận rộn” của tôi. Nghĩ gì viết đó. Cà kê dê ngỗng mà. Chẳng ngờ đựơc độc giả khen, nói cà kê dê ngỗng mà coi cũng đựơc! Từ đó tôi trở thành một ngừơi bận rộn…

 

(Trích Lời ngỏ Như ngàn thang thuốc bổ)

Tôi vốn ít hay cười. Ngay từ nhỏ, người ta đã gọi tôi là “ông cụ non”, vì lúc nào cũng có vẻ đạo mạo, nghiêm túc quá. Sau này ra hành nghề, làm một người thầy thuốc, một người dạy học, tôi như càng nghiêm túc, đạo mạo hơn. Tại cái tạng, biết sao! Thấy bạn bè vui vẻ, khoái hoạt… tôi cũng thích lắm mà không làm sao bắt chước được. Chỉ đôi khi đọc sách có chỗ nào dí dỏm thâm trầm kín đáo một chút, tôi mới tủm tỉm cười một mình. Tôi cũng không biết hút thuốc, không uống rượu, không bia bọt, thường chỉ “phá mồi” trong những bữa họp mặt đông vui làm bạn bè vừa thương vừa giận! Cũng tại cái tạng thôi. Trong nhiều năm trời, tôi làm việc như điên, cho đến một hôm người ta phải đưa tôi vào bệnh viện để mổ sọ cấp cứu vì tai biến mạch máu não. Người ta cạo trọc đầu tôi, đục hai lỗ thủng, rồi đặt ống dẫn lưu cho máu chảy vào hai chai nhỏ treo tòng teng bên dưới. Khi tỉnh dậy, nằm trần truồng trên băng ca ở phòng hậu phẫu lạnh ngắt, đắp một tấm “ra” trắng mỏng trên người, tôi nghĩ thế là xong! Một cô điều dưỡng đến tiêm thuốc, đọc hồ sơ thấy tên tôi, em hỏi có phải bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “Phòng mạch mực tím” không, tôi ú ớ gật. Thế là em kêu lớn: Các bạn ơi, lại “coi” bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nè! Bốn năm cô chạy đến. Thì ra các em đọc báo, biết tên tôi nhưng chưa biết mặt. Tôi không khỏi tức cười nghĩ lâu nay mình làm thầy thuốc đã “coi” của người ta cũng hơi nhiều rồi, bây giờ người ta coi lại một chút cũng phải thôi…

Lúc nằm dưỡng bệnh, tôi sưu tầm các chuyện cười, đọc cho vui. Nó giúp tôi tủm tỉm khi gặp một chuyện hay, hạp với tạng mình. Chủ yếu là các chuyện cười về ngành Y, chuyện trẻ con, chuyện nước ngoài… Ông bà ta nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”…

 

Một mùi gió bấc quen thuộc…

(Trích Lời ngỏ Gió heo may đã về…)

Thật ra già là gì, lúc nào thì già, lúc nào thì chớm già, sắp già, mới già, đã già. Có tuổi nào là tuổi “hườm hườm” chăng? Một người bạn ở tuổi hườm hườm hỏi, sao, ông bác sĩ, ông đã viết nào cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, nào cho tuổi mới lớn, sao không viết một chút gì đó cho tuổi sắp già, tuổi hườm hườm, tuổi xế bóng, tuổi gió heo may đã về xem sao. Tôi lần lữa hẹn. Phải già một chút nữa cho biết đã rồi mới dám viết chứ, phải không?
Không như nhà thơ nọ đo tuổi mình qua ánh mắt cố nhân, tôi đo tuổi mình qua cách xưng hô của các bà mẹ bế con đến khám bệnh. Trước đây họ gọi tôi bằng anh, sau gọi bằng chú, rồi bằng bác, và rồi mới đây thôi, một chị hãy còn rất trẻ đưa bé đến khám bệnh, lúc bé la khóc, chị dỗ nín đi, nín đi cho ông ngoại khám con, thì tôi mới biết mình đã lên đến ông ngoại rồi mà không hay. Tôi hỏi theo thói quen chị là gì của cháu, chị trả lời ngon ơ, dạ, bà ngoại.

 

Tủm tỉm một mình

(Trích Lời ngỏ Nghĩ Từ Trái Tim)

Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng khối óc nhiều quá, nhiều đến nỗi người ta luôn ở trong tình trạng muốn “điên cái đầu”. Và thực vậy. Bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress… ngày càng gia tăng trong một xã hội mà người ta luôn bị quay cuồng, luôn phải chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt… Có lẽ đã đến lúc thử nghe tiếng nói của trái tim. Chúng ta bây giờ hình như có quá ít thì giờ để nghe tiếng nói của trái tim mình, dù chỉ cần nhấp con chuột trên vi tính thì đã nối trọn vòng trái đất, vậy mà người ta có vẻ ngày càng xa nhau hơn, xa với người và xa cả với mình. Một thi sĩ đã phải kêu lên: “… Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết?…” (Nguyên Sa). Tôi cũng vậy. Tôi cũng không có thì giờ. Quần quật. Tối tăm mặt mũi vì “trăm công ngàn việc”. Cho đến một hôm, hình như, có lẽ, một lần kia có một lúc hình như tôi cũng chợt nghe. Hình như thôi, không chắc, không dám. Ngẫm nghĩ rồi nghe ngóng. Nghiền ngẫm rồi ngập ngừng. Rồi bức xúc, phải viết ra cho khỏi quên, để lâu lâu còn coi lại một mình…

………………………………………………………

Vài nét về Đỗ Hồng Ngọc từ bạn bè (trích):

Từ Trần thị Nguyệt Mai

Trần Thị Nguyệt Mai viết trong “Ngôn Ngữ số đặc biệt về Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc với Bằng hữu & Văn Chương”, tháng 5 /2024 do Luân Hoán và bằng hữu thực hiện, tôi xin trích một vài đoạn ở đây cho Một Chút Tôi:

(…)      Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”… Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v… qua những phương tiện truyền thông khác.

Đỗ Hồng Ngọc là tên thật và cũng là bút hiệu. Trước năm 1975, ông dùng bút hiệu Đỗ Nghê (ghép họ cha và họ mẹ) khi sáng tác. Trả lời phỏng vấn của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm (2010) về câu hỏi, “Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt Y học rồi Phật học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc?” Ông cho biết, “Không phải ‘rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê’ đâu. Chỉ là ‘rửa tay gác kiếm tạm thời’ thôi! Thời đó có quá nhiều ‘Ông Đồ xứ Nghệ’, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi để tránh nhầm lẫn. Đỗ Nghê / Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao?”

Ông viết sách dành cho mọi người ở mọi lứa tuổi và được biết đến với nhiều tư cách: bác sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà tư vấn tâm lý…

Nói về “Nghiệp văn chương” của mình, Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ, “Tôi mê văn thơ từ hồi nhỏ, đọc gần hết tủ sách trong một tiệm cho mướn sách ở Phan Thiết. Cô Hai tôi (đi xe lửa trúng mìn, bị gãy cả hai chân) cư ngụ trong một ngôi chùa nhỏ, thường kêu tôi đi mướn sách về cho cô đọc, nhưng lại cấm tôi đọc vì con nít đọc truyện không tốt, mê, bỏ học. Mỗi lần đi mướn truyện, tôi lén đọc hết dọc đường đi, có khi ngồi dưới gốc cây đọc xong mới về. Tôi còn ghi chép tóm tắt nội dung, các nhận xét của mình vào một cuốn vở hoc trò.

Bài thơ đầu tiên đăng trên báo Bách Khoa năm 1960, ký với một cái tên tắt. Tuy biết ông Ngu Í cậu mình làm ở đó nhưng tôi giấu ông. Khi báo đăng, tôi mới nói. Ông ngạc nhiên và khen ngợi. Sau đó tôi lấy bút hiệu Đỗ Nghê và đăng nhiều thơ trên Bách Khoa, Mai, trong Ban biên tập báo Tình Thương (với Phạm Đình Vy, Ngô Thế Vinh…), rồi ở trong nhóm chủ trương bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Lê Ký Thương…).

Năm 1967, đang là sinh viên Y, tôi in tập thơ đầu tay Tình Người và sau đó là các tập Thơ Đỗ Nghê (1974), Giữa hoàng hôn xưa (1993), Vòng Quanh (1997), Thư cho bé sơ sinh & Những bài thơ khác (2010) …

Đến nay, họ Đỗ có khoảng 60 đầu sách thuộc ba tủ sách Văn học, Y học, và Phật học được xuất bản, trong đó vài cuốn được dịch ra ngoại ngữ. Có thể nói nhờ có văn chương mà sách Y học và Phật học của ông dễ đi vào lòng người, được độc giả ưa chuộng.

Giáo sư Huỳnh Như Phương, nhà phê bình văn học nhận xét, “… Với bài thơ ‘Thư cho bé sơ sinh’, ngòi bút Đỗ Nghê không chỉ tranh đấu cho hòa bình như một lẽ phải đương nhiên, mà còn suy ngẫm về thân phận con người trong một thời buổi nhiễu nhương và phả hơi ấm tình yêu con người trong một cấu trúc ngôn ngữ hiện đại. Thật kỳ lạ, ở tuổi 25, Đỗ Hồng Ngọc đã tự đặt cho mình một cột mốc thơ ca mà chính ông không dễ gì vượt qua. Ni sư Giải Nghiêm ở Canada có lý khi cho rằng nhiều bài thơ và bài viết của Đỗ Hồng Ngọc về sau này dường như là một sự nối dài ‘Thư cho bé sơ sinh’.

Và cũng có một “họa sĩ” Đỗ Hồng Ngọc. Có lẽ ít người biết ĐHN vẽ tranh, trừ nhóm bạn của ông. Những tranh bút sắt ông vẽ rất “tới” như Đà Lạt, Quê Nhà, Tà Cú, Phan Thiết, Harvard Square… Ông cũng vẽ những phác thảo chân dung bạn bè: Thầy Tuệ Sỹ, Đinh Cường, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh, Khuất Đẩu, Lê Ký Thương, Nguyễn Lệ Uyên, Trần Vấn Lệ… Và cả những bức chân dung rất thú vị khi “len lén” quan sát những nhân vật mà ông có dịp gặp gỡ đã được kể lại trong “Áo Xưa Dù Nhàu…” như nhà thơ Huy Cận (1996), Giáo sư Trần Văn Khê (1997).

Khi được hỏi về “Quỹ thời gian” ĐHN nói tôi không có ý niệm có một “quỹ thời gian” nào đó, bởi tôi không thể biết trước tôi có bao nhiêu, đã xài hết bao nhiêu, còn lại bao nhiêu để… lên kế hoạch. Bùi Giáng có câu “Một đời lận đận đo rồi đếm / Gối mỏi người đi đứng lại ngồi”!

Lâu lâu gặp bạn cũ tôi giật mình thấy bạn già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi tôi… vẫn như xưa! Dĩ nhiên, lúc đó bạn tôi cũng thấy tôi già quá, da mồi tóc bạc, nhăn nhúm trong khi bạn vẫn như xưa. Thì ra, đó là một diễm phúc của cuộc sống! Không ai ngờ mình già cả. Nguyên Sa bảo “người ta chỉ có thể đo đếm được tuổi mình qua ánh mắt cố nhân”. Mà lạ, khi gặp lại “cố nhân”, bạn bè hồi niên thiếu, ôn lại chuyện xưa một lát, bỗng thấy mình nhỏ xíu lại, như không hề có thời gian. Mà thật, không hề có thời gian. Cái đồng hồ, cái ngày tháng nọ kia, chẳng qua là những giả định, vui thôi! Phần tôi, đôi khi cũng thấy mình cần “về thu xếp lại”… như TCS nói mà không dễ.

Dù là Đỗ Hồng Ngọc hay Đỗ Nghê, ông đều được nhiều người yêu quý. Nói về ông, học giả Nguyễn Hiến Lê nhận định, “Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị.”

(Ngôn Ngữ/ Đỗ Nghê-Đỗ Hồng Ngọc với Bằng hữu & Văn chương 5/2024)

 

Từ Nguyễn Hiền Đức 

Nguyễn Hiền Đức là một cư sĩ, thường gọi Anh 5 Hiền, trước 1975 từng có thời là Thư ký Tòa soạn của tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, trưởng phòng Tu thư  Đại học Vạn Hạnh, thư ký riêng của HT Thích Minh Châu…

Một buổi chiều, khi đi café với một người bạn trẻ về đến nhà thì tôi nhận được mấy cuốn bản thảo “Tuyển tập Đỗ Hồng Ngọc” dày cả vài ngàn trang A4 của một người không quen biết gởi tặng. Giật mình. Ai vậy cà? Thấy có kẹp mảnh giấy nhỏ, ghi số điện thoại tên Nguyễn Hiền Đức. Bèn phone thăm hỏi mới biết đó là một bạn đọc quý mến mình, đã “dõi theo” hành trình viết lách của mình từ lâu, nay tỉ mẩn ghi chép lại cả một tuyển tập đồ sộ gởi tặng và nói còn sẽ gởi tiếp mấy tập nữa! Lúc đầu tưởng anh gom góp từ trên mạng, nhưng không, anh cho biết anh đã gò lưng đánh máy từ những trang sách mà anh ưa thích! Thời buổi này. Lạ thiệt.

Rồi trong một email gởi tôi, anh 5 Hiền “giải trình”:
Tôi bắt đầu “gõ” và “gõ”, mải mê “gõ” cuốn “TUYỂN TẬP ĐỖ HỒNG NGỌC – THẤP THOÁNG LỜI KINH” này từ năm 2010 và kết thúc năm 2018. Tôi rất thích từ “Thấp thoáng” vì nó thể hiện rất rõ, rất đúng cái chất “thấp thoáng”, “lõm bõm” của tôi khi học Phật.
Ngay trong bước đầu “tập tễnh học Phật” tôi đã chọn cách học hợp với sở thích của mình. Đó là chọn bài, chọn sách rồi… rị mọ. cặm cụi, kiên trì “gõ” vào máy. Cách làm này giúp tôi đọc chậm, đọc kỹ từng đoạn, từng trang, từng bài, rồi chú tâm sửa lỗi. Tôi đọc ít nhất 5 lần cho mỗi trang với lòng thanh thản, thư thái. Tôi không “ép” mình phải ghi, phải nhớ một điều gì cứ để nó trôi chảy như một dòng sông. Rồi biết đâu mười năm sau, hay hơn nữa những gì tôi đã đọc, đã “gõ” sẽ giúp tôi nhiều hơn, tốt hơn trên con đường học Phật. Tôi chỉ đặt ra một thứ kỷ luật tự giác mà tôi phải tuân thủ, đó là mỗi ngày “gõ” ít nhất 5 trang, mỗi tháng tối thiểu 120 trang học Phật.

Năm 2021 anh đã gởi tôi món quà sinh nhật:  Đỗ Hồng Ngọc- Tiếng gọi sâu thẳm của Y vương, ghi Quà tặng mừng Sinh Nhật 81 của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc… trên Thư viên Hoa Sen.

Chính nhờ anh mà tôi mới hoàn thành cuốn Tôi Học Phật sau này. Trước đó tôi ngại ngần, chưa dám công bố những lõm bõm học Phật của mình.  Chính anh đánh giá cao cách học lõm bõm thấp thoáng đó của tôi, rồi tập hợp thành một tuyển tập, phổ biến trên Thư viện Hoa Sen, tôi hoàn toàn không được biết trước!

Khi gò lưng “gõ” những bài viết, cuốn sách của tôi trong nhiều năm trời,  Nguyễn Hiền Đức nhận xét: “Trong các bài viết về chuyên đề sức khỏe, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc luôn cẩn trọng, khiêm tốn, vui vẻ. Ông luôn luôn dung dị mà sâu sắc, dí dỏm, hóm hỉnh, trí tuệ, thông minh, sắc sảo mà gần gũi và thân ái. Ông thể hiện tròn đầy lòng chân thành, sự thấu hiểu, thấu cảm nên mang tính thuyết phục cao đối với đông đảo người đọc. Tôi rất tâm đắc khi đọc những bài này của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và xem nó là một trong những dấu ấn sâu đậm, đáng yêu và sống lâu bền trong lòng người đọc”.

Có thể nói ông đã kết hợp nhuần nhuyễn, tài tình, khéo léo, hiệu quả đối với công việc “bộ ba” của ông: giáo dục sức khỏe – dạy học – viết lách. Ông đã nghiền ngẫm viết lách, giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Để làm được những điều đó ông phải đọc, học, trải nghiệm rất nhiều và ông cho rằng “Viết cũng là học”. Vào thời điểm này, ông đã có ba cuốn sách về lãnh vực nhi khoa được phổ biến khá rộng rãi và một số sách viết cho tuổi già; mảng sách viết về học Phật.

“… Cái học y khoa, tâm lý học, xã hội học cũng đã giúp tôi thấy rõ hơn vai trò thầy thuốc, tham vấn viên của bậc Y vương qua hình tượng các vị Bồ tát Thường Bất Khinh, Dược Vương, Diệu Âm, Quán Thế Âm… để không chỉ học hiểu lời kinh mà còn vận dụng vào nghề nghiệp cho sáng tỏ hơn…  Ở Duy-ma-cật, học Bất nhị. Kinh mở ra một cách tiếp cận mới, sinh động, cho dòng chảy mênh mang rộng khắp.

Ngoài việc phải hành nghề, hội họp, đọc, viết sách, viết báo, tư vấn, tham vấn… bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lại phải đi nhiều nơi để “trò chuyện” với nhiều người, nhiều giới. Lúc thì trao đổi về “văn chương” với lớp học Thạc sĩ Phật học tại Thiền viện Vạn Hạnh [đường Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận TPHCM], lúc thì trao đổi về “Thiền và Sức khỏe” ở lớp Cử nhân Phật học mời, rồi Chùa Xá Lợi “đặt hàng” nói chuyện với Phật tử về “Vận dung tư tưởng Kim Cang Bát Nhã vào cuộc sống”, lúc thì bay ra Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán (Huế), bay vào Đà Nẵng, rồi Nha Trang cũng với đề tài về Thiền và Sức khỏe, Đức Phật- bậc Y vương, xuống Thiền viện Thường Chiếu, ra Vũng Tàu thăm thiền sư Thanh Từ, lên Bửu Long thăm thầy Viên Minh, xuống tận các chùa ở các tỉnh miền Tây Nam bộ theo lời mời trong một dịp An cư kiết hạ… Đỗ Hồng Ngọc cũng nhận lời Linh mục Lê Quang Huy, có buổi giảng cho lớp Giáo lý hôn nhân ở Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, và những buổi Nói chuyện sức khỏe “ Stress trong đời sống hằng ngày”, “Thở để chữa bệnh” tại Trung tâm Mục vụ… do Sơ Hồng Quế phụ trách. Ông còn tổ chức Bàn tròn sinh viên Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, mỗi tháng một lần kéo dài suốt 3 năm. Nói chuyện, viết bài cho Chương trình chất lượng cuộc sống của hội doanh nhân trẻ, rồi trao đổi với các thầy cô giáo việc giảm stress trong công việc hay giáo dục giới tính cho học sinh, trò chuyện với học trò cũ, trả lời phỏng vấn của các nhà văn, nhà báo… Rồi ông lại đi đây đi đó để “ghi chép lang thang” qua cuốn sách mới nhất cùng tên dày đến 300 trang (2014). Mấy năm nay ông đỡ vất vả hơn một chút, ít trực tiếp khám bệnh vì đã có cậu con trai “nối nghiệp”. “Bây giờ đọc ít thôi. Mắt kém. Đọc trên mạng nhiều hơn sách báo in vì có thể phóng to lên được. Lạ, từ ngày nghiền ngẫm kinh sách Phật, thấy cũng mê như đọc kiếm hiệp!” ông chia sẻ.

Các tập tản văn Gió heo may đã về (1997), Già ơi… Chào bạn! (1999), Những người trẻ lạ lùng (2001)… tạo một sinh khí mới lạ, hào hứng và độc đáo trong ngành xuất bản và trong lòng người đọc nhiều lớp tuổi trong và ngoài nước.

Phương châm, phong cách của Đỗ Hồng Ngọc khi viết là chân thành, tôn trọng, thấu cảm, thấu hiểu người khác, nhất là về những nỗi mất mát, để tạo nên năng lượng hóa giải sự khổ.

Đỗ Hồng Ngọc được nhiều độc giả quý mến, có lẽ do cách viết của mình. Ông chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Ông viết để chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra. Khi viết, ông luôn tưởng tượng như có độc giả đang ở trước mắt mình và đang trò chuyện với mình. Có lẽ kiểu viết như thế làm cho người đọc cảm nhận được người viết và độc giả có sự gần gũi, chia sẻ, trao đổi một cách chân thành, không kiểu cách, xa lạ. Đỗ Hồng Ngọc được mọi người hiểu, cảm, yêu, mến, vì ông trải lòng mình để chia sẻ cùng người đọc. Ông cho rằng chuyện viết lách là cái tình. “Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu…” (Chu Mạnh Trinh) vậy thôi!

Năm 2014, Nguyễn Hiền Đức đã viết (…) “ Năm nay bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã 75 tuổi ta rồi. Cái tuổi đã chín muồi, đã lịch lãm, đã trải nghiệm và chiêm nghiệm được nhiều điều về bản thân, gia đình, bè bạn, nghề nghiệp. Ông cũng đã trải qua những biến thiên dữ dội của thời cuộc. Ông lại có những mối quan hệ xã hội khá rộng rãi và hiểu biết tường tận về nhiều việc, nhiều người dưới cái nhìn, cái cảm của một người giàu Phật tính, thấm nhuần triết học Phật giáo. Vì vậy, tôi kính cẩn thưa trình với ông rằng tôi mong sớm được Hồi ký của ông. Nhớ lại, ông đã nhiều lần “thúc hối” thầy mình là Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký như André Maurois đã từng làm với Un ami qui s’appelait moi vậy! Cụ Nguyễn Hiến Lê lúc đầu băn khoăn không biết mình sẽ viết gì trong hồi ký này và chỉ mong viết được vài trăm trang thôi. Thế mà tháng 9. 1980, cụ Lê đã hoàn thành cuốn Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học in lần đầu 1993, mặc dù nhà xuất bản “xin để lại sau một thời gian nữa” các chương XXI, XXII, XXIV… nhưng sách cũng đến 800 trang. Trước nay tôi vốn thích đọc Hồi ký, và các cuốn hồi ký mà tôi thích nhất vẫn là cuốn của Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Quách Tấn, Trần Văn Khê…, và, chắc chắn sẽ rất thích Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc. Tôi không dám nói sai lời và cũng như nhiều độc giả chí cốt của Đỗ Hồng Ngọc nóng lòng chờ đợi Hồi ký Đỗ Hồng Ngọc.

Tôi nghĩ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều điều kiện thuận lợi, có nhiều cơ duyên tốt lành để khởi sự sớm hoàn thành tập hồi ký được nhiều, rất nhiều người chờ đọc, đón đọc. Xin đề nghị bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết, cho in báo, trên mạng từng bài, từng phần hồi ký như cụ Nguyễn Hiến Lê đã từng làm. Và bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng đã làm “lai rai” một số bài: Một chút tôi, Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký… Mong lắm thay, thưa bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!”.

Nguyễn Hiền-Đức

(Santa Ana, tháng 3.2021)

 

(trích Chuyện Hồi Đó, Đỗ Hồng Ngọc)

Thuộc chủ đề:Già ơi....chào bạn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

NGUYỄN HIẾN LÊ: 40 năm ngày mất tại Saigon.

11/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

40 Năm ngày mất của Nguyễn Hiến Lê…

 

Nhà văn Phụng Hoàng Anh, cháu họ của Nguyễn Hiến Lê ở Hà Nội, nhắn tin tôi sáng nay, nhắc ngày 22.12.2024 là tròn 40 năm ngày mất của Ông Nguyễn Hiến Lê, ở Sai Gòn có hoạt động nào kỷ niệm ông Lê không Bác?

Phụng Hoàng Anh cũng cho biết hiện có bà Tô Lệ Hằng, là cháu ruột của ông Nguyễn Hiến Lê ở Pháp, thỉnh thoảng có thư về cho Phụng Hoàng Anh ở quê nhà.

Tôi muốn dịp này ghi lại một vài kỷ niệm:

 

 

Nguyễn Hiến Lê

Con người & Tác phẩm

 

Năm 2003, nhóm chúng tôi có Trần Văn Chánh, Đỗ Hồng Ngọc, Lê Anh Dũng, Nguyễn Duy Chính, Trần Huiền Ân, Nguyễn Hướng Dương, Lê Ký Thương… đã làm một cuốn sách về Nguyễn Hiến Lê: Nguyễn Hiến Lê, Con người và Tác phẩm. Sách đã tuyệt bản từ lâu. Mới đây, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp.HCM đã quyết định cho tái bản cuốn sách này với bổ sung từ các bài viết, phỏng vấn Nguyễn Hiến Lê của Nguiễn Ngu Í, Lê Phương Chi, Châu Hải Kỳ, Lê Anh Minh…

Đã có những nghiên cứu về sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê như luận văn thạc sĩ về “Vấn đề lao động nhà văn trong các trước tác của Nguyễn Hiến Lê” của Nguyễn Ngọc Điệp,  do GS Huỳnh Như Phương hướng dẫn và gần đây luận văn nghiên cứu văn hóa, văn học của Nguyễn Hiến Lê” v.v…

Ảnh hưởng Nguyễn Hiến Lê ngày càng thấm sâu trên đất Bắc. Sáu năm trước (2012), tôi nhận được email của một bạn trẻ không quen biết từ Hà Nội, cho biết về chuyến “Hành trình Xuyên Việt vượt 2200km bằng xe máy tri ân thầy Nguyễn Hiến Lê”. Các bạn trẻ đi xuyên Việt bằng xe máy, từ Hà Nội vào thẳng chùa Phước Ân tại Lấp Vò, Đồng Tháp “để thắp hương tri ân tới thầy Nguyễn Hiến Lê”. Email viết: “sách của thầy Nguyễn Hiến Lê viết giản dị, chân thành, là thầy mà cũng như là bạn, chúng con rất vui là đã lan tỏa được sách của thầy tới anh em thanh niên, vì trước đây sách của thầy ngoài Bắc cũng hiếm ạ”.

“…thực ra đối với thanh niên ở ngoài Bắc có thiệt thòi hơn trong Nam nhiều, là ít được tiếp xúc với sách của cụ Lê(…), chân thành mong muốn tri thức Nguyễn Hiến Lê đến gần hơn, giúp đỡ cho thanh niên được nhiều hơn (…).

Saigon, Tp HCM hiện nay cũng đã có một con đường mang tên Nguyễn Hiến Lê. Một cách ghi nhận công lao của một “người Hà Nội” đã sống và làm việc miệt mài suốt nửa thế kỷ ở miền Nam và đã để lại một di sản đáng quý góp một phần không nhỏ vào nền văn hóa nước nhà.

Năm 2018, Nxb Tổng hợp Tp.HCM đã tái bản (có bổ sung) cuốn Nguyễn Hiến Lê, con người & tác phẩm với nhiều tác giả. Trần Văn Chánh đã nhận xét: Từ rất lâu, tên tuổi Nguyễn Hiến lê (1912-1984) đã được nhiều người biết tới như một nhà văn, một học giả, một nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập với 120 tác phẩm biên soạn và dịch thuật để đời có giá trị, thuộc mọi lãnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký… Ngoài ra thế hệ hậu bối còn noi gương được ở ông nhiều thứ: gương tự học, tinh thần làm việc nghiêm túc và nhất là nhân cách cao thượng của một người trí thức chân chính.”

Và với riêng tôi, Nguyễn Hiến Lê còn để lại biết bao niềm trân trọng và trìu mến.

ĐHN

***

Ông Nguyễn Hiến Lê và Tôi

Bài Đỗ Hồng Ngọc trên báo Bách Khoa số 426 (17.4.1975)

Tác phẩm đầu tiên của ông, Tổ chức công việc theo khoa học, ra đời năm 1949 nhưng mãi đến năm 1956 tôi mới được làm quen với tên tuổi ông. Còn nhớ lần đó tôi theo xe chở cá nước đá về Saigon “bổ hàng” cho mẹ – mẹ tôi có quán hàng xén tại chợ B.T. – một buổi trưa lang thang trên vỉa hè Trần Hưng Đạo, dừng chân ngắm hàng sách “sôn” bày la liệt, tình cờ thấy cuốn “Kim chỉ nam của học-sinh” của Nguyễn Hiến Lê, một tác giả hoàn toàn xa lạ với tôi lúc đó. Đọc qua lời Tựa, tôi mua ngay.

Tản cư về, tôi bị trễ học đến 4, 5 năm, nhà nghèo, cha mất sớm, tôi phải phụ giúp mẹ trông nom cửa hàng cho nên dù hiếu học, tôi cũng không biết cách nào để tiến thân. May quá, “Kim chỉ nam” đã mở cho tôi một chân trời mới. Đọc xong, tôi thấy mình gần gũi với ông kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ-thống-hóa, đặt ra những nguyên-tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viển vông nhàm chán. Thời gian sau đó tôi lại tìm mượn được thêm các cuốn Tự học để thành công, Rèn nghị lực của ông tại nhà một anh bạn làm nghề may.

Với niềm tin mới, tôi bắt tay vào việc lập chương trình “học nhảy”. Tôi viết thư hỏi ý kiến ông về việc này và ông trả lời “được” vì qua bức thư thấy tôi khá già giặn và sức học đã vững. (Trong Kim chỉ nam của học sinh ông đả kích việc học nhảy lớp dữ lắm!). Lúc đó tôi đang theo học đệ thất – lớp đệ thất đầu tiên, mới mở của tỉnh – và tôi đã rất xấu hổ phải ngồi bên cạnh các học trò nhỏ hơn mình 4, 5 tuổi. Nhờ có chí và biết áp dụng những phương pháp học chỉ dẫn trong Kim chỉ nam và Bí quyết thi đậu, tôi đã rút ngắn chương trình Trung-học được ba năm, đuổi kịp các bạn bè cùng lứa. Được bà con khuyến khích, mẹ tôi bằng lòng cho tôi đi Saigon “du học”.

Đến Saigon, việc đầu tiên của tôi là tìm thăm ông, định bụng sẽ báo tin cho ông biết là đã thi đỗ và bày tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn của tôi ; nhưng khi gặp ông, tôi đã lúng túng không biết phải nói gì, chỉ ấp úng trả lời ông vài ba câu rồi ra về. Thấy ông có vẻ nghiêm nghị quá, lại đang bận sửa bản vỗ cho một tác phẩm nào đó. Như thế là lần này tôi đã hoàn toàn thất bại, cuốn Đắc nhân tâm của ông không giúp tôi được tí gì cả! Từ đó, mỗi lần đến thăm ông tôi thường rất ngần ngại, lúc nào cũng có cảm tưởng như quấy rầy ông, không để cho ông “sống đủ 24 giờ một ngày”. Nhiều người quen biết ông chắc cũng cùng cảm tưởng đó lúc ban đầu. Về sau, nhiều năm trôi qua, quen thân ông nhiều hơn, tôi biết tôi đã lầm lẫn. Phong thái ông là phong thái của một nhà nho, giao tình dù thật thắm thiết thì bên ngoài vẫn có vẻ hờ hững, khác xa với cái vồn vã ồn ào của người Tây-phương. Chính cái ánh mắt ông và cái bắt tay chặt chẽ của ông đã bộc lộ tâm tình ông nhiều hơn. Bây giờ tóc ông đã bạc nhiều, da sậm và nhăn nheo nhiều hơn, nhưng ánh mắt vẫn tinh anh và cái bắt tay vẫn nồng nhiệt như thuở đó. Những lúc đến thăm, tôi thấy ông luôn mặc bộ bà ba trắng nhạt, cũ kỹ quen thuộc, cũ kỹ quen thuộc như loại bì thư ông quen dùng trong bao nhiêu năm qua. Ông không thích đổi thay. Hình như ông hút thuốc hơi nhiều quá! Lúc nào cũng có lon thuốc rê bên mình, ông vừa trò chuyện với khách vừa vấn vấn vê vê điếu thuốc lá, liếm nhẹ rồi bật quẹt hút. Các ngón tay ông nhanh nhẹn, thuần thục đến vàng sậm màu khói. Ông khen Lâm Ngữ Đường là “cận nhân tình” có lẽ vì họ Lâm “bồ” với ông, đã không cấm ông hút thuốc dù cái bao tử của ông cứ đau đi đau lại hoài!

Thỉnh thoảng khi có chuyện thắc mắc, chuyện vui buồn gì mà không tiện đến thăm, tôi viết thư cho ông. Lần nào ông cũng sốt sắng trả lời, ân cần chỉ dẫn, khuyến khích tôi.

Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của ông. Cuốn sách đầu tay của tôi Những tật bệnh thông thường trong lức tuổi học trò, chỉ là một phần bổ túc cho cuốn Kim chỉ nam của học sinh. Sau đó tôi viết thêm một cuốn khác, cùng loại y-học phổ thông, cũng nằm trong chiều hướng nâng  cao trình độ đại chúng mà ông đã vạch. Ông nói muốn cho nước giàu, dân mạnh thì không phải chỉ một người hay một nhóm người làm được, mà phải là toàn dân cùng ý thức, cùng thực hiện. Muốn vậy phải đặt nặng vấn đề giáo dục đại chúng.

Với tôi, ông là một tấm gương sáng. Tấm gương của Nghị lực, của Tự học và của Phụng sự. Ông tận tụy cả đời viết sách, đem kinh nghiệm bản thân ra hướng dẫn thanh thiếu niên, mong giúp được cho người khác chút gì ; lúc bỏ cây viết ra thì vớ ngay cuốn sách để đọc, để học không ngừng. Tôi đoán sở dĩ ông đã không nhận một chức vụ gì trong guồng máy công quyền là để giữ cho ngòi bút mình độc lập, để có thể đóng trọn vai trò giám sát của người trí thức mà Alain đã nói. Nhờ đó ông không có mặc cảm, thấy điều gì đáng khen thì khen, điều gì không ưa thì nói. Và ông đã nói bất cứ điều gì từ việc dịch sách, chuyển ngữ đến việc nhân mãn, ô nhiễm… Có thể đôi lúc ông cũng sai lầm, nhưng điều quan trọng là ông đã thành thực với chính ông.

 

Đến nay ông đã cho ra được 100 tác phẩm, có những tác phẩm dày vài ngàn trang, có những tác phẩm 3. 4 cuốn, về đủ mọi bộ môn, từ văn chương, y-học, giáo dục, đến lịch sử, triết học… làm nhiều người kinh ngạc về sức làm việc của ông. Tôi biết có những tác giả “sản xuất” còn nhiều hơn ông, viết mau và viết mạnh hơn ông, nhưng đọc họ người ta thấy rõ ràng là những tác phẩm máy móc, sản xuất hàng loạt. Ở ông thì không. Ở ông là con người. Tác phẩm ông là con người ông. Ông “dạy” cho thanh niên rèn nghị lực thì chính ông là một tấm gương nghị lực ; ông viết về tổ chức thì chính nếp sống ông là một sự tổ chức ; ông viết về tự học thì chính ông đã nhờ tự học mà thành công. Nhờ viết từ những kinh nghiệm sống thực đó, người đọc thấy gần gũi với ông và những lời ông chỉ dẫn đều có thể ứng dụng được.

Nhìn lại toàn bộ tác phẩm ông, không ai chối cãi giá trị của những Đông kinh nghĩa thục, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đại cương Triết-học Trung-quốc, Ngữ pháp Việt-nam… và những Chiến tranh và Hòa bình, Sử ký Tư Mã Thiên, Chiến quốc sách… Những tác phẩm đó thực sự có ích cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên đại học và đã đóng góp một phần đáng kể cho nền văn hóa miền Nam. Nhưng theo tôi, những tác phẩm quan trọng trong đời ông, đáng cho ông hãnh diện chính là những tác phẩm nho nhỏ, ông viết nhằm giáo dục thanh thiếu niên, hướng dẫn họ trong việc tự huấn luyện trí, đức. Đó là Kim chỉ nam của học sinh, Tự học để thành công, Tương lai trong tay ta, Rèn nghị lực… và nhất là bộ Gương danh nhân của ông. Mà họ là ai? Là những thiếu niên thất chí bán hàng xén như tôi thuở đó, là anh thợ may lận đận như anh Chín NS, là một giáo viên tiểu học, một y tá hương thôn, một thơ ký nghèo trong một công tư sở nào đó. Họ là những người có thiện chí, có tinh thần cầu tiến, hiếu học nhưng vì hoàn cảnh mà lỡ dở. Họ là thành phần đông đảo nhất trong xã hội ta bây giờ, một xã hội có vốn liếng hơn ba mươi năm chiến tranh. Nhờ những cuốn sách đó, trước mắt họ mở ra những cánh cửa mới, trong lòng họ nhen lên ngọn lửa nồng, và dù họ có không “thành công” nhiều thì đời sống họ cũng sẽ được nâng cao ít ra là về mặt tinh thần. Thú thực, tôi rất bực mình khi thấy chính tác giả có lần đã xếp những loại sách đó vào hàng thứ yếu. Ông nói “… nhưng chẳng qua cũng chỉ để cho thanh niên đọc (Kỷ niệm Văn-thi-sĩ hiện đại – Bàng Bá Lân). André Maurois 80 tuổi mới viết “Thư ngỏ gởi tuổi đôi mươi”!

***

Mơ ước lớn nhất của đời ông bây giờ có lẽ là được thấy cảnh thanh bình, con cháu đoàn tụ, rồi lui về  sống với mảnh vườn ở miền quê. Năm kia tôi gửi ông một bài thơ, bài “Đi cho đỡ nhớ” viết từ nỗi xúc động thấy những chuyến xe lửa lại lăn trên đường sắt, dù chỉ mới lăn đến… Biên Hòa, mà mơ một chuyến tàu nam bắc. Ông trả lời:

“(…) Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá! A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà-nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết công việc, nhờ cháu làm revision gérénale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam Trung Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v…”

Rồi cuối năm ngoái, có lẽ đã đợi mãi, hy vọng rồi thất vọng mãi vẫn chưa thấy thanh bình về trên quê hương mà chiến tranh càng ngày càng thêm thảm khốc, ông viết “Bây giờ tôi chỉ mong được nghỉ ở thôn quê thôi. Hai mươi mấy năm viết lách liên tiếp, chưa bao giờ được nghỉ lấy một tháng (…)” Ý muốn này ông đã lập đi lập lại như một điệp khúc từ nhiều năm qua mà không sao thực hiện được. Cứ nghỉ ít lâu ông lại chịu không nổi, phải cầm viết lại. Ông đã nghiện nặng rồi chăng?

Cuộc đời ông quả thực là một tác phẩm lớn. Tôi ước mong trong tuổi già ông sẽ viết hồi ký, kể lại đời mình cho bọn trẻ chúng tôi đọc như André Maurois viết “Portrait d’un ami qui s’appelait moi” vậy. Tôi là độc giả của ông từ ngày còn là một học trò đệ thất, lại được quen biết ông hơn 15 năm nay, nghĩ lại, nếu trong thời thơ ấu không được đọc những sách đó của ông, không được gặp ông, có lẽ tôi đã khác ; nên tuy không được may mắn học với ông ngày nào, từ lâu tôi vẫn xem ông là một vị thầy của mình, hơn thế, một người thân. Tôi đâu có cần phải nói cám ơn ông!

***

Còn nhớ năm 1978, tôi có dịp lần đầu tiên ra Hà Nội dự một hội nghị về y học. Hà Nội không hề xa lạ với tôi. Tôi như thuộc lòng từng ngõ ngách, từng phiến đá, từng mái tranh gốc rạ, từng phố xá thân quen… cũng nhờ từ nhỏ đã sống với tác phẩm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng… những buổi chiều vàng, những gánh hàng hoa, những anh phải sống… rồi với cả những người xa Hà Nội như Mai Thảo, như Vũ Bằng… Hà Nội với tôi còn là “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng…” rồi “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi, ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi…” …

Tôi lẻn khỏi hội nghị đến thăm Văn Miếu, lòng lâng lâng như đi giữa ngàn xưa và bỗng nhớ Nguyễn Hiến Lê, nhớ một câu ông viết từ những năm 50  rằng bằng cấp không phải là thước đo giá trị của một con người. Có những người có tên trong văn bia tiến sĩ ở Văn Miếu mà chẳng mấy ai còn nhớ, trong khi những Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Chu Manh Trinh, Tản Đà, Tú Xương… luôn được người đời nhắc đến…

Tôi đến Bưu điện Hà Nội gởi ngay cho ông một tấm bưu thiếp. Chỉ viết mấy dòng vắn tắt. Cũng chẳng hy vọng gì nó đến được trong thời buổi đầy khó khăn này. Vậy mà hơn một tháng sau, Nguyễn Hiến Lê nhận được bưu thiếp và ông trả lời:

Saigon 3/11/78
Thân gởi cháu Ngọc,
Hôm qua tôi được bưu thiếp cùa cháu gởi từ Hà Nội ngày 29/9. Cảm động nhất là câu: “Cháu đến thăm Văn miếu , nghĩ đến bác nhiều”. Tôi hiểu rồi chắc cháu nhớ một đoạn cuối tập Bí quyết thi đậu của tôi. Cảm ơn cháu nhiều lắm. Cháu hiểu tôi. Cháu làm tôi nhớ hồi trẻ tôi học ở trường Bưởi (Chu Văn An) ngoài đó quá. Cháu có xem Hồ Tây, chùa Quan Thánh, đường Cổ ngư (nay là đường Thanh Niên?) không? Trường Bưởi của tôi ở bên bờ Hồ Tây đấy. Mà trường Yên Phụ (tiểu học) của tôi ở trên bờ hồ Trúc Bạch trông ra đường Cổ ngư đấy.

Đứng trên đường này nhìn về phía Bắc sẽ thấy núi Tản Viên, quê tôi ở gần chân núi đó. Nhớ quá đi. Cháu có đi thăm đền Ngọc Sơn, đền Voi Phục, chùa Láng … không? Toàn những cảnh mà hồi trẻ tôi mê.

Mê nhất là cái sắc trời, cái không khí trong trẻo, những làn sương lam nhẹ là là mặt đât, ngọn gió hây hẩy, những lá vàng, làn nước xanh, hương lúa của mùa thu ngoài đó. Toàn là những teintes douces, gợi những tình cảm buồn buồn mà nên thơ, nên thơ lắm. (…)

Nhớ lại trước đó nữa, đầu năm 1974, tôi gởi ông bài thơ mới viết: Đi cho đỡ nhớ, ghi lại cảm xúc của mình trong ngày đầu tiên trên chuyến xe lửa nối liền Saigon- Biên Hòa mà mơ một chuyến tàu Nam-Bắc… Ông trả lời:

Saigon 30/1/74
Cháu Đỗ Hồng Ngoc,
Tôi mới ở Long Xuyên lên. Bài “Đi cho đỡ nhớ” cảm hứng mới mẻ đấy, mà thú. Đọc hoài thơ yêu nhau và nhớ nhau, với thơ chiến tranh, ngán quá rồi. Nhưng cháu làm cho tôi thèm đi quá. A, bao giờ Saigon mới được nối với Hà Nội bằng xe lửa đây? Lúc đó tôi sẽ bỏ hết các công việc, nhờ cháu làm revision générale cho bộ máy của tôi, rồi lên xe lửa thăm non sông Nam, Trung, Bắc một lần cuối cùng. Sẽ uống dừa Tam Quan, ăn cam Xã Đoài, rồi ăn nhãn Hưng Yên, hồng Bạch Hạc, cốm Vòng v.v.. Thèm không cháu?(…)

 

Ông thường nhắc trong thư cảnh núi Tản hùng vĩ, cảnh ngã ba Bạch Hạc mênh mông mùa nước lớn, cảnh đồng ruộng văng vẳng tiếng sáo diều và thoang thoảng hương lúa, cảnh chợ quê lèo tèo mấy gian cột tre mái rạ với những quán chè tươi… làm tôi cũng nhớ quá!

Cơ hội đã đến với ông. Năm 1979, ông được mời đi dự Hội nghị khoa học toàn quốc về vấn đề Giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt tại Hà Nội, thế nhưng lần đó ông không đi được vì bệnh. Rồi thôi, không còn dịp nào nữa!

22.10.79
Cháu Ngọc,
Tôi đã bỏ ý ra Hà Nội rồi. Cơ hội tốt, đáng tiếc thật. Nhưng ngại chỗ ở và ăn lắm, cũng ngại cuối Oct. thời tiết lạnh đau bao tử và rhinite trở lại. Cũng còn li do: ông Trương Văn Chình không được mời ra, không hiểu tại sao. Đi một mình, buồn.

(Ghi chú: Trương Văn Chình là người cùng hợp soạn với ông cuốn Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam. NXB Đại học Huế, 1963).

Rồi ông về ở hẳn Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông ở miền Nam, ráng viết cho xong các tác phẩm triết học Trung Quốc mà ông nói là “hy vọng còn có giá trị trong vài mươi năm nữa”- và “cũng để bắt đầu óc phải làm việc” cho nó đừng sớm “lão hóa”. Cũng trong thời gian này, ông nói ông băn khoăn không biết có nên viết hồi ký hay không, và, nếu có viết thì sẽ viết những gì. Trong các thư riêng gởi tôi, ông tâm sự như thế và nghĩ rằng có lẽ cũng nên viết chút gì đó chừng vài trăm trang… Thế rồi Hồi ký Nguyễn Hiến Lê cũng như 120 tác phẩm của ông đã hình thành như ta được biết hôm nay.

Những năm cuối đời, ông thường ưu tư buồn bã, mà vẫn khôn nguôi nỗi nhớ quê xưa:

Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: ”Vạn sự tan như mây khói” cả rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan luôn nữa.
Tôi chưa về thăm ngoài đó….
(Long Xuyên 30.7.79)

Ông thường về Long Xuyên, quê hương thứ hai của ông, bùi ngùi nghe lại câu hò ngày xưa:

“… chèo vô Núi Sập lựa con cá khô sặt cho thiệt ngon,
lựa trái xoài cho thiệt giòn,
đem ra Long Xuyên lựa gạo cho thiệt trắng, thiệt thơm,
em về em dọn một bữa cơm
để cho người quân tử
hò ơ… để cho người quân tử ăn còn nhớ quê…” [1]

Với tấm lòng như vậy, dễ hiểu tại sao mặc dù ông có điều kiện để đi xa – vợ con ông ở Pháp từ nhiều năm trước– nhưng ông chọn ở quê nhà, chết ở quê nhà (ngày 22/12/1984), và được hoả táng tại Thủ Đức.

 

 

Bức thư NHL viết cho ĐHN năm 1979

 

Lá thư Thầy Nguyễn Hiến Lê gởi Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

(Cám ơn anh Hai Trầu, Lương Thư Trung, đã đánh máy lại)

Long Xuyên 20. 7. 1979

Cháu Hồng Ngọc,

Tôi về đây từ 4.6, tính 1.8 mới trở lên Sàigòn. Về để chuẩn bị sang năm sẽ về ở hẳn dưới này: già rồi, nhà tôi muốn ở tại quê hương gần họ hàng, người thân.

Mới nắng được một tuần nay, mà nắng gắt; trước đó mưa liên tiếp ba tuần, buồn quá, không biết làm gì đọc lại báo cũ, số BK cuối cùng 25.4.75. Đọc lại bài cháu viết về tôi, rồi đọc lại bài Bàng Bá Lân ( trong Kỉ niệm nhà văn hiện đại), bài anh Ngư (trong Sống và Viết) và tập Châu Hải Kỳ viết về tôi.

Bài của cháu ngắn nhất mà tôi thích nhất, vì thành thật, tự nhiên, thân mật nhất. Lối viết của cháu cũng giống lối viết của tôi: Sáng sủa, gọn gàng, cụ thể, xen nhiều hồi kí, tình cảm, hấp dẫn. Không có những câu dài lúng túng như một số cây bút trẻ.

Tôi nghĩ cái buổi trưa cháu thấy cuốn Kim chỉ nam của tôi ở trên vỉa hè đường Trần Hưng Đạo đó. Không vì nó là một điểm quan trọng đánh dấu đời cháu mà cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến đời của tôi nữa. Trong bảy tám năm nay cháu giúp tôi được nhiều khi tôi đau, nhờ cháu mà tôi biết cậu Hùng – cháu có gặp, cho tôi gởi lời thăm cậu ấy – mà hết được tật và bệnh thận. Rồi bài cháu viết về tôi chắc khiến cho nhiều người hiểu tôi hơn; lại còn những quà như bánh tráng, hột điều, mạch nha mà bây giờ không làm sao có được nữa. Ngon lạ.

Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: “Vạn sự tan như mây khói” cả rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan biến nữa. Tôi chưa về thăm ngoài đó mà cũng không muốn về nữa.

Còn sống ít năm nữa thì rán viết như bắt óc làm việc cho nó khỏi mau suy, và cũng để cho mau qua 24 giờ trong một ngày.

Tôi đã làm gần xong chương trình của tôi rồi: giới thiệu kĩ và dịch trọn hoặc gần trọn tác phẩm của tất cả các triết gia lớn của T.H. thời Tiên Tần: 7-8 bản thảo trung bình 400 trang một. Không biết giữ được bao lâu? 10 năm, 20 năm nữa?Tôi cũng tính viết qua loa (vài trăm trang thôi) hồi kí. B.B Lân đã viết xong 500 trang, Quách Tấn viết cả ngàn trang rồi mà chưa xong.

Nhưng tôi không biết viết gì bây giờ? Viết về hoạt động văn hóa của tôi? Thì các tác phẩm của tôi đó, viết thêm gì nữa?

Viết về đời sống của tôi hồi trẻ? Thì cũng đã lác đác có trong một số tác phẩm của tôi rồi. Viết về bạn văn? Tôi ít bạn văn, chỉ khoảng mươi người, khen họ thì tôi nghĩ nên vắn tắt thôi, không cần viết dài, còn chê thì tôi không có gì để chê!

Cháu nghĩ xem tôi nên viết gì đây? Tôi chưa đọc cuốn Mon ami qui s’appellait moi của A.Maurois mà cháu nhắc trong bài báo BK đó. Ông ta nói gì trong đó? Cháu có cuốn đó không? Tôi sẽ hỏi Lê Ngộ Châu xem có cuốn đó không.

Trong bài cháu viết, có nhắc tới “anh chín NS” thợ may. Nay ông ta vui không? Yên ổn làm ăn được không? Con cái khá không?

Từ 1975 tới nay, tôi vẫn thường được thư của thanh niên, toàn là những cậu mới hay sắp đậu tú tài thì nước nhà thống nhất. Họ vẫn tin tưởng ở sách của tôi. Tôi mong rằng họ sẽ không thất vọng, và tôi thương họ!

À, gần đây cháu có gặp Thầy Từ Mẫn không? Ông Nguyễn Hữu Vị nữa?

Năm ngoái Viện khoa học xã hội sai người (người này quen tôi) lại dò xem tôi còn ở đây không. Rồi mới hai tháng trước một cán bộ quen tôi từ mười mấy năm trước (sơ sơ thôi) cũng lại hỏi tôi có tính đi đâu không. Tôi đáp: Có, tính về Long Xuyên ở cho trọn cái tuổi trời. Họ ra về và chẳng trở lại nữa.

Thư này tôi viết ở L.X nhưng không nhớ địa chỉ của cháu, phải đợi về Sàigòn rồi mới gởi được. Khoảng đầu Aout, chưa biết ngày nào tôi sẽ lên. Xe cộ đi bây giờ mệt lắm mà tốn kém lắm.

Tôi chúc toàn thể gia đình cháu an vui.

Bệnh của nhà tôi bớt nhiều (8/10) rồi nhờ Gasepeline ở Pháp gởi về.

Thân ái,

Nguyễn Hiến Lê

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: Lại về Lagi

02/12/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Thư gởi bạn xa xôi,

Lại về Lagi

Có mấy người em của bà xã mình ở Mỹ về chơi, nên tổ chức đi Lagi Phan Thiết một chuyến.

Cái “mới” của kỳ này là về thăm lại chốn cũ, bãi biển Đồi Dương, để nhìn Hòn Bà cho rõ, thăm lại những gốc dương xưa, ngày càng già cổ. Lạ, thị xã Lagi phát triển nhanh, đẹp, nhưng bãi Đồi Dương thì ngày càng nhốn nháo, ngập rác.

Lagi có Núi đất, và Hồ nước mênh mông, cung cấp nước cho Thị xã. Trông từ xa, núi đất giống như chiếc nón lá rất dễ thương, như Núi Chớp Chài ở Phú Yên. Núi đất xưa hoang vu. Ngôi mộ Thầy Thím từng có cọp về viếng. Nay đã bắt đầu… đô thị hoá. Ngay chân núi đã thấy có quán cà-phê Lưng Chừng Núi khá đẹp, có nhà trọ. Gần đó là khu chế biến Trầm hương…

Một ngôi chùa mới xây sát bên biển, chùa Quảng Hạnh 2, có tượng Quan Âm khá đặc biệt: rất trẻ, thay vì đứng trên toà sen lại đang cưỡi rồng dạo khắp nơi. Lần trước, về thăm, mình đã “cảm tác” mấy câu thơ:

“Cô Quan Âm xinh đẹp

Cưỡi rồng dạo khắp nơi

Tay ôm bình tịnh thuỷ

Cứu khổ cho muôn người!”.

(ĐHN)..

Gởi bạn vài hình ảnh coi vui nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

Về Lagi, thăm lại bãi Đồi Dương quen thuộc ngày xưa… (15.11.2024)

 

Những gốc dượng già đã thành cổ thụ, như một con dê núi về thăm…

 

Bãi tắm mới. Cũng là nơi xưa có Giếng Nguồn Chung, chứa nước nhỉ xuyên qua động cát, cho bà con đi dọc biển có nước ngọt uống đỡ khát trên đường từ Lagi về Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa  (quê Nguiễn Ngu Í, Nghê Nhã Ý, Lê Phương Chi…).

 

 

 

 

Tượng Quan Âm ở Chùa Quảng Hạnh 2. Hồ Tôm, Lagi.

 

Núi Đất Lagi (ĐHN 2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

CON ĐƯỜNG AN LẠC  Bài 7: SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI

22/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

“Sách bỏ túi” cho người cao tuổi

CON ĐƯỜNG AN LẠC 

Bài 7: SÁNG, TRƯA, CHIỀU, TỐI

Đỗ Hồng Ngọc

(translated by Nguyen Giac)

Kinh sách khuyên học Phật dù một câu một chữ cũng… quý!
Lục tổ Huệ Năng lúc còn gánh cũi trên rừng chỉ nghe người ta tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà hoát nhiên đại ngộ. Lại nhớ chuyện một thiền sư cho đệ tử mỗi một chữ “Vô” để làm “thoại đầu” mà thiền tập…
Các bậc tôn túc tự xưa đã đúc kết những câu những chữ chẳng đáng cho ta ngẫm ngợi đó sao?
Chẳng hạn “trà Tào Khê”, “cơm Hương Tích”, “thuyền Bát Nhã”, “ trăng Lăng Già” !

 

SÁNG: Trà Tào Khê

Huệ Năng từ phương Nam lặn lội đến Huỳnh Mai bái Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật chi ?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu gì khác !” Tổ bảo: “Ông người Lãnh Nam quê mùa, ít chữ, làm sao kham làm Phật ?” Huệ Năng đáp: “Người có Bắc Nam chớ Phật tánh đâu có Nam Bắc. Kẻ quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác!” Hoàng Nhẫn giật mình. Cho xuống bếp… bửa củi, nấu cơm, giã gạo!

Không lâu sau đó, Ngũ Tổ gọi riêng truyền dạy cho, rồi trao y bát, lẻn đưa Huệ Năng xuống thuyền trốn về phương Nam xa xôi nơi có dòng suối mát Tào Khê tu tập. Huệ Năng trở thành Lục Tổ từ đó, ngày ngày uống ngụm trà Tào Khê, bắt đầu truyền thụ dòng Thiền “đốn ngộ”. Tâm truyền tâm. Bất lập văn tự. Kiến tánh thành Phật. Lấy Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc.

Huệ Năng dạy học trò nghiêm khắc. Đệ tử từ xa tìm đến tham vấn, xin ấn chứng mà chưa tỏ ngộ, chưa thấy “bổn lai vô nhất vật”, chưa nhận ra “Thức tự tâm chúng sanh/ Kiến tự tâm Phật tánh”, còn loay hoay dính mắc mãi những đâu đâu thì thường bị quở phạt, trách mắng, cảnh tỉnh.

Một hôm có người học trò Vĩnh Gia Huyền Giác đến Tào Khê. Huyền Giác xuất gia từ nhỏ, tinh thâm Thiên Thai tông, nhờ xem Duy Ma Cật Sở Thuyết mà tâm địa bừng ngộ.
Gặp Huệ Năng, ông đi quanh ba vòng rồi chống tích trượng đứng yên.
Huệ Năng trách :
– Phàm làm Sa môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?
Huyền Giác trả lời: Sinh tử sự đại/ Vô thường tấn tốc (sinh tử việc lớn, vô thường mau chóng, lễ nghĩa làm chi!).
Huệ Năng đáp :
Sao không nhận cái lý (thể) “Vô sinh” và thấu rõ (liễu) cái nghĩa “không chóng”.
Huyền Giác đáp: “Thể” tức vô sinh, “liễu” vốn không chóng.
Huệ Năng khen: Đúng vậy! Đúng vậy!
Thế rồi Huệ Năng cùng Huyền Giác đối đáp, càng lúc càng sôi nổi.
Đoạn, Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng hỏi.
Về chóng thế sao?
Rồi, mời Huyền Giác ở lại Tào Khê với mình một đêm để cùng uống trà… mà đàm đạo!
Về sau, Huyền Giác viết Chứng đạo ca:
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân ?
Vô minh thực tánh tức Phật tánh,
Ảo hoá không thân tức Pháp thân.
(…)

 

TRƯA: Cơm Hương Tích

Hôm đó Duy Ma Cật tiếp Bảo Tích và năm trăm vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà viên ngoại- là những Bồ-tát tại gia tương lai- tại cái thất trống trơn của ông ở thành Tỳ-da-ly.
Giữa lúc mọi người đang sôi nổi hào hứng bàn những chuyện cao xa như hữu lậu với vô lậu, hữu vi và vô vi, sinh tử và niết bàn… thì Xá-lợi-phất, vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật, lên tiếng đưa mọi người về “mặt đất”: “Sắp đến giờ ăn rồi. Các vị Bồ Tát này sẽ ăn thức gì đây?”.
Duy-ma-cật: “ Xin đợi cho giây lát, tôi sẽ khiến quý vị được thứ thức ăn chưa từng có”.
Thức ăn chưa từng có ư? Với các vị vương tôn công tử, thiếu gia, con nhà trưởng giả này thì cao lương mỹ vị có gì là lạ, tổ yến hồng sâm, nem công chả phượng có gì là lạ.
Họ háo hức chờ đợi Duy-ma-cật mang đến thứ thức ăn “chưa từng có”!

Thì ra… Duy-ma-cật mang đến một mùi hương! Một mùi hương thơm. Thứ “thức ăn” xin được từ cõi Chúng Hương của Phật Hương Tích! Đó là một thứ “thức ăn” chưa từng có.
Duy-ma-cật liền nhập vào Tam-muội, dùng sức thần thông khiến cho đại chúng nhìn thấy về hướng trên, cách đây nhiều cõi Phật liên tiếp nhau như số cát của bốn mươi hai con sông Hằng, có một cõi nước tên là Chúng Hương, hiện có đức Phật hiệu là Hương Tích ngự tại đó. Nước ấy có mùi thơm bậc nhất đối với các mùi thơm của người ta và chư thiên ở các thế giới chư Phật mười phương. Khắp cõi ấy, mùi thơm tạo ra lầu gác. Người ta đi trên đất bằng mùi thơm. Các cảnh hoa viên và vườn tược đều bằng mùi thơm. Từ nơi thức ăn, mùi thơm bay tỏa ra khắp vô lượng thế giới mười phương.
Duy-ma-cật chỉ xin “chút xíu thức ăn thừa” của Phật Hương Tích để đãi các vương tôn công tử tại Tỳ-da-ly hôm ấy. Chỉ một chút xíu thức ăn thừa thôi nhé. Một chút thức ăn thừa thôi cũng đã là quá đủ, bởi thứ « thức ăn chưa từng có” đó là một thứ « vô tận hương » đến từ bên trong của người có giới đức. Chính là hương giới đức. Một thứ hương có thể “bay cao, bay xa, bay ngược chiều gió”!

Hương thơm giới đức không thể có trong một ngày một buổi. “Hương” thơm đó phải được “Tích” chứa từ từ mới đầy dần lên được, mới sung mãn, mới tràn trề… mới “ngát hương”!

Nhờ giới đức, cõi Chúng hương đó của Phật Hương Tích chẳng cần phải thuyết pháp bằng văn tự mà chỉ dùng các mùi hương là đủ. Mọi chúng sanh nhờ hương giới đức mà đắc nhập luật hạnh. Bồ-tát ở cõi đó mỗi vị đều ngồi nơi cội cây thơm, nghe mùi thơm vi diệu kia mà thành tựu hết thảy các phép Tam-muội Đức tạng. Chẳng cần phải nói năng cho phiền hà, gây tranh cãi, hí luận. Bởi Giới là gốc. Có Giới thì có Định, có Huệ đó vậy.

 

CHIỀU: Thuyền Bát Nhã

“Bát Nhã” lúc nào cũng phải có… “thuyền”! Nhưng có lúc “bè” cũng được… Có lần Phật bảo các đệ tử: Qua sông rồi còn vát bè theo chi cho nặng!
Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa (Prajna Paramita) thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Bát Nhã luôn là Bát Nhã “Ba-la-mật”. Prajna paramita. Para: bờ kia, bên kia. Mita: đến. Paramita: là đến bờ kia, là “đáo bỉ ngạn”. Từ bờ mê qua bến giác.
Qua bờ kia thì “Độ nhất thiết khổ ách” được ư? Được. Với điều kiện hành thâm Bát Nhã. Thấy rõ năm uẩn đều Không. Chẳng những vậy, khi đã thấy không tướng, thực tướng vô tướng, đã sống với Bát Nhã, sống trong Bát Nhã thì… cái núi Tu Di to đùng kia có thể nhét vào hột cải, nước bốn biển mênh mông nọ có thể cho vào một lỗ chân lông… !
Một khi lý đã vô ngại thì sự vô ngại. Lý sự đã vô ngại thì sự sự vô ngại…

Nhưng, thuyền có đi thì có về, có qua thì có lại. Các vị Bồ-tát theo nguyện vì người mà nấn ná cõi Ta-bà, qua qua lại lại giữa đôi bờ. Thuyền thong dong qua lại mà cũng chỉ quanh quẩn ở lòng ta, tâm ta.

Con thuyền vẫn đi có khi trên dòng nước xuôi, có khi trên dòng nước ngược. Phải chèo phải chống. Không dễ mà lõng buông tay lái. Bố thí. Trì giới. Nhẫn nhục. Tinh tấn. Thiền định. Trí huệ.

Bát Nhã, Prajna, là cái Biết trước cái Biết. Pra là trước, Jna là biết. Cái biết trước cái biết là cái biết hiện tiền, biết “như thực”, không qua suy luận, phê phán, biện biệt. Cho nên nó đã là Trí chớ không còn là Thức nữa. Hay nói cách khác Thức đã chuyển thành Trí.

 

TỐI: Trăng Lăng Già

Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
Ấy bởi Phật đã thuyết giảng chân lý giúp cho mọi người chuyển hóa tâm thức, vượt ngoài tri thức lý luận, vượt cả tam-ma-địa thông thường để mà an trú trong Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, cảnh giới cao nhất, nhập vào Như lai tạng, bằng tự chứng tự nội…

Giữa đỉnh núi ở trên đảo Lăng Già khi nhìn những ánh trăng bập bềnh trên sóng nước, vỡ tan, vỡ tan theo từng con sóng, Phật đã cất tiếng cười to. Ánh trăng vỡ tan và gom tụ lại. Rồi vỡ tan, rồi gom tụ lại. Hoa đốm hư không. Dấu chân chim ngang trời. Bức tranh vân cẩu. Nó vậy đó. Thế giới muôn hồng ngàn tía cũng chỉ do tâm thức tạo ra. Nó như huyễn, nó như mộng, như bào ảnh, như sương mai, như ánh chớp… Bên dưới đó, là Như Lai tạng, là A-lai-da vẫn im ả, “như như bất động”. Chỉ có cái thức tâm phân biệt của ta quậy phá chính ta. Cái tâm thanh tịnh bổn nhiên kia vẫn im ắng. Không lay động. Vẫn bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.

Vì thức khởi mà sự sinh. Thế giới chỉ là tâm thức của chính mình. Chúng sanh là ảo vật do ảo thuật gia là ta vẽ bày để rồi tự mình phan duyên, dính mắc, khổ đau…

Bồ tát thấy biết như vậy, thấy biết nhứt thiết duy tâm tạo, thấy chúng sanh là ảo vật do chính mình tạo ra rồi thức tâm phân biệt, chấp trước mà khổ đau bèn nói thẳng cho mọi người cùng biết. Nói thẳng ra như thế mới là “lòng từ chân thật”, không giấu giếm, che đậy, không hù dọa, gạt gẫm nhau chi! Vì như huyễn, mà có lòng Từ. “Trí chẳng đắc có không/ Mà hưng tâm đại bi”.

Tâm bất sinh thì vô sinh. Vô sinh thì vô sự. Dứt mọi phân biệt của thức tâm thì không bị quậy phá nữa. Ở đó là Như Lai tạng. Nhất thiết chủng trí. Đại viên cảnh trí.
Thấy biết Như Lai, thì sống với Như Lai, sống trong Như Lai, sống cùng Như lai vậy.

(ĐHN)

 

 

…. o ….

 

A pocketbook for the elderly

A PATH TO PEACE & JOY

Chapter 7: MORNING, NOON, AFTERNOON, EVENING

 

By Đỗ Hồng Ngọc, M.D.

Translated by Nguyên Giác

 

The scriptures suggest that learning Buddhism, even a single sentence or word, is invaluable.

The Sixth Patriarch, Hui Neng, while carrying firewood in the forest, overheard people chanting the phrase, “Let your mind cling to nothing; then the mind of Nirvana will appear,” and he suddenly attained enlightenment. I also recall the story of a Zen master who instructed his disciple to meditate on just one word: “No.” This practice encouraged the disciple to observe the mind before any thoughts arose.

The esteemed elders of the past have distilled phrases and words that merit our thoughtful reflection. For instance: Tào Khê tea, Hương Tích rice, Bát Nhã boat, and Lăng Già moon.

MORNING: Tào Khê tea

Hui Neng traveled from the South to Huang Mai to pay his respects to the Fifth Patriarch, Huang Ren. The Patriarch asked, “Where do you come from, and what do you seek?”

Hui Neng replied, “I am a native of Lingnan. I have traveled a long distance to pay homage to the Master. My only desire is to become a Buddha; I do not seek anything else!”

The Patriarch said, “You are a rustic from Ling Nan, with little education. How can you become a Buddha?”

Hui Neng replied, “People have North and South, but Buddha nature has neither North nor South. This ordinary person is not the same as the Venerable, yet Buddha nature is not different!”

Huang Ren was taken aback. He instructed Hui Neng to go to the kitchen to chop wood, cook rice, and pound the rice!

Not long after that, the Fifth Patriarch summoned him privately for instruction, then bestowed upon him the dharma robe and bowl. He secretly took Hui Neng onto a boat to journey to the far South, where the cool Tào Khê stream awaited him for practice. Many years later, Hui Neng became the Sixth Patriarch. From that point on, the image of sipping Tào Khê tea each day came to symbolize the transmission of the Zen school of sudden enlightenment. This Zen method emphasizes a wordless transmission from mind to mind, teaching that one who perceives their true nature becomes a Buddha. It upholds No-thought as the central principle, identifies No-form as the true essence of all dharmas, and regards the mind anchored in No-abiding as the root of understanding.

Hui Neng taught his disciples with strictness. Disciples traveled from distant places to seek guidance and confirmation. However, those who had not yet attained enlightenment—who had not recognized that in the true nature there is not a single thing, had not yet realized that consciousness is the sentient beings arising in the mind, and that the direct perception that the original mind is Buddha nature—had not yet realized the way to separate from attachment were often punished, scolded, and warned.

One day, a man named Yongjia Xuanjue arrived in Tào Khê. Xuanjue had become a monk at a young age and was well-versed in the Tiantai sect. He had awakened to his original mind through the study of the Vimalakirti Sutra.

When he met Hui-neng, he circled around him three times and then stood still, holding his staff.

Hui Neng reproached him, “A monk must possess three thousand dignified manners and eighty thousand subtle virtues. From where do you come, Venerable, to be so arrogant?”

Xuan Jue replied, “Birth and death are significant matters, and impermanence is swift; what is the purpose of politeness?”

Hui Neng replied, “Why not accept the truth that nothing is truly born and grasp the meaning that there is nothing known as swift?”

Xuan Jue replied, “In essence, there is no birth, and understanding is not swift.”

Hui Neng exclaimed, “That’s correct! That’s correct!”

Then Hui Neng and Xuan Jue engaged in conversation, growing increasingly interested in each other’s thoughts. Eventually, Xuan Jue expressed a desire to leave, to which Hui Neng inquired, “Why are you leaving so soon?”

Hui Neng invited Xuan Jue to spend the night with him at Tào Khê to enjoy tea and discuss the Dharma.

Later, Xuan Jue composed the poem “Song of Enlightenment,” which consists of the following four lines.

The supreme learner is a contemplative individual, leading a life of non-action,

neither dispelling delusions nor pursuing the truth.

The essence of ignorance is, in fact, Buddha nature.

Illusions that lack a physical form are also the Dharma body.

 

NOON: Hương Tích Rice

That day, Vimalakirti welcomed Bảo Tích and five hundred princes, young masters, and sons of noble families—future lay Bodhisattvas—into his empty house in Vaishali.

While everyone eagerly engaged in discussions about profound topics such as the conditioned and the unconditioned, birth and death, and nirvana, Sariputra, the Buddha’s most astute disciple, interjected to ground the conversation, “It’s almost time to eat. What will these Bodhisattvas have for their meal?”

Vimalakirti said, “Please wait a moment. I will provide you unprecedented food.” Unprecedented food? For these princes, young masters, and sons of affluent families, what is so unusual about delicacies? What is so remarkable about bird’s nest, red ginseng, peacock spring rolls, and phoenix sausage? They eagerly awaited Vimalakirti’s arrival with this extraordinary food!

It turns out that Vimalakirti brought a delightful fragrance—a truly aromatic essence. The food was sourced from the Fragrant Land of the Fragrant Accumulation Buddha (Buddha Hương Tích). It was a type of food that had never existed before.

Vimalakirti then entered Samadhi, utilizing his supernatural powers to direct the assembly’s gaze upward, beyond countless Buddha lands, as numerous as the grains of sand in forty-two Ganges Rivers. There, he revealed a realm known as Fragrant Accumulation, where Fragrant Accumulation Buddha resided. This land possessed a scent more exquisite than that of any beings or devas in the Buddha worlds across the ten directions. Throughout this realm, the fragrance manifested as towering structures. People walked upon fragrant ground, and the flower gardens and groves were entirely composed of delightful aromas. The scent of the food permeated and spread throughout the countless worlds in the ten directions.

Vimalakirti requested only a small amount of leftover food from Fragrant Accumulation Buddha to entertain the princes and nobles in Vaishali that day. Just a small amount of leftover food was more than sufficient, for that extraordinary food emanated an endless fragrance from the heart of a virtuous person. It was the fragrance of virtue—a scent that could soar high, travel far, and defy the wind.

The fragrance of virtue cannot be acquired in a single day or through a brief session. This fragrance must be cultivated gradually, allowing it to fill, overflow, and become truly aromatic. Thanks to virtue, the Fragrant Accumulation Buddha’s Fragrant Land did not require written teachings of the Dharma; instead, it communicated through scents. All living beings, inspired by the fragrance of virtue, embraced the precepts and engaged in righteous conduct. The Bodhisattvas in that realm each sat beneath fragrant trees, inhaling the exquisite aroma, and achieved all the Samādhis of the Treasury of Virtue. There was no need for confusing, controversial, or trivial discourse, for the Precepts serve as the foundation. With the Precepts, one can attain both Samadhi and Wisdom.

 

AFTERNOON: Bát Nhã Boat

Prajna always requires a boat; however, sometimes a raft suffices. Once, the Buddha told his disciples, “After crossing the river, why carry the raft and make it heavy?

Avalokitesvara, when the Bodhisattva practiced the profound Prajna Paramita, realized that the five aggregates are empty and transcended all suffering and hardship.

Prajna is always Prajna Paramita. Prajna paramita. Para: the other shore, the other side. Mita: to arrive. Paramita: to arrive at the other shore. In this context, the Prajna boat transports practitioners from the shore of delusion to the shore of enlightenment.

Can one reach the other shore and eliminate all suffering? Yes, but only by deeply practicing Prajna. The practitioner comes to clearly understand that the five aggregates are entirely empty. Furthermore, when one perceives the formless—the true essence beyond form—and lives in accordance with Prajna, then even the immense Mount Sumeru can fit into a mustard seed, and the waters of the four vast oceans can be contained within a single pore. Once the principle encounters no obstacles, all things become unobstructed. When both principle and phenomena are free from obstruction, then all things are unobstructed.

But once the boat has departed, it will return, and once it has crossed over, it will come back. The Bodhisattvas, adhering to their vows for the benefit of others, remain in the realm of Samsara, traversing between the two shores. The boat leisurely moves back and forth, yet it also resides solely in our hearts and minds.

The boat continues to move, sometimes downstream and sometimes upstream. The practitioner must row and steer; it is not easy to relinquish control of the rudder. The practitioner must cultivate the qualities of generosity, adherence to precepts, patience, diligence, meditation, and wisdom.

Prajna is the Knowing before the known. Pra is before; Jna is to know. The knowing before the known is the present awareness—an understanding of reality as it truly is, free from reasoning, criticism, or discrimination. Consequently, it embodies wisdom and transcends mere consciousness. In other words, consciousness has evolved into wisdom.

 

NIGHT: Lankavatara Moon

Never before had the Buddha laughed so loudly, so heartily, and so powerfully, like a lion king in the middle of a full moon night in Lankavatara, surrounded by the lord of the island, Ravana, and his subjects, along with the presence of thousands of Bodhisattvas. The Buddha preached the truth to help people transform their consciousness, transcending theoretical knowledge and the common samadhi to reside in the Immovable Ground, the Good Wisdom Ground, and the Dharma Cloud Ground—the highest realm—entering the Tathagatagarbha through self-realization from within.

In the heart of the mountain peak on the island of Lanka, as he observed the moonlight dancing on the waves—breaking and reforming with each swell, Buddha laughed heartily. The moonlight shattered and coalesced, then shattered again, only to gather once more. All of this resembled flowers in the void, bird footprints tracing the sky, and a picture of clouds forming and dissolving. Such is the nature of existence. The world, with its myriad colors and shades, is solely a creation of the mind. It is akin to an illusion, a dream, a bubble, morning dew, or a flash of lightning. Beneath this surface lies the Tathagatagarbha, the Alaya, which remains serene “as it is, motionless.” Only our discerning consciousness disturbs us. That pure and natural mind remains still—unmoved, unborn, undying, unstained, unpure, unincreasing, and undiminishing.

Because consciousness arises, phenomena manifest. The world exists solely within our own consciousness. Living beings are illusions conjured by the magician—ourselves—where we create conditions, cling to them, and ultimately suffer.

Bodhisattvas perceive and understand in this manner: they recognize that everything is a creation of the mind and that living beings are illusions we create ourselves. The mind then discriminates, clings to these illusions, and experiences suffering. Therefore, they communicate this truth directly to everyone. Such direct communication embodies true compassion—free from concealment, deception, or intimidation. When practitioners recognize the illusory nature of existence, compassion naturally arises. Furthermore, because wisdom does not cling to either existence or non-existence, profound compassion emerges.

When the mind is at rest, afflictions cease to exist, and consequently, obstacles are eliminated. When all mental discriminations are halted, disturbances will no longer occur. Within us lies the Tathagatagarbha, the seed of wisdom encompassing all dharmas, and wisdom resembles a round, full, and boundless mirror.

Seeing and understanding the Tathagata in this way, one lives with the Tathagata, lives in the Tathagata, and lives alongside the Tathagata.

Do Hong Ngoc. MD

(Translated by Nguyen Giac)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim

Minh Lê (NT). Lá thư thứ ba: “Những người trẻ lạ lùng”

06/11/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 2 Bình luận

 

Lá thư thứ ba: “Những người trẻ lạ lùng”

Minh Lê (Nha Trang)

 

Bạn thân mến,

Cuốn sách mình sắp giới thiệu với bạn là một cuốn đặc biệt trong bộ tùy bút của Bs Đỗ Hồng Ngọc. Vì sao lại đặc biệt? Vì nó rất… lãng mạn.

Trong bài hát “Một cõi đi về” của Trịnh Công Sơn, bạn còn nhớ câu: “con tinh yêu thương vô tình chợt gọi”? “Con tinh” ở đây hẳn là “con yêu tinh” – từ người thân hay bạn bè mắng yêu các cô gái nhỏ lém lỉnh, hay chọc ghẹo người ta. Ừ, cái “con tinh yêu thương” tinh quái và nghịch ngợm ấy, nếu hôm nào đó “vô tình chợt gọi” thì bạn sẽ thế nào?

Bạn sẽ thấy tim mình bỗng đập dồn dập như một thưở nào xa lắc, rồi tự nhiên mà rung động cùng “những lời tán tỉnh, những nỗi giận hờn, những niềm tiếc nhớ” (tr. 18) dù bạn đang ở tuổi nào đi nữa. Nhưng bạn yên tâm, bởi đó là lúc “lại thấy trong ta hiện bóng con người”, bởi “con người vẫn cần có con người”, con người cần yêu và được yêu. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ cho ta thấy cái sự “yêu” này nó tạo nên những người trẻ lạ lùng ra sao…

Tình yêu cứ bàng bạc trong các bài viết đăng trong sách, nhất là khi tác giả viết về những người nổi tiếng ông có dịp tiếp xúc gần gũi như Giáo sư Trần Văn Khê, nhà văn Võ Hồng, hay ký giả – nhà văn – nhà thơ Nguiễn Ngu Í, người cậu thân yêu của ông.

Bạn biết không, mình đặc biệt thích câu chuyện về Giáo sư Trần Văn Khê với chuyện tình thơ mộng của ông. Một chuyện tình đẹp như vầng trăng, tuy là “trăng khuyết vành chờ đợi” nhưng không “hao gầy” giữa một giáo sư nhạc sĩ nổi tiếng và một thiếu phụ – học trò học nhạc với ông, kém ông nhiều tuổi. Mối tình nồng nàn và tha thiết ấy còn ở mãi trong tim Giáo sư, sưởi ấm những tháng ngày làm việc không mệt mỏi của ông.

Rồi chuyện tình của ông tổ ngành Y nước Việt: Hải Thượng Lãn Ông. Lúc đó Lãn Ông đã thành danh, là thầy thuốc được Vua tín nhiệm và người người kính trọng, nhưng vẫn choáng váng và bối rối khi gặp lại người xưa. Ông tự trách mình: “Vô tâm nên nỗi lụy người ta,  trông mặt nhau đây luống xót xa…” (tr. 128) Chuyện rồi kết thúc ra sao? Bạn đọc là biết ha.

Ngoài Hải Thượng Lãn Ông, những người còn lại tác giả đều có giao tình gần gũi nên có thể nhìn thấu tính cách và tâm hồn họ. Họ đều là người tài giỏi, được nhiều người ngưỡng mộ, nhưng ít người biết họ cũng yêu, cũng buồn đau, cũng tiếc nuối như bất cứ ai. Tâm hồn họ nhân hậu và tràn đầy yêu thương nên họ sống một đời trẻ trung đến lạ lùng!

Chưa hết, tác giả viết một bài hấp dẫn phân tích cách yêu của “tây” và “ta”. “Real Romantic!” kể chuyện phong trào “yêu kiểu mới” trong giới trẻ Âu Mỹ: “họ nhớ tiếc và muốn thực hiện cách sống yêu thương lãng mạn của cha ông ở một thời xa xưa.” (tr. 48) Tác giả so sánh một cách dí dỏm tài liệu “101 cách làm tình mà không làm… vậy” của Mỹ với cách của thơ ca Việt Nam, rồi bình luận: “nếu họ mà phát hiện thêm các kiểu… yêu của ta chắc họ sẽ có “một ngàn lẻ một cách làm tình” tuyệt diệu hơn nữa!”.

Cách gì vậy? “Đón trước cổng trường/ làm đuôi/ leo lên cây khắc tên tùm lum/ giấu thư tình dưới hộc bàn/ cắt đứt dây chuông (Lan và Điệp)/ “giết người trong mộng”/ hay lén… hôn lên áo phơi ngoài giậu/ còn siêu nữa là “xếp tàn y lại để dành hơi””… (tr. 50) Thiệt là lãng mạn và dễ thương hết sức! Yêu chỉ để… yêu thôi, dù tình đơn phương thì vẫn đẹp vô cùng, “tây” nào theo cho kịp!

Đi cùng “tình yêu” tất nhiên phải có những dòng văn chương lãng mạn thật đẹp tả tình, tả cảnh tinh tế và tình tứ.

Bài “Nhớ tiếng thu giữa Boston” ĐHN viết: “Họ không gọi Autumn – mùa Thu, mà gọi Fall – mùa Rụng, bởi vì chỉ có lúc lá rụng bời bời như vậy người ta mới thấy hết được nỗi vui mừng, nỗi xót đau, nỗi buốt nhớ… không rõ vì đâu.” (tr. 30) Trong không gian thu đầy lá rơi và những cành cây khô giữa trời thu bâng khuâng, tác giả thả bước dưới vòm cây, “nghe tiếng mùa yêu và fall in love. Với ai, vì sao nên nỗi? Có phải cái tiếng thổn thức, cái tiếng rạo rực của ai kia đã một hôm thu làm cho chàng thi sĩ trẻ tuổi (LTL) trở thành một con nai, lang thang dẫm ngập lá vàng, hẫng bước đi mà chẳng biết về đâu…” (tr. 31)

Hay bài “Trang của một thời”: “Thời trang không dừng lại ở nếp lụa là, nhung gấm – thời trang… và hơn thế nữa – là cái khỏe khoắn, cái hồn hậu nhu mì, cái đằm thắm dịu dàng, cái chín chắn tinh hoa của trí tuệ ở đằng sau kia, ở bên trong kia.” (tr. 58). “Chính ở cái tuổi chông chênh đó của người phụ nữ, cái tuổi có những cột mốc thì thầm, tuổi chuyển mùa như lá trên cành, từ cái bồng bột sôi nổi sang cái nền nã, dịu dàng, giản dị mà sang trọng, người ta đã nhìn ngắm vào bên trong bản thân mình hơn là nhìn người qua phố, và như vậy người ta đã góp phần làm cho cuộc sống thăng hoa.” (tr. 57)

“Những người trẻ lạ lùng” kết thúc bằng bài thơ “Xin cám ơn, cám ơn” tác giả viết khi tỉnh lại sau cuộc mổ cấp cứu vì cơn tai biến mạch máu não tưởng sẽ… đi luôn vào cuối năm 1997. Nghe tiếng chim hót, nhìn ánh nắng ban mai, ông bừng tỉnh nhận ra giây phút hiện tại quý giá đến nhường nào và cảm thấy tình yêu đích thực:

“Tình yêu

Đã giúp ta tìm lại chính mình

Đã giúp ta vượt thoát!”  (tr. 139)

Đọc sách xong, mình cũng muốn lặng lẽ gởi một lời cám ơn đến tác giả. Cám ơn tác giả đã chỉ cho mình thấy tình yêu quan trọng như thế nào trong cuộc đời một người, có thể giúp tâm hồn mình trẻ trung mãi ra sao. Tình yêu càng rộng lớn thì người ta lại càng trẻ…

Đúng là “yêu để trẻ” và “trẻ để yêu”!

(Minh Lê)

* Các trích dẫn từ sách Những người trẻ lạ lùng, Đỗ Hồng Ngọc, Nhà XB TP HCM 2001.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Minh Lê: Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!”

27/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 4 Bình luận

 

Lá thư thứ hai: “Già ơi… chào bạn!”

Minh Lê (Nha Trang)

 

 

Bạn thân mến,

Có khi nào bạn tự hỏi, khi nào thì mình… già? Bạn muốn nghe câu trả lời là một lời nói thẳng hay một lời… an ủi?

Lời an ủi là câu trích dẫn nguyên tác tiếng Anh do Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc dịch: “Tuổi tác là chuyện của cái tâm, nếu ta không thèm quan tâm, chả có vấn đề tuổi tác!” (tr. 13) Vậy nhưng Liên Hợp Quốc thì thẳng thừng: “Từ năm 1980, Liên Hợp Quốc coi tuổi 60 trở lên là tuổi già trong một quần thể dân số.” (tr. 23)

Thôi thì ta nghe lời nói thật không mất lòng của Bác sĩ vậy: “Có trẻ thì có già, đó là một nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau vì già, trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc.” (tr. 15)

Tuổi trẻ có hạnh phúc đã khó, làm sao có tuổi già hạnh phúc đây? Ông Bác sĩ cho bí quyết: “Chấp nhận mình là mình và thương mình nữa.” (tr. 35) Điều đó có nghĩa ta nên nhận ra những vấn đề của tuổi già về tinh thần và thể chất, chấp nhận và thích nghi để có cảm giác sảng khoái, hài lòng với bản thân.

Chương “Đời sống gia đình” nói chuyện cháu chắt và vợ chồng già. Bác sĩ khuyến khích cuộc sống gia đình nhiều thế hệ, với hai điều kiện. Một là cha mẹ tránh lệ thuộc về tài chính vào con cái, hai là cha mẹ và con cái cần điều chỉnh quan niệm và nếp sống của mỗi bên một chút sao cho “cha mẹ già có thể thành bạn của con, hiểu biết nhu cầu của nhau và giúp đỡ nhau.” (tr. 45)

Chương này có một đoạn vừa nên thơ vừa hóm hỉnh viết về tình cảm của những cặp vợ chồng cùng già đi với nhau: “Người ta có thể cùng nhìn cùng nghe cùng hiểu và có cùng cảm xúc như nhau với bao nhiêu kỷ niệm càng ướp càng nồng… Và còn một điều thú vị, như Andre Maurois nói, tình già yên tâm hơn, không sợ người yêu mình bị cuỗm mất, nghĩa là tình nồng nhưng nhẹ nhàng, êm mướt, không chua như giấm, người ta bớt ghen rồi, người ta có thể tin chắc là của nhau rồi.” (tr. 49) Thiệt vậy sao Bác sĩ?

Chương “Cám ơn mình” là một chương lý thú. “Chưa bao giờ ta được dạy nói cám ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cám ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục và không cần thiết.” (tr. 55) Sau đó Bác sĩ lần lượt chỉ cho ta thấy các bộ phận trong cơ thể ta đã làm việc bền bỉ như thế nào, từ bộ xương, bộ máy tuần hoàn gồm tim và mạch máu, buồng phổi, đến bao tử và hệ tiêu hóa, răng, mắt, tai. Biết thương mình thì ta phải chăm sóc cho chúng tốt hơn, đừng hành hạ chính ta nữa!

Chương “Những bệnh vô duyên” bàn về “những bệnh không đáng có mà có mới dễ giận”. Đó là bệnh do người già tự gây ra như “tự ý gia giảm thuốc, tin lời bày vẽ, ai mách gì cũng nghe, gây tương tác thuốc lung tung” (tr. 97) Người cao tuổi thường muốn làm xét nghiệm để tìm bệnh, nhưng Bác sĩ khuyên “cần thiết lắm mới làm xét nghiệm và phải có chỉ định của bác sĩ” (tr. 100) Và không nên nghe “những lời nói gây hoang mang, lo lắng, làm mất ăn mất ngủ, gây kiêng cữ quá đáng làm cho tình trạng bệnh khó phục hồi hơn.” (tr. 100)

Lời khuyên về thể chất cho tuổi già là “dinh dưỡng đúng cách” và “thường xuyên rèn luyện”. Bác sĩ trích đoạn thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, người sống đến 95 tuổi, và giải thích: “Măng trúc nhiều xơ, giá nhiều vitamin, mùa nào thức đó. Bơi lội, rèn luyện thể lực cũng theo mùa. Rượu chỉ “sẻ nhắp” chứ không tu, không nốc… Còn “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” thì cái này Tổ chức sức khỏe thế giới chịu, không thể hiểu nổi nên không thể khuyên ta vậy!” (tr. 104)

Bác sĩ kết luận: “những người hạnh phúc là những người biết khám phá những niềm vui nho nhỏ, nó ở ngay trong ta, quanh ta thôi, miễn là ta biết sống ngạc nhiên, tỉnh thức, khám phá như trẻ thơ.” (tr. 113) và “Thích nghi có lẽ là một năng lực quan trọng nhất để có thể sống hạnh phúc ở tuổi già.” (tr. 115) Vì vậy sách mới có tựa “Già ơi… chào bạn!” nghe thân thiết và gần gũi, khác với “Buồn ơi… chào mi!” nghe như giận hờn, ghét bỏ! (Tên bản dịch Việt cuốn Bonjour Tristesse của Françoise Sagan).

Trong khi đọc, bạn đừng quên để ý tới các hình vẽ minh họa trong sách. Những bức vẽ xem chừng giản dị và “quái quái” đó có thể khiến bạn bật cười, hay cười tủm tỉm vì thấy sao mà ngộ quá. Đích thân ông Bác sĩ kiêm họa sĩ tự vẽ, và chỉ dùng ngón tay chấm mực Tàu để vẽ. Vậy mà những nét đậm, nét nhạt, mảng sáng mảng tối vẫn hòa hợp tạo nên hình người cử động hoàn chỉnh, sinh động pha chút hài hước. Khi sách in ở Nhật, nhà xuất bản Soshisha (Tokyo) định cho vẽ lại nhưng cuối cùng đành thôi vì không vẽ ra được cái “thần” của tranh gốc.

 

Lời chúc của mình đến bạn sau khi đọc xong sách là bạn sẽ có “một sức khỏe tương đối tốt, kinh tế không quá thiếu thốn, duy trì được mối quan hệ tình cảm, có bạn tâm giao để chia sẻ, duy trì hoạt động xã hội phù hợp để thấy mình luôn còn có ích và quan trọng hơn nữa là giữ một ngọn lửa nhiệt tình, một niềm an lạc, thanh thản trong tâm hồn.” (tr. 119) Lúc đó mình chắc chắn bạn sẽ có một tuổi già hạnh phúc!

Thân mến,

(Minh Lê)

* Các trích dẫn từ sách Già ơi… chào bạn!, Đỗ Hồng Ngọc, Nhà XB Trẻ 1999.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Vài đoạn hồi ký

Minh Lê: Lá thư thứ nhất: “Gió heo may đã về …”

25/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Lá thư thứ nhất: “Gió heo may đã về …”

Minh Lê (Nha Trang)

Bạn thân mến,

Từ tuổi 40 bước sang tuổi 50, bạn có cảm thấy gì không? Mình thì cảm nhận rất rõ chút gì đó len lén tới từng ngày, như ẩn như hiện. Trời chưa phải mùa thu mà sao cứ ngỡ “một chút gió heo may đã về, những chiếc lá vàng đã rơi lác đác trên những con đường thành phố, một mùi gió bấc quen thuộc đã len vào giữa những hàng cây…” (tr. 8)

Chắc bạn đang nghĩ mình trích dẫn từ cuốn sách văn chương nào đó, nhưng bạn ơi, là từ sách Gió heo may đã về… của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đó. Thập kỷ tuổi 50 trong cuộc đời một người được mô tả qua đôi mắt tinh tường của một bác sĩ, đầu óc văn chương của một văn sĩ, và trái tim lãng mạn của một thi sĩ như vầy: “Niềm vui thì vẫn vậy sao mắt môi như trĩu nặng. Một nếp xếp đã đậm vòng cung khóe miệng, những dấu chân chim đã hằn trên khóe mắt. Và kia, một vài nhánh tóc đã nhạt phai, khô quắt, mỏng tanh.” (tr. 11)

Một chân dung chỉ vài nét thoáng qua mà sao chính xác quá! Tác giả tiếp tục định nghĩa cái tuổi “gió heo may” ấy một cách vừa văn học vừa y học: “Tuổi chớm già, ấy là tuổi của chuyển tiếp, của lúng túng, hoang mang, tuổi của những stress, của những lo âu và phiền muộn, của những mối hiểm nguy rình rập về sức khỏe, về quan hệ gia đình, xã hội… đồng thời tuổi chớm già cũng là tuổi của thành tựu, của thành đạt và uy tín trong xã hội.” ( tr 23-24)

Ôi cái tuổi chớm già phức tạp thật! Nhưng đừng lo, tác giả sẽ giúp ta tìm ra vấn đề và cách giải quyết. Bài “Người về soi bóng mình” mô tả những thay đổi về thể chất ở tuổi “gió heo may” cùng lời khuyên của tác giả với tư cách bác sĩ, cũng là người đã trải nghiệm, coi nên làm gì để gió thổi… chậm lại. Bài này có một câu đơn giản mà đúng vô cùng, đọc lên nghe như câu ngạn ngữ xưa: “Ngày như dài ra, năm như ngắn lại. Khác với lúc trẻ, ngày thì ngắn mà năm thì dài.” (tr. 30)

Rồi bài “Về thu xếp lại” nói về đời sống tính dục ở tuổi chớm già của nam và nữ, “bật mí” nhiều điều “bí mật” mà nhiều người thắc mắc nhưng “không nói ra thì không ai biết”. Lời khuyên quý giá của thầy thuốc kiêm “tâm lý gia” Đỗ Hồng Ngọc là ở giai đoạn này, các cặp vợ chồng thường “dễ nóng giận, dễ xúc phạm, làm mếch lòng nhau” nên nếu “được chuẩn bị tốt, họ có thể cảm thông, tha thứ và biết chờ đợi nhau” thì sẽ có “một tuổi già hạnh phúc” (tr. 46)

Bài “Cát bụi tuyệt vời” và “Chân đi nằng nặng hoang mang” phân tích những thử thách về tinh thần ở tuổi chớm già. Người ta bắt đầu nhìn lại đoạn đường đã qua để chọn lựa cách sống phù hợp cho “tuổi mới”. Bài “Trong khi ta về…”  nói tới hai cách sống thường được lựa chọn ở độ tuổi này.

“Sông cạn đá mòn” chỉ ra mâu thuẫn quan trọng giữa cha mẹ và con cái khi cha mẹ vào tuổi “gió heo may” và con cái đã lớn khôn, nhưng cha mẹ chưa quen với việc đổi vai từ “chăm sóc, giám sát, quyết định mọi việc cho con” thành “người cố vấn, chỉ cho những lời khuyên suông” (tr. 77) Mâu thuẫn thứ hai là giữa vợ chồng tuổi trung niên. Tác giả khéo léo đưa ra giải pháp cho cả hai vấn đề một cách nhẹ nhàng và đầy thuyết phục.                                                                                           Minh hoạ: Đỗ Trung Quân

“Sống trong đời sống” bàn về công việc và nghề nghiệp. “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” lại nói về sở thích và đam mê của tuổi chớm già. Ông thầy thuốc có tâm hồn nghệ sĩ viết một câu rất đỗi phóng khoáng: “nhớ Trịnh Công Sơn viết “Một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ, ngày qua” mới thấy để cho ngày qua thật nhẹ đôi khi người ta cần một chút say.” (tr. 97) Ông còn “xúi giục”: “Ở tuổi chớm già, người ta phải say một cái gì đó nếu không muốn… tự tử!” Ôi trời, ông bác sĩ cho thuốc khá đắng, nhưng đúng là “giã tật”. Bạn thấy đúng không?

Ông mô tả những sở thích của tuổi chớm già, hóa ra khá nhiều, quan trọng là ta có tìm ra cái gì để “say” một cách lành mạnh không. Nếu tìm ra rồi, chấp nhận rồi, thoải mái với “cái già” rồi thì “Người ta nhìn đời bằng con mắt cảm thông hơn, độ lượng hơn bởi vì người ta đã từng trải, đã tích lũy nhiều kinh nghiệm sống, người ta đã “tri thiên mệnh”.” (tr. 105)

“Và như thế tôi đến trong cuộc đời” tổng kết lại những “bí kíp” quan trọng nhất theo tác giả để có “một tuổi chớm già biết thuận thiên, biết tiêu dao, tự tại” (tr. 119) Từ đầu đến cuối sách, ông thầy thuốc nói chuyện “chuẩn bị già” bằng một giọng văn giản dị, dí dỏm, trích dẫn đủ văn chương lẫn thơ phú nên đọc về tâm sinh lý mà người đọc không bị bối rối vì gặp từ khó hiểu, lại gật gù tâm đắc và thỉnh thoảng cười tủm tỉm trước cái duyên của ông bác sĩ “nghịch ngầm”.

Cuối sách có in hai bài viết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và thi sĩ Đỗ Trung Quân. Trong khi Trịnh nhạc sĩ cự nự “Cái biên giới của tuổi chớm già và tuổi trẻ chỉ là một ước lệ mà nghìn năm trước đã bịa ra” (tr. 121) thì Đỗ thi sĩ thực tế hơn “tôi đương nhiên tin bác sĩ” và khen: “Viết về tâm sinh lý, chuyên môn y học bằng giọng văn tâm tình, “ướt át” như thế quả là hiếm gặp trong sách y khoa giáo dục.” (tr. 125)

Đâu phải “hiếm gặp”, là “duy nhất” mới chính xác, tôi nghĩ vậy khi đóng lại cuốn tùy bút xinh xắn. Dễ gì trăm năm nữa có thêm một người vừa là bác sĩ, văn sĩ và thi sĩ, để viết cho chúng ta đọc kiểu tùy bút nói chuyện sức khỏe vừa văn vẻ vừa thơ ca mà không kém phần uyên bác như vậy chứ?

Cho nên bạn ơi, đọc sớm đi, còn chờ gì nữa?

(ML)

* Các trích dẫn từ sách Gió heo may đã về…, Đỗ Hồng Ngọc, Nhà XB Tổng hợp TP HCM tái bản 2019.

Thuộc chủ đề:Gì đẹp bằng sen?, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Thư gởi bạn xa xôi: 40 năm Ct ARI BVNĐ 1

21/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư gởi bạn xa xôi:

“40 năm Chương Trình ARI”

tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1 ngày 18.10.2024

Bạn ơi,

Xin lỗi, đã lâu chẳng có Thư gởi bạn xa xôi như đã hứa. Làm biếng! Không có chuyện gì để khoe, để phiền, để giận… để nói cho nhau nghe như xưa. Sắp quên tuốt rồi chăng? Hôm nay lại có chút chuyện vui đây.

Ngày 18.10.2024, Bệnh viện Nhi Đồng Saigon, nay là BV Nhi Đồng 1, tổ chúc buổi Tổng kết Chương Trình Hô Hấp Cấp Ở Trẻ Em (ARI, Acute Respiratory Infection) ở phía Nam, có các GS, TS, BS… các nơi từ Hà Nội, từ Paris và các đồng nghiệp các tỉnh phía Nam về dự, báo cáo các đề tài Nghiên cứu khoa học.

Ái dà, bạn bè lứa mình đa số già hết trơn mà mình thì già nhất trong số đó. Dĩ nhiên có nhiều BS trẻ ở BV tham dự học hỏi.

Mình được BTC mời “tham luận”. Được thôi. “Truyền thông Giáo dục sức khoẻ” và Chương trình Sức khoẻ Cộng Đồng lâu nay không xa lạ với mình, và đã có ít nhiều kinh nghiệm. Đóng góp 15 phút thôi là đủ. Chỉ cần vài Slides.

CT ARI, cũng như CDD…  đã thực hiện khá tốt, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em đáng kể. Chỉ ngại thời buổi này, ngành Y thường chuộng Y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao… May, từ xưa, BV Nhi Đồng đã chủ trương đi “2 chân”: Vừa chuyên sâu vừa Cộng đồng. Đợt tổng kết ở BV hôm nay đúng 40 năm, từ 1984, đó cũng là năm mình triển khai Ct Săn sóc sức khoẻ ban đầu cho Tre Em ( Primary Child Care) Phương 13 Quận 6 có khá nhiều kinh nghiệm. Dịp này mình chỉ chia sẻ về vai trò và triét lý Giáo dục Sức khoẻ (Health Education) và Nâng cao Sức khoẻ (Health Promotion)  trong các Chương trình Cộng Đồng sao cho có kết quả tốt thôi.

Xin gởi bạn vài tấm hình coi vui thôi nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Vài đoạn hồi ký

50 năm: “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”

06/10/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc 1 Bình luận

 

50 năm:

Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

Đỗ Hồng Ngọc

 

Bản đầu tiên: 1974
Nxb LA-NGÀ
Bìa Đỗ Hồng Ngọc
(Hình: Tượng Me con trong một tạp chí Y học)

 

Lời ngỏ

(cho bản in lần đầu, 1974)

Sao lại viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng? Có đứa con nào mà chẳng là con đầu lòng? Có đứa nào giống với đứa nào đâu? Mỗi đứa là một khám phá mới, một ngạc nhiên mới cho ta. Nhưng dù sao, với đứa con đầu lòng chúng ta cũng bỡ ngỡ nhiều hơn, vụng về nhiều hơn mà lo lắng cũng nhiều hơn…

Bởi là lần đầu chúng ta “bỗng dưng” làm cha mẹ, chúng ta phải đối phó với những việc vặt vãnh hàng ngày làm ta lúng túng không ít: săn sóc bé, tắm rửa vệ sinh, ăn mặc, bú mớm rồi là những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn, khi bé ốm đau bệnh hoạn.

Nuôi trẻ là một bản năng, một nghệ thuật hay một khoa học? Cả ba, có lẽ thế. Là một bản năng, bởi không cần học hỏi ở bất cứ đâu, người mẹ cũng có thể nuôi con đến ngày khôn lớn. Đói cho ăn, khát cho uống. Nóng làm cho mát. Lạnh làm cho ấm. Nếu không bị lệch lạc đi, bản năng có thể là một hướng dẫn viên tốt. Là một nghệ thuật, bởi hơn bất cứ một nghệ sĩ nào khác, người mẹ đã tạo nên một tác phẩm sống: đứa con, một con người, một cá nhân.

 

Săn sóc bé, dạy dỗ bé, nhìn ngắm bé lớn lên là cả một nghệ thuật uyển chuyển đầy sáng tạo có mục đích cuối cùng là giúp bé phát triển trọn vẹn nhất theo một khuôn mẫu định sẵn, nhưng là một khuôn mẫu cá biệt, không giống một khuôn mẫu nào khác. Là một khoa học bởi nếu có đôi lúc bản năng ngần ngại, nghệ thuật phân vân thì chính kiến thức khoa học sẽ soi sáng con đường phải lựa chọn. Khoa học giúp ta hiểu rõ hơn để hướng dẫn hữu hiệu hơn, khoa học giúp ta ngăn ngừa cho trẻ những bệnh tật hiểm nghèo.

Một phần lớn, tập sách này được dành viết về vệ sinh, về dinh dưỡng, về phòng bệnh – tìm hiểu sự phát triển bình thường của bé – khi bé mắc bệnh thì biết phải làm gì tạm thời trong khi đợi đi khám bác sĩ và giúp các bà mẹ bình tĩnh theo dõi, cộng tác với thầy thuốc chữa trị bệnh cho con…

(…)

Niên học 1968-1969 tôi là sinh viên Y khoa năm cuối thực tập ở Bệnh viện Nhi đồng Saigon, tại Trại 2B  (Nội nhi) dưới sự hướng dẫn của GS Phan Đình Tuân, giám đốc bệnh viện, Trưởng bô môn Nhi ở Y khoa Đại học đường Saigon và Bs Dương Thị Thanh Liên, trưởng Trại 2B. Năm 1969, tôi tốt nghiệp bác sĩ và trình luận án về Nhi khoa (năm 1970), do GS Phan Đình Tuân đỡ đầu. Bệnh viện Nhi đồng Saigon (thành lập 1956), như một cái nôi của tôi vì tôi rất say mê ngành Nhi Khoa.

Khi về lại BVNĐ (1973), tôi làm Trưởng phòng Cấp cứu Ngoại chẩn (Consultation externe).  Chính trong thời gian này, tôi viết cuốn Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng qua những kinh nghiệm thực tế hàng ngày ở Khoa Cấp cứu nhi, và nhiều năm làm ở Trại 2B Nội nhi, thấy nhiều cảnh thương tâm do các bà mẹ thiếu kiến thức về chăm sóc, phòng bệnh cho trẻ nhỏ.  Tôi viết với tất cả sự chân tình, với kiến thức và kinh nghiệm có được nhằm chia sẻ với các bạn bè, em cháu trong nhà, và cũng vì tôi đã có 3 đứa “đầu lòng” để chăm lo.

 

Nhân 50 năm cuốn Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng xuất bản tại Saigon, xin chia sẻ nơi đây vài kỷ niệm cùng các bạn…

Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng  in lần đầu năm 1974, do La Ngà xuất bản và Sống Mới tổng phát hành, 3000 cuốn đầu tiên, chỉ trong 2 tháng đã tái bản 5000 cuốn nữa. Đến 4.1975, Nhà phát hành Sống Mới mang trả lại tôi hơn 2000 cuốn. Tuy vậy, sách vẫn có người đến lấy lai rai để bán ra ngoài đường Sách cũ. Sau 1975, Nhà xuất bản Thành phố đề nghị tôi rút ngắn (thời kỳ này giấy in rất hiếm!) và chỉnh sửa cho phù hợp tình hình mới ( về hệ thống y tế, thuốc men…). Tôi thấy cuốn sách vẫn rất cần thiết cho các bà mẹ, nhất là trong giai đoạn thiếu thốn những nguồn thông tin như lúc bấy giờ. Anh Lã Quang Quỳnh là biên tập viên, con rể của nhiếp ảnh gia Võ An Ninh, rất thấu hiểu và tôn trọng tác phẩm, dầu vậy anh nói vẫn cần một “chuyên gia y tế” thẩm định lại trước khi cho xuất bản! Vị chuyên gia được mời thẩm định là Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp. Ông xem xét rất kỹ và đánh giá là cuốn sách quý, rất hay, và cần thiết. Sau này, tôi mới được biết ông là vị thầy thuốc nổi tiếng, gốc Bến Tre, đã có phòng mạch từ trước 1945 ở Mỹ Tho, tham gia kháng chiến chống Pháp (Ông là cha của anh Trần Hữu Dũng, Viet-studies).

Về sau, sách đã được tái bản đầy đủ, theo nguyên bản (gốc 1974). Tôi cũng đã bổ sung và cập nhật định kỳ, cũng do NXB Tổng Hợp Thành Phố thực hiện.

Những năm gần đây, tuy có nhiều sách dịch về các phương pháp nuôi dạy con theo Nhật, Mỹ, Pháp, Israel…nhưng cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng vẫn được nhiều bà mẹ tìm đọc, họ nói đó là cuốn sách rất Việt, có những phong tục tập quán và những tình cảm đặc biệt của người Việt, không tìm thấy trong các cuốn sách khác.

Đến năm 2010, Phùng Minh Bảo, người giúp tôi làm Website dohongngoc.com  cùng tôi thực hiện một Ebook Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng nhằm phổ biến rộng rãi hơn trên Internet, lúc này nhiều người đã quen sử dụng.

 

Ebook do Phùng Minh Bảo & Đỗ Hồng Ngọc

thực hiện 2010

(xem trên dohongngoc.com)

 

Và tôi, viết một Lời Ngỏ cho ebook.

Lời Ngỏ (Ebook 2010)

“Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” là một cuốn sách y học phổ cập khá quen thuộc với nhiều ông bố bà mẹ suốt nhiều thập kỹ qua. Nhiều bà mẹ bày tỏ đây là cuốn sách gối đối giường của họ trong những ngày tháng ngóng đợi đứa con đầu lòng cũng như suốt thời kỳ chăm sóc nuôi nấng con nhỏ dại. Sách đã giúp họ an tâm, nhất là trong thời buổi hiện nay, nhiều gia đình hạt nhân, thậm chí đơn thân.

Tôi viết cuốn sách này từ những kinh nghiệm khi đang làm việc tại Bệnh viện Nhi đồng Saigon, hằng ngày tiếp xúc với biết bao cảnh đời thực tế; tôi cũng lại viết từ nỗi lòng của một người làm cha mẹ, vì lúc đó đã vừa có 3 đứa con với nhiều nỗi âu lo. Thời gian qua nhanh! Mới ngày nào một chú bé sơ sinh được mẹ bế đến khám bệnh tôi ngày trước thì nay đã lại thấy chú bế một bé sơ sinh khác- là con của chú- đến khám.

Nhờ được viết từ những kinh nghiệm thực tiễn cũng như từ nỗi lòng của người làm cha mẹ, nên dù ngày nay có nhiều những quyển sách tương tự được dịch từ nước ngoài, các ông bố bà mẹ vẫn tìm thấy Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng những điều chia sẻ, thân quen.

Y học tiến bộ không ngừng. sách cũng đã được cập nhật mỗi lần tái bản. Và nay,  nhu cầu đọc sách trên mạng đã trở nên phổ biến, đặc biệt với các ông bố bà mẹ trẻ- trong cũng như ngoài nước- nên khi được Phùng Minh Bảo đề xuất chuyển thành Ebook để tiện tra cứu, tôi đã rất vui lòng đáp ứng. Ebook đã được biên soạn thêm, chỉnh sửa, bổ sung… đầy đủ hơn.

Tôi rất mong qua Ebook này, được dịp trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp, bạn bè gần xa và nhất là được giao lưu với các ông bố bà mẹ qua internet, phương tiện giúp ta mỗi ngày một gần gũi nhau hơn.

Trân trọng,

BS Đỗ Hồng Ngọc

Saigon 3.11.2010

 

 

Vài hình ảnh cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng

 

……………………………

Lời Ngỏ (tái bản 2006)

Mới đó mà đã hơn 30 năm ! Thời gian trôi nhanh thật. Những chú nhóc ngày nào được các bà mẹ, ông bố trẻ lo âu thắc thỏm bế đến tôi thì nay đã lại thấy ẵm những chú nhóc khác – là con của chú – đến khám nữa rồi…

Vẫn những âu lo đó, vẫn những băn khoăn thắc mắc đó. Dù khoa học kỹ thuật, dù y học đã thay đổi, tiến bộ không ngừng mà tấm lòng người làm cha, làm mẹ thời nào cũng vậy, chẳng mấy chút đổi thay. Còn các bà mẹ, ông bố lúng túng lọng cọng ngày nào bây giờ đã là những ông bà nội ngoại, mà vẫn cứ còn lọng cọng lúng túng như xưa, dù tóc đã bạc màu với tháng năm, vẫn tất tả lo toan thay ba mẹ bé bận bịu trăm công ngàn việc. Nhiều bà nội bà ngoại kêu ca vất vả mà trong ánh mắt như tràn ngập niềm vui bởi được nựng nịu, bổng bế, chăm sóc bé, đôi khi còn không tin tưởng lớp trẻ, bảo chúng nó chẳng biết gì, chỉ biết… đẻ thôi !

Thời đại chúng ta bây giờ mọi việc trở nên không đơn giản, hình như còn lắm nỗi khó khăn hơn cho bà mẹ trẻ. Truyền thông tiếp thị đi vào mọi ngõ ngách, vào giấc ngủ, bữa ăn, gây bao nỗi hoang mang. Con người như ngày càng xa rời thiên nhiên, ngày càng bị cuốn hút vào dòng xoáy của những lệ thuộc, của những nhu cầu giả tạo. Nhiều ông bố bà mẹ bây giờ mặc sức tranh cãi và thậm chí đem đủ thứ sách trích dẫn Tây, Tàu để giành phần thắng mà cuối cùng chỉ tội nghiệp đứa trẻ bơ vơ hơn bao giờ hết ! Mọi thứ cứ như máy móc hóa, kế hoạch hóa. Bố mẹ thì bận bịu làm ăn, đầu tắt mặt tôi, khoán trắng cho người khác nuôi con mình. Tôi có dịp gặp những bà mẹ cân đong, đo đếm đến từng gram bột đường, từng gram trái cây, mà bé cứ ngày còm cõi, bơ phờ; tôi có dịp gặp những bà mẹ có hẳn một thực đơn phong phú tính từng calori, với hằng chục thức ăn thay đổi liên tục trong tuần mà trẻ cứ còi cọc, không phát triển ! Trẻ không biết nói, không biết kêu ca, bị ép ăn như một cái máy, ép nghe nhạc cổ điển Tây phương… cho thông minh hơn! Nếu trẻ kêu lên được, tôi nghĩ có lẽ chỉ kêu một tiếng: Mẹ ơi, con cần mẹ, con cần mùi mồ hôi của mẹ, cần tiếng ru của mẹ, cần vòng tay của cha, bờ vai của cha. Điều thú vị là trong khi đó, tại các nước phát triển lại có phong trào “về nguồn”, sinh đẻ tự nhiên, nuôi con phù hợp với từng đứa trẻ, cho bú sữa mẹ lâu dài, cho trẻ gần gũi với thiên nhiên…

Tôi chân thành cảm ơn Nhà Xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã cho tái bản cuốn sách này – được cập nhật và bổ sung đầy đủ – nhân dịp tôi chính thức về hưu như một món quà nhỏ gởi đến các ông bố, bà mẹ trẻ mới sinh con đầu lòng. Cuốn sách là những lời tâm tình, chia sẻ của một người vừa là thầy thuốc, vừa là người cha những năm xưa, nay đã trở thành ông nội, ông ngoại của mấy nhóc nhỏ rồi ! Thời gian trôi nhanh thật !

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3-2006

Đỗ Hồng Ngọc

………………………………….

Vài phản hồi về cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”

 

Sachweb

Cuốn sách thực sự không thể tuyệt vời hơn. Đọc và giật mình, thảng thốt, nuôi trẻ thật đơn giản mà cũng không đơn giản chút nào. Nếu ta quá lo lắng hoặc quá coi nhẹ đều có thể dẫn tới những kết quả đáng sợ, chính vì vậy, tác giả nói rằng nuôi trẻ vừa là bản năng, vừa là nghệ thuật, vừa là khoa học. Bằng giọng tâm tình, gần gũi, viết về y học mà như đang kể chuyện đời thường, tác giả đã thực sự đem tới một món quà vô cùng quý giá, đặc biệt cho các bà mẹ trẻ. Tác phẩm đoạt giải Bạc sách Hay Việt Nam năm 2008.

 

Sách gối đầu giường

Lê Uyển Văn (Trà Vinh)

Mỗi đoạn đời, tôi thích những loại sách khác nhau. Sự khác biệt ấy ngày càng lớn lên cùng tuổi tác. Thời niên thiếu, tôi yêu chất văn nhẹ nhàng như sương bay, tinh tế như mùi hương cốm mới của Thạch Lam, Thanh Tịnh; lớn thêm một chút, tôi biết say mê cái lạ lẫm,dữ dội của Giamilia ( Aitmatốp), Sông Đông êm đềm ( Sôlôkhốp)…Rồi đến với văn học Trung Quốc ngọt ngào như trở về nguồn cội…Tích lũy được mấy tủ sách để đọc và nghiền ngẫm nhưng thật sự gối đầu giường thì không phải sách của một nhà văn chính hiệu mà là Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc!

Đừng vội nghĩ rằng sức khỏe tôi yếu kém nên luôn cần đọc sách về Y học. Với tôi, tác phẩm của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc là sự kết hợp tuyệt vời của thiên chức nhà văn và thầy thuốc. Với tôi, ông vừa là một lương y chữa bệnh thể xác, vừa là một thần y chữa bệnh tâm hồn.

Mỗi người mẹ khi có đứa con đầu lòng sẽ đối diện với biết bao âu lo và sợ hãi, Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã tặng cho chúng tôi “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” “ Làm thế nào để trẻ khỏe mạnh và thông minh?”.

Ở đó, tôi không chỉ nắm bắt được những kiến thức khoa học để nuôi con mà còn gặp được tấm lòng một người cha vĩ đại. Ông kể chuyện của con mình, kể về nỗi buồn lo, ân hận của mình để mà truyền kinh nghiệm cho bạn, cho tôi. Khi con mọc răng nóng sốt, khi con quấy khóc , ốm đau, khi con chán ăn, khi con biết lẫy, biết bò …tôi đều giở sách ra, đôi khi không chỉ đọc để biết phải làm gì mà còn tìm trong đó một nguồn an ủi, vỗ về. Mỗi lần nâng quyển sách ấy trên tay, tôi không nghĩ mình đang đọc sách mà đang trò chuyện với ông, ấm áp và tin tưởng lạ thường !

Lúc gần 2 tuổi, con tôi to khỏe, nhanh nhẹn và thông minh; giật giải trong kỳ thi “ bé khỏe, bé đẹp” của Tỉnh. Khi được hỏi bí quyết nuôi con, tôi nói trong xúc động và tự hào “ Bí quyết của tôi đều do bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc truyền lại !”.

Giờ con đã lớn, quyển sách ấy trở thành một kỷ vật, lật mở từng trang, hình ảnh con bé dại lại quay về, lung linh trước mắt ! Con bước vào tuổi dậy thì, có những điều chưa hiểu hay khó nói, tôi lại tìm đến “ Khi người ta lớn” của ông!

Mỗi ngày, chạy hụt hơi theo guồng quay của nhịp sống, đêm tôi tìm bình an trong “ Như ngàn thang thuốc bổ” “ Gió heo may đã về” “ Cành mai sân trước” “ Nghĩ từ trái tim”…

Tôi vẫn thầm biết ơn những văn hào, thi sĩ của muôn đời đã mang đến thế gian này những áng văn trác việt nhưng người tôi tri ân nhiều nhất, gần gũi nhất có lẽ phải kể đến người thầy thuốc, người nghệ sĩ có tấm lòng bao la như mẹ : Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc !

(2008)

 

Cuốn sách yêu thích của mẹ

(blog.dongchay.com)

Chính là cuốn sách mà mẹ đã trích một phần trong đó làm lời ngỏ cho cuốn nhật ký này. Cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc.

Ngay từ hồi nhỏ, mẹ khá là thích đọc. Đọc đủ thứ. Báo có, tạp chí có, truyện tranh có, tiểu thuyết có, truyện dài kỳ có và cả truyện chưởng cũng có. Đến bây giờ mẹ cũng vẫn còn giữ vài bộ truyện tranh (Conan, Songoku), vài bộ truyện dài kỳ thiếu niên (TKKG, Kính vạn hoa, Harry Potter…), vài cuốn tiểu thuyết,… Chỉ có điều, mẹ đọc hay quên, đọc đi rồi đọc lại vẫn thấy như mới!

Vì thế, khi chuẩn bị sinh con, mẹ cũng vừa đi mượn, vừa đi lùng vài cuốn sách làm cẩm nang để chuẩn bị cho con chào đời. Và cuốn sách ấn tượng nhất với mẹ chính là cuốn của bác sỹ Đỗ Hồng Ngọc.

Cuốn sách này mẹ vô tình tìm thấy được trong tủ sách của nhà mình ở Nam Định. Bìa sách đã cũ, hình ảnh không còn được tươi mới, giấy in đã sờn nhưng không hiểu sao mới đọc lướt vài trang mẹ đã thấy rất ấn tượng. Bác sỹ Ngọc không phải viết theo phong cách của một bác sỹ cho các đồng nghiệp, không phải cho thân nhân người bệnh, cũng không phải theo khuôn mẫu của một sách giáo khoa khô khan. Bác sỹ viết như người bạn viết cho người bạn, người anh, người chú lớn tuổi nhiều kinh nghiệm viết cho những người em bắt đầu làm bố, làm mẹ. Lời lẽ thân thiện, dễ gần, hình ảnh sống động, dễ hiểu, trình bày khoa học, dễ tra cứu. Quả thực, mẹ học được rất nhiều từ cuốn sách và cũng đã nhiều lần cuốn sách đã giải tỏa cho mẹ những ưu tư như chuyện “sa ruột rốn”, chuyện tiêm phòng, chuyện ăn uống,.. của con, rồi cả những hủ tục, những quan niệm sai lầm khi nuôi con của các bà mẹ ngày xưa.

Mẹ rất thích cuốn sách, đọc đi đọc lại nhiều lần, ngẫm nghĩ những điều nằm ngoài chuyên môn mà bác sỹ Ngọc đã gửi gắm. Mẹ cảm thấy việc sinh con, nuôi con ý nghĩa hơn. Mẹ cũng cảm thấy trách nhiệm của bố và mẹ lớn lao hơn khi giờ đây, bố mẹ là người cha, người mẹ và trước kia, bố mẹ cũng là những người con bé bỏng và ông bà nội ngoại đã phải vất vả ra sao mới có bố mẹ, có con như bây giờ.

Mẹ tìm hiểu nguồn gốc của cuốn sách thì hóa ra, đây là cuốn sách mà bố con ngày trước đã tặng cho bác Quý khi bác Quý chuẩn bị sinh anh Dũng (năm 1994). Có lẽ mẹ phải cảm ơn bác Quý rất nhiều vì đã giữ được cuốn sách đến bây giờ để mẹ được đọc, được học cái bản lĩnh khi nuôi con của bác.

Và hình như, đây cũng là cái duyên của bố và mẹ!

Nov 18, 2007

 

Hồ thị Hoàng Anh

“Bà mẹ nuôi con giỏi”

Bà mẹ Hoàng Anh, Bs ĐHN và "bé" Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn VCCBMSCĐL do HQCBM tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

mẹ Hồ Thị Hoàng Anh, Bs ĐHN và “bé” Nguyên Giáp trong buổi Hội ngộ, Tâm tình về cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng  do Hội quán Các Bà Mẹ tổ chức tại nhà GS Trần Văn Khê (2012).

Mấy ngày nay Hoàng Anh đang ở Mỹ, sáng nay lang thang vào trang web của Việt Nam tình cờ thấy bài của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc “ Vài chuyện kể về cuốn sách Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Đọc đến đoạn cuối bs Đỗ Hồng Ngọc có nhắc về cuộc thi  “Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố năm 1985 tại hội trường bệnh viện Từ Dũ. Mà lần đó Hoàng Anh cùng con trai là Nguyên-Giáp dự thi rồi được giải nhất. Thật là một kỷ niệm vui.

(…)

Khi nào nghĩ về cuộc thi “bà mẹ nuôi con khỏe” lần đó Hoàng Anh cũng hân hoan, rồi cũng có chút chút “ngưỡng mộ” về mình : là tại sao hồi đó mình còn rất trẻ mà đã rành rọt biết cách chăm sóc con đến vậy?

Thật ra “ bí mật” để làm được điều kỳ diệu đó chỉ vì Hoàng Anh là độc giả lâu đời của tác giả Đỗ Hồng Ngọc! Là con gái Huế chính tông,  Kể từ khi bắt đầu “nứt vỏ” để lớn lên bên giòng sông Hương núi Ngự trở thành o thiếu nữ là tâm hồn đã biết rung cảm với ca từ và giai điệu của âm nhạc Trịnh Công Sơn, cũng là lúc Hoàng Anh biết bắt đầu say sưa với cuốn “ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò” của Đỗ Hồng Ngọc. Khi đến tuổi lập gia đình có con thì nghiền ngẫm “ Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng”. Khi con lớn vào đai học rồi thì nhâm nhi “ Gió heo may đã về”. Bây giờ con tốt nghiệp đại học rồi, có thời gian hơn thì thong thả với “ Như thị”, với” Nghĩ từ trái tim” bs Đỗ Hồng Ngọc viết về Bát Nhã Tâm Kinh…

Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” lần đầu hồi đó vào những năm đất nước còn khó khăn, xã hội ít tổ chức những sự kiện văn hóa lớn. Nên cuộc thi” Bà mẹ nuôi con khỏe” cấp thành phố hồi đó là một trong những sự kiện sôi nổi .

Nhìn lại những tấm hình trong cuộc thi. Hoàng Anh thấy mình hồi đó còn rất trẻ mà cũng hơi xinh xinh. Đã 26 tuổi và là mẹ của hai đứa con rồi mà vẫn còn vương nét sinh viên, rất khỏe khoắn trong trang phục quần jean xanh- áo sơ-mi vải màu trắng, dưới chân thì giản dị đeo đôi guốc mộc, trên đầu là một mái tóc dài xanh ngời bối thành củ tỏi vắt sau ót .

Khi Hoàng Anh vác trên vai đứa bé trai bụ bẩm khóc oe oe lên nhận giải trên sân khấu, hình ảnh đó làm cả hội trường cười òa. Phóng viên thì tha hồ tác nghiệp phỏng vấn bà mẹ và quay phim chụp hình em bé đọat giải.

Vì là bà mẹ thi được điểm cao nhất nên Hoàng Anh hân hạnh được người thầy thuốc mẫu mực là Viện sĩ,Tiến sĩ Dương Quang Trung trao giải thưởng tận tay. Rồi trong thùng quà thưởng to tướng, bên cạnh nhiều vật dụng xinh đep dùng cho trẻ em thì có card viết tay chúc mừng của bác sĩ Dương Quỳnh Hoa hồi đó làm giám đốc Trung tâm Nhi thành phố. Khi được phỏng vấn “làm sao trả lời giỏi vậy?” Hoàng Anh nói “là nhờ đọc sách của bs Đỗ Hồng Ngọc đó”.

Em bé Nguyên-Giáp bụ bẫm ngày nào, nay đang rất bận rộn với công việc của một cậu sinh viên trường Y năm cuối. Là tất bật với bài vở,với những môn thi, với những đêm thực tập thức trắng ở bệnh viện…

Cuộc thi “ Bà mẹ nuôi con khỏe” năm nào, chớp mắt thôi đã 1/4 thế kỹ! Cũng mới thôi!

(2012)

 

Uyen Ton

Tôi tình cờ đọc tác phẩm của ông lúc tôi chỉ mới là cô bé học lớp 5, đó không phải là sách dành cho thiếu nhi mà là một cuốn sách về Y khoa, tựa là “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” . Sự tình cờ này đến trong một lần tôi bị ốm, nằm nhà. Không hiểu sao hồi đó bame có thể yên tâm để tôi một mình ở nhà, buồn không biết làm gì nên chỉ biết đọc sách. Cũng không nhớ vì sao tôi “vớ” được cuốn sách đó trong kệ sách của ba để rồi đọc say sưa dù có những điều mà trí tuệ của một đứa trẻ 10 tuổi chưa thể hiểu được. Tôi vẫn còn nhớ cuốn sách đó được xuất bản trước năm 75 khá dày, giấy đen thui nhưng có minh hoạ khá đẹp trong con mắt trẻ thơ của tôi ngày đó. Nhưng phải công nhận là ông viết với một giọng văn rất dí dỏm, dễ hiểu. Tôi nhớ mình đã rất thích những hình minh hoạ mô tả những hoạt động cũng như tính cách của trẻ của từng giai đoạn, từ lúc lọt lòng cho đến 1 tuổi, từ 1-2 tuổi, từ 2-4 tuổi… Cũng trong tác phẩm đó, ông kể nhiều về những trường hợp trẻ bị tử vong vì gia đình thiếu kiến thức sơ đẳng về y học, rất đau lòng. Sau này tôi thấy tác phẩm này được xuất bản lại, giấy đẹp hơn, bìa sách được thiết kế đẹp hơn nhưng hình như những hình minh hoạ như cuốn cũ thì không còn, tiếc thật.

 

tronghieu

Chào bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Dạ cho con hỏi cách nay hơn 10 năm mẹ con có cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác sĩ viết. Nó đọc rất hay và hữu ích. Sau đó cuốn sách này bị mất ạ. Con đã tìm mua nhìu lần nhưng không còn, nó hết đc in rùi ạ. Cuốn sách hay như vậy bác sĩ có thể tái bản đc không ạ. Cuốn sách tuy về y khoa rất hữu ích nhưng đọc hoài vẫn mê vì nó như một câu chuyện thật hấp dẫn không hề khô khan! Chào bác sĩ, chúc bác sĩ lun mạnh khỏe vui vẻ bên gđ và….tiếp tục cứu giúp các bé nha.

 

Thúy Hạnh

Toi xin hoi bac si, truoc day toi co biet va doc mot cuon sach cua bac si ve ba me va cach cham soc con dau long cach day 28 nam va toi da theo cuon sach do nuoi con. nay toi muon xin hoi bac si la cuon sach nay con phat hanh ko? vi toi co dua con gai sinh con dau long nen toi can cuon sach do cho con. neu co thi co the mua o dau dc ko?

Xin chan thanh cam on bac si

 

phanminhngoc

Thực ra cháu làm fan của BS ĐHN từ cách đây 14 năm rôi, khi cháu sinh đứa con đầu lòng. Cuốn sách chú viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng đã trở thành sách gối đầu giường của của cháu, thậm chí là “bảo bối” cho cháu trong suốt cả chục năm nuôi hai nhóc. Hai nhóc nhà cháu giờ đều đã trở thành những thiếu niên khỏe mạnh, vạm vỡ (trộm vía) và đã qua rất nhiều lần chuyển nhà nhưng cháu vẫn còn giữ cuốn sách sách đã cũ sờn ấy. Cuốn sách ấy hiện ko chỉ là kỳ vật của gia đình cháu mà còn là người bạn thân thiết để cháu tham khảo bởi công việc của cháu hiện nay. Cháu mê giọng văn rất “đời” của chú và hình như cháu cũng có được ảnh hưởng một chút xíu chú ạ.

Cháu xin gửi đến chú lời cám ơn chân thành và xin chúc chú ngày càng khỏe, càng vui.

 

huyentrannguyen

Mình gọi Đỗ Hồng Ngọc vì không biết gọi ông là … nhà gì cho phải. Mình đã có duyên với ông từ khi bắt đầu làm mẹ, may mắn được tặng quyền sách mà ông là tác giả :”Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng” . Mình nhớ lúc đó chỉ biết đọc và làm theo những gì ông viết trong sách, và cứ thế mà mình nuôi con đúng theo “giáo lý” của ông, không suy nghĩ gì. Cũng đơn giản vì lúc đó nội ngoại đều ở xa. Lời văn của ông nghe vừa vui lại vừa gần gũi.

Thanh Dung

Cháu đang nuôi bé con 20 ngày tuổi, thiếu tháng, nhưng may mắn cháu tự bú mẹ được. Cháu không tự tin lắm với bầu sữa của mình, cứ luôn lo sợ mình không đủ sữa cho con. Nhưng nhờ đọc cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” của bác Ngọc, và thêm bài “Còn sữa để cho con” này nữa, cháu thấy mình yên tâm và tự tin hơn. Cuốn sách bác viết là “cẩm nang gối đầu giường” của vợ chồng cháu trong việc chăm sóc con.

Cháu muốn gửi lời cảm ơn đến bác, kính chúc bác nhiều sức khỏe và luôn vui tươi dí dỏm như thế này mãi nhé!

Me kuBo

Thưa bác sĩ, cháu đã có cuốn “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” và cuốn sách đã trở thành sách gối đầu giường của cháu. Chăm sóc bé tưởng chừng là một vấn đề tẻ nhạt, nhàm chán với những phương pháp, thông tin khoa học thì nay dưới ngòi bút của bác sĩ lại trở nên hóm hỉnh, tự nhiên, dễ đọc, dễ làm biết nhường nào. Cháu thực sự biết ơn bác sỉ rất nhiều khi đã hướng dẫn cụ thể, chi tiết các vấn đề chăm sóc bé trong sách giúp những bà mẹ sinh con đầu lòng như cháu không bị bối rối, lúng túng trong những vấn đề chăm sóc bé.

PhanVanCho  (Huế)

8.2013

Đầu năm 1975 tôi lập gia đình.Một lần ghé hiệu sách Ưng Hạ ở đầu cầu Trường Tiền Huế tôi mua được quyển “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” (bản in lần đầu tiên) và đem về đọc mê mẩn…Những vấn đề về y học viết như ri thì trên đời chỉ có một!Tiếc rằng sau đó khi tôi xa nhà đi dạy học, vợ tôi về sinh con bên nhà ngoại, trong nhà chỉ còn mẹ già gần 70 tuổi…Họ vào hốt đi nguyên tủ sách gần 600 quyển. (Viết đến đây chợt cười thầm: Quyển VCCBMSCĐL cũng nằm chung với “cái gọi là Văn hóa nô dịch phản động đó BS.ĐHN ơi!)

Gần 40 năm đã qua, con gái đầu lòng của tôi cũng đã 37 tuổi. Nghe tin sách tái bản lần này, tui xin đăng ký mua vài quyển cho các con và…để dành cho cháu. Cám ơn BS đã cho trẻ đầu lòng, cho tuổi mới lớn, tuổi học trò, tuổi heo may, tuổi chớm già…những trang văn đẹp vào mỗi mai thức dậy.PVC

 

Mai Nguyen

07/08/2012

Thưa Bác, cháu là một bà mẹ đang nuôi con nhỏ. Con gái lớn đã gần 4 tuổi và con trai nhỏ vừa được 2 tháng tuổi. Vừa được biết trang nhà của Bác, cháu viết những dòng này để bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Bác sĩ, người mà gia đình nhỏ của cháu vẫn quen gọi là “Ông bác sĩ màu xanh” (vì bìa cuốn Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng của chúng cháu mang màu sắc này. Đáng lẽ phải là “bác sĩ màu hồng… ngọc” thì mới đúng phải không Bác).

Cháu nhận được cuốn sách quý giá này ở bệnh viện khi đang chuẩn bị sinh cháu gái đầu lòng. Và từ đó, nó luôn là cẩm nang giúp cháu vượt qua những lo âu và khó nhọc, những bỡ ngỡ và sợ sệt của buổi đầu làm mẹ, giúp cháu có cả niềm tin vào ngày con lớn lên. Giờ đây con gái cháu đã học lớp mẫu giáo nhỡ và cháu thì bắt đầu với đứa con thứ hai, vẫn những lo lắng và trăn trở như lần đầu dù mình cũng có thể tự cho rằng “có chút kinh nghiệm”. Nhưng quả thực mỗi đứa trẻ là một bí mật khác nhau và một lần nữa cuốn sách của Bác lại là chỉ dẫn cho hai vợ chồng cháu. Ông bác sĩ màu xanh bảo thế này, chỉ thế kia… Cả những đoạn đã thuộc lòng từ lần sinh trước giờ vẫn phải lôi ra đọc lại để “thấu hiểu” nhiều hơn. Cháu vốn ít sữa, có lẽ do cơ địa, phải nuôi bé vừa sữa mẹ vừa sữa ngoài mà cả hai bé thì không bé nào thích bú bình cả nên cũng khá vất vả Bác ạ. Nhờ chỉ dẫn của Bác mà khi bé đầu biết ăn dặm cháu chăm được con tốt hơn nên giờ trộm vía cháu lớn vượt so với nhiều bạn cùng tuổi.

 

Cuốn sách của Bác cháu đã chia sẻ với nhiều đồng nghiệp, bạn bè và chắc chắn sẽ là món quà cho con gái cháu… Mai này… Cũng mau thôi! Phải không Bác!

 

Lê Uyển Văn

06/06/2010

Mặc dù, cuộc sống ngày càng cao, bây giờ có những tiện nghi vượt trội so với trước đây nhưng tôi vẫn mong ước những ai sắp làm mẹ đều rất cần được “tập huấn” bằng quyển sách này, gối đầu giường bằng quyển sách này bởi nó không chỉ hướng dẫn những người mẹ nuôi con đúng cách mà còn dạy yêu con đúng hướng!

Vẫn muốn nói lời tri ân với tác giả dù biết rằng nói bao nhiêu vẫn cứ là chưa đủ!

Anh nguyenyenson đã viết trong blog của LUV một comment thế này, xin gửi đến bác sĩ giùm anh ấy, lời có tếu táo nhưng tình cảm thật đậm đà:

“Nhắc tới ông bác sĩ ĐHN, thiệt tình tui khoái ông này từ…30 năm trước. Hồi đó nhờ cuốn “Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng” của ổng, mà tui có “con so” ngon lành, không phải lúng túng chi hết. Giờ cháu vừa có gia đình, khi nào cháu sắp làm mẹ, tui lại cho cháu cuốn này để cháu đọc. :)”

 

Nguyen Dang Phuong Thao

22/05/2010

Mấy năm trước có lần vô nhà sách cháu thấy cuốn “Viết cho các bà mẹ sanh con đầu lòng”, cháu đọc sơ qua mấy trang đầu rất thích thú, nhưng lúc ấy cháu chưa co gia đình, và nghĩ rằng biết đâu đến khi vài năm nữa sanh con thì sách sẽ được tái bản và còn bổ sung thêm nữa nẽn đã không mua. Đến khi cháu sắp sanh con thì tìm quyển này ở nhiều nơi đều không có (từ các nhà sách gần nhà, nhà sách đã từng gặp quyển này, các nhà sách Nguyễn Văn Cừ, người ta đều nói hết rồi). Giờ con cháu đã 2 tuổi rồi, gần đây cháu lại tìm thử mà sao vẫn không có, ghé mấh nhà sách lớn ở đưởng Nguyển Thị Minh Khai (Q.1) cũng bảo hết rồi. Bác có biết chắc chắn nơi nào còn không chỉ cho cháu với, cháu không có được cuốn này thật là tiếc lắm! Cảm ơn bác rất nhiều.

 

 

Bảo Cúc (Hà Nội)

26/07/2013

Thưa bác sĩ,

Cháu tình cờ lạc vào trang nhà của bác và kể từ đó trở thành fan của bác luôn. Đọc những lời tâm sự chia sẻ của bác, cháu thật sự cảm thấy xúc động và luôn có cảm giác nhẹ nhàng thư thái qua mỗi câu từ bác viết. Cháu hiện cũng đang trong độ tuổi kết hôn và rất muốn được cầm trên tay cuốn: “Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng” sắp được tái bản lại trong thời gian tới.

Cháu ở Hà Nội nên rất mong là bác sẽ lưu tâm để cho cháu được biết là có thể tìm cuốn sách này tại các nhà sách nào trên địa bàn Hà Nội bác nhé.

Cháu cảm ơn bác nhiều và chúc bác luôn vui khỏe!

………………………………………………………

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Gươm báu trao tay, Vài đoạn hồi ký

Hai Trầu Lương Thư Trung: Thư Nguyễn Hiến Lê (20.7.1979) gởi Đỗ Hồng Ngọc.

26/09/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Thư Hai Trầu Lương Thư Trung:

Kính gởi quý bạn,

Được biết bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc may mắn gặp được học giả Nguyễn Hiến Lê và có thư từ qua lại với thầy và nay thấy mấy anh em mình dù đã trộng tuổi rồi mà vẫn còn đi tìm mua và đọc sách của thầy Nguyễn Hiến Lê, nên anh Ngọc rất vui gởi tặng tôi lá thư thầy Nguyễn Hiến Lê gởi anh cách nay 45 năm (20-7-1979) để xem qua nét chữ và các trò chuyện thân tình của thầy với một người học trò nhỏ hơn thầy… 30 tuổi.
Vậy là tôi mừng quá, đọc ngay bức thư 4 trang của thầy rất cảm động và trong thư thầy có nhận xét về bài bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc viết về thầy: “ÔNG NGUYỄN HIẾN LÊ VÀ TÔI” đăng trên tạp chí Bách Khoa số cuối cùng (Số 426 ngày 25.4.1975), tôi liền xin anh Ngọc cho tôi bài viết  này vì tình thiệt là tôi chưa được đọc số Bách Khoa này có lẽ vì những ngày cuối tháng 4-75 quá lu bu và không nghĩ gì tới sách vở báo chí nữa và cho mãi tới hôm nay sau gần 50 năm tôi vẫn chưa đọc.
 Anh Đỗ Hồng Ngọc rất vui và gởi cho tôi bức hình chụp bài này trên tạp chí Bách Khoa số 426 ngày 25-4-1975:
https://www.dohongngoc.com/web/storage/2017/11/Nguyen-Hien-Le-DHN-BachKhoa-426.pdf
Nhận thấy đây là hai tài liệu quý về thầy Nguyễn Hiến Lê, nên tôi xin phép anh Ngọc được gởi chia sẻ với vài anh chị rất thân thiết để đọc cho vui trong vòng anh em.
Xin chân thành cảm ơn anh Đỗ Hồng Ngọc rất nhiều đã chia sẻ hai tài liệu quí này.
Kính chúc anh Ngọc cùng các anh chị luôn nhiều sức khỏe, an vui.
Thân mến,
Hai Trầu Lương Thư Trung

LÁ THƯ THẦY NGUYỄN HIẾN LÊ GỞI
BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC

Long Xuyên 20. 7. 1979
Cháu Hồng Ngọc,
Tôi về đây từ 4.6, tính 1.8 mới trở lên Sàigòn. Về để chuẩn bị sang năm sẽ về ở hẳn dưới
này: già rồi, nhà tôi muốn ở tại quê hương gần họ hàng, người thân.
Mới nắng được một tuần nay, mà nắng gắt; trước đó mưa liên tiếp ba tuần, buồn quá,
không biết làm gì đọc lại báo cũ, số BK cuối cùng 25.4.75. Đọc lại bài cháu viết về tôi,
rồi đọc lại bài Bàng Bá Lân (trong Kỉ niệm nhà văn hiện đại), bài anh Ngư (trong Sống
và Viết) và tập Châu Hải Kỳ viết về tôi.
Bài của cháu ngắn nhất mà tôi thích nhất, vì thành thật, tự nhiên, thân mật nhất. Lối viết
của cháu cũng giống lối viết của tôi: Sáng sủa, gọn gàng, cụ thể, xen nhiều hồi kí, tình
cảm, hấp dẫn. Không có những câu dài lúng túng như một số cây bút trẻ.
Tôi nghĩ cái buổi trưa cháu thấy cuốn Kim chỉ nam của tôi ở trên vỉa hè đường Trần
Hưng Đạo đó. Không vì nó là một điểm quan trọng đánh dấu đời cháu mà cũng có ảnh
hưởng ít nhiều đến đời của tôi nữa. Trong bảy tám năm nay cháu giúp tôi được nhiều khi
tôi đau, nhờ cháu mà tôi biết cậu Hùng – cháu có gặp, cho tôi gởi lời thăm cậu ấy – mà
hết được tật và bệnh thận. Rồi bài cháu viết về tôi chắc khiến cho nhiều người hiểu tôi
hơn; lại còn những quà như bánh tráng, hột điều, mạch nha mà bây giờ không làm sao
có được nữa. Ngon lạ.
Nhớ lại hồi đó, mới đây thôi mà đã đúng như câu thơ cổ: “Vạn sự tan như mây khói” cả
rồi. Cả cái mộng đi một tua thăm Nam Trung Bắc cũng tan biến nữa. Tôi chưa về thăm
ngoài đó mà cũng không muốn về nữa.
Còn sống ít năm nữa thì rán viết như bắt óc làm việc cho nó khỏi mau suy, và cũng để
cho mau qua 24 giờ trong một ngày.
Tôi đã làm gần xong chương trình của tôi rồi: giới thiệu kĩ và dịch trọn hoặc gần trọn tác
phẩm của tất cả các triết gia lớn của T.H. thời Tiên Tần: 7-8 bản thảo trung bình 400
trang một. Không biết giữ được bao lâu? 10 năm, 20 năm nữa?
Tôi cũng tính viết qua loa (vài trăm trang thôi) hồi kí. B.B Lân đã viết xong 500 trang,
Quách Tấn viết cả ngàn trang rồi mà chưa xong.
Nhưng tôi không biết viết gì bây giờ? Viết về hoạt động văn hóa của tôi? Thì các tác
phẩm của tôi đó, viết thêm gì nữa?
Viết về đời sống của tôi hồi trẻ? Thì cũng đã lác đác có trong một số tác phẩm của tôi
rồi. Viết về bạn văn? Tôi ít bạn văn, chỉ khoảng mươi người, khen họ thì tôi nghĩ nên vắn
tắt thôi, không cần viết dài, còn chê thì tôi không có gì để chê!

Cháu nghĩ xem tôi nên viết gì đây? Tôi chưa đọc cuốn Mon ami qui s’appellait moi của
A.Maurois mà cháu nhắc trong bài báo BK đó. Ông ta nói gì trong đó? Cháu có cuốn đó
không? Tôi sẽ hỏi Lê Ngộ Châu xem có cuốn đó không.
Trong bài cháu viết, có nhắc tới “anh chín NS” thợ may. Nay ông ta vui không? Yên ổn
làm ăn được không? Con cái khá không?
Từ 1975 tới nay, tôi vẫn thường được thư của thanh niên, toàn là những cậu mới hay sắp
đậu tú tài thì nước nhà thống nhất. Họ vẫn tin tưởng ở sách của tôi. Tôi mong rằng họ sẽ
không thất vọng, và tôi thương họ!
À, gần đây cháu có gặp Thầy Từ Mẫn không? Ông Nguyễn Hữu Vị nữa?
Năm ngoái Viện khoa học xã hội sai người (người này quen tôi) lại dò xem tôi còn ở đây
không. Rồi mới hai tháng trước một cán bộ quen tôi từ mười mấy năm trước (sơ sơ thôi)
cũng lại hỏi tôi có tính đi đâu không. Tôi đáp: Có, tính về Long Xuyên ở cho trọn cái tuổi
trời. Họ ra về và chẳng trở lại nữa.
Thư này tôi viết ở L.X nhưng không nhớ địa chỉ của cháu, phải đợi về Sàigòn rồi mới gởi
được. Khoảng đầu Aout, chưa biết ngày nào tôi sẽ lên. Xe cộ đi bây giờ mệt lắm mà tốn
kém lắm.
Tôi chúc toàn thể gia đình cháu an vui.
Bệnh của nhà tôi bớt nhiều (8/10) rồi nhờ Gasepeline ở Pháp gởi về.
Thân ái,
Nguyễn Hiến Lê

Phụ chú:
-Hai Trầu đánh máy lại và ghi tựa bài.
-Xin đính kèm thủ bút của thầy Nguyễn Hiến Lê trong thư (trang 1 và trang 4):

Trang 1 và trang 4.

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Nghĩ từ trái tim, Vài đoạn hồi ký

Lâm Đồng TV: Một cuôc gặp gỡ thú vị

02/09/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

Lâm Đồng TV: Một cuôc gặp gỡ thú vị

Trân trọng cảm ơn CÂU LẠC BỘ VĂN NGHỆ

Đài PT TH Lâm Đồng.

 

Bs Đỗ Hồng Ngọc.

(8.2024)

Thuộc chủ đề:Góc nhìn - nhận định, Thiền và Sức khỏe, Vài đoạn hồi ký

Báo Lâm Đồng: Giao lưu, gặp gỡ nhà văn, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với độc giả Đà Lạt

24/08/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Giao lưu, gặp gỡ nhà văn, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với độc giả Đà Lạt

https://baolamdong.vn/van-hoa-nghe-thuat/202408/giao-luu-gap-go-nha-van-bac-si-do-hong-ngoc-voi-doc-gia-da-lat-65105b5/

QUỲNH UYỂN 10:18, 11/08/2024

(LĐ online) – Ngày 10/8, tại Khu biệt thự cổ Dalat Cadasa Resort (Trần Hưng Đạo – Phường 10 – Đà Lạt) lần đầu tiên, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc giao lưu, gặp gỡ, tư vấn sức khỏe trực tiếp, kể về việc viết sách, làm thơ, hướng dẫn cách chăm sóc sức khỏe cộng đồng cho hàng trăm người dân và du khách của thành phố Hoa.

Nhà giáo Nguyễn Thế Hùng – Tổng Giám đốc Công ty CNTT Cadasa giới thiệu về bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc và những đóng góp của ông cho cộng đồng

Phát biểu khai mạc, nhà giáo Nguyễn Thế Hùng – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đào tạo nghiên cứu và ứng dụng CNTT Cadasa đã giới thiệu về những đóng góp của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho nền y học nước nhà, cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của Nhân dân trong suốt 60 năm tuổi nghề. Nhà sư phạm cho biết, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc năm nay 85 tuổi, được nhiều người biết là một bác sĩ của mọi gia đình, mọi lứa tuổi qua những trang tư vấn chăm sóc sức khỏe trên nhiều tờ báo, kéo dài nhiều thập kỷ. Ông còn là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu về mối liên hệ gắn bó giữa thiền, Phật học với sức khỏe con người.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc chia sẻ về những chặng đường mình đã đi gắn với từng cuốn sách mình đúc rút

Nhiều cuốn sách đã trở thành cẩm nang của mẹ bầu, bà mẹ nuôi con nhỏ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, chữa trị bệnh khó nói của tuổi dậy thì. Đặc biệt, những cuốn sách hướng dẫn chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người già có sức truyền cảm hứng, năng lượng tích cực để người già sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc bằng sự buông bỏ. Qua đó ông đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa thiền, hơi thở, phương pháp thở, giữa giáo lý Phật học với sức khỏe con người bằng y học.

Các tác phẩm của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc được giới thiệu với độc giả Đà Lạt tại buổi giao lưu

Tại cuộc gặp gỡ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã nói về từng giai đoạn làm nghề của mình, những chặng đường ông đi, những chiêm nghiệm cuộc đời, những tâm huyết trong việc chăm sóc sức khỏe, trị bệnh được ông đúc rút viết nên thành sách. Trong đó, nhiều sách quý vừa hướng dẫn cộng đồng cùng chăm sóc sức khỏe tại nhà, vừa truyền kinh nghiệm cho sinh viên y khoa và thế hệ bác sĩ, thầy thuốc trẻ trong việc chăm sóc, cứu chữa người bệnh. Có thể kể các đầu sách được đông đảo độc giả đón đọc: Những người trẻ lạ lùng, Thầy thuốc và bệnh nhân, Những bệnh tật thông thường trong lứa tuổi học trò, Bệnh ở tuổi học trò, Nói chuyện sức khỏe với tuổi mới lớn, Bác sĩ và những câu hỏi cho tuổi mới lớn, Bỗng nhiên mà họ lớn, Khi người ta lớn, Ăn vóc học hay, Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng, Săn sóc con em nơi xa thầy thuốc, Nuôi con, Sức khỏe trẻ em…

Hàng trăm cuốn sách được độc giả Đà Lạt quan tâm và đã được bán hết

Bên cạnh những cuốn sách “bác sĩ gia đình” là những đầu sách nghiên cứu Phật học, thiền với sức khỏe, sống vui sống khỏe bằng sự buông bỏ ở góc độ khoa học như: Gió heo may đã về, Già ơi…Chào bạn, Như ngàn thang thuốc bổ, Về thu xếp lại, Già sao cho sướng, Biết ơn mình, Nghĩ từ trái tim (về tâm kinh Bát Nhã), Gươm báu trao tay (về Kim Cang), Thấp thoáng lời kinh, Thiền và sức khỏe, Ngàn cánh sen xanh biếc (về kinh Pháp Hoa), Cõi Phật đâu xa (về Duy-ma-cật), Nếp sống an lạc, Thoảng hương sen.

Câu hỏi của nhà sư về vấn đề thiền, về Phật pháp, về sự an lạc, buông bỏ đối với sức khỏe người già

Ngoài ra, nhiều trang viết thấm đẫm tình đất, tình yêu quê hương qua những vần thơ, tản văn như tập: Tình người, Giữa hoàng hôn xa xưa, Thư cho bé sơ sinh và những bài thơ khác, Thơ ngắn Đỗ Nghê (Bút danh của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc), Cành mai sân trước, Ghi chép lang thang, Nhớ đến một người, Một hôm gặp lại, Chẳng cũng khoái ru?…

Nhiều độc giả bày tỏ tình cảm, sự ngưỡng mộ trước những đóng góp của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho cộng đồng

Nhiều độc giả Đà Lạt đã đặt câu hỏi, thắc mắc về các vấn đề về chăm sóc sức khỏe trong thời hiện đại với những căn bệnh mới phát sinh, những vấn đề sức khỏe thể chất, tinh thần họ gặp phải, đến mối liên hệ thiền và sức khỏe… đã được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc giải đáp ân cần, cặn kẽ, rõ nghĩa.

Câu hỏi của sinh viên y khoa về những kinh nghiệm thực hành nghề y

Giữa rừng thông xanh mát, nhiều bài thơ hay, nhiều ca khúc phổ thơ của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng được ngâm, đọc và hát lên trong không gian dạt dào cảm xúc.

Câu hỏi của độc giả Đà Lạt về chăm sóc sức khỏe khi tuổi cao

Mời bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đến với Đà Lạt, gặp gỡ giao lưu với Nhân dân và du khách là ý tưởng từ nhiều năm qua của Dalat Cadasa Resort. Cùng với sự trùng tu phục hồi làm sống lại những ngôi biệt thự cổ, Dalat Cadasa mong muốn nơi đây sẽ trở thành điểm đến của văn hóa, khoa học, nghệ thuật của những người yêu Đà Lạt. Cuộc gặp gỡ, giao lưu với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc sẽ mở đầu cho chuỗi sự kiện diễn ra từ nay đến hết năm 2024 tại Khu biệt thự cổ Dalat Cadasa Resort mừng thành phố Hoa tổ chức Festival Hoa lần thứ X.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ký tặng sách cho độc giả

Thuộc chủ đề:Các bài trả lời phỏng vấn, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh về buổi Giao Lưu tại Cadasa Đà Lạt 10.8.2024

14/08/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

GHI CHÉP LANG THANG

Vài hình ảnh về buổi Giao Lưu tại Cadasa Đà Lạt 10.8.2024

Ông Nguyễn Thế Hùng, TGĐ CADASA giới thiệu Đỗ Hồng Ngọc

 

 

 

 

Khá đông bà con bạn bè tham dự và rất nhiều câu Hỏi-Đáp

 

Từ trái: Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thế Hùng, Đoàn Bich Ngọ, Ob Trần Ngọc Trác (Hội Nhà văn), Quỳnh Uyển (Báo Lâm Đồng), Lan Thanh.

Ông Nguyễn Đức Phúc (1942) nhân vật Chuyện Thật Như Đùa, của nhà văn Trần Ngọc Trác (Đà Lạt) phát biểu. Ông hiện phụ trách một CLB dành cho Người già đến vui chơi hàng ngày…

 

Góc quán Cafe Cadasa

Với nhà báo Lê Trọng, PT & TH Lâm Đồng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau một ngày vất vả, tôi dành một ngày “xả hơi”, về thăm lại Cafe Tùng ngồi cùng các bạn trẻ, đa số nhỏ hơn mình 50 – 60 tuổi xem ra sao… rồi đi thăm Hồ Suối Vàng Dankia, nơi có Làng Cù Lần để nhìn mình cho rõ, rồi vòng quanh Hồ Tuyền Lâm, Trúc Lâm Thiền Viện, qua Nhà thờ Con Gà… nơi đầy trong tranh Đinh Cường và không quên đi qua cầu Hồ Xuân Hương, nơi TCS viết “Có một dòng sông đã qua đời”: Gặp nhau không nói không nụ cười/ chút tình dường như hiu hắt bay… Có lần bàn chân qua phố thấy người/ sóng lao xao bờ tôi…

Cafe Tùng

Hồ Tuyền Lâm

Đồi thông, dòng thác…

Lối xưa.xe ngựa hồn thu thảo/ Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương (BHTQ)..

Hồ Suối Vàng Dankia

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đỗ Hồng Ngọc

(Saigon,15.8.2024)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Lõm bõm học Phật, Vài đoạn hồi ký

Vài hình ảnh chuyến về La-Gi lần này (20-21/7/2024)

28/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

 

Thư gởi bạn xa xôi (7/24)

Vài hình ảnh chuyến về La-Gi lần này

Nhờ có cao tốc, Saigon về La-Gi bây giờ chỉ hơn 2 tiếng đồng hồ, trước kia phải 4,5 tiếng đi xuyên qua Rừng Lá!

Lần này về đúng lúc cơn bão đổ vào. Biển lạnh ngắt. Vắng tanh. Mưa.

May sáng hôm sau, có chút nắng dịu. Đi thăm lại Hồ Núi Đất. Ngày xưa, hoang vu lắm. Hồ nước mênh mông, bao trùm Núi Đất. Đi qua cứ sợ có con khủng long hoặc quái vật nào đó thình lình từ dưới nước vọt lên… Nay dân cư đã dầy dần. Hồ được bao bọc bằng con đê khá rộng, giữ nước, chếch về phía Đông Bác. Vùng này nổi tiếng với Khu Mộ của Thầy Thím (gần Dinh Thầy Thím). Tương truyền xưa có cọp luôn nằm canh giữ bên Mộ Thầy Thím. Nay là một khu di tích nổi tiếng ở La-Gi.

Gởi bạn vài tấm hình coi chơi vậy nhe.

Thân mến,

Đỗ Hồng Ngọc

 

Núi Đất La Gi, trông giống Núi Chớp Chài ở Tuy Hoà… hình chiếc nón lá xanh um.

 

 

hì hục một lúc cũng lên được con đê

 

 

 

Dừa tươi vừa hái trên cây xuống. Quán cafe Mộc Yên. Hỏi, cháu Thọ nói: Mộc là Mộc mạc;. Yên là Yên ổn.

 

 

 

 

 

Dốc Trâu. Mênh mông là thuyền thúng một ngày biển động!

 

Biển vắng dưới cơn mưa chiều…

 

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Vài đoạn hồi ký

Minh Lê: Chân dung một người rất ngộ

18/07/2024 By Bac Si Do Hong Ngoc Để lại bình luận

 

Chân dung một người rất ngộ

Minh Lê 

Là độc giả trung thành của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lâu nay, tôi rất tò mò khi nhìn cuốn sách dày cộm “Ngôn ngữ số Đặc biệt 5/2024: Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc- Bằng hữu và Văn chương”. Tò mò vì không rõ các nhà phê bình, nhà thơ, nhà văn và rất nhiều nhà gì gì nữa đem thơ văn Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, “idol” của tôi, mổ xẻ ra sao.

Có thể nói tuyển tập chia làm hai phần chính: phần in các bài viết và thơ do chính Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc tuyển chọn, và phần nhận xét, phê bình, cảm nghĩ của những người khác về thơ văn ông.

Tôi đã đọc rải rác thơ văn Đỗ Hồng Ngọc từ những năm 1990, nên đa số bài trong phần chọn lọc tôi đã đọc qua. Vậy mà đọc lại vẫn thấy bất ngờ, và lôi cuốn như lần đầu. Giọng văn cũng như tiếng thơ của ông luôn có duyên ngầm, nhẹ nhàng sâu sắc và không đao to búa lớn. Đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”, một cơ hội tốt cho “người hâm mộ” thầm lặng là tôi đây đọc lại thơ văn của “idol” từ những ngày xưa cũ cho tới những năm gần đây.

Phần thứ hai là một lăng kính vạn hoa. Tôi ngạc nhiên trước những khía cạnh mới và ý tưởng phong phú về văn chương Đỗ Hồng Ngọc mà trước đây tôi chưa được biết.

Tỷ như bài của nhà thơ Trần Vấn Lệ viết về “Thơ Hồn Nhiên, Thơ Nhã Nhặn, Thơ Ngọt Ngào” – những cảm giác sâu sắc của ông khi đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc. Tôi khoái câu này của ông: “Tôi đọc thơ ông rồi úp cuốn sách lên ngực nghe ấm.” (tr. 404) Thật đúng! Nhiều bài thơ hay thì có hay nhưng đọc xong cứ thấy rã rời tuyệt vọng làm sao. Thơ Đỗ Hồng Ngọc ngược lại lúc nào cũng bàng bạc một tình yêu chân thành, bao dung và thấu cảm.

Hay một câu trong bài của Nguyễn Đức Tùng: “Đỗ Hồng Ngọc làm chủ giọng nói của mình, tiết kiệm chữ, chỉ nói vừa đủ, nhường lời cho sự hiểu biết và diễn dịch của người đọc. Thơ anh vì vậy khá kén người đọc.” (tr. 331) Cũng chính xác luôn! Thơ Đỗ Hồng Ngọc từ những năm 1980 trở đi thường ngắn và cô đọng, từ đó mở ra không gian thênh thang cho người đọc tự cảm nhận.

Tiếc rằng không có nhiều bài phân tích về văn Đỗ Hồng Ngọc. Dù tôi dám chắc rất nhiều người thành độc giả trung thành của ông qua các tùy bút, từ Gió heo may đã về (1995) cho tới Một ngày kia… đến bờ (2023). May mắn, nhà thơ Ý Nhi đã nhận xét một câu xác đáng về văn Đỗ Hồng Ngọc: “Nhẹ nhàng mà thâm trầm, thông tuệ mà giản dị, nghiêm trang mà dí dỏm.” (tr. 587) Và luôn phảng phất “phẩm chất thi ca”. (Huỳnh Như Phương, tr. 587)

Người ta nói “văn là người”, tuy vậy “người chưa chắc là văn”. Hay nói thẳng ra như Ý Nhi: “Có những người viết văn hay nhưng gặp gỡ thì… chán.” (tr. 590) Đọc tới đây tôi run hết sức. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, “idol” của tôi, có thuộc dạng này không? May quá, Ý Nhi kể: “Đọc ông, rồi gặp ông, có một cảm giác thật dễ chịu khi mọi điều như hòa quyện với nhau. Văn là người, người là văn vậy.” Còn có một số bạn thân khác cũng tiết lộ khối điều “bí mật” về ông, nhưng thôi, tôi không thể “tiết lộ” hết nhỉ.

Bài duy nhất trong tuyển tập không viết về văn chương mà viết về Thầy Đỗ Hồng Ngọc là bài của Bác sĩ Trương Trọng Hoàng. Từ góc nhìn của Bác sĩ Hoàng hiện lên một ông Thầy tận tâm, tinh tế và rất nghệ thuật. “Trong giảng dạy Thầy kể rất nhiều câu chuyện dí dỏm, dùng nhiều sự so sánh rất đắc, chiếu nhiều hình ảnh ấn tượng”. Quan trọng hơn, thông qua bài dạy đầy tính nghệ sĩ, “Thầy làm cho người học “nhớ đời”, … “giật mình”, … hiểu rõ những khái niệm và thêm yêu ngôn ngữ Việt nhuần nhị, sâu sắc.” (tr. 688) Quả là một ông Thầy xuất sắc vậy!

Gọi là tuyển tập văn chương nhưng bạn đọc còn được nhìn ngắm tranh Đỗ Hồng Ngọc – một khía cạnh ít người đề cập tới, bởi tác giả chỉ vẽ cho mình và cho bạn bè, không triển lãm rình rang. Cả trong tập này cũng vậy, chúng chỉ dùng để minh họa. Thiết nghĩ (dù biết hơi “tham”) chân dung Đỗ Hồng Ngọc sẽ toàn vẹn hơn nếu có bài phân tích về tranh của ông, từ ký họa đến màu nước.

Đỗ Hồng Ngọc vẽ ký họa phong cảnh đen trắng rất thoáng, và mỗi bức tranh càng ngắm càng cảm được cái hồn ở trong. Như bức “Chớm đông” (tr. 97) có nhiều nét vẽ mảnh mai thẳng đứng tả hàng cây trút lá, con đường đầy tuyết và tháp chuông cô độc xa xa. Cảm giác lạnh lẽo, tĩnh lặng giữa tiếng rơi rất khẽ của “linh hồn lá ngập ngừng trút qua” (“Đông Boston”)

Tranh minh họa bài thơ “Biển vắng” (tr. 95) lại là những nét đậm ngoằn ngoèo tả bờ biển cong cong, cây dừa nghiêng mình đón gió, lưỡi sóng ôm hôn bờ cát, … như đang ẩn giấu một tình cảm sâu đậm thiết tha mà kín đáo. Bài “Biển vắng” cũng “tình” một cách độc đáo, hóa ra tình yêu có muôn vàn cách thể hiện ý nhị, và cách của Đỗ Hồng Ngọc luôn thật bất ngờ.

Cuối cùng, tôi cảm thấy tuyển tập hình như thiếu thiếu một chút. Tôi cố ý tìm coi có bài nào “chê” văn chương idol của tôi không, nhưng thất bại. Là người có tâm hồn “ẩm thực” sâu đậm, tôi luôn tâm đắc bí quyết nấu chè của người Việt: muốn chè ngon thì ngoài đủ đường phải dằn thêm chút muối. (Các bạn chớ nhìn tôi nha, tôi cũng không biết “chê” idol ra sao đâu. Chỉ là tôi đang thêm “muối” cho bài của mình thôi.)

Cám ơn Ban Biên tập tạp chí Ngôn Ngữ đã có một việc làm ý nghĩa và giá trị. Ngôn Ngữ số Đặc biệt 5/2024 đã yêu thương khắc họa chân dung Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc – một người đa tài, từ thi sĩ, bác sĩ,  họa sĩ, văn sĩ, và bây giờ là một cư sĩ thuần thành nhẹ nhàng chuyển tải cái giác ngộ của mình cho mọi người. Đúng là một người rất ngộ, phải không?

Minh Lê (Nha Trang, 7/2024)

Thuộc chủ đề:Ghi chép lang thang, Góc nhìn - nhận định, Vài đoạn hồi ký

  • « Chuyển đến Trang trước
  • Trang 1
  • Trang 2
  • Trang 3
  • Trang 4
  • Trang 5
  • Interim pages omitted …
  • Trang 63
  • Chuyển đến Trang sau »

Thư đi Tin lại

  • Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • ĐÍNH CHÍNH: BSNGOC không phải là BS ĐỖ HỒNG NGỌC
  • Đính chính: BS NGỌC không phải là Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • bsngoc đã lên tiếng đính chính
  • Thư cảm ơn và Đính chính về FACEBOOK Bác sĩ NGỌC
  • ĐÍNH CHÍNH: Bài viết "TÀN NHẪN" không phải của Bs Đỗ Hồng Ngọc

PHẬT HỌC & ĐỜI SỐNG

NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”

Đọc ĐUỔI BẮT MỘT MÙI HƯƠNG của Phan Tấn Hải

Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)

Bs Đỗ Hồng Ngọc với Khoá tu “Xuất gia gieo duyên” tại Tu viện Khánh An.

Hỏi chuyện Học Phật với Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bản dịch tiếng Đức “Một Ngày Kia… Đến Bờ”

CON ĐƯỜNG AN LẠC Bài 6: Học cách Phật dạy con

Minh Lê: Đọc và Cảm “Một ngày kia… đến bờ”

Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Nguyên Cẩn: Đọc “Một ngày kia… đến bờ “của Đỗ Hồng Ngọc

Xem thêm >>

Chuyên mục

  • Một chút tôi
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy

Bài viết mới nhất!

  • Khóa hè “Sống trong tỉnh thức” cho học sinh tại Ni viện Viên Không (Bà Rịa).
  • Minh Lê NT: Trao đổi với Bs Đỗ Hồng Ngọc
  • Lương Thư Trung: “CON ĐƯỜNG DẪN TỚI AN LẠC & HẠNH PHÚC”
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng 3 về Mũi Né
  • Thư gởi bạn xa xôi: Tháng Năm về thăm Lagi-Phan Thiết

Bài viết theo tháng

Ý kiến bạn đọc!

  • HKKM trong Như không thôi đi được
  • Tran Thi Huong trong
  • Mai Linh Le trong Đỗ Hồng Ngọc: CHUYỆN HỒI ĐÓ
  • Huỳnh Vũ La Ngà trong Thư gởi bạn xa xôi (tiếp theo)
  • Đoàn thế long trong Lại đính chính: “SAIGON BÂY GIỜ”
  • Văn Bình Nguyễn trong NÓI LẠI CHO RÕ của Đỗ Duy Ngọc về bài “TOÀN LÁO CẢ!”
  • Tú Quyên trong Trần Thị Tuyết: KHÁM BỆNH CHO BÁC SĨ
  • Lam Minh Yen (Yen Minh Lam) trong Chuyện 3 anh em Thần Y Biển Thước
  • Bac Si Do Hong Ngoc trong Lịch “Trò chuyện, giao lưu…”
  • Mai Nguyen trong Thăm Sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh

Cùng một tác giả

  • 0
  • 1
  • 1
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
  • 6

Thống kê

Nhà tài trợ

biệt thự vũng tàu
biệt thự vũng tàu cho thuê | biệt thự vũng tàu cho thuê theo ngày giá rẻ | cho thuê biệt thự vũng tàu có hồ bơi
© 2009 - 2016 Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Phát triển & Hỗ trợ kỹ thuật bởi SGC.
Trích dịch nội dung để dùng trong nghiên cứu, học tập hay dùng cho cá nhân đều được tự do nhưng cần phải chú thích rõ nguồn tài liệu và đối với các trích dịch với mục đích khác, cần phải liên lạc với tác giả.
  • Một chút tôi
    ?
    • Một chút tiểu sử
    • Ghi chép lang thang
    • Các bài trả lời phỏng vấn
    • Vài đoạn hồi ký
  • Thư đi tin lại
  • “.com”… 2 năm nhìn lại!
  • Góc nhìn – nhận định
  • Ở nơi xa thầy thuốc
    ?
    • Viết cho các bà mẹ sinh con đầu lòng
    • Săn sóc con em ở nơi xa thầy thuốc
    • Nuôi con
    • Thầy thuốc và bệnh nhân
    • Hỏi đáp
  • Tuổi mới lớn
    ?
    • Viết cho tuổi mới lớn
    • Bỗng nhiên mà họ lớn
    • Bác sĩ và những câu hỏi thường gặp của tuổi mới lớn
    • Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò
    • Hỏi-đáp
  • Tuổi-hườm hườm
    ?
    • Gío heo may đã về ….
    • Già ơi….chào bạn
    • Chẳng cũng khoái ru?
    • Những người trẻ lạ lùng
    • Thư gởi người bận rộn
  • Lõm bõm học Phật
    ?
    • Nghĩ từ trái tim
    • Gươm báu trao tay
    • Thiền và Sức khỏe
    • Gì đẹp bằng sen?
  • Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác
  • Đọc sách
  • Nghiên cứu khoa học, giảng dạy
  • Nhận bài mới qua email