<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
		xmlns:itunes="http://www.itunes.com/dtds/podcast-1.0.dtd"
	xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
>

<channel>
	<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc &#187; Nghĩ từ trái tim</title>
	<atom:link href="http://www.dohongngoc.com/web/category/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.dohongngoc.com/web</link>
	<description>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</description>
	<lastBuildDate>Wed, 01 Feb 2012 10:36:49 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
	<copyright>2006-2007 </copyright>
	<managingEditor>admin@sgc.vn (Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)</managingEditor>
	<webMaster>admin@sgc.vn (Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)</webMaster>
	<image>
		<url>http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/plugins/podpress/images/powered_by_podpress.jpg</url>
		<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web</link>
		<width>144</width>
		<height>144</height>
	</image>
	<itunes:subtitle></itunes:subtitle>
	<itunes:summary>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:summary>
	<itunes:keywords></itunes:keywords>
	<itunes:category text="Society &#38; Culture" />
	<itunes:author>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:author>
	<itunes:owner>
		<itunes:name>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:name>
		<itunes:email>admin@sgc.vn</itunes:email>
	</itunes:owner>
	<itunes:block>no</itunes:block>
	<itunes:explicit>no</itunes:explicit>
	<itunes:image href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/plugins/podpress/images/powered_by_podpress_large.jpg" />
		<item>
		<title>Lõm bõm: &#8220;Không nghĩ thiện, không nghĩ ác&#8221;</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ghi-chep-lang-thang-5/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ghi-chep-lang-thang-5/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Jan 2012 09:56:20 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Ghi chép lang thang]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5448</guid>
		<description><![CDATA[Lõm Bõm (5) “Không nghĩ thiện Không nghĩ ác” “Không nghĩ thiện không nghĩ ác” không phải là không có thiện không có ác. Có thiện có ác quá đi chứ! Nếu không sao bảo “Chư ác mạc tác/ Chư thiện phụng hành” (Chớ làm điều ác/ Hãy làm điều thiện)? Tưởng tượng đêm hôm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><strong>Lõm Bõm </strong>(5)</em><br />
<strong>“Không nghĩ thiện<br />
  Không nghĩ ác”</strong><br />
“<em>Không nghĩ thiện không nghĩ ác</em>” không phải là không có thiện không có ác. Có thiện có ác quá đi chứ! Nếu không sao bảo “Chư ác mạc tác/ Chư thiện phụng hành” (Chớ làm điều ác/ Hãy làm điều thiện)?</p>
<p><span id="more-5448"></span></p>
<p>Tưởng tượng đêm hôm đó, một đêm không trăng sao, thầy trò Huệ Năng lén lút ôm bọc y bát rời chùa, len lỏi giữa các rặng lau sậy, ra tận bờ sông… Khi đại chúng biết ông đã được truyền y bát trốn về phương Nam thì có đến vài trăm người rượt đuổi theo để đoạt lại, trong đó có thượng tọa Huệ Minh, vốn trước là một tướng quân, tánh tình thô bạo, dẫn đầu đi trước, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng đặt y bát lên tảng đá rồi núp vào đám sậy nói lớn: &#8220;Y bát là vật làm tin, há dùng sức mà đoạt được sao? &#8221; Huệ Minh đến, muốn lấy y bát mà chẳng nhúc nhích, bèn kêu: &#8220;Hành giả! Hành giả! Tôi đến vì Pháp, chẳng phải vì Y!&#8221;<br />
Huệ Năng nói: “Ông đã vì Pháp mà đến, thì nên dứt bặt trần duyên, chớ sanh một niệm. Tôi sẽ vì ông mà thuyết”. Rồi nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đang khi ấy cái gì là <em>bổn lai diện mục</em> của thượng tọa Minh?”.<br />
Huệ Minh ngay đó đại ngộ.<br />
Thiệt ra Huệ Minh có định lấy y bát chi đâu. Muốn lấy thì đâu có khó gì với một ông tướng như vậy! Ngày nay còn dễ hơn nữa. Đầy dẫy ra đó. Mua đâu chẳng có. Sư phụ Hoàng Nhẫn cũng đã căn dặn: Sau này dẹp cái vụ truyền y bát hình thức đó đi cho đỡ rầy rà, tranh đoạt, giữa chốn thiền môn. Tâm truyền tâm thôi.<br />
Thương tọa Minh thực lòng khâm phục Huệ Năng từ lâu, đã muốn được học pháp, nghe pháp từ Huệ Năng giờ mới có dịp. Trong lúc rầm rập chân người, la ó vang trời, đèn đuốc sáng choang đó, giữa sự căng thẳng sống chết chỉ mành treo chuông đó, một câu nói “dứt bặt trần duyên/ chớ sanh một niệm” của Huệ Năng đủ sức lay chuyển tận gốc rể con người Huệ Minh. Đó chính là lúc bổn lai diện mục Huệ Minh có cơ hội để xuất hiện vằng vặc giữa trời quang! Huệ Minh chỉ cần nghe một câu là đủ. Cũng như xưa Huệ Năng nghe “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là đủ. Học kinh, kệ của Phật, một câu một chữ qúy biết bao. Thưc ra câu nói “Không nghĩ thiện/ không nghĩ ác” chẳng qua là một… minh họa, làm cho rõ nghĩa thêm mà thôi, và nhất là phù hợp với hoàn cảnh căng thẳng đầy sát khí lúc đó.<br />
“Dứt bặt trần duyên/ Chớ sanh một niệm”. Ấy chính là <em>“Vô niệm”</em>. Con đường phát hiện và hành thâm của Lục tổ Huệ Năng. Từ đó mà thấy biết “gió không động/ phướng không động”.  Con đường trực chỉ chân tâm đó vậy.<br />
Tóm lại, “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác” chỉ có nghĩa là <em>không hai</em>, là bất sinh bất diệt,  bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm&#8230; !<br />
“Đại gia” Duy Ma Cật nhờ đã trang bị pháp môn <em>Bất Nhị</em> này đến tận răng mà thỏng tay vào bất cứ chốn nào dù là thanh lâu, quán nhậu, karaoke ôm hay động xì ke ma túy… Vào đến chốn nào thì chốn đó trở thành đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh.<br />
Còn ta lơ mơ “ngẫu hứng lý qua cầu”  dễ lọt… xuống sông! </p>
<p><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ghi-chep-lang-thang-5/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lõm bõm: &#8220;Con đường độc nhất&#8221;</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ghi-chep-lang-thang-tt-2/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ghi-chep-lang-thang-tt-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 11 Nov 2011 01:03:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Ghi chép lang thang]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5214</guid>
		<description><![CDATA[Lõm bõm(4) « Con đường độc nhất » « Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn »&#8230; Thật không, một con đường như vậy ? Phật nói như đinh đóng cột, chắc là phải có rồi. Nói [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>
<strong>Lõm bõm(4) </strong></p>
<p> <strong>« Con đường độc nhất »</strong><br />
« Đây là con đường độc nhất dẫn tới thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng đắc Niết bàn »&#8230; Thật không, một con đường như vậy ? Phật nói như đinh đóng cột, chắc là phải có rồi. Nói từ hồi bắt đầu dạy những bài học đầu tiên cho đến lúc sắp nhập Niết bàn. Nói đi nói lại hoài. Sợ người ta quên. Sợ người ta coi nhẹ, mải mê chạy theo những hí luận nọ kia&#8230; Bởi con đường « độc nhất » đó lại quá ư đơn giản, đơn giản đến khó tin ! </p>
<p><span id="more-5214"></span></p>
<p>Con đường nào vậy ? Độc nhất. Thanh tịnh. Chánh trí. Niết bàn. Diệt trừ khổ ưu? Nếu có, quả là  phương thuốc thần cho cuộc sống đầy bát nháo, điên đảo mộng tưởng&#8230; trên một thế giới phẳng, toàn cầu hóa hôm nay ?<br />
Đó chính là Anapanasati &#8211; có khi gọi là « An ban thủ ý » hay « Nhập tức xuất tức niệm » &#8211; được dạy trong Tứ Niệm Xứ. Hình như ngay Tứ niệm xứ với « thân thọ tâm pháp » &#8230; vẫn còn có vẻ phức tạp quá, nên Phật giản hóa đi bằng cách chỉ dẫn một « kỹ thuật » giản đơn nhất mà cũng tuyệt vời nhất, như cánh cửa mở vào kho tàng của &#8230; Như Lai.<br />
 <strong>Ana</strong> là thở vào, <strong>Apana</strong> là thở ra và <strong>Sati</strong> là niệm, là nhớ, là nghĩ. Chỉ  có vậy thôi sao ? Chỉ vậy.<br />
Thở vào thở ra thì ai mà chẳng thở? Vậy thì có cái gì hay ? Cái hay, cái « bí quyết »  nằm ở chữ niệm.  Niệm, ấy là nhớ, nghĩ. Nhớ cái thở. Và, nghĩ về cái thở. Xưa nay ta vẫn thở, còn sống thì còn thở nhưng mấy khi ta nhớ ta nghĩ về nó. Đôi khi khò khè cò cử ta cũng có nhớ, có nghĩ chút chút, nhưng nhớ và nghĩ theo&#8230; bệnh lý !  Còn Phật muốn ta nhớ nghĩ (niệm) về cái thở theo một cách khác.  Hãy nhớ nghĩ thiệt sâu xem sao. Nói khác đi, không phải chỉ « niệm » mà « chánh niệm » xem sao. Hãy thử rình mò, dõi theo nó xem sao. Có gì lạ không? Có đó. Nhưng, đừng nói. Bất khả thuyết. Thử đi. Nếm đi. Hãy đến và nếm thử đi. Thì ra, một khi ta thực sự « nhớ » đến nó (chánh niệm), ta quên mọi thứ trên đời ! Cứ y như một cái công tắc. Bật qua bật lại. Hoặc nhớ chuyện nọ kia thì quên cái thở, nhớ cái thở thì quên chuyện nọ kia. Sinh lý nó vậy. Vỏ não nó vậy. Khi một vùng này của vỏ não được kích hoạt thì vùng kia bị ức chế. Thời đại của&#8230; options. Tùy chọn. Giận thì bầm gan tím ruột. Tức thì đỏ mặt tía tai. Mất bao nhiêu là năng lượng. Bãi hoãi tay chân, bao tử, tim mạch, huyết áp&#8230;<br />
Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chưa đủ. Niệm không chỉ là <em>nhớ</em> mà còn là <em>nghĩ</em> nữa. Có gì hay để nghĩ về cái hơi thở đó? Có đó. Giật mình thấy đời người chẳng qua là một hơi thở. Lúc sinh hít vào một hơi. Lúc tử hắt ra một cái. Khoảng giữa là những lăn tăn. Lăn tăn mà cũng bày đặt tham lam, sân hận, khổ đau&#8230; Giật mình thấy hơi thở chẳng phải của mình, chẳng phải là mình&#8230;  Ngàn xưa ngàn sau nó đến nó đi ung dung&#8230; tự tại ngoài ta, chẳng cần biết có ta trên cõi đời. Chẳng phân biệt, chẳng thêm bớt. Cái hơi thở vào thở ra của Phật, của Bồ tát, của Alahán&#8230; kia hình như cứ còn bay bay lởn vởn đâu đây cùng ta phì phò mọi lúc mọi nơi&#8230;<br />
Nhưng hình như không dừng ở đó. Cho đến một lúc, chánh niệm trở thành <em>vô niệm</em>.<br />
Ở đó, một thứ <em>tâm bất sinh</em>. </p>
<p><strong>“Tam-ma-địa”</strong></p>
<p>Nghe cứ rờn rợn như “đất của ba con ma” nào đó vậy. Hóa ra không phải. Tam-ma-địa là một từ, phiên âm từ tiếng Phạn: <em>Samadhi</em>. Là <em>Chánh định</em> trong Bát Chánh Đạo. Nhưng hiểu “đất-của-ba-con-ma” cũng hay chứ!  Ma <em>tham</em>, ma <em>sân</em> và ma <em>si</em>. Trẻ con thường hát: “Một ông Phật hiện ra/ Ba con ma biến mất!”. Nơi nào có ông Phật hiện ra thì nơi đó ba con ma phải biến mất. Hay nói cách khác, nơi nào có ba con ma hiện ra thì lập tức có ông Phật xuất hiện.  Nếu chẳng có ba con ma Tham, Sân, Si thì Phật hiện ra làm gì cho mất công! Cho nên muốn biết Phật ở đâu thì hãy tìm trong&#8230; tham sân si. Tham sân si càng lớn, Phật càng to.<br />
Có thể nhập chánh định ngay ở hơi thở đầu tiên được không? Không biết. Nhưng các thiền sư khẳng định là có thể. Phật thường ở trong định. Đi đứng nằm ngồi trong định. Khi cần lắm thì “xuất định” để thuyết giảng chút gì đó, rồi nhập định trở lại ngay. Như như bất động. An nhiên. Tự tại. Nhiều lúc trước khi “thuyết” phải hỏi lại đôi ba lần người ta có tin không. Thuyết xong thấy người ta vẫn ú ớ chưa tin chưa hiểu bèn bảo “chỉ có Phật với Phật mới hiểu nhau thôi”. Bởi Phật nói ra cái điều thấy biết từ trong định, không phải cái thấy biết của ta. Cho nên có những buổi Phật thuyết mà người ta bỏ đi&#8230; gần hết. Phật mặc kệ.<br />
Định dẫn đến Tuệ. Người bình thường như ta đôi khi cũng bừng ngộ, lóe sáng, thức tỉnh một chút,  nhưng không lâu, lại đắm chìm, lại tắt ngấm.<br />
Bởi thiếu “Tam ma địa”. </p>
<p><strong>« Bố thí thân mạng » </strong></p>
<p><em>“Buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi chiều cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí&#8230;”.</em><br />
Bố thí hơi nhiều đó nhé! Và, thân mạng đâu mà lắm thế? Trong khi ta chỉ có mỗi một tấm thân ngũ uẩn nhẹ hều!<br />
Nhưng chuyện bố thí hằng hà sa số thân mạng sáng trưa chiều tối là có thật. Cứ nhìn vào cơ thể mình thì biết. Cơ thể ta hình thành từ khoảng một trăm ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một “sinh vật”, một “chúng sinh” hẳn hòi,  hoạt động có tổ chức, có đầy đủ các chức năng, sắc thọ tưởng hành thức… đàng hoàng chớ chẳng chơi. Và điều kỳ diệu, cứ mỗi giây đồng hồ lại có vô số tế bào được… “bố thí” hay nói khác đi được hủy bỏ để thay thế bằng những tế bào khác, mới hơn, khỏe hơn. Chẳng hạn chỉ riêng hồng cầu, mỗi giây đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu được hủy diệt và thay thế. Các chất liệu được đưa về “kho chứa” là <em>lá lách</em> để sẵn sàng sử dụng lại, chế tạo các hồng cầu mới. Hệ thống mao mạch &#8211; các mạch máu nhỏ li ti dẫn máu đến từng tế bào trong cơ thể, cung cấp Oxy và các dưỡng chất để sản xuất năng lượng &#8211; nếu nối lại đã có độ dài bằng một vòng quanh trái đất. Mỗi ngày,  trái tim nhỏ bé của ta co bóp với một lực mạnh đủ để kéo một đầu máy xe lửa… Cơ thể ta quả một thế giới kỳ diệu, một vũ trụ chưa được khám phá hết.  Đừng tìm kiếm đâu xa. Hãy “nương tựa chính mình” là vậy. Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Vô thường ở đó, vô ngã ở đó, niết bàn điạ ngục ở đó…<br />
Bố thí thân mạng nhiều như cát sông Hằng, ngày ba buổi sáng trưa chiều chính là các thời… thiền định của một người tu tập. Trong sâu thẳm của chánh định, sẽ thấy biết… không còn có cái thân nào nữa &#8211; hay nói khác đi “bố thí” sạch trơn rồi, “buông xả” sạch trơn rồi. Ngã nhân chúng sanh thọ giả dứt sạch rồi.  Chẳng phải trong trạng thái vô ngã đó, đã hoàn toàn “bố thí thân mạng” đó sao?<br />
Như vậy phải chăng <em>“buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí…”</em> không bằng biên chép đọc tụng câu kinh tiếng kệ nhằm nhắc ta rằng đừng có mà ngồi ỳ ra đó, đừng có mà lo ngày ba thời thiền định dưới gốc cây, quên ăn quên ngủ, bỏ mặc sự đời. Hãy gieo trồng dù chỉ là một hạt giống nhỏ, để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh…<br />
Cho nên bố thí thân mạng chẳng phải là bố thí thân mạng nên mới gọi là bố thí thân mạng đó vậy.</p>
<p><strong>“Giải thoát” và “Giải thoát”</strong></p>
<p>Thì ra có hai thứ Giải thoát. Giải thoát và giải thoát tri kiến. Hay nói cách khác, một thứ là giải thoát <em>thân</em> và một thứ là giải thoát <em>tâm</em>.<br />
Vô sanh. Đặt gánh nặng xuống. Phạm hạnh đã đầy. Không trở lại con đường cũ nữa. Vậy là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát sanh tử. “Vô sanh” thì “vô tử” mà. Có sanh đâu mà tử ? Có tử đâu mà sanh ? Nhưng “sanh tử” này là sanh tử của các pháp. Sanh, trụ, dị, diệt. Nó vậy đó, nó cứ vậy đó, không ngừng. Sanh tử là một. Vô sanh là cắt đứt đường sanh tử. Các bậc vô sanh đều tới cõi này, nhưng sao…?<br />
Phật nói còn thiếu Từ bi. Bởi Phật rồi cũng chết, cũng “niết bàn” mà, dù chỉ là một cách “thị hiện” chơi thôi, nhằm để răn dạy người đời thôi.<br />
Cho nên giải thoát sanh tử không phải là không còn chết nữa, mà là chết một cách khác, chết an nhiên, chết tự tại, vì đã sống an nhiên, tự tại.</p>
<p>Nhưng giải thoát sinh tử mới chỉ là giải thoát thân, còn cái tâm mù mịt kia vẫn quấn quít, vẫn dằn vặt khôn nguôi. “Lậu hoặc” vẫn  đầy ra đó, phiền não vẫn đầy ra đó. Nên “giải thoát thân” mới chỉ là bước một. Độc cư và thiền định đã có thể đưa đến thứ giải thoát này. Bố thí thân mạng ngàn vạn lần sáng trưa chiều tối có thể đưa đến giải thoát này. Nhưng nó chỉ là một trạm dừng chân, nghỉ qua đêm ở <em>hóa thành</em>.<br />
Do vậy, thiền định (Samatha) cần mà chưa đủ, phải thiền quán (Vipassana) để có “tri kiến” thật. Nhưng hai thứ đó quấn quít chằng chịt với nhau, bổ sung cho nhau. “Định” đến mịt mờ cũng chẳng đến đâu, “Quán” đến hí luận cũng chẳng đến đâu. Có người bảo chỉ cần <em>định</em> là đủ, có người bảo chỉ cần <em>quán</em> là đủ. Các triết gia xưa nay vẫn luôn “quán” mọi sự không ngừng đó chứ, nhưng cũng chẳng đến đâu. Còn ôm gốc cây mà mài gạch cho thành gương thì cũng khó! Giải thoát tri kiến thực sự có được phải là cái « tri kiến » Phật. Thứ tri kiến ở đó <em>thức</em> đã chuyển thành <em>trí</em>. Thấy biết Như Lai. “Ngộ” vẫn chưa đủ. Còn phải “nhập” nữa. Khi Lục tổ Huệ Năng “ngộ” rồi thì cũng phải “nhập” mười lăm năm hành tẩu giang hồ mới dám một phen xuống núi: “Gió không động, phướng không động&#8230;”.<br />
Một đạo hào quang trí tuệ ở giữa chặng lông mày quét một cái cho thấy toàn cục. Nó vậy thì nó vậy. Tánh tướng nó vậy thì <em>sanh</em> vậy <em>trụ</em> vậy <em>dị</em> vậy <em>diệt</em> vậy… Nó Như Thị. Sáu đạo luân hồi đông vui, dìu dặt. Các vị Phật hằng hà sa số giảng pháp… mọi lúc mọi nơi. Như Lai lặng tiếng. Như như bất động. Nhưng vô vàn để vổ về nhắc nhở.<br />
Ấy là lúc <em>tri kiến Phật</em> tỏ bày?</p>
<p><strong>Bồ tát Di Lặc</strong></p>
<p>Các vị Bồ tát hình như chẳng ai có một cái tên riêng. Ngoài các vị quá thân quen như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Dược Vương… (thực ra là những đức, hạnh), ta còn có vô số các vị mang những cái “tên” rất ngộ nghĩnh: Thường Bất Khinh, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Vô Tận Ý…  nếu dịch ra sẽ là: Luôn Tôn Trọng, Luôn Siêng Năng, Không Ngừng Thở, Người Nhiều Chuyện…! Cho nên ta không lấy làm lạ khi có tới hai vạn vị Phật mang cùng một tên gọi duy nhất Nhật Nguyệt Đăng Minh… làm nhớ <em>“trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về…” (TCS)</em>.<br />
Dễ thương nhất có lẽ là Bồ tát Di Lặc. Bồ tát có cái bụng bự, lúc nào cũng cười toe toét, làm biếng và… hám danh kinh khủng (nên còn có tên là Cầu Danh). Hôm đó giữa hội trường , ông ngơ ngác đứng gãi đầu hỏi hôm nay có gì lạ mà Phật Thích Ca phô trương thanh thế, “đánh trống múa lân” ầm ỉ quá vậy? Bồ tát Văn Thù mới tủm tỉm cười « dẫn chuyện gần xa »: Sẽ có chuyện lạ đó! Chờ xem. Nhớ xưa mỗi lần như vầy thì sẽ có thuyết giảng Diệu pháp Liên hoa đó. Chờ xem. Đừng nóng. Hồi đó tôi cùng tu học với ông, chẳng qua ông biếng nhác, học hoài không thông…<br />
Bụng bự, biếng nhác, hám danh… phải chăng muốn “ám chỉ” chúng ta ngày nay? Ta ngày nay chẳng phải bụng bia, gan nhiễm mỡ, béo phì, bằng cấp giả… đầy đó sao?<br />
Thật ra thì Phật có phô trương thanh thế, có thuyết giảng gì mới lạ đâu. Vô số các vị Phật xưa nay đời đời kiếp kiếp đều nói y một pháp như vậy, có giấu giếm gì đâu, chẳng qua vì không ai muốn nghe, không ai biết nghe thôi.  Phật Thích Ca, suốt bốn mươi lăm năm trời phải nói đi nói lại hoài bằng nhiều cách cho nhiều đối tượng khác nhau, để rồi cuối cùng cũng đã khẳng định… “ai bảo Phật có thuyết pháp này nọ là phỉ báng Phật”! Chẳng qua vì “đối tượng” khác nhau nên “mục tiêu” và “phương pháp” cũng phải khác nhau vậy thôi.  “Student-centered approach” mà!  Lần này trong hội Pháp Hoa, có vẻ Phật Thích Ca hơi bực mình sao đó nên không chỉ nói mà còn bày biện ra, trình diễn, xếp đặt như một cuộc triển lãm, như một phim 3D cho thấy tận mắt. Hãy coi kỹ đây nè. Nó vậy đó. Nó Như Lai. Chẳng có thời gian, chẳng có không gian. Vô lượng thọ. Vô lượng quang. Thực tướng vô tướng… Chuyện khó tin nhưng có thiệt. Một số vị đã rời bỏ hội trường. Kệ, cho đi.<br />
Ông bụng bự, làm biếng, cầu danh… ở lại. Tuyệt vời! Ông hỏi : “Con muốn mau thành Phật. Có cách nào cho mau thành Phật không?”. Chưa bao giờ, ở đâu, có một kẻ nôn nóng thành Phật, nôn nóng “Vô thượng chánh đẳng chánh giác” như thế. Nhưng Phật đã mỉm cười: Có đó. Dễ lắm. Con nít chơi đất chơi cát… cũng thành Phật được, trẻ con người già, đàn ông đàn bà gì cũng thành Phật được. Bởi ai ai cũng sẵn có hạt giống đó cả rồi. Miễn là phải tưới bón!<br />
Con người hôm nay trên thế giới phẳng, toàn cầu hóa này dù… bụng to, làm biếng, cầu danh, muốn mau thành “chánh quả”… vẫn có thể thành được không khó, miễn là có đủ “tri kiến” Phật và hằng sống “ngộ nhập” với tri kiến đó.<br />
Nhưng, còn thiếu chút gì chăng? Từ Bi. Bồ tát Di Lặc, Maitreya, Từ Thị… vốn dòng dõi Từ Bi. Ông “thị hiện” chút chơi để dạy ta rằng phải có Từ Bi cái đã. Bởi Từ Bi thì mới Hỷ Xả. Nếu không, sao bụng lại to, sao cười lại rộng?</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong><br />
<em>(Saigon 11.11.11)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ghi-chep-lang-thang-tt-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>GSTS Trần Văn Khê nói về cuốn “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/gsts-tran-van-khe-noi-ve-cuon-%e2%80%9cnghi-tu-trai-tim%e2%80%9d-cua-do-hong-ngoc/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/gsts-tran-van-khe-noi-ve-cuon-%e2%80%9cnghi-tu-trai-tim%e2%80%9d-cua-do-hong-ngoc/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Oct 2009 02:16:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[GSTS Tran Van Khe]]></category>
		<category><![CDATA[GSTS Trần Văn Khê]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi tu trai tim]]></category>
		<category><![CDATA[Tâm Kinh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2581</guid>
		<description><![CDATA[( Ghi theo băng audio-cassette do cô Lý Thị Lý thu tại bệnh viện Triều An. ngày 17.10.2003) Tôi đọc “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc trong lúc đang ở bệnh viện một cách say mê liên tục từ đầu tới cuối, vừa đọc vừa ghi chú bên lề những cảm giác có [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>( Ghi theo băng audio-cassette do cô Lý Thị Lý thu tại bệnh viện Triều An.<br />
ngày 17.10.2003)</em></p>
<p>Tôi đọc “Nghĩ từ trái tim” của Đỗ Hồng Ngọc trong lúc đang ở bệnh viện một cách say mê liên tục từ đầu tới cuối, vừa đọc vừa ghi chú bên lề những cảm giác có tại chỗ hoặc những ý gợi lại những chuyện xưa. Trước hết là con đường đi tới Tâm kinh của tôi.</p>
<p><span id="more-2581"></span></p>
<p>Thuở nhỏ tôi đã từng nghe đọc kinh, trong đó có Tâm kinh. Khi đó tôi chỉ biết:</p>
<p><em>Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.</em></p>
<p><em>Xá lợi tử! Sắc bất dị không. Không bất dị Sắc. Sắc tức thị Không. Không tức thị Sắc.<br />
</em><br />
Đến năm 8 tuổi tôi theo gánh hát cải lương của cô Ba. Trong màn Võ Đông Sơ tưởng Bạch Thu Hà chết rồi nên tổ chức đàn làm chay, cậu Năm tôi đưa cả thầy tu lên sân khấu đọc kinh, tụng kinh, tán và có thay đổi một số vần điệu để có tính chất cải lương. Từ một bài Tâm kinh cậu Năm phổ nhạc ra thành hai bài gồm “Phật y phổ niệm” là đoạn đầu cho tới “diệc vô vô minh tận nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận”, phần sau mang hơi buồn là “Bạch hạc minh bi” (Con chim hạc trắng kêu lên một tiếng buồn thảm). Hồi đó tôi bị nhạc của cậu Năm làm cho có một quan điểm sai về Tâm kinh vì cậu Năm vốn không phải là người hiểu rõ về Phật học mà chỉ phổ nhạc Tâm kinh theo tư tưởng của người không nắm được Phật giáo.</p>
<p>Đến năm 1965 tôi viết về nhạc của Phật giáo nên thường xuyên được thầy Nhất Hạnh giảng cho nghe những bài kinh, bài tán, nhờ đó tôi hiểu được với từng nội dung có những nét nhạc khác nhau. Thầy chỉ nói một câu rằng Tâm kinh chính là bản tóm tắt hầu hết những điều Phật dạy. Điều quan trọng đối với tôi lúc đó không phải là giáo lý Phật giáo mà là nhạc Phật giáo, có mấy cách tán, khi nào thì tán rơi, tán sấp hay tán trạo, nhạc đánh làm sao…Sau đó tôi học qua với thầy Viên Châu về những cách niệm hương, khai kinh.</p>
<p>Năm 1995 khi qua Mỹ tôi tình cờ đọc được bài viết của thầy Nhất Hạnh nói về Trái tim hiểu biết. Thầy dịch rất sát nghĩa, tuy tôi hiểu được chữ Hán một phần nhưng chỉ theo cách hiểu của bản thân. Quyển sách chủ yếu mang tính chất giáo khoa.</p>
<p>Con đường đi tới Tâm kinh của tôi vòng vo như vậy, mãi cho tới khi gặp bà Karfung tôi mới hiểu rõ hơn. Bà Karfung là một thầy thúôc châm cứu, dạy khí công của tôi. Suốt một năm rưỡi bà chỉ chuyên tâm cắt nghĩa Tâm kinh bằng tiếng Pháp..</p>
<p>Bà Karfung đọc và giảng từng câu cũng như Đỗ Hồng Ngọc đã đề cập trong cuốn sách của mình. Bà Karfung cho rằng không dịch ra mà để nguyên chữ Phạn, chỉ đọc ra âm thanh thôi. Âm thanh đó nhắc nhở con người phải hành, phải đi tìm chân lý, bến giác. Đến chữ “Yết đế” trong câu <em>Yết đế, Yết đế, Bala yết đế, Bala tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha!,</em> bà dịch là avant, encore en avant, toujours en avant et plus loin en avant (đi tới, đi tới, còn đi tới nữa và luôn luôn đi xa tới hơn nữa) để tới đáo bĩ ngạn, tới Paramita.</p>
<p>Thêm một cái may nữa là lần này về Việt Nam được đọc cuốn sách Nghĩ từ trái tim của Đỗ Hồng Ngọc, những điều tôi biết về Tâm kinh từ bà Karfung đều được Đỗ Hồng Ngọc nói rõ ràng bằng tiếng Việt, văn phong chẳng những giản dị mà còn dí dỏm, kèm thêm những thí dụ trong cuộc đời, lâu lâu lại chêm vàì câu Kiều, thơ của Xuân Diệu hay lời ca của Trịnh Công Sơn. Càng đọc tôi càng thấy thấm thía và có phần gần gũi. Tôi đọc mà vô cùng thú vị, qua đó cho thấy hiểu biết của tác giả rất sâu sắc. Có những điều tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả. Mọi người cho rằng trong Tâm kinh, đức Phật phủ định tất cả những gì mình đã dạy. Nhưng Đỗ Hồng Ngọc lại nghĩ ngài không phủ định mà chỉ khẳng định lại những điều mình đã dạy một cách rõ ràng hơn. Điều đó đúng quá, Đức Phật nói lần lần cho người ta hiểu.</p>
<p>Đỗ Hồng Ngọc là một bác sĩ, làm như phải có khoa học thì mới tìm được những chi tiết trong Tâm kinh. Người bác sĩ này có cả tâm hồn hướng về con người nên đã viết cho trẻ con, cho những người già, người sản phụ, tìm hiểu căn bệnh để trừ bệnh, để giúp cho người ta bớt bệnh bớt khổ. Tâm tư đó là tâm từ đi tới bi. Người bác sĩ đó có được một tinh thần phóng khoáng, một tâm từ, còn là một nhà văn dí dỏm, một nhà thơ mộc mạc dễ thương nên hiểu được Tâm kinh như thế. Phải trải qua một trận đau, một lần bị giải phẫu, khi đó cả một cơ thể mình chuyển động thay đổi, tâm tư thay đổi thì tự tìm lấy cách để trị bệnh cho mình. Trong khi học trị bệnh tức là đã hành. Tâm kinh không chỉ đọc hiểu không thôi mà phải hành. Đỗ Hồng Ngọc nhờ tổng hợp được những yếu tố đó mà viết ra được quyển Nghĩ từ trái tim như thế này thì tôi cho đây là một tuyệt tác, nắm được tinh hoa của đạo Phật giảng ra một cách dễ hiểu, dễ dàng để cho người ta tìm thấy được mỗi chuyện làm ở trong đời….</p>
<p>Theo bà Karfung, Tâm kinh tuy gồm 260 chữ nhưng gút lại có bốn chữ vô cùng quan trọng là “ngũ uẩn giai không”, tôi thấy Đỗ Hồng Ngọc cũng nói về ngũ uẩn giai không như thế. Đỗ Hồng Ngọc còn đi xa hơn một chút. Bà Karfung cắt nghĩa chữ Không là vacuité, tức là không mà có rồi lần lần đi tới chỗ không mà không có là đi tới chữ vô. Đỗ Hồng Ngọc cắt nghĩa rõ ràng từ chữ không đi tới chữ vô. Cái vô đó không phải phủ nhận nhưng phải một người như Đức Phật mới dám nói tới chữ vô vì ông đưa ra Tứ diệu đế, đưa ra cái khổ của con người ai cũng phải có mà bây giờ ông nói là không khổ gì hết. Không khổ như thế mới là vô quái ngại, không sợ sệt, vượt ra khỏi vòng sanh tử rồi mới thanh thản đi tới chỗ đời sống. Đọc Tâm kinh này mà mình thưởng thức và hành được thì mới thành công. Trong cái hành đó có cái thiền. Cái thiền đó tác giả nói cũng rõ ràng lắm. Thiền đó không phải học chơi mà phải làm. Trong đó có nhiều chuyện làm cho mình thích lắm. Người bác sĩ như Đỗ Hồng Ngọc không phải chỉ có cái nhìn của nhà khoa học không mà còn có cái nhìn từ bi của con người thương con người, thấu hiểu được tâm kinh, hiểu được biết bao nhiêu chuyện đời, chắt lọc được tất cả những cái gì hay, đưa ra một cách giản dị, làm cho người mới đọc lần đầu sơ sơ đã thấy có cái gì như ánh sáng loé lên, càng đọc càng thấy rõ. Tôi cho rằng quyển sách này tuyệt vời.</p>
<p>Trong trang 37 Đỗ Hồng Ngọc nói người nào kiểm soát được hơi thở thì kiểm soát được cái tâm của mình.Khi kiểm soát hơi thở mình kiểm soát được cái tâm, cái tình cảm của mình rất là đúng. Đó là kinh nghiệm bản thân của tôi.</p>
<p>Ngoài ra đến trang 102, Đỗ Hồng Ngọc nói rằng: “Biết sống hôm nay, ở đây và bây giờ”. Đó cũng là kinh nghiệm của tôi theo một câu kinh. “Không nên hối tiếc quá khứ, đừng quá bận tương lai vì quá khứ đã qua rồi mà tương lai thì chưa tới. Hãy biết sống trong hiện tại”.</p>
<p>Trang 80 Hồng Ngọc có ghi rằng: “Mây lang thang vô định, xây thành rồi tan biến rồi lại xây. Mây thành mưa. Mưa thành suối, sông hồ, biển cả rồi lại bốc hơi thành mây”. Tôi đọc câu đó mà nhớ đến thời điểm năm 1952, tôi đang ở bịnh viện thì người ta nói rằng ráng một tháng nữa sẽ được ra viện. Tôi chờ đợi cho hết tháng rồi tới gặp bác sĩ, ông  nói chưa ra được ráng thêm ba tháng nữa. Từ tưởng tượng mình được ra viện bỗng cũng như mình được lên trời lại phải trở về chỗ cũ. Bữa đó buồn quá nên tôi ngồi viết bài “Mưa”. Lúc ấy tôi đang nghiên cứu về nhạc miền Trung nên bài Mưa mang hơi hướm của Nam bình Huế:</p>
<p style="padding-left: 60px;"><em>Hôm nay suối lạc dòng<br />
Hôm nay suối lạc dòng<br />
Dưới ánh nắng vàng nước tan thành hơi<br />
Nước lên trời, lên trời thành mây, mây ơi!<br />
Khi bay theo đám mây lành, bỗng gặp cơn gió lạnh<br />
Hồn nước biến thành mưa trở về trần gian chảy kiếp thừa.</em></p>
<p>Đọc cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc, từng đoạn từng đoạn vừa hiểu được Tâm kinh mà thấy rằng cách diễn tả đó nếu người nào chịu khó đọc rồi cũng sẽ hiểu được Tâm kinh. Mà nếu chịu khó hành Tâm kinh, trước nhứt là kiểm tra hơi thở của mình lần lần kiểm tra được tình cảm của mình, tìm thấy được mọi việc. Cái mà mình tưởng là có thì chỉ là ảo ảnh của chuyện đó. Từ đó mà cái mất cái còn đối với mình không còn quan trọng. Mất thì mình tiếc chuyện đó vì tưởng nó có hình thức nhưng thực ra nó không có gì hết, nó có mà không có, mất rồi thì sẽ có cái khác. Trong tất cả những chuyện đó mình đi lần tới chỗ vô ngã thì chừng đó người ta chửi thì mình cũng không giận. Mình giận là tại sao họ dám động tới “ta”. Làm sao đi tới chỗ mình thấy ngã không còn là quan trọng nữa. Thầy Thiện Siêu có nói vô ngã là niết bàn. Điều đó khi tôi đọc quyển sách hiểu thấu được như vậy, tôi vô cùng hoan nghênh.</p>
<p>Trang 54 Đỗ Hồng Ngọc có nói rằng khi có cảm gió thì thưởng thức lá xông, tô cháo hành. Cảm gió tùy theo loại cảm gió, nếu đó là gió luồng, gió mưa hay gió tuyết thì khi bị cảm thì khí âm nhập vào người mặc dầu nó làm mình nóng sốt nhưng trong cái sốt đó âm rất nhiều. Vì vậy mà khi cảm lạnh thì người Việt Nam mình ăn một chén cháo gừng vì gừng đem dương vô chế ngự khí âm. Nhưng nếu bị cảm nắng thì phải ăn cháo hành vì cảm nắng dương vô nhiều quá phải đem hành là cái âm vô để chế ngự lại. Cái đó chứng tỏ người Việt Nam mình trong cách ăn là đã trị bịnh phù hợp âm dương rồi. Cho nên có những câu cách ngôn thông thường mà suy nghĩ kỹ mình mới thấy hay thí dụ: “Mùa hè ăn cá sông mùa đông ăn cá biển”. Mùa hè thì chung quanh ta là khí dương mà cá sông có nước ngọt thấm vào có nhiều khí âm để chế ngự trong khi mùa đông khí âm tràn lan, cá biển thấm nước mặn và thấm cả khí dương nên ăn vô trị cái âm của trời đất.</p>
<p>Đọc cuốn sách của Đỗ Hồng Ngọc có nhiều cái suy tư, nhớ lại, trùng hợp nhiều cái thành ra thú vị vô cùng. Mỗi trang sách có sự thú vị khác nhau. Nhưng cảm giác này mãnh liệt dồi dào và xảy ra trong lúc đang bịnh nằm trong bịnh viện mà đọc đựơc Nghĩ Từ Trái Tim. Nhờ có cuốn sách mấy ngày đó tôi quên bịnh, chỉ đọc cái đó mà thú vị, đọc vô thấy khỏe trong người và ghi trở lại một vài điều hôm nay.</p>
<p><em><strong>Ghi chú của Đỗ Hồng Ngọc:</strong></em><br />
<em>Nhân ngày Quốc tế người cao tuổi năm nay, GS Trần Văn Khê cũng sắp bước vào tuổi 90, tôi đưa lên trang web này một ít bài liên quan đến ông (Sinh nhật một người trẻ … lạ lùng, Đời thường GS Trần văn Khê, Nghe GS Trần văn Khê kể chuyện tình, GS Trần Văn Khê nói về cuốn Nghĩ từ trái tim…) như một kỷ niệm đẹp với một người “trẻ lạ lùng” mà tôi hằng ngưỡng mộ. Bài này được lược ghi từ đĩa CD do chị Lý Thị Lý &#8211; phu nhân nhà báo Trần Trọng Thức, phụ trách Trung tâm Hồi ký Phương Nam- gởi tặng tôi từ nhiều năm về trước. Chị đã thu băng trực tiếp lời nói của GS Trần Văn Khê khi ông nằm chữa trị tại Bệnh viện Triều An, Tp. Hồ Chí Minh ngày 17-10-2003. </em></p>
<p><em>Chị Lý thị Lý cũng chính là người đã thực hiện bộ Hồi ký Trần Văn Khê, NXB Trẻ, 2002, do Phương Nam phát hành.</em></p>
<p><em><br />
</em></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Nghe GSTS Trần Văn Khê nói về Nghĩ từ trái tim</strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/09/Thayngocfn2.mp3"><object classid="clsid:6bf52a52-394a-11d3-b153-00c04f79faa6" width="400" height="50" codebase="http://activex.microsoft.com/activex/controls/mplayer/en/nsmp2inf.cab#Version=5,1,52,701"><param name="url" value="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/09/Thayngocfn2.mp3" /><param name="src" value="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/09/Thayngocfn2.mp3" /><embed type="application/x-mplayer2" width="400" height="50" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/09/Thayngocfn2.mp3" url="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/09/Thayngocfn2.mp3"></embed></object><br />
</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/gsts-tran-van-khe-noi-ve-cuon-%e2%80%9cnghi-tu-trai-tim%e2%80%9d-cua-do-hong-ngoc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>12</slash:comments>
			<enclosure url="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/09/Thayngocfn2.mp3" length="3645504" type="audio/mpeg" />
	</item>
		<item>
		<title>“Như nước trong nguồn…”</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/nhu-nuoc-trong-nguon/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/nhu-nuoc-trong-nguon/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 18 May 2009 04:11:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[“Nhu nuoc trong nguon…”]]></category>
		<category><![CDATA[“Như nước trong nguồn…”]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=1104</guid>
		<description><![CDATA[Hạnh ngộ, đó là cuộc “trùng phùng “ giữa hai con người xa lạ! Người này ở trong người kia. Cả hai đều không biết mình từ đâu đến và dĩ nhiên cũng chẳng biết mình sẽ  đi về đâu… Nhưng họ ở trong nhau. Họ gặp nhau ngỡ ngàng, xa lạ, đầy “kịch tính”! [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><img class="alignleft size-full wp-image-1158" title="mecuaban" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/05/mecuaban.jpg" alt="mecuaban" width="215" height="192" /><em>Hạnh ngộ</em>, đó là cuộc “trùng phùng “ giữa hai con người xa lạ! Người này ở trong người kia. Cả hai đều không biết mình từ đâu đến và dĩ nhiên cũng chẳng biết mình sẽ  đi về đâu… Nhưng họ ở trong nhau. Họ gặp nhau ngỡ ngàng, xa lạ, đầy “kịch tính”! (chữ của Việt Linh). Đó là hai… mẹ con! Mẹ, một người đàn bà… rất đàn bà và con, một cái trứng nước còn trứng nước. Họ chăm bẳm quan sát nhau, ngọ ngọay, hú hí, nâng niu, đấu đá và nhường nhịn  nhau… Họ nôn nóng gặp mặt nhau, mỏi mòn chờ đợi nhau. Họ tương tác, tương sinh, tương khắc … với nhau bất kể ngày đêm. Cuối cùng họ cũng đựơc toại nguyện sau một hành trình cam go gọi là mang nặng đẻ đau, để hai kẻ xa lạ ngỡ ngàng kia đựơc nhìn thấy nhau sau  chín tháng mười ngày đợi chờ đầy <em>“thiêng liêng, lãng mạn, hài hước và tò mò”</em> để cuối cùng người mẹ đựơc <em>“gặp một công trình kỳ vĩ- một con người- mà mình được vinh hạnh tham gia cùng tạo hóa”</em>- (Hạnh ngộ, Chuyện mình chuyên người, Tạp bút, NXB Trẻ 2008). Trong cuộc <em>hạnh ngộ</em> kỳ diệu này, Việt Linh đạo diễn có lẽ đã choáng ngợp với một đạo diễn khác, kẻ giấu mặt, có vẻ hững hờ mà sắp đặt đâu đó cả rồi, đâu như “từ muôn kiếp trứơc” rồi, và người mẹ chỉ kịp nhận ra một “ trạng thái bồng bềnh”, bay bỗng, ngất ngây&#8230;  Họ ngỡ ngàng nhìn nhau, ngơ ngác nhìn nhau. Người mẹ chưa biết làm mẹ. Người con chưa biết làm con. Thế nhưng lạ lùng thay, họ bấu víu lấy nhau, chùn chụt với nhau. Và rồi trong phút giây người mẹ chợt nhận ra đứa con là máu thịt của mình, là sở hữu của mình. Có lẽ từ đó cũng chính là những nỗi niềm đằng đẵng của một kiếp nhân sinh!</p>
<p><span id="more-1104"></span></p>
<p>Chưa có ai viết về tình mẫu tử như Việt Linh. Với con mắt điện ảnh, chị nhìn ra “những óng ả của một khuôn hình” nhưng đằng sau đó là trái tim thổn thức, bồi hồi, run rẩy…  của một nhà thơ.</p>
<p><em>“… Ngồi thật lâu để nhìn con say đắm, để lẩm bẩm những lời vô nghĩa, ngọng nghịu trò chuyện cùng con”</em>. Phải rồi, chỉ với một tình yêu thiêng liêng đắm đuối chết ngộp như thế nào đó thì người ta mới có thể trở nên ngọng nghịu, lẩm bẩm những lời vô nghĩa với nhau thôi. Dễ gì có được! Khi người ta không còn ngọng nghịu nữa, không còn lẩm bẩm những lời vô nghĩa nữa… thì người ta đã sống trong một “cảnh giới” khác! Từ lâu người ta biết tình mẫu tử không sẵn có mà chỉ sẽ dâng lên từ từ cùng sữa mẹ. Sữa mẹ là thân xác, là những tế bào của mẹ vỡ ra mà thành.  Cho nên tình mẫu tử là một thứ tình ngọng nghịu, cuống cuồng như thế. Ta hiểu vì sao con gà hiền lành ngây thơ kia khi có bầy con thì trở nên hung dữ nhường nào để ấp ủ bảo vệ con khỏi nanh vuốt của những diều hâu! Ta hiểu vì sao khi bắt voi, người ta chỉ cần lùa voi con vào chuồng thì voi mẹ riu ríu đi theo!  Nhưng Việt Linh không dừng ở đó. Từ cái nhìn ngắm bên trong mình- một thứ phản quang tự kỷ-  chị nhận ra những bà mẹ khác chung quanh –mới thấy trong cuộc chiến tranh đằng đẵng của đất nước mình, có biết bao bà mẹ có  <em>“nỗi đau cao hơn sự vĩ đại, lớn hơn sự hy sinh”</em>. Lấy gì bù đắp? Hỏi mà không cần phải trả lời. Rồi chính cuộc hạnh ngộ cũng đã giúp người mẹ đến với những đổi thay lớn trong đời. Cái nhìn cái nghĩ đã khác xưa. Nào phúc đức. Nào dấn thân…Là vì con.</p>
<p>Đọc <em>Chuyện mình chuyện người</em>- tập hợp những bài báo rải rác của Việt Linh đăng tải trên nhiều báo hằng chục năm qua như đựơc xâu chuổi lại- thấy xuyên suốt một tấm lòng nhân hậu, một nỗi đau đáu công dân. Ở đó, ngồn ngộn những chuyện đời chuyện người … làm sực nhớ câu thơ cổ của thiền sư Mãn Giác: <em>“Sự trục nhãn tiền quá / Lão tùng đầu thượng lai”</em> mà không khỏi có chút ngậm ngùi!</p>
<p><em>“Viết như một thôi thúc, một ám ảnh không kềm chế đựơc”</em>.  Đó là cốt cách bị “ma ám” của Việt Linh. Viết như không thôi đi đựơc, không dằn lại đựơc. Cái cảm xúc ngập tràn- như nước trong nguồn chảy ra đó- của người mẹ trong <em>hạnh ngộ</em>, của <em>“giọt nước mắt từ trái tim khắc khoải”</em> Eo Saola, của những người đàn bà <em>“gầy guộc, lom khom, tất tả, lay lắt, rập rờn”</em>, của những bà mẹ <em>“không có gì bù đắp nỗi” </em>đó làm cho ta đôi lúc khó nỗi cầm lòng!</p>
<p>Từ những nơi đi, những chốn ở, Việt Linh nhận ra <em>những mảng văn hóa va đập dễ thương…</em> những ồn ào mà xa lạ, những tôn trọng đến thờ ơ… Và chị nghĩ, một cách lãng mạn <em>“Văn hóa đưa nhân loại đến gần nhau, văn hóa có khả năng hòa giải hận thù”</em> . Nhưng vậy mà không phải vậy! Văn hóa cũng còn là mối nguy cơ lớn khơi dậy hận thù,  tạo ra xung đột sắc tộc, tôn giáo.. như ta đã và đang thấy.</p>
<p>Cho nên điều cốt lõi vẫn là con người. Con người của tình thương và trí tuệ./.</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/nhu-nuoc-trong-nguon/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ngọn lửa</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ngon-lua/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ngon-lua/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 18 May 2009 03:58:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Ngọn lửa]]></category>
		<category><![CDATA[Ngon lua]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=1099</guid>
		<description><![CDATA[Người ta hỏi Phật vậy chớ chia sẻ cái “phước” cho nhiều người thì phước đó có bớt đi không? Phật mỉm cười bảo: “ Như lửa ở một ngọn đuốc, hàng trăm hàng ngàn người đến lấy lửa từ ngọn đuốc đó để soi sáng, để nấu ăn,  thì lửa nơi ngọn đuốc kia [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><img class="alignleft size-full wp-image-1102" title="ng-lua" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/05/ng-lua.jpg" alt="ng-lua" width="216" height="307" />Người ta hỏi Phật vậy chớ chia sẻ cái “phước” cho nhiều người thì phước đó có bớt đi không? Phật mỉm cười bảo: “ Như lửa ở một ngọn đuốc, hàng trăm hàng ngàn người đến lấy lửa từ ngọn đuốc đó để soi sáng, để nấu ăn,  thì lửa nơi ngọn đuốc kia vẫn y như cũ!”.</p>
<p>Dạy học chính là chia lửa! Nếu dạy học chỉ là trao truyền kiến thức không thôi thì kiến thức sẽ rất mau… lỗi thời,  rất mau cạn kiệt, nhất là trong một xã hội thông tin vô tận như hôm nay!</p>
<p>Nhưng để có thể chia lửa thì trước hết phải có… lửa! Muốn có lửa thì phải… tự đốt mình lên và phải có nguồn nhiên liệu bất tận nơi trái tim mình. Người thầy băng giá thì chỉ có thể truyền lạnh lẽo, giá băng. Người thầy máy móc chỉ có thể truyền những động tác. Còn người thầy truyền lửa thì lửa đôi khi có thể bốc cháy nhưng thường khi chỉ ngun ngún, âm ỉ, đợi một cơn gío bùng lên. André Maurois, viện sĩ Hàn lâm Pháp nói đến kỹ năng “nhóm lửa” cho người bạn trẻ trong cuốn “Lettres ouvertes à un jeun homme” (Thư ngỏ gởi tuổi đôi mươi, Nguyễn Hiến Lê dịch): đó là hãy bắt đầu với những bùi nhùi, mạt cưa, những cành khô nho nhỏ, sau đó, khi ngọn lửa đã ngún rồi thì mới có thể nhen dần vào những thân cây to, nhờ đó mà giữ hơi nóng bền lâu, không bị tắt ngúm!</p>
<p><span id="more-1099"></span></p>
<p>Ai cũng có những người thầy trong đời mình, đã nhen cho mình ngọn lửa ấm nồng, cách này hay cách khác. Người thầy đó không nhứt thiết dạy mình trên ghế nhà trường, trên bục giảng đường. Miễn là có một tần số để nhận ra ngọn lửa truyền trao, và nhen nhóm. Đến một lúc nào đó ta bỗng nhận ra “bán tự vi sư”- nửa chữ cũng thầy!</p>
<p>Khi còn là một nhóc con 11-12 tuổi ở một tỉnh lẻ, mỗi lần đau ốm, tôi đều một mình đến bác Hai Cương, một thầy thuốc Bắc nổi tiếng. Gặp bác là tôi thấy nhẹ bệnh hết một nửa rồi! Bác lớn tuổi lắm rồi, vậy mà ân cần hỏi han tôi, mời tôi ngồi, chậm rãi bắt mạch, chăm chú,  có khi chưa yên tâm còn vào tủ sách lấy một quyển to đùng ra đọc, nghiền ngẫm kỹ trước khi biên toa. Lúc hốt thuốc, còn cho tôi vài trái táo, một nhúm cam thảo, căn dặn cách sắc, cách uống! Khi tôi đậu vào “Y khoa Đại học đường Saigon”, còn nhớ ngày tựu trường, giáo sư khoa trưởng, bác sĩ Phạm Biểu Tâm đã ân cần nhắc nhở các tân sinh viên: Nghể y là một nghề cao qúy nếu ta muốn cao qúy, cũng là một nghề thấp hèn nếu ta muốn thấp hèn. Ngừơi thầy thuốc phải là người sinh viên suốt đời. Trong khi hành nghề ta có thể đôi lần ân hận nhưng đừng bao giờ để phải hối hận! Cũng gần nửa thế kỷ rồi đó, vậy mà bọn học trò chúng tôi gặp nhau còn nhắc lời thầy!</p>
<p>Các ngành nghề khác cũng vậy thôi. Cái còn lại chính là ngọn lửa đã đựơc thầy  truyền trao, chia sẻ, ngọn lửa đã được tiếp nối từ ngọn đuốc của thầy. Lòng yêu nghề. Đạo đức nghề nghiệp. Tinh thần tự học…</p>
<p>Ngọn lửa không cần nói nhiều, không cần phải là những bài giảng hùng biện, bác học. Nhiều khi chỉ là sự “dung thông” giữa thầy và trò. Tần số có thể bắt được, một cách nào đó. Không cần kỹ thuật truyền thông hiện đại.</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/ngon-lua/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chữ Nhàn</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/chu-nhan/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/chu-nhan/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 18 May 2009 02:44:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Chữ Nhàn]]></category>
		<category><![CDATA[Chu Nhan]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=1088</guid>
		<description><![CDATA[Chữ nhàn là chữ làm sao! Nguyễn Công Trứ đã kêu lên như vậy, từ mấy trăm năm trước. Kêu chứ không phải hỏi. Bởi vì trước đó ông đã giải thích rõ ràng rồi: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì “náo”, còn trăng vào cửa [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><img class="alignleft size-full wp-image-1095" title="trandangkhoa" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/05/trandangkhoa.jpg" alt="trandangkhoa" width="218" height="144" />Chữ nhàn là chữ làm sao! Nguyễn Công Trứ đã kêu lên như vậy, từ mấy trăm năm trước. Kêu chứ không phải hỏi. Bởi vì trước đó ông đã giải thích rõ ràng rồi: Thị tại môn tiền náo/ Nguyệt lai môn hạ nhàn. Chợ ở cửa trước thì “náo”, còn trăng vào cửa sau thì “nhàn”. Thế thôi ! Không biết ai là người đầu tiên đã nghĩ ra một định nghĩa đơn giản mà thâm thúy đến vậy qua cách viết chữ tượng hình của Trung Hoa: giữa chữ môn mà có chữ thị thì thành náo, còn giữa chữ môn mà có chữ nguyệt thì thành nhàn.Thời buổi “thị trường” toàn cầu hóa như chúng ta đang sống hiện nay thì chợ ở tứ phía, ở ngay trong nhà cũng có chợ chen vào, cho nên không dễ mà tìm một chút ánh trăng qua cửa sổ! Ở các nước Âu Mỹ, workmania là môt thứ bệnh “điên vì mê làm việc” đến nỗi tình trạng tâm thần, tự tử, tim mạch… ngày càng tăng. Ở Châu Á, bệnh karoshi chẳng hạn , một thứ bệnh dịch do làm việc quá nhiều, quá sức, làm như điên, đến nỗi sinh nhiều biến chứng và gây cả tử vong như chúng ta đã từng biết ở những doanh nhân Nhật và đang lan ra nhiều nước. Liên hợp quốc đưa “quyền nhàn tản” vào trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền để khuyến khích người ta nghỉ ngơi mà chả ai thèm nghe. Nghe sao được, nhàn hay không là ở mỗi người chứ. Bắt người ta làm việc, cưỡng bức lao động thì dễ chớ ai nỡ bắt người ta nhàn, khi người ta muốn được “bận rộn” !</p>
<p><span id="more-1088"></span></p>
<p>Thực ra nhàn cũng có nhiều cách: có cách nhàn nhã, có cách nhàn hùng hục. Nhàn nào cũng tốt, miễn là đừng quá. Nguyễn Công Trứ ưa kiểu nhàn “ Gót tiên đeo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưỡng.” Một đôi dì đeo thì sợ khó mà đủng đỉnh, khó mà ngất ngưỡng. Rồi ông còn ganh tị với Tô Đông Pha, đời Tống, hơn ngàn năm trước: “Sông Xích bích buông thuyền năm Nhâm Tuất. Để ông Tô riêng một thú thanh tao!” Chẳng qua là ông Tô đi chơi thuyền trên sông, ngắm trăng với vài người bạn, đánh cờ, làm thơ xướng họa, dĩ nhiên là cũng có vài…người mẫu đi theo mài mực, rót trà! Ta bây giờ thỉnh thoảng cũng đi thuyền rồng trên sông Hương, có đàn có sáo…, có tiếng ca tiếng hát náo nhiệt, thuyền ngược thuyền xuôi tấp nập đó thôi. Nhưng cái nhàn của ta là nhàn ồn, không phải nhàn nhã! Sau một ngày vất vả, “người bận rộn” nào cũng  sẵn sàng xách vợt ra sân làm vài ván tennis. Cởi veston cà vạt ra, mặc áo pull quần shot vào, chạy ngược chạy xuôi hùng hục, toát mồ hôi hột, chẳng phải cũng là nhàn ư? Nhưng cái đó là nhàn…hùng hục. Nhàn nhã là phải có “nguyệt lai môn hạ” kìa. Vì thế mà Trịnh Công Sơn mới có bài Nguyệt ca rất dễ thương của anh: “Từ khi trăng là nguyệt cho tôi bóng mát thật là”. “Thật là” sao thì anh không nói rõ nhưng chắc chắn anh đã có được sự nhàn nhã, chẳng thua gì ông Tô ngày xưa. Nhưng sau đó anh thật thà thú thiệt: “Từ khi trăng là nguyệt,  tôi như từng cánh diều vui. Từ khi em là nguyệt, trong tôi có những mặt trời”! Thì  ra cũng tại em thôi. Tại em là nguyệt mà trăng của tôi đã  biến thành những mặt trời nóng bức, nhễ nhại, vất vả, bận rộn đó thôi. Lúc đó hẳn nhạc sĩ cũng đã  kêu lên: chữ  nhàn là  chữ  làm sao!</p>
<p><strong> Đỗ Hồng Ngọc</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/chu-nhan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Có một “nghệ thuật”… ngủ!</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/co-mot-nghe-thuat-ngu/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/co-mot-nghe-thuat-ngu/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 07 May 2009 17:48:30 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[Thiền và Sức khỏe]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Có một “nghệ thuật”… ngủ!]]></category>
		<category><![CDATA[Co mot “nghe thuat”… ngu!]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/?p=426</guid>
		<description><![CDATA[Có người nói ngủ chiếm một phần ba cuộc đời, uổng phí quá! Đừng ngủ thì lợi hơn! Nhưng lợi đâu không thấy chỉ thấy mất ngủ vài ba đêm thì đầu óc không sảng khỏai để làm việc, năng suất thấp, mất ngủ lâu dài hơn thì dẫn tới bệnh tâm thần và cuối [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img class="alignleft size-medium wp-image-432" title="ngoi-thien1" src="http://www.dohongngoc.com/wp/wp-content/uploads/2009/05/ngoi-thien1-283x300.jpg" alt="ngoi-thien1" width="180" height="189" />Có người nói ngủ chiếm một phần ba cuộc đời, uổng phí quá! Đừng ngủ thì lợi hơn! Nhưng lợi đâu không thấy chỉ thấy mất ngủ vài ba đêm thì đầu óc không sảng khỏai để làm việc, năng suất thấp, mất ngủ lâu dài hơn thì dẫn tới bệnh tâm thần và cuối cùng thì thay vì cuôc sống dài ra lại bị rút ngắn đi một cách đáng tiếc!</p>
<p style="text-align: justify;">Không biết tại sao ngày càng có nhiều người mất ngủ trên thế giới phẳng này! Thuốc ngủ là một trong những thứ thuốc bán chạy nhất hiện nay trên thế giới. <span id="more-426"></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Hình như đời sống ngày càng bận rộn, ngày càng náo động, ngày càng bất an, đầy “điên đảo mộng tưởng” thì con người ngày càng mất ngủ. Và đó cũng là lý do tại sao ngày người ta càng cần tới…<strong>Thiền</strong>. Phải, chỉ có thiền mới có thể “cứu rỗi” một thế giới đầy náo lọan như vậy! Thiền cũng có thể thay cho… ngủ, dù  thiền không phải là ngủ, trái lại thiền là tỉnh giác. Thế nhưng, về mặt sinh học, thiền tiêu hao năng lượng rất ít, ít hơn cả giấc ngủ, nhờ đó tiết kiệm đựơc năng lượng, không phải tiêu hao cho cái tâm náo động. Khi tâm được an, “an tịnh tâm hành” thực sự thì năng lượng tiêu hao giảm hơn một nửa.  Nhưng không phải ai cũng thành công với thiền nên “một nghệ thuật ngủ” là cần thiết để giảm bớt… thuốc ngủ!</p>
<p style="text-align: justify;">Có một “nghệ thuật… ngủ” như sau: Khi nào buồn ngủ thì đi ngủ ngay. Cư trần lạc đạo thả tùy duyên. Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! Đừng ráng. Ráng thì khó mà dỗ lại giấc ngủ!  Chưa buồn ngủ thì kệ nó, việc gì phải ngủ! Cơ thể sẽ biết cách tự điều chỉnh, nghĩa là biết cách ngủ bù! Tiếng Việt ta thiệt hay. Không nói mắc ngủ mà nói “buồn ngủ”? Vì buồn mới dễ ngủ. Vui khó ngủ. Vui là kích thích, là hào hứng, là rộn rả. Thở gấp, tim đập nhanh, huyết áp tăng. Buồn, mọi thứ xìu xuống. Giảm kích thích. Thở chậm, tim đập chậm và huyết áp cũng giảm. Cho nên cách dỗ giấc ngủ tốt nhất là làm cho cơ thể rơi vào trạng thái “buồn”. Đó là cách tách “thân xác” ra khỏi “thân hơi”. Buông xả toàn bộ thân xác, như rả nó ra, xì nó xuống, làm cho nó xẹp lép, hết căng. Đặt tay chân trong tư thế tự nhiên không gò ép, miễn dễ chịu. Khi “thân xác” đã xẹp lép, lửng lơ như vậy rồi thì tập trung chú ý tới “thân hơi”, tức là hơi thở của ta. Không cần phải cố gắng điều khiển hơi thở, ráng sức điều hoà hơi thở chi cả. Bởi còn ráng, còn cố gắng thì còn căng, không gọi là buông xả đựơc!  Cứ để “thân hơi” tự nhiên, nó sẽ biết lúc nào vào lúc nào ra, lúc nào nhiều lúc nào ít.  Nó có cơ chế điều chỉnh tự động tùy nồng độ dưỡng khí (O2) và thán khí (CO2) tác động lên trung khu hô hấp ở hành tủy. Vậy là ta rơi vào…giấc ngủ lúc nào không hay!</p>
<p style="text-align: justify;">Cái khó lúc mới tập là ta thường dễ bị tràn ngập bởi những ý tưởng này nọ, những tính toán, những giận hờn, những âu lo&#8230; làm ta sôi lên. Mà đã sôi lên thì có trời mới ngủ đựơc! Lúc đó nếu ta biết cách dùng thân hơi “dụ” thân xác, bằng cách tập trung theo dõi xem thân hơi đang dở trò gì, xì xọp ra sao, nhanh chậm, nhiều ít ra sao một lúc ta sẽ cắt đứt được dòng nghĩ tưởng. Thần kinh của ta trong cùng một lúc không thể nghĩ đến hai việc. Đã nghĩ việc này thì quên việc kia. Khi ta nghĩ đến thân hơi, tập trung quan sát nó, thì ta đã đánh lạc hướng những cái nghĩ tưởng khác. Đã có người khuyên nên dỗ giấc ngủ bằng cách đếm sao trên trời hoặc nghĩ đến một dòng sông tuổi thơ, một bãi biển vắng người…! Thật ra đếm sao cũng còn căng thẳng, mất công nhớ số; nghĩ đến dòng sông tuổi thơ thì nhớ chuyện tắm ở truồng… Cứ chuyện này dắt chuyện kia mãi không ngớt. Chỉ có cách tìm một cái gì đó thật trung tính, không tạo kích thích thì đó là cách quan sát thân hơi. Thân hơi sẵn có, không phải tìm kiếm đâu xa, ngay trước mũi mình, cũng không đòi nghĩ tưởng gì cả. Bởi ta phải thở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Thở ở trong ta mà như ở ngoài ta, chẳng cần ta, chẳng có ta. Thử hít một hơi thiệt dài, thiệt mạnh, thiệt sâu xem sao? Chỉ một lúc là đầu váng mắt hoa, phải tự động thở ra ngay, không muốn không được. Thử thở ra một hơi thiệt dài, thiệt mạnh, thiệt lâu xem sao! Chỉ một lúc là nó tự động thở vào, không muốn không đựơc! Nói cách khác, cái “thân hơi” đó nó tự ý, tự động. Do đó, ta có thể dùng thân hơi như một công cụ để … dụ thân thể quên đi tất cả những chuyện khác. Mà đã quên thì hết căng, hết căng thì xìu, xìu thì…buồn, buồn thì…ngủ vậy!</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BS Đỗ Hồng Ngọc</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/co-mot-nghe-thuat-ngu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>ĐỖ HỒNG NGỌC ngộ ra những điều kỳ diệu của trái tim</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/do-hong-ngoc-ngo-ra-nhung-dieu-ky-dieu-cua-trai-tim/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/do-hong-ngoc-ngo-ra-nhung-dieu-ky-dieu-cua-trai-tim/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Apr 2009 09:43:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[ĐỖ HỒNG NGỌC ngộ ra những điều kỳ diệu của trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[DO HONG NGOC ngo ra nhung dieu ky dieu cua trai tim]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/?p=151</guid>
		<description><![CDATA[Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, sinh năm 1940 tại La Gi, Hàm Tân, Bình Thuận. Nguyên Giám đốc Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ –Tp Hồ Chí Minh. Là thầy thuốc ưu tú, tác giả nhiều tác phẩm văn học, y học, các công trình nghiên cứu về trẻ em và tuổi già. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><img class="size-full wp-image-221 alignleft" title="ngo-ra-nhung3" src="http://www.dohongngoc.com/wp/wp-content/uploads/2009/04/ngo-ra-nhung3.jpg" alt="ngo-ra-nhung3" width="180" height="171" /></p>
<p>Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, sinh năm 1940 tại La Gi, Hàm Tân, Bình Thuận.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên Giám đốc Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ –Tp Hồ Chí Minh. Là thầy thuốc ưu tú, tác giả nhiều tác phẩm văn học, y học, các công trình nghiên cứu về trẻ em và tuổi già. Cộng tác nhiều tờ báo  tại TP Hồ Chí Minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Là nhà thơ với bút hiệu Đỗ Nghê từ những năm 1960.Hội viên Hội nhà văn Tp. Hồ Chí Minh.<span id="more-151"></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Mãi đến năm 1994, khi tập thơ thứ 3 “Giữa hoàng hôn xưa” ra mắt với tên thật Đỗ Hồng Ngọc thì người đọc hàng chục cuốn sách về y học với lối viết có duyên, nhẹ nhàng gần gũi cuộc sống của anh mới biết đó cũng là tác giả Đỗ Nghê. Nói như học giả Nguyễn Hiến Lê khi đề tựa tập “ Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò”(xuất bản năm 1972): “ Một bác sĩ mà lại là một thi sĩ thì luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên một cách thú vị”. Sinh ra và một thời tuổi thơ ở La Gi (Bình Thuận) vốn là một miền quê bầm dập trong chiến tranh nên anh cũng nằm trong cảnh học hành trễ muộn. Khi hoà bình lập lại, bằng ý chí và sự thông minh của mình, Đỗ Hồng Ngọc lập ra một chương trình học nhảy ở bậc trung học, lấy được bằng Tú tài I, rồi II trong hai năm và dễ dàng đậu đại học Y Sài Gòn. Dễ hình dung về anh hơn, qua cách vẽ của nhà thơ Đỗ Trung Quân: “Có một chàng thi sĩ một hôm vì lẽ gì đó bỏ đi làm thầy thuốc. Mười năm, hai mươi năm… anh cặm cụi chăm sóc, chữa lành, làm dịu nỗi đau của trẻ thơ…” Bài thơ đầu tiên của anh đăng trên tạp chí Mai, Bách khoa từ năm 1960 rồi liên tục Đỗ Nghê có mặt trên các tạp chí Tình Thương, Ý Thức, Tuổi Ngọc… Khổ nỗi từ hồi giờ trong ấn tượng nhiều người khi nghĩ rằng thầy thuốc, kỹ sư thì không thể lãng mạn viết văn làm thơ được. Có lần anh kể, lúc còn là sinh viên thực tập, đỡ được ca đẻ đầu tiên, xúc động quá viết ngay bài thơ “Thư cho bé sơ sinh”, sau đó còn đưa vào bản phúc trình chuyên môn nộp lên thầy. Thầy rầy: “Đỡ đẻ không lo đỡ đẻ, lo làm thơ!”. Vậy mà thơ vẫn không rời được anh. Suy cho cùng sự rung động của hồn thơ cũng rất cần thiết cho nghề. Năm 1967 tập thơ đầu tay Tình người ra đời trong bối cảnh đất nước chiến tranh, cuộc sống đô thị nhụa nhầy ngột ngạt thì với những bài như Tâm sự Lạc Long Quân, Tổ quốc, Ngôn ngữ, Lời ru, Thư cho bé sơ sinh… rất sâu sắc đã góp vào lời hát, tiếng thơ phong trào tranh đấu chống chiến tranh của lực lượng sinh viên học sinh yêu nước ở Sài Gòn.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong tập “ Giữa hoàng hôn xưa” lảng đãng những bóng mây quê nhà và bạt ngàn gió biển như “ Mũi Né”, như “Đêm trên biển La Gi” và bất chợt ngỗn ngang trong lòng bao kỷ niệm tuổi học trò “Khi gặp lại” thì “Tóc nàng dài như biển/ Sóng từng cơn xao xác mặn trên môi…”.Đến tập thơ “Vòng quanh” (1997), những bài thơ như những vết lăn trầm, chiêm nghiệm xen lẫn những bài thơ viết ở trời Tây tuyết giá đọc thấy nao lòng, bởi anh không thể nào nguôi ngoai được nỗi đau khi mất đứa con gái đầu lòng. Anh đã khóc: “Mỗi năm/ Mỗi người/ Thêm một tuổi- Chỉ mình con/ mãi mãi/ Tuổi đôi mươi…” Trong một lá thư riêng, anh tâm sự “Những bài thơ viết cho La Ngà thì mình không dám đọc lại, mỗi lần đọc lại đều không cầm được nước mắt…”</p>
<p style="text-align: justify;">Qua những bài thơ giàu cảm xúc và thấm đậm tình người dưới bút danh Đỗ Nghê, những người yêu thơ anh bất ngờ nhận ra đó là một bác sĩ. Rồi lại thêm bất ngờ nữa là hàng loạt bài báo, những cuốn sách y khoa viết về bệnh trẻ em, về lứa tuổi học trò, về những bà mẹ. Gần đây anh lại làm thêm vai trò thầy thuốc cho người đến tuổi già. Những tập sách khó mà phân loại là sách y học, văn học, bút ký đối với “Gió heo may đã về”,“Già ơi…chào bạn”, “Những người trẻ lạ lùng”… Với lối viết hóm hĩnh, giàu kiến thức xã hội làm cho người già nhận ra điều tất yếu để vui vẻ mà “sống chung với tuổi già” như người dân ở đồng bằng sông Cửu Long đã bao đời vô tư sống chung với lũ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối năm 2003, Đỗ Hồng Ngọc cho ra tập “Nghĩ từ trái tim” càng làm cho những người yêu thích những bài báo tản mạn của anh viết về giáo dục, đời sống sức khoẻ con người lại thêm ngạc nhiên khi nghe Đỗ Hồng Ngọc luận về tâm-kinh-bát nhã theo cách nghĩ của mình và anh tự nhận: “Cũng là để làm một phương thuốc chữa trị bệnh cho chính mình”. Anh nói: “Nhiều khi mình viết cho người khác đọc mà mình quên đọc, quên làm theo lời khuyên của chính mình cho nên thầy thuốc cũng thường hay mắc bệnh, mà bệnh thì dễ nặng vì … chủ quan”.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một tác phẩm đầy đặn, được người đọc yêu thích dễ chừng cả một đời người mài miệt, nhưng thèm sao với Đỗ Hồng Ngọc đã làm được nhiều việc quá!.. Ở lĩnh vực chuyên môn và trong văn chương được coi là thành đạt bởi anh có một phương pháp làm việc rất khoa học. Nguyên vẹn mẫu người  Nguyễn Hiến Lê trở thành tuyệt vời đối với anh ngay từ khi anh đọc tác phẩm:  Kim chỉ nam của học sinh, Gương danh nhân, Gương can đảm, Gương kiên nhẫn… đã dắt dẫn anh tiến thân bằng tự học, bằng cách điều phối với cả bản thân mình. Khi giao lưu trên báo Thanh Niên (số CN 8.2.2004) anh bộc bạch từ câu hỏi của một độc giả hỏi về sự thành công của mình khi biết anh là đứa trẻ mồ côi cha là nhờ đâu? “ Chính là nhờ mẹ tôi luôn động viên, khuyến khích,  bà là người rất có ý chí, lại nhờ cậu tôi là nhà văn Nguiễn Ngu Í dẫn đến trường và nhất là nhờ những cuốn sách của ông Nguyễn Hiến Lê đã ảnh hưởng lớn đến tôi…” Dù bận rộn với bao nhiêu việc ở bệnh viện, giảng đường, phòng mạch, viết sách… Đỗ Hồng Ngọc cũng giữ được cái nếp xưa là về với họ hàng, quê làng… Những lần gặp, tôi mới thấy anh mê biển một cách lạ lùng cho nên trong những bài thơ anh viết khá nhiều bài ắp đầy tình yêu của biển: “Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc/ Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ…”</p>
<p style="text-align: justify;">Ở lời ngõ trong tập “Nghĩ từ trái tim” anh viết : “Trái tim không phải để suy nghĩ- Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được…” Qua những bài thơ đằm thắm, những công trình biên khảo y học, những tạp bút, như tập  tản văn “Như Thị” (2006) về tuổi đời, lẽ sống mới thấy Đỗ Hồng Ngọc biết tạo ra sự hoà hợp và bắt trái tim hiểu biết. Những gì anh đã viết , chính là điều anh cảm nhận từ cách nghĩ riêng của mình. Và hơn thế nữa bằng tính cách của anh trong sự nghiệp và văn chương.</p>
<p style="text-align: justify;">Nguồn tin : Phan Chính</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/do-hong-ngoc-ngo-ra-nhung-dieu-ky-dieu-cua-trai-tim/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giới thiệu sách viết về Tâm Kinh Bát Nhã: &#8220;Nghĩ từ trái tim&#8221;</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/gioi-thieu-sach-viet-ve-tam-kinh-bat-nha-nghi-tu-trai-tim/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/gioi-thieu-sach-viet-ve-tam-kinh-bat-nha-nghi-tu-trai-tim/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Apr 2009 02:36:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu sách viết về Tâm Kinh Bát Nhã: "Nghĩ từ trái tim"]]></category>
		<category><![CDATA[Gioi thieu sach viet ve Tam Kinh Bat Nha: "Nghi tu trai tim"]]></category>
		<category><![CDATA[loi ngo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/wp/?p=28</guid>
		<description><![CDATA[Lời ngỏ của tác giả Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Lời ngỏ của tác giả</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><img class="alignleft size-full wp-image-500" title="nghi-tu-trai-tim" src="http://www.dohongngoc.com/wp/wp-content/uploads/2009/04/nghi-tu-trai-tim.jpg" alt="nghi-tu-trai-tim" width="200" height="200" />Trái tim không phải để suy nghĩ. Trái tim là để yêu thương. Khi trái tim nghĩ thì chắc cũng không nghĩ như khối óc. Trái tim có cách nghĩ riêng của mình mà nhiều khi khối óc không sao hiểu được. Thời đại của chúng ta, con người dùng khối óc nhiều quá, nhiều đến nỗi người ta luôn ở trong tình trạng muốn &#8220;điên cái đầu&#8221;. Và thực vậy, bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tự tử, ma túy, stress… ngày càng gia tăng trong một xã hội mà người ta luôn bị quay cuồng, luôn phải chạy đua với tốc độ, tuổi trẻ, nhan sắc, thành đạt…<span id="more-28"></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Có lẽ đã đến lúc thử nghe tiếng nói của trái tim. Một hôm, có chàng thi sĩ đi ngang qua vườn rào kia, giật mình thấy một bông bụp đỏ ở bờ giậu, cái bông bụp rất tầm thường như hàng ngày chàng vẫn thấy khi qua lại chốn này, bỗng nhiên như nở một nụ cười mầu nhiệm, rồi không chỉ cười, nó hát, và chàng thi sĩ chỉ còn biết sụp lạy, cúi đầu. Vâng, chàng đã nghe. Nghe không phải từ bông hoa kia mà từ trong trái tim mình. Và chàng sửng sốt. Mọi thứ như khác hẳn. Đã thoát ra, đã vượt ra, vượt qua… Người ta có thể nghĩ chàng thi sĩ chắc điên, có điều chàng biết rất rõ chàng đã nghe, đã thấy một điều kỳ lạ. Một thứ mật ngữ. Như anh chàng chèo đò của Herman Hesse, ngày ngày vẫn chèo đò đưa người qua sông, cho đến một hôm bong nghe được tiếng nói của dòng sông và từ đó chàng đã tự đưa mình qua sông, và đã vượt ra, vượt qua.</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng ta bây giờ hình như có quá ít thì giờ để nghe tiếng nói của trái tim mình, dù chỉ cần nhấp con chuột trên vi tính thì đã nối trọn vòng trái đất, vậy mà người ta có ve ngày càng xa nhau hơn, xa với người và xa cà với mình. Một thi sĩ đã phải kêu lên: “…Không có thì giờ! Chim lấy đâu mà về tổ. Tôi lấy đâu mà làm thơ. Em lấy đâu mà học những ai thơ tôi sắp viết?&#8230;”. Tôi cũng không có thì giờ. Quần quật. Tối tăm mặt mũi vì “trăm công ngàn việc”. Cho đến một hôm, hình như, có lẽ, một lần kia có một lúc hình như tôi cũng chợt nghe. Hình như thôi không chắc không dám. Ngẫm nghĩ ra cho khói quên, đế lâu lâu còn coi lại một mình. Ba năm nghiền ngẫm, sáu tháng viết và hơn hai năm ngại ngần, thỉnh thoảng đọc và sửa, nhờ vài bạn thâm giao chỉ thêm cho, rồi tìm tòi, tham khảo, loay hoay…</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi không phải là thi sĩ, không phải là tu sĩ, tôi chỉ là một bác sĩ, một người thầy thuốc, nên đi khi phải hành nghề, phải giúp đỡ bạn bè, hàng xóm, kẻ nhức đầu, người đau lưng… và trước hết là phải chữa bệnh cho chính mình. Có những lúc thuốc men chỉ chữa được cái đau mà không chưa được cái khổ, chữa được “triệu chứng” bên ngoài mà không chữa được “căn nguyên” sâu xa, tầng tầng, lớp lớp bên trong. Tôi đành chia sẻ những điêu tôi nghĩ, tôi cảm, tôi nghe. Có thể đúng. Có thể sai. Có thể không đúng không sai. Có khi hiệu quả, có khi không. Có người hợp mà không có dị ứng. Vậy nên nếu tình cờ mà đọc được những dòng này thì xin hiểu cho mà đừng trách. Nếu muốn, có thể tủm tỉm cười một mình. Cũng chẳng khoái ru?</p>
<p>BS Đỗ Hồng Ngọc<br />
Sài Gòn 2003</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/gioi-thieu-sach-viet-ve-tam-kinh-bat-nha-nghi-tu-trai-tim/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>13</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tản mạn cùng &#8220;Nghĩ từ trái tim&#8221;</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/tan-man-cung-nghi-tu-trai-tim/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/tan-man-cung-nghi-tu-trai-tim/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Apr 2009 02:27:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Nghĩ từ trái tim]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Nghi tu trai tim]]></category>
		<category><![CDATA[Tan man cung "Nghi tu trai tim"]]></category>
		<category><![CDATA[Tản mạn cùng "Nghĩ từ trái tim"]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/wp/?p=18</guid>
		<description><![CDATA[Thật khó lòng tưởng  tượng khối năng  lượng khổng lồ được  giải phóng từ hai quả bom nguyên tử kinh người tại Hiroshima và Nagasaki lại bắt nguồn từ công thức vật lý chỉ có vỏn vẹn năm ký tự E=mc2. Cũng thế, thật khó lòng tưởng tượng toàn bộ khối kinh sách đồ sộ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img class="size-full wp-image-134 alignleft" title="tanmangcung" src="http://www.dohongngoc.com/wp/wp-content/uploads/2009/04/tanmangcung.jpg" alt="tanmangcung" width="200" height="200" />Thật khó lòng tưởng  tượng khối năng  lượng khổng lồ được  giải phóng từ hai quả bom nguyên tử kinh người tại Hiroshima và Nagasaki lại bắt nguồn từ công thức vật lý chỉ có vỏn vẹn năm ký tự E=mc2. Cũng thế, thật khó lòng tưởng tượng toàn bộ khối kinh sách đồ sộ trong hệ tư tưởng Bát nhã Phật giáo, nói về trí huệ siêu việt thượng thừa thù thắng làm kinh động tất cả tam thiên đại thiên thế giới, lại bắt nguồn và được khoáng diễn từ một chữ KHÔNG, rồi lại được cô đọng trong bài Tâm kinh chỉ vỏn vẹn có 260 chữ. Đủ thấy bản thân mỗi chữ trong Tâm kinh đều hàm ẩn một dạng năng lượng khổng lồ E=mc2 như thế nào rồi! Diệu dụng của chữ KHÔNG thật vô bờ bến.<span id="more-18"></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p>“Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc; sắc tức thị Không, Không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp Không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố Không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh-tận, nãi chí vô lão-tử, diệc vô lão-tử-tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc”.</p>
<p>Toàn bộ thế giới vật lý và tâm lý với lục căn, lục trần, lục thức, cho đến thuyết Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên nền tảng của Phật giáo đều bị quét sạch trong cơn lốc phủ định toàn triệt của hai chữ BẤT và VÔ. Bởi vậy, không ngạc nhiên gì khi chư Phật không ngớt khuyến cáo thính chúng đừng sợ hãi khi nghe thuyết giảng kinh Bát Nhã. Không kinh hãi sao được khi mà mọi chỗ an tâm lập mệnh, mọi sở trú của con người đều bị phủ định vì “Tứ đại giai không, ngũ uẩn phi hữu” và con người dễ có cảm giác như bị rơi tõm vào cõi hư không mù mịt giữa cõi Ta bà?</p>
<p>Thế nhưng, phủ định toàn triệt là thể cách vi diệu để đưa đến sự khẳng định toàn triệt trong cảnh giới tự do tuyệt đối. Tuy Chân Không mà lại là Diệu Hữu. Có lẽ để hậu thế dễ tiếp cận hơn với tư tưởng KHÔNG, nên toàn bộ kho tàng kinh sách Bát Nha khổng lồ, đặc biệt là 600 cuốn Đại Bát Nhã, đã được cô đọng trong bản Tâm kinh. Chung quanh Tâm kinh vẫn luôn là những huyền thoại với những năng lực siêu nhiên cùng với bước chân hành hương của nhà chiêm bái vĩ đại Huyền Trang, hiểu theo nghĩa nó là “đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư”. Tâm kinh vẫn mãi mãi là một huyền án đối với những ai quan tâm đến Phật học và luôn chờ những lời chú sớ. Trong tác phẩm “Thiếu Thất lục môn”, mà theo tương truyền là của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, có chú giải về bản Tâm kinh này, với cửa thứ nhất là “Tâm kinh tụng”. Muốn vào được động Thiếu Thất phải lọt qua cửa ải Tâm kinh. Song bản chú giải “Tâm kinh tụng” theo kiểu bình tụng trong “Thiếu Thất lục môn” cũng khó hiểu như nguyên bản cần được chú giải bởi vì chư Tổ giải minh Tâm kinh từ cảnh giới giải thoát bất khả tư nghì của mình, khiến những độc giả sơ cơ như chúng ta khó lòng tiếp cận. Đó là cách đem ẩn ngữ trùm thêm lên ẩn ngữ, khiến cho nó càng “huyền chi hựu huyền”, nên xưa nay nhiều Phật tử thường chỉ học thuộc lòng suông Tâm kinh với thái độ “kính nhi viễn chi ”. Nói đúng ra là chư Tổ không muốn phu diễn (vulgariser) nội dung Tâm kinh bằng ngôn ngữ quy ước trong thế giới khái niệm. Các ngài không chú giải Tâm kinh mà chỉ ghi lại kinh nghiệm thực chứng của mình từ Tâm kinh bằng những lời bình tụng, cũng như người xưa thích “chú giải” một bài thơ bằng cách làm một bài thơ khác! Đây là thể cách thường thấy trong lịch sử văn hóa phương Đông, đặc biệt là ở Trung Quốc.</p>
<p>Chỉ khi nào đạt đến cảnh giới của chư Tổ, chúng ta mới  mong chia sẻ kinh nghiệm của các ngài qua các lời bình tụng đó, vì trong thực tế lắm khi do sự bất toàn của ngôn ngữ quy ước, lời bình chú dễ vướng vào vấn nạn “démystifier pour mieux mystifier” , theo Dominique Duvivier,  nghĩa là muốn giải thích rõ ràng một sự việc thì ta lại càng làm cho nó trở nên khó hiểu. Theo cách nói của ngôn ngữ Thiền tông, đó là “Tuyết thượng gia sương” (Trên tuyết lạnh lại đổ thêm sương).</p>
<p>Trong giới Thiền tông, dường như chỉ có Thiền sư Động Sơn Lương Giới, khai tổ tông Tào Động, mới đặt ra nghi vấn về nội dung Tâm kinh. Ngữ lục Thiền tông ghi lại rằng thuở nhỏ, sư theo thầy tụng Tâm kinh đến câu “vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ”, sư chợt lấy tay sờ lên mặt mà hỏi thầy:</p>
<p>- Con có đầy đủ mắt, tai, mũi, lưỡi, cớ sao trong kinh nói là không?</p>
<p>Vị bổn sư lấy làm kinh ngạc, bảo:</p>
<p>- Ta chẳng phải thầy của ngươi.</p>
<p>Và giới thiệu sư đến núi Ngũ Tiết làm lễ xuất gia với Thiền sư Linh Mặc.</p>
<p>Câu hỏi của Thiền sư Lương Giới là cách trì tụng Tâm kinh đúng nghĩa, vì sư không muốn nắm bắt huyền nghĩa Tâm kinh bằng khái niệm. Hôm nay, có một người không xuất thân từ chốn thiền môn, quanh năm không hề rau dưa kinh kệ, mà lại “dám” theo chân chư Tổ để khám phá thêm những ẩn ngữ của Tâm kinh. Đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc với tác phẩm “Nghĩ từ trái tim” qua lời tự bạch:</p>
<p>“Tác giả viết cuốn này là để tự chữa bệnh cho mình và cũng giúp cho vài bạn bè trang lứa, đồng bệnh tương lân. Cái nhìn về Tâm kinh trong Nghĩ từ trái tim là cái nhìn của một người thầy thuốc, một bác sĩ, có thể rất khác với những người khác và mong được chia sẻ” (Lời cuối sách).</p>
<p>Có lẽ nhờ vậy mà người đọc dễ dàng bị cuốn hút bởi những suy nghĩ nhẹ nhàng không nặng về học thuật. Tâm kinh, qua cái nhìn của một thầy thuốc với những kinh nghiệm hành trì thực sự, bỗng nhiên trở nên nhẹ nhàng dễ hiểu. Nó hòa nhập và mang hơi thở bình dị của cuộc sống đời thường một cách thật dễ dàng. Theo lời tâm sự trong sách, tác giả đã “ngộ” ra Tâm kinh sau một cơn đau thập tử nhất sinh. Do thân bệnh mà thấy được tâm bệnh. Nhờ chữa bệnh của thân mà chữa luôn được bệnh của tâm. Quả là một cơ duyên hy hữu để thể nghiệm được cảnh giới “Tuyệt hậu tái tô” trong cõi “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan phùng”. Tôi cảm nhận được rất rõ điều này khi đã một lần tìm về cõi Sinh từ cõi Tử. Lúc đó, chỉ có những gì giúp ta một mình đối diện với cái chết bằng tinh thần vô úy mới thực sự có ý nghĩa, ngoài ra ta sẽ thấy tất cả mọi thứ trên đời đều vô nghĩa và phù phiếm. Tâm kinh có lẽ là một hành trang cần có cho chúng ta trên đường về cõi Chết, một khi ta cảm nhận được rằng “vô lão-tử diệc vô lão-tử-tận”. Tôi tin rằng tác giả “Nghĩ từ trái tim” phải có những kinh nghiệm nhất định khi trì tụng Tâm kinh mới có thể viết được những trang sách bình dị mà sâu sắc đó.</p>
<p>“Tâm kinh ở đây là một loại” chân kinh” cần phải được rèn luyện, thực tập, thực hành, thực chứng&#8230; chớ không lý thuyết suông, không để học hỏi tụng niệm thuộc lòng&#8230;&#8221; (tr.19).</p>
<p>Mọi thứ văn chương biên khảo với tất cả các ngôn ngữ quy ước đều phù phiếm và bất lực, một khi nó không dựa trên kinh nghiệm thực. Huống gì là lời bình giải cho bản Tâm kinh. Lúc đó kiến thức sẽ nhường bước cho kinh nghiệm và sự hành trì. Tôi ghi nhận điều này qua bài viết “Ngã ba ngôn ngữ”, và biết bài viết của chính mình vẫn chứa quá nhiều yếu tố bất toàn về ngôn ngữ, nên đã có lần nói với anh: “Có lẽ mọi ngôn ngữ quy ước đều bế tắc. Có khi viết nghiêm túc một cách cà rỡn như Bùi Giáng hoặc viết nhẹ nhàng như anh mà lại hóa hay”. Nghĩa là cứ viết bằng sự cảm nhận những điều tưởng chừng huyền mật từ hơi thở bình dị của cuộc sống đời thường. Tác giả Đỗ Hồng Ngọc phần nào đã làm được điều này, theo cách của riêng anh.</p>
<p>Đọc Tâm kinh, “hành thâm Bát nhã” suy cho cùng cũng chỉ là cách học tập để an trú trong cõi đời bằng một thể cách khác. Cực lạc cũng là đây mà A-tỳ-địa-ngục cũng chính là đây. Thử hỏi trong đời có gì xấu xí bằng hình ảnh ngọ ngoạy của con sâu, và có gì đẹp bằng hình ảnh phất phới bay của con bướm màu sặc sỡ? Nhưng hai con chỉ là một từ trong bản chất. Đó là điều huyền mật nhất giữa trần gian. Sinh tử hòa nhập với Niết bàn, tội lỗi trộn lẫn với thanh cao, giác ngộ ẩn tàng trong vô minh, bóng tối chan hòa cùng ánh sáng, tất cả đều chỉ là một. Đáo bỉ ngạn là vượt qua sông để đến với bờ bến bên kia. Bên kia là Bồ đề, là giác ngộ. Nhưng đến bờ bến bên kia là để trở lại bên này, và:</p>
<p>“… làm cách nào thực hiện được Tâm kinh trong đời sống hàng ngày của một người bình thường, giúp họ thay đổi thái độ, có cái nhìn mới mẻ về cuộc sống, về cõi người, về vũ trụ và nhờ đó thấy cuộc sống đẹp hơn, quý giá hơn, sống có trách nhiệm hơn với thiên nhiên, với đời, với người, với bản thân…; làm việc hiệu quả và năng suất cao hơn, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi thành viên… (tr.34-35)&#8221;.</p>
<p>Cuốn &#8220;Nghĩ từ trái tim” được tái bản đến lần thứ tám, một điều cực kỳ hiếm hoi đối với một cuốn sách dạng biên khảo, khi mà cái học thực dụng thô thiển đã biến sự đơn bạc về tình cảm, sự hời hợt trong tư duy trở thành một nét đặc trưng đau xót trong xã hội hiện nay. Nhưng khi đọc xong thì tôi hiểu. Văn chương thực chưa chắc đã hay, nhưng văn chương muốn hay thì phải thực. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc không suy nghĩ từ khối óc mà “nghĩ từ trái tim”. Tất cả những gì anh viết đều là những điều cảm nhận từ kinh nghiệm hành trì của bản thân, cũng như từ những suy tư bình dị và chân thành của trái tim. Mà những gì phát xuất từ trái tim chân thực đều dễ dàng đi vào tận trong sâu thẳm lòng người.</p>
<p>Huỳnh Ngọc Chiến</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/tan-man-cung-nghi-tu-trai-tim/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

<!-- Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: http://www.w3-edge.com/wordpress-plugins/

Page Caching using disk: enhanced
Object Caching 981/1069 objects using disk: basic

Served from: www.dohongngoc.com @ 2012-02-08 00:16:30 -->
