<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
		xmlns:itunes="http://www.itunes.com/dtds/podcast-1.0.dtd"
	xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
>

<channel>
	<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc &#187; Gươm báu trao tay</title>
	<atom:link href="http://www.dohongngoc.com/web/category/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.dohongngoc.com/web</link>
	<description>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</description>
	<lastBuildDate>Wed, 01 Feb 2012 10:36:49 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
	<copyright>2006-2007 </copyright>
	<managingEditor>admin@sgc.vn (Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)</managingEditor>
	<webMaster>admin@sgc.vn (Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)</webMaster>
	<image>
		<url>http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/plugins/podpress/images/powered_by_podpress.jpg</url>
		<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web</link>
		<width>144</width>
		<height>144</height>
	</image>
	<itunes:subtitle></itunes:subtitle>
	<itunes:summary>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:summary>
	<itunes:keywords></itunes:keywords>
	<itunes:category text="Society &#38; Culture" />
	<itunes:author>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:author>
	<itunes:owner>
		<itunes:name>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:name>
		<itunes:email>admin@sgc.vn</itunes:email>
	</itunes:owner>
	<itunes:block>no</itunes:block>
	<itunes:explicit>no</itunes:explicit>
	<itunes:image href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/plugins/podpress/images/powered_by_podpress_large.jpg" />
		<item>
		<title>Chẳng phải vậy mà vậy!</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/chang-phai-vay-ma-vay/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/chang-phai-vay-ma-vay/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Jul 2010 10:30:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươu báu trao tay]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=3376</guid>
		<description><![CDATA[Khi hiểu được “chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh”, ta tưởng đã nắm được từ khóa để mở vào kho tàng “Kim Cang”, nhưng thực ra còn lâu, bởi vì, vậy mà chẳng phải vậy! Trở lại không khí buổi truyền trao “gươm báu” lúc đó, thấy không ít người bối [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2010/07/Guom-Bau-1.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-3378" title="Guom-Bau-1" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2010/07/Guom-Bau-1.jpg" alt="" /></a>Khi hiểu được “chúng sanh tức phi chúng sanh thị danh chúng sanh”, ta tưởng đã nắm được <em>từ khóa </em>để mở vào kho tàng “Kim Cang”, nhưng thực ra còn lâu, bởi vì, vậy mà chẳng phải vậy!</p>
<p style="text-align: justify;">Trở lại không khí buổi truyền trao “gươm báu” lúc đó, thấy không ít người bối rối vì câu nói với ngôn ngữ ly niệm của mình, Phật liền hỏi: Tại sao vậy (hà dĩ cố)? Rồi khẳng định: “Bởi vì Bồ tát mà còn có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì chẳng phải Bồ tát!”.</p>
<p style="text-align: justify;"><span id="more-3376"></span></p>
<p style="text-align: justify;">Tôi lại một phen chưng hửng! Tưởng Phật sẽ giải thích, ai ngờ Ngài lại nói một câu có vẻ chẳng ăn nhập gì với phần trên! Chắc lại có một bí ẩn gì ở đây! Lúc đầu tôi nghĩ đến ngôi thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, số ít số nhiều với các thời quá khứ, hiện tại, vị lai, như một cách chia “verbe” để nói lên mối quan hệ giữa ta, người, không gian, thời gian, nhưng hình như không phải vậy! Tôi lại nghĩ hay đó là một biểu đồ có ba trục không gian và một đường cong thời gian, trên đó, mỗi cá nhân xác định vị trí của mình trong xã hội, mối tương quan của mình với những “chúng sanh” khác ở một thời điểm nào đó!  Cũng không phải! Vậy thì… là cái gì? Mãi sau tôi mới vỡ ra: đó chính là trạng thái <em>vô ngã</em> của  hành giả trên bước đường giải thoát! Hành giả phải “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”- thực sự vô ngã- thì mới có thể “độ nhứt thiết khổ ách”; mà có “độ nhứt thiết khổ ách” cho mình rồi thì mới có thể giúp cho người khác được, mới xứng danh là Bồ tát. Cho nên đây là một đòi hỏi có tính quyết định, là điều kiện “ắt có”.</p>
<p style="text-align: justify;">Vô ngã không dễ “thấy”! Dù có thể dùng lý luận , triết lý về duyên sinh, duyên khởi, về cái  <em>“Không” </em> để thấy vô ngã, nhưng đó chỉ là cái vô ngã của lý thuyết, của khái niệm! Còn vô ngã ở đây lại là một trạng thái, một cảnh giới – được cảm nhận bởi hành giả qua một quá trình tu tập dài lâu và miên mật: Thiền! Vâng, chính thiền đã là con đường “độc đạo” mà Phật đã từng nhấn mạnh trong <em>Tứ niệm xứ </em>(Satipatthana), trong An ban thủ ý (Anapanasati): <em>“Đây là con đường độc nhất dẫn tói thanh tịnh cho chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…”</em>. Thiền đã có từ xa xưa. Ngay hồi còn nhỏ xíu, một hôm, thái tử Tất Đạt Đa trong lúc ngồi dưới bóng cây coi người ta làm ruộng đã tình cờ rơi vào trạng thái sơ thiền. Sau này trên đường học đạo, Ngài đã gặp hai vị thầy dạy thiền cao nhất thời bấy giờ, và chỉ trong một thời gian ngắn, ngài đã vượt qua tám cảnh giới thiền cho đến phi tưởng phi phi tưởng mà vẫn chưa yên, phải từ biệt ra đi tìm một con đường riêng của mình! Khi đạt đến cảnh giới thiền thứ chín, “Diệt thọ tưởng định” thì mới hết chuyện, lúc đó ngài mới trở thành bậc Giác ngộ thực sự, bậc Toàn giác! Nói cách khác, “Diệt thọ tưởng định” mới là thứ thuốc chữa tận gốc căn bệnh phiền não, khổ đau mà các giai đọan trước đó chỉ là chữa triệu chứng, kiểu đau đâu chữa đó nên cứ bị tái phát hoài. Chữa tận gốc là chữa dứt điểm, hết sợ tái phát, hết sợ di chứng! “Diệt” trong diệt thọ tưởng định ở đây không mang nghĩa triệt tiêu mà là không để nảy sinh! Cắt bỏ một khối u thì không bằng phòng ngừa để khối u đừng sinh ra. Phòng bệnh hơn chữa bệnh.  Tóm lại, để xứng danh là Bồ tát thì phải vượt qua được cửa ải này. Nói khác đi, Bồ tát phải “hành thâm” thiền định cho rốt ráo, đạt đến trạng thái vô ngã- không còn thấy có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả gì nữa cả- không còn phân biệt, chấp trước gì nữa cả – thì mới thênh thang thõng tay vào chợ mà không sợ vướng bụi trần!</p>
<p style="text-align: justify;">May thay, nghe cho kỹ thì Phật đã dạy Tu Bồ Đề rất rõ: “Chư Bồ tát <em>Ma ha tát </em>ưng như thị hàng phục kỳ tâm”. <em>Ma ha tát</em> là lớn, là đại! Các vị Đại bồ tát đều đã làm như vậy mà hàng phục cái tâm mình! Chớ còn… “tiểu” Bồ tát hoặc mới phát tâm… sơ sơ, mới lõm bõm học như ta thì cũng chớ nóng vội! Phải từng bước, trì giới, nhẫn nhục, phải tinh tấn… dài lâu!</p>
<p>“Phật cáo Tu Bồ Đề” chính là để nhắc nhở những ai muốn bước vào con đường Bồ tát thì không thể không thiền định. Bởi không <em>định </em>thì khó mà tuệ. Giới sẽ dẫn đến định, định sẽ dẫn đến tuệ và ngược lại. Đây là một tam giác cân, có hai chiều xuôi ngược. Theo tôi, để điều trị cho tận gốc bệnh “tham sân si” thì chỉ có thể dùng thuốc đặc trị là “giới định tuệ”. Giới để chữa tham, định chữa sân và tuệ chữa si. Nhưng nếu chỉ chữa triệu chứng thì không thể chữa dứt điểm được, nó sẽ tái phát, nó sẽ để lại di chứng. Vậy muốn chữa rốt ráo, chữa tận gốc, thì phải phối hợp cả ba thứ thuốc, ba mặt giáp công. Định không thôi dễ mù mịt. <em>Giới </em>không thôi dễ cố chấp. <em>Tuệ</em> không thôi dễ ba hoa. Tuy vậy rõ ràng là tùy đối tượng mà ba thứ thuốc này sẽ gia giảm cho phù hợp. Người hay “sân”, dễ thương dễ nhớ dễ sầu dễ bi –<em>Rồi bị thương người ta giữ gươm đau/ không muốn chữa không chịu lành thú độc</em> (Xuân Diệu) hay <em>Chưa gặp em mà đã biệt ly/ hồn anh theo dõi bóng em đi </em>(Hàn Mặc Tử)… thì chữa bằng <strong>định </strong>là tốt nhất. Người trí thức, cóp nhặt gom góp, tự hào vì “đãy sách” của mình,  thì chữa bằng <strong>tuệ </strong>để khống chế, hàng phục triệu chứng “si” trước. Khi <strong>tuệ</strong> sáng ra thì tự dưng thấy cần phải <strong>giới</strong>, cần phải <strong>định</strong>. Nhưng trong cả ba thứ thuốc đó, căn bản nhất theo tôi vẫn là định. Vì có định mới đạt tới vô ngã, mới diệt được “thọ tưởng”, mới không còn phân biệt, chấp trước. Lão Tử bảo nhìn người đạt đạo thấy họ “độn độn hề”- nghĩa là thấy họ có vẻ “khù khờ” thế nào ấy- bởi họ đã khác, đã vô tranh, đã vô sinh rồi vậy!</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu bài học đầu tiên Phật dạy là đói ăn khát uống, nặng về <strong><em>Giới </em></strong>thì bây giờ bài học thứ hai là về <strong><em>Định</em></strong>. Từ “Phật cáo Tu Bồ Đề” đến “…tức phi Bồ tát”, có sự nhất quán,  trải dài tiến trình thiền định, từ dục giới, sắc giới rồi vô sắc giới, rồi vượt qua tất cả để cuối cùng đạt đến diệt thọ tưởng định, còn gọi là “cửu thiền”, bậc thiền thứ chín! Nghe cứ y như “Độc cô cửu kiếm” mà bí quyết nằm ở chỗ các chiêu thức linh hoạt dính kết không tách rời từ hữu chiêu đến vô chiêu cuồn cuộn như nước chảy mây trôi, không kẽ hở, đến một lúc chiêu thức không còn mà chỉ còn kiếm ý, không  thấy có ta có người nữa mới thật sảng khoái, mới thật là… tuyệt chiêu! Lúc đó thì đúng là “năng sở song vong”, trâu cũng mất mà người chăn cũng không còn! Hãy đến rồi biết! Đừng nói suông. Phật đã dạy như vậy. Khó thay!</p>
<p style="text-align: justify;">Dĩ nhiên còn có nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nữa cần được trải nghiệm để tự khám phá, tự phát hiện. Đó là cái mà trong kinh Phật gọi là “vô lượng nghĩa”! Gươm báu trao truyền ở đây chính là khả năng “phá chấp”. Khi còn chấp, nghĩa là còn cột chặt vào một nghĩa cố định nào đó là hãy còn “trụ”, còn dính, còn mắc, sao đạt được cái gọi là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”? Một chiêu “phá kiếm thức” trong “Độc cô cửu kiếm” của Lênh Hồ huynh đệ vung lên đủ phá kiếm trận của mười lăm cao thủ võ lâm đang vây hãm chàng. Khi đạt đến vô chiêu, chắc còn kinh thiên động địa hơn nữa! Phá kiếm thức chỉ là một chiêu đơn giản của “phá chấp” thôi!  Vào một lúc nào đó ta sẽ cảm nhận, sẽ khám phá thêm, sẽ “ngộ” thêm nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nữa. Điều quan trọng là thực hành, là khám phá, là phát hiện qua sự thể nghiệm, trải nghiệm riêng mình. Chính ở đó, mới biết thế nào là không thể nói được (bất khả thuyết), không thể bàn luận được (bất khả tư nghì)! Ngôn ngữ cũng đành “bó tay” vậy!</p>
<p style="text-align: justify;"><em>(trích <strong>“Gươm Báu Trao Tay”</strong>, viết về Kim Cang Bát nhã)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/chang-phai-vay-ma-vay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vậy mà chẳng phải vậy!</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/vay-ma-chang-phai-vay/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/vay-ma-chang-phai-vay/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 06 Jul 2010 01:56:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=3331</guid>
		<description><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc Lại nói Tu Bồ Đề kính cẩn đặt hai câu hỏi với Phật: “…làm thế nào để an trụ tâm, làm thế nào để hàng phục tâm?” thì Phật bảo rằng không có gì khó cả, các vị Đại Bồ tát đều hàng phục tâm bằng cách như vầy… như vầy… “Ông [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: right;"><strong><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Lại nói Tu Bồ Đề kính cẩn đặt hai câu hỏi với Phật: “<em>…làm thế nào để an trụ tâm, làm thế nào để hàng phục tâm?”</em> thì Phật bảo rằng không có gì khó cả, các vị Đại Bồ tát đều hàng phục tâm bằng cách như vầy… như vầy… “Ông hãy lắng tai nghe cho kỹ đây. Ta sẽ vì ông mà nói”. Tu Bồ Đề hớn hở: “Xin vâng, xin vâng. Con đang rất muốn nghe!”.</p>
<p style="text-align: justify;"><span id="more-3331"></span></p>
<p style="text-align: justify;">Hơn hai ngàn năm trăm năm sau, chúng ta cũng đang rất muốn nghe, cũng đang dỏng tai lên mà nghe, bởi chưa bao giờ con người sống trong sợ hãi, lo âu, căng thẳng như bây giờ, với chiến tranh dịch bệnh thiên tai đủ thứ! Con người mắc đủ thứ bệnh tật  mà y học dù rất tiến bộ cũng lúng túng, bó tay… Các loại bệnh cứ xà quần, hết thứ này sanh thứ khác, bởi cái gốc của nó không ở cái thân xác kia, nên đi đủ thứ bác sĩ cũng không khỏi cho đến khi vớ phải một… lang băm! Y học đã phải bào chế ra nhiều thứ thuốc, nào an thần, nào thuốc ngủ, nào giải lo (anxiolytique), thậm chí những thứ thuốc cực mạnh để cắt đứt cơn suy nghĩ của con người, làm cho họ rơi vào trạng thái hôn mê  ngắn hạn để được thảnh thơi đôi chút, xa rời đôi chút với những lo âu phiền muộn sợ hãi bao quanh!</p>
<p style="text-align: justify;">Phật dạy: Muốn hàng phục tâm ư, muốn an trụ tâm ư? Chỉ cần “diệt độ” tất cả chúng sanh, loại  nào cũng “diệt độ”, cho vào Vô dư Niết bàn sạch trơn, nhưng rồi thật ra… chẳng có chúng sanh nào đựơc diệt độ cả!</p>
<p style="text-align: justify;">Ối trời! Thiệt là choáng váng! Chưa kịp trấn tĩnh, Phật đã nói tiếp: “Tại sao vậy? Tại vì Bồ tát mà còn có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì… chẳng phải là Bồ tát! ”. Lúc đó hẳn một số người trong thính chúng cũng hoang mang, thôi không dám làm Bồ tát nữa và xin rút lui có trật tự! Chính Tu Bồ Đề cũng phải kêu lên: Con có thể hiểu không khó những lời Phật dạy, nhưng liệu năm trăm năm sau, người ta có thể hiều được không? Phật đã phải quở ngay: “Ông chớ nói thế!”. Bởi Phật tin tưởng ở tương lai, người ta có thể hiểu Phật nhanh hơn, phương tiện truyền thông tiến bộ hơn, và… đời sống con người càng… khổ đau hơn, dù vật chất có được cải thiện mà phiền não thì cứ gia tăng! Tuy vậy, Phật cũng nói thêm: Sau này, ai được nghe Kim Cang mà “không kinh, không hãi, không sợ” thì người đó hẳn phải có nhiều “thiện căn”! Nửa thế kỷ trước đây, Edward Conzé, tiến sĩ tâm lý, nhà Phật học nổi tiếng, người đã dịch Kim Cang sang tiếng Anh, bảo bạn ông, một nhà trí thức thần học, khi đọc bản dịch đó đã kinh ngạc kêu lên: Điên, điên rồi! Nhưng Erward Conzé không thấy điên, lại còn khẳng định: hiệu qủa sẽ đựơc chứng minh qua áp dụng vào đời sống hằng ngày!  Nguyễn Du đọc đi đọc lại Kim Cang cả ngàn lần, đến khi có dịp đi sứ sang Tàu, nhìn thạch đài phân kinh của thái tử nhà Lương mới than: Chung tri vô tự thị chân kinh! (Cuối cùng mới hiểu ra kinh không chữ mới thật là chân kinh!).. Người xưa thì cũng đã nguyện <em>“Nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa!”</em>.  Chắc hẳn phải có điều gì đó… bí ẩn!</p>
<p style="text-align: justify;">Phật nói muốn hàng phục tâm thì có bao nhiêu loại chúng sinh, dù sinh từ thai, sinh từ trứng, từ thấp, từ hóa, từ có hình hoặc không có hình, từ có tưởng, hoặc không có tưởng, hoặc chẳng có tưởng mà cũng chẳng phải chẳng có tưởng…  đều phải “diệt độ” tất cả, cho vào… “Niết bàn” sạch trơn! Rồi, tuy“diệt độ” vô số sô lựơng vô biên chúng  sanh như vậy mà thật ra… chẳng có chúng sanh nào được diệt độ cả!</p>
<p style="text-align: justify;">Lâu nay ta vẫn nghĩ chúng sanh là <strong><em>beings</em></strong>, là <strong><em>êtres</em></strong>, là những sinh vật- gồm có cả con người trong đó &#8211; nên “diệt độ” hết chúng sanh thì ta ở với ai? Có sách nói phải diệt độ hết chúng sanh đi mà đừng kể công, ấy mới là lòng quãng đại, là chí nguyện của Bồ tát.  Có sách lại bảo chúng sanh ở đây không phải là người, không phải là sinh vật mà là những tư tưởng, những ý nghĩ, những khái niệm! Người bình thường chúng ta nghe chữ “diệt độ” chúng sanh,  rồi đưa hết vào “Niết bàn” cũng thấy ớn! Thực ra chữ “diệt độ” ở đây không có nghĩa là tiêu diệt mà là giúp đưa hết cả qua bờ giải thoát.</p>
<p style="text-align: justify;">Nghĩ cho cùng,  cốt lõi có lẽ nằm ở hai chữ “chúng sanh”! Giải mã được từ khóa này thì hy vọng mở được “Càn khôn đại nã di tâm pháp” như Vô Kỵ dưới hầm sâu trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung!  Một hôm, tôi đem thắc mắc “chúng sanh” này hỏi một vị sư. Sư trả lời ngắn gọn: <strong><em>Tùy chúng duyên nhi sanh!</em></strong> Rồi thôi, chẳng nói gì thêm. Với tôi, thế là đã đủ, đã rõ! Vậy mà phải mất bao nhiêu thời gian trăn trở, kiếm tìm, suy gẫm. Tôi hiểu tại sao các vị thiền sư thường bắt học trò giã gạo, gánh nước, bửa củi nhiều năm mà chả chịu dạy gì, cho đến khi đủ chín muồi tự trong bản thân mình!  Cũng như người xưa đến thầy xin học thuốc, thầy coi giò coi cẳng xong mới cho vào học, lúc đầu bắt chẻ thuốc, bào thuốc, tán thuốc, sắc thuốc… chừng năm bảy năm trời rồi mới cho bắt mạch, kê toa, bởi lầm một chữ là chết người. Đến khi thành tài… thầy còn gã con gái cho không chừng! Như vậy có thể nói chúng sanh ở đây không phải là chúng sanh như ta vẫn hiểu mà là do các “chúng “ <strong><em>duyên</em></strong> với nhau mà “sanh” ra nên gọi là “chúng sanh” thôi! Duyên hết thì chúng sanh cũng hết! Học Phật không được chỉ dựa vào câu chữ mà cũng không được rời câu chữ! Ở đoạn sau của Kim Cang nói rõ: “chúng sanh tức phi chúng sanh”! Ta làm quen cách nói “tức phi… thị danh” này trong Kim Cang! Đây là thứ ngôn ngữ “phá chấp”,  cũng gọi là “ngôn ngữ ly niệm”, nhằm giúp phá vỡ “khái niệm” đã đóng khuôn trong vỏ não ta từ lâu. Bởi muốn giúp giải thoát con người thì trước hết phải vựơt qua những khái niệm, những  định nghĩa  cứng ngắc, chằng chịt,  như lưới nhền nhện làm cho con người bị gò bó, dính mắc, khó mà thoát ra được. Mỗi ngành học đều có những terminology, thuật ngữ riêng của mình. Danh từ y học chẳng hạn, chỉ người trong ngành hiểu với nhau, người ngoài không sao hiểu chính xác đựơc, thậm chí một số từ y học không thể dịch mà phải phiên âm, phải giữ nguyên gốc để diễn đạt đầy đủ ý nghĩa sâu xa hơn. Chính vì thế mà các thầy thuốc thường châm… tiếng Latinh  với nhau khi nói chuyện, làm cho bệnh nhân nghe chới với không hiểu mô tê, rồi có khi diễn dịch sai, hiểu lầm, đâm ra hoang mang.</p>
<p style="text-align: justify;">Tùy “chúng duyên nhi sanh” là tùy theo các duyên mà sanh ra thứ “chúng sanh” này hay “chúng sanh” khác! Cho nên mới có “vô số vô lượng vô biên” chúng sanh! Bản thân ta cũng là một chúng sanh vì do các “uẩn” (chúng) sắc, thọ, tưởng, hành, thức hợp lại mà thành…. Nói cách khác, do ba mẹ mình “duyên”… với nhau mà có mình, chớ nếu hai người “vô duyên đối diện bất tương phùng” thì còn lâu! Đó là chưa kể ông nội “gặp gỡ” bà nội, ông ngoại “gặp gỡ” bà ngọai. ( <em>Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không? ND</em>). Cho nên mình mới có cơ hội mang gène của cả giòng họ kể cả gène tính khí hoặc gène suyễn, tiểu đường!  Hai nguyên tử H và O “duyên” với nhau thì sanh ra thứ này hay thứ khác, nếu thêm C vào nữa thì có khi thành dấm, có khi thành rượu! Ta mà “duyên” với rượu thì cũng lắm chúng sanh sẽ được tạo ra! Cơn giận chẳng hạn. Vì một lời nói xúc xiểm nào đó của ai đó có khi làm ta bừng bừng nổi giận! Lời qua tiếng lại một lúc thì “chúng” đã “sanh” ra lắm chuyện! Từ chúng sanh “lời nói” có thể chuyển sang chúng sanh “đấm đá”… như chơi! Cơn giận, lòng tham, nỗi buồn, sự sợ hãi, lo âu, căng thẳng… đều là những “chúng sanh”, nó quậy phá trong tâm ta làm cho ta bị bấn loạn, phiền não, khổ đau không ngớt! Ngay cả những con người rất dễ thương quanh ta, có khi mới sáng sớm là tiên, là Bồ tat, chiều đến đã biến thành Atula, dạ xoa… các thứ như chơi! Mà ta cũng vậy dưới mắt người khác!</p>
<p style="text-align: justify;">Có thực “ba cái lăng nhăng nó quấy ta” chăng? Không hẳn! Gió không động, phướn không động. Tâm ta mới động. Tâm ta mà thanh tịnh rồi thì “chấp” hết!  Cơn giận nỗi buồn gì cũng “diệt độ” xong ngay! “Chúng” nào “sanh” ra thì ta… “diệt độ” hết, nghĩa là dẹp bỏ sạch trơn. Đến lúc mặt hồ không xao động thì ánh trăng mới vằng vặc soi! Nhưng, còn lâu! Còn phải khổ công rèn luyện dài dài! Không thể nóng vội được. Chữ “diệt” ở đây không có nghĩa là tiêu diệt, mà là “dẹp bỏ” qua một bên, hay còn có nghĩa là “không để phát sanh ra” nữa, tức là một trạng thái “vô sanh”! Tiếng Việt ta thật hay: <strong><em>sanh sự thì sự sanh</em></strong>!  Vô sanh thì vô sự, mà vô sự thì bình an: “Bình an vô sự”!    Vậy nếu ta … rèn luyện giỏi, ta có thể “diệt độ chúng sanh” đựơc lắm chớ! Diệt độ hết chúng sanh mà thực ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả, bởi có còn sanh ra nữa đâu mà diệt với độ!</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng hình như thế vẫn còn chẳng phải!</p>
<p><strong><em>(</em></strong><em>trích</em><strong><em> Gươm Báu Trao Tay</em></strong>, viết về Kim Cang Bát Nhã) </em></strong></p>
<p><strong><em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/vay-ma-chang-phai-vay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lá Thư Đầu Năm</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/la-th%c6%b0-d%e1%ba%a7u-nam/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/la-th%c6%b0-d%e1%ba%a7u-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 22 Feb 2010 02:22:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Do Hong Ngoc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2959</guid>
		<description><![CDATA[2010/2/20 tan nguyen &#60;…@&#62; Kính gởi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, Thỉnh thoảng tôi gặp tên của bác sĩ trên một số bài báo. Gần đây nhất là hình của bác sĩ và Bạch Tuyết trên báo Saigon tiếp thị. Rồi cách đây mấy ngày bổng nhiên một người bạn tặng tôi cuốn “Gươm Báu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2010/02/spring_flower.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-2960" title="spring_flower" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2010/02/spring_flower.jpg" alt="" /></a></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>2010/2/20 tan nguyen &lt;…@&gt;</em></strong></p>
<p><em><strong>Kính gởi bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc,</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Thỉnh thoảng tôi gặp tên của bác sĩ trên một số bài báo. Gần đây nhất là hình của bác sĩ và Bạch Tuyết trên báo Saigon tiếp thị. Rồi cách đây mấy ngày bổng nhiên một người bạn tặng tôi cuốn “Gươm Báu Trao Tay”. Tưởng của nhà văn nào, hóa ra ….Bạn bảo: “Hay lắm, đọc đi !”. Tôi mới đọc lướt qua và thú thật cũng chưa hiểu gì lắm. Bổng nhiên tôi cảm thấy nên viết một bức thư cho bác sĩ tuy chưa một lần gặp mặt.</p>
<p style="text-align: justify;"><span id="more-2959"></span></p>
<p style="text-align: justify;">Năm nay tôi 50 tuổi; gia đình lâu nay thờ Phật nhưng tôi không hay đi chùa. Kinh sách ở nhà cũng được vài cuốn do Ba tôi để lại nhưng tôi đọc chẳng tới đâu, có lẽ vì quá khó hiểu và đôi khi có vẻ huyền hoặc như các tôn giáo khác. Do vậy, hiểu biết của tôi về đạo Phật thì cũng loanh quanh ở mức “nhân nào quả nấy”, “ở hiền gặp lành” hay “luân hồi quả báo” mà thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi viết thư này đến bác sĩ vì tâm đắc ý “thầy thuốc chỉ làm hết đau chứ không làm hết khổ”. Tôi hiểu nôm na là có hai loại “bệnh”: thân bệnh và tâm bệnh. Đa phần thầy thuốc bây giờ chỉ quan tâm tới thân bệnh. Tâm bệnh hầu như bị bỏ quên có lẽ vì bây giờ thân bệnh tràn lan … Hơn nữa, như lời bác sĩ nói, các thầy thuốc đâu có được đào tạo để trị “khổ”. Đọc qua tập sách, tôi lại nhớ tới hai người mà tôi biết khá rõ. Tôi xin dài dòng một chút miêu tả hai nhân vật có thật này để cùng quan sát cách mà họ muốn “hết khổ”.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuổi họ đều xấp xỉ 60; gia đình kinh tế thuộc loại khá giả.</p>
<p style="text-align: justify;">Người đầu là một nữ trí thức đã sớm tự ý thôi việc khi chưa tới tuổi hưu và nay dành rất nhiều thì giờ để đi chùa, tụng kinh, ngồi Thiền và nhất là hay thuyết giảng cho hầu như bất cứ ai mà bà gặp. Thậm chí bà còn tặng tôi một lô kinh sách Phật giáo mới có, cũ có (khoảng 200 cuốn), chất đầy hai kệ ! Tôi chưa đọc quyển nào vì có lẽ như bác sĩ nói là “duyên” chưa tới. Một lần tôi tới thăm, thấy bà đang đeo tạp dề, lui cui trong bếp; lại có tiếng đàn ông. Thì ra trên cái bàn gần bên là một cái máy cát-xét đang mở khá lớn: bà đang vừa nấu ăn vừa nghe kinh ! Nghe người nhà kể lại thì bà bây giờ gần như ăn chay trường. Một con gián hay chuột quanh quẩn trong bếp bà cũng không giết, chỉ tìm cách xua đi mà thôi. Bà hay né tránh các lời mời tiệc tùng, cưới hỏi …một phần vì lý do ăn chay, một phần có lẽ bây giờ bà không muốn “vướng” vào chuyện thế gian nữa. Bà hay đi chùa; có khi giao nhà cho chồng con lên chùa này chùa nọ ở cả nửa tháng mới về; hay mua kinh sách, dĩa CD, hình ảnh … tặng những người chung quanh. Bà lại tham gia hoạt động hộ niệm, hay đi đọc kinh cho những người đang hấp hối để, theo lời bà kể, họ được “thanh thản, nhẹ nhàng ra đi”. Có lần, bà kể cho tôi nghe là bà hùn tiền với mấy người bạn mua một xe cá rồi kêu tài xế chở ra một con sông, phóng sinh hết. Khoảng mười năm nay, cách nói chuyện của bà nghe như thể bà đã tìm ra chân lý của đời mình; chủ yếu lo tu tập, mà phải tu gấp chứ không tu đủng đỉnh. Để chi ? Sau này được “vãng sanh”. Đôi khi tôi có cảm giác bà nhìn những người chung quanh (chồng con, gia đình, bạn bè …) như một lũ u mê &#8211; dĩ nhiên trong đó có tôi, mà có lẽ vì lý do lịch sự bà không nói ra. Có lần thuyết mãi mà thấy tôi có vẻ còn lù mù, chưa hiểu chuyện tu hành giống như sóng thần sắp đổ bộ tới nơi mà tôi còn dại dột đứng ở bờ biển ngắm cảnh, bà ví dụ như  bà hiện tại là một học sinh trong một trường học loại “thường”. Bà đang phấn đấu để được vào trường “chuyên”, có “chất lượng” hơn. Hóa ra bà đang muốn xa lánh cái “cõi tạm” chất lượng thấp này để kiếp sau thăng lên một cõi khác tốt đẹp hơn….</p>
<p style="text-align: justify;">Người thứ hai là đàn ông, tuổi gần 60, khá giả, có con gái gả cho Việt kiều bên Mỹ. Khoảng hai năm trước, ông cất một căn nhà một trệt hai lầu; nội thất tạm gọi là sang, có nhiều phòng và mỗi phòng đều có máy lạnh.. Ông dẫn tôi vào phòng ngủ khoe cái ti vi màn hình phẳng đáng giá vài chục triệu đồng. Tầng trên là bàn thờ Phật và bên dưới là nơi ông tập ngồi Thiền. Nhà ông trang bị máy lạnh tận phòng khách, nơi ông hãnh diện giới thiệu một tượng Phật Di Lặc bằng gỗ to hơn người thật, trị giá vài chục triệu mà ông đã thỉnh về …Trên tường là bốn bức tranh mai, lan, cúc, trúc biểu tượng cho nhân cách của người quân tử… Ông sắm xe hơi, thuê tài xế riêng, trả lương tháng ba triệu … Lúc mới mua xe, ông đi Mộc Bài để mua hàng giá rẻ ở siêu thị …. gần biên giới ở Tây Ninh. Ông chỉ mớ hàng mua được để trên kệ: xà bông, dầu gội, thuốc lá …. và đặc biệt là rượu Tây mấy chai để phòng khi có “chiến hữu” tới nhà. Có xe hơi, ông rủ tôi hôm nào cùng đi Mộc Bài, còn chỉ vẽ thêm là có thể bỏ thêm ít tiền thuê thêm khoảng chục cái chứng minh nhân dân (của dân địa phương) để mua hàng nhiều hơn … Tôi biết ông khoảng mười năm nay. Nói chuyện với ông là hay nghe nào là “pháp”, “tướng”, “tam bảo” và những chuyện thuộc loại khó tin nhưng có thật như khả năng của nhà ngoại cảm X, có thể nhìn thấu tâm can người đối diện hay chuyện sư phụ  của ông ở chùa Y (nơi ông đã quy y) nhận xét, biết cả ruột gan ông như thế nào … Đôi lần, ông cũng rủ tôi đến chùa này chùa nọ, nơi mà ông đóng góp rất nhiều công sức để lo “Phật sự”. Tôi chưa đi lần nào … Có lần tôi điện thoại đến nhà ông để hẹn qua nhà thăm. Tôi đang chuẩn bị ra khỏi nhà thì ông gọi điện thoại tới, xin cáo lỗi vì phải “đưa Thầy …. đi có việc”.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn chung và xét về mức sống thì rõ ràng hai nhân vật nói trên thuộc loại ấm no, khá giả. Về tư cách thì cũng rất đàng hoàng, gia đình có thể gọi là nề nếp, ai cũng tốt nghiệp đại học, con cái cũng biết lo học hành. Họ hay giảng cho tôi nghe điều này điều nọ vì hay đọc kinh sách, đi chùa và đều đã quy y. Tôi nghe thì nhiều nhưng hiểu chẳng bao nhiêu, chỉ vâng dạ hay ậm ừ cho qua chuyện. Một phần vì tôi ngại mếch lòng và tính tôi cũng không hay tranh luận hơn thua. Thường khi tôi không hỏi nhiều vì càng được hỏi, họ càng thuyết giảng liên miên, cứ như là một đại sư đang đăng đàn thuyết pháp vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, thành thật mà nói, tôi thấy họ có vẻ bệnh hoạn về tâm thần hoặc ít ra cũng bị một hình thức lệch lạc nào đó về tâm lý. Tôi không đủ trình độ để nói chuyện “duy tâm” hay “duy vật” mà chỉ bình tâm quan sát. Với họ, công việc tu hành (đọc kinh sách, ấn tống, đi chùa, bố thí, phóng sanh, tụng niệm, mua máy nghe kinh, ngồi Thiền, ăn chay …) chẳng qua chỉ là phương tiện. Vậy, thực ra họ muốn gì ? Quen biết lâu ngày, tôi nghiệm ra : Bề ngoài có vẻ nhẫn nhịn, hơi khắc khổ, đạo mạo nhưng bên trong họ là cả một lòng tham vô bờ bến. Trong khi người nghèo chỉ mong cơm áo gạo tiền, nhà ở, sức khỏe … thì họ, kiếp này tuy chưa phải đại gia nhưng so ra, họ đã và đang có quá đầy đủ nhưng vẫn chưa vừa ý. Họ “tu” để kiếp sau được “sướng” hơn nữa hay được lên một cõi khác, cao hơn và và dĩ nhiên được tận hưởng nhiều phúc đức hơn so với cái cõi tạm đầy phiền phức này. Nói cách khác, họ cũng là một dạng doanh nhân, nhưng họ không kinh doanh, kiếm lời bằng việc mua bán cổ phiếu, chứng khoán ở sàn giao dịch… Họ đầu tư vào một mặt hàng vô hình nhưng cao cấp hơn nhiều: phước đức. Họ đầu tư phước đức trong kiếp này để kiếp sau họ hy vọng thu được cổ tức – đây mới là mục đích tối hậu. Họ hay nhường nhịn, bố thí, khuyên răn điều lành và giúp đỡ những người chung quanh…. Những điều nghe đơn giản nhưng không phải ai cũng làm được.  Có thể ai đó sẽ cho rằng dù với động cơ gì đi nữa,  họ cũng đang làm điều “tốt” trong khi xã hội đang đầy dẫy những chuyện thuộc loại đạo đức xuống dốc như hiện nay. Được vậy là quý lắm rồi !</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng, không biết là tôi có hiểu đúng nghĩa của chữ “giải thoát” trong Phật giáo hay không chứ tôi thấy về mặt tư tưởng, hai vị này rõ ràng là chẳng được giải thoát chút nào cả. Cuộc đời này, cũng như cuộc đời sau, với họ cũng chỉ là một bài toán. Mà đã là “toán” thì phải “tính” : Họ đến chùa với những suy nghĩ thực dụng. Chính họ mới là nạn nhân của lòng tham không đáy, là con rối của lòng dục. Tôi hiểu rất ít về đạo Phật, có thể nói là lõm bõm nên không dám nói cao siêu. Nhưng nếu như Phật dạy là nên “diệt dục” thì hai nhận vật nói trên mới nhìn qua thì có vẻ diệt dục, nhưng thật ra họ nuôi dưỡng lòng dục của họ một cách kín đáo và ghê gớm. Hay nói cách khác thì chính “dục” đang “diệt” họ.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy, làm sao mà họ “giải thoát” cho được, nếu như cứu cánh tối hậu của đạo Phật là giải thoát ? Tư tưởng của họ còn quẩn quanh với những tính toán thiệt hơn, không những trong kiếp này mà còn kéo dài tận kiếp sau. Cũng giống như một người ăn chay, mà lại dùng những món giả mặn như “thịt quay chay” để thỏa mãn cái tâm vọng mặn của mình thì rõ ràng họ đang diễn xuất ! Họ đang đóng kịch với chính họ ! Với một cái ta đầy mâu thuẫn và đặc biệt vô cùng tham lam như vậy thì cho dù họ có mua hết cá basa ở đồng bằng sông Cửu Long để phóng sinh thì thiết tưởng cũng vô ích.</p>
<p style="text-align: justify;">Trên đây là vài cảm nghĩ của tôi về hai nhân vật đang “tu” tại gia mà tôi khá thân thiết lâu ngày. Tôi không quơ đũa cả nắm nhưng hiện nay, những mẫu người như thế này không phải là ít. Họ là người tốt, thậm chí rất tốt. Trở lại chuyện “tâm bệnh” như đã nói ở đầu thư, tôi thấy hai vị này “bệnh” quá nặng.</p>
<p>Bác sĩ thấy họ như thế nào ? Hay chính tôi mới là người bệnh ?<br />
Kính chào bác sĩ, và rất mong được hồi âm, dù chỉ đôi dòng.<br />
Chiều cuối năm 13/2/2010<br />
Nguyễn Phú Vân.</p>
<p>(<em><strong>Ghi chú của Đỗ Hồng Ngọc</strong></em>: Email được viết ngày 13.2.2010, chiều 30 Tết, nhưng đến 20.2.2010, mùng 7 Tết,  anh Nguyễn Phú Vân mới gởi đến tôi. Bức thư đặt ra một vấn đề rất thời sự, rất đáng để suy gẫm. Tôi xin phép anh Nguyễn Phú Vân được đưa lên mục “Ghi Chép Lang Thang”  trên trang web <a href="http://www.dohongngoc.com" target="_blank">www.dohongngoc.com</a> để các thân hữu chia sẻ. Trân trọng. ĐHN).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/la-th%c6%b0-d%e1%ba%a7u-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>15</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thư từ Chùa Diệu Không (Canada)</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/thu-tu-chua-dieu-khong-canada/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/thu-tu-chua-dieu-khong-canada/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 22 Feb 2010 02:14:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Do Hong Ngoc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2957</guid>
		<description><![CDATA[Kính thưa Bác Sĩ, Xin chân thành cảm ơn Bác Sĩ đã gởi Gươm Báu Trao Tay. Nhận được tập sách tự dưng cảm động. In xuống đọc xong, mới hiểu mình cảm động vì nhận một tấm lòng. Bác sĩ chữa bệnh cho người đời rồi, lại nghĩ làm sao giúp họ bớt khổ. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><em>Kính thưa Bác Sĩ,</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Xin chân thành cảm ơn Bác Sĩ đã gởi Gươm Báu Trao Tay. Nhận được tập sách tự dưng cảm động. In xuống đọc xong, mới hiểu mình cảm động vì nhận một tấm lòng. Bác sĩ chữa bệnh cho người đời rồi, lại nghĩ làm sao giúp họ bớt khổ. Chúng tôi nghĩ Gươm Báu Trao Tay hay Nghĩ Về Trái Tim là những lá Thư nối tiếp Cho Bé Sơ Sinh.</p>
<p><span id="more-2957"></span>Cách viết của bác sĩ thật vui, uyên bác nhưng lại rất nhẹ nhàng, dí dỏm, giúp người đọc &#8211; nhất là người trẻ &#8211; đi vào Phật Pháp một cách nhẹ nhàng, hứng khởi. Viết về Phật Pháp mà viết như vậy là cả một nghệ thuật. Hiện nay ít người làm được. Xin phép bác sĩ cho chúng tôi được trích đăng &amp; sử dụng tập sách mới này.</p>
<p>Rất mong bác sĩ tiếp tục viết và có nhiều buổi thuyết trình, nhất là cho người trẻ. Rất nhiều Phật tử bên này chia sẻ với chúng tôi về những lo lắng, đau khổ của họ vì có thân nhân trẻ tuổi bên VN sa vào sự nghiện rượu và ma túy. Lắng nghe số người chia sẻ, chúng tôi thấy tình trạng chung dường như khá nặng. Nguyên nhân có lẽ là sự thiếu thốn &amp; ốm yếu tinh thần. Đọc văn bác sĩ, chúng tôi cảm nhận người viết là một người có sự quân bình và hạnh phúc trong đời sống. Sự an lạc đó chắc chắn bắt nguồn từ một tấm lòng rộng rãi, có sự xác quyết ‘chọn đường mình đi’ (tín) trong đời sống. Mong bác sĩ  sẽ viết thêm để truyền lại những châu báu của mình.</p>
<p>Kính chúc bác sĩ an vui &amp; sức khoẻ.</p>
<p style="text-align: justify;">Kính</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Giải Nghiêm</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/thu-tu-chua-dieu-khong-canada/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>“Con mắt còn lại…”</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/con-mat-con-lai/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/con-mat-con-lai/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 08 Feb 2010 10:03:32 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2938</guid>
		<description><![CDATA[Phật bỗng hỏi Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Như Lai có “mắt thịt” không? Dạ có! Như Lai có mắt thịt! Tu Bồ Đề vội đáp. Hỏi ta, chắc ta ấp úng, không dám nói. Ta dễ nghĩ rằng Phật hẳn chỉ có phật nhãn (mắt Phật) còn phàm phu chúng ta mới có [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2010/02/sen.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-2943" title="sen" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2010/02/sen.jpg" alt="" /></a>Phật bỗng hỏi Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Như Lai có “mắt thịt” không? Dạ có! Như Lai có mắt thịt! Tu Bồ Đề vội đáp. Hỏi ta, chắc ta ấp úng, không dám nói. Ta dễ nghĩ rằng Phật hẳn chỉ có <em>phật nhãn</em> (mắt Phật) còn phàm phu chúng ta mới có nhục nhãn (mắt thịt) chứ, ai dè kinh Kim Cang nói Phật cũng có nhục nhãn như phàm phu, chẳng cũng khoái ru? Và lòng tự tin trong ta bỗng dâng lên. Ta có khác gì Phật đâu, chẳng qua… Hèn chi mà Bồ tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng cung kính vái chào “Xin chào ngài, một vị Phật tương lai… “.  Thế rồi Tu Bồ Đề dạ có, dạ có, năm lần cả thảy! Thì ra Phật có đủ cả năm thứ con mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn… Những 5 thứ  mắt ư, có nhiều quá lắm không?</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><span id="more-2938"></span>Dĩ nhiên “mắt” là để nhìn, để “thấy”! Và, nhiều loại con mắt là để thấy nhiều … kiểu khác nhau &#8211; nói khác đi là để nhìn dưới nhiều “quan điểm”- chứ không khư khư bám chặt lấy quan điểm của mình,  khư khư cho rằng mình đúng người sai để chí chóe hoặc để thựơng cẳng tay hạ cẳng chân! “Thấy” như thế nào là một chuyện hệ trọng. Thấy thế nào sẽ dẫn tới nghĩ suy, nói năng, hành động thế đó! Thấy sai sẽ suy nghĩ, hành động sai.  Cho nên Quán Thế Âm bồ tát mới có nghìn mắt nghìn tay mà trên mỗi bàn tay đều có một con mắt!</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thấy</em> và <em>biết </em>liên quan chặt chẽ với nhau nhưng  không phải là một! Thấy vậy mà không phải vậy, không phải vậy mà vậy! <em>Thấy </em>có thể dẫn đến cái biết, nhưng  biết không ở chỗ cái thấy. Bởi thấy do mắt còn biết thì do… “não”! Vậy mới có xung đột,  mười người mười ý, mới có “điên đảo mộng tưởng”! Biết rộng dễ thấy rộng – nhìn xa trông rộng-  biết ít dễ thấy hẹp, thiên kiến, thiển cận! Ếch ngồi đáy giếng!</p>
<p style="text-align: justify;">Trong <em>Bát chánh đạo</em> thì Chánh kiến ở vị trí số một! “Kiến” mà không chánh thì dễ lệch lạc! Chánh kiến rồi mới có chánh tư duy! Không thì cứ loay hoay không lối thoát hoặc hý luận chẳng tới đâu!</p>
<p style="text-align: justify;">Thấy và biết có khi xa lơ xa lắc dù cũng <em>căn </em>đó cũng <em>trần</em> đó! Chuyên kể hai vợ chồng nhà kia đang xem xiếc trong rạp. Cô diễn viên trẻ đẹp mặc một bộ đồ biểu diễn rất hấp dẫn đang treo toòng teng trên chiếc đu bay! Người vợ bỗng kêu lên: Bên dưới không có gì hết!Anh chồng gật đầu đồng ý. Nhưng sau một lúc nhìn kỹ lại, anh nói: Không phải! Bên dưới có lớp vải màu da người đó chứ! “Tôi muốn nói không có lưới bảo đảm dưới cái đu bay, còn ông đang nói về cái gì vậy hử?”! Thì ra, yêu nhau là cùng nhìn về một hướng nhưng thấy…  khác nhau! Người vợ thì… từ bi,  ông chồng thì… từ ái!</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ riêng nhục nhãn, mắt thịt, đủ lôi thôi rồi!  Nhãn cầu to hơn một chút đã sinh tật cận thị, trông gà hóa cuốc  Giác mạc cong không đều một chút, đã sinh loạn thị, nhìn cái gì cũng méo mó. Rồi loạn sắc, quáng gà… đủ thứ! Rồi cườm nước, cườm khô, bong võng mạc,  thoái hóa hoàng điểm,  hoa đốm hư không, cứ tưởng tại không gian ai ngờ tại mắt mình lão hóa! Khi mất dao thì cái mắt thịt đó thấy người nào cũng giống kẻ ăn cắp dao. Mắt thịt chỉ là một cấu trúc của “tứ đại” giúp ta thấy -  mà không giúp ta biết. Cái  biết nằm ở đằng sau kìa. Nằm ở  vỏ não, ở thùy chẩm kìa. Mắt thịt chỉ tiếp thu ánh sáng, hình thể, màu sắc… rồi dẫn truyền  về cho não phân tích, tổng hợp, so sánh…  Tâm thức thế nào thì vạn pháp thế đó. Mặc sức mà vẽ vời. Mặc sức mà diễn dịch, mà phê phán, nhận xét, rồi chí chóe, rồi  sứt càng mẻ gọng vì những “nhỡn quan” khác nhau! Mắt thịt không có lỗi!  Căn trần gặp nhau tạo ra  “<em>tướng</em>” thì cái tướng cũng không có lỗi! Chính cái tâm ta nhiễu sự, “dán” vào cái tướng đó mới thành cái “<em>tưởng</em>”, mới sinh sự. Mà sinh sự thì sự sinh! Các vị Alahán đựơc gọi là “vô sinh” bởi họ đã được giải thoát!</p>
<p style="text-align: justify;">Vấn đề là chuyển hóa cái tâm đó cách nào, huấn luyện cái tâm đó ra sao, để thấy cho đúng và biết cho đúng. Từ cái tâm “điên đảo mộng tưởng”, cái tâm luôn sinh sự, xuyên tạc, lăng xăng, căng thẳng, mệt mỏi đến cái tâm “vô sinh”, vô sự, vô hành… thảnh thơi vui thú có khó lắm không? Khó, nhưng có thể. Miễn là phải <em>tinh tấn, phải thiền định…</em> để đạt đến trí tuệ.  Khi rèn tập như vậy, dần dà ta có những con mắt… mới!</p>
<p style="text-align: justify;">Thiên nhãn- mắt thần – là những loại… siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp (MRI) bây giờ! Nó cũng là… kính hiển vi điện tử, phóng lớn hằng triệu lần, là viễn vọng kính khổng lồ… nhìn xa hằng triệu năm ánh sáng! Thời Phật chưa có  hiển vi điện tử, chưa có viễn vọng kính, chưa có siêu âm, chụp cắt lớp… vậy mà Phật  vẫn thấy đựơc trong ly nước kia có vô số những vi sinh vật, thấy đựơc tam thiên đại thiên thế giới chớ không phải chỉ mình ta cô độc trên quả địa cầu! Quả là Phật có … thiên nhãn!  Các nhà khoa học thường dừng lại ở thiên nhãn. Bởi họ chỉ lo tìm kiếm, phát hiện những thứ ở bên ngoài mà quên nhìn vào bên trong, khám phá, phát hiện những thứ từ bên trong. Trừ những nhà khoa học cỡ như Einstein. Gần đây có vẻ các nhà vật lý học, các nhà y sinh học, với những tiến bộ khoa học kỹ thuật của mình đã có thể “thấy” ra nhiều chuyện lạ, và họ đã giật mình không ít. Tuệ nhãn là con mắt thứ ba, con mắt <em>bất nhị,</em> con mắt nhìn rõ chân không mà diệu hữu, vô thường, vô ngã. Tuệ nhãn có khi là đủ. Đủ để dừng chân, đủ để quay đầu lại. Đủ để vượt qua “bờ bên kia”. Tủm tỉm cười một mình. Ung dung. Tự tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế nhưng, hình như mọi sự không dừng lại ở đó. Nếu chỉ vậy thì đức Phật có lẽ sẽ quanh quẩn dưới gốc cây bồ đề việc gì phải lặn lội gió mưa đi khất thực và truyền trao giáo pháp suốt cả cụôc đời? Những vị học trò của Phật chắc cũng yên bề tự tại, có đâu buổi truyền trao “gươm báu” nhằm hướng dẫn một lớp trai thiện gái lành dấn thân vào đời làm những vị Bồ tát hôm nay? Cho nên cần có “pháp nhãn”! Con mắt pháp (pháp nhãn)  là một “con mắt” lý tưởng, hoài bão cao đẹp, có phần “lãng mạn” nữa! Muốn vậy họ phải xả thân, phải chí nguyện, và trước hết phải… “chủng ngừa” đầy đủ cho chính mình trước khi xuống núi! Không chủng ngừa đầy đủ, họ dễ bị nhiễm ô, mắc bệnh!  Kinh Kim Cang lụôn nghiêm khắc nhắc nhở chưa có điều này thì chưa xứng danh Bồ tát, chưa có điều kia thì chưa xứng danh Bồ tát ! Có con mắt pháp đó họ mới đủ sức thỏng tay vào chợ. Anh chàng Tất Đạt trong “Câu chuyện của dòng sông” (Hermann Hess, Phùng Khánh dịch) là một điển hình! Một vị sa môn, lăn lóc vào đời, gặp một người đàn bà đẹp, tham gia vào chuyện buôn bán làm ăn, mới đầu mọi thứ  trôi chảy nhưng sau thì… sụp đổ hoàn toàn. Chàng tuyệt vọng, sắp tự tử bên bờ sông, chợt nghe được lời mách bảo của dòng sông mà đại ngộ! Lần này thì “ngộ” thiệt! Lần trước – dưới màu áo sa môn- tưởng ngộ mà chưa ngộ. Thế rồi chàng trở thành một lão già chèo đò, ngày ngày đưa khách sang sông! Có <em>pháp nhãn</em> rồi mới có thể tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên đó vậy!</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà? Như lai hữu Phật nhãn phủ</em>? Tu Bồ Đề, ông nghĩ sao? Như lai có Phật nhãn không? Phật mà không có phật nhãn thì ai có? Nhưng phật nhãn là gì? Là cái thấy cái biết của Phật, là “tri kiến Phật”.  Ba chục năm trước khi chưa đi tu thấy núi là núi, thấy sông là sông, sau nhân theo bậc thiện tri thức chỉ cho chỗ vào, thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông, rồi nay thể nhập chốn yên vui, tịch tĩnh, lại thấy núi là núi, sông là sông… Một thiền sư bộc bạch.</p>
<p style="text-align: justify;">Phật không cần phải tốn nhiều thời gian đến thế, với cái nhìn Phật nhãn, cái “tri kiến Phật” thì núi bao giờ cũng là núi và sông bao giờ cũng là sông. Nhưng đó là một cái núi khác, cái sông khác, cái núi của ‘sắc tức thị không” và cái sông của “không tức thị sắc”, không vướng bận, không dính mắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Bùi Giáng, một thi sĩ thấm đẫm Kim Cang thường hạ những câu “hà dĩ cố” trong thơ có lần viết “ Còn hai con mắt khóc người một con…” mà Trịnh Công Sơn đã nối theo: <em>Còn hai con mắt một con khóc người! Con mắt còn lại…</em>? Ừ, con mắt còn lại thì sao nhỉ? <em>Con mắt còn lại… nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ… Con mắt còn lại là con mắt ai? Con mắt còn lại nhìn tôi… thở dài!</em> “ (TCS). Phải rồi, cái con mắt còn lại quả thực là con mắt gây phiền hà! Nó bị diplobie, nhìn một thành hai! Nhưng người bị diplobie thì nhìn một thành hai giống hệt nhau còn đầu này nó nhìn em…  yêu thương thành em thú dữ, rồi còn “ <em>nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp</em>…”, nghĩa là cái nhìn đầy hận thù, hằn học, “phân biệt đối xử”! Nó như của ai khác- “con mắt còn lại là con mắt ai?”- nó quan sát ta, nhìn ngắm ta  và rồi nó …thở dài thấy mà ghét! Thở dài, bởi nó thấy ta tội nghiệp! Thấy ta đáng đời! “ Ta đã làm chi đời ta?” (VHC); rồi “… đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây…” (TCS). Chi mà khổ rứa? Đó chính là con mắt của “Thức”. Của biện biệt, so sánh, đếm đo. Khi “thức” biến thành “trí” thì mọi chuyện đã khác! Trí là trí tuệ, ở đây là Prajnã, Bát Nhã! Lúc đó,  <em>Con mắt còn lại / nhìn đời là không / nhìn em hư vô/ nhìn em bóng nắng</em>!  <em>Là</em> không, chứ không phải <em>bằng</em> không! Là không, đó là cái không của có, cái có của không. Không bất dị sắc. Không tức thị sắc. Duyên sinh. Vô thường, Vô ngã&#8230;     Tóm lại, còn hai con mắt…” khóc người một con” kia là con mắt của Bi! “Con mắt còn lại nhìn đời là không” này chính là con mắt của Tuệ. Bi mà không có Tuệ (Trí ) thì cứ sẽ khóc hoài, dỗ không nín. Nên cần có con mắt Tuệ để “giải thoát”. Giải thoát cho mình và giải thoát cho người, dĩ nhiên.</p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>(theo Gươm Báu Trao Tay)</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/con-mat-con-lai/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>9</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm…”</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/%e2%80%9cung-vo-so-tru-nhi-sanh-ky-tam%e2%80%a6%e2%80%9d/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/%e2%80%9cung-vo-so-tru-nhi-sanh-ky-tam%e2%80%a6%e2%80%9d/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 07 Jan 2010 04:12:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lõm bõm học Phật]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cang]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2881</guid>
		<description><![CDATA[Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sư “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có phải là câu hay nhất trong kinh Kim Cang không thì Sư nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Một lần nọ, tôi hỏi một vị Sư <strong><em>“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”</em></strong> có phải là câu hay nhất trong kinh Kim Cang không thì Sư nhẹ nhàng bảo không, trong kinh Kim Cang câu nào cũng hay cả! Quả thật dần dần tôi cũng thấy ra kinh Kim Cang chỗ nào cũng hay cả, mà hình như ngày càng hay hơn, nhất là khi… áp dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như Edward Conze nói. Cách viết, cách trình bày từng chữ từng câu trong kinh Kim Cang chặt chẽ, thuyết phục và nói chung là…  hấp dẫn! <span id="more-2881"></span>Tôi bị cuốn hút vào Kim Cang cũng như trước kia với Tâm Kinh. Tâm Kinh- dạy cho Xá Lợi Phất, một đại đệ tử thông tuệ, trí thức nhất của Phật- hình như là để trả lời rốt ráo cho câu hỏi <strong><em>Tại sao,</em></strong> mang tính lý thuyết; còn Kim Cang thì nói cho Tu Bồ Đề, vị đại đệ tử giải <strong><em>không </em></strong>đệ nhất, vô tranh, ưa tĩnh mịch, vốn xưa là người dễ nổi nóng, dễ giận hờn… là để trả lời cho câu hỏi <strong><em>Cách nào</em></strong>?, nhằm hướng dẫn thực hành. Dĩ nhiên những bài giảng này dành cho các đại đệ tử, hoặc các vị tu sĩ, không phải dành cho ta nên ta có lớ ngớ, bỡ ngỡ , chưng hửng cũng là chuyện bình thường thôi! Có điều, lớ ngớ, bỡ ngỡ, chưng hửng lại có cái hay của nó. Nó giúp ta tự thâm nhập, tự phát hiện, tham gia trong quá trình nghiền ngẫm, thử nghiệm, khi thấy tin được thì đem áp dụng vào đời sống hằng ngày để giải quyết những vướng mắc, phiền não chẳng cũng khóai ru? Chẳng hạn câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ai cũng biết, ai cũng đọc như thần chú để an ủi cõi lòng mỗi khi phiền muộn , cũng là câu mà Lục tổ Huệ Năng hơn ngàn năm trước, chỉ nghe lóm mà đại ngộ cũng đáng cho ta nghiền ngẫm miệt mài lắm chứ!  <strong><em>Đừng trụ vào đâu cả để mà sanh cái tâm</em></strong> thì sẽ…sướng, sẽ vui, sẽ hạnh phúc, sẽ thoát mọi “khổ đau ách nạn”. Thật ư?</p>
<p style="text-align: justify;">Đừng trụ vào đâu cả? <strong><em>Đừng trụ vào đâu cả… ư?</em></strong> Ờ, mà có lý! Khi xem hai đội banh xa lạ đụng độ nhau, tôi súyt xoa thưởng thức những đường banh hay đẹp, nhưng khi một trong hai đội là… đội của tôi- tôi là “fan” của họ- thì ôi thôi tôi lo lắng, khổ sở, bực dọc đủ thứ với từng đường banh, từng cầu thủ, trọng tài. Tôi… nguyền rủa, la hét, xỉ vả, rồi mừng rỡ khi đội mình thắng hay ngậm ngùi cay đắng khi đội mình thua!  Ăn mất ngon, ngủ mất yên vì cái đội banh… quái quỷ mà tôi thương mến!</p>
<p style="text-align: justify;">Hai thiền sinh gặp một cô gái ở khúc sông sâu đang lúng túng không dám lội qua. Một vị  tình nguyện cõng cô qua. Trên đường về chùa, vị kia bỗng hỏi:- Làm sao mà một ông sư lại dám cõng trên lưng một cô gái đẹp như vậy chớ? &#8211; Ơ hay, tôi đã “buông” cô ta xuống lâu rồi, còn anh sao vẫn cứ “cõng” cô ta đến bây giờ vậy!</p>
<p style="text-align: justify;">Có nhiều cách cõng. Cõng cô gái là một cách, cõng cái ý tưởng về cõng cô gái là một cách khác. Cô gái thì đã đặt xuống rồi nhưng cái ý tưởng kia thì vẫn còn quấn quít mãi không thôi, có lẽ còn đi vào cả giấc mơ! Người kia thấy cô gái là cô gái, cần giúp thì  giúp. Người nọ, thấy cô gái là cô gái…đẹp, băn khoăn tự hỏi có nên giúp hay không, giúp có phạm quy không, thậm chí còn bần thần “trăm năm biết có duyên gì hay không” nữa không chừng! Người cõng càng lâu thì càng mệt, càng sớm còng lưng! Nhưng đâu có dễ mà bỏ xuống chứ! Nghi Lâm tiểu sư muội cõng Lệnh Hồ huynh đệ bị thương ( truyện Kim Dung) có một phen mà tâm thần bấn lọan dài dài! Cho nên, <strong><em>Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thật không dễ! </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Phật dạy muốn không trụ vào đâu cả (vô sở trụ) thì phải ly <strong><em>tướng</em></strong>, rời bỏ các hình thức, hiện tượng bày vẻ bên ngòai,  vượt qua hiện tựơng để thấy được cái thực chất bên trong. Ly được tất cả các <strong><em>tuớng</em></strong> đã xứng danh là Phật; thấy đựơc các tuớng chẳng phải tướng là đã thấy Như lai! Nhưng làm sao mà ly đây? Thế nên có người lên núi, làm một cái cốc… trong hang động để xa lánh sự đời! Nhưng vẫn chưa ổn chút nào vì cái tâm vẫn cứ còn quậy phá. Rõ ràng ở đây không phải vấn đề trốn chạy, vì chạy đi đâu cho thóat cái tâm chính mình, một khi tâm vẫn chưa an? Khi tâm đã an rồi thì đâu chẳng là… cốc, đâu chẳng là hang động? Cho nên có thể nói chuyển từ “ly tướng” bên ngoài đến… “ly tướng” bên trong là cả một sự chuyển hóa từ lượng sang chất.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>“Thị cố, Tu Bồ Đề ! Chư Bồ tát Ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm…Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!”.</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Vậy đó, Tu Bồ Đề! các vị Đại bồ tát làm như vậy đó mà có được tâm thanh tịnh! Làm như vậy đó là làm làm sao?  Câu trả lời là rời khỏi các tướng, không còn phân biệt ngã nhân, chúng sanh, thọ giả, là tách rời mọi thứ hiện tượng, không để bị mà mắt, bị hút vào những chuyện lăng xăng, ý niệm ngôn từ nọ kia, làm cho người ta vướng mắc, vùng vẫy không ra như mắc vào lưới cá! Những vị Đại bồ tát đó đã thực hành bố thí kiểu mới, bố thí không dính mắc; trì giới, nhẫn nhục kiểu mới… và dĩ nhiên cũng đã có tuệ giác kiểu mới, vượt lên, vượt qua, vượt ra… Gaté, gaté, paragaté!</p>
<p style="text-align: justify;">Kinh Duy Ma Cật kể có một lần kia, trong một buổi họp mặt giữa các vị Bồ tát, các vị  đựơc người ta tung hoa đầy người &#8211; giống như các <strong><em>fan</em></strong> hâm mộ tung <em><strong>confetti </strong></em>vào thần tượng của mình bây giờ- thì đa số các vị người nào cũng bị dính,  trừ các Đại bồ tát! Nên nhớ, các vị Đại…Bồ tát! Chớ còn Tiểu… bồ tát hoặc Bồ tát… sơ sơ thì có dính confetti chút đỉnh cũng không sao. Từ từ mà gỡ. Đừng nóng vội! Đại Bồ tát thì… trơn tuột, không còn cái gì có thể dính được nữa!  Kim Cang viết thật súc tích, chặt chẽ: Vì Đại Bồ tát là những vị đã <strong><em>thật</em></strong> vô sở đắc, <em><strong>thật</strong></em> vô sở hành…  Những chữ “thật” đó khiến ta không khỏi giật mình.  Họ hiều lời Phật dạy là chiếc bè giúp qua sông; hiểu ngón tay Phật chỉ là để nhìn thấy trăng chớ không phải trăng…  Tóm lại, tâm họ đã hoàn toàn “vô sở trụ”, không trụ vào đâu cả, không dính mắc vào đâu cả ! Không trụ vào đâu cả thì chỉ còn có một chỗ để trụ ấy là…  tự tại! Quán Tự tại Bồ tát…hành thâm Bát nhã…!</p>
<p style="text-align: justify;">“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, Trần Nhân Tông, sư tổ Trúc Lâm đã nói đến cái <strong><em>vô tâm</em></strong> như vậy từ bảy trăm năm trước, còn Lục tổ Huệ Năng, thì hơn một ngàn ba trăm năm trước cũng đã nói đến <strong><em>vô niệm</em></strong>. Dĩ nhiên vô tâm không phải là không có tâm, không còn tâm, cũng như vô niệm không phải là không có niệm, không còn niệm. Vô niệm, vô tâm thực ra chỉ có nghĩa là cái tâm trong sáng, cái niệm thanh tịnh, đã hoàn toàn không còn phân biệt, không còn dính mắc (chấp trước). Trần Nhân Tông vẫn xuống núi, đánh đuổi quân Nguyên, nhưng khi xong giặc thì trở về núi tu tiếp, không “dính mắc” chi nữa! Còn Huệ Năng, “ngộ” rồi mà vẫn lẩn trong đám thợ săn hằng chục năm để tu rèn và giúp đỡ người. Cho nên tâm cứ sanh miễn là tâm thiện, tâm có ích cho mình, cho đời.  “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” cũng chính là “Ưng sanh kỳ tâm nhi… vô sở trụ” vậy! Đâu có bảo phải dập tắt tâm đi, thui chột tâm đi, tiêu diệt tâm đi để trở thành sỏi đá hay người ngơ ngáo tâm thần sao? Mà <strong><em>“ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”(TCS) kia mà! </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Tu Bồ Đề hào hứng hỏi: Thưa Thế tôn, vậy xin hỏi kinh này có tên gọi là gì và phụng trì ra sao? Phật nói: Kinh này gọi là Kim Cang Bát nhã Balamật. Nói xong hình như Phật giật mình, coi chừng, không khéo họ lại… “trụ” vào nữa thì hỏng bét! Phật bèn nói tiếp:  Bát Nhã Balamật không phải là Bát Nhã Balamật nên mới gọi là Bát Nhã Balamật vậy!</p>
<p style="text-align: right;"><strong><em>Đỗ Hồng Ngọc<br />
(trích Gươm Báu Trao Tay)</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/%e2%80%9cung-vo-so-tru-nhi-sanh-ky-tam%e2%80%a6%e2%80%9d/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>16</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gươm báu trao tay</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/guom-bau-trao-tay/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/guom-bau-trao-tay/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Oct 2009 03:27:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cang Bát nhã]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2612</guid>
		<description><![CDATA[(Viết về Kim Cang Bát nhã, tiếp theo Lên đường) Tu Bồ Đề đang ngồi giữa “hội trường” bỗng đứng phắt dậy cung kính chắp tay cúi chào đức Phật và lớn tiếng ca ngợi: “Thật là tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu!. Thật xưa nay chưa từng có. Như Lai đã khéo dạy dỗ, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><!-- 		@page { margin: 0.79in } 		P { margin-bottom: 0.08in } --></p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY"><em>(Viết về Kim Cang Bát nhã, tiếp theo <strong>Lên đường</strong>)</em></p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Tu Bồ Đề đang ngồi giữa “hội trường” bỗng đứng phắt dậy cung kính chắp tay cúi chào đức Phật và lớn tiếng ca ngợi: “Thật là tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu!. Thật xưa nay chưa từng có. Như Lai đã khéo dạy dỗ, khéo giúp đỡ, khéo truyền trao, khéo phó chúc cho các vị Bồ tát”. Đọc tới đây tôi lại một phen chưng hửng! Bởi Tu Bồ Đề nào phải là ai xa lạ. Ông là một trong mười vị đại đệ tử của Phật, một bậc Alahán, người nổi tiếng ưa hạnh lan nhã, độc cư, người giải <em>Không</em> đệ nhất. Thế mà trong hội chúng này, ông lên tiếng nghe có vẻ gì đó như…  ganh tị với các vị Bồ tát! Nào các vị Bồ tát… “vui” nhé,</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY"><span id="more-2612"></span></p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">đựơc đức Phật “cưng” nhé, đựơc Như Lai quan tâm giúp đỡ, tin cậy gởi gấm và hôm nay còn được trực tiếp trao truyền một cách khéo léo như thế nhé! Làm như xưa giờ đức Phật chẳng hề dạy cho quý vị, chẳng hề tin cậy, giúp đỡ qúy vị, vốn là những đại đệ tử gần gũi nhất của Phật vậy! Lúc đầu tôi chưng hửng, sau thấy hình như không phải vậy! Alahán đã là những bậc <em>vô sanh</em>, lẽ nào lại “sanh sự”, lẽ nào lại đi ganh tị  chứ! Có thể đây là một buổi thuyết giảng quan trọng dành riêng cho các vị Bồ tát- những vị tuy đã giác ngộ nhưng vẫn hãy còn là chúng sinh- đang chuẩn bị lao vào thế giới khổ đau để giúp đỡ mọi người. Trong thính chúng, có những vị đã là Bồ tát nhưng cũng có những vị mới “phát tâm”, tu sĩ cũng như cư sĩ, cả nam lẫn nữ, thậm chí chưa phải đã “tự giác” hoàn toàn nhưng vẫn sẵn sàng “giác tha” để qua đó tu rèn học tập thêm. Bồ tát với chí nguyện sẵn sàng dấn thân vào đời, cứu nhân độ thế, là một thế hệ học trò mới của đức Phật- vào thời  thuyết giảng Kim Cang. <em>“Chín tầng gươm báu trao tay / Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh”</em> (CPN) chăng? Gươm báu? Đúng vậy. Thanh gươm trao truyền ở đây là thanh gươm sắc bén nhất, gươm được làm bằng kim cương, có thể dùng để chặt đứt tất cả những khổ đau ách nạn của kiếp người. Việc làm này được giao phó cho các vị Bồ tát “tương lai”, những trai thiện gái lành tự nguyện, chí nguyện, dấn thân vào đời với lòng nhiệt tình, hăng say  để truyền bá đạo giải thóat. Còn với những vị đã là những bậc “chân nhân” đã dứt hết phiền trựơc, đã “đặt gánh nặng xuống” thì tùy, có thể dấn thân vào đời hay tiếp tục tu hành để giữ ngọn đuốc sáng của suối nguồn cũng hay.. Tôi nhớ đọc đâu đó câu này: when the source is deep, the stream is long. Nguồn có sâu thì dòng chảy mới dài! Còn “xuất chinh”? Phải, xuất chinh ở đây không phải là đi đánh Nam dẹp Bắc, chiếm đất giành dân gì cả mà là chiến đấu với chính mình, với giặc tham sân si trong mỗi con người. Lão Tử chẳng đã nói” Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường” đó sao? Thắng mình mới khó. Cho nên phải có gươm báu trao tay!  Cái cách  Tu Bồ Đề ngợi ca Phật đã khéo truyền trao, khéo quan tâm, khéo gởi gắm… hình như đã nói lên điều đó. Đó là cách mà ngày nay người ta gọi là tạo động cơ, “motivation”, trong giáo dục chủ động. Học trò có động cơ học tập thì học mới tốt, còn không rất dễ…ngủ gục! Hẳn là mọi người có mặt trong hội trường đều giật mình, và nhờ đó tâm hồn rộng mở, háo hức đón nhận những lời giáo huấn. Ai cũng tự hứa với lòng sẽ ráng  để thành một “Bồ tát”, xứng đáng với sự tin cậy phó thác của đức Phật.</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Tu Bồ Đề liền đặt câu hỏi <em>“ Thưa Thế tôn, người trai thiện, người gái lành, muốn trở thành một bậc Giác Ngộ thì phải làm thế nào để an trụ tâm, làm thế nào để hàng phục tâm?”</em></p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY"><em><br />
</em></p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Một câu hỏi cho đến hơn hai ngàn năm trăm năm sau vẫn còn như vang vọng! Nhất là trong thời buổi hiện nay, thời buổi toàn cầu hóa, “thế giới phẳng” gì gì đó đã đầy con người vào những cuộc tranh chấp khốc liệt, tranh giành quyền lực, quyền lợi, dẫn đến chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai… như ta đã thấy. Chưa bao giờ tâm con người ta lại “hừng hực” lên như thế, chưa bao giờ tâm con người ta lại “bấn xúc xích” lên như thế!</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Vâng, để Giác Ngộ, chỉ cần xoáy vào một chữ tâm đó thôi. Chỉ cần an trụ, chỉ cần hàng phục được cái tâm đó là xong! Nghĩa là trở thành một bậc Giác ngộ, ngang hàng với Phật, bởi Phật nói, phàm phu là Phật chưa giác ngộ, còn Phật là …phàm phu đã giác ngộ. Thế thôi. Chỉ có thế. Chỉ cần thế. Mọi thứ quấy rối cuộc đời, mọi thứ khổ đau ách nạn đều do cái tâm mà ra nên chỉ cần “xỏ mũi” nó, kéo nó lại, dạy dỗ nó, trừng trị nó –nói khác đi là hàng phục nó như hàng phục một con ngựa chứng, một con trâu điên- rồi…an trú nó vào một chỗ nào đó, đừng cho nó quậy phá nữa là xong! Tưởng dễ mà không dễ! Cái tâm đó coi vậy mà khó dạy, khó trị, khó hàng phục, khó an trú vô cùng! Giỏi như Thái thượng Lão quân mà thỉnh thoảng con trâu của ngài cỡi cũng sút chuồng lén xuống trần làm bậy, quậy phá tưng bừng. Con trâu này vốn còn đựơc ngửi mùi linh đan diệu dược của Ngài nên càng ghê gớm hơn nữa!  Tôn Ngộ Không có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa mà cũng đành bó tay, cũng hết thuốc chữa, phải nhờ đến Quan Âm Bồ tát mới xong!</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Một điều thú vị ở đây là Tu Bồ Đề nói đến người trai thiện, người gái lành (<em> thiện nam tử, thiện nữ nhơn</em>) chứ không nói đến bất cứ trai nào, gái nào. Thì ra đó là điều kiện tiên quyết. Phải tốt phải lành cái đã rồi mới tính chuyện trở thành Bồ tát được!  Bởi con đường giác ngộ của Phật kỳ cục quá, lạ lùng quá, tuy là tuyệt diệu mà nói ra sẽ chẳng mấy ai tin, cũng chẳng dễ làm theo. Cho nên lúc đầu Phật đắn đo ngần ngại khá lâu mới chịu chuyển bánh xe pháp! Rõ ràng, một lần nữa, ta thấy Tu Bồ Đề dùng kỹ thuật tạo “motivation”, tạo môi trường thuận lợi cho việc truyền trao gươm báu của buổi hôm nay.  Một điểm nữa cũng rất thú vị:  không có chuyện kỳ thị giới tính, không có chuyện bất bình đẵng giới ở đây! Cả nam lẫn nữ, ai cũng có thể trở thành Bồ tát. Hơn hai ngàn năm trăm năm rồi đó!</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Phật liền trả lời Tu Bồ Đề “Tốt lắm, tốt lắm! .Đúng như ông nói đó, Ta đã hết lòng giúp đỡ, hết lòng tin cậy, gởi gấm cho các vị Bồ tát!”. Được lời như cỡi tấc lòng! Không phải chỉ Tu Bồ Đề nói mà Phật cũng xác nhận nhé! Vậy thì lẽ nào chư vị còn dám lơ là! Không khí hội trường lúc đó có lẽ đã hoàn toàn khác, đã đủ chín muồi.</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">“Này Tu Bồ Đề, ông hãy lắng tai nghe cho kỹ (<em>đế thính</em>) đây”. Lắng nghe (listening) là  kỹ năng hàng đầu trong tham vấn (counselling) tâm lý ngày nay. Lắng nghe, không phải là nghe hời hợt ngoài tai.mà là nghe với tất cả tâm hồn, tất cả thân xác. Người biết lắng nghe là người nghiêng mình về phía người nói, nhìn vào mắt người nói, gật gù những chỗ tâm đắc, hỏi lại nếu cần và biết phản ánh,  lặp lại với những câu chữ khác xem có đúng nội dung diễn đạt không. Một người biết lắng nghe là người có tâm hồn đồng cảm, chìm ngập, tràn dâng cảm xúc! Ta hiểu vì sao trong Kim Cang, Tu Bồ Đề, vị Alahan vô sanh là vậy mà cũng nước mắt rơi lã chã! Chữ “đế” ở đây còn có nghĩa là “thẩm xét”, suy xét cho thấu đáo, không thể chỉ nghe, tin một cách hời hợt được.  Khi học Phật, thú vị nhất là Phật không “áp đặt” bao giờ, lúc nào cũng bảo ta chớ vội tin, hãy suy xét cho kỹ, tìm tòi cho thấu đáo, và thực hành cho miên mật để rồi tự mình phát hiện, tự mình “kiểm nghiệm”, tự mình chứng nghiệm lấy.</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Để ý  thêm chút nữa, ta thấy dường như ở đây Phật chỉ nói riêng cho Tu Bồ Đề, với Tu Bồ Đề thôi. “ Ta sẽ vì ông mà nói”. <em>Đương vị nhữ thuyết</em>. Có nghĩa là không phải với bất cứ ai ta cũng nói được điều này. Vì ông đã biết đặt ra một câu hỏi cốt lõi, rốt ráo… như vậy nên ta mới nói riêng cho ông biết: “Người trai thiện, người gái lành, muốn trở thành bậc Giác ngộ thì cứ làm …như vầy, như vầy…”! Hãy nghĩ xem, trong tình huống đó mọi người sẽ chăm chú, sẽ dóng tai lên mà nghe như thế nào! Tất cả mọi người trong hội trường trở thành người học…lóm. Học… lóm là một cách học…hay! Lục tổ Huệ Năng đã từng học lóm như vậy ngay khi đã vào chùa, ngày ngày giã gạo , bửa củi, nấu cơm. Nhờ vậy mà ông thấy ngay <em>“Bản lai vô nhất vật”</em> trong khi những người khác còn loay hoay tìm kiếm! Cách nói “Hãy làm như vầy…như vầy…” thường gặp trong truyện xưa, mỗi khi có điều gì cần riêng tư, bí mật, càng gây thêm một sự tò mò muốn biết, muốn nghe. Phải chăng đó chính là kỹ thuật truyền trao đặc biệt của Kim Cang? Phật và Tu Bồ Đề có lẽ đang sắm vai, “role playing”, một cách tuyệt vời của phương pháp giáo dục chủ động rất hiện đại đó chăng?</p>
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">
<p style="margin-bottom: 0in;" align="JUSTIFY">Tu Bồ Đề hớn hở: Xin vâng, xin vâng, con đang rất muốn nghe đây!</p>
<p style="margin-bottom: 0in; text-align: justify;">
<p style="margin-bottom: 0in; text-align: justify;"><em>(còn tiềp)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/guom-bau-trao-tay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gươm Báu Trao Tay</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/g%c6%b0%c6%a1m-bau-trao-tay/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/g%c6%b0%c6%a1m-bau-trao-tay/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 08 Oct 2009 02:50:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Kim Cang Bát nhã]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=2620</guid>
		<description><![CDATA[Hiền huynh thương mến Congratulations. Bài Gươm Báu Trao Tay diễn tả được cái ngộ của hiền huynh trên con đường khám phá ý nghĩa sâu diệu trong kinh Kim Cang. Từ cái ngạc nhiên này đến cái ngạc nhiên khác. Đó há chẳng phải là thái độ của trẻ sơ sanh, của “tờ giấy [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Hiền huynh thương mến</strong></p>
<p><strong><em>Congratulations.</em></strong></p>
<p>Bài Gươm Báu Trao Tay diễn tả được cái ngộ của hiền huynh trên con đường khám phá ý nghĩa sâu diệu trong kinh Kim Cang. Từ cái ngạc nhiên này đến cái ngạc nhiên khác. Đó há chẳng phải là thái độ của trẻ sơ sanh, của “tờ giấy trắng” hay “cốc trà cạn đáy” hay sao? Mắt mở lớn, tâm mở rộng, tai vểnh lên. Để nghe, để hít thở, để cảm nhận cái “như lai”. Tiếp nhận nhưng vẫn để tâm rỗng, vẫn để tờ giấy trắng trơn, vẫn để cốc trà cạn đáy.</p>
<p><span id="more-2620"></span></p>
<p><em><strong>Vì vô tự mà, giữ làm gì. Như lai mà, đến rồi đi.</strong></em></p>
<p>Người đọc chắc sẽ còn thích thú đọc tiếp những cảm nhận của anh, những cái ngộ trong trắng, tinh khôi của anh trong những ngày sắp tới, khi anh cảm nhận được, khám phá được qua “hành”, bổ xung cho những khám phá qua “tri”.</p>
<p>Có lẽ không phải là sự ngẫu nhiên, mà người ta khắc “pháp luân” dưới lòng bàn chân của các tượng Phật. Và có lẽ cũng không phải là không có ý nghĩa khi Phật không để lại một “văn tự” nào, để cho người sau này khám phá được chân kinh chính “vô tự”.</p>
<p><img class="aligncenter size-full wp-image-2628" title="img037" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/10/img037.jpg" alt="img037" /><br />
Và có lẽ cũng không ngạc nhiên, khi Phật trả lời các câu hỏi, Phật vẫn thường gọi tên người hỏi để giải thích, trình bày câu giải đáp. Ngày nay, trong thuật ăn nói trước công chúng, và thường thấy trong các buổi họp báo của các nhà chính trị nổi tiếng, ta vẫn để ý nghe thấy họ gọi tên người hỏi để trả lời, khiến người tiếp nhận câu trả lời biết là câu hỏi mình được lắng nghe.</p>
<p>Trong trường hợp đối đáp của Phật với người hỏi, ta không khỏi cảm nhận được tâm vi diệu của Phật muốn đưa ra lời giải đáp hợp với căn cơ người hỏi câu hỏi đó. Cáchgiải thích khác nhau tuỳ theo người đó là nông dân chỉ quan tâm đến mùa màng, hạnh phúc cá nhân; hay là người có học muốn tranh luận triết lý, hay là người tu muốn tìm cách giải thoát.</p>
<p>Và trong quá trình Phật chuyển pháp luân (hành), nhiều người đã “chấp” cho là lòi giải thích của Phật ở thời điểm đó, đối với người đó, nhân cơ hội đó, là “chân kinh” qua nhiều tên khác nhau như Kim Cang, Pháp Hoa, Liên Hoa, Đại Bát Niết Bàn v.v….</p>
<p>Nhưng rốt ráo, chân kinh là vô tự. Kim Cang không phải là chân kinh, nếu ta “chấp” đó là chân kinh. Pháp Hoa không phải là chân kinh, nếu ta chấp đó là chân kinh. Đó chỉ là những góp nhặt theo trí nhớ, theo căn cơ của những người nghe những lời giải thích của Phật lúc đó, cho một người, một nhóm nào đó, trong một trường hợp nào đó. Khi Huệ Năng đi ngang qua chùa, nghe thoáng qua câu kinh, đã ngộ ngay. Huệ Năng ngộ không phải vì nhận ra đó là kinh Kim Cang. Huệ Năng ngộ vì đó là lời “vô tự”, là cái hoa Phật đưa lên, và Huệ Năng đã mĩm cười được ngay. Kinh chỉ là phương tiện, như chuyến đò qua sông. Qua rồi, ta không vác theo con đò đó. Mong các bạn trẻ trên đường khám phá sẽ không chấp kinh nào hơn kinh nào, nhưng sẽ tìm được pháp thích hợp giúp mình khám phá được những gì đang có đó nhưng mình chưa cảm nhận được. Trong nhà thuốc có nhiều thuốc trị nhức đầu, nhưng mỗi người hợp loại thuốc khác nhau.</p>
<p><em><strong>“Chín tầng gươm báu trao tay, Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh” </strong></em>cho ta liên tưởng đến ba cái gõ trên bàn của sư phụ, khiến Huệ Năng tìm đến sư phụ vào canh ba, để nghe lời dặn dò, nhận áo và bình bát, để ra đi và chờ đến 16 năm sau, nhân “phướn động”, mới “xuất chinh”, đăng đàn giảng pháp.</p>
<p>Bài <strong><em>Gươm Báu Trao Tay </em></strong>lần này có tính cách văn chương bác học với nhiều dẫn dụ tiếng Hán làm cho súc tích và “evidence‐based” essay, có tính cách thuyết phục qua các nhận xét dí dõm. Mong sao cho giới trẻ vẫn theo được, dù có lẽ thích câu văn bình dân hơn, dí dõm, sẽ nắm bắt được cái ngộ của bác sĩ/ nhà văn, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Ngọc, vui theo cái vui, sảng khoái theo cái sảng khoái của hiền huynh khi khám phá điều mới, vỗ đùi một cái “thì ra vậy”.</p>
<p>Vài hàng nhận xét với lòng cám ơn hiền huynh cho đệ cái duyên chia sẻ sự khám phá tinh khôi của hiền huynh.</p>
<p><em><strong>Ngu đệ dũng</strong><br />
Canberra tháng bảy 2008</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/g%c6%b0%c6%a1m-bau-trao-tay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Con mắt thứ ba</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/con-mat-thu-ba/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/con-mat-thu-ba/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 15 Jul 2009 10:11:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support2</dc:creator>
				<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[Con mat thu ba]]></category>
		<category><![CDATA[Con mắt thứ ba]]></category>
		<category><![CDATA[Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=1999</guid>
		<description><![CDATA[Khi thấy Tu Bồ Đề và mọi người trong thính chúng có vẻ như hả hê vì đã đựơc chỉ dạy xong cách hàng phục tâm, thì Phật đã vội gọi: Lại nữa! Này Tu bồ Đề!  khiến cho mọi người sực tỉnh. Lại nữa ư? Chưa xong, chưa hết ư? Còn nhiều chuyện quan [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img class="alignleft size-full wp-image-2028" title="con mat thu 3" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2009/07/con-mat-thu-3.jpg" alt="con mat thu 3" width="211" height="202" />Khi thấy Tu Bồ Đề và mọi người trong thính chúng có vẻ như hả hê vì đã đựơc chỉ dạy xong cách hàng phục tâm, thì Phật đã vội gọi: Lại nữa! Này Tu bồ Đề!  khiến cho mọi người sực tỉnh. Lại nữa ư? Chưa xong, chưa hết ư? Còn nhiều chuyện quan trọng nữa ư? Đúng vậy, Phục thứ, Tu Bồ Đề. Bồ tát ư pháp, ưng vô sở trụ hành ư bố thí!  Bồ tát ở trong pháp, đừng trụ vào đâu cả để làm việc bố thí!</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi lại một phen chưng hửng! Bổ tát ở trong pháp? Pháp gì? Ưng vô sở trụ bố thí là bố thí làm sao? Tự dưng đang  bàn chuyện diệt độ chúng sanh, chuyện thiền định vô ngã cao xa vời vợi bỗng nhảy đùng vào chuyện xin cho, chuyện cơm áo gạo tiền, chuyện bố thí này nọ?</p>
<p style="text-align: justify;"><span id="more-1999"></span></p>
<p style="text-align: justify;">Đọc kinh sách, chúng ta dễ bối rối khi thấy từ “pháp” có lúc là cách thế, là phương pháp, có lúc lại là một trong lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp! Bồ tát ở trong pháp, thì pháp đây là phương pháp, là cách thế. Có sáu cách thế giúp rèn luyện để trở thành một vị Bồ tát gọi là Lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Bố thí là yếu tố thứ nhất,  đựơc nói đến đầu tiên ở đây! Bố thí là cửa ngõ dễ nhất – ai cũng có thể làm được- mà cũng là khó nhất, không phải ai cũng làm được!</p>
<p style="text-align: justify;">Với hai câu hỏi của Tu Bồ Đề “Làm cách nào để an trụ tâm? Làm cách nào để hàng phục tâm?” thì Phật đã chỉ dạy cách hàng phục trước. Hàng phục thì… dễ, dạy trước, an trụ khó, dạy sau. Rõ ràng cái tâm viên ý mã, cái tâm quậy phá, như ngựa chứng, như trâu điên sức mấy mà an trụ được nếu chưa hàng phục! Hàng phục là trị nó, là làm cho nó quy hàng, làm cho nó chịu phép, bấy giờ mới tính chuyện “an trú” nó, cho nó ra đảo hoang  hay vào rừng sâu. Cũng như người ta phải bắn thuốc mê để hàng phục mấy con voi điên ở rừng Tánh Linh dạo nọ trước khi chở nó lên Darlak để tiếp tục thuần hóa nó,  làm  cho nó ngoan ngoãn và trở nên hữu ích ?</p>
<p style="text-align: justify;">Hàng phục… không khó, nhưng là bước căn bản, không có không xong! Chỉ cần giới và định là đủ. Giới và định thì hình như những người có mặt trong buổi truyền trao “gươm báu” này ai cũng đã quen thuộc, nhiều người thậm chí còn có “chức danh” này khác! Nhưng sao tâm vẫn chưa an?  Vẫn thấy còn nhộn nhạo? Ấy là bởi thuốc chưa đủ mạnh, trị chưa tận gốc, cần phối hợp với một thứ thuốc đặc trị mạnh hơn, đó là Tuệ! Có giới, định mà thiếu tuệ vẫn chưa xong, bệnh vẫn còn tái phát. Hàng phục mà chưa an trụ cũng vậy!</p>
<p style="text-align: justify;">“Bồ tát ư pháp, ưng vô sở trụ hành ư bố thí”! Muốn an trụ tâm ư? Dễ lắm! Thì đừng có trụ vào đâu cả! “Ưng vô sở trụ” là xong hết! Đừng trụ vào đâu cả thì sẽ được an trụ? Câu nói nghe lạ, nhưng tuyệt diệu! Muốn an tâm ư? Thì hãy vô tâm! Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền (Trần NhânTông). Vô tâm ở đây không phải là bỏ mặc, là mặc kệ! Không phải thế. Trần Nhân Tông đã rời bỏ vương triều, đi tu trên núi Yên tử, vậy mà khi quân Nguyên sang xâm lấn nước ta, nhà sư đâu có mặc kệ, ông tức khắc xuống núi, bày mưu tính kế, góp sức đánh đuổi ngoại xâm. Cái “vô tâm’ của ông là ở chỗ đánh đuổi xong giặc thì xoa tay, về núi tu tiếp. Muốn an trụ thì vô trụ, muốn an tâm thì vô tâm. Đơn giản vậy.  Lục tổ Huệ Năng chỉ nghe lóm một câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà ngộ, còn ta sao cứ mãi mịt mờ! Ấy là bởi ta còn ham “dính mắc”, ham tích cóp hơn là từ bỏ, buông xả, bố thí !</p>
<p style="text-align: justify;">Phật nói rõ hơn: vô sở trụ nghĩa là…  đừng có trụ vào sắc bố thí, đừng có trụ  vào thanh, hương, vị, xúc, pháp… Tóm lại đừng có trụ vào tướng! Bất trụ tướng bố thí. Trụ là dựa, là dính, là mắc. Bố thí mà dính mà mắc, mà dựa vào “tướng”, vào hình thức thì chưa phải là bố thí đúng nghĩa! Bố thí mà còn thấy có kẻ cho người nhận, có quay TV để lăng xê tên tuổi, để hù thiên hạ, để “đầu tư” kiếm danh, kiếm lợi, kiếm phước thì chưa phải bố thí đúng nghĩa. Đúng nghĩa là bố thí…bất vụ lợi, bố thì không thấy có ta có người có vật bố thì, bố thí đựơc như vậy mới… thực là hạnh phúc. Đó là cách bố thí vô ngã, bố thí không dính mắc, không toan tính. Một đời lận đận đo rồi đếm/ Mỏi gối người đi đứng lại ngồi! (Bùi Giáng). Cáí bố thí mà Phật dạy để có Tuệ chính là cái bố thí vượt qua, vượt ra, vượt lên, bố thí ở bờ bên kia, bờ của tuệ giác, bố thí balamật đó vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiếng Hán khá thú vị. Ghép chữ mộc là cây (trần) với mục là mắt (căn) thành “tướng”.  Lục trần khi tiếp xúc với lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý),nhất là khi có tâm dính vào thì thành “tưởng”, tạo ra đủ thứ chuyện! Như các chàng Đào cốc lục tiên trong tiểu thuyết  Kim Dung, ngớ ngớ ngẩn ngẩn, chịu sự sai khiến của người khác, lúc vầy lúc khác, lúc thông thái lúc điên rồ, tranh cãi nhau chí chóe lọan xạ suốt ngày. Người mới  tu thuờng tìm đến núi cao rừng rậm cho khuất mắt, khỏi bận lòng. Họ lánh trần, ly trần (chớ không phải lìa trần) là để không sanh sự nữa. Người đắc đạo rồi thì thỏng tay vào chợ! Khi Lệnh hồ huynh đệ học được Dịch cân kinh chính truyền rồi thì không còn sợ Đào cốc lục tiên nữa, họ trở thành bạn chí cốt của nhau!</p>
<p style="text-align: justify;">Dò sông dó biển dễ dò. Đừng coi mặt mà bắt hình dong!Thấy vậy mà không phải vậy! Dựa vào “tướng” thì dễ vỡ mộng! Lầm chết! Phật cho một thí dụ cụ thể: Thiên hạ nói Phật có 32 tướng tốt, vậy ai có đủ 32 tướng tốt đều có thể coi là Phật chăng? Biết bao lần Đường Tăng lầm chết người như thế! Cả Trư Bát Giới, Sa Tăng cũng hì hục lạy yêu quái. Trừ lão Tôn, nhờ con mắt thứ ba, lão Tôn trợn lên một cái thì… vượt qua tướng, thấy cái thực chất, cái tánh bên trong! Hình thức không gạt đựơc lão Tôn! Phật dặn đi dặn lại: Đừng có lấy hình sắc mà tưởng Ta, đừng có lấy âm thanh mà cầu Ta… ! Thời buổi bây giờ người ta… gạt nhau hơi nhiều! Người khôn ăn bòn kẻ dại. Quảng cáo nghe bùi tai, tiếp thị thấy sướng mắt… Thỉnh thoảng cũng nên trợn con mắt thứ ba lên một cái!</p>
<p style="text-align: justify;">Điều cần nhớ là Phật dạy “bất trụ tướng bố thí”, “vô sở trụ hành ư bố thí”  chớ không phải không bố thí. Vẫn có bố thí, vẫn còn bố thí, vẫn cần bố thí. Miếng khi đói bằng gói khi no. “Bố thí” cách thế sống hạnh phúc, không lo âu, sợ hãi, là cái mà Phật gởi gấm, tin tưởng vào các vị Bồ tát sẽ “ vị tha nhơn thuyết”, dù một chữ một câu, dù tứ cú kệ đẳng…</p>
<p style="text-align: justify;">Bố thí đã vậy thì các “độ” khác cũng phải vậy! “Ưng vô sở trụ hành ư bố thí” thì cũng phải ưng vô sở trụ hành ư trì giới, ưng vô sở trụ hành ư nhẫn nhục v.v… Không chỉ Bố thí đừng trụ, đừng dính mắc mà trì giới cũng đừng trụ,  đừng dính mắc! Quả là không dễ! Không dễ nên mới phải tu, phải rèn, phải luyện dài lâu!<br />
( trích Gươm Báu Trao Tay ).</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/con-mat-thu-ba/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lên đường</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/len-duong/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/len-duong/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 06 May 2009 18:15:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>support1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm báu trao tay]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>
		<category><![CDATA[Guom Bau Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Gươm Báu Trao Tay]]></category>
		<category><![CDATA[Lên đường]]></category>
		<category><![CDATA[Len duong]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/?p=342</guid>
		<description><![CDATA[Khi tiếp cận với Kim Cang, tôi bỡ ngỡ và chưng hửng không ít. Lâu nay cứ nghe người ta đọc câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” như một câu thần chú để quên đi bao nội muộn phiền, rồi đọc Lục tổ Huệ Năng cũng thấy ngài kể chuyện một hôm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img class="alignleft size-full wp-image-346" title="guombautraotay" src="http://www.dohongngoc.com/wp/wp-content/uploads/2009/05/guombautraotay.jpg" alt="guombautraotay" width="180" height="164" />Khi tiếp cận với Kim Cang, tôi bỡ ngỡ và chưng hửng không ít. Lâu nay cứ nghe người ta đọc câu <em>“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”</em> như một câu thần chú để quên đi bao nội muộn phiền, rồi đọc Lục tổ Huệ Năng cũng thấy ngài kể chuyện một hôm đi bán củi, chỉ nghe lóm người ta đọc có câu kinh đó thôi mà đại ngộ, thế mà mình càng nghe càng mơ hồ, mù tịt. Sau khi viết “Nghĩ Từ Trái Tim,” ghi lại những cảm nghĩ của mình về Tâm Kinh Bát Nhã, tôi thấy hình như mình cũng có được đôi chút hiểu biết nhưng vẫn còn lờ mờ nên muốn tiếp tục tìm hiểu thêm các kinh sách khác của Phật may ra sáng tỏ thêm chút gì chăng và nhờ đó mà có niềm tin để thực hành thấu đáo. Bởi biết là một chuyện, hiểu là một chuyện, còn từ biết đến tin đến làm và duy trì hành vi, nhận thức không phải dễ dàng. Cho nên trong Tâm Kinh, khi Bồ Tát Quán Tự Tại “hành thâm Bát Nhã” thấy được “ngũ uẩn giai không,” thoát mọi khổ đau ách nạn mừng rỡ reo lên “Bồ đề, Tát-bà-ha!” thì Phật đã cảnh giác: Phải tiếp tục hành thâm. Hành thâm nữa. Chưa ăn thua gì đâu. Không được tự mãn. Không được lơ là.</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Tôi học Kim Cang không ngờ cũng thấy ghiền như khi học Tâm Kinh ngày trước. Đôi khi giật mình, đôi khi sửng sốt, đôi khi bỡ ngỡ, đôi khi chưng hửng. Các kinh sách dù có nhiều truyền bản, nhưng rõ ràng là có một sự nhất quán, xuyên suốt, chỉ khác cách tiếp cận tùy “đối tượng đích” mà cách truyền đạt khác nhau chớ nguyên lý vẫn là một. Nắm được cái cốt lõi có thể bớt hoang mang, thấy được “chỗ vào” chăng?<span id="more-342"></span></p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Cái điều bỡ ngỡ và chưng hửng đầu tiên khi học Kim Cang là hy vọng được đọc, được nghe những lời hay ý đẹp, những khuôn vàng thước ngọc, những bài giảng uyên áo. Thế mà, trời ạ, Kim Cang lại đi kể ngay một chuyện rất đỗi bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường nữa, chẳng ăn nhập vào đâu, đó là chuyện Phật tới giờ ăn, đói bụng, bèn mặc áo, ôm bình bát đi… khất thực, chẳng thèm nói lấy một tiếng, chẳng thèm ra oai tằng hắng lấy một tiếng! Nghĩ mà coi, giữa lúc có hằng ngàn người, cả các vị Đại Bồ Tát, A La Hán, các vị “chức sắc” và các đại đệ tử thân tín ngồi hồi hộp chờ nghe những lời giáo huấn sâu xa thì Phật chẳng nói chẳng rằng, mặc áo, cầm bình bát, vào thành khất thực. Đến khi khất thực thấy vừa đủ rồi mới ung dung trở lại “hội trường,” bày ra ăn, ăn xong, thu dọn y bát đâu đó đàng hoàng rồi rửa chân sạch sẽ, ngồi xếp bằng… thở, nghĩ là … nhập định! Chẳng thèm nói lấy một tiếng. Chẳng thèm ban cho một chút huấn từ! Tôi tưởng tượng lúc đó nếu mình cũng đang ngồi xớ rớ đâu đó, bên ngoài hành lang, dự thính, chờ nghe những lời thuyết giảng mà phát tức anh ách, cảm thấy hẫng, thất vọng. Bỗng dưng, Tu Bồ Đề xuất hiện. Ngồi giữa đám đông như mọi người bỗng ông đứng phắt dậy, cung kính cúi chào đúng nghi lễ với bậc Thế Tôn rồi cất lời ca ngợi: Thật tuyệt vời! Thật là tuyệt diệu! Thật xưa nay chưa từng có! Thế Tôn đã khéo léo dạy dỗ, khéo léo trao truyền, khéo léo gởi gấm cho các vị đang có mặt tại đây hôm nay! Lúc đó thì quả thực mới bùng nổ bài học vừa được truyền trao mà chẳng ai ngờ! Lúc đó thì sự chưng hửng đã trở thành nỗi áy náy. Chết rồi, nãy giờ không để ý, không theo dõi kỹ bài giảng không lời kia của Đức Phật! May mà có Tu Bồ Đề phát hiện! Những người không để ý quan sát kỹ sẽ mất đi một cơ hội đáng tiếc!</p>
<p style="text-align: justify;">Phật có cách dạy riêng của Ngài: không nói một lời mà chỉ làm cho coi. Đó là một phương pháp giáo dục rất mới mà bây giờ người ta gọi là <em>“demonstration,”</em> tức là biểu diễn, làm gương, làm cho bắt chước, một lối dạy kỹ năng sống (life skills) rất hiện đại. Một lần nữa cho thấy học Phật, tu Phật là làm chớ không phải nói. Làm trước, nói sau. Hoặc cũng chẳng cần nói. Ta hiểu vì sao các vị thiền sư thường bắt học trò chẻ củi, nấu cơm, gánh nước, trồng rau, giã gạo… mà chẳng thèm dạy lấy một lời. Cho đến lúc nào học trò tự phát hiện ra một điều gì đó bức xúc trong tâm thì mới dạy, cũng bằng một cách kỳ cục nào đó: có khi lật thuyền, có khi gõ đầu, có khi trả lời trớt quớt, có khi hỏi ấm ớ kiểu ông đưa tâm đây tôi an cho, làm cho học trò ngớ ra rồi… sực tỉnh cơn mê! Cuối khoá học, trò cũng không nhận được một bằng cấp nào của thầy để khoe, thầy cũng chả có gì để trao cho trò. Bới “Cái đó” sẵn có trong trò, thầy chỉ giúp trò tự phát hiện, tự chứng nghiệm, tự “giải quyết” lấy vấn đề của mình. Đó gọi là tham vấn (counselling), một phương cách trị liệu tâm lý học và y học ngày nay. Người làm tham vấn ví như cô mụ đỡ đẻ, giúp bà mẹ có được cuộc đẻ mẹ tròn con vuông chớ không thể đẻ thay bà mẹ. Đứa con có sẵn trong bụng mẹ rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trờ lại bài học, mọi người giật mình, sửng sốt nhớ lại thì mới hay Phật muốn dạy mình bài học đầu tiên: đói thì ăn, khát thì uống. Tới giờ ăn thì phải lo ăn. Ai nói không cần ăn là người không biết sống, hoặc giả dối. Gần hai ngàn năm sau, Trần Nhân Tông, ông vua nhà Trần ở nước ta, vị thiền sư sáng lập phái Trúc Lâm Yên Tử cũng nói trong bài Cư Trần Lạc Đạo: <em>Cơ tắc xan hề khốn tắc miên </em>(Đói thì ăn, mệt thì ngủ.) Phật tới giờ ăn mà còn phải lo mặc áo, xách bình bát đi khất thực, huống là ta! Điều đáng để ý ở đây, một bậc Thế Tôn như Đức Phật, chỉ cần nói một tiếng, không thiếu món ngon vật lạ cúng dường! Thị giả hẳn đã lo bữa cơm tươm tất cho Phật đâu đó rồi, chờ Phật thuyết giảng xong thì vào ăn. Nhưng không. Phật đã tự đi kiếm ăn lấy một mình. Không nhờ vả đến ai. Không ăn thức ăn dọn sẵn ngon lành, mà tự mình làm đúng những điều mình đã dạy. Cho nên không giật mình, sửng sốt sao được! Nhiều vị “chức sắc” có mặt hẳn … hết hồn nhìn lại mình, nào đệ tử cung phụng, nào bày biện các món ăn tuy là chay mà cũng “sơn hào hải vị” không kém! Ngày nay ta còn thấy có nhiều thức ăn chay giả giống hình con tôm, con cá, đùi gà… thật là đáng ngại! Giật mình, sửng sốt còn bởi vì Phật, địa vị cao nhất, bậc Thế Tôn kia, có hằng chục “chức danh” lừng lẫy mà vẫn giản dị làm sao, vẫn đi chân trần từng bước thanh thoát, vẫn bưng bình bát đi khất thực giữa nắng trưa để có cái ăn, có gì ăn nấy. Phật đi khoan thai, tự nhiên, mỗi bước đều chánh niệm, không “dính mắc” gì với chung quanh mọi người đang xì xầm hay bàn tán về mình, kẻ khen người chê mình. Ngài chỉ thở vào thở ra trên từng bước đi, ung dung, nhẹ nhàng, sảng khoái. Phật cũng không chọn các nhà giàu để đến khất thực hoặc chọn nhà nghèo dễ chịu hơn, hoặc những nhà quen biết cho chắc ăn, Phật cứ ung dung lần lượt đi từng nhà, từng nhà, bởi vì đâu có cần phải phân biệt, đâu có cnầ giúp riêng người giàu hay người nghèo. Ai cũng có vấn đề, ai cũng “khổ” như nhau thôi. Người nghèo khổ nghèo, người giàu khổ giàu! Có điều sau một vài tiếng đồng hồ đi bộ để khất thực như vậy thì món ăn nào cũng trở thành “cao lương mỹ vị,” nếu được ăn trong chánh niệm, được nhai kỹ từng chút một thì thức ăn nào cũng ngon, cũng dễ tiêu hoá. Hình như cái bình bát cũng vừa lớn đủ đựng thức ăn cho một người thôi, để không quá dư, không thưừ mứa. Ngày nay ít thấy cảnh khất thực, nhất là ở các đô thị, thành phố, thế nhưng khi ta có dịp thấy một người mặc áo ca sa, mang bình bát, từng bước ung dung, chánh niệm, đi khất thực từng nhà, từng nhà, ta không khỏi khâm phục vị Thầy từ ngàn xưa, và tự dưng trong lòng thấy cảm động. Ngày nay dù không còn phải đi khất thực từng bữa nữa, nhưng việc đi bộ hằng ngày vài tiếng đồng hồ cũng luôn rất cần thiết cho sức khoẻ; thức ăn đơn giản, nhiều rau, nhiều đậu, ít béo, ít đường, ít mặn, không quá dư cũng đã rất tốt cho sức khoẻ. Đặc biệt là ăn trong trạng thái ung dung, thư giản, một không khí an lành, với niềm vui có được bữa ăn vừa đủ, không cầu kỳ, không thừa mứa, thì bữa ăn nào cũng trở nên ngon, lành mạnh, khoẻ khoắn. Ăn xong, Phật thu dọn y bát đâu đó gọn gàng, rửa chân sạch sẽ rồi mới vào ngồi tĩnh toạ. Điều đáng để ý ở đây là không phải ăn xong thì đi… ngủ hoặc bắt đầu tranh luận căng thẳng mà là ngồi tĩnh toạ, vào thiền. Có lẽ đó là lúc tốt nhất để nghe cơ thể mình hoạt động, để thấy các thức ăn được bộ máy tiêu hoá, hấp thu, chuyển hoá thành năng lượng ra sao trong từng tế bào. Bài học đã truyền trao. Nếu chịu khó quan sát kỹ tí nữa, lúc Phật bưng bình bát đi khất thực từng nhà, có lẽ ta còn phát hiện ra nhiều điều hay, thú vị khác. Chẳng hạn cái người đi khất thực kia không phải là người đi xin mà là người đi cho. Ta không thể phân biệt ai là người xin người cho ở đây. Khi người đi khất thực đứng trước cửa nhà nào thì gia chủ mừng húm, cảm thấy như mình có một hạnh phúc lớn, không phải chỉ vì người đi xin kia là đức Phật mà chỉ vì cái hành vi đi xin kia thực ra mang một ý nghĩa khác, ý nghĩa cảnh tỉnh, như một lời nhắn nhủ, nhắc nhở. Gia chủ sẽ có dịp nhìn lại chính mình, nghe ngóng một tiếng nói nào đó ở trong sâu thẳm tâm hồn mình. Có thể rồi sẽ chóng quên, nhưng hôm nào đó lời nhắc nhở sẽ lại vọng lại. Với người quyền quý cao sang, có thể giật mình một chút thấy cái người đi chân đất, để đầu trần, bưng bình bát đứng xin kia là người vì sao đã từ bỏ ngôi vị thái tử, đã từ bỏ gấm vóc lụa là, cung phi mỹ nữ. Cũng có thể sẽ có những người xua đuổi, sỉ vả, để rồi cũng nhận được một ánh mắt biết ơn, một nụ cười trìu mến và những bước đi nhẹ nhàng của người khất thực kia. Để rồi đêm về, người đã xua đuổi sỉ vả nọ nhớ lại, ngạc nhiên nghe một thứ tiếng nói khác trong lòng mình. Có những người nghèo không có cái ăn, không có cái gì để cho thì lúc đó cái ánh mắt, cái nụ cười sẽ chia sẻ cùng nhau. Sự tôn trọng, không phân biệt, đã nói lên nhiều điều quá đỗi. Thực ra nếu quan sát kỹ chút nữa, có lẽ từ lúc Phật đứng lên mặc áo, cầm lấy bình bát… mỗi cử chỉ đều đã toát lên một cái gì đó khác với ta. Nếu có ai cắc cớ hỏi chuyện mặc áo, cầm bình bát của Phật đâu thấy khác gì mọi người, thì chắc Ngài sẽ cười nhẹ nhàng nói: có chứ, có chứ. Bởi Phật khoác áo, cầm bình trong chánh niệm còn ta thì hấp tấp, hổn hển chụp lấy áo, chụp lấy bình bát, tất tả vội vàng…</p>
<p style="text-align: justify;">Diễn tiến của một buổi giảng huấn bằng phương pháp <em>demonstration</em> đó thì mỗi cử chỉ, hành động đều phải được theo dõi, quan sát rất kỹ để có thể thực hành theo. Suốt bài giảng đó, ta đã học được nhiều điều hơn ta tưởng: bố thí mà không phải bố thí, trì giới, nhẫn nhục mà không phải trì giới, nhẫn nhục, rồi tiết độ, tri túc, tinh cần, chánh niệm… và lúc nào cũng ở trong một trạng thái ung dung, an lạc, thảnh thơi, đầy trí tuệ. Cho nên ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Tu Bồ Đề cất tiếng ca ngợi: “Hy hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát.”</p>
<p><strong><em>(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc)</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/guom-bau-trao-tay-viet-ve-kim-cang/len-duong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>10</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

<!-- Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: http://www.w3-edge.com/wordpress-plugins/

Page Caching using disk: enhanced
Object Caching 1014/1072 objects using disk: basic

Served from: www.dohongngoc.com @ 2012-02-08 00:16:57 -->
