<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
		xmlns:itunes="http://www.itunes.com/dtds/podcast-1.0.dtd"
	xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
>

<channel>
	<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc &#187; Đọc sách</title>
	<atom:link href="http://www.dohongngoc.com/web/category/doc-sach/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.dohongngoc.com/web</link>
	<description>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</description>
	<lastBuildDate>Wed, 01 Feb 2012 10:36:49 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
	<copyright>2006-2007 </copyright>
	<managingEditor>admin@sgc.vn (Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)</managingEditor>
	<webMaster>admin@sgc.vn (Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc)</webMaster>
	<image>
		<url>http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/plugins/podpress/images/powered_by_podpress.jpg</url>
		<title>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web</link>
		<width>144</width>
		<height>144</height>
	</image>
	<itunes:subtitle></itunes:subtitle>
	<itunes:summary>Tập hợp các bài viết của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:summary>
	<itunes:keywords></itunes:keywords>
	<itunes:category text="Society &#38; Culture" />
	<itunes:author>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:author>
	<itunes:owner>
		<itunes:name>Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</itunes:name>
		<itunes:email>admin@sgc.vn</itunes:email>
	</itunes:owner>
	<itunes:block>no</itunes:block>
	<itunes:explicit>no</itunes:explicit>
	<itunes:image href="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/plugins/podpress/images/powered_by_podpress_large.jpg" />
		<item>
		<title>&#8220;Bàn tay nhỏ dưới mưa&#8221;</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ban-tay-nh%e1%bb%8f-d%c6%b0%e1%bb%9bi-m%c6%b0a/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ban-tay-nh%e1%bb%8f-d%c6%b0%e1%bb%9bi-m%c6%b0a/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 15 Jan 2012 01:14:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Vài đoạn hồi ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5479</guid>
		<description><![CDATA[Bàn tay nhỏ dưới mưa Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Bàn tay nhỏ dưới mưa</strong><br />
Trương Văn Dân du học ở Italia hơn 40 năm trước mà còn viết tiếng Việt giỏi, đáng khen. Một người bạn nói với tôi như vậy sau khi đọc BTNDM. Chẳng những vậy, anh dịch cũng được lắm. Anh vừa dịch một truyện ngắn của vợ, chị Elena Truong, viết bằng tiếng Ý đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật hôm nọ, một câu chuyện cảm động về tình yêu của cặp vợ chồng già!<br />
<em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em> là cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, sau khi anh chị quyết định rời bỏ Italia về sống với quê nhà. Dân và vợ, chị Elena gởi tặng tôi BTNDM ở một quán café góc phố xóm nhỏ Bàn cờ, với lời ghi trân trọng: “Quý tặng anh, bác sĩ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc, người trị đau và chữa khổ &#8211; một tấm lòng tha thiết với đời- để cùng chia sẻ niềm đam mê văn học”. Còn chị Elena thì ghi bên cạnh nét chữ của chồng: « Un morceau de notre vie / comme un cadeau pour vous”.</p>
<p><span id="more-5479"></span></p>
<p><em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em> đúng là một mảnh đời của họ. Một mảnh đời với bao nỗi lo toan, buồn vui, hy vọng rồi tuyệt vọng, chạy đuổi miệt mài rồi dừng lại ngẩn ngơ&#8230;   để rồi cuối cùng có vẻ như đã tìm ra một <em>exit</em> : Con đường quê hương. Con đường văn học. Con đường giải thoát. <em>« Cuối cùng tôi nghĩ mình không cần phải tự xót thương. Chính cuộc hẹn với cái chết sẽ giúp tôi xóa bỏ những điều vô vị tạp nhạp, dừng ngay nhưng bận rộn, để đứng lại và hỏi xem thực sự mình muốn gì&#8230; Đi tìm ý nghĩa thực sự của đời sống! (tr 236)</em></p>
<p><em>Bàn tay nhỏ dưới mưa</em> có vẻ như là một chuyện tình buồn, một cái chết, một nỗi chia lìa, nhưng với tôi, là một cuốn tiểu thuyết luận đề, là một tiếng kêu thống thiết, chới với của một bàn tay nhỏ không che nổi cơn mưa nặng hạt đời. Câu chuyện tình lãng mạn, cái sống cái chết, chỉ là một cái cớ để trên đó bày ra, vẽ lại những vấn đề lớn của xã hội hôm nay, những vấn đề có vẻ như bế tắc, không lối thoát, thể hiện rõ nét nhất trên quê hương anh. Vấn đề môi trường, vấn đề giao thông, vấn đề vệ sinh thực phẩm, vấn đề y tế, giáo dục&#8230; </p>
<p><em>« Đang thất thần và ngẩn ngơ thì có tiếng chuông chùa từ đâu vẳng đến. Cái sống, cái chết nối đuôi nhau trôi trong thinh không&#8230; bờ bên này bờ bên kia như không còn ranh giới ». (tr 410)</em></p>
<p>Và ở một đoạn kết khi gấp cuốn truyện lại: <em>«Vì chúng tôi chẳng hoài chi đến cõi thiên đường. Có lẽ bởi chúng tôi đã từng là con người, đã từng hội đủ tâm hồn, si mê và trí tuệ, tham lam cùng sân hận&#8230; nên vẫn còn say mê trần gian, còn tha thiết làm người&#8230; »(tr 412)</em><br />
Tôi nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi là ai mà còn trần gian thế/ Tôi là ai, là ai&#8230; mà yêu quá đời này&#8230;<br />
Và bỗng muốn nói với bạn : « <em>Đừng tuyệt vọng,</em> Dân ơi, <em>đừng tuyệt vọng !</em> ».!</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc.</strong><br />
(12.2011)</p>
<p><a href="http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ban-tay-nh%e1%bb%8f-d%c6%b0%e1%bb%9bi-m%c6%b0a/attachment/img_tvd/" rel="attachment wp-att-5480"><img src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2012/01/IMG_TVD-300x225.jpg" alt="" title="IMG_TVD" width="300" height="225" class="aligncenter size-medium wp-image-5480" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/ban-tay-nh%e1%bb%8f-d%c6%b0%e1%bb%9bi-m%c6%b0a/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/nguye%cc%83n-hie%cc%81n-le-da%cc%a3y-va-t%c6%b0%cc%a3-ho%cc%a3c/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/nguye%cc%83n-hie%cc%81n-le-da%cc%a3y-va-t%c6%b0%cc%a3-ho%cc%a3c/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 08 Jan 2012 01:52:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Vài đoạn hồi ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5443</guid>
		<description><![CDATA[Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học Vương Trung Hiếu Ghi chú: Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê </em><br />
<strong>Nguyễn Hiến Lê: Dạy Và Tự Học  </strong><br />
<em><strong>Vương Trung Hiếu</strong></em><br />
<strong>Ghi chú:</strong> Vương Trung Hiếu, bút danh Thoại Sơn, là nhà văn, nhà báo, quê gốc An Giang. Trên vanchuongviet.org, nhân 100 năm Ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, (08.01.1912 – 08.01.2012) anh đã cho đăng bài viết này, trích từ Kỷ yếu của Hội cựu học sinh Trường trung học Thoại Ngọc Hầu,  Long Xuyên, An Giang. Một bài viết ngắn gọn, nhưng rất có ích cho các bạn trẻ. Xin phép được đăng lại nơi đây.<br />
Chân thành cảm ơn anh Thoại Sơn.<br />
<em>Đỗ Hồng Ngọc.</em></p>
<p><span id="more-5443"></span></p>
<p>Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, tên tuổi của ông gắn liền với nhiều tác phẩm, trong đó có quyển sách dịch “Đắc nhân tâm” (vẫn thuộc loại bán chạy nhất hiện nay trên Internet). Người ta biết NHL viết sách, chứ không nhiều người biết ông đã từng là nhà giáo. Tháng 11 năm 1950 NHL nhận lời mời dạy học ở trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, đến năm 1952 ông xin nghỉ, lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, biên dịch sách, sáng tác và viết báo. Trong thời gian ở Long Xuyên, ông dạy môn  Pháp văn, Việt văn, Đức dục, về sau thêm cả Hán văn (từ lớp 7 đến lớp 9 ngày nay). Quan điểm dạy học của ông tuy cách đây đã 60 năm, song vẫn còn hữu ích đối với thế hệ giáo viên trẻ ngày nay. Ông cho biết: “Tôi soạn bài kĩ, giảng cho rõ ràng, bắt học sinh làm nhiều bài tập,.. dù con bạn thân mà làm biếng tôi cũng rầy, dù con các người tai mắt trong tỉnh, nếu lười tôi cũng mắng nặng lời”. “Tôi cho rằng trong nghề dạy học, tư cách ông thầy quan trọng nhất: phải đứng đắn, nhất là công bằng; rồi lời giảng phải sáng sủa, có mạch lạc, muốn vậy ăn nói phải lưu loát, và soạn bài phải kĩ”.<br />
“Trong trường học, giáo sư nên khuyến khích những học sinh chịu đọc thêm sách, chứ đừng khen những trẻ giỏi học thuộc lòng. Trong các kỳ phát phần thưởng, đừng mua sách giáo khoa để phát, mà nên lựa những sách giúp học sinh mở mang thêm kiến thức”.<br />
Về giáo dục NHL nêu vài vấn đề mà ngày nay chúng ta cũng cần phải suy nghĩ. Trong quyển Thế hệ ngày mai, NHL cho rằng nền giáo dục trong thời đại của ông “ quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục”. Từ bậc tiểu học đến đại học, người dạy đã nhồi nhét quá nhiều những môn “để luyện trí”. “Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ”. “Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý”. Từ đầu thế kỷ 20, Nhiều giáo sư, học giả Pháp đã phê phán lối học “không tập cho suy nghĩ ấy”. Nhiều nhà doanh nghiệp phàn nằn rằng phần lớn “ những học sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ huy”.<br />
Một điểm đáng chú ý khác: Vì sao học sinh không thích học? Ông cho rằng học sinh có thể không thích học môn nào đó vì cảm thấy không hợp. Có người thích văn nhưng buộc phải học Toán; có người thích vẽ nhưng buộc phải học Sử. Ngoài ra, “Ta cũng có thể ghét sự học ở trường vì nhiều giáo sư giảng bài như ru ngủ chúng ta, hoặc tới lớp thì bắt ta chép lia lịa từ đầu giờ tới cuối giờ mà không hề giảng cho một chữ, chép tới tay mỏi rời ra, không đưa nổi cây viết, nguệch ngoặc không thành chữ, rồi về nhà phải cố đọc, đoán cho ra để chép lại một lần nữa cho sạch sẽ. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì có những ông giáo, suốt năm mặt lạnh như băng, vẻ quạu quọ, hờm hờm, coi học sinh như kẻ tù tội, phải hành hạ cho đến mực, làm cho học sinh gần tới giờ thì lo lắng, mặt xám xanh, như sắp bị đưa lên đoạn đầu đài. Ta cũng có thể ghét sự học ở nhà trường vì kỷ luật, hình phạt của nó, vì những kỳ thi liên miên bất tận..”.<br />
Điều quan trọng nhất trong cách dạy của NHL không chỉ nằm ở chuyên môn, mà còn ở cách hướng dẫn học sinh tự học. Vì phần lớn học sinh thời ấy “không biết cách ghi chép lời giảng của thầy, không biết cách học bài, làm bài, không biết cách học ôn, cách tìm tài liệu, không có một thời dụng biểu ở nhà. Họ không hiểu rằng cách học một bài ám đọc (récitation), khác cách học một bài toán; một bài sử, địa khác một bài sinh ngữ… Họ không có cả một sổ tay ghi những điều cần nhớ để thường coi lại”.<br />
Vâng, tự học là điều cần thiết không chỉ khi ngồi trên ghế nhà trường, mà còn là phương tiện giúp ta đi tới thành công trên đường đời. Đừng nghĩ rằng khi có bằng cấp cao là đã thành công và không cần phải tự học nữa. NHL viết: “Bạn có bằng cấp tiến sĩ, thạc sĩ mà không học thêm thì suốt đời cũng chỉ là một tiến sĩ, một thạc sĩ. Paul Doumer 14 tuổi đã phải thôi học, tự học lấy rồi sau thành Tổng thống nước Pháp. Louis Bertrand xuất thân làm thợ mà lên ngôi Tổng trưởng”. Ở nước ta cũng không thiếu người nhờ tự học mà có danh vọng”. Thí dụ như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Bạch Thái Bưởi và Trương Văn Bền…đã thành công lớn trong nghề nghiệp của mình.<br />
 <strong>Cách tự học</strong><br />
NHL viết: “trên con đường tự học, tôi chẳng có chút hiểu biết, kinh nghiệm nào cả, phương tiện thật thiếu thốn, tốn công nhiều mà kết quả rất ít. Vì nghĩ vậy mà sau này tôi viết cuốn Tự học để thành công (sau đổi tựa là Tự học, một nhu cầu của thời đại) để hướng dẫn thanh niên tránh những lỗi lầm của tôi”. Ông cho rằng “Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gắp trăm du lịch bằng chân”. “Tự học còn là một thú vui rất thanh nhã nó nâng cao tâm hồn ta lên”. Vậy, muốn tự học, trước hết phải thấy nó là một chuyến “du lịch”, là “thú vui” mới có thể kiên trì theo đuổi.<br />
Theo NHL, người mới biết đọc, biết viết; người già cũng có thể tự học được. Quan trọng là có sức khỏe, thời gian và tin vào việc học của mình (có lợi cho bản thân, giúp ích cho người khác). “Nếu học 5-7 lần không thuộc, cũng đừng chán rồi bỏ cuộc. Học nhiều hơn nữa, có ngày sẽ thành công”.<br />
Ông nghĩ rằng cái lợi của tự học là “tự do lựa môn học, lựa thầy học”. “Nếu chưa hiểu rõ một chương, ta có thể bỏ ra hàng tuần hàng tháng để học thêm&#8230;Nhờ vậy ta có nhiều thì giờ để suy nghĩ so sánh, tập xét đoán, giữ tư tưởng được tự do. Không ai nhồi sọ ta được, bắt ta phải lặp lại những điều mà ta không tin”. Tuy nhiên, ông cũng thấy cái hại của việc tự học là do “không ai dẫn dắt ta, nên ta không biết  học cái gì”. Có người quyết học hết một bộ Bách khoa từ điển nhưng mới học khoảng một tuần thì bỏ ngang vì chán nản, không hiểu nhiều đoạn trong tự điển. “Có kẻ gặp cái gì đọc cái ấy… không tự lượng sức mình, chưa biết những sách đại cương về một môn nào đã đọc ngay những sách quá cao viết cho các nhà chuyên môn”. Đọc qua loa những điều mình thích nên không hiểu tường tận để áp dụng. “Học như vậy phí công vô ích”, do “không có một mục đích nhất định để nhắm, một chương trình hợp lý để theo”.<br />
Ông cho rằng tự học “có mục đích gần và mục đích xa”. Học để có một chỗ làm, có cuộc sống tiện nghi là học với mục đích gần. Học để đủ tư cách làm chủ gia đình, một công dân và phần tử của nhân loại. Học để phát triển đức trí, giúp ít người khác mỗi ngày một nhiều hơn mới là mục đích xa. Nếu là giáo viên toán ta cũng nên đọc về kinh tế, chính trị; nếu là thợ thuyền cũng nên học về triết lý, luật khoa… “Nhà văn phải biết khoa học, vì khoa học giúp ta nhận xét, lý luận, hiểu vũ trụ hơn. Nhà khoa học cũng phải hiểu văn chương vì những áng văn thơ bất hủ nâng cao tâm hồn con người”… “Kẻ nào quá chuyên nghiệp, chỉ đọc những sách về ngành hoạt động của mình thì không khác chi đeo vào hai bên thái dương hai lá che mắt, không khác chi tự giam mình vào một phòng chỉ có mỗi một cửa sổ để thông ra ngoài.”<br />
 <strong>Những cách tự học</strong><br />
 Theo NHL, có hai cách tự học: học có người dạy và tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm (theo ông, cách thứ hai “quan trọng hơn nhiều”).<br />
 <em>Tự học (có người chỉ dẫn)</em> là theo một lớp giảng công hay tư, một lớp hàm thụ hoặc nghe diễn thuyết.<br />
 + Lớp giảng: Theo ông, “ở Âu, Mỹ, có rất nhiều trường công hay tư dạy những người lớn muốn học thêm” (từ tiểu học đến đại học). “Lại có những trường dạy một ngành chuyên môn như môn Tổ chức công việc, môn viết văn, làm báo, khoa nói trước công chúng, khoa nội trợ&#8230;”.<br />
 + Lớp hàm thụ: học từ xa bằng những phương tiện thông tin đại chúng, “<br />
học những trường này phải trả tiền vì đều là trường tư, hoặc bán công tư”.<br />
 + Nghe diễn thuyết: nghe những diễn giả nói về đề tài mà mình muốn biết thêm.<br />
 <em>Tự học không có người chỉ dẫn</em> là tập nhận xét và đọc sách…<br />
 + Nhận xét: NHL viết: “Người tự học nào cũng phải tập nhận xét. Phần đông chúng ta không nhìn bằng mắt mà bằng óc, bằng tim”. Một giáo sư đại học bảo sinh viên tập trung nhìn những ông làm rồi bắt chước làm theo. Ông nhúng một ngón tay vào một ly nước rồi đưa lên miệng nếm. Mỗi sinh viên đều làm như vậy, nhưng lại nhăn mặt vì nhận thấy nước rất hôi thối.  Sau khi họ nếm xong, vị giáo sư mỉm cười, bảo: “ Các cậu không nhận thấy ngón tay tôi đưa lên miệng không phải là ngón tay đã nhúng vào nước à”. Vị giáo sư nhúng ngón tay này vào nước nhưng lại nếm ngón tay kia nên không có cảm giác hôi thối, còn sinh viên thì…. Điều này cho thấy “họ đã không nhìn bằng mắt mà bằng óc. Óc họ tưởng tượng ra sao thì họ thấy vậy”. Tóm lại, muốn học hỏi thì ta phải tập nhìn bằng mắt, chứ đừng bằng óc hoặc tim. Trước khi nhận xét, phải có một chương trình: xét những điểm nào? điểm nào trước? điểm nào sau? Thí dụ, muốn nhận xét một cây, bạn phải: quan sát từng bộ phận của nó (từ gốc rễ đến cành lá); cây này mọc ở miền nào, hợp với loại đất nào; mùa nào trổ bông, có trái; cách trồng ra sao; ích lợi thế nào… Lập sẵn chương trình như vậy thì không sợ quên những chi tiết nhiều khi quan trọng. Trong khi nhận xét phải so sánh (như cây sao với cây dầu giống nhau chỗ nào, khác nhau chỗ nào?), phân tích (như xét một bông phải xét: đài, cành, nhụy, sắc hương). “Chịu nhận xét, tập chú ý vào những điều trông thấy thì tài nhận xét sẽ tăng lên. Mỗi ngày ta nên tập nhận xét vài lần… không tốn thì giờ mà chỉ trong vài ba tháng đã thấy nhiều kết quả”.<br />
+ Đọc sách: theo một lớp giảng hoặc một lớp hàm thụ chỉ là biện pháp nhất thời. Muốn tự học suốt đời, thì phải đọc sách, vì thế “có thể nói tự học là đọc sách”. “Khi đọc tôi luôn luôn có một cây viết chì để đánh dấu những chỗ đáng nhớ, hoặc có thể dùng tới sau này; cuốn nào thường phải đọc lại thì tôi ghi những ý quan trọng cùng số trang lên mấy trang trắng”…“sách nào thường dùng tôi để riêng, sắp theo từng loại”.<br />
 <strong>Học từ dễ đến khó</strong><br />
 Muốn học môn gì đó, cần phải tìm đúng sách rồi học từ dễ đến nâng cao dần. Không thể ngay từ đầu học những điều quá khó, vì như thế sẽ không hiểu, một thời gian sẽ chán nản rồi bỏ cuộc. Nhìn chung, những người như thế “không thành công vì không biết cách học”. Ho chưa biết những điều thường thức đã vội đọc ngay những sách cao đẳng. Họ “chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng! Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại”.<br />
 <strong>Cách học ngoại ngữ</strong><br />
Ngoài tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, bắt buộc phải học vào thời ấy, NHL còn học thêm tiếng Hán và tiếng Anh. Hồi nhỏ ông học chữ Hán cốt để “đọc được gia phả”, “chỉ nhớ mặt chữ, hiểu nghĩa là được rồi”. Sau khi học xong ngành Công chánh, trong thời gian chờ phân công nhiệm sở, ông lại tự học chữ Hán. “Mỗi ngày, buổi chiều tôi lại thư viện Trung Ương đường Trường Thi, mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh…rồi bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và từ ngữ nào tôi đoán là thường dùng mà chưa biết thì tôi chép lại trong một tập vở. Tôi ở thư viện từ 3 đến 5-6 giờ chiều. Tối hôm đó và sáng hôm sau, tôi học hết những trang đã ghi đó; rồi chiều lại ra thư viện chép bài học sau. Mỗi tuần nghỉ một ngày để ôn lại những bài trong tuần. Học ba tháng, được độ ba ngàn từ”. Về sau NHL tự học thêm nữa để có thể viết sách về văn học Trung Quốc. Về tiếng Anh, ông học chủ yếu là hiểu nghĩa từ và văn phạm, học để đọc tài liệu nước ngoài, để viết và dịch sách chứ không chủ trương học để nói lưu loát. Theo ông, “muốn hiểu một ngoại ngữ thì phải dịch ra tiếng Việt”. “Khi dịch, bắt buộc ta phải tra tự điển; câu nào dịch rồi mà ý nghĩa không xuôi, có điểm nào vô lí hoặc mâu thuẫn với một số câu ở trên thì bắt buộc ta phải soát lại xem mình dịch sai ở chỗ nào”.<br />
<strong>Viết sách để tự học</strong><br />
Từ 1949 đến 1953, NHL “làm việc rất nhiều, vừa dạy học, vừa học, vừa viết sách, không có thì giờ để hưởng nhàn”. Ông dạy học, tự học môn Tổ chức, tiếng Anh và văn học Trung Hoa. Ngoài ra ông còn ghi danh học một số lớp hàm thụ. Chính nhờ bài học từ những lớp này NHL đã có tài liệu để viết sách (quyển Nghề viết văn, Hương sắc trong vườn văn và nhiều sách Học làm người).<br />
 Theo ông, “viết sách là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ là mới đọc qua chứ không phải học.” Và ông cho rằng “khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới”.<br />
Sức làm việc của ông thật đáng nể, theo Wikipedia, “mỗi ngày ông làm việc 13 tiếng đồng hồ (6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết). Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ”. NHL cho biết: “nhiều người, từ bạn bè đến độc giả bảo tôi sống như một nhà tu khổ hạnh. Tôi không biết các nhà tu khổ hạnh có thấy khổ hay không khi họ nhịn ăn, nhịn uống, nhịn ngủ, … chứ riêng tôi, chẳng tu hành gì cả, không thấy lối sống của tôi với sách vở là khổ”.<br />
Trong lời nói đầu của quyển “Đời viết văn của tôi”, NHL viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ  HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Có lẽ, nhờ quan niệm như thế nên NHL để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị cao về học thuật, đó là mảng sách về triết học và lịch sử. Mảng sách về văn học của ông cũng khá phong phú, chủ yếu là văn học Trung Quốc, bên cạnh đó là một số quyển tiểu thuyết dịch từ tiếng Anh và Pháp. Tuy nhiên, mảng sách mà NHL được nhiều người biết đến, đem lại dang tiếng cho ông chính là loại “sách học làm người”. Ông viết và dịch nhiều sách về mảng này, trong đó có một quyển đã làm “thay đổi hẳn cuộc đời của một thanh niên hiếu học nhưng nhà nghèo”, người mà sau này đã trở thành bác sĩ và cũng khá nổi tiếng, đó là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc.<br />
Quyển sách ấy có tựa đề là  Kim chỉ nam của học sinh, một quyển mà NHL muốn “giúp học sinh biết cách học”. Ông khởi sự viết quyển này vào tháng 2 năm 1951, tức giai đoạn ông còn dạy học ở trường Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Sau khi quyển sách ấy được phát hành, nhiều phụ huynh và giáo sư đã hết lời khen ngợi sự hữu ích của nó. Trong tờ Bách Khoa số 20-4-75, Đỗ Hồng Ngọc viết: “Kim chỉ nam đã mở cho tôi chân trời mới, đọc xong, tôi thấy gần gũi với ông (NHL) kỳ lạ. Có những điều tôi đã thoáng nghĩ, đã từng làm nhưng vì thối chí ngã lòng, vì không được hướng dẫn nên không đạt được mấy kết quả. Ông đã hệ thống hoá, đặt ra những nguyên tắc giúp cho việc học đỡ mệt, đỡ tốn thì giờ mà được nhiều kết quả hơn. Điều quan trọng là sách trình bày những phương pháp thực hành, không có những lý thuyết viễn vông, nhàm chán”.<br />
Dẫu sống ở Sài Gòn nhiều năm, song Nguyễn Hiến Lê vẫn rất nhớ cái nơi ông đã từng dạy học, nơi mà ông đã về sống những năm cuối đời. NHL tâm sự: “ Long Xuyên đúng là quê hương thứ hai của tôi, mà bây giờ tôi quyến luyến với nó hơn quê hương thứ nhất nhiều”.<br />
<em>Vương Trung Hiếu </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/nguye%cc%83n-hie%cc%81n-le-da%cc%a3y-va-t%c6%b0%cc%a3-ho%cc%a3c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thư gởi các bác sĩ trẻ</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%b0-g%e1%bb%9fi-cac-bac-si-tr%e1%ba%bb/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%b0-g%e1%bb%9fi-cac-bac-si-tr%e1%ba%bb/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 15 Dec 2011 03:43:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên cứu khoa học, giảng dạy]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5320</guid>
		<description><![CDATA[Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011, Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM. Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Vài dòng gởi đến các bác sĩ trẻ khóa 2005-2011,</strong></p>
<p>Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp.HCM.</p>
<p>Ngày 9/12/2011 vừa qua, thầy biết các em đã trải qua biết bao cảm xúc, biết bao lo lắng và hy vọng trong buổi Lễ Tốt nghiệp truyền thống được tổ chức trang trọng hằng năm dưới mái trường này. Thầy rất tiếc đã bận việc không đến dự được như mọi năm để cùng chia sẻ với các em. Thầy cũng cảm ơn các em về buổi họp mặt thân mật giữa các thầy trò buổi tối đó tại Đông Hồ. Vậy là kể từ hôm nay, các em đã trở thành bác sĩ, người thầy thuốc, đồng nghiệp của các thầy cô, là người mà gia đình và xã hội đang kỳ vọng góp tay góp sức cứu giúp bệnh nhân, nâng cao sức khỏe cộng đồng.</p>
<p><a href="http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%b0-g%e1%bb%9fi-cac-bac-si-tr%e1%ba%bb/attachment/tot-nghiep1-2/" rel="attachment wp-att-5336"><img class="aligncenter size-medium wp-image-5336" title="tot-nghiep1" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2011/12/tot-nghiep11-300x204.jpg" alt="" width="450" height="306" /></a><a href="http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%b0-g%e1%bb%9fi-cac-bac-si-tr%e1%ba%bb/attachment/bs1/" rel="attachment wp-att-5327"><br />
</a></p>
<p>Ra trường, ấy là lúc lòng lâng lâng bao cảm xúc, niềm hãnh diện, mối lo toan, nỗi ngại ngần… Từ nay rời xa mái trường thân yêu, xa thầy xa bạn, dấn bước vào đời với bao nhiêu nhọc nhằn khổ vui thách thức đợi chờ, ở một thời buổi mà ngành y có thể nói đầy sóng gió, “dầu sôi lửa bỏng”, khác xa với thời của thầy, hơn 40 năm về trước. Thầy thấy thương và qúy các em biết bao!<br />
<a href="http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%b0-g%e1%bb%9fi-cac-bac-si-tr%e1%ba%bb/attachment/tot-nghiep/" rel="attachment wp-att-5337"><img class="alignleft size-medium wp-image-5337" title="tot-nghiep" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2011/12/tot-nghiep-300x223.jpg" alt="" width="200" height="140" /></a><br />
Cho nên dịp này, thầy muốn gởi đến các em một món quà nho nhỏ. Đó là bài nói chuyện của BS Nguyễn Hữu Phiếm, một người đàn anh, một bậc thầy của thầy đã trò chuyện cùng sinh viên y khoa Saigon ngày 29/6/1968. Bài nói chuyện sau đó được in thành sách do Trung tâm Học liệu BGD xuất bản năm 1972. BS Nguyễn Hữu Phiếm sinh năm 1910, là một bác sĩ nổi tiếng ở Saigon trước đây, bạn của nhà văn Nhất Linh (Tự lực văn đoàn), của học giả Nguyễn Hiến Lê… Ông nguyên là giảng viên môn Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale) tại Đại học Y khoa Huế. Ông mất năm 1977 tại Paris. Thầy muốn gởi nguyên văn bài nói chuyện này đến các em dù giọng văn và từ ngữ, nội dung đôi chỗ xưa cũ, nhưng tình người, tính nhân bản của y khoa vẫn dạt dào.</p>
<p>Xin chân thành cảm ơn bác sĩ Lê Ngọc Dũng người đã sưu tầm và phổ biến bài này trên Ykhoanet.com gần đây.</p>
<p>Hy vọng món quà nhỏ này làm các em vui, và học được đôi điều từ người đi trước. Vậy cũng đủ rồi cho truyền thống y khoa chúng ta phải không?</p>
<p>Thân mến,</p>
<p>Thầy Đỗ Hồng Ngọc.<br />
<span id="more-5320"></span></p>
<p><strong>MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA</strong></p>
<p><strong>BS Nguyễn Hữu Phiếm</strong></p>
<p><em>(1910 – 1977)</em></p>
<p>(Buổi nói chuyện tại Y Khoa Đại Học Saigon, ngày 29-6-1968)</p>
<p>Các bạn sinh viên thân mến,</p>
<p>Nghề thuốc mà các bạn đã chọn là một nghề cao đẹp nhất, và chính để chứng tỏ điều đó nên mới có buổi nói chuyện hôm nay một buổi nói chuyện thân mật giữa một người thày thuốc-đã hành nghề trên 30 năm-với những người thày thuốc tương lai, giữa một người anh cả với các em sắp sửa vào nghề, bởi dù muốn dù không các bạn và tôi, chúng ta từ bao nhiêu thế hệ nay đã được coi như thuộc về một gia đình-đại gia đình y giới- và riêng về điểm đó, ngay từ bây giờ, các bạn đã thấy nghề thuốc không giống như các nghề tự do khác.</p>
<p>Các bạn thân mến.</p>
<p>Các bạn đã chọn nghề thuốc với tất cả một tấm lòng nhiệt hứng, hăng say của tuổi thanh xuân, nhưng thử hỏi đã mấy ai chịu tìm hiểu những lý do thúc đẩy mình vào con đường ấy?</p>
<p>Có một số bạn trẻ chọn nghề này, coi như một lẽ đương nhiên để nối nghiệp cha anh đã từng là thầy thuốc.</p>
<p>Có một số, vì ham thích và cũng như mọi ham thích, khó lòng mà giải thích được tại sao, có thể vì hồi nhỏ ốm đau, đã được người thày thuốc tận tâm săn sóc, hoặc được mục kích những cảnh thập tử nhất sinh mà được bàn tay người bác sĩ cứu sống.</p>
<p>Đối với một số nữa-rất hiếm- có lẽ làm nghề thuốc vì đó là một thiên chức (une vocation): ngoài mảnh bằng bác sĩ để hành nghề ra, còn muốn làm một cái gì khác nữa, như trở thành một nhà khảo cứu, một vị bác học hoặc một giáo sư đại học.</p>
<p>Thiên chức theo định nghĩa, là một tiếng nói tự đáy lòng phát ra, nó thúc giục ta làm một việc nào đó, Giáo sư Maranon bảo là: <em>”một loại đam mê có tính chất của tình thương, kẻ nào có một thiên chức coi vật mình yêu như một mục đích độc hữu, không thể chia sẻ được. Họ phụng sự mối tình yêu đó mà tuyệt đối không vụ lợi”</em> và vẫn theo lời Maranon <em>“sở dĩ nghề thuốc suy đồi vì thanh niên khi chọn nghề đó không phải vì có thiên chức thật sự, mà chỉ vì hy vọng có một địa vị cao sang”. </em></p>
<p>Người ta đã điều tra một số sinh viên y khoa để biết tại sao họ chọn nghề thuốc: trong số 100 sinh viên có tới 70 người trả lời: Không biết. Còn lại 30 có người bảo: học thuốc để tìm những thỏa mản tri thức, hoặc vì có một niềm tin hoặc vì nghề đó đã danh giá lại kiếm được nhiều tiền.</p>
<p>Tôi biết một số thanh niên sau khi đậu xong Tú Tài lưỡng lự không biết chọn ngành nào ở Đại Học bèn chọn đại Y khoa vì nghe lời cha mẹ hoặc họ hàng thân thuộc-những người này không phải là thày thuốc, không hiểu nghề thuốc là gì mà chỉ nhìn thấy một khía cạnh sai lầm là: nhà lầu xe hơi tiền bạc…. Những người đó xem nghề thuốc như nghề đi buôn và cho rằng học hành vất vả mới giật được mảnh bằng bác sĩ thì dĩ nhiên phải được đền bù xứng đáng, phải được thụ hưởng. Còn bổn phận của mình những gì, trách nhiệm ra sao họ đâu có biết hoặc nghĩ tới? Đối với hạng người này tôi xin nhắc lại ở đây câu nói của P. Le Gendre”</p>
<p><em>“Kẻ nào chỉ làm nghề thuốc với hi vọng làm giàu, kẻ đó sẽ thất vọng, vì nghề thuốc chỉ được trọng vọng khi nào chúng ta có một tinh thần vị tha, hỉ xả. ”</em></p>
<p>Các bạn thân mến</p>
<p>Khi các bạn chọn nghề này, dĩ nhiên là để sinh sống, để nuôi gia đình, để hưởng một đời sống sung túc. tuy nhiên chúng ta không được quan niệm nghề thuốc như một nghề để làm tiền, vì nếu các bạn hành nghề đúng đắn ít khi các bạn có thể giàu được.</p>
<p>Ngoài vấn đề mưu sinh ra tất còn có một lý do nào khác nữa nó thúc đẩy các bạn lựa chọn cái nghề đó. Tôi không dám dùng những danh từ quá to tát như: “cứu nhân độ thế” mà chỉ nói; sở dĩ làm nghề thuốc là để mong xoa dịu được phần nào những đau khổ của đồng bào, muốn giúp ích cụ thể cho xã hội.</p>
<p>Có bạn học thuốc, như trên vừa nói, để thỏa mãn tri thức, thỏa mãn sự tò mò, hiểu biết những kỳ quan của bộ máy con người ta, muốn tháo nó ra từng mảnh để xem bên trong có những gì, tại sao nó chạy, hoặc muốn tìm cho ra hạt bụi nào đó đã làm cho bộ máy kia tắc, rồi ngưng chạy…</p>
<p>Đối với sinh viên y khoa, còn gì vui sướng và hồi hộp bằng lần đầu tiên ở trong bệnh viện, chỉ nhờ có nghe và gõ lên ngực bệnh nhân mà đã đoán được rằng trong màng phổi có nước và khi lấy chiếc kim chọc vào phổi thì quả nhiên thấy có nước thật.</p>
<p>Không những học để biết mà còn để phụng sự nữa. Còn niềm vui gì bằng sau một thời gian vật lộn với tử thần người thầy thuốc đã đẩy lui được bệnh và trao trả cho bà me đứa con thân yêu của bà.</p>
<p>Người ta muốn phê bình sao thì phê bình, một người thày thuốc sau một ngày làm lụng vất vả, bảo họ “hái ra tiền” chẳng hạn, nhưng tôi dám chắc ngoài việc chữa bệnh ra, còn phải có những động cơ nào khác nó thúc đẩy họ chứ không riêng gì tiền bạc. Họ không thể không băn khoăn lo lắng mỗi khi rời một căn nhà, trong đó có một tính mạng đang bị đe dọa, hoặc đó là tính mạng của một người cha, cột trụ của cả một gia đình, hoặc tính mạng của một người mẹ với đàn con thơ dại đang cần có người săn sóc dạy dỗ, hoặc tính mạng của một đứa hài nhi, chỉ có quyền sống chứ không được chết yểu…</p>
<p>Mối băn khoăn đó đôi khi còn ám ảnh người thày thuốc trong bữa ăn giấc ngủ của họ.</p>
<p>Người thày thuốc không thể không có những suy tư sau khi ngồi bên giường bệnh kiên nhẫn nghe lời kể lể tâm sự của thân chủ mình, rồi cố tìm một lời nói dịu dàng để khuyên nhủ, ngõ hầu xoa dịu được phần nào những nỗi khổ đau về tinh thần, những khắc khoải hoặc dằn vặt của một lương tâm đang bị cắn rứt….</p>
<p>Người thày thuốc không những chỉ đem lại cho ta sức khỏe, họ giúp ta sống đã đành nhưng nhiều khi họ giúp ta nhắm mắt cho yên nữa.</p>
<p>Chữa khỏi đã vậy, nhưng còn những khi thất bại ?</p>
<p>Đã mấy ai thấu hiểu được nỗi khổ của người thày thuốc, dù ham tiền mấy đi nữa, sau khi thâu canh ngồi bên một sản phụ, những mong cứu sống được cả mẹ lẫn con, hoặc ít nữa một trong hai người, nhưng rút cuộc không cứu nổi ai hết. Và trong khi người thày thuốc ấy, khác nào một kẻ bại trận, rửa tay-hai bàn tay đẩm máu và rung lẩy bẩy- thu xếp đồ dùng cho vào cặp rồi lủi thủi ra về, mặt mũi phờ phạc, đầu chóang mắt hoa, có những con mắt ngấn lệ, đầy đau thương, có khi đầy oán hận, nhìn theo và biết đâu không lên án họ? Ôi, VINH NHỤC của nghề thuốc!</p>
<p>Người ta muốn phê bình người thày thuốc ra sao tùy ý, nhưng tôi dám chắc, trong khi hành nghề, họ không thể không có một niềm tin, một tia hi vọng, một ngọn lửa thiêng nào đó trong lòng. Nói tóm lại, thế nào họ cũng phải có một nhiệt hứng khiến họ cảm thấy sung sướng khi tìm ra căn bệnh. Một niềm vui khi phụng sự và thành công.</p>
<p>Duhamel đã nói<em>”Không có nghề nào cao đẹp và buồn bằng nghề thuốc, một nghề đòi hỏi nhiều bổn phận, nhiều trách nhiệm tinh thần, nhưng chính trách nhiệm đó, nhất là trách nhiệm tinh thần, nó làm cho nghề chúng ta cao đẹp. ”</em></p>
<p>Những trách nhiệm của người thày thuốc ở vào thời đại này rất nặng nề, vì không nói tất các bạn cũng rõ là chúng ta hiện đang sống trong một kỷ nguyên thật là huyền ảo, khoa học tiến quá mau, ngoài sức tưởng tượng của con người, <em>” đã làm cho chúng ta trở thành những bậc THẦN THÁNH trước khi chúng ta xứng đáng làm người”</em>(Jean Rostand)</p>
<p>Thật thế: chỉ trong vòng ba bốn chục năm, y học đã tiến triển và khác hẳn bốn ngàn năm trước và nếu ngoảnh lại nhìn chặng đường đã qua, chúng ta không thể không giật mình kinh ngạc.</p>
<p>Giáo sư Jean Bernard đã viết không phải là quá đáng:</p>
<p>‘<em>”Một người thày thuốc ở thời tiền chiến, vắng mặt sau một thời gian 30 năm và nay trở về sẽ bở ngở không khác gì một bạn đồng nghiệp của ông sống dưới thời Hippocrate nay tái sinh trước ngày thế chiến thứ hai”</em></p>
<p>Tuy nhiên chúng ta những kẻ hậu sinh, không được quên ơn các bậc tiền bối đã có công lớn với y học, hoặc ít ra cũng nhớ đến tên tuổi những vị đó, như Pasteur, Claude Bernard, Lister, Yersin, Fleming …vv.</p>
<p>Nói về ngoại khoa cách đây trên 40 năm một danh y về khoa giải phẫu, giáo sư J. L Faure trong bài diễn văn khai mạc một cuộc hội nghị quốc tế đã nói:</p>
<p>“Ngày nay khoa giải phẫu đã lên tới chỗ tuyệt đỉnh rồi, khó lòng mà tiến hơn nữa”</p>
<p>Tuy nhiên trên lãnh vực y khoa, ai dám tự hào mình là một nhà tiên tri, và ngày nay -1968- chúng ta có thể lập lại câu nói và biết đâu trong vài ba năm nhận xét của chúng ta lại không đúng nữa.</p>
<p>Các bạn tất đã biết nhờ có thuốc mê (tìm ra năm 1816 ở Hoa Kỳ) mà người ta có thể giải phẫu với những điều kiện mới. Nhất là sau cuộc cách mạng do Pasteur khởi xướng, cho biết nguyên nhân của phần nhiều bệnh là vi trùng, rồi nhờ có phương pháp sát trùng (antiseptie) của Lister, nhất là phương pháp phòng hủ (asepsie) của Terrier, số người chết đi vì giải phẫu giảm đi rất nhiều. Đồng thời các nhà giải phẫu táo bạo hơn, dám đi sâu vào trong cơ thể, nào mổ ruột, mổ dạ con, nào giải phẫu xương, khớp xương, …v.v.</p>
<p>Mặc dầu khoa giải phẫu tiến bộ rất mau, mặc dầu kỹ thuật giải phẫu đã được hoàn bị, vẫn còn có người chết vì giải phẫu do những xáo trộn trong cơ thể. Quan trọng hơn hết là xáo trộn sinh lý (desordres biologiques) gây ra một loại bệnh hậu giải phẫu (maladie post-operatoire) Bệnh này được nghiên cứu kỹ càng để dần dà đưa tới phương pháp hồi sinh (reanimation) một phương pháp ngày nay rất thông dụng, không những ở ngoại khoa mà còn ở nội khoa nữa.</p>
<p>Một trong những kỹ thuật kỳ lạ nhất của khoa gây mê là đông miên nhân tạo (hibernation artificielle) và nhờ phương pháp này, người ta có thể giải phẫu tim được.</p>
<p>Một đàng, nhờ có phương pháp hồi sinh và thuốc mê, đàng khác nhờ có thuốc trụ sinh- mỗi ngày một nhiều- nhờ có thuốc ngăn đông huyết (anticoagulants) và sau hết nhờ tiếp máu, có khi thay cả máu nữa, mà khoa giải phẫu đã đi vào những con đường mà từ xưa tới nay không ai dám nghĩ tới như là mổ phổi để rồi cắt đi, mổ óc, tủy, xương sống, giao cảm thần kinh (sympathique) hoặc ghép mạch máu, ghép xương, ghép mắt, ghép thận …vv. Mới đây các bạn còn nghe nói về những vụ thay tim làm chấn động dư luận thế giới và khiến mọi người phải kinh ngạc và thán phục vô cùng.</p>
<p>Bên cạnh những thành công rực rỡ đó nội khoa cũng phát triển rất nhanh.</p>
<p>Nhờ có thuốc trụ sinh, phát minh vào cuối thế chiến thứ hai, nhiều bệnh truyền nhiễm như thương hàn, giang mai…. đã bị đẩy lui.</p>
<p>Nhờ có Penicilllin -do Fleming tìm ra- nhiều loại vi trùng như: pneumocoque, streptocoque, méningocoque. đã bị tiêu diệt và nhiều bệnh phổi, bệnh đau màng óc cấp tính, bệnh lậu, có thể trị được, cũng như bệnh đau tim do vi trùng streptocoque viridans-còn gọi là bệnh Osler- mà xưa kia y học đã phải bó tay.</p>
<p>Còn nhiều trụ sinh khác cũng được khám phá và đáng kể nhất là streptomycine- do Waksman tìm ra năm 1943- rất công hiệu để trị bệnh lao, một trong tứ chứng nan y của ta. Lần đầu tiên bệnh nguy hiểm này đã bị đánh bại.</p>
<p>Ngoài trụ sinh ra, người ta còn tìm ra được nhiều loại thuốc hóa học nữa, trong đó phải kể Isoniazide rất thông dụng từ năm 1952 để chữa bệnh lao, song song với streptomycine và nhiều thuốc khác như Chlopromazine (largactyl) để trị các bệnh thần kinh. Từ ngày có thuốc này và những thuốc mới như reserpine, tại các dưỡng đường điều trị người điên, loạn óc, ta không còn chứng kiến những cảnh huyên náo nữa, và nhất là bệnh nhân không còn bị đối xử như những con thú vật, mỗi khi lên cơn điên, bị nhốt trong chuồng sắt, chân tay bị trói chặt, như cách đây trên 30 năm, hồi tôi còn là sinh viên.</p>
<p>Chúng ta cũng không thể quên được những khám phá quan trọng trong ngành học về những bệnh do siêu vi trùng gây ra, và nên biết rằng ngày nay, nhờ có thuốc chích hoặc uống thuốc phòng ngừa mà nhiều bệnh như bệnh tê liệt (poliomyélite) có thể tránh được, cũng như bệnh cúm (grippe) bệnh sởi (rougeole). . vv</p>
<p>Những bệnh truyền nhiễm ghê gớm như bệnh tả (choléra) bệnh dịch hạch (peste) bệnh cùi (hủi) bệnh hoàng đản (fièvre jaune) không còn là mối lo cho nhân loại như hồi xưa nữa. Và những bệnh như bệnh ngủ (maladie du sommeil) ở Phi châu, bệnh sốt rét cơn (paludisme) cũng đã bị đẩy lui. Nhờ có bột DDT mà hàng chục triệu người đã không mắc bệnh sốt rét cơn.</p>
<p>Các bạn thân mến.</p>
<p>Tôi không thể kê khai hết ở đây tất cả những phát minh khác của y học trong mấy năm vừa rồi, như: sinh tố, kích thích tố (đặc biệt là cortisone, A. C. T. H ) hoặc nói đến những phương pháp tối tân để định bệnh bằng quang tuyến, bằng isotope. . vv mà chỉ nhấn mạnh tới những khám phá quan trọng trên lãnh vực trị liệu thôi.</p>
<p>Đời sống trung bình của con người cách đây hai thế kỷ là 35 năm, nay lên tới 70, và có lẽ chỉ trong vài chục năm nữa số người thọ 100 tuổi là thường.</p>
<p>Nhưng chúng ta đừng quá lạc quan và yên trí rằng bất cứ bệnh nào cũng có thể trị được dù y học tiến bộ mấy đi nữa, hiện nay vẫn còn có một số bệnh mà người ta vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân, như bệnh tê thấp, bệnh chai động mạch (arterio-sclerose), bệnh ung thư máu (leucemie)…Còn đối với những bệnh ở thần kinh hệ do siêu vi trùng gây ra (virus neurotrope) chúng ta vẫn còn …. . bất lực.</p>
<p>Y học hiện nay vẫn chưa có thuốc để cho ta khỏi già. Không những đừng quá lạc quan mà còn phải biết những nguy hiểm và những bệnh do chính thuốc gây ra (maladies thérapeutiques). Giáo sư Michel Conte đã nói:</p>
<p><em>Hiện nay chúng ta đang đứng trước một bi kịch mà chúng ta không phải là khán giả. Chúng ta bị lôi cuốn vào trong một cơn gió lốc, và chúng ta phải chữa bệnh, tức là phải lựa chọn những thứ thuốc mới, và cái đó không phải là chuyện dễ. Chưa bao giờ quyền lực của người thày thuốc lại mạnh đến thế, nhưng chưa bao giờ họ lại cảm thấy mình lúng túng đến thế. </em></p>
<p>Trụ sinh khi dùng bừa bãi, có thể tạo ra nhiều bệnh nặng do vi trùng staphylocoque gây ra, hoặc bệnh nấm(mycose) hoặc làm cho máu biến đổi.</p>
<p>Một vài loại sulfamide có thể gây ra bệnh ngoài da chết người được. Aspirine dùng nhiều có thể làm loét bao tử và xuất huyết, dùng corisone có thể làm thủng bao tử, gây kinh phong, hoặc làm cho bệnh lao cũ tái phát. Butazolidine có thể làm băng huyết được. Nhiều tai nạn lưu thông đã xảy chỉ tại dùng thuốc an thần, những thuốc này làm cho phản ứng chậm lại.</p>
<p>Người ta cũng nói nhiều về trường hợp các lực sĩ chết vì dùng kích thích tố trong các cuộc thi điền kinh.</p>
<p>Vẫn hay rằng những thuốc nói trên, trước khi đem ra dùng đã được thí nghiệm cho súc vật (Florey và Chain đã chích Penicilllin cho chuột và thấy không độc nên mới chích cho người, cũng như các loại thuốc an thần) nhưng làm sao biết chắc được là khi áp dụng cho người sẽ không nguy hiểm? Làm sao có thể tiên liệu được những phản ứng chậm, còn những thứ thuốc, thuộc loại thuốc hóa học, mỗi ngày một nhiều, càng công hiệu lại càng nguy hiểm)</p>
<p>Người ta đã từng thí nghiệm thuốc Thalidomide trước khi đưa ra thị trường nhưng có ai ngờ đâu rằng dược phẩm đó lại làm cho các sản phụ sinh ra quái thai. ?</p>
<p>Các bạn thân mến.</p>
<p>Tôi không có ý nêu ra đây những nguy hiểm của thuốc để các bạn sợ và đừng dùng, mà chỉ mong sao các bạn thận trọng mỗi khi các bạn cho toa, nhất là lưu ý các bạn đến những phản ứng bất ngờ có thể xảy ra với bất cứ loại thuốc nào. bởi vậy các bạn cần hỏi cặn kẻ bệnh nhân trước khi biên toa cho họ.</p>
<p>Tôi đã nói với các bạn không có nghề nào có nhiều trách nhiệm bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có nghề nào cao quý bằng. Cứu sống một người bị thương nặng nhờ giải phẫu kịp thời và đúng kỹ thuật, làm cho một bệnh nhân đang đau quằn quại chỉ trong phút chốc hết đau ngay, hoặc trả lại cho một bà mẹ đứa con yêu quý mà bà ta yên trí khó lòng qua khỏi, tất cả những cái đó, đối với một người không ở trong nghề, thật là phi thường và được coi như phép lạ.</p>
<p>Trách nhiệm của người thày thuốc nặng nề ngay từ khi định bệnh cho đến lúc kê toa, hoặc giải phẫu, bởi tính mạng của một người nằm trong tay họ.</p>
<p>Trách nhiệm đó làm cho người thày thuốc ngày đêm lo lắng đến quên ăn mất ngủ. Tôi thành thật mong cho các bạn được sống những giờ phút lo âu hồi hộp đó vì chính nhờ thế, rồi qua khỏi mới cảm thấy được tất cả cái cao đẹp của nghề thuốc.</p>
<p>Trousseau, một vị danh sư của Pháp, đã từng khuyên các sinh viên y khoa:</p>
<p>‘<em>”Các bạn có bổn phận làm vẻ vang cho nghề của các bạn, cũng như nhờ nghề đó mà các bạn được vẻ vang, một nghề đòi hỏi nhiều hi sinh, một nghề trong đó ngày và đêm của các bạn sẽ là ngày và đêm của người ốm.</em></p>
<p>Các bạn nên yên trí rằng các bạn gieo tận tâm mà sẽ chỉ gặt bội bạc. Các bạn sẽ phải gạt bỏ hết những thú vui đầm ấm của gia đình và thì giờ nghỉ ngơi sau một thời gian làm lụng vất vả.</p>
<p>Các bạn không được sợ thối tha bẩn thỉu hoặc nguy hiểm, các bạn không được lùi bước trước cái chết khi cái chết đó xảy ra giữa những lúc nguy hiểm của nghề chúng ta, bởi chết như thế sẽ làm cho ai nấy khi nhắc đến tên bạn, phải tỏ lòng kính mến. ”</p>
<p>Như tôi vừa nói, y học ngày nay tiến rất nhanh, và muốn trở thành một bác sĩ lành nghề, các bạn khi còn là sinh viên, phải siêng năng học tập, từ lý thuyết đến thực hành. Định bệnh chậm trễ hoặc sai lầm khi cho thuốc (cho quá hoặc không đủ liều) đều là những lỗi không thể tha thứ được. Bởi vậy thiết tưởng trong LỜI TUYÊN THỆ của Hippocrate cần ghi thêm câu này: Tôi xin thề suốt đời học hỏi Trong thời buổi này, bổn phận đầu tiên của người thày thuốc là phải học, phải biết, và phải biết cho đến nơi đến chốn, chứ không được biết lờ mờ.</p>
<p>Không nói tất các bạn cũng rõ là những kiến thức của chúng ta ở trên mọi lãnh vực, chứ không riêng gì ở y khoa, chỉ trong vài ba năm, có khi vài tháng, đã trở thành “cũ rích”, vì vậy chúng ta cần phải trau dồi học hỏi luôn luôn, suốt đời chúng ta vẫn phải là sinh viên đầy nhiệt hứng. Bận rộn mấy các bạn cũng cố dành thì giờ để đọc sách, báo y học, ngõ hầu theo dõi những tiến triển của y khoa, và nếu các bạn có thể tìm tòi, khảo cứu được thì càng hay. Thật là một tai họa cho người ốm nếu chẳng may gặp phải ông thày thuốc, dù tử tế dù tận tâm, nhưng “gà mờ” khiến tiền mất mà tật vẫn mang.</p>
<p>Người ta thường nói <em>“Có học mà không có lương tâm là sự đồi bại của linh hồn”</em> (science sans conscience n’est que ruine de l’âme) nhưng có lương tâm mà không có học, nhất là khi làm nghề thuốc, cũng bằng thừa, nguy hiểm nữa là khác. <em>“Tài năng và lương tâm chức nghiệp đều có liên hệ mật thiết với nhau, và giá trị nghề nghiệp phải đi đôi với giá trị đạo đức. Dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả”</em> (Gosset)</p>
<p>Ngoài việc trau dồi kiến thức y học, người thày thuốc còn phải có một vài đức tính sau đây:</p>
<p>a) Có óc nhận xét, nếu không sẽ bỏ qua những triệu chứng cần thiết để định bệnh.</p>
<p>b) Có lương tri, tức óc phê bình, biết phán đoán, không quá tin ở những kỹ thuật hoặc thuốc mới nếu xét thấy những kỹ thuật và thuốc này trái ngược với bệnh lý (phòng thí nghiệm vẫn có thể nhầm được). Đừng ham mới chuộng lạ nếu thuốc kê cho bệnh nhân dùng chưa được các danh sư hoặc các bác sĩ đứng đắn xác nhận là công hiệu và không nguy hiểm. Có nhiều thứ thuốc hôm nay được ca tụng như thần dược mà chỉ trong một thời gian ngắn đã bị bỏ rơi (trường hợp vàng để trị bệnh lao, thạch tín (arsenic) để chữa giang mai. . ) Bởi vậy trước khi cho toa các bạn phải thận trọng và luôn luôn nhớ tới lời châm ngôn cổ: Primum non nocere (trước hết đừng làm hại).</p>
<p>c) Có kinh nghiệm:</p>
<p>Muốn có kinh nghiệm dĩ nhiên phải hành nghề lâu năm. Tuy nhiên đối với nghề thuốc cũng như với nhiều nghề khác, các bạn đừng tưởng rằng cứ nhiều tuổi nghề mà có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, vì có “những cái mà mình cho là kinh nghiệm, kỳ thực là những sai lầm chồng chất lên nhau” (Sergent)</p>
<p>Một sinh viên y khoa năm thứ nhất, lần đầu tiên gặp một người mắc bệnh thương hàn lần sau gặp một người sốt liên miên, nom có vẻ mệt mỏi, chàng ta không do dự gì cả, bảo người đó bị bệnh thương hàn. Trái lại một sinh viên năm thứ năm, hoặc một sinh viên nội trú hoặc một vị giảng sư dù đã từng chữa hàng trăm người mắc bệnh đó rồi, bao giờ cũng dè dặt, không vội vả. Những người ít học lại càng hay tự phụ, còn những người học rộng tài cao lại càng khiêm tốn <em>“khác nào những bông lúa lép bao giờ cũng ngạo nghễ vươn đầu lên trời, trong khi những bông lúa vàng nặng trĩu hạt thì nằm rạp xuống đất&#8221; </em>(Leonard de Vinci )</p>
<p>Ngoài kiến thức về y học ra người thày thuốc còn phải có những đức tính tinh thần, nhất là phải có tình thương.</p>
<p>Làm thày thuốc dù giỏi, dù có lương tâm mà thiếu tình thương thì chỉ được coi như mới làm có một nửa phận sự thôi, và nhất định không thể nào yêu nghề được. Từ mấy ngàn năm nay Hippocrate đã nhấn mạnh tới điểm quan trọng này rồi.</p>
<p>Bạn săn sóc người ốm, sau khi đã thăm bệnh, cho toa, dặn dò cặn kẻ cách dùng thuốc như thế nào và cho biết bệnh tình nặng nhẹ ra sao, bao giời khỏi, rồi bạn ra về, như vậy đã đủ chưa? Tôi thấy là chưa đủ. Vì ngoài cái đau đớn về thể xác, bệnh nhân nào cũng mong được vỗ về, an ủi, bệnh nhân nào dù sang hèn, cũng muốn rằng người thày thuốc kiêm cả một nhà tiên tri nữa, biết hiện tại lẫn tương lai, chữa được mọi bệnh ngay cả tâm bệnh.</p>
<p>Phải chính bản thân mình đã từng bị đau ốm mới biết thế nào là một người thày thuốc. Trong khi mong đợi thì xiết bao lo ngại, băn khoăn, rồi khi thấy mặt thì mừng rỡ, cảm thấy vững tâm ngay. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của người thày thuốc đều quan trọng đối với người bệnh, và người này chỉ muốn cho ông thày lúc nào cũng ở bên cạnh mình, không rời mình ra, bất kể đêm khuya, bất kể họ mệt nhọc. Nào chỉ có thế thôi !Lại còn những lời trách móc nếu mời mà đến chậm, hoặc đi vắng vì hôm đó nhằm ngày chủ nhật hay ngày lễ.</p>
<p>Chính nhờ có sự vững tâm nói trên mà nhiều khi bệnh mau khỏi. Bởi lẽ đó, y học muốn trở thành một nghề cao quý, cần phải là một nền y học nhân bản, nghĩa là hiểu thấu những gì thuộc về con người, con người toàn diện, con người trong quá khứ và hiện tại. Và nhất là phải tôn trọng con người.</p>
<p><em>“Nhân bản là cảm thấy trong lòng con người ta trải qua bao thế kỷ, cái gì đó vẫn bất di, bất dịch, con người thì hoàn toàn và sống trong một thế giới thích hợp với họ, con người biết rung động trước thiên nhiên, biết rung động khi nghe một bản nhạc, khi đọc một cuốn sách khi suy ngẫm về những sự huyền bí của tạo vật. Nhân bản tức là biết cảm, biết yêu, biết thương xót”</em> (Maranon)</p>
<p>Một người ốm, không phải chỉ có phần xác, với tim, gan, phổi, thận mà thôi, lại còn có cái mà từ ngàn xưa Platon gọi là phần hồn nữa.</p>
<p>Một bệnh nhân thuộc về bất cứ thành phần nào trong xã hội không phải là một con số, hay là một lá phiếu như ta thường quan niệm ở bệnh viện. Họ không phải là một kẻ vô danh, mà ngược lại, là một người như chúng ta, một người có tên, có tuổi, có nghề nghiệp, địa chỉ, có gia đình, có những hoài bão, ước mơ, cảm xúc.</p>
<p>Các bạn nên biết rằng một bệnh nhân khi nằm trên giường bệnh, không bao giờ có những phản ứng tâm lý như một người bình thường, và buổi đầu thế nào họ cũng có những xúc động lo âu.</p>
<p>Người thày thuốc không phải là một người thợ máy sữa chữa cơ thể như ta sửa một cái máy hư: <em>“Đó là một con người cúi xuống một con người khác, mong giúp đỡ họ, có gì cho nấy, đem lại cho họ một chút khoa học nhưng rất nhiều tình thương”</em>(Ignacio Chavez).</p>
<p>Muốn rằng thày thuốc là một con người máy và người ốm là một con số tức là không hiểu một tí gì về khoa tâm lý cả. Không nói tất các bạn cũng rõ là con người ta phức tạp vô cùng, đầy mâu thuẩn, có lúc sống với những bản năng cực kỳ hèn thấp, nhưng đôi khi lại có những hành động thật là cao thượng, siêu nhân. Và có lẽ bởi nhìn thấy rõ các nhược điểm đó nên người thày thuốc, mỗi khi gặp một bệnh nhân khó tính, hoặc đối xử với mình tệ bạc mà vẫn sẵn lòng tha thứ.</p>
<p>Không có một bộ máy nào dù cho tinh xảo mấy đi nữa, có thể ủy lạo người ốm với những lời dịu dàng trìu mến được, và giữa người thày thuốc và con bệnh, bao giờ cũng có một sự cảm thông, một mối dây liên lạc mật thiết “một cuộc đối thoại kỳ lạ”(une colloque singulier) như Duhamel đã nói, một bên thì ký thác những gì bí ẩn trong cõi lòng của mình, còn một bên thì cho mà không hề đòi hỏi. Hiểu như vậy các bạn sẽ cảm thấy sung sướng vô cùng, và nếu cái học của các bạn không phải là cái học nhân bản thì thật là vô ích và đáng tiếc lắm.</p>
<p>Tóm lại đối với người thày thuốc, xứng đáng với danh từ đó:<em>“không có bệnh mà chỉ có người bệnh thôi”</em> (Mondor).</p>
<p>Ta thường nghe người ta phê bình ông thày thuốc này tốt, ông kia tử tế. Tốt hay tử tế không phải vì mát tay, mà vì ngoài công việc chữa bệnh ra, người thày thuốc còn hỏi han đến gia cảnh của thân chủ mình, đến sự học hành của con cái họ, có khi khuyên răn, có khi giúp đỡ, nghĩa là làm tất cả những gì có thể làm cho bệnh nhân và gia đình họ được hài lòng <em>“Chỉ có người tốt mới có thể thành danh y được” </em>(Nothnagel) vì nhiều khi chính nhờ tấm lòng tốt của người thày thuốc mà bệnh nhân chóng bình phục.</p>
<p>Ngoài tình thương và tấm lòng tốt ra người thày thuốc còn phải tế nhị đối với bệnh nhân nhất là ở bệnh viện.</p>
<p>Các bạn đừng quên rằng người ốm bao giờ cũng có nhiều mặc cảm (mặc cảm tự ti) hay lo lắng và thường để ý tới cử chỉ và lời nói của các bạn.</p>
<p>Các bạn đừng khinh người nghèo khó và nên nhớ rằng trước bệnh tật và cái chết ai ai cũng như nhau cả.</p>
<p>Ambroise Paré người đã được coi như cha đẻ của khoa giải phẫu, nguyên là ngự y cho vua Chareles IX một hôm nhà vua đau cho vời ông lại và bảo: <em>“Trẩm mong khanh săn sóc Trẫm chu đáo hơn những người khác”</em>. Ambroise Paré đáp: <em>“Tâu bệ hạ, hạ thần rất tiếc vì kẻ hạ thần chữa thân chủ của hạ thần như chữa các bậc đế vương”</em>.</p>
<p>Ngay đến những sa đọa về tinh thần của bệnh nhân các bạn cũng phải tôn trọng.</p>
<p>Các bạn sinh viên thân mến,</p>
<p>Như trên tôi vừa nói, trong nghề thuốc của chúng ta có nhiều buồn, nhiều đau khổ hơn vui, nhất là nhiều nhục hơn vinh. Có những người mà ta tận tình săn sóc lại là những kẻ bội nghĩa vong ân, và trái lại, có những người mà tự xét ta chẳng làm được gì gọi là đáng kể thì suốt đời họ lại coi ta như bậc ân nhân.</p>
<p>*********</p>
<p>Nói tới những bổn phận của các bạn, tôi không thể không đề cập đến vấn đề <em>bí mật nghề nghiệp</em> (secret professionnel)</p>
<p>Tuyệt đối người thày thuốc không được tiết lộ cho ai biết căn bệnh của thân chủ mình. Trong bệnh viện khi các bạn còn là sinh viên, các bạn không được nói to để người ngoài biết bệnh tình của con bệnh, hoặc cho biết họ mắc bệnh gì (một bà chủ muốn biết người làm công của mình mắc bệnh lao hay không). Ngay cả đối với nhà cầm quyền, các bạn cũng không được tiết lộ những gì bạn biết về thân chủ của các bạn. Khi viên cảnh sát trưởng hỏi ông Dupuytren để biết ai là kẻ phiến loạn trong số người nằm điều trị trong bệnh viện, ông ta đáp: <em>“Tôi không biết ai là phiến loạn cả, tôi chỉ biết có những người bị thương thôi”.</em></p>
<p>Các bạn cũng nên biết rằng các bạn có thể bị phạt tù nếu các bạn không kín miệng.</p>
<p>Sau hết các bạn phải có lương tâm chức nghiệp, hay nói một cách vắn tắt, các bạn khi hành nghề phải có lương tâm. Giaó sư Jean Gosset đã từng nói: <em>“Trong phòng giải phẫu người thày thuốc là chúa tể sau đức Thượng Đế nhưng có trách nhiệm trước lương tâm của mình”.</em></p>
<p>Không riêng gì thày thuốc ngoại khoa mà có thể nói một cách tổng quan là không một ai có thể kiểm soát nỗi một bác sĩ ngoại trừ lương tâm của họ.</p>
<p>Sở dĩ ngày nay y học không có một địa vị xứng đáng trong xã hội, sở dĩ người thày thuốc không được trọng vọng, không được kính nể như hồi xưa (kể cả ở Việt Nam) là bởi trong nghề của chúng ta có một số con chiên ghẻ, thiếu lương tâm chức nghiệp.</p>
<p>Các bạn thân mến</p>
<p>Nghề thuốc mà các bạn đã lựa chọn không giống những nghề khác. Nhất định không, một trăm, một ngàn lần không. Ai đã chọn nghề này cần phải biết rằng có nhiều cái không được phép làm, và phạm tới những cấm điều đó, tức là làm hoen ố nghề mình.</p>
<p>Nếu các bạn không muốn sống khắc khổ, không sẳn sàng hi sinh tốt hơn hết là các bạn tìm một nghề khác, ngay từ bây giờ cũng chưa muộn. Không thiếu gì nghề ngoài nghề thuốc vừa đem lại cho các bạn danh giá tiền bạc lại không vất vả, nhất là không có trách nhiệm gì hết.</p>
<p>Có người, nhiều người lắm tưởng rằng nghề thuốc cũng như nghề đi buôn. Kỳ thực, giữa nghề đi buôn và những nghề tự do, trong đó có nghề thuốc, có một hố sâu không sao lấp được.</p>
<p>Mục đích nghề đi buôn là mua rồi bán để lấy lời. Giá hàng cao hay hạ là tùy thuộc ở món hàng tốt hay xấu, bền hay không bền.</p>
<p>Trái lại mục đích chính của nghề tự do không phải là tiền tài hay lợi lộc. Người thày thuốc khi săn sóc một người ốm, cũng như một giáo sư khi giảng bài cho học sinh, sinh viên, đều cố gắng hết sức mình chứ đâu có nghĩ tới tiền thù lao, lương lậu ?</p>
<p>Người đi buôn có quyền làm quảng cáo rùm beng, hoặc trên báo, hoặc trên đài phát thanh, trên đài truyền hình để “câu khách”, hoặc nhờ người dắt mối rồi cho họ ăn hoa hồng.</p>
<p>Người đi buôn có thể rao ầm ỉ để mọi người biết là hàng của họ đep, bền, rẻ nhất thế giới chẳng hạn mà không sợ ai chê cười. Trái lại, người thày thuốc, biết tự trọng, có liêm sĩ, không được phép làm như vậy. Không những Y sĩ đoàn, Nghĩa vụ luận không cho phép mà chính lương tâm của họ cũng không cho phép.</p>
<p><em>“Người ốm không phải là một món hàng và chúng ta cũng thế, chúng ta không phải là món hàng để cho thiên hạ đem tiền ra mua chuộc. Chính người thày thuốc, khi đem tài nghệ của mình ra để phục vụ người ốm, đã làm ơn cho họ, chứ không phải người ốm, vì đem tiền bạc hay thế lực mà ban ơn cho người thày thuốc”.</em> (Leannec)</p>
<p>Ngoài bổn phận đối với bệnh nhân ra, các bạn còn có bổn phận đối với các bạn đồng nghiệp nữa.</p>
<p>Tôi nhận thấy ngày nay phần đông các bác sĩ không đối xử với nhau như các bậc đàn anh của họ hồi xưa: trên kính dưới nhường. Tuyệt đối các bạn không được nói xấu bạn đồng nghiệp, không được phê bình (với ác ý) chỉ trích cách định bệnh hoặc chữa bệnh của họ, không được gièm pha để tranh khách, không được len lỏi vào một gia đình nếu gia đình đó đã có một dồng nghiệp rồi.</p>
<p>Giáo sư P, V. Badot có kể lại truyện về giáo sư Maranon, một hôm tới bệnh viện Bichat và chăm chú nghe một sinh viên nội trú giới thiệu một bệnh nhân mắc chứng bệnh ở nội tiết tuyến (glandes endocrines) P, V. Badot viết: ”Khi tôi hỏi ý kiến của ông trước mặt đông đủ học trò của tôi thì ông chỉ mỉm cười, không trả lời. Khi chỉ có một mình ông với tôi, tôi nói:</p>
<p>-Thế nào, ông có đồng ý không?</p>
<p>Giáo sư Maranon đáp:</p>
<p>-Tôi không hoàn toàn đồng ý với học trò của ông.</p>
<p>-Thế tại sao lúc ấy ông không nói?</p>
<p>-Bởi vì không ai có thể biết sự thật chắc chắn được, Vả lại, không bao giờ được làm mất lòng một bạn đồng nghiệp cả!”</p>
<p>Rồi giáo sư PVBadot kết luận: “Lịch sự tới cực độ ấy là một đặc tính của ông. ”</p>
<p>Còn một điều này nữa tôi muốn nói với các bạn, là ngoài nghề thuốc ra các bạn <em>cần phải trau dồi văn hóa</em>, không những trên lãnh vực khoa học mà cả trên lãnh vực văn chương nữa. Ở vào thời buổi này một nhà khoa học phải ham thích văn chương cũng như một nhà văn, không thể không biết tới khoa học.</p>
<p>Chính nhờ văn hóa mà bạn có óc phê bình, sự phán đoàn của bạn được sắc bén, mau lẹ và minh mẫn, trí tuệ không bị cùn nhụt, căn cỗi, thành chai, tâm hồn của bạn vẫn giữ được trẻ trung mãi mãi.</p>
<p>Giáo sư P, V. Badot đã viết:</p>
<p><em>Phải mở mang trí tuệ của thanh niên hơn là để họ sống gò bó trong khuôn khổ chật hẹp của y khoa.</em></p>
<p>Tôi nhận thấy nhiều danh y của thế giới, hoăc nhiều giáo sư đại học, đều là những người hiếu học, ham đọc sách, yêu sách, yêu nghệ thuật, học thức rất uyên thâm, vừa là thầy thuốc trứ danh, vừa là nhà văn nổi tiếng, như Mondor (nổi danh nhờ con dao cây bút và cây cọ) Jean Delay, P. V. Radot, Duhamel…. những người này vừa có chân trong Hàn Lâm viện Y khoa vừa là Hội viên của Hàn Lâm viện Pháp.</p>
<p>Nữ văn hào Han Suyin, Sommerset Maugham, Cronin, trước khi là nhà văn, đã từng làm nghề thuốc.</p>
<p>Tchekov, đại văn hào Nga, vừa sống về nghề thuốc, vừa viết văn. Ông thường nói: <em>”Y học là vợ chính thức của tôi, còn văn chương là tình nhân. Khi tôi chán bà này thì tôi đi với bà kia. Tuy nhiên đối với cả hai, tôi đều trung thành cả. Nếu không có nghề thuốc, có lẽ tôi không có tài liệu để viết văn. ”</em></p>
<p>Giáo sư Trousseau tôi đã dẫn thượng, cũng bảo: <em>Một nhà bác học mà không phải là một nghệ sĩ thì chỉ là một nhà bác học tầm thường”</em></p>
<p>Bởi vậy tôi khuyên các bạn, ngoài việc học ra, nên để thời giờ nhàn rỗi, trau dồi văn hóa, rèn luyện văn chương, nghệ thuật (âm nhạc, hội họa……) chơi thể thao, để cuộc đời đỡ buồn tẻ, vì theo tôi, nếu suốt đời làm mãi một nghề, bất cứ nghề gì, mà vẫn hăng say, không thấy chán thì quả thật là một sự lạ.</p>
<p>Không những để cuộc đời khỏi buồn tẻ mà còn làm cho đời sống thêm phong phú, để biết sâu hiểu rộng, ngoài lãnh vực y khoa.</p>
<p>Người ta thường so sánh thày thuốc với ông Cha sở và ông Luật sư. Tôi không mang tiếng mắc bệnh chủ quan nếu phê bình vai trò của ba loại người đó, mặc dầu ở đây chỉ có các bạn và tôi mà chỉ xin dẫn Balzac và Duhamel là hai văn hào đã viết rất nhiều về cuộc đời của mấy nhân vật đó. Balzac nói:</p>
<p><em>“Tôi cho rằng sở dĩ văn minh tiến bộ và nhân loại được sung sướng là nhờ ba người này”</em></p>
<p>Nhưng sau khi nhận thức đúng vai trò của người thày thuốc, ông nói thêm:</p>
<p>“Người nhà quê sẵn sàng nghe lời người kê toa cho mình để họ khỏi bệnh hơn là nghe lời ông Cha sở diễn thuyết về việc cứu vớt linh hồn. Một đàng có thể nói chuyện với họ về đồng áng và một đàng, chỉ có thể bàn với họ về thiên đàng, điều mà họ ít quan tâm tới. ”</p>
<p>Còn Duhamel thì viết về ba vị đó như sau:</p>
<p>“Ông luật sư mà ta nhờ cậy để bệnh vực công lý cho ta có thể chọn ngày giờ để tiếp khách. Nếu ông yêu nghề, ông sẽ hăng hái làm việc, dù sao, không có gì cấp bách cả. Đối với thân chủ của ông, dù sao tình thương không quý bằng tài hùng biện, bằng sự khôn khéo, bằng giao thiệp rộng.</p>
<p>Công việc của một nhà tu hành có thể ví với công việc của người thày thuốc, tuy nhiên tôi cần nói ngay là chỉ khi nào hấp hối, người ta mới mời ông Cha Sở. Lương tâm dù bị cắn rứt, đợi đến sáng hôm sau cũng không muộn. Nhưng thường thường khi lên cơn đau vì trong thận có sạn, thì không thể nào đợi được. Ít khi người ta đánh thức ông Cha sở, dù ông này tốt, vì có người ăn năn sám hối; nhưng hơi nhức đầu một tí, có khi chẳng sao cả, đang đêm người ta cũng dựng ông thày thuốc dậy. ”</p>
<p>Các bạn sinh viên thân mến</p>
<p>Tôi vừa phác họa ra đây hình ảnh của một người thày thuốc, xứng đáng với danh từ ấy, suốt đời tận tụy, hi sinh cho người ốm, không quản vất vả, không mấy khi có thì giờ để nghỉ ngơi, giải trí, bữa ăn giấc ngủ thất thường, ngay đến những thú vui trong gia đình cũng không được hưởng, đã thế lại gặp nhiều bội bạc, hoăc có khi bị chính các bạn đồng nghiệp dèm pha, ghen ghét.</p>
<p>Tuy vậy nhưng tôi chưa hề thấy một người thày thuốc nào than phiền về cái nghề của họ, vì đó là một nghề cao đẹp, cao đẹp hơn hết mọi nghề khác cao đẹp ở chỗ tất cả những cảnh khổ não trên thế gian này chỉ càng thắt chặt thêm mối dây liên lạc giữa người thày thuốc với người ốm, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, cao đẹp ở chỗ chỉ có nghề thuốc mới dung hòa được khoa học với lý trí và tình thương.</p>
<p>Và để kết thúc buổi nói chuyện, kể cũng khá dài rồi, tôi xin mượn lời giáo sư E. Rist, trích trong cuốn: Y học là gì ? (Qu’est-ce la Medicine ?)</p>
<p><em>“Muốn lúc nào cũng lãnh được hết trách nhiệm tinh thần của nghề chúng ta, chỉ có cách chắc chắn nhất, ấy là chuyên tâm vào nghề của mình, yêu nghề đó tha thiết, và luôn luôn cố gắng để mỗi ngày một tiến.</p>
<p>Người thày thuốc muốn được tín nhiệm cần phải xứng đáng là người thày thuốc, cần phải có một nếp sống giản dị, không xa hoa đàng điếm, nêu một tấm gương thanh bạch đứng đắn.</p>
<p>Người thày thuốc phải sống thực tiễn và sống theo thời đại. Trí tuệ phải được rèn luyện, trau dồi luôn, hợp nhân đạo. Đối tượng của sự học là con người, con người toàn diện.</p>
<p>Người thày thuốc không những nên tìm hiểu con người trên lãnh vực khoa học mà còn cần biết đến đời sống tâm linh nhờ được tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp người, nhờ được trông thấy những thử thách của cuộc đời và làm quen với những kiệt tác của nhân tâm, của nghệ thuật và của khoa học.</p>
<p>Sống cho người thân yêu và cho nghề của mình, đó không phải là một đề mục khá đẹp cho một mộ chí hay sao? Và nếu lại còn được cái đặc quyền sống cho Tổ Quốc nữa thì thật là sung sướng vô cùng. Và chung quy có lẽ đó là một cách thẳng thắn nhất để sống cho Nhân loại. ”</em></p>
<p>Tôi thành thật cầu chúc cho các bạn sẽ là người thày thuốc gương mẫu đó.</p>
<p><strong>BS Nguyễn Hữu Phiếm</strong>.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%b0-g%e1%bb%9fi-cac-bac-si-tr%e1%ba%bb/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>17</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Với Ngô Nguyên Nghiễm</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/v%e1%bb%9bi-ngo-nguyen-nghi%e1%bb%85m/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/v%e1%bb%9bi-ngo-nguyen-nghi%e1%bb%85m/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 03 Dec 2011 00:10:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Các bài trả lời phỏng vấn]]></category>
		<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Thư cho bé sơ sinh và các bài thơ khác]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5308</guid>
		<description><![CDATA[Phút tâm giao với nhà thơ- bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC Ngô Nguyên Nghiễm Ghi chú: Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc, tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Phút tâm giao với nhà thơ-<br />
bác sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC</strong><br />
                                                                <em>Ngô Nguyên Nghiễm</em><br />
<strong>Ghi chú:</strong> Ngô Nguyên Nghiễm, sinh 1944 tại Châu Đốc,  tốt nghiệp Đại học Dược khoa Saigon nhưng người ta ít biết đến anh như một dược sĩ mà biết đến anh như một nhà thơ, nhà văn nhiều hơn. Anh đã có 12 tác phẩm văn học được xuất bản trước và sau 75, với hơn 40 tuyển tập thơ văn in chung, và đã từng là người chủ trương tạp chí Khai Phá. Một hôm anh phone tôi, nói muốn gặp gấp để làm một cuộc phòng vấn “bỏ túi” cho bộ sách mới của anh: <strong>Người Đồng Hành Quanh Tôi, Tác giả Tác phẩm</strong>. Tôi không có cách nào khác hơn là hẹn anh “bạn đồng nghiệp” quý mến của mình ra một quán cà phê góc phố… cùng với Trần Yên Thảo, giữa cái nắng Saigon…</p>
<p><span id="more-5308"></span></p>
<p><strong>Ngô Nguyên Nghiễm (NNN)</strong>: Nhà thơ Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc, đã góp mặt với nền văn học nghệ thuật thập niên 60 &#8211; 70 thế kỷ qua. Lúc đó, tác phẩm Thơ đầu tay được ấn hành là tập Tình Người (1967), và sau đó Thơ Đỗ Nghê (1973) là một dấu ấn đặc biệt. Sau 1975, rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê, bước sang giai đoạn Đỗ Hồng Ngọc, ấn hành khá nhiều tản văn truyền đạt y học. Sự chuyển hướng này có ảnh hưởng thế nào giữa Đỗ Nghê và Đỗ Hồng Ngọc? Ý kiến về cái thực của đời (Y học), và cái huyễn của Thi ca?</p>
<p><strong>Đỗ Hồng Ngọc (ĐHN)</strong>: Không phải “rời bỏ bút hiệu Đỗ Nghê” đâu. Chỉ là “rửa tay gác kiếm” tạm thời thôi! Thời đó có quá nhiều “Ông Đồ xứ Nghệ”, nên Đỗ Nghê tạm lánh đi. Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc vẫn là một đó chứ dù là viết dưới dạng nào đi nữa bạn không thấy sao? Ai bảo y khoa là cái thực và thi ca là cái huyễn? Y khoa vừa là khoa học vừa là nghệ thuật! Thuốc “giả” vẫn chữa được nhiều thứ bệnh thật đó chứ! Còn thi ca? Đọc được một bài thơ hay ta chẳng phải đã “sảng khoái” còn hơn ngàn thang thuốc bổ ư?  </p>
<p> <strong>NNN</strong>: Hình như tản văn viết về y học dưới bút pháp Đỗ Hồng Ngọc lại  là những tác phẩm văn chương tuyệt diệu. Anh có xem cả hai như một khối duy nhất? Vì sao?</p>
<p><strong>ĐHN</strong>: Hình như trong tôi có sự lẫn lộn nào đó. Tôi không hề nghĩ rằng lúc này ta đang làm thơ và lúc này ta đang viết về y học. Thân và tâm đâu có tách rời, sắc thọ tưởng hành thức vẫn là một, ngũ uẩn vẫn “giai Không” mà! Viết, chỉ biết viết. Khi viết một bài về y học, thì hình như tôi đang làm thơ và khi viết một bài thơ thì hình như tôi đang làm… y học! Tôi không biết cách nào phân biệt rạch ròi hai lãnh vực nầy. Tại cái tạng nó vậy. Người đọc thơ tôi bảo “đời thường” quá, không có gì bay bỗng tuyệt vời cả, ngưới đọc tạp văn lại bảo như thơ… Thôi thì, nó sao kệ nó. “Phân biệt trí” đã làm ta khổ lâu rồi!</p>
<p> <strong>NNN</strong>: Sự hiện thực được bày tỏ trong tác phẩm thi ca mới nhất của Đỗ Hồng Ngọc, là Thư Cho Bé Sơ Sinh &#038; Những Bài Thơ Khác, càng đọc càng làm rúng động lòng người. Anh có thể tâm sự phút giây về những cảm xúc được ghi lại trong loạt thơ đầy nhân bản này?</p>
<p><strong>ĐHN</strong>: Bạn vừa dùng một cụm từ lạ: “loạt thơ đầy nhân bản”. Chẳng lẽ có những loạt thơ không đầy nhân bản hay sao? Tôi nghĩ thơ, bản chất đã là nhân bản, dù được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác, ở thời đại này hay thời đại khác. <em>“Người ta đẻ ra mà tỉnh, ấy là tính Giời cho nguyên như thế, cảm ở vật ngoài mà động thời ấy mới là sự muốn của tính. Đã có muốn thời phải có nghĩ, đã có nghĩ thời phải có nói, đã có nói thời những cái ý nhị không thể nói hết ra được mà hình hiện ở trong lúc ngậm ngùi ngợi than, tự nhiên tất phải có những giọng điệu cung bực, như không thôi đi được. Ấy tại thế mà sinh ra có thơ!”.</em> Chu Hy đã viết như thế ngàn năm trước khi đề tựa cho tập Kinh Thi, khi có người hỏi ông: Thơ tại sao mà làm ra? (Tản Đà địch). <em>“Như không thôi đi được”</em>, bạn thấy không? Những người làm thơ… trên cõi nhân gian đều vậy đó,  “như không thôi đi được”. Vậy nên lại có tập “Thư cho bé sơ sinh &#038; những bài thơ khác”…!</p>
<p><strong>NNN</strong>: Thỉnh thoảng đọc các bài viết về Phật pháp của Đỗ Hồng Ngọc trên các tạp chí Phật giáo. Và tôi còn chiêm nghiệm về số vốn cao thâm của anh ở những ý kiến về Phật học. Tất cả tư tưởng trên có ảnh hưởng sâu sắc vào những sáng tác hơn 30 năm nay? Nếu phải, thì hé mở chút duyên ngộ mà nhà thơ, nhà văn hóa Đỗ Hồng Ngọc có được?</p>
<p><strong>ĐHN</strong>: Hồi nhỏ tôi sống mấy năm trong một ngôi chùa ở Phan Thiết với người cô vì sớm mồ côi cha. Cô bị tai nạn xe lửa, không đi lại được nhưng rất mê sách. Tôi có nhiệm vụ đi mướn sách cho cô đọc. Mặc dù bị cấm con nít không được đọc, tôi đã ngốn hết… toàn bộ sách trong tiệm cho thuê sách đó. Lớn, đi học ở Saigon, dành tiền mua sách, mỗi sáng chỉ ăn một cục xôi. Sách đầy nhà. Tôi nhớ Tôn Hành Giả với 72 phép thần thông và cân đẩu vân tuyệt vời vậy mà cũng không nhảy qua khỏi bàn tay Phật, đành “tè” bậy dưới ngón tay. Thế nhưng, mãi đến năm 1997, sau cơn bệnh thập tử nhất sanh, tôi mới lại tìm đến với Tâm kinh, Kim cang… một cách khác. Học cách khác, hành cách khác. Cho nên như bạn thấy đó, những bài viết có chút hơi hướm, mà tôi nghĩ mình đang lõm bõm học từng chút, từng chút… rồi chia sẻ với bạn bè gần xa.</p>
<p> <strong>NNN</strong>: Tác phẩm Đỗ Hồng Ngọc nghiêm túc, hình như anh có một phương pháp và lộ trình sắp đặt cho hướng khai phá trong văn chương, dù đó là Nghệ thuật hay Y học. Nếu có dự trù nào cho tương lai, đề nghị hé mở những đóng góp quý giá này? </p>
<p><strong>ĐHN</strong>: Tại cái tạng nó vậy. Tôi nghĩ khó có ai sắp đặt một lộ trình, một phương pháp… trong cõi văn chương! Tại cái tạng thôi. Có người nói tôi nghiêm túc lại có người nói tôi  hài hước, dí dỏm; có người bảo tôi sơ sài quá, có người lại bảo thâm thúy… Vậy thì không phải “lỗi” ở người viết mà tại người đọc. Người đọc cũng “đồng tác giả” mà! Bạn thấy không, “văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ”!<br />
Còn “dự trù” gì đó ư? Sau Tâm kinh, Kim cang, tôi đang “nghiền  ngẫm” kinh Pháp Hoa, và giật mình thấy nó đã được gói gọn trong bốn câu ca dao mà người Việt mình ai cũng thuộc: “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”… </p>
<p><strong>NNN</strong>: Cảm ơn Đỗ Hồng Ngọc, chúc thân tâm an lạc.<br />
<strong>ĐHN</strong>:  Cảm ơn bạn, Ngô Nguyên Nghiễm.</p>
<p><em>NGÔ NGUYÊN NGHIỄM</em> thực hiện.<br />
Mùa thu 2010.<br />
……………………………………………<br />
(*) <em>Người đồng hành quanh tôi, Tác giả tác phẩm, tập II, NXB Thanh Niên, 12/2010</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/v%e1%bb%9bi-ngo-nguyen-nghi%e1%bb%85m/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thơ  Đỗ Nghê</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%a1-d%e1%bb%97-nghe/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%a1-d%e1%bb%97-nghe/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 Nov 2011 02:05:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Góc nhìn - nhận định]]></category>
		<category><![CDATA[Một chút tôi]]></category>
		<category><![CDATA[Vài đoạn hồi ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=5264</guid>
		<description><![CDATA[Thư gởi bạn xa xôi&#8230; Đúng là năm 1973 tôi có in tập Thơ Đỗ Nghê, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh &#38; [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><a href="http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%a1-d%e1%bb%97-nghe/attachment/tho-dn/" rel="attachment wp-att-5273"><img class="alignleft size-medium wp-image-5273" title="Tho-DN" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2011/11/Tho-DN-216x300.jpg" alt="" width="200" height="277" /></a>Thư gởi bạn xa xôi&#8230;</strong></p>
<p>Đúng là năm 1973 tôi có in tập <strong>Thơ Đỗ Nghê</strong>, Ý thức xuất bản, dưới dạng ronéo để tặng bạn bè, anh em. Một số bài trong đó đã đươc tuyển lại trong tập Giữa hoàng hôn xưa (Nxb TRẺ 1993) và tập Thư cho bé sơ sinh &amp; Những bài thơ khác (Nxb Văn Nghệ 2010). Nhưng cũng có một ít bài tạm gác&#8230;!<br />
Gởi bạn bài viết của Thu Thủy trên báo Chính Luận ngày 20.11.1974 về Thơ Đỗ Nghê, đọc vui giữa thu xa.<br />
Thân mến,<br />
Đỗ Hồng Ngọc</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thơ Đỗ Nghê<span id="more-5264"></span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thu Thủy</em></p>
<p style="text-align: justify;">Có lần chúng tôi nói đến hiện tượng mới hình thành trong sinh hoạt văn nghệ hồi gần đây, là loại sách in hạn chế (chỉ một vài trăm bản), phổ biến hạn chế (trong vòng thân hữu).</p>
<p style="text-align: justify;">Lần này chúng tôi xin giới thiệu một tác phẩm thuộc loại ấy: “Thơ Đỗ Nghê” mới ra đời, do nhà Ý thức ấn hành 200 bản, với lời bạt của Lữ Kiều.</p>
<p style="text-align: justify;">Tác giả không phải là người xa lạ. Trước đây bảy năm Đỗ Nghê đã cho xuất bản một thi tập (Tình người). Cách đây hai năm- dưới một bút hiệu khác trong một tủ sách khác (y sĩ chứ không phải thi sĩ) &#8211; ông đã cho xuất bản một tác phẩm về y học.<br />
Thi phẩm vừa in dày 80 trang, gồm 31 bài thơ, trong đó có những bài đã được viết ra từ chin, mười năm trước, hồi tác giả còn là một sinh viên.</p>
<p style="text-align: justify;">Phải chăng vì tác phẩm gom góp những sáng tác tản mạn trong một thời gian khá dài, bao trùm nhiều chủ đề khác nhau, phản ánh nhiều giai đoạn tâm tình khác nhau mà nhà thơ phân vân việc chọn nhan đề cho tác phẩm? “Thơ Đỗ Nghê” đó có vẻ là một nhan đề của toàn tập thi phẩm, điều mà chúng ta nghĩ rằng tác giả chưa nghĩ đến vào lúc này: tác giả hãy còn quá trẻ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự thực, dù tản mạn trong mười năm, dù đề cập đến nhiều đề tài, giữa các bài thơ trong tập không phải không có một mối liên hệ. Có lẽ không được đặt thành chủ đề chung, nhưng mối ưu tư về “chiến tranh và hòa bình” bàng bạc, thấm nhuần gần khắp các sáng tác của ông Đỗ Nghê trong mười năm qua.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoặc trong lúc ru con bằng những lời mỉa mai:<br />
&#8230; “Ngủ đi con ngủ đi con<br />
Ngày mai rồi khôn lớn<br />
Cầm súng với cầm gươm&#8221; (trang 14)</p>
<p style="text-align: justify;">Hoặc trong lúc ru&#8230; vợ, bằng những lời cay đắng:<br />
“Ngủ đi cưng ngủ đi cưng<br />
Kề tai đây anh bảo<br />
Coi như mình chẳng có quê hương&#8221; (trang 19)</p>
<p style="text-align: justify;">Hoặc khi nhắc lại huyền thoại Lạc Long Quân chia con đi hai ngả để liên tưởng tới tình trạng Nam Bắc lưỡng phân hiện thời (trang 5); hoặc khi nói về cổ tích ngôn ngữ để ám chỉ cuộc xâu xé liên miên giữ các dân tộc (trang 33); hoặc nghe một bản tin thời tiết hàng ngày (trang 36); hoặc làm một bài vè cho niềm mơ ước đơn giản (trang 48) v.v&#8230;, lúc nào người ta cũng nhận thấy nhà thơ bị vấn đề chủ yếu nọ ám ảnh: Chiến tranh trên quê hương; Hòa bình cho quê hương.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu không được đặt ra làm nhan đề lộ liễu, thì thiết tưởng đó vẫn là chủ đề kín đáo của tác phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;">Người đề bạt tập thơ là một đồng nghiệp của tác giả, lại cũng là một văn hữu đối với tác giả- Trên đường đời, hai người đã quen nhau từ thuở còn đi học. Vì vậy, có lẽ chúng ta không mong biết gì hơn về Đỗ Nghê hơn là Lữ Kiều.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhận xét về bạn mình trong buổi đầu tiên mới gặp nhau, Lữ Kiều thấy Đỗ Nghê là “một người nghiêm túc”. Rồi “ hơn 10 năm qua, tôi đã không nhầm về cái trực giác đầu tiên ấy. Một người nghiêm túc. Và điều quan trọng, anh làm thơ, và thơ anh cũng giống như người anh vậy”. (trang 75)</p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi tán đồng cái trực giác của ông Lữ Kiều: quả họ Đỗ là một người nghiêm túc, ít ra là ở cái phần cốt cách cùng tâm hồn thể hiện trong văn chương.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở xứ ta, mỗi ngày mỗi thêm nhiều người làm thơ. Để được nổi bật, được chú ý giữa đám đông, lắm kẻ giở trò lập dị táo tợn hò hét ồn ào; hoặc nói năng ngang tàng, kiểu cách, hoặc tục tĩu dâm ô v.v&#8230; Ông Đỗ không hề có những dụng ý như vậy.<br />
Mặt khác, dù không lập dị, thì lớp trẻ thời chiến, sống trong sự đe dọa thường xuyên giữa lằn ranh sinh tử, lớp trẻ ấy hay nói đến say sưa, khoái lạc, nói giọng liều lĩnh, bất cần đời v.v&#8230; Ông Đỗ không hề có thái độ ấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Xót xa, đau đớn, ông cũng xót xa đau đớn vì thời cuộc như ai; nhưng ông không liều, không phá, không đọa lạc. Lúc nào ông cũng đứng đắn, chững chàng, nghiêm chỉnh, giản dị. Nỗi đau xót của một người như thế lịm hẳn vào bên trong.<br />
Toàn thi tập không có thơ lục bát và song thất. Chỉ có thơ thất ngũ ngôn và thơ tự do. Điều lạ lung là ngay trong những bài thơ tự do, những câu thơ dài ngắn không đều, nhịp thơ như khấp khểnh lảo đảo, vậy mà phong thái vẫn không mất vẻ nghiêm túc!</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Ơi những con đường ta đã đi<br />
Gia Long, Đồng Khánh mượt xuân thì<br />
Chân run rẩy cát bờ Thương Chánh<br />
Gió ở đâu về thơm bước khuya&#8221; (trang 11)</p>
<p style="text-align: justify;">Những câu như thế nghiêm túc đã đành. Mà những câu “tự do” sau đây viết vào dịp Giáng sinh 1967:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Chúng ta có 24 năm chiến tranh<br />
Và 24 giờ ngưng bắn<br />
Ôi 24 giờ ngưng bắn<br />
Cũng đủ lắm rồi&#8230;<br />
Cũng đủ lắm rồi cho con về thăm cha<br />
Nằm trong lòng đất lạnh&#8221; (trang 31)</p>
<p style="text-align: justify;">những câu ấy đâu có vì tự do mà mất vẻ nghiêm túc?</p>
<p style="text-align: justify;">* *<br />
*<br />
Bấy lâu nay người ta vẫn thường quen với hình ảnh những chàng thi sĩ tếu, lang bạt kì hồ, thi sĩ ngất ngưởng chuếnh choáng v.v&#8230; Cho nên một thi sĩ nghiêm túc thoạt tiên có thể làm ngạc nhiên bỡ ngỡ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng điều ấy tưởng không mấy quan trọng: trước lạ sau quen, miễn là có tài, chẳng mấy chốc chàng sẽ được mọi người mến yêu.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái điểm thứ hai nơi ông mà người bạn Lữ Kiều không kịp phát hiện bằng trực giác, ấy là cái đôn hậu. Tức là điểm trái ngược hẳn lại với sự khô khan, lạnh lùng.<br />
Một hôm, họ Đỗ nhớ về quê xưa:</p>
<p style="text-align: justify;">“Em có về thăm Mũi Né xưa<br />
Con đường sỏi đá vẫn quanh co<br />
Hoàng hôn sóng vỗ bên trời biếc<br />
Sóng vỗ trong hồn ta ngẩn ngơ<br />
Em có về thăm Mũi Né yêu<br />
Mười năm như một thoáng mây chiều<br />
Mười năm vườn cũ chim bay mỏi<br />
Áo trắng chân mềm em hắt hiu.” (trang 9)</p>
<p style="text-align: justify;">Lời thơ không chút gì cầu kỳ, đọc lên lại nghe có vẻ quen quen như từng gặp ở đâu đó. Thế mà những lời giản dị quen thuộc đó lại làm ta xúc cảm, bâng khuâng. Ấy chính bởi cái vẻ chân thành, cái đôn hậu tỏa ra từ tấm lòng người thơ.</p>
<p style="text-align: justify;">Họ Đỗ nói đến chiến tranh, nói đến bom đạn, đến chết chóc, đủ mọi thứ đáng khiếp đáng hãi; nhưng không một lần nào lời thơ có vẻ ác liệt bạo tàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Không thể tìm ở đâu ra trên đời này một con người hiền lành hơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cái hiền lành đôn hậu của họ Đỗ không phải chỉ để sánh với người đời mà thôi. Nó còn làm mất cả khí phách (!) của thần linh trong huyền thoại nữa. Ông tổ Lạc Long Quân trong thơ Đỗ Nghê là một ông cụ già dễ thương không biết chừng nào. Không biết ông tung hoành lẫm liệt giết Hồ tinh Ngũ tinh ở đâu, chứ ở đây ông cụ chỉ có băn khoăn, hối hận, đấm ngực chịu lỗi vì trót chia hai đám con khiến chúng nó gây sự đánh nhau. Ông cụ van vỉ con cháu:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Đốt hết sách vở, xé hết cờ xí đi<br />
Rồi đứng ôm nhau mà khóc<br />
Nước mắt sẽ làm tươi lại cỏ cây<br />
Nước mắt sẽ làm phì nhiêu mảnh đất&#8221; (trang 7)</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng trước hết, đó là những giọt nước mắt đôn hậu làm đẹp một thi phẩm, điều mà Lạc Long Quân không kịp nghĩ đến!</p>
<p style="text-align: justify;">THU THỦY<br />
<em>(Chính Luận 20.11.74)</em></p>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/goc-nhin-nhan-dinh/th%c6%a1-d%e1%bb%97-nghe/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>“Sầu đong càng lắc càng đầy”</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/%e2%80%9cs%e1%ba%a7u-dong-cang-l%e1%ba%afc-cang-d%e1%ba%a7y%e2%80%9d/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/%e2%80%9cs%e1%ba%a7u-dong-cang-l%e1%ba%afc-cang-d%e1%ba%a7y%e2%80%9d/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 24 Aug 2011 08:25:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=4885</guid>
		<description><![CDATA[Cảm nghĩ khi đọc “Khi tựa gối khi cúi đầu” của Cao Huy Thuần. Đỗ Hồng Ngọc. Đó là quyển sách mới nhất của Cao Huy Thuần, một tác giả không xa lạ. Tôi chú ý tới cái bìa. Cái bìa đẹp. Trang nhã. Một cành sen vươn lên trong đầm lầy. Không, trong bùn. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><strong>Cảm nghĩ khi đọc “Khi tựa gối khi cúi đầu” của Cao Huy Thuần.</strong></em><br />
Đỗ Hồng Ngọc.</p>
<p>Đó là quyển sách mới nhất của Cao Huy Thuần, một tác giả không xa lạ. Tôi chú ý tới cái bìa. Cái bìa đẹp. Trang nhã. Một cành sen vươn lên trong đầm lầy. Không, trong bùn. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bởi nói cho cùng, lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng rồi cũng nhị vàng bông trắng lá xanh thôi. Chẳng thêm chẳng bớt, bất cấu bất tịnh…<br />
Hình như vậy. Hình như thôi. Nhưng sao lại “khi tựa gối, khi cúi đầu”? Chắc phải còn cái gì khác nữa chứ? Quả đúng, trong sách còn thấy có “khi vò chín khúc/ khi chau đôi mày”. Sao lại phải vò, sao lại phải chau? Thì ra kẻ “xớ rớ uyên thâm” thì bao giờ và ở đâu cũng vậy, giống nhau, từ Chu Văn An đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… Cheo leo ở giữa lý tưởng trong veo và thực tế phũ phàng <em>(Giữa đất và trời)</em>.<br />
Xớ rớ không thì không sao. Biết thân mình. Uyên thâm không cũng không sao. Biết phận mình. Xớ rớ mà uyên thâm mới mệt. Thức khi người ta ngủ. Cỡi chiếc hoàng bào trả lại. Cạo trọc cái thanh xuân trên mái tóc (<em>Chiếc y của Phật)</em>.<span id="more-4885"></span><br />
Cũng như anh, tôi đã từng leo lên Yên Tử, phải nói là bò lên mới đúng. Ôm từng tảng đá mà bò, giữa sương mù, giữa mưa to và gió lộng, không nhìn thấy tảng đá phía trước chẳng nhìn thấy vực thẳm hai bên. Khi đến chùa Đồng, tôi nghe ngấm trong mình niềm hân hoan và cảm phục, chỉ muốn khụy đôi chân, vái lạy tiền nhân. Một ý chí sắt đá. Một khổ đầu đà, buông bỏ tất cả. Nhưng khi cần xuống núi dẹp giặc thì xuống núi, rồi phủi tay tiếp tục con đường độc cư và thiền định của mình. Tôi cứ để lòng mình rưng rưng, không phân tích, không hỏi han, không “đặt vấn đề” như anh <em>(Thiền đời Trần, thiền Việt Nam</em>). Cho nên đọc anh, tôi học được.<br />
Từ lâu ở anh, cái cảm nhận đầu tiên của tôi vẫn luôn đúng: một ông thầy giáo làng và một vị giáo sư đại học. Thầy giáo làng, là khi anh biết kể chuyện, biết uống ngụm trà trong sương mai, biết nhìn cây sứ bảy trăm năm tuổi ngậm ngùi, biết tựa gối, biết cúi đầu, biết kể chuyện cho trẻ con một cách rất giáo khoa thư; là giáo sư đại học khi anh trở về với con người chính trị, con người luật gia của mình để bàn về hạnh phúc, về Rousseau, về Locke, về Jefferson, về Tuyên ngôn độc lập… cả về cuộc Nam tiến, về hòa hợp… <em>(Hạnh phúc, Tin cậy, Trò chuyện, Lại trò chuyện)</em>. Lúc đó anh vò đầu, bứt tóc, chau mày, đỏ mặt tía tai có gì lạ đâu!<br />
Những dòng anh viết về người bạn anh, Bùi Mộng Hùng, rất cảm động đối với tôi (<em>Đi đâu vội mấy)</em>. Bác sĩ Bùi Mộng Hùng là đàn anh của tôi, phụ tá cho Giáo sư Nguyễn Hữu, hướng dẫn lớp chúng tôi về môn Cơ thể học (Anatomie) ở năm thứ nhất và năm thứ hai y khoa, nửa thế kỷ trước. Nhiều năm trước đây, khi còn sinh tiền, có mấy lần bác sĩ Bùi Mộng Hùng về thăm quê hương, anh thường tỏ ra ưu phiền về ngành y tế nước nhà thời đó, mà anh chơi chữ gọi là “ỳ tệ”, rồi góp nhiều ý kiến xây dựng đáng quý.<br />
Nhưng rồi hãy nghe một Cao Huy Thuần khác, kể chuyện thi Tú tài thời xưa, bên Tây cũng như bên ta <em>(Điện là gì?)</em>. Thời của anh cũng là thời của tôi, nên tôi hiểu được. Đọc mà không khỏi tủm tỉm cười. Một ông giáo, dù là giáo làng hay giáo sư đại học vẫn cứ tếu hết chỗ nói, mà sâu lắng không ngờ.<br />
Quen cách viết của Cao Huy Thuần, ta dễ nhận ra những bước “lăng ba vi bộ” của tác giả, đôi khi hình như còn có cả chiêu của Mộ Dung Cô Tô nữa. Nhưng phải hiểu giùm anh bởi bản chất anh là vô chiêu.<br />
Tóm lại, đọc “Khi tưa gối khi cúi đầu” ta dễ nghe “sầu đong càng lắc càng đầy” đó vậy!</p>
<p><strong>(Saigon 8.2011)</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/%e2%80%9cs%e1%ba%a7u-dong-cang-l%e1%ba%afc-cang-d%e1%ba%a7y%e2%80%9d/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhân ngày Phật Đản</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/nhan-ngay-ph%e1%ba%adt-d%e1%ba%a3n/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/nhan-ngay-ph%e1%ba%adt-d%e1%ba%a3n/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 17 May 2011 09:52:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=4428</guid>
		<description><![CDATA[Thư gửi Cao Huy Thuần Đọc “Thấy Phật” Anh Cao Huy Thuần ơi, Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật Đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Thư gửi Cao Huy Thuần</em><br />
<strong>Đọc “Thấy Phật”</strong></p>
<p>Anh Cao Huy Thuần ơi,<br />
Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật Đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật đản! </p>
<p><span id="more-4428"></span></p>
<p>Tôi mừng cho anh, anh Thuần à, mừng anh đã “thấy Phật”, à mà không, anh thấy pháp thân của Phật, à mà không nữa, anh thấy Như Lai. Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật. Như Lai là Như Lai. Là cánh hoa mai nở thiên thu giữa đêm trừ tịch, là cánh hoa đào “năm ngoái” vẫn còn cười với gió đông. Thật ra anh biết đó, làm gì có hoa đào năm ngoái. Hoa đào thiên thu thì có, đời đời kiếp kiếp, chẳng sinh chẳng diệt thì có. Nó cứ việc nở với gió đông và ngộ thay, nó cười mỉm, cười mũi vào anh chàng thi sĩ ngờ nghệch kia cứ tưởng hoa đào năm ngoái của anh còn đó để mà than thở nhân diện đào hoa nay đã về đâu? Về đâu? Chẳng về đâu cả, bởi chẳng đến từ đâu. Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ… Tôi khoái cái “tiếu đông phong” của hoa đào trong thơ Thôi Hộ. Cái hoa đào đó nó cười tủm tỉm anh chàng thi sĩ chưa thấy biết như lai kia. Còn người đẹp nhân diện đào hoa nọ có mất đi đâu bao giờ, có nhạt phai bao giờ đâu, ngàn năm trước ngàn năm sau vẫn vậy, vẫn tương ánh hồng mãi đó thôi. Chỉ có chàng thi sĩ loay hoay trong cái ngã của mình, là ta, của ta, nên mới buồn rầu, than thở. Anh không phải là chàng thi sĩ đó, nhưng như anh nói, cũng chỉ là một người mù với chiếc gậy, tệ hơn, “mắt mở nhưng nào thấy” như phần đông chúng ta, trong đó có tôi. Nhưng vì anh là một phật tử trí thức, tôi không tin là anh “xớ rớ uyên thâm” như người ta vẫn nói mà anh quả đã có con đường để đi, để thấy, để “ngộ” và để “nhập”. Tôi tin anh đã thõng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan, và anh còn thấy được cả bầy khỉ nắm đuôi nhau mò trăng đáy nước, chẳng chịu nhìn lên một chút! Có điều khi thấy biết (tri kiến) như vậy rồi thì người ta thường ú ớ, nói không được, bất khả thuyết, nên phải dùng ẩn dụ, ngụ ngôn. Thấy Phật của anh đầy những ẩn dụ, ngụ ngôn là vậy. Nói vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vậy. Tức phi thị danh. Anh bắt chước Pháp Hoa kể chuyện trên trời dưới đất để “ẩn đi chỗ khác” mà chỉ đây là diệu pháp, kia là liên hoa, đưa đạo vào đời, cư trần lạc đạo, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Anh nhìn bất nhị, anh thấy cái chẳng khác trong cái chẳng một, nên chẳng cần dính mắc đó đây. Nhưng thú vị nhất trong Thấy Phật, theo tôi, là anh đã bắt chước người xưa mà đi “chăn trăng”. Đầu tiên là anh mơ trăng, rồi nhìn trăng, thấy trăng, theo trăng, tán tỉnh đùa cợt với trăng để rồi sau cùng… trời ơi, hoá ra đằng sau trăng là nguyệt! Chả có trăng nào cả. Anh theo trăng mà gặp nguyệt! Tôi bỗng nhớ Trịnh Công Sơn: Từ khi trăng là nguyệt, cho tôi bóng mát thật là…. Thật là sao thì chàng không nói được, chàng ú ớ, bất khả thuyết. Cái không may của Trịnh là “từ khi em là nguyệt”, thì “trong ta có những mặt trời”!<br />
Anh Cao Huy Thuần, anh “chăn trăng” là để thấy nguyệt. Nhìn trăng thấy Phật. Nhìn Phật thấy Như Lai. Ấy là con đường tất yếu. Nếu không vậy thì Bồ tát Thường Bất Khinh đâu có cả đời chắp tay cung kính vái chào mọi người, rằng “Ngài sẽ là một vị Phật tương lai”. Vấn đề còn lại là mê ngộ như anh nói. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng ngộ cái gì, ngộ cái đằng sau trăng là nguyệt, nguyệt Như Lai, nguyệt vĩnh hằng, thường lạc ngã tịnh. Nó vằng vặc ngàn đời, nó tự tròn đầy, nó không dao động… Anh nói “Bây giờ tóc bạc cả rồi, đọc đoạn kinh Ta ẩn đi chỗ khác mà họ không biết, tôi rung động cả người” thì tôi hiểu cái sự rung động đó của anh, đó là cái rúng động của sáu thức đã chuyển hoá thành diệu quan sát trí, khi người ta đã biết nhìn “với mắt ở trong lòng”, mắt Tuệ, mắt Không.<br />
Cho nên khi một nhà văn, một trí thức, chữ nghĩa như anh mà ú ớ, mà nói không được, mà rúng động, thì tôi không ngạc nhiên chút nào cả khi đọc mấy câu thơ “hò hẹn” của anh, khi khép lại cuốn sách. Khác với Trịnh Công Sơn, “những hẹn hò từ nay khép lại”, với anh, thì những hẹn hò từ nay… mở ra!<br />
<em>Đâu có lạ quen gì<br />
Gặp nhau không hò hẹn</em><br />
Bởi nó là “cái đó”. Nó vậy đó! Cho nên tôi mừng anh chẳng những “thấy Phật” mà còn thấy cả “cái đó”, <em>Tathagata</em>.</p>
<p><em><strong>Đỗ Hồng Ngọc</strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/nhan-ngay-ph%e1%ba%adt-d%e1%ba%a3n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>ĐI CŨNG LÀ VỀ !</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 30 Mar 2011 02:12:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[BS Đỗ Hồng Ngọc]]></category>
		<category><![CDATA[BS Do Hong Ngoc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=4339</guid>
		<description><![CDATA[Đỗ Hồng Ngọc Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi? Với tôi, Trịnh Công Sơn không chỉ là một “Thiền sư” mà anh còn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><em>Đỗ Hồng Ngọc</em></p>
<p style="text-align: justify;">Có người hỏi tôi có phải Trịnh Công Sơn là một thiền sư không mà sao cứ thấy tôi nhắc và trích dẫn ca từ của anh trong các bài viết về Thiền, về Phật pháp của tôi?</p>
<p style="text-align: justify;"><span id="more-4339"></span></p>
<p style="text-align: justify;">Với tôi, Trịnh Công Sơn không chỉ là một “Thiền sư” mà anh còn là một vị “Bồ tát”. Dĩ nhiên “Bồ tát” trong cái nhìn của tôi thôi, bởi vì, anh đã mang đến cho tôi- và có thể cho nhiều người khác nữa- biết bao niềm phúc lạc, bình an, cũng như biết bao nỗi xót xa, khắc khoải&#8230; tùy theo lứa tuổi của mình như một thứ “vô lượng nghĩa” kinh…<br />
Mãi đến vài năm sau khi anh mất, tôi mới viết được một bài thơ nhỏ về anh: “Kẻ rong chơi”. Phải, theo tôi, anh là một kẻ rong chơi. Một vị “Bồ tát” hẳn nhiên là phải rong chơi trong cõi Ta bà thôi, với cái tâm không phân biệt, không chấp trước. Rong chơi thôi đã là quá đủ. Và không dễ. Bởi khi ta mất đi sự rong chơi, tức khắc ta rơi vào những “điên đảo mộng tưởng”…<br />
Khi có cái tâm Bồ tát, người ta “thị hiện” ở cõi người như một cuộc “du ư ta bà thế giới”, để chia sẻ những niềm vui và cả những nỗi đau để rồi một hôm “ta lắng nghe ta” thì chợt nhận ra một nỗi niềm “từ bi bất ngờ” ập đến, từ đó biết ra “một cõi đi về” thênh thang!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi viết “Gió heo may đã về” tôi nhìn Trịnh Công Sơn khác với khi tôi viết “ Nghĩ từ trái tim”. Ở Gió heo may đã về, Trịnh Công Sơn là của “cát bụi mệt nhoài”, còn ở Nghĩ từ trái tim, Trịnh Công Sơn là của “ta là ai mà còn trần gian thế”?  Một câu hỏi như vậy mỗi chúng ta chẳng đã từng khắc khoải tự hỏi với chính mình đó sao?<br />
Câu trả lời có đó rồi: “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt/ rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Đi cũng là về. Về cũng là đi. Nó không từ đâu đến, cũng chẳng về đâu (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ). Chính là cái mà Bùi Giáng vẫn thường hay nói “Hà dĩ cố? Chơi thôi mà!”. Đôi vầng nhật nguyệt ấy là “minh”. Một thứ ánh sáng vẫn soi suốt dặm trường. Ta là ai mà còn trần gian thế? Ta là ai mà yêu quá đời này? Sao không qua bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) đi, sao không “thị hiện”… niết bàn đi, mà cứ  phải loanh quanh cho đời mỏi mệt?</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi quen Trịnh Công Sơn từ cái đêm anh ôm đàn hát một mình dưới mái hiên tôn một tối ở sân trường đại học văn khoa Saigon thưở đó. Một người gìa trong công viên/ một người điên trong thành phố/ một người nằm không hơi thở/ một người ngồi nghe bom nổ… Anh nói tiếng nói của chúng tôi. Tôi nghe mình buốt lạnh: Vết lăn vết lăn trầm… Bài ca dao trên cồn đá; ôi quê nhà một thời… /  đại bác đêm đêm dội về thành phố, em bé co ra, từng hạt cơm khô, em bé lỏa lồ, khóc tuổi thơ đi…  Lứa chúng tôi, nói như bạn tôi, Lữ Kiều  không chọn lịch sử mà lịch sử chọn mình. Anh biết tôi với tên Đỗ Nghê, những bài thơ gần gũi trên Bách Khoa, Tình Thương…  Anh thường gởi tôi những em bé với đôi dòng nguệch ngoặc: Gửi Đỗ Nghê… chăm sóc giùm…<br />
Mỗi lần tôi ghé nhà thăm anh thường kêu to: “Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc”! Anh biết tôi không rượu, không thuóc lá. Và không ép. Những khi đông vui, ly này ly khác, thuốc lá chuyền tay, anh vẫn gọi người nhà: Lấy cho cậu Ngọc một ly nước lọc!</p>
<p style="text-align: justify;">Khi tôi in tập thơ Giữa hoàng hôn xưa, thì bìa là của Trịnh Công Sơn với một bức vẽ thiệt ngộ dành riêng cho bài “Thư cho bé sơ sinh”… Khi viết Gió heo may đã về, tôi dùng những ca từ của anh để đặt các tiểu tựa, Trịnh Công Sơn bèn “viết thêm” mấy dòng ở lời Bạt. Anh nói: <em>Moi</em> sẽ nói ngược lại ý <em>toi</em> cho vui nhé. <em>Toi </em>nói “có già”, <em>moi </em>sẽ nói không có già nhé! Và rồi, anh viết <em>“Không có già, không có trẻ. Nói với một người trẻ tôi già rồi em ạ là một điểu vô lễ”</em>.<br />
Đỗ Trung Quân nhận ra ngay vụ “cãi vả” này và bảo sao cho đến cùng, bác sĩ nói có, nhạc sĩ bảo không… trong một bài viết trên Tuổi Trẻ: <em>Như sông vào biển</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1997, nghe Trịnh Công Sơn bệnh nặng, đang nằm ở khoa Săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến thăm. Cả nhà đang bứt rứt lo lắng đi qua đi lại trước cửa phòng, vì không ai được vào. Tôi trong nghề nên được các đồng nghiệp cho vào thăm sau khi đã khoác thêm blouse trắng, đổi giày… đâu đó chỉnh tề. Ôi Trịnh Công Sơn đó ư? Một cái xác ve xẹp lép, nhẹ tênh trên tấm drap trắng với nồng nặc mùi nhà thương và bao bệnh nhân hấp hối xung quanh. Ôi, biết bao ca khúc say đắm thẩn thờ là từ cái xác ve xẹp lép nhẹ tênh này đó sao? Có cái gì đó đã bay lên làm nên một Trịnh Công Sơn từ trong tứ đại ngũ uẩn này đó vậy? Có cái gì đó “mặc khải” chăng? Có cái gì đó “thị hiện” chăng? Đã mượn anh để trình hiện như hoa sen trong đầm lầy, như quỳnh hương thoáng sát na?<br />
Tôi lay nhẹ. Anh mở mắt. Nhìn chầm chậm rồi lóe sáng “<em>Toi</em> mới về đó hả?” Thì ra anh vẫn tỉnh, vẫn nhận ra tôi, còn biết tôi vừa mới về sau chuyến tu nghiệp ngắn ở Paris. Tôi mừng quá. Một cô y tá đến chích thuốc. Tôi hỏi cô có biết ai đây không? Cô lắc đầu. Trịnh Công Sơn đó. Cô hơi ngớ ra. Tôi nói thêm: nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đó. Cô có vẻ kinh ngạc. Hình như cô kêu lên, không ra tiếng: Trịnh Công Sơn đây sao? Trịnh Công Sơn đây sao?<br />
Tôi thăm khám qua và bảo không sao đâu. Gan thôi. Gan anh thòng xuống đến 7cm dưới bờ sườn phải. Thực ra bệnh anh nặng hơn nhiều với nào tiểu đường, nào khớp, nào phổi, nào thận…(Trước đó tôi đã được tham khảo bệnh án). Mấy ngày sau, anh được chuyển lên phòng riêng ở tầng thứ 11. Lần này tôi đến đã thấy anh thảnh mảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi anh được về nhà, thỉnh thoảng tôi lại ghé thăm. Lấy cho cậu Ngọc ly nước lọc nè! Anh lại kêu. Anh khoe mấy bức tranh mới, nêu những ý tưởng mới… “<em>Moi</em> quyết định bỏ rượu và bỏ thuốc lá rồi. Mỗi sáng đi bộ được một quãng…”. Anh nói. Tôi cười cười. Lần sau đến, anh nói: <em>Moi</em> quyết định bỏ thuốc lá thôi. Thuốc lá mỗi người một gu, nhưng rượu thì mọi người đều có thể uống chung với nhau được. Bạn đến đông vui không thể không uống chút rượu. Anh giải thích. Tôi vẫn mỉm cười. Anh có lý. “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”? Vấn đề là chất lượng cuộc sống chứ!</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi đùng cái tôi bị tai biến mạch máu não phải mổ cấp cứu. Những người bạn đến thăm  lần này lại có Trịnh Công Sơn. Anh đi cùng Lữ Quỳnh. Trịnh Công Sơn ôm theo một bó hồng vàng. Lúc nào anh cũng tươm tất như vậy. Tôi khoe anh mấy bức ký họa trên giường bệnh của mình. Cái đầu trọc lóc bình vôi. Anh có vẻ khoái lắm. Hình như anh cũng đang tủm tỉm cười: Đó, thấy chưa? <em>Toi</em> không rượu không thuốc lá!</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi một hôm, Lữ Kiều phone báo tôi Trịnh Công Sơn đi rồi.<br />
Đi vào ngày 1.4, ngày của Cá.<br />
Đi, cũng có nghĩa là về vậy./.</p>
<div id="attachment_4359" class="wp-caption aligncenter" style="width: 360px"><a rel="attachment wp-att-4364" href="http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/attachment/dicunglave1/"><img class="size-full wp-image-4364" title="dicunglave1" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2011/03/dicunglave1.jpg" alt="" width="350" height="223" /></a><p class="wp-caption-text">Từ trái sang: Thanh Hằng, Bửu Chỉ, Đỗ Hồng Ngọc, Đinh Cường, Trịnh Công Sơn (Ảnh: Lữ Kiều Thân Trọng Minh).</p></div>
<p style="text-align: center;">&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/di-cung-la-ve/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>23</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gọi chiều nước lên…</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/g%e1%bb%8di-chi%e1%bb%81u-n%c6%b0%e1%bb%9bc-len%e2%80%a6/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/g%e1%bb%8di-chi%e1%bb%81u-n%c6%b0%e1%bb%9bc-len%e2%80%a6/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 06 Feb 2011 12:31:04 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=3981</guid>
		<description><![CDATA[&#8220;Gọi chiều nước lên…&#8221; ( Vài cảm nghĩ khi đọc XA XỨ, Thơ Trần Hoài Thư, Thư Ấn Quán Xuất Bản 2010) Đỗ Nghê Tập thơ mỏng tanh mà nặng trĩu với tôi. Tôi đọc mà nghe lòng mình rưng rứt. Toàn tập thơ có thể nói chỉ là một bài duy nhất từ đầu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><a rel="attachment wp-att-4015" href="http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/g%e1%bb%8di-chi%e1%bb%81u-n%c6%b0%e1%bb%9bc-len%e2%80%a6/attachment/tht-bia_s/"><img class="alignleft size-full wp-image-4015" title="THT-bia_s" src="http://www.dohongngoc.com/web/wp-content/uploads/2011/02/THT-bia_s.jpg" alt="" /></a>&#8220;Gọi chiều nước lên…&#8221;</strong><br />
( Vài cảm nghĩ khi đọc XA XỨ, Thơ Trần Hoài Thư, Thư Ấn Quán Xuất Bản 2010)</p>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>Đỗ Nghê</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Tập thơ mỏng tanh mà nặng trĩu với tôi. Tôi đọc mà nghe lòng mình rưng rứt. Toàn tập thơ có thể nói chỉ là một bài duy nhất từ đầu đến cuối- như một bản trường ca chưa viết xong &#8211; mà cũng có thể coi là một tập hợp của nhiếu bài thơ rải rác mang một cái tên chung: Xa Xứ.<span id="more-3981"></span><br />
Một tập thơ lạ, không như những tập thơ khác của Thư Ấn Quán: gần như vuông vức, cứ mỗi trang thơ lại có một trang tranh  tương ứng.</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Ừ nhỉ, cuối năm nơi đất lạ<br />
Mưa mênh mông và sông mênh mông<br />
Ừ nhỉ, hình như lòng rướm lệ<br />
          Như một người không có quê hương (tr 16)</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối năm, ấy là lúc lòng chợt như dừng lại. Không khí sánh đặc hơn với cái buốt lạnh chiều đông. Và chỉ cần dừng lại, người ta đã thấy khác đi-  trên con đường bươn chãi, miệt mài, mù tăm… của bao ngày tháng  nơi đất lạ quê người.</p>
<p style="text-align: justify;">Dừng lại. Thì nghe được mưa ngoài trời và mưa trong lòng.</p>
<p style="text-align: justify;">Anh nói hình như, hình như thôi, mà tôi tin lòng anh rướm lệ thật rồi. Rướm lệ bởi vì trời tháng chạp rồi. Đó là lúc người ta trở về. Về đâu? <em>Đi về sao chẳng về đi/ Ruộng hoang vườm rậm còn chi không về </em>(Đào Tiềm)… Nhưng, về đó là về cho kẻ có quê hương. Còn anh, như một người không có quê hương.  <em>Ơ đây đất lạ quê người. Mấy mươi năm cũng một đời xứ xa </em>(tr 50).</p>
<p style="text-align: justify;">Thì về đâu? Chẳng về đâu cả. Về với lòng mình thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Anh như muốn hét to lên một tiếng. Một tiếng dài cho lạnh tới sao khuê. “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” (Không Lộ thiền sư) vậy.</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Bây giờ trời đất thênh thang<br />
Tôi lên trên núi trên ngàn để vui<br />
Dưới kia, mệt quá cuộc đời<br />
Xa kia, xa quá, vợi vời Việt Nam… (tr 52)</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới kia, mệt quá cuộc đời… Xa kia, xa qua, vợi vời Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify;">Chỉ cần mấy giờ bay, chỉ cần một cái “cân đầu vân” là đến thế mà xa quá, xa như từ cõi lòng này đến cõi lòng kia, từ bờ bến này đến bờ bến nọ, khi ta chưa có trong tay con thuyền Bát nhã, khi ta chưa đọc câu thần chú: Gaté, Gaté, Paragaté, Parasamgaté…</p>
<p style="text-align: justify;">Anh viết <em>vợi vời</em> không phải vì anh “kẹt vần” đâu mà tôi nghĩ anh đã không còn cách nào khác. Vợi vời rõ ràng không phải vời vợi. Vời vợi dẫu xa muôn trùng mà không cách biệt. Vợi vời thì hết. Không phải là chuyện cách núi  ngăn sông nữa rồi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hình như có lúc anh chẳng cần thơ nữa. Anh nói.  “Có một ngày giữa tiểu bang mông mênh, chúng tôi đã bàng hoàng dừng xe, thổn thức” (tr 22). Thổn thức? Phải. Tôi nghĩ anh đang chạy xe với tốc độ cao trên xa lộ, mắt lại cận thị năng, vậy mà, cũng đã kịp nhận ra:</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">“Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc<br />
Chuối mẹ chuối con, trời hỡi quê nhà ! “(tr 22).</p>
<p style="text-align: justify;">Vâng chỉ là một bụi chuối xúm xít mẹ con. Chỉ thế thôi. Nhưng trong anh là cả một quê nhà vằng vặc, Tôi biết anh chẳng quên Trần Minh khố chuối, cũng chẳng quên <em>Gió đua bụi chuối sau hè, anh mê vợ bé bỏ bè con thơ…</em></p>
<p style="text-align: justify;">Hai tiếng “trời hỡi”mới “cải lương” làm sao! Nhưng nó đã làm tôi muốn rơi nước mắt! Cải lương thật tuyệt vời!</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi anh “lý giải” cho cái sự <em>trời hỡi</em> đó của mình:</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Ở đâu cũng vẫn đất trời<br />
Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương<br />
Cũng ngày nắng cũng đêm sương<br />
Cũng qua cũng lại phố phường người dưng<br />
Cũng trên trời một vầng trăng<br />
Cũng sông vẫn chảy hai giòng ngược xuôi<br />
Nhưng lòng sao lại không nguôi<br />
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên…(tr 46)</p>
<p style="text-align: justify;">Lạ lùng là ở chỗ đó. Bìm bịp gọi chiều nước lên nó khác biết bao nhiêu tiếng rùng rùng chuyển động của những con tàu cơ khí với rầm rập bước chân người lạc lõng giữa đám đông, với …, với…</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi có sống ở Boston mấy tháng mà thấy trăng Boston sao khác trăng mình. Trăng to quá, bự quá, sừng sững quá, lộ liễu quá, tênh hênh quá. Khác với trăng nằm sóng soãi trên cành liễu, khác với bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm của quê nhà. Cho nên “nghe như” tiếng bìm bịp kêu chiều kia đã làm cho anh khóc được: <em>chiều chiều lại nhớ chiều chiều… </em></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Ngăn kéo cũ đã lâu rồi không mở<br />
Tấm hình tôi lem luốc nhìn không ra<br />
Tôi đứng giữa những nỗi buồn lịch sử<br />
Lẫn ngông cuồng của tuổi trẻ hôm qua…(tr 56)</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn chúng tôi, Lữ Kiều nói “lịch sử chọn chúng ta chứ chúng ta không chọn lịch sử”.</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn mươi năm trước, những ngày ở Nha Trang, tôi lang thang cùng anh trên bãi biển đầy những cơn sóng thịnh nộ giữa những ngày tháng bão bùng… Rồi ở Saigon, có lần tôi đèo anh bằng chiếc xe lọc cọc của mình đến tòa soạn Bách Khoa, nơi anh hò hẹn, nhưng nàng không đến. Anh ủ rủ quay về. Chiếc xe nặng trịch. Trong trí nhớ tôi, Trần Hoài Thư là một chàng thư sinh nho nhã, vầng trán rộng quá khổ, đôi mắt hun hút sau tròng kính cận, những ngón tay lòng thòng, dáng đi lỏng khỏng… Anh là một kẻ “nòi tình”, dễ nước mắt, dễ giận hờn, dễ  đắng cay…</p>
<p style="text-align: justify;">Bốn mươi năm không gặp lại. Anh vẫn nhắc tôi món bánh cuốn nóng ở cạnh nhà mình mà hôm đó anh và tôi ra ngồi bên lò lửa từ rất sớm, để tiễn anh đi, không, tiễn anh về, Về nơi gió cát. “Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao”. Không cầm lòng được, hôm đó tôi đã viết cho bạn:</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;"><em>Ta cũng muốn ngâm tràn câu tống biệt<br />
Đưa người đi tiếng sóng ở trong lòng<br />
Nhưng khói thuốc đã cay sè đôi mắt<br />
Có ai còn thổi sáo trên sông</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Trời buổi sáng mù sương lớp lớp<br />
Người hành trang nỗi tuyệt vọng rã rời<br />
Và khí phách thôi một thời trẻ dại<br />
Ta nói gì cho bớt chút chia ly?</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Đưa người ta nâng ly cà phê nhỏ<br />
Rồi quan san rồi bụi đỏ người đi<br />
Rồi khói súng người tập tành nỗi chết<br />
Ta trở về hiu hắt đường khuya…<br />
…………..</em></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">(ĐN)</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Bây giờ đọc Xa Xứ của Trần Hoài Thư:</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Hẹn với lòng tháng chạp sẽ về quê<br />
Mà hơn ba mươi năm vẫn chưa về cố xứ<br />
Khi hứa hẹn cứ nghĩ mình trẻ quá<br />
Giờ thì già, ngựa đã nản chân bon (tr 76)</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi nghĩ không phải đợi tới bây giờ ngựa mới nản chân bon đâu. Lâu lắm rồi, bốn mươi năm về trước rồi, Trần Hoài Thư như lứa chúng tôi đã thấy rõ <em>“Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang”</em>(*) rồi! Nhưng hãy đọc tiếp:</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Tôi lạc lối, em biết không<br />
Tôi đang quờ quạng giữa vùng mù sương<br />
Cũng vì cái ngạnh cái ương&#8230;  (tr 44)</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi băn khoăn khi ghi lại những dòng này. Nghĩ trong lòng không biết có nên.<br />
Thơ, tấc lòng ngàn năm- thốn tâm thiên cổ- là vậy. Không “hư cấu” được với thơ đâu Thư ơi!</p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;">Đêm quá khuya , đêm không chịu trôi mau<br />
Mắt đã mỏi mà sao tròng chẳng khép (tr 38)</p>
<p style="text-align: justify;">Còn nói gì thêm được nữa?</p>
<p style="text-align: justify;">Rồi những bức tranh, như đã nói, cứ một trang thơ lại có một trang tranh tương ứng. Những bức tranh đắm đuối quê nhà : khi thì đồi núi cao nguyên trùng trùng điệp điệp của Thân Trọng Minh, khi thì những con thuyền phơi mình nhớ sóng của Thanh Hằng, rồi cầu tre lắt lẻo, rồi bụi chuối sao hè&#8230; Và những mượt mà, thảng thốt, trầm tư, ưu uất&#8230; của Đinh Cường, Nguyễn Trọng Khôi, Tống Phước Cường, Lệ Liễu&#8230;. Tranh không còn là tranh nữa mà  đã thành thơ trong Xa Xứ. Tôi bàng hoàng với bức tranh của Trần Quí Thoại ở trang 55: một con nai vàng, phải, một con nai vàng- và ngơ ngác, dĩ nhiên-  nhưng không phải « đạp trên lá vàng khô » mà đạp trên lưng một con người cúi gục, với cái đầu to quá khổ mà chiếc cổ nhỏ bé không sao giữ nổi ! Rồi ở trang 61, một lần nữa  tôi ray rứt với những giọt nước mắt của khuôn mặt đàn bà mộng du, từng mảng rời đóng hộp, và những làn mây trôi trên cao. Cũng tranh Trần Quí Thoại. Hình như Thoại vẽ được những gì Trần Hoài Thư không viết được nên lời.<em></em></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;"><em>Vỏ tôi đó nhưng hồn tôi trôi dạt<br />
Em ở quê nhà có hiểu lòng tôi ?</em>(tr 60).<br />
*     *<br />
*<br />
Em có hỏi tại sao ta chưa về cố xứ<br />
Ta trả lời: Ta về chứ đêm qua<br />
Ta vẫn về, rất thầm lặng thiết tha (tr 78)</p>
<p style="text-align: justify;">Ai sao không biết, tôi thì tôi tin. Tôi tin Trần Hoài Thư vẫn về đêm đêm, về thầm lặng, thiết tha&#8230; Thậm chí không cần phải dặn : <em>thấy hiu hiu gió thì hay chị về ! </em>( Nguyễn Du).</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng, gió bấc đã hiu hiu rồi đó Thư ơi !</p>
<p style="text-align: justify;">Đỗ Nghê<br />
(Mùng 4 Tết Tân Mão 2011).<br />
&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;<br />
(*) Tập truyện ngắn, Trần Hoài Thư, Ý thức xuất bản, 1971</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/doc-sach/g%e1%bb%8di-chi%e1%bb%81u-n%c6%b0%e1%bb%9bc-len%e2%80%a6/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một cốt cách ở đời (*)</title>
		<link>http://www.dohongngoc.com/web/uncategorized/m%e1%bb%99t-c%e1%bb%91t-cach-%e1%bb%9f-d%e1%bb%9di/</link>
		<comments>http://www.dohongngoc.com/web/uncategorized/m%e1%bb%99t-c%e1%bb%91t-cach-%e1%bb%9f-d%e1%bb%9di/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Feb 2011 00:57:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bac Si Do Hong Ngoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Đọc sách]]></category>
		<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.dohongngoc.com/web/?p=3945</guid>
		<description><![CDATA[&#8220;Một cốt cách ở đời&#8221; (Vài cảm nghĩ khi đọc Cuối Cùng của Võ Phiến, NXB Thế kỷ 21, 2009) Cuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc. Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẽ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>&#8220;Một cốt cách ở đời&#8221; </strong><br />
 <em>(Vài cảm nghĩ khi đọc Cuối Cùng của Võ Phiến, NXB Thế kỷ 21, 2009)</em></p>
<p><span id="more-3945"></span></p>
<p>Cuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc.<br />
Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẽ sợi tóc làm tư, lặn lội  vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc.<br />
Phải, Mộc Mạc. Đó là tựa của một bài Thơ đặt ở trang cuối cùng của cuốn Cuối Cùng, như một khép lại: Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây… Chút nắng vàng giờ đây cũng vội… (TCS). Với tôi, Cuối Cùng là bài thơ, một bài thơ Thiền. Nhiều người tưởng Võ Phiến là một nhà văn, hóa ra ông là một nhà thơ. Đọc kỹ đi rồi thấy. Có người mắt tinh đời sớm nhận ra điều đó: “Võ Phiến là thi sĩ. Mà là thi sĩ của trần gian nữa. Dù có khi anh viết bằng văn xuôi”. (Đặng Tiến).</p>
<p>Cuối Cùng của Võ Phiến là một tập sách trang nhã. Bìa cứng cổ điển. Nhưng bìa bọc ngoài lại là một mầu trời xanh và mây trắng với những cái bóng của Võ Phiến. Không phải hình, mà bóng. Một cái lõi, xưa cũ, cứng cáp bên trong; một cái vỏ, bay bỗng, tuyệt mù.. bên ngoài.<br />
Trang cuối không đánh số trang của Cuối Cùng như đã nói là một bài thơ. Mộc Mạc là tên bài thơ đó. Một sự trở về. Về với mộc mạc, với chân phác. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt (TCS). Chắc vậy rồi. Với Võ Phiến, chốn về đó là xóm là làng, có con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ, bà con cô bác&#8230;  </p>
<p>Xưa từng có xóm có làng<br />
Bà con cô bác họ hàng gần xa<br />
Con trâu, con chó, con gà<br />
Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.<br />
                         (Mộc Mạc)</p>
<p>“Đều là cô tri”. Họ thân thiết nhau quá, gần gũi nhau quá mà! Đi sao nỡ. Xa sao đành. Chẳng qua gặp thời thế thế thời thôi. Một người như Võ Phiến hẳn “chân bước đi mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà cái thềm nhà cho đến bụi cây khóm cỏ&#8230;:” (Quốc văn giáo khoa thư). Rứt sao ra.<br />
Rồi Võ Phiến viết tiếp sau khi ngậm ngùi nhớ những “cố tri” đó của mình:</p>
<p>Múa may mãi chẳng ra gì<br />
Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời.<br />
                                ( Mộc Mạc)</p>
<p>Ra gì là ra gì? “Múa may” coi cũng được quá đó chứ! Mọi người đều nhìn nhận Võ Phiến, dù không nói ra mà ai cũng phải gật gù.  Đông Hồ khen “nhất” miền Nam. Nguyễn Hiến Lê khen tùy bút sâu sắc, tự nhiên, dí dõm, đa dạng&#8230;Đặng Tiến bảo tác giả hàng đầu, Nguyễn Hưng Quốc kêu nhà văn của thế kỷ&#8230; Vậy mà  múa may mãi chẳng ra gì sao? Tới bây giờ, nhớ Đêm xuân trăng sáng hay Thác đổ sau nhà của ông đọc từ hồi còn trẻ, tôi vẫn còn như nghe nhột nhột ở đùi trong…<br />
Tuyệt vời nhất ở hai chữ: mỗi lâu. Vừa mộc mạc vừa sâu thẳm. Sao lại “mỗi lâu”? Ấy là bởi ông đã đợi chờ, đã nghe ngóng, đã mong mỏi nó “rụp rụp” cho rồi, ai dè nó cứ dùng dằng dủng dẳng, bực cả mình. Rụp rụp như cái dao phay chặt thịt mà ông từng thấy ở một người đàn ông mặc áo thun, bán hủ tíu, quơ dao múa may mấy cái rồi rụp rụp ngon lành. Đầu này nó cứ đủng đỉnh, cứ lằng nhằng. Nó càng đủng đỉnh, càng lằng nhằng ông càng bẽn lẽn vì đã có đôi lần ông làm thơ “giã biệt” gởi cho “những người ở lại’ rồi, thế mà, chính ông lại ở lại. “Quê” quá chứ phải không? Nhưng mỗi lâu rồi thì sao? Thì, khổ thay, cứ mỗi lâu nó lại thêm một cách ly, rã rời!  Cách ly? Rã rời? Ông thấy hình như mọi người đâu đó đã sẵn sàng cả rồi, hồi hộp chờ đợi cả rồi, vậy mà chuyện lại không tới. Tẻn tò, tản ra, xa dần, quên lãng&#8230; ?  Tự ông, ông cảm thấy “ngượng ngập vu vơ”. Ngượng ngập. Vu vơ. Văn viết không ra, chỉ có thơ mới “nói lên” được: mỗi lâu thêm một cách ly rã rời&#8230; </p>
<p>Thân tàn đất lạ chơi vơi<br />
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.<br />
                               ( Mộc Mạc)</p>
<p>Người ta thì gần đất xa trời, ông thì gần trời xa đất. Đất lạ, trời quen. Với người xa xứ “lạc loài đến đây” như ông thì cách ly với con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lủ sẻ đã đành là khổ, mà cách ly với những thân tình càng khổ hơn: “Gần đây nhiều lần nghe những trao đổi tưng bừng về các hướng thơ văn cũ mới, bị không khí sôi nổi lôi cuốn mạnh, tôi xun xoe nhấp nhỏm. Bỗng chợt buồn, tặc lưỡi: Mình còn được bao nhiêu ngày tháng? Những chuyện &#8230; như thế&#8230; trên đời&#8230; ối dào! ( Người ơi người ở dài dài, tr45)”. Mãn Giác thiền sư chẳng đã từng than “Sự trục nhãn tiền quá/ Lão đầu tùng thượng lai&#8230;” đó sao?  Còn “rã rời”. Làm sao mà không rã rời cơ chứ? Có cái gì gắn với cái gì đâu. Toàn tạm bợ, lắp ráp cả đó chứ. Ngũ uẩn giai không mà! Bài thơ “Cũng Hợp” –lại Thơ- mở đầu cho cuốn Cuối Cùng, ông chẳng bảo “lắp ráp” xài chơi, lâu ngày chầy tháng thấy “cũng hợp”, cũng OK. Rồi đến một lúc nghĩ hay là ta&#8230; ở lại trần gian luôn chừng nghìn năm nữa cũng được. Để rồi giật mình: đã lắp ráp thì hẳn có lúc phải rời ra. Một câu hỏi đặt ra: Lắp ráp  để chi? Để “trưa nào cũng bay” ( tr 139) chớ chi. Hoàn thành nhiệm vụ rồi thì rã. Rã rồi lại ráp không chừng. “Cả năm uẩn chúng quấy ta là thế” (Cũng Hợp). Võ Phiến hiện nguyên hình thành một&#8230; thiền sư! </p>
<p>Dặn lòng lòng vẫn nao nao<br />
Ta đi mây ở, trưa nào cũng bay</p>
<p>Nhưng thiền sư mà có cái chuyện dặn lòng này mới lạ!  Dù sao thì cũng chỉ nao nao thôi. Nao nao khác với bừng bừng. Đó là khi ông nhìn những phút “ân tình” của chim câu: “&#8230;cái đuôi con chim mái, vẹt qua một phía&#8230; “. Xong. Rồi bay. Trưa nào cũng bay. Ông thấy “nao nao”. Nao nao quá chớ. Nó đến nó đi hờ hững thản nhiên. Sao trời nỡ đọa đày nhau đến thế? (Cũng Hợp, tr 17).</p>
<p>                                                      *   *<br />
                                                        *<br />
    “Cái còn lại của một cốt cách : ít ỏi quá, mong manh quá”. (Hình bóng cũ, tr 32).<br />
Không đâu. Cái cốt cách ở đời của Võ Phiến theo tôi không ít ỏi quá, cũng chẳng mong manh quá. Nó đáng cho ta ngã mũ chào. Với một nụ cười tủm tỉm, hân hoan. </p>
<p>Đỗ Nghê<br />
(Saigon, 2010)<br />
&#8230;&#8230;&#8230;..<br />
(*)  Hình bóng cũ, Võ Phiến.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.dohongngoc.com/web/uncategorized/m%e1%bb%99t-c%e1%bb%91t-cach-%e1%bb%9f-d%e1%bb%9di/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

<!-- Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: http://www.w3-edge.com/wordpress-plugins/

Page Caching using disk: enhanced
Object Caching 882/959 objects using disk: basic

Served from: www.dohongngoc.com @ 2012-02-05 21:16:39 -->
